Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải

27/07/2015 | Lượt xem: 0

Danh mục: Kinh - Luật

Tác giả: HT.Thích Thanh Từ

LỜI ĐẦU SÁCH

Kinh Pháp Hoa là bộ kinh Đại thừa được nhiều dịch giả phiên dịch, được nhiều học giả nghiên cứu chú giải, lại được lưu truyền sâu trong giới trí thức và phổ cập rộng trong quần chúng.

Giáo nghĩa trọng yếu của kinh Pháp Hoa là chỉ bày Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Tri kiến Phật là cái thấy biết không thuộc về kiến chấp ngã nơi thân, không thuộc về kiến chấp ngã nơi tâm (vọng tâm). Lại là thể của thân tâm, thường trụ không sanh không diệt. Bất luận là hàng nam nữ xuất gia thiện trí, hay hạng phàm nhân tại gia, cho đến kẻ ác tạo tội ngũ nghịch như Đề-bà-đạt-đa và những chúng sanh khác như loài rồng... cũng đều có Tri kiến Phật. Nếu biết và tin nơi mình có Tri kiến Phật, liền khởi nhân tu hành thì sẽ được thành tựu quả Phật.

Kinh Pháp Hoa không ức dương đặc biệt cho một trình độ căn cơ nào, mà bao dung tế độ hết thảy mọi chúng sanh không bỏ sót một loài nào. Nhưng vì căn cơ chúng sanh không đồng, nên phải tùy theo trình độ mà giáo hóa có sai biệt, để cho người cao cũng như người thấp đều nhận được lợi ích, và cuối cùng đưa đến chỗ cứu kính bình đẳng là quả Phật. Do đó, kinh Pháp Hoa rất được nhiều thành phần xuất gia, cũng như cư sĩ tôn quí, tín ngưỡng, thiết lập nhiều đạo tràng trì tụng, lễ kính, tu tập.

Hòa thượng Viện chủ tu viện Chân Không khôi phục Thiền tông trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam đương thời, không thể chỉ thẳng “chỗ cứu kính” cho người trực ngộ, mà phải đem Kinh, Luận, Sử ra giảng dạy để cho Thiền sinh thầm hội lý kinh rồi liễu ngộ lý thiền. Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh có quan hệ với Thiền tông, nên Hòa thượng đem ra giảng dạy cho Tăng Ni và Phật tử học.

Từ trước, chúng tôi cũng đã từng theo chúng tụng kinh Pháp Hoa, và cũng đã từng theo học kinh Pháp Hoa trong những khóa giảng ở Sài Gòn; nhưng vẫn chưa thông hiểu lý kinh và cũng không biết kinh Pháp Hoa dạy tu như thế nào. Chẳng những riêng chúng tôi, mà đa số các bạn đồng tụng đồng học cũng cùng tâm trạng đó. Nay duyên phuớc lớn hội đủ, chúng tôi được nghe Hòa thượng Viện chủ giảng kinh Pháp Hoa; càng nghe chúng tôi càng sáng càng vui. Những điều thắc mắc trong kinh từ trước đều được hóa giải. Pháp lạc này đối với chúng tôi không lấy gì sánh được! Đối với những pháp lữ khác, không rõ quí vị có những cảm khái như thế nào, mà có một số người đến đề nghị chúng tôi nên sưu tập lời giảng của Hòa thượng cho in thành sách, để có tài liệu nghiên cứu tu hành. Vì những lý do trên mà kinh Pháp Hoa do Hòa thượng tu viện Chân Không giảng, được sưu tập thành sách, được Hòa thượng xem qua và đồng ý cho xuất bản.

Bản kinh Pháp Hoa giảng giải này, chúng tôi phối hợp những bài giảng của khóa I tại tu viện Chân Không và khóa III tại Thiền viện Thường Chiếu. Vì phối hợp bài giảng của hai khóa nên lý nghĩa vừa sâu lại cũng vừa rộng. Ý lời không nhất thiết của khóa I, mà cũng không hẳn của khóa III. Vậy nên quí vị đã trực tiếp nghe Hòa thượng giảng tại Thường Chiếu chớ lấy làm thắc mắc: sao tập sách không trung thực với lời giảng của Hòa thượng mà quí vị đã được nghe.

Cũng như những tập sách chúng tôi ghi từ lời giảng của Hòa thượng, mặc dù cố gắng hết sức mình, nhưng sức người có hạn, chắc chắn không tránh khỏi sơ sót lỗi lầm trong lúc làm việc. Kính mong quí vị độc giả thông cảm, bỏ qua cho những lỗi mà chúng tôi đã vấp phải.

 

Thường Chiếu 12-4-1992 ÂL

THUẦN GIÁC

Kính ghi


  • 1. KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

    KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

    Kinh Pháp Hoa ở Việt Nam đã có nhiều nhà giảng giải. Tuy nhiên, hôm nay tôi giảng kinh Pháp Hoa theo cái nhìn của Thiền tông. Nếu quí vị nghe, thấy có chỗ dị biệt, chớ lấy làm lạ. Vì, đó là điểm đặc trưng của tinh thần triển khai kinh điển theo chỗ thông hội lý kinh của người giảng giải.

    LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ KINH:

    Kinh Pháp Hoa nguyên chữ Phạn (Sanskrit) tên Saddharmapundarika Sutra, được dịch ra chữ Hán bởi nhiều dịch giả với nhiều bản khác nhau. Hiện nay còn đang lưu hành ba bản:

    1.- Chánh Pháp Hoa Kinh, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, niên hiệu Vĩnh Khang tại Đôn Hoàng, gồm mười quyển.

    2.- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch, vào đời Diêu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy và Long An (khoảng 396-397 Tây lịch) tại Trường An, gồm bảy quyển, sau thêm thành tám quyển.

                3.- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, do hai ngài Xà-na và Cấp-đa dịch vào đời Tùy, niên hiệu Nhân Thọ (khoảng 601 Tây lịch), tại chùa Đại Hưng Thiện, gồm bảy quyển.

                Dịch từ Hán văn ra Việt văn có những bản sau đây:

    1/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa do Đoàn Trung Còn dịch, xuất bản vào năm 1936. Bản dịch này, dung hợp bản Hán văn của Cưu-ma-la-thập và bản Pháp văn của Eugène Bournouf.

    2/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, xuất bản năm 1948. Bản dịch này căn cứ theo bản Hán văn của ngài Cưu-ma-la-thập.

    3/ Pháp Hoa Huyền Nghĩa do Mai Thọ Truyền tuyển dịch, xuất bản năm 1964, ông dung hợp nhiều bản Hán văn và Pháp văn để dịch.

    4/  Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Diễn Giải Lục do Hòa thượng Thích Trí Nghiêm dịch, xuất bản năm 1970, Ngài dịch nguyên bản chữ Hán và chú giải của Đại sư  Thái Hư.

    Về phẩm loại của những bản dịch Phạn Hán thì bản Chánh Pháp Hoa của Trúc Pháp Hộ dịch có hai mươi bảy phẩm, không có phẩm Đề-bà-đạt-đa và phẩm Chúc Lụy là phẩm sau cùng. Bản Diệu Pháp Liên Hoa của hai ngài Xà-na và Cấp-đa dịch đủ hai mươi tám phẩm, có phẩm Đề-bà-đạt-đa và phẩm Chúc Lụy ở vào phẩm thứ hai mươi hai. Bản của ngài Cưu-ma-la-thập dịch, thiếu nửa phần đầu của phẩm Dược Thảo Dụ, thiếu phần đầu của phẩm Pháp Sư, thiếu phẩm Đề-bà-đạt-đa, thiếu phần kệ tụng của phẩm Phổ Môn và phẩm Chúc Lụy ở chót. Nhưng sau y cứ vào bản “bối diệp” do Xà-na, Cấp-đa mang tới, Ngài dịch bổ khuyết thêm đầy đủ là hai mươi tám phẩm. Do đó mà sau này được đặt tên là Thiêm Phẩm Pháp Hoa tức là kinh Pháp Hoa thêm một phẩm. Ba bản kinh Pháp Hoa dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán đang lưu hành, thì bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của ngài Cưu-ma-la-thập dịch được coi là định bản. Vì đa số tu sĩ cũng như cư sĩ đều dùng bản này để nghiên cứu tụng đọc, bởi văn kinh lưu loát sáng sủa đầy đủ ý nghĩa, lý sâu sắc, đọc tụng dễ hiểu dễ nhận.

    Bốn bản kinh Pháp Hoa được dịch từ chữ Hán ra chữ Việt mà chúng tôi vừa nêu, thì bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, được hầu hết người xuất gia cũng như tại gia ở Việt Nam dùng để nghiên cứu học hỏi, trì tụng. Hôm nay giảng kinh Pháp Hoa, chúng tôi cũng dùng bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh để cho quí vị dễ theo dõi, dễ hiểu. Hòa thượng Thích Trí Tịnh là người dày công nghiên cứu và phiên dịch kinh điển, nên có đầy đủ uy tín trên phương diện giáo dục cũng như dịch thuật. Pháp Phật mà Ngài phiên dịch và truyền bá hầu hết chúng ta đều tin tưởng, nên bản dịch của Ngài được mọi người tin cậy nhất. Tuy nhiên, một bản dịch dày đến năm sáu trăm trang, việc làm nhiều thì không tránh khỏi chút ít sơ sót. Nhưng phần căn bản thì đáng cho chúng ta tin tưởng để y theo đó mà tu học.

    Kinh Pháp Hoa chẳng những ở Trung Hoa, Tăng Ni Phật tử quí trọng, mà khi truyền sang Việt Nam cũng được các chùa kính trọng, nên hay tổ chức các đạo tràng Pháp Hoa hay hội Pháp Hoa để trì tụng. Ở Nhật Bản, kinh Pháp Hoa cũng được tôn trọng nên có ra đời một phái tên Nhật Liên Tông, chuyên trì kinh Pháp Hoa và niệm câu Nam-mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

    Sớ giải kinh Pháp Hoa thì ở Trung Hoa có cả trăm nhà sớ giải. Nhưng hai bộ sách được quí trọng, phổ biến rộng rãi là Pháp Hoa Huyền Nghĩa, do Thiên Thai Trí Giả đại sư sớ giải và bộ Pháp Hoa Huyền Tán, do ngài Khuy Cơ đệ tử ngài Huyền Trang sớ giải.

    TÊN KINH:

    Tên kinh, bản chữ Hán nói đủ là “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”, gọi tắt là Diệu Pháp Liên Hoa, nói gọn nữa là kinh Pháp Hoa. Tên kinh được cấu tạo theo đề ghép, thuộc loại pháp dụ. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ. Theo kinh Pháp Hoa, Diệu Pháp là Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi chúng sanh, còn gọi là Pháp thân thanh tịnh hay Phật tánh... Nếu người nhận ra Tri kiến Phật thì không còn kẹt trong pháp đối đãi hai bên của phàm phu. Liên Hoa là dụ, sở dĩ dụ Tri kiến Phật như hoa sen, vì hoa sen có những đặc điểm như sau:

    1/ Nhân quả đồng thời, nghĩa là hoa sen, gương sen có đồng một lúc, không giống như những hoa khác khi nở, cánh hoa tàn rồi mới tượng nụ thành trái. Gương sen đã có sẵn trong hoa, vì cánh hoa chưa rụng nên gương chưa lộ ra. Nếu cánh hoa rụng hết thì gương sen lộ ra đầy đặn. Cũng vậy, Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi chúng sanh, vì vô minh phủ che nên nó không hiện. Nếu người biết tu hành, công phu viên mãn thì Tri kiến Phật hiển hiện tròn sáng. Đó là ý nghĩa nhân quả đồng thời.

    2/ Hoa sen mọc trong bùn lầy nhơ nhớp mà không bị hôi tanh, vẫn đẹp thơm thanh khiết. Hoa sen được người ưa quí, không phải ở sắc đẹp, mùi thơm như những hoa khác, mà quí ở chỗ hoa mọc từ nơi bùn lầy nhơ nhớp mà vẫn giữ được sắc hương thanh khiết. Cũng giống như thân năm uẩn này, nếu nhìn với con mắt giác ngộ thì nó rất ô uế bất tịnh. Tuy nó ô uế bất tịnh, nhưng có cái hằng thanh tịnh sáng suốt, kinh Pháp Hoa gọi đó là Tri kiến Phật.

    3/ Hoa sen có những hoa vượt lên khỏi mặt nước hé nụ, trổ hoa, bày gương hạt; lại có những hoa còn đang ở trong nước, và cũng có những hoa vừa nhú lên khỏi bùn. Tất cả những hoa sen ấy, trước sau đều nở hoa sắc hương thanh khiết. Cũng vậy, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát căn cơ tuy có sai biệt nhưng ai cũng có Tri kiến Phật, nếu tu hành viên mãn thì thành Phật.

    4/ Hoa sen không bị ong bướm bu đậu và không bị phụ nữ dùng để trang điểm. Cũng vậy, Tri kiến Phật là pháp vi diệu nhiệm mầu, không bị bất cứ pháp thế gian nào làm ô nhiễm.

    Sở dĩ gọi Tri kiến Phật là Diệu pháp là vì Tri kiến Phật siêu việt trên tất cả pháp đối đãi và không thể so sánh với bất cứ một pháp nào ở thế gian này được. Thiền tông gọi là Bản lai diện mục, là pháp gốc mà tất cả mọi chúng sanh xưa nay ai cũng có sẵn. Nếu tu, sạch hết vô minh vọng tưởng thì Bản lai diện mục hiện tiền. Bài kệ truyền pháp mà Phật truyền cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp mở đầu bằng câu: “Pháp bản pháp vô pháp.” Pháp bản là Diệu pháp, gọi nó là pháp mà không phải pháp. Tại sao? Vì pháp ấy không phải là một vật đối đãi theo con mắt phàm tình thế gian thấy biết, nên nói không phải pháp. Pháp gốc là thể của muôn pháp. Diệu pháp cũng tương đương nghĩa này. Tương truyền, ngày xưa Thiên Thai Trí Giả đại sư khi ngộ được kinh Pháp Hoa, Ngài giảng chữ Diệu suốt một tuần lễ. Vì Diệu pháp là thể của muôn pháp nên nói không hết, giảng không cùng, vì vậy nên gọi Tri kiến Phật là Diệu pháp và dụ như hoa sen. Ở hội Linh Sơn, Phật giơ cành hoa sen lên, đưa mắt nhìn khắp tứ chúng; cả hội chúng lặng im, chỉ có Tôn giả Ma-ha Ca-diếp nhìn thấy liền chúm chím cười. Phật nhân đó ấn chứng cho Ngài là người đã ngộ được lý Thiền, và được truyền thừa y bát làm Tổ thứ nhất phái Thiền tông. Như vậy, kinh Pháp Hoa được Phật nói ở núi Linh Thứu và dùng hoa sen để dụ cho Diệu pháp; Tổ Ca-diếp thấy Phật đưa cành hoa sen, Ngài ngộ được Pháp gốc (Diệu pháp) cũng ở núi Linh Thứu. Điều đó cho chúng ta thấy kinh Pháp Hoa có mối liên hệ với Thiền tông rất mật thiết, nên các Thiền sư khi hoằng hóa hay dùng hoa sen để ví dụ, như nói: “Hoa sen ở trong lò lửa mà vẫn tươi nhuần.” Lò lửa là chỉ cho thân vô thường, hoa sen thanh khiết chỉ cho Pháp thân thanh tịnh, ý nói từ nơi thân vô thường của mỗi chúng sanh có sẵn Thể bất sanh bất diệt hằng thanh tịnh.

    Vì kinh Pháp Hoa có mối liên hệ với Thiền tông, nên hôm nay chúng tôi giảng kinh Pháp Hoa theo tinh thần Thiền tông. Với con mắt của Thiền tông, chúng ta mới lãnh hội được những biểu trưng kỳ đặc ở trong kinh. Nếu nhìn theo lý thông thường thì không thấy được những ý nghĩa đặc biệt đó.


  • 2. PHẨM TỰA

    KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

    PHẨM TỰA

    Thông thường ở mỗi bộ kinh, phần đầu là tựa. Phẩm Tựa nói lên ý nghĩa tổng quát toàn bộ kinh. Các kinh mở đầu đều có Lục chủng chứng tín. Đó là sáu điều chứng cứ của ngài A-nan nêu ra, để người nghe có đủ lòng tin pháp Ngài tụng là do Phật nói. Lục chủng chứng tín giống như một biên bản của thơ ký trong phiên họp ngày nay vậy.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người câu hội. Các vị đó đều là bực A-la-hán, các lậu đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong, dứt sự ràng rịt trong các cõi, tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Dà-gia Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-ta, Bạc-câu-la, Ma-ha Câu-si-la, Nan-đà, Tôn-đà-la Nan-đà, Phú-lâu-na-di-đa-la-ni Tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la v.v... đó là những vị đại A-la-hán hàng trí thức của chúng.

    Lại có bực hữu học và vô học hai nghìn người.

    Bà Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với quyến thuộc sáu nghìn người câu hội. Mẹ của La-hầu-la là bà Tỳ-kheo ni Gia-thâu-đà-la cũng cùng với quyến thuộc câu hội.

    2.- Bực đại Bồ-tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều chứng đặng pháp Đà-la-ni nhạo thuyết biện tài, chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở nơi các đức Phật trồng các cội công đức.

    Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí huệ của Phật, thông đạt đại trí đến nơi bờ kia, danh đồn khắp vô lượng thế giới,  có thể độ vô số trăm nghìn chúng sanh.

    Tên của các vị đó là: Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Thường Tinh Tấn Bồ-tát, Bất Hưu Tức Bồ-tát, Bửu Chưởng Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dõng Thí Bồ-tát, Bửu Nguyệt Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát, Mãn Nguyệt Bồ-tát, Đại Lực Bồ-tát, Vô Lượng Lực Bồ-tát, Việt Tam Giới Bồ-tát, Bạt-đà-bà-la Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát, Bửu Tích Bồ-tát, Đạo Sư Bồ-tát v.v... các vị đại Bồ-tát như thế tám muôn người câu hội.

    3.- Lúc bấy giờ, Thích đề-hoàn nhơn cùng quyến thuộc hai muôn vị thiên tử câu hội.

    Lại có Minh Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bửu Quang thiên tử, bốn vị đại Thiên vương cùng với quyến thuộc một muôn thiên tử câu hội. Tự Tại thiên tử, Đại Tự Tại thiên tử, cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử câu hội.

    Chủ cõi Ta-bà: Phạm Thiên vương, Thi-khí Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm v.v... cùng với quyến thuộc một muôn hai nghìn vị thiên tử câu hội.

    Có tám vị Long vương: Nan-đà Long vương, Bạt-nan-đà Long vương, Ta-dà-la Long vương, Hòa-tu-kiết Long vương, Đức-xoa-ca Long vương, A-na-bà-đạt-đa Long vương, Ma-na-tư Long vương, Ưu-bát-la Long vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Có bốn vị Khẩn-na-la vương: Pháp khẩn-na-la vương, Diệu Pháp khẩn-na-la vương, Đại Pháp khẩn-na-la vương, Trì Pháp khẩn-na-la vương đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Có bốn vị Càn-thát-bà vương: Nhạc càn-thát-bà vương, Nhạc Âm càn-thát-bà vương, Mỹ càn-thát-bà vương, Mỹ Âm càn-thát-bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Có bốn vị A-tu-la vương: Bà-trỉ a-tu-la vương, Khư-la-khiên-đà a-tu-la vương, Tỳ-ma-chất-đa-la a-tu-la vương, La-hầu a-tu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Có bốn vị Ca-lâu-la vương: Đại Oai Đức ca-lâu-la vương, Đại Thân ca-lâu-la vương, Đại Mãn ca-lâu-la vương, Như Ý ca-lâu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi, cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

    Cả chúng đều lễ chơn Phật, lui ngồi một phía.

    GIẢNG:

    Tôi nghe”, chỉ cho Tôn giả A-nan, người nghe và thuật lại kinh này - Văn thành tựu.

    “Như thế này”, chỉ pháp mà ngài A-nan nghe Phật nói, đó là kinh Pháp Hoa - Tín thành tựu.

    “Một thuở nọ”, là thời gian nói kinh. Xưa, thời gian mỗi nơi mỗi khác, không thống nhất, nên chỉ nói một thuở nọ, chớ không nói ngày mấy, tháng mấy, lúc mấy giờ - Thời thành tựu.

    “Đức Phật”, là vị chủ tọa trong buổi thuyết pháp - Chủ thành tựu.

    “Núi Kỳ-xà-quật”, nơi thành Vương Xá là chỗ Phật thuyết pháp - Xứ thành tựu.

    “Chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người là bậc A-la-hán, như A-nhã Kiều-trần-như..., hàng Tỳ-kheo hữu học và vô học có trên hai ngàn người. Các Tỳ-kheo ni như Ma-ha Ba-xà-ba-đề, Gia-thâu-đà-la và quyến thuộc. Hàng Bồ-tát có tới tám muôn như Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Quán Âm... Thích đề-hoàn nhơn và quyến thuộc. Tứ thiên vương và quyến thuộc. Phạm Thiên vương và các vị trời cùng với quyến thuộc. Long vương và quyến thuộc. Khẩn-na-la vương cùng quyến thuộc. Càn-thát-bà vương cùng quyến thuộc. A-tu-la vương cùng quyến thuộc. Ca-lâu-la vương cùng với quyến thuộc. Vua A-xà-thế cùng với quyến thuộc” là những cử tọa đến nghe pháp - Chúng thành tựu.

    Sáu điều trên đây gọi là Lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinh này không phải ngài A-nan tự ý nói, mà chính Ngài đã cùng nghe với thính chúng và thuật lại.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kỉnh ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa tên là “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.

    GIẢNG:

    Kinh “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm” là bộ kinh có nghĩa lý sâu rộng, không thể nghĩ lường được. Kinh này dạy cho hàng Bồ-tát tu để thành Phật, và chính kinh này là chỗ mà chư Phật hằng hộ niệm. Đoạn này không ghi Phật nói kinh như thế nào, chỉ nói tổng quát là kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.

    CHÁNH VĂN:

    Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động.

    GIẢNG:

    Từ trước, Phật tùy theo căn cơ cao thấp của chúng sanh mà phương tiện nói kinh nghĩa lý hữu lượng, chớ kinh Vô lượng liễu nghĩa thì chưa từng nói. Nay thấy căn cơ đệ tử đã thuần thục, Phật mới nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập chánh định tên là Vô lượng nghĩa xứ, để chuẩn bị tư thế nói kinh Pháp Hoa là chân lý tuyệt đối.

    CHÁNH VĂN:

    Khi đó trời mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động.

    Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhơn, phi nhơn và các vị tiểu vương cùng Chuyển Luân Thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chấp tay một lòng nhìn Phật.

    GIẢNG:

    Khi Phật nói kinh “Vô Lượng Nghĩa” xong, Ngài nhập định thì chư thiên rải hoa cúng dường, quả đất rúng động, phát ra sáu thứ âm thanh vi diệu. Bấy giờ, thính chúng trong hội thấy việc chưa từng có, nên vui mừng chấp tay một lòng hướng về đức Phật mắt không tạm rời.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày phát ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-tỳ, trên suốt thấu trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh ở các cõi kia.

    GIẢNG:

    Đoạn này dùng hình ảnh để hiển bày cái chân thật tuyệt đối, đó là Tri kiến Phật. Sở dĩ không dùng ngôn ngữ để diễn tả, là vì mọi ngôn ngữ đều ở trong vòng tương đối, không thể nói lên pháp tuyệt đối. Hai chân mày là hai bên chỉ cho pháp tương đối: có không, phải quấy, tốt xấu... Lông trắng giữa chặng mày tượng trưng cho lý Trung đạo không kẹt hai bên đối đãi. Hào quang là ánh sáng, tượng trưng cho Trí tuệ Phật. Qua hình ảnh tượng trưng đó, nếu chúng ta biết xoay lại mình để tu tập như lời dạy của Tổ Bá Trượng, mới thấy được ý nghĩa huyền diệu của kinh Đại thừa. Người không còn kẹt hai bên là người hằng sống với lý Trung đạo, thì được trí tuệ viên mãn. Trí tuệ viên mãn là Trí tuệ Phật thênh thang rộng lớn, nên soi rọi thấu suốt một muôn tám ngàn cõi ở phương Đông, từ địa ngục cho tới cõi trời Sắc Cứu Kính. Nếu nương theo Trí tuệ Phật thì chúng ta sẽ thấy rõ các cõi, biết rõ nhân quả của sáu loài chúng sanh luân hồi trong lục đạo, và cũng thấu suốt được nguyên nhân tu hành cùng quả báo của các vị Tỳ-kheo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Ở đây có điều khiến cho chúng ta nghi vấn là, tại sao hào quang Phật chỉ soi thấu về phương Đông mà không soi về các phương khác? - Phương Đông là phía mặt trời mọc, ánh sáng của ngày bắt đầu từ phương Đông, chiếu rọi khắp cả. Còn phương Tây là phía mặt trời lặn, ánh sáng của ngày mờ dần và tắt hẳn. Phật muốn chỉ cho mọi người trí tuệ cứu kính của Phật thấu suốt tất cả pháp, nên Ngài dùng phương Đông là phương mở màn cho ánh sáng ban mai để làm ví dụ.

    CHÁNH VĂN:

    Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo.

    Lại thấy các vị đại Bồ-tát dùng các món nhơn duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-tát. Lại thấy đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.

    GIẢNG:

    Qua đoạn này, chúng ta thấy cái nhìn của đạo Phật rất rộng rãi, chỉ một phương Đông thôi mà thấy có một muôn tám ngàn cõi. Nếu trông cả mười phương hay cả vũ trụ thì sẽ thấy vô số cõi nước không thể tính đếm. Vì vậy mà trong kinh nói hằng hà sa số cõi Phật. Điều mà đức Phật nói cách đây trên hai ngàn năm trăm năm thì hiện nay các nhà khoa học đã chứng minh một cách cụ thể là, trong vũ trụ ngoài quả đất chúng ta đang ở còn có vô số hành tinh, gần nhất là mặt trăng, nơi loài người đã từng đặt chân đến đó cách nay không lâu. Bây giờ trong hội chúng nương hào quang Phật, thấy và nghe được các đức Phật ở các cõi ấy nói pháp. Rồi cũng thấy thính chúng của các đức Phật ở các cõi ấy tu hành đắc đạo. Chẳng những thấy Phật, Bồ-tát, thính chúng ở các cõi khác, mà còn thấy Phật nhập Niết-bàn. Lại thấy sau khi Phật nhập Niết-bàn, xá-lợi Phật được dựng tháp bằng bảy báu để cúng dường.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Khi ấy, ngài Di-lặc Bồ-tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, vì nhơn duyên gì mà có điềm lành này?

    Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?”

    Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ, chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nay nên hỏi ông.”

    Lúc đó, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và các trời, rồng, quỉ, thần v.v... đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?”

    7.- Bấy giờ, ngài Di-lặc Bồ-tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, Ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỉ, thần v.v... mà hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng: “Vì nhơn duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật?”

    GIẢNG:

    Theo Duy thức học thì Bồ-tát Di-lặc tượng trưng cho Thức phân biệt. Bởi Thức phân biệt nên không thể hiểu được những hình ảnh biểu trưng Tri kiến Phật (lý Trung đạo), vì Tri kiến Phật vượt khỏi pháp Nhị nguyên tương đối của thế gian. Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí hay Bản giác có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Do gần gũi, bảo hộ, cúng dường, thâm nhập Tri kiến Phật nên Ngài mới hiểu được những điềm lành mà Phật hiện ra; vì vậy Bồ-tát Di-lặc mới có dự ý thưa hỏi. Đây là những vị Bồ-tát tượng trưng để nói lên ý nghĩa thâm sâu trong việc tu hành của mỗi người chúng ta, chớ không phải là hàng Bồ-tát đi hoằng truyền Chánh pháp giáo hóa chúng sanh trong đời.

    Đa số kinh Đại thừa, phẩm đầu thường là Bồ-tát Văn-thù thưa hỏi và phẩm kết thúc là hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Như kinh Pháp Hoa, mở đầu là Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc và bốn chúng, phần cuối cùng nêu lên hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng cho Trí sai biệt. Trí căn bản là trí đã có sẵn, bởi vô minh vọng tưởng che phủ nên không hiển lộ. Nhờ tu hành lần lần sạch hết vô minh phiền não, Trí căn bản mới hiển hiện tròn sáng. Lúc đó có đủ diệu dụng, tùy duyên giáo hóa chúng sanh gọi là Trí sai biệt. Chúng sanh căn cơ trình độ không đồng nhau, kẻ thì đần độn, người thì lanh lợi; Trí sai biệt của Phật có đủ diệu lực thấu suốt trình độ sai biệt ấy, nên tùy theo căn cơ mà phương tiện nói pháp sai biệt giáo hóa họ. Chính Trí sai biệt làm căn bản cho hàng Bồ-tát làm hạnh lợi tha không lười mỏi, không thối chuyển. Vì chúng ta tu chưa được viên mãn, chưa có Trí sai biệt, khi hành hạnh lợi tha mà không biết trình độ căn cơ của chúng sanh, không rõ được cái gốc đau khổ của muôn loài, nói pháp chỉ khế lý mà không khế cơ, nên người nghe không tin không theo tu học; kết quả là giúp người mà người không hết khổ, chán nản, nên thối Bồ-đề tâm. Lỗi đó không phải tại người cứng đầu không chịu nghe, mà tại mình chưa có Trí sai biệt biết rõ căn cơ trình độ của người, để nói pháp hợp thời đúng bệnh. Nếu nói pháp hợp thời đúng bệnh thì người nghe mới kính tin vâng theo mà tu tập hết khổ đau. Sở dĩ người không nghe là vì chúng ta nói pháp không đúng bệnh, không hợp thời, khiến người nghe không tin, bất mãn, xa lánh. Đó là muốn giúp người được lợi ích mà hóa ra hại người mất tín tâm, lỗi đó là tại mình. Vì vậy, nếu được Trí sai biệt thì sự giáo hóa chẳng những khiến chúng sanh được lợi ích, mà người giáo hóa cũng không lười mỏi, không chán nản, nên mới gọi là Đại Hạnh Phổ Hiền.

    Phần Trùng tụng là phần lặp lại ý của văn Trường hàng ở trên, nhưng lặp lại có phần chi tiết.

    CHÁNH VĂN:

    Khi đó, ngài Di-lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:

    8.-       

    Ngài Văn-thù-sư-lợi!
    Đức Đạo sư cớ chi
    Lông trắng giữa chặng mày
    Phóng ánh sáng khắp soi
    Trời mưa hoa mạn-đà
    Cùng hoa mạn-thù-sa
    Gió thơm mùi chiên-đàn
    Vui đẹp lòng đại chúng
    Vì nhơn duyên như vậy
    Cõi đất đều nghiêm tịnh
    Mà trong thế giới này
    Sáu điệu vang động lên
    Bấy giờ bốn bộ chúng
    Thảy đều rất vui mừng
    Thân cùng ý thơ thới
    Đặng việc chưa từng có.

    GIẢNG:

    Đoạn này lặp lại chỗ nghi vấn của Bồ-tát Di-lặc và hội chúng về hình tướng biểu trưng cho cái chân thật tuyệt đối.

    CHÁNH VĂN:

    9.-       

    Ánh sáng giữa chặng mày
    Soi suốt thẳng phương Đông
    Một muôn tám nghìn cõi
    Đều ánh như sắc vàng
    Từ địa ngục A-tỳ
    Trên đến trời Hữu Đảnh
    Trong các thế giới đó
    Cả sáu đạo chúng sanh
    Sống chết của kia đến
    Nghiệp duyên lành cùng dữ
    Thọ báo có tốt xấu
    Tại đây đều thấy rõ.

    GIẢNG:

                Nương ánh sáng do Phật phóng ra, mà cả hội chúng đồng thấy tất cả nhân quả luân hồi của sáu loài chúng sanh, ở một muôn tám ngàn cõi nước về phương Đông.

    CHÁNH VĂN:

    10.-     

    Lại thấy các đức Phật
    Đấng Thánh chúa Sư tử
    Diễn nói các kinh điển
    Nhiệm mầu bực thứ nhứt.
    Tiếng của Ngài thanh tịnh
    Giọng nói ra êm dịu
    Dạy bảo các Bồ-tát
    Vô số ức muôn người
    Tiếng Phạm âm thâm diệu
    Khiến người đều ưa nghe.
    Các Phật ở cõi mình
    Mà giảng nói chánh pháp
    Dùng nhiều món nhơn duyên
    Cùng vô lượng tỉ dụ
    Để soi rõ Phật pháp
    Mà khai ngộ chúng sanh.
    Nếu có người bị khổ
    Nhàm lìa già, bịnh, chết,
    Phật vì nói Niết-bàn
    Để dứt các ngằn khổ.
    Nếu là người có phước
    Đã từng cúng dường Phật
    Chí cầu pháp thù thắng
    Vì nói hạnh Duyên giác.
    Nếu lại có Phật tử
    Tu tập các công hạnh
    Để cầu huệ Vô thượng
    Phật vì nói tịnh đạo.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc cùng bốn chúng thấy các đức Phật đang ở cõi nước của các ngài với Phạm âm vi diệu, tùy căn cơ dùng phương tiện nói pháp khai ngộ cho hàng Thanh văn, Duyên giác.

    CHÁNH VĂN:

    11.-     

    Ngài Văn-thù-sư-lợi!
    Tôi ở tại nơi đây
    Thấy nghe dường ấy đó
    Và nghìn ức việc khác
    Thấy rất nhiều như thế
    Nay sẽ lược nói ra!

    12.-     

    Tôi thấy ở cõi kia
    Có hằng sa Bồ-tát
    Dùng các món nhơn duyên
    Mà cầu chứng Phật đạo.
    Hoặc có vị bố thí
    Vàng, bạc, ngọc, san-hô,
    Trân châu, ngọc như ý,
    Ngọc xa-cừ, mã não,
    Kim cương các trân bửu
    Cùng tôi tớ, xe cộ
    Kiệu, cáng chưng châu báu
    Vui vẻ đem bố thí
    Hồi hướng về Phật đạo
    Nguyện đặng chứng thừa ấy
    Bực nhứt của ba cõi
    Các Phật hằng khen ngợi.
    Hoặc có vị Bồ-tát
    Xe tứ mã, xe báu
    Bao lơn che tàng đẹp
    Trau tria dùng bố thí.
    Lại thấy có Bồ-tát
    Bố thí cả vợ con
    Thân thịt cùng tay chân
    Để cầu Vô thượng đạo.
    Lại thấy có Bồ-tát
    Đầu mắt và thân thể
    Đều ưa vui thí cho
    Để cầu trí huệ Phật.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc tường trình chỗ thấy nghe của Ngài như: Có vô số Bồ-tát bố thí vàng bạc, châu báu, bố thí xe cộ, bố thí thân mạng, vợ con để cầu Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    13.-

    Ngài Văn-thù-sư-lợi!
    Ta thấy các quốc vương
    Qua đến chỗ của Phật
    Thưa hỏi đạo Vô thượng
    Bèn bỏ nước vui vẻ
    Cung điện cả thần thiếp
    Cạo sạch râu lẫn tóc
    Mà mặc y pháp phục.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc lại thấy các quốc vương thưa hỏi đạo Vô thượng, rồi bèn bỏ nước, bỏ ngôi vua, quần thần, thê thiếp, cạo bỏ râu tóc xuất gia.

    CHÁNH VĂN:

    Hoặc lại thấy Bồ-tát
    Mà hiện làm Tỳ-kheo
    Một mình ở vắng vẻ
    Ưa vui tụng kinh điển.
    Cũng thấy có Bồ-tát
    Dõng mãnh và tinh tấn
    Vào ở nơi thâm sơn
    Suy xét mối Phật đạo.
    Và thấy bực ly dục
    Thường ở chỗ không nhàn
    Sâu tu các thiền định
    Đặng năm món thần thông
    Và thấy vị Bồ-tát
    Chấp tay trụ thiền định
    Dùng nghìn muôn bài kệ
    Khen ngợi các Pháp vương.
    Lại thấy có Bồ-tát
    Trí sâu chí bền chắc
    Hay hỏi các đức Phật
    Nghe rồi đều thọ trì
    Lại thấy hàng Phật tử
    Định huệ trọn đầy đủ
    Dùng vô lượng tỉ dụ
    Vì chúng mà giảng pháp
    Vui ưa nói các pháp
    Dạy bảo các Bồ-tát
    Phá dẹp chúng binh ma
    Mà đánh rền trống pháp.
    Cùng thấy vị Bồ-tát
    Vắng bặt yên lặng ngồi
    Trời, rồng đều cung kính
    Chẳng lấy đó làm mừng.
    Và thấy có Bồ-tát
    Ở rừng phóng hào quang
    Cứu khổ chốn địa ngục
    Khiến đều vào Phật đạo.
    Lại thấy hàng Phật tử
    Chưa từng có ngủ nghỉ
    Kinh hành ở trong rừng
    Siêng năng cầu Phật đạo
    Cũng thấy đủ giới đức
    Oai nghi không thiếu sót
    Lòng sạch như bửu châu
    Để cầu chứng Phật đạo.
    Và thấy hàng Phật tử
    Trụ vào sức nhẫn nhục
    Bị kẻ tăng thượng mạn
    Mắng rủa cùng đánh đập,
    Thảy đều hay nhẫn được
    Để cầu chứng Phật đạo.
    Lại thấy có Bồ-tát
    Xa rời sự chơi cười
    Và quyến thuộc ngu si
    Ưa gần gũi người trí
    Chuyên tâm trừ loạn động
    Nhiếp niệm ở núi rừng
    Trải ức nghìn muôn năm
    Để cầu được Phật đạo.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng thấy các Bồ-tát ở nơi vắng vẻ, mỗi vị dùng mọi phương tiện tu hành khác nhau để cầu Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    14.-     

    Lại thấy vị Bồ-tát
    Đồ ăn uống ngọt ngon
    Cùng trăm món thuốc thang
    Đem cúng Phật và Tăng,
    Áo tốt đồ thượng phục
    Giá đáng đến nghìn muôn
    Hoặc là vô giá y
    Đem cúng Phật và Tăng,
    Dùng nghìn muôn ức thứ
    Nhà báu bằng chiên-đàn
    Các giường nằm tốt đẹp
    Để cúng Phật cùng Tăng,
    Rừng vườn rất thanh tịnh
    Bông trái đều sum sê
    Suối chảy cùng ao tắm
    Cúng dường Phật và Tăng,
    Cúng thí như thế đó
    Các đồ cúng tốt đẹp
    Vui vẻ không hề nhàm
    Để cầu đạo Vô thượng.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát ở cõi kia cúng dường tứ sự quí giá cho Phật và Tăng để cầu đạo Vô thượng.   

    CHÁNH VĂN:

    15.-

    Lại có vị Bồ-tát
    Giảng nói pháp tịch diệt
    Dùng các lời dạy dỗ
    Dạy vô số chúng sanh
    Hoặc thấy vị Bồ-tát
    Quán sát các pháp tánh
    Đều không có hai tướng
    Cũng như khoảng hư không.
    Lại thấy hàng Phật tử
    Tâm không chỗ mê đắm
    Dùng món diệu huệ này
    Mà cầu đạo Vô thượng.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát các cõi kia, vị thì dùng pháp tịch diệt giáo hóa chúng sanh, vị thì quán pháp tánh không hai, vị thì ly dục dùng trí tuệ nhiệm mầu cầu Phật đạo.  

    CHÁNH VĂN:

    16.-

    Ngài Văn-thù-sư-lợi!
    Lại có vị Bồ-tát
    Sau khi Phật diệt độ
    Cúng dường xá-lợi Phật.
    Lại thấy hàng Phật tử
    Xây dựng các tháp miếu
    Nhiều vô số hằng sa
    Nghiêm sức khắp cõi nước.
    Bửu tháp rất cao đẹp
    Đều năm nghìn do-tuần
    Bề ngang rộng xứng nhau
    Đều hai nghìn do-tuần.
    Trong mỗi mỗi tháp miếu
    Đều có nghìn tràng phan
    Màn châu xen thả xuống
    Tiếng linh báu hòa reo
    Các vị trời, rồng, thần,
    Người cùng với phi nhân
    Hương, hoa cùng kỹ nhạc
    Thường đem đến cúng dường.
    Ngài Văn-thù-sư-lợi!
    Các hàng Phật tử kia
    Vì cúng dường xá-lợi
    Nên trang sức tháp miếu
    Cõi quốc giới tự nhiên
    Thù đặc rất tốt đẹp
    Như cây thiên thọ vương
    Bông kia đương xòe nở.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc thấy Phật ở cõi kia tịch diệt, Bồ-tát xây vô số bửu tháp cao đẹp quí báu, trang hoàng cờ, phướn, màn, linh. Rồi trời, người, rồng, thần dâng hương hoa kỹ nhạc để cúng dường xá-lợi Phật.

    CHÁNH VĂN:

    17.-     

    Phật phóng một luồng sáng
    Ta cùng cả chúng hội
    Thấy nơi cõi nước này
    Các thứ rất tốt đẹp
    Thần lực của chư Phật
    Trí huệ đều hi hữu
    Phóng một luồng tịnh quang
    Soi khắp vô lượng cõi
    Chúng ta thấy việc này
    Đặng điều chưa từng có.

    18.-

    Xin Phật tử Văn-thù
    Giải quyết lòng chúng nghi
    Bốn chúng đều mong ngóng
    Nhìn Ngài và nhìn ta
    Đức Thế Tôn cớ chi
    Phóng ánh quang minh này?
    Phật tử phải thời đáp
    Quyết nghi cho chúng mừng
    Có những lợi ích gì
    Đức Phật phóng quang này?
    Khi Phật ngồi đạo tràng
    Chứng đặng pháp thâm diệu.
    Vì muốn nói pháp đó
    Hay là sẽ thọ ký?
    Hiện bày các cõi Phật
    Các báu sạch trang nghiêm
    Cùng thấy các đức Phật
    Đây không phải cớ nhỏ
    Ngài Văn-thù nên biết
    Bốn chúng và long, thần
    Nhìn xem xét Ngài đó
    Mong sẽ nói những gì?

    GIẢNG:

    Vì Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng nương hào quang của Phật, thấy được những việc chưa từng có ở các cõi nước của chư Phật khác, nên yêu cầu Bồ-tát Văn-thù giải nghi về những điềm lành mà Phật hiện: Có phải Phật sắp nói pháp hay sắp thọ ký chăng? Xin Ngài giải đáp cho, vì đại chúng đang trông cậy Ngài.

    CHÁNH VĂN:

    19.- Lúc bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi nói với ngài Di-lặc Đại Bồ-tát cùng các vị Đại sĩ:

    - Các thiện nam tử! Như chỗ ta xét nghĩ thời nay đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn.

    Các thiện nam tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù trả lời: Sở dĩ Phật hiện những tướng nhiệm mầu đó, là vì Ngài sắp nói pháp Đại thừa. Và Bồ-tát Văn-thù xác nhận là Ngài đã từng gần gũi các đức Phật đời quá khứ, nên Ngài biết mỗi khi Phật hiện điềm lành là Phật sắp nói pháp Đại thừa nghĩa lý rất sâu xa, người đời không thể tin nổi. Thông thường, với con mắt người phàm chỉ tin những gì mắt thấy tai nghe được. Còn Tri kiến Phật mà Phật sắp nói ở đây là Diệu pháp không hình không tướng nên khó tin. Bởi pháp khó tin, nên trước khi nói Phật phải hiện những tướng lạ để cho người tin, Ngài mới nói pháp chân thật tuyệt đối, thì khả dĩ họ mới tin.

    CHÁNH VĂN:

    20.- Các thiện nam tử! Như vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp về trước. Bấy giờ, có đức Phật hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù nói: Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp về trước, có đức Phật tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh (Nhật là mặt trời, Nguyệt là mặt trăng, Đăng là đèn, Minh là sáng). Phật có trí tuệ sáng suốt như mặt trời, mặt trăng và đèn. Tất cả ánh sáng thế gian đều phát ra từ mặt trời, mặt trăng và đèn. Nói cách khác là Trí tuệ Phật sáng suốt viên mãn không khiếm khuyết. Vì vậy, tượng trưng cho trí tuệ viên mãn của Phật là Nhật Nguyệt Đăng. Mười hiệu của Phật hàm ý nghĩa sau:

    - Như Lai: Như là như như bất động bất biến, chỉ cho Tâm thể chân thật có sẵn ở mỗi người, tượng trưng là Bồ-tát Văn-thù. Lai là tùy duyên, tu khi viên mãn công hạnh, đầy đủ Trí sai biệt, thì tùy duyên giáo hóa chúng sanh, tượng trưng là Bồ-tát Phổ Hiền.        

    - Ứng Cúng: Xứng đáng cho người, trời cúng dường.

    - Chánh Biến Tri: Biết chân chánh khắp giáp tất cả.

    - Minh Hạnh Túc: Đầy đủ công hạnh, tức là đủ Tam minh và Lục thông.

    - Thiện Thệ: Khéo qua biển sanh tử đến Niết-bàn.

    - Thế Gian Giải: Thấu suốt tất cả các pháp thế gian.

    - Vô Thượng Sĩ: Kẻ sĩ cao tột không ai hơn.

    - Điều Ngự Trượng Phu: Bậc trượng phu có khả năng điều phục được tất cả mọi người từ trí đến ngu.

    - Thiên Nhân Sư: Bậc thầy của trời, người.

    - Phật Thế Tôn: Bậc giác ngộ mà người đời cung kính, tôn trọng.

    Người giác ngộ thể nhập được Trí tuệ viên mãn thì gọi là Phật. Khi đã thành Phật thì những lời Phật nói ra rất sâu xa nhiệm mầu, ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều như một không sai trái, giúp cho người tu được thanh tịnh sáng suốt nên được coi là chân lý. Chẳng hạn Phật nói: Các pháp thế gian là vô thường, chúng sanh thì đau khổ. Xưa, con người sanh ra, lớn lên rồi phải già, bệnh, chết. Ngày nay, con người sanh ra cũng không tránh khỏi lão, bệnh, tử. Và mai kia, nếu con người có mặt ở cõi đời này cũng chẳng thoát khỏi nỗi khổ của sanh, già, bệnh, chết. Như vậy, điều Phật nói cách nay trên hai ngàn năm trăm năm, trải qua ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều như một, không biến dịch, không phải chân lý là gì? Ngày nay, chúng ta vì chưa được Trí tuệ Phật, thấy biết không đúng lẽ thật, nên nói ra điều gì mới nghe qua thấy hợp lý, nhưng ít tháng sau hoặc ít năm sau thì không còn đúng nữa, nên không được coi là chân lý.

    CHÁNH VĂN:

    Phật, vì người cầu đạo Thanh văn, nói pháp Tứ đế thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết cứu cánh Niết-bàn. Vì hạng cầu quả Duyên giác, nói pháp Mười hai nhân duyên. Vì hàng Bồ-tát nói Sáu pháp ba-la-mật làm cho chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thành bậc Nhứt thiết chủng trí.

    GIẢNG:

    Vì Phật có đủ Trí sai biệt, biết rõ hạnh nguyện của người tu, nên tùy duyên ứng hóa làm lợi ích cho tất cả. Nếu người muốn thoát khổ cầu đạo Thanh văn, Phật nói pháp Tứ đế độ cho thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, được cứu kính Niết-bàn. Nếu người trí tuệ khá hơn, cầu quả Duyên giác, Phật sẽ nói pháp Mười hai nhân duyên. Nếu là hàng Bồ-tát, Phật sẽ nói Sáu pháp ba-la-mật làm cho chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thành bậc Nhất thiết chủng trí tức là thành Phật. Tùy theo căn cơ cao thấp mà Phật nói pháp có sai biệt để hết thảy người tu đều đạt được sở nguyện của mình.

    CHÁNH VĂN:

    Kế lại có đức Phật cũng hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Lại có đức Phật cũng hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ, họ Phả-la-đọa.

    GIẢNG:

    Tất cả chư Phật có đến hai muôn đều đồng một hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Tại sao Phật nhiều như thế mà chỉ cùng một hiệu? Như trước đã nói, Nhật Nguyệt Đăng Minh là chỉ cho trí tuệ sáng suốt viên mãn; tất cả chư Phật khi thành Phật đều có trí tuệ sáng suốt viên mãn như nhau, vì vậy mà đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh.

    CHÁNH VĂN:

    Di-lặc nên biết! Đức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra đầu, giữa, sau đều lành.

    Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử: Người thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý.

    GIẢNG:

    Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh lúc chưa xuất gia là chỉ cho chúng sanh khi chưa tu. Theo kinh Lăng-già thì mọi chúng sanh đều có Như Lai tàng, nhưng vì quên (mê) Như Lai tàng nên biến thành Tàng thức. Khi biến thành Tàng thức rồi thì có bảy thức thân theo. Tám vương tử là tượng trưng cho tám thức; còn Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là chỉ cho Như Lai tàng hay là Phật tánh. Chúng sanh có Phật tánh mà quên (mê) Phật tánh nên biến thành thức. Mà thức thì hay phân biệt nên đây để tên là Ý. Do thức hay phân biệt nên lưu chuyển trong lục đạo, sanh tử luân hồi.

    CHÁNH VĂN:

    Tám vị vương tử đó có oai đức tự tại, đều lãnh trị bốn châu thiên hạ. Nghe vua cha xuất gia chứng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bỏ ngôi vua, cũng xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc Pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành.

    GIẢNG:

    Tám vị vương tử có oai đức tự tại cai trị bốn châu thiên hạ, là chỉ cho tám thức có công năng phân biệt khắp tất cả pháp. Mắt thì nhìn trước, ngó sau, xem phải, thấy trái phân biệt sắc pháp rất tinh tường. Tai thì nghe âm thanh của bốn phía, phân biệt trầm bổng, hay dở... một cách rành rẽ. Mũi ngửi mùi từ mọi nơi bay tới phân biệt thơm, thúi, tanh, hôi... một cách rõ ràng. Khi nghe vua cha xuất gia, tám vị vương tử liền xuất gia theo; ý nói khi Tàng thức chuyển thành Như Lai tàng thì tám thức cũng chuyển thành Trí, có nghĩa là chúng sanh khi chưa xuất gia (mê) thì có tám thức phân biệt, rồi tạo nghiệp nên phải luân hồi trong lục đạo. Khi ngộ thì tám thức qui về với Tánh giác, không còn phân biệt lăng xăng nữa mà vẫn biết rõ ràng (liễu liễu thường tri) đó là Trí.

    CHÁNH VĂN:

    21.- Đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Nói kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm chẳng động.

    22.- Khi ấy trời mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, cùng hoa ma-ha mạn-thù-sa để rải trên đức Phật và hàng đại chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động.

    Lúc đó trong hội, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân, phi nhân cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển Luân Thánh vương v.v... các đại chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.         

    23.- Bấy giờ, đức Như Lai từ tướng lông trắng giữa chặng mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương Đông như nay đương thấy ở cõi Phật đây.

    Di-lặc nên biết! Khi đó trong hội có hai mươi ức Bồ-tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ-tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh sáng này.

    Khi ấy có vị Bồ-tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử.

    GIẢNG:

    Đoạn này Bồ-tát Văn-thù lặp lại những hiện tướng lạ sau khi Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Tuy thời gian khác nhau, nhưng tướng hiện không khác. Song, xưa kia là Bồ-tát Diệu Quang, nay trong hội Linh Sơn là Bồ-tát Văn-thù, Văn-thù chính là tên sau của Bồ-tát Diệu Quang thuở trước (Diệu Quang có nghĩa là ánh sáng nhiệm mầu, tức là Trí căn bản có sẵn nơi mỗi chúng sanh).

    CHÁNH VĂN:

    24.- Bấy giờ, đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ-tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.

    25.- Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi.

    GIẢNG:

    Một tiểu kiếp bằng 16.800.000 năm, sáu chục tiểu kiếp bằng 1.008.000.000 năm. Phật nói pháp trải qua trên một tỷ năm mà Phật cùng với thính chúng thân tâm đều không lay động, không lười mỏi, thấy thời gian như chừng một bữa ăn. Thật là kỳ diệu! Chúng ta chỉ ngồi nghe pháp liên tục khoảng chừng bốn giờ là đã thấy lười mỏi. Thính chúng ở hội này nghe pháp trên một tỷ năm mà thân tâm không lay động, không lười mỏi! Điều này, nếu chúng ta hiểu theo nghĩa thông thường thì không thấy được chân lý, học kinh Đại thừa nếu kẹt trên văn tự thì không thể hiểu nổi. Ở đây, Phật vì Bồ-tát Diệu Quang nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, mà kinh Diệu Pháp Liên Hoa là chỉ cho Tri kiến Phật (Phật tánh) có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Tri kiến Phật không hình, không tướng, không sanh, không diệt, vượt ngoài không gian và thời gian, Phật nói kinh Pháp Hoa để chỉ Tri kiến Phật, thì thời gian và không gian đối với Tri kiến Phật là vô nghĩa; nên nói tâm bất động, thân không ăn uống, ngồi lâu cũng chẳng lười mỏi. Nhập được Diệu Pháp Liên Hoa là thể nhập Tri kiến Phật của chính mình. Tri kiến Phật vốn không hình tướng, không sanh diệt thì dựa vào đâu để phân biệt thời gian lâu mau, không gian rộng hẹp? Do đó nói sáu mươi tiểu kiếp thấy như trong khoảng bữa ăn; vì vậy các Thiền sư thường nói “nhất niệm vạn niên”, một niệm bằng vạn năm hay vạn năm bằng một niệm là để nói lên ý nghĩa dung nhiếp của Pháp tánh.

    CHÁNH VĂN:

    26.- Đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, và trời, người, a-tu-la, mà tuyên rằng: “Hôm nay vào nửa đêm, Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết-bàn.”

    GIẢNG:

    Tại sao đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi nói kinh Pháp Hoa xong, liền tuyên bố giữa đêm sẽ vào Vô dư Niết-bàn? Đây tôi ví dụ như chúng ta có một nghề thiện xảo, muốn để lại cho đời. Nhưng người đang học chưa đủ khả năng để được truyền tuyệt kỹ. Khi thấy họ đủ khả năng nhận thọ, mới trao dạy hết nghề. Và khi đã trao dạy tận tình rồi thì coi như hết bổn phận. Bổn phận đã hết ở lại là thừa! Cũng vậy bản hoài của chư Phật ra đời cốt là làm sao chỉ cho chúng sanh nhận được Tri kiến Phật của chính mình. Mà nhận được Tri kiến Phật đó là cái nhân tu, dẹp sạch vô minh vọng tưởng, Tri kiến Phật thường hiện tiền, đó là quả Phật. Mục đích cứu kính mà Phật muốn đưa chúng sanh đến, đó là thể nhập Tri kiến Phật. Nhưng vì quá cao, nói ra sợ người nghe không hiểu, hoang mang nên Phật mới nói Tam thừa. Vì Thanh văn nói Tứ đế, vì Duyên giác nói Thập nhị nhân duyên, vì Bồ-tát nói pháp Lục độ ba-la-mật. Mục tiêu cuối cùng mà Phật muốn đưa chúng sanh đến, đó là Phật thừa, tức ngộ nhập Tri kiến Phật mà kinh Pháp Hoa chỉ dạy. Sở dĩ từ trước Phật muốn chỉ mà chưa chỉ được, vì là pháp khó hiểu khó tin; đợi khi căn cơ của chúng sanh thuần thục thì Ngài nói, và khi nói xong Phật thừa, chúng sanh đã nhận biết được, thì bản nguyện đã viên mãn nên Ngài nhập Niết-bàn.

    CHÁNH VĂN:

    Khi đó có vị Bồ-tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký cho, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Ông Đức Tạng Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng Chánh giác.”

    Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô dư Niết-bàn.

    GIẢNG:

    Tại sao Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa với Bồ-tát Diệu Quang mà lại thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng? Bồ-tát Diệu Quang là Trí căn bản, mà Trí căn bản tức là Phật tánh tròn sáng đâu cần thọ ký. Còn Bồ-tát Đức Tạng là chỉ cho kho công đức khi đã tu hành viên mãn tức là Sai biệt trí, tương tự như Bồ-tát Phổ Hiền giáo hóa làm lợi ích cho chúng sanh, khi đầy đủ công đức rồi thì thành Phật. Vì vậy Phật nói pháp là phải nói với Bồ-tát Diệu Quang và khi thọ ký thì phải thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng.

    CHÁNH VĂN:

    27.- Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.

    28.- Tám người con của Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh đều học với ngài Diệu Quang, ngài Diệu Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị vương tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên Đăng.

    GIẢNG:

    Sau khi Phật diệt độ, Bồ-tát Diệu Quang trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa và vì người diễn nói. Trong số người được Ngài giáo hóa có tám vị vương tử con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh. Tám vương tử có đủ lòng tin đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và đều được thành Phật, vị rốt sau thành Phật hiệu là Nhiên Đăng. Nhiên là đốt, Đăng là đèn. Nhiên Đăng là thắp đèn phát ra ánh sáng; ánh sáng đó phát ra từ Trí căn bản hướng dẫn tám thức, rũ sạch vọng tưởng phân biệt, trở nên trí tuệ tròn sáng gọi là thành Phật. 

    CHÁNH VĂN:

    29.- Trong hàng tám trăm người đệ tử có một người tên Cầu Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu Danh, người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm ngàn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi.

    30.- Di-lặc nên biết! Lúc đó Diệu Quang Bồ-tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu Danh Bồ-tát là Ngài đấy.

    Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ, hôm nay đức Phật Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.

    GIẢNG:

    Phần kết thúc khiến cho chúng ta có những nghi vấn:

    1- Bồ-tát Diệu Quang từ trước đã giáo hóa cho bao nhiêu Bồ-tát thành Phật rồi, mà sao bây giờ Ngài vẫn còn làm Bồ-tát hiệu là Văn-thù?

    2- Trong hội Pháp Hoa, Phật thọ ký cho vô số Bồ-tát thành Phật, thậm chí Bồ-tát Cầu Danh tham ưa danh lợi, tu hành lôi thôi mà cũng được thọ ký cho sau này sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc. Tại sao Phật không thọ ký cho Bồ-tát Văn-thù?

    Kinh Lăng-già có nêu lên năm pháp là Danh, Tướng, Vọng tưởng, Chánh trí, Như như. Nếu còn vọng tưởng tức là còn thức phân biệt; mà Bồ-tát Di-lặc tượng trưng cho thức phân biệt, phân biệt danh, phân biệt tướng nên không thuộc kinh, được gọi là Cầu Danh. Tuy cầu danh, nhưng nhờ có duyên lành nên gặp Phật và tu hành. Khi tu biết rõ vọng tưởng không thật, đó là chánh trí, đã có chánh trí thì trở lại như như tức thành Phật. Mặc dầu Bồ-tát Cầu Danh (thức) chạy theo danh tướng bên ngoài, nhưng nếu khéo chuyển thì sẽ thành Trí, do đó mà được thọ ký thành Phật. Còn Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho Trí căn bản, mà Trí căn bản là tánh Phật, đã là tánh Phật còn thọ ký thành Phật gì nữa?

    Ý nghĩa tổng quát ở đây nêu bày cho chúng ta thấy rằng tất cả mọi chúng sanh đều có sẵn Tánh giác, nhờ khéo tu, chuyển thức thành trí, công hạnh độ sanh viên mãn thì thành Phật. Đó là tượng trưng cho Trí căn bản và Trí sai biệt. Trí sai biệt chỉ khi thành Phật mới có, còn Trí căn bản mọi người ai cũng có sẵn. Căn cứ vào đâu mà nói mỗi người ai cũng có Trí căn bản? Ví dụ có một nắm bổi đang bốc khói, chúng ta biết ngay dưới nắm bổi đó có lửa, hoặc là tàn thuốc hay là cục than. Cũng vậy, nếu chúng ta không có Trí căn bản thì động cơ nào thúc đẩy chúng ta phát tâm Bồ-đề cầu giác ngộ, xuất gia học đạo? Phát tâm Bồ-đề là phát tâm giác, mà phát tâm giác là phải có sẵn động cơ giác là Trí căn bản. Cũng như nắm bổi bốc khói là do có lửa sẵn mới phát cháy.

    Tại sao ai cũng có Trí căn bản mà người được thôi thúc phát Bồ-đề tâm đi tu, người thì không phát tâm tu hành? Ví dụ đêm rằm có trăng sáng, nhưng trời chuyển mưa, mây đen kịt, lúc đó trăng vẫn sáng, nhưng vì mây che nên chúng ta thấy bầu trời tối. Nếu chỗ nào mây thưa thì thấy được ánh trăng mờ mờ. Cũng vậy, ai cũng có Trí căn bản, nhưng vì vô minh phiền não quá dày nên nó thôi thúc không nổi. Với người vô minh phiền não hơi mỏng, nó liền có công năng hiện ra. Chẳng hạn như những người tu, vô minh có phần mỏng nên Trí căn bản mới thúc đẩy phát tâm cầu giác ngộ giải thoát mà đi tu. Nếu không có động cơ thúc đẩy dễ gì kham chịu chay lạt, thức khuya, dậy sớm sống phạm hạnh để tu hành! Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, người mà thôi thúc khuyến khích Thiện Tài đồng tử đi tham vấn năm mươi ba vị thiện tri thức là Bồ-tát Văn-thù. Khi tham vấn đến vị cuối cùng thì gặp Bồ-tát Phổ Hiền, và ngay lúc đó Bồ-tát Văn-thù đồng hiện ra nữa. Như vậy, để thấy kinh Pháp Hoa cũng như kinh Hoa Nghiêm có chỗ gặp nhau là Trí căn bản thúc đẩy người phát tâm cầu giác ngộ, đi tu dẹp hết vô minh phiền não rồi mới thành Phật. Do đó mà nói Bồ-tát Diệu Quang (Trí căn bản) là thầy của chư Phật, dạy các Bồ-tát tu thành Phật hết mà chính Ngài chưa thành. Nếu không thông lý căn bản này thì không dễ gì phá được cái nghi trên và biết phương hướng để tu hành.

    CHÁNH VĂN:

    Bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát ở trong đại chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    31.-

    Ta nhớ thuở quá khứ,
    Vô lượng vô số kiếp
    Có Phật Nhân Trung Tôn
    Hiệu Nhựt Nguyệt Đăng Minh
    Đức Thế Tôn nói pháp
    Độ vô lượng chúng sanh,
    Vô số ức Bồ-tát
    Khiến vào Trí huệ Phật.

    32.-

    Khi Phật chưa xuất gia
    Có sanh tám vương tử
    Thấy Đại Thánh xuất gia
    Cũng theo tu phạm hạnh.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù lặp lại lời giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc và hội chúng là, thời quá khứ có Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói pháp độ vô số chúng được thành Phật. Và tám vương tử thấy Ngài đi tu cũng xuất gia theo Ngài.

    CHÁNH VĂN:

    33.-

    Phật nói kinh Đại thừa
    Tên là Vô Lượng Nghĩa
    Ở trong hàng đại chúng
    Mà vì rộng tỏ bày.
    Phật nói kinh ấy rồi
    Liền ở trong pháp tòa
    Xếp bằng nhập chánh định
    Tên Vô lượng nghĩa xứ
    Trời rưới hoa mạn-đà
    Trống trời tự nhiên vang
    Các trời, rồng, quỉ, thần
    Cúng dường đấng Nhân Tôn
    Tất cả các cõi Phật
    Tức thời vang động lớn.

    GIẢNG:

    Sau khi Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa cho đại chúng nghe xong, Ngài liền nhập chánh định và được trời, rồng, quỉ, thần cúng dường hoa, nhạc.

    CHÁNH VĂN:

    34.-     

    Phật phóng sáng giữa mày
    Hiện các việc hi hữu
    Ánh sáng chiếu phương Đông
    Muôn tám nghìn cõi Phật
    Bày sanh tử nghiệp báo
    Của tất cả chúng sanh
    Lại thấy các cõi Phật
    Dùng các báu trang nghiêm
    Màu lưu-ly, pha lê
    Đây bởi Phật quang soi

    35.-

    Lại thấy những trời, người
    Rồng, thần, chúng dạ-xoa
    Càn-thát, khẩn-na-la
    Đều cúng dường Phật mình.

    GIẢNG:

    Nương hào quang của Phật, Bồ-tát Văn-thù thấy nghiệp báo của các loài chúng sanh, những vật báu trang nghiêm cõi Phật và thấy trời, người, rồng... cúng dường Phật mình ở một muôn tám ngàn cõi Phật.

    CHÁNH VĂN:

    36.-

    Lại thấy các Như Lai
    Tự nhiên thành Phật đạo
    Màu thân như núi vàng
    Đoan nghiêm rất đẹp mầu
    Như lưu-ly trong sạch
    Hiện ra tượng chơn kim
    Thế Tôn trong đại chúng
    Dạy nói nghĩa thâm diệu.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù thấy các Như Lai tự nhiên thành Phật có thân tướng đoan nghiêm, nói pháp thâm diệu.

    CHÁNH VĂN:

    37.-

    Mỗi mỗi các cõi Phật
    Chúng Thanh văn vô số
    Nhân Phật quang soi sáng
    Đều thấy đại chúng kia
    Hoặc có các Tỳ-kheo
    Ở tại trong núi rừng
    Tinh tấn giữ tịnh giới
    Dường như gìn châu sáng.

    38.-

    Lại thấy các Bồ-tát
    Bố thí nhẫn nhục thảy
    Số đông như hằng sa
    Đây bởi sáng Phật soi.
    Lại thấy hàng Bồ-tát
    Sâu vào các Thiền định
    Thân tâm lặng chẳng động
    Để cầu đạo Vô thượng.
    Lại thấy các Bồ-tát
    Rõ tướng pháp tịch diệt
    Đều ở tại nước mình
    Nói pháp cầu Phật đạo.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù thấy ở mỗi cõi Phật có hàng Thanh văn, Tỳ-kheo ở chỗ vắng tu tịnh hạnh, Bồ-tát tu bố thí, thiền định, nói pháp để cầu Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    39.-

    Bấy giờ bốn bộ chúng
    Thấy Phật Nhựt Nguyệt Đăng
    Hiện sức thần thông lớn
    Tâm kia đều vui mừng
    Mỗi người tự hỏi nhau
    Việc này nhân duyên gì?

    GIẢNG:

    Tứ chúng thấy Phật hiện thần thông, vừa vui mừng vừa nghi vấn.

    CHÁNH VĂN:

    40.-

    Đấng của trời, người thờ
    Vừa từ chánh định dậy
    Khen Diệu Quang Bồ-tát
    Ông là mắt của đời
    Mọi người đều tin về
    Hay vưng giữ tạng pháp
    Như pháp của ta nói
    Chỉ ông chứng biết được
    Đức Phật đã ngợi khen
    Cho Diệu Quang vui mừng
    Liền nói kinh Pháp Hoa
    Trải sáu mươi tiểu kiếp
    Chẳng rời chỗ ngồi ấy
    Ngài Diệu Quang pháp sư
    Trọn đều hay thọ trì
    Pháp thượng diệu của Phật.

    41.-

    Phật nói kinh Pháp Hoa
    Cho chúng vui mừng rồi
    Liền chính trong ngày đó
    Bảo hàng chúng trời, người
    Các pháp “Nghĩa thật tướng”
    Đã vì các ông nói
    Nay ta giữa đêm này
    Sẽ vào cõi Niết-bàn
    Phải một lòng tinh tấn
    Rời các sự buông lung
    Các Phật rất khó gặp
    Ức kiếp được một lần.

    GIẢNG:

    Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất định, khen Bồ-tát Diệu Quang có khả năng thọ trì Diệu pháp cao thượng, nên Ngài vì Bồ-tát Diệu Quang mà nói kinh Pháp Hoa. Và sau khi nói kinh xong, Phật cho biết là sẽ nhập Niết-bàn, Ngài khuyên chúng nên tinh tấn tu hành, chớ có buông lung.

    CHÁNH VĂN:

    42.-

    Các con của Phật thảy
    Nghe Phật sắp nhập diệt
    Thảy đều lòng buồn khổ
    Phật sao gấp diệt vậy?
    Đấng Thánh chúa Pháp vương
    An ủi vô lượng chúng:
    Nếu lúc ta diệt độ
    Các ông chớ lo sợ
    Đức Tạng Bồ-tát đây
    Tâm đã được thông thấu
    Nơi Vô lậu thiệt tướng
    Kế đây sẽ thành Phật
    Tên hiệu là Tịnh Thân
    Cũng độ vô lượng chúng.

    GIẢNG:

    Tứ chúng nghe Phật sắp Niết-bàn, lấy làm buồn khổ. Phật an ủi là sau khi Phật diệt độ, có Bồ-tát Đức Tạng tâm thấu suốt được Thật tướng, sẽ thành Phật tiếp tục giáo hóa chúng sanh.

    CHÁNH VĂN:

    43.-

    Đêm đó Phật diệt độ
    Như củi hết, lửa tắt
    Chia phân các xá-lợi
    Mà xây vô lượng tháp
    Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni
    Số đông như hằng sa
    Lại càng thêm tinh tấn
    Để cầu đạo Vô thượng.

    GIẢNG:

    Phật diệt độ, xá-lợi Phật được xây tháp để cúng dường, chúng càng thêm tinh tấn cầu đạo Vô thượng.

    CHÁNH VĂN:

    44.-

    Diệu Quang pháp sư ấy
    Vưng giữ Phật pháp tạng
    Trong tám mươi tiểu kiếp
    Rộng nói kinh Pháp Hoa.
    Tám vị vương tử đó
    Được Diệu Quang dạy bảo
    Vững bền đạo Vô thượng
    Sẽ thấy vô số Phật
    Cúng dường các Phật xong
    Thuận theo tu đại đạo
    Nối nhau được thành Phật
    Chuyển thứ thọ ký nhau
    Đấng Phật rốt sau cả
    Hiệu là Phật Nhiên Đăng
    Đạo sư của thiên tiên
    Độ thoát vô lượng chúng.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Diệu Quang vâng giữ Pháp tạng Phật, nói kinh Pháp Hoa độ cho vô số chúng, trong đó có tám vương tử đầy đủ lòng tin với đạo Vô thượng và sẽ được thành Phật, vị rốt sau hiệu Nhiên Đăng.

    CHÁNH VĂN:

    45.-

    Diệu Quang pháp sư đó
    Có một người đệ tử
    Tâm thường cưu biếng trễ
    Tham ưa nơi danh lợi
    Cầu danh lợi không nhàm
    Thường đến nhà sang giàu
    Rời bỏ việc tụng học
    Bỏ quên không thông thuộc
    Vì  bởi nhân duyên ấy
    Nên gọi là Cầu Danh
    Cũng tu các nghiệp lành
    Được thấy vô số Phật
    Cúng dường các đức Phật
    Thuận theo tu đại đạo
    Đủ Sáu ba-la-mật
    Nay gặp đấng Thích-ca
    Sau đây sẽ thành Phật
    Hiệu rằng: Phật Di-lặc
    Rộng độ hàng chúng sanh
    Số đông đến vô lượng.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù nhắc lại chuyện xưa, Bồ-tát Diệu Quang có người đệ tử tham ưa danh lợi tên là Cầu Danh, nhờ có duyên lành nên gặp chư Phật, tu pháp Lục độ, nay gặp Phật Thích-ca giáo hóa cũng sẽ thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    46.-     

    Sau Phật kia diệt độ
    Lười biếng đó là Ngài
    Còn Diệu Quang pháp sư
    Nay thời chính là ta.
    Ta thấy Phật Đăng Minh
    Điềm sáng trước như thế
    Cho nên biết rằng nay
    Phật muốn nói Pháp Hoa.
    Tướng nay như điềm xưa
    Là phương tiện của Phật
    Nay Phật phóng ánh sáng
    Giúp bày nghĩa Thiệt tướng
    Các người nay nên biết
    Chấp tay một lòng chờ
    Phật sẽ rưới nước pháp
    Đầy đủ người cầu đạo
    Các người cầu ba thừa
    Nếu có chỗ nghi hối
    Phật sẽ dứt trừ cho
    Khiến hết không còn thừa.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Di-lặc trong đời này tức là Cầu Danh thuở xưa và Bồ-tát Diệu Quang thuở xưa là Bồ-tát Văn-thù thời nay. Bồ-tát Văn-thù bảo cho hội chúng biết, nay Phật hiện những điềm lành giống như thuở xưa là Phật sắp nói kinh Pháp Hoa, chúng nên chờ để nghe. Đặc biệt là hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát sẽ được dứt trừ nghi mà thành tựu Phật thừa.

    Chúng ta thấy ở phẩm này nêu lên các vị Bồ-tát tượng trưng. Mở đầu là Bồ-tát Di-lặc nghi vấn những hiện tướng kỳ diệu mà Phật hiện ra trước khi nói kinh Vô Lượng Nghĩa và được Bồ-tát Văn-thù giải đáp. Như vậy để thấy kinh Pháp Hoa chỉ thẳng Tri kiến Phật (Phật tánh) của mỗi người, nếu dùng Thức phân biệt thì không thể thấy biết mà phải nhờ Trí căn bản mới nhận được. Đoạn sau Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc bằng một câu chuyện tiền kiếp: Cầu Danh ngày xưa chính là Bồ-tát Di-lặc ngày nay và Bồ-tát Diệu Quang ngày xưa dạy cho các Bồ-tát thành Phật mà Ngài không được thọ ký thành Phật chính là Bồ-tát Văn-thù ngày nay. Văn-thù là Trí căn bản thúc đẩy con người phát tâm Bồ-đề, còn Cầu Danh là thức, nếu khéo tu đúng theo lời Phật dạy thì thức cũng chuyển thành trí. Khi mê, vọng thức chạy theo danh tướng; khi tỉnh giác, chánh trí hiện, không chạy theo danh tướng liền trở thành như như. Cho nên ngài Cầu Danh được thọ ký sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc sau Phật Thích-ca. Đó là mục tiêu chánh yếu mà chư Phật ra đời để dạy cho chúng ta.

    Phẩm này Phật chỉ dùng hình ảnh biểu trưng để hiển bày lý chân thật tuyệt đối là Tri kiến Phật, chớ không dùng ngôn ngữ để diễn tả. Vì vậy chúng ta chớ kẹt trên ngôn ngữ mà hiểu kinh Pháp Hoa.


  • 3. PHẨM 2 : PHƯƠNG TIỆN

    PHẨM 2

    PHƯƠNG TIỆN

    Phương tiện là tùy theo sở cầu trong mỗi giai đoạn của người mà tạm thời làm lợi ích. Nói cách khác, phương tiện là từng bậc thang đưa người đi từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ chỗ tạm đến chỗ chân thật rốt ráo. Trí tuệ Phật viên mãn nên có vô số phương tiện hướng dẫn chúng sanh từ mê tới giác là chỗ cứu kính chân thật.

    Chúng ta thấy ở phẩm Tựa, Phật nhập định, hiện tướng lạ, không nói một lời... để thính chúng nương tướng lạ đó mà ngầm nhận ra thâm ý Phật muốn chỉ. Tới phẩm Phương Tiện, Ngài mới  bắt đầu dùng ngôn giáo. Tôi đi xa hơn một chút, theo tinh thần phán giáo của ngài Thiên Thai thì kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa là hai bộ kinh được nói ở đầu và cuối đời đức Phật. Ngài ví dụ: Mặt trời khi mới mọc, ánh sáng chiếu thẳng trên đỉnh núi và khi sắp lặn, ánh sáng cũng chiếu thẳng trên đỉnh núi. Khi Phật mới thành đạo nói kinh Hoa Nghiêm và sắp Niết-bàn nói kinh Pháp Hoa. Hai kinh được nói ở hai thời điểm khác nhau mà chỉ thú không hai. Kinh Hoa Nghiêm ở phẩm Nhập Pháp Giới được coi là tối quan trọng. Trong phẩm này, Thiện Tài đồng tử được Bồ-tát Văn-thù khuyến khích đi tham vấn năm mươi ba vị thiện hữu tri thức. Đầu tiên Thiện Tài đến ngọn Diệu Phong để tham vấn Tỳ-kheo Đức Vân. Nhưng lên tận đỉnh Diệu Phong, Thiện Tài không gặp Tỳ-kheo Đức Vân. Lúc trở xuống thì gặp Ngài ở ngọn Biệt Phong, chừng đó mới đàm đạo tham vấn. Cũng như kinh Pháp Hoa, mở đầu phẩm Tựa, đức Phật nhập định hiện tướng lạ, không nói. Qua phẩm Phương Tiện Phật xả định, rồi tán thán pháp Phật vi diệu nhiệm mầu, khó nói, khó hiểu, khó tin, chừng đó mới có ngôn ngữ. Như vậy, kinh Hoa Nghiêm cũng như kinh Pháp Hoa đều nói rằng chỗ cứu kính chân thật (Pháp thân hay Tri kiến Phật) thì bặt ngôn ngữ, bởi nói năng không thể hiển bày được. Vì vậy phẩm này Phật xuất định, dùng ngôn ngữ nói cho hội chúng nghe để dìu dắt chúng sanh từ thấp đến cao nên gọi là Phương tiện.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Trí huệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh văn cùng Bích-chi Phật đều không biết được. Vì sao?

    Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh, tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu. Xá-lợi-phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, Tri kiến và Ba-la-mật.

    Xá-lợi-phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, Đức vô lượng vô ngại, Lực vô sở úy, Thiền định, Giải thoát tam-muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có.

    Xá-lợi-phất! Như Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng.

    Xá-lợi-phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp Vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên.

    GIẢNG:

    Phẩm Tựa, đức Phật hiện điềm lành rồi nhập chánh định Vô lượng nghĩa xứ, im lặng không nói. Nay thấy căn cơ của thính chúng đã thuần thục, Phật xuất định giảng nói. Trước hết, Ngài tán thán ca ngợi với Tôn giả Xá-lợi-phất là trí tuệ của chư Phật sâu xa vô lượng nên khó nói, khó hiểu, khó vào. Vì vậy mà hàng Thanh văn, Bích-chi Phật không thể hiểu được.

    Sở dĩ đức Phật được trí tuệ sâu rộng mà tất cả người khác không thể biết được, là vì Ngài đã từng gần gũi vô số đức Phật, tu vô lượng pháp, dõng mãnh, tinh tấn, tiếng tốt đồn khắp... nên Ngài mới được pháp sâu rộng chưa từng có và tùy theo thời cơ mà đem chỉ dạy ý thú sâu xa khó hiểu đó cho chúng sanh.

    Chúng ta thấy rõ Phật nói lên phương tiện Ngài sử dụng. Từ khi thành Phật, Như Lai có đầy đủ phương tiện, thấy biết tận nguồn ngọn tất cả pháp nên Ngài đã dùng nhân duyên, thí dụ, ngôn giáo và vô số phương tiện khác để dìu dắt chúng sanh, khiến cho họ xa lìa kiến chấp.

    Phật nói rằng Tri kiến Phật rộng lớn sâu xa, không thể đo lường được nên gọi là Đức vô lượng, không có cái gì làm chướng ngại được nên gọi là Vô ngại, về sức thì được Vô sở úy, tức là không sợ sệt, được Thiền định, được Giải thoát rất sâu không ngằn mé. Tức là Trí tuệ Phật ở thế gian chưa từng có. Vì tất cả pháp thế gian có đều là tương đối, đã là tương đối thì sanh diệt. Trí tuệ Phật là cái không sanh không diệt nên nói thế gian chưa từng có.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Thôi Xá-lợi-phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhứt mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.

    GIẢNG:

    Tại sao đức Phật đang khen ngợi trí tuệ của chư Phật, tới đây Ngài lại không muốn nói, bảo: “thôi, Xá-lợi-phất, chẳng cần nói nữa”, vì lý do gì? - Vì pháp khó nói, khó hiểu, khó tin, chỉ Phật với Phật mới có thể thấu tột Tướng chân thật của các pháp. Còn hàng Bồ-tát, Duyên giác, La-hán đều không thể thấy như Phật. Bởi trình độ chư Phật ngang nhau mới thấy biết như nhau; còn phàm phu chúng ta, mọi thấy biết đều sai lầm. Ví dụ như cái thân năm uẩn này thấy nó là thật ngã, là của ta... Với trí Bát-nhã thấy thân người do năm ấm giả hợp mà thành, không có chủ thể cố định. Bởi không có chủ thể cố định nên nói là vô ngã, là tạm bợ, huyễn hóa. Các pháp ở thế gian, với người mê thì thấy thế này, còn người ngộ lại thấy khác. Nhưng ngộ cũng tùy theo trình độ, như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát mỗi chỗ ngộ đều khác nhau. Nhưng đến cái ngộ của Phật mới thấy tột cùng, dung hợp tất cả không còn sai biệt. Vì thế ở đây nói chỉ có Phật với Phật mới thấy các pháp đúng như Thật thể của nó, cho nên nói tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.

    Thế nào là tướng, thế nào là tánh? Phàm, vạn pháp trên thế gian này được nhìn qua hai mặt tướng và tánh. Ví dụ: Lửa là một pháp, khi cháy ánh lửa hiện ra các màu hoặc đỏ, hoặc xanh, hoặc cam; ta thấy tướng trạng màu sắc của lửa có sai khác, nhưng tánh nóng của lửa không khác, vẫn là nóng; thế nên, tướng lửa có đổi thay mà tánh lửa thì không biến dịch.

    Thế nào là thể lực... quả báo? Phàm tất cả mọi sự vật đều có cái thể chung, chẳng hạn toàn thân con người gọi là “thể”; do thân này hoạt động có tác dụng có sức mạnh gọi là “lực”; do hoạt động tạo “tác” nên có nghiệp; bởi có tạo tác nên mới thành “nhân”; nhân hội đủ “duyên” thì thành “quả”; mà quả kết tựu đúng như nhân đã tạo gọi là “báo”, rõ ràng “trước sau rốt ráo” như vậy không sai biệt. Đó là đứng trên mặt tướng dụng của các pháp nhìn thì thấy rõ ràng như vậy.

    Nếu nhìn toàn thân con người bằng Trí tuệ Bát-nhã thì đầu, mình, tay, chân, mắt, tai... tất cả đều do tứ đại duyên hợp mà có giả tướng ấy, không một bộ phận nào trong thân là Tướng chân thật. Nên dù nói tướng, nói tánh, nói thể, nói lực, nói tác, nói nhân, nói duyên, nói quả, nói báo, nói rốt ráo, tất cả đều là ngôn ngữ giả lập. Đã là ngôn ngữ giả lập thì Tự tánh nó là không, bởi Tự tánh là không nên nói tịch diệt.

    Nếu nhìn toàn thân con người với tâm nhất như không động, không phân biệt thì thấy con người là con người. Hoặc mắt thấy sắc, sắc vẫn là sắc; tai nghe âm thanh, âm thanh vẫn là âm thanh; hương, vị, xúc, pháp cũng như vậy, không phân tích chia chẻ. Bởi nhìn tất cả pháp ở thế gian này với tâm như như thì thấy các pháp là như, không có chút sai biệt. Ví dụ có một thoi vàng trên bàn, mọi người đều thấy thoi vàng là thoi vàng, không thêm một niệm nào khác thì nó là như. Nếu thấy thoi vàng liền cho thoi vàng quí có giá trị bạc triệu thì lòng tham dấy khởi, nhiều niệm bất chánh theo đó mà sanh... Vậy, nếu tâm như thì mọi cảnh đều như.

    Trong kinh Pháp Bảo Đàn, lúc Lục Tổ đến chùa Pháp Tánh với hình thức cư sĩ, có hai ông Sa-di đứng trước chùa dưới cây phướn cãi nhau:

    - Đố huynh cái gì động?

    - Gió động.

    - Phướn động.

    Người nói gió động, người nói phướn động, hai người cãi nhau không ngã lẽ. Lục Tổ nói: Tâm nhân giả động! Sở dĩ chúng ta cãi nhau hoài là tại tâm chúng ta không nhất như, không thấy các pháp vốn là như vậy. Cảnh vật đối với tâm người đạt đạo giống như mặt gương sáng, có người thì hiện ảnh người, có vật thì hiện ảnh vật, có cái nào hiện cái nấy rõ ràng không tạp loạn. Đó là do tâm như nên mọi cảnh đều như. Nếu tâm dấy niệm phân biệt thì thấy người thấy vật sai khác, rồi tranh chấp nhau sanh vô số khổ đau phiền lụy.

    Người thấy tất cả pháp như vậy là người hằng sống với Tri kiến Phật, đó là ý nghĩa Thập như thị. Nếu tâm nhất như thì cảnh như. Cảnh như do tâm như. Đồng nghĩa với tâm an thì cảnh cũng an, tâm bất an thì cảnh cũng bất an, đó là một lẽ thật mà ít người chấp nhận.

    CHÁNH VĂN:

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    3.-

    Đấng Thế Hùng khó lường
    Các trời cùng người đời
    Tất cả loài chúng sanh
    Không ai hiểu được Phật
    Trí lực, vô sở úy.
    Giải thoát các tam-muội
    Các pháp khác của Phật
    Không ai so lường được.
    Vốn từ vô số Phật
    Đầy đủ tu các đạo
    Pháp nhiệm mầu rất sâu
    Khó thấy khó rõ được
    Trong vô lượng ức kiếp
    Tu các đạo đó rồi
    Đạo tràng được chứng quả
    Ta đều đã thấy biết.
    Quả báo lớn như vậy
    Các món tánh tướng nghĩa
    Ta cùng mười phương Phật
    Mới biết được việc đó.

    GIẢNG:

    Phật lặp lại ý trước, chỗ đạt được của Phật, các loài chúng sanh từ trời, người... không ai có thể hiểu và so lường được. Sở dĩ Ngài được pháp như vậy là do Ngài tu đủ các pháp mầu sâu xa trong vô lượng kiếp, rồi chứng quả tại đạo tràng nên mới thấu suốt như vậy. Vì thế tánh, tướng, nghĩa của pháp đó chỉ có Phật với Phật ở mười phương mới biết được.

    CHÁNH VĂN:

    4.-

    Pháp đó không chỉ được
    Vắng bặt tướng nói năng
    Các loài chúng sanh khác
    Không có ai hiểu được
    Trừ các chúng Bồ-tát
    Người sức tin bền chặt
    Các hàng đệ tử Phật
    Từng cúng dường các Phật
    Tất cả lậu đã hết
    Trụ thân rốt sau này
    Các hạng người vậy thảy
    Sức họ không kham được.
    Giả sử đầy thế gian
    Đều như Xá-lợi-phất
    Cùng suy chung so lường
    Chẳng lường được Phật trí
    Chánh sử khắp mười phương
    Đều như Xá-lợi-phất
    Và các đệ tử khác
    Cũng đầy mười phương cõi
    Cùng suy chung so lường
    Cũng lại chẳng biết được.
    Bậc Duyên giác trí lanh
    Vô lậu thân rốt sau
    Cũng đầy mười phương cõi
    Số đông như rừng tre,
    Hạng này chung một lòng
    Trong vô lượng ức kiếp
    Muốn xét Phật thật trí
    Chẳng biết được chút phần
    Bồ-tát mới phát tâm
    Cúng dường vô số Phật
    Rõ thấu các nghĩa thú
    Lại hay khéo nói pháp
    Đông đầy mười phương cõi
    Như lúa, mè, tre, lau
    Một lòng dùng trí mầu
    Trải số kiếp hằng sa
    Thảy đều chung suy lường
    Chẳng biết được trí Phật
    Hàng bất thoái Bồ-tát
    Số đông như hằng sa
    Một lòng chung suy cầu
    Cũng lại chẳng hiểu được.

    GIẢNG:

    Pháp mà Phật chứng thì không ngôn ngữ nào có thể diễn tả được, nên nói “vắng bặt tướng nói năng”. Trong Thiền sử Trung Hoa có Thiền sư Đả Địa, bên Ngài luôn luôn có cây gậy. Nếu có Thiền khách đến tham vấn, bất cứ hỏi câu gì, Ngài đều cầm gậy đập xuống đất một cái rồi thôi, không nói gì hết. Một hôm có vị Tăng lén lấy cây gậy đem giấu, rồi mới đến thưa: “Bạch Hòa thượng thế nào là Đạo?” Ngài đưa tay lấy gậy, gậy không có, há miệng, không nói câu nào! Thoáng nghe qua, chúng ta rất ngạc nhiên và thắc mắc sao Ngài dốt cho tới không nói được một câu, hay miệng lưỡi Ngài có tật không nói được. Chính vì Tri kiến Phật là cái mà ngôn ngữ không thể diễn tả được, nếu diễn tả bằng lời được thì pháp đó là pháp đối đãi của thế gian. Cho nên, để khai thị pháp tuyệt đối (Tri kiến Phật), Ngài chỉ đập đất hoặc há miệng mà không nói.

    Qua pháp thoại này, tôi bình rằng: “Muốn thấy mặt nước hồ phẳng, trước khi cá ăn móng.” Cũng vậy, muốn thấy được Thể thanh tịnh, bặt tướng nói năng thì trước khi dấy niệm phát ra ngôn ngữ, mới thấy được cái thể ấy. Vì vừa dấy niệm có ngôn ngữ là tâm động loạn không thể thấy được. Thế nên, hàng chúng sanh không ai hiểu nổi Tri kiến Phật, trừ hàng Bồ-tát có lòng tin vững chắc mới có thể thấu hiểu.

    Đệ tử Phật như hàng A-la-hán đối với Tri kiến Phật cũng không kham được. Giả sử tất cả người ở thế gian này, mỗi người trí tuệ siêu tuyệt bậc nhất như Xá-lợi-phất, hợp lại để so lường, nghĩ về Tri kiến Phật cũng không thể hiểu được. Hoặc người ở khắp mười phương thế giới, ai cũng có trí tuệ siêu tuyệt như trí tuệ của Xá-lợi-phất, và hàng đệ tử khác ở khắp mười phương, chung họp tất cả trí tuệ đó để suy lường cũng không biết được Tri kiến Phật. Tại sao vậy? - Vì còn so lường. Trí tuệ Phật là chỗ tuyệt ngôn tuyệt lự, nếu còn đem trí để suy lường, dù trí có nhiều bao nhiêu cũng không hiểu nổi.

    Hàng Duyên giác trí lanh lợi, đầy mười phương hợp lại nhiều như rừng tre, trải qua thời gian vô lượng kiếp muốn biết Trí tuệ Phật cũng không có phần, vì suy lường nên không biết được.

    Cho đến hàng Bồ-tát mới phát tâm ở mười phương số nhiều như lúa mè, như tre lau dùng hết trí tuệ của mình, trải hằng sa kiếp để suy lường cũng không biết Trí tuệ Phật. Kế nữa là hàng Bất thoái Bồ-tát, nhiều như số cát sông Hằng một lòng chung suy nghĩ cũng không thể biết Trí tuệ Phật.

    Chúng ta thấy, đối với Trí tuệ Phật dù cho bất cứ hạng người nào từ A-la-hán đến Duyên giác, đến Bồ-tát mới phát tâm, đến Bồ-tát bất thoái chuyển, nếu còn dùng trí suy cầu tìm hiểu đều không thể hiểu được. Như vậy, muốn biết Trí tuệ Phật thì tâm phải nhất như, khi tâm như rồi thì cảnh cũng như mới hợp với Trí tuệ Phật.

    CHÁNH VĂN:

    5.-

    Lại bảo Xá-lợi-phất
    Pháp nhiệm mầu rất sâu
    Vô lậu khó nghĩ bàn
    Nay ta đã được đủ
    Chỉ ta biết tướng đó
    Mười phương Phật cũng vậy
    Xá-lợi-phất phải biết
    Lời Phật nói không khác
    Với pháp của Phật nói
    Nên sanh sức tin chắc
    Pháp của Phật lâu sau
    Cần phải nói chân thật
    Bảo các chúng Thanh văn
    Cùng người cầu Duyên giác
    Ta khiến cho thoát khổ
    Đến chứng được Niết-bàn
    Phật dùng sức phương tiện
    Dạy cho ba thừa giáo
    Chúng sanh nơi nơi chấp
    Dắt đó khiến ra khỏi.

    GIẢNG:

    Phật nói Pháp sâu xa nhiệm mầu mà Phật đã được, chỉ có Phật biết và mười phương chư Phật cùng biết thôi. Phật khẳng định lời Ngài nói và lời chư Phật nói đều giống nhau. Những lời Phật nói ra là lời chân thật, không giả dối, vì vậy nên tin chắc lời đó. Sở dĩ Ngài nói ba thừa giáo là vì muốn cho những chúng sanh cầu Thanh văn, Duyên giác thoát khỏi khổ đau được Niết-bàn. Ngài nói ba thừa để dẫn dắt họ phá mê chấp, đưa họ đến Niết-bàn an lạc, đó là phương tiện chớ không phải cứu kính.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh văn lậu tận A-la-hán, ngài A-nhã Kiều-trần-như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam cùng cận sự nữ, hạng người phát tâm Thanh văn, Duyên giác đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được.

    Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết-bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu?”

    GIẢNG:

    Bấy giờ toàn chúng khởi nghi: Tại sao hôm nay đức Phật lại tán thán pháp của Ngài được một cách nhiệt thành và tha thiết? Khi xưa, Phật dạy hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế để được giải thoát, hàng Duyên giác tu Mười hai nhân duyên để được Niết-bàn; sao hôm nay Phật nói pháp của Ngài cao siêu bậc nhất, không thể dùng trí tuệ của hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát suy lường mà hiểu đến được?

    CHÁNH VĂN:

    7.- Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng:

    - Thưa Thế Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện thứ nhứt nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật?

    Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu?

    Khi đó ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất là người trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, nghe Phật nói như vậy Ngài không hiểu, khởi nghi ngờ. Ngài biết đại chúng cũng nghi ngờ, nên thưa hỏi lý do gì mà Phật cứ ân cần tán thán phương tiện sâu xa nhiệm mầu khó hiểu như vậy? Xin Phật giảng nói.

    CHÁNH VĂN:

    8.-

    Đấng Huệ Nhựt Đại Thánh
    Lâu mới nói pháp này,
    Tự nói pháp mình chứng
    Lực, vô úy, tam-muội,
    Thiền định, giải thoát thảy
    Đều chẳng nghĩ bàn được.
    Pháp chứng nơi đạo tràng
    Không ai hỏi đến được
    Ý con khó lường được
    Cũng không ai hay hỏi,
    Không hỏi mà tự nói
    Khen ngợi đạo mình làm
    Các đức Phật chứng được
    Trí huệ rất nhiệm mầu.
    Hàng vô lậu La-hán
    Cùng người cầu Niết-bàn
    Nay đều sa lưới nghi
    Phật cớ chi nói thế?
    Hạng người cầu Duyên giác
    Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni
    Các trời, rồng, quỉ, thần
    Và càn-thát-bà thảy
    Ngó nhau cưu lòng nghi
    Nhìn trông đấng Túc Tôn,
    Việc đó là thế nào?
    Xin Phật vì dạy cho
    Trong các chúng Thanh văn
    Phật nói con hạng nhứt
    Nay con nơi trí mình
    Nghi lầm không rõ được
    Vì là pháp rốt ráo
    Vì là đạo Phật làm
    Con từ miệng Phật sanh
    Chắp tay nhìn trông chờ.
    Xin ban tiếng nhiệm mầu
    Liền vì nói như thiệt
    Các trời, rồng, thần thảy
    Số đông như hằng sa
    Bồ-tát cầu thành Phật
    Số nhiều có tám muôn
    Lại những muôn ức nước
    Vua Chuyển Luân vương đến.
    Đều lòng kính chấp tay
    Muốn nghe đạo đầy đủ.

    GIẢNG:

    Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất nói “con từ miệng Phật sanh”, là vì Phật nói pháp, hàng đệ tử Thanh văn, Duyên giác nhân nghe tiếng pháp của Phật nói, tu mà ngộ đạo phát sanh trí tuệ. Trí tuệ đó do lời dạy của Phật mà có. Thông thường người thế gian nhận thân tứ đại là mạng sống, người tu lấy trí tuệ làm mạng sống, vì vậy nên nói từ miệng Phật sanh ra mạng sống của mình.

    Đoạn này lặp lại ý trước, ngài Xá-lợi-phất và đại chúng nghi ngờ pháp mà Phật vừa ca ngợi tán thán, xin Phật giảng nói vì tất cả đại chúng đều muốn nghe.

    CHÁNH VĂN:

    9.- Khi đó đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ.

    GIẢNG:

    Đọc qua đoạn này, chúng ta thấy có cái gì mâu thuẫn. Tại sao Phật tự khen ngợi tán thán Trí tuệ Phật đáo để, đến khi ngài Xá-lợi-phất yêu cầu Phật giảng nói, Phật lại nói: Thôi thôi, nói ra e các ông nghi ngờ kinh sợ. Nếu biết nói ra đệ tử nghi ngờ thì Ngài đừng nói, tại sao trước nói rồi ngang đây bảo thôi thôi! Có lạ không?

    CHÁNH VĂN:

    10.- Ngài Xá-lợi-phất lại bạch Phật rằng:

    - Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ chúng sanh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí tuệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin.

    Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

    Đấng Pháp vương Vô thượng
    Xin nói, nguyện đừng lo
    Vô lượng chúng hội đây
    Có người hay kính tin.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất một lần nữa tha thiết cầu xin Phật vì đại chúng nói pháp ấy, trong hội cũng có người căn trí mạnh lẹ có thể kính tin.

    CHÁNH VĂN:

    11.- Đức Phật lại ngăn Xá-lợi-phất:

    - Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, a-tu-la đều kinh nghi. Tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn.

    Khi đó đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

    Thôi thôi! Chẳng nên nói
    Pháp ta diệu khó nghĩ
    Những kẻ tăng thượng mạn
    Nghe ắt không kính tin.

    GIẢNG:

    Lần cầu thỉnh thứ hai của ngài Xá-lợi-phất, cũng bị Phật từ chối với lý do pháp Phật sâu xa rất khó hiểu, nếu nói ra thì kẻ tăng thượng mạn sẽ không tin rồi sa đọa.

    CHÁNH VĂN:

    12.- Lúc ấy ngài Xá-lợi-phất bạch Phật rằng:

    - Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích.

    Khi đó ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    Đấng Vô thượng Lưỡng Túc
    Xin nói pháp đệ nhất
    Con là trưởng tử Phật
    Xin thượng phân biệt nói.
    Vô lượng chúng hội đây
    Hay kính tin pháp này
    Đời đời Phật đã từng
    Giáo hóa chúng như thế
    Đều một lòng chấp tay
    Muốn nghe lãnh lời Phật.
    Chúng con nghìn hai trăm
    Cùng hạng cầu Phật nọ
    Nguyện Phật vì chúng này
    Cúi xin phân biệt nói
    Chúng đây nghe pháp ấy
    Thời sanh lòng vui mừng.

    GIẢNG:

    Đức Phật được tán thán là Lưỡng Túc Tôn, có nghĩa Phật là bậc có đầy đủ hai món phước đức và trí tuệ.

    Lần thứ ba, ngài Xá-lợi-phất cầu xin Phật giảng nói, vì trong hội chúng có một ngàn hai trăm năm mươi vị, và tất cả đều phát tâm muốn nghe pháp Phật nói. Sau khi nghe sẽ vui mừng kính tin chớ không nghi ngờ.

    CHÁNH VĂN:

    13.- Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói, ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.

    GIẢNG:

    Đây là thuật khéo léo của đức Phật đối với pháp nhiệm mầu khó nói khó tin. Từ lâu Ngài đã không nói, nay biết đến thời phải nói, nên Ngài hết lòng tán thán ca ngợi, gợi sự lưu ý cho thính chúng. Nhưng còn ngại thính chúng sanh lòng khinh mạn coi thường, đợi ngài Xá-lợi-phất thiết tha thưa thỉnh đến ba lần Ngài mới hứa khả nói. Phật làm như thế để chi? - Để cho lòng thiết tha mong mỏi của người nghe lên cao tột rồi, khi nói họ mới lưu ý nghe để lãnh hội. Nếu dễ, hỏi tới đâu nói tới đó, họ xem thường sanh tâm ngạo mạn khó tiến. Hiểu như vậy mới thấy Phật không mâu thuẫn, không phải bày ra rồi làm khó, mà vì muốn người nghe không khinh thường, được thể hội. Thật lòng từ vô hạn!

    Về sau các Thiền sư áp dụng thủ thuật này triệt để. Các ngài còn bạo hơn, Thiền sinh đến tham vấn, các ngài hét hoặc đánh chớ không nói. Thậm chí đánh nhiều lần dồn người hỏi vào chỗ bế tắc, để khi họ nhận ra chỗ các ngài muốn chỉ thì đời đời không quên. Điển hình nhất là Sư Thần Quang đến cầu đạo với Tổ Đạt-ma, Ngài vẫn ngồi xây mặt vào vách mặc cho Thần Quang đứng ngoài tuyết lạnh tới sáng.

    Tuyết đã ngập tới gối, mà Tổ còn cho đó là khổ hạnh cỏn con. Đến khi Sư Thần Quang chặt một cánh tay dâng lên để tỏ ý chí thiết tha cầu đạo,  chừng đó Tổ mới gật đầu. Điều đó cho thấy hệ thống truyền dạy từ đức Phật cho tới đồ đệ không khác, chớ không phải người sau ưng làm thế nào thì làm. Chúng ta ngày nay hiểu được chút chút, gặp người chưa kịp thưa hỏi thì đã tự nói trước, nói thôi là nói. Vì chưa phải là pháp quí, nên gặp đâu cho đó, thành ra người nghe xem thường, không nhớ, không tu tập được.

    CHÁNH VĂN:

    14.- Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, cả thảy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng thượng mạn, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà cho đã chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản.

    GIẢNG:

    Đến đây, chúng ta lại có thêm một điều nghi vấn nữa. Đức Phật là một bậc đại từ đại bi sắp nói pháp nhiệm mầu cao quí, đối với những chúng sanh chưa được phước duyên nghe, đáng lý khuyên họ ở lại nghe. Nhưng tại sao trong hội chúng của Phật có năm ngàn người đứng dậy lui ra không nghe, mà Phật im lặng để cho họ đi, không khuyên không ngăn lại? Như đã nói ở trên, chính vì đức Phật muốn cho người tự thấy mình chưa đủ, có tâm tha thiết cần cầu nghe, nên Phật mới vì những người đó nói. Còn đối với người tự mãn, họ không muốn nghe, họ đi thì mặc họ, vì nếu có giữ họ ở lại chỉ tăng thêm lòng kiêu mạn, tự họ không được lợi ích. Ở đây, Phật xử sự tương đối nhẹ nhàng.

    Về sau, các Thiền sư dùng nhiều thuật rất ngặt nghèo. Như trường hợp ngài Thiện Chiêu, hội chúng của Ngài có năm trăm người, Ngài biết trong số này có nhiều người nghe danh Ngài mà đến, chớ chưa đủ lòng tin đối với Ngài. Nhân ngày giỗ mẹ, Ngài cho mua một ít rượu thịt về làm một bữa tiệc. Cúng mẹ xong, Ngài mời Tăng chúng dự tiệc cho vui. Nói xong, Ngài thản nhiên ngồi vào bàn cầm đũa, toàn chúng không ai dám dự. Sau bữa tiệc đó, chúng bỏ đi hết, chỉ còn có mười sáu người ở lại. Ngài nói những người còn ở lại là những người có đủ lòng tin đối với Ngài. Tại sao Ngài dùng thủ thuật quá gắt gao như vậy? Nếu người đã hiểu và tin Ngài thì dù Ngài có những hành động bất thường như thế nào, họ cũng thừa hiểu thừa biết, không phản ứng. Còn đối với người không tin không hiểu Ngài, nếu thấy Ngài có chút gì hơi dở là họ bất mãn chê chán, họ có ở lại chỉ dạy cũng không được. Vì vậy, Phật Tổ đối với những người không đủ lòng tin với pháp mà các ngài giảng dạy, ai muốn đi các ngài để cho đi không cầm giữ lại.

    CHÁNH VĂN:

    15.- Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hột chắc. Xá-lợi-phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói.

    Ngài Xá-lợi-phất bạch rằng:

    - Vâng, thưa Thế Tôn con nguyện ưa muốn nghe.

    GIẢNG:

    Khi những kẻ tăng thượng mạn đứng dậy ra về, đức Phật nói đó là điều tốt, số chúng còn lại có đủ lòng tin thiết tha muốn nghe, đó là hột chắc. Phật vì những người này mà nói và khuyên họ khéo lắng nghe.

    CHÁNH VĂN:

    16.- Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Pháp mầu như thế, các đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói, như bông linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá-lợi-phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.

    GIẢNG:

    Phật tán thán pháp chư Phật khó gặp khó được, giống như hoa linh thoại khi nào có điềm lành, như Phật hay Chuyển Luân Thánh vương ra đời, mới xuất hiện. Vậy đại chúng khéo nghe và tin thọ, vì lời Phật nói không bao giờ hư dối.

    CHÁNH VĂN:

    17.- Xá-lợi-phất! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

    Xá-lợi-phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai Tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ Tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ Tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo Tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.

    Xá-lợi-phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

    GIẢNG:

    Tới đây, đức Phật hiển bày cái khó nói, khó hiểu, khó tin. Hàng có trí tuệ như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát không thể suy lường mà có thể hiểu, chỉ có Phật với Phật mới biết được, bởi tâm các ngài thanh tịnh không phân biệt suy lường. “Vì một nhân duyên lớn mà hiện ra đời”, đó là tông chỉ không riêng một đức Phật Thích-ca mà là của tất cả mười phương chư Phật. Các ngài ra đời để khai Tri kiến Phật cho chúng sanh, chỉ (thị) Tri kiến Phật cho chúng sanh, khiến cho chúng sanh ngộ Tri kiến Phật, và hướng dẫn cho chúng sanh nhập Tri kiến Phật. Tri kiến Phật là cái thấy biết Phật, hay chính là cái Trí tuệ Phật mà chư Phật đã tự chứng. Vì cái thấy biết Phật là cái có sẵn nơi mỗi người, nhưng không ai biết, nên bản hoài của chư Phật ra đời là, muốn chỉ bày cái mà Phật đã ngộ đã chứng cho chúng sanh cũng ngộ cũng chứng như Phật.

    Thế nào là khai thị ngộ nhập Tri kiến Phật? Ví dụ: Có một viên ngọc xá-lợi đựng trong cái hộp bằng vàng, thờ trên bàn, trong ngôi chùa cửa đóng kín. Nhiều người nghe nói trong chùa có ngọc xá-lợi rất quí, họ khao khát muốn được chiêm bái. Để hướng dẫn cho họ chiêm bái, trước tiên thầy Trụ trì phải đưa họ tới chùa, mở cửa chùa (khai) cho họ nhìn vô. Tuy cửa chùa đã mở, họ nhìn vào mà vẫn chưa thấy ngọc xá-lợi. Kế đó thầy đưa tay chỉ viên xá-lợi được đựng trong cái hộp bằng vàng thờ trên bàn. Khi tay thầy Trụ trì chỉ, mắt họ nhìn theo liền thấy cái hộp đựng ngọc xá-lợi, đó là thị và ngộ. Đứng tại cửa chùa thấy ngọc xá-lợi đựng trong cái hộp chưa đủ, mà phải đưa họ vào chùa, đi tới bàn thờ ngọc xá-lợi, mở hộp ra, chính mắt họ nhận ra viên ngọc xá-lợi sáng lấp lánh, đó là nhập. Như vậy, “khai” là bước đầu thì dễ, đến phần “thị” và “ngộ” cũng không khó. Đến phần “nhập” là phải qua hai ba giai đoạn mới là phần quan trọng.

    Tri kiến Phật (Trí tuệ Phật) không phải chỉ Phật mới có, mà tất cả chúng sanh mọi người ai cũng có sẵn, nhưng vì mê (vô minh) nên bây giờ Phật mới dùng phương tiện khai, rồi từ phương tiện đó Phật mới chỉ cho nhận ra Tri kiến Phật và sau đó cố gắng tiến tu để nhập Tri kiến Phật của mình. Khai là chỉ cho chúng sanh thấy vô minh vọng tưởng là cái không thật, chợt hiện chợt mất. Từ cái không thật đó, đức Phật mới chỉ (thị) “cái chân thật” (Tri kiến Phật) sáng suốt thanh tịnh bất sanh bất diệt. Nhân đó, mới nhận ra (ngộ) “cái chân thật” có sẵn nơi mình. Tuy đã nhận ra nó, nhưng vì tập khí nhiều đời nhiều kiếp sâu dày, nên vọng tưởng vẫn còn dấy khởi, Tri kiến Phật lúc ẩn lúc hiện. Nên phải có thời gian tu tập, công phu viên mãn thì vô minh vọng tưởng sạch hết, chừng đó Tri kiến Phật hiển hiện tròn sáng gọi là thành Phật. Vậy tất cả chúng sanh đều có sẵn Phật tánh, nhưng vì quên (mê) nên Phật mới dùng phương tiện khai thị ngộ nhập, khiến cho chúng sanh nhận ra Phật tánh của chính mình để thành Phật như Ngài. Đó là bản hoài của chư Phật nên nói là vì một đại sự nhân duyên mà các ngài ra đời.

    Kinh Pháp Hoa thuyết minh về Phật thừa cốt chỉ “Tức tâm tức Phật”. Tri kiến là Tâm, là Giác, là Phật. Nhưng Tri kiến nào tức Phật, còn Tri kiến nào là chúng sanh? Tri kiến theo Cầu Danh là Tri kiến chúng sanh. Tri kiến theo Bồ-tát Văn-thù là Tri kiến Phật. Kinh Lăng Nghiêm, Phật nói rất rõ:

    Tri kiến lập tri tức vô minh bản
    Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn.

    “Tri kiến lập tri tức vô minh bản” tức là trên thấy biết mà lập thấy biết là gốc vô minh. Ví dụ vừa thấy cái đồng hồ liền phân biệt đẹp, xấu, đắt, rẻ... rồi sanh tâm thích hay chê. Nếu thích thì tìm cách mua sắm, hoặc xin xỏ, hoặc đánh cắp cho được cái đồng hồ, như thế là đã tạo nghiệp đi trong luân hồi. Đó là Tri kiến lập tri là gốc của vô minh. “Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn” là sao? Thấy biết mà không thấy biết tức là Niết-bàn. Ví dụ: Thấy tất cả Tăng Ni đang ngồi nghe giảng, tôi thấy biết rõ ràng, không dấy niệm phân biệt, tâm an nhiên lặng lẽ. Đó là thấy biết mà không thấy biết (Tri kiến vô kiến) giống như mặt gương sáng, người đến thì hiện bóng người, vật đến thì hiện bóng vật, người vật qua rồi thì mặt gương không bóng, vẫn trong sáng như trước. Cũng vậy, đối với ngoại cảnh, chúng ta vẫn thấy biết mà tâm không lưu lại hình bóng để phân biệt. Đó là Niết-bàn, đó là trì kinh Pháp Hoa. Không phải trì kinh Pháp Hoa là để tính bộ mà không hiểu thâm ý của kinh.

    Học đạo mà không thấy đạo, kẹt trên hình tướng không giải thoát chút nào cả. Trì kinh như thế chưa phải là trì kinh Pháp Hoa. Như vậy, ai cũng có Tri kiến Phật, chỉ vì người lập và không lập cái thấy biết phân biệt, nên kẻ là chúng sanh, người là Phật.

    CHÁNH VĂN:

    18.- Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:

    - Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, những điều làm ra thường vì một việc: Chỉ đem Tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi.

    Xá-lợi-phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

    GIẢNG:

    Mục đích duy nhất của đức Phật Thích-ca cũng như của chư Phật đời quá khứ ra đời là làm sao cho chúng sanh tỏ ngộ được Tri kiến Phật, tức là Phật thừa chớ không có thừa thứ hai hay thứ ba.

    CHÁNH VĂN:

    19.- Xá-lợi-phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.

    Xá-lợi-phất! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhứt thế chủng trí”.

    Xá-lợi-phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhứt thế chủng trí”.

    Xá-lợi-phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ, mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhứt thế chủng trí”.

    Xá-lợi-phất! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ-tát, vì muốn đem Tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem Tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào Tri kiến Phật vậy.

    Xá-lợi-phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bổn tánh kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.

    Xá-lợi-phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa “Nhứt thế chủng trí”.

    GIẢNG:

    Nhất thế chủng trí là trí Phật, biết tột cùng khắp tất cả pháp trên thế gian này. Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai, và Phật hiện tại là đức Thích-ca đều nhắm vào chỗ cứu kính duy nhất là, chỉ bày Tri kiến Phật cho chúng sanh được tỏ ngộ và chứng nhập để được “Nhất thế chủng trí”. Như vậy, chư Phật quá khứ dạy cũng như thế, chư Phật vị lai dạy cũng như thế, kể cả đức Phật Thích-ca đời hiện tại dạy cũng như thế. Không có con đường thứ hai thứ ba nào khác. Chỉ có con đường duy nhất là làm sao cho mọi người nhận ra Tri kiến Phật, và hằng sống được với Tri kiến Phật nơi mình. Tại sao đức Phật chỉ nhắm có điều đó? Vì Phật biết mỗi chúng sanh ai cũng có Tri kiến Phật, nhưng vì mê mới tạo nghiệp đi trong luân hồi lục đạo, thành ra Tri kiến chúng sanh. Bây giờ nhờ Phật chỉ bày, chúng ta khéo nhận khéo sống thì Tri kiến chúng sanh trở thành Tri kiến Phật, đó là tu.

    CHÁNH VĂN:

    20.- Xá-lợi-phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba!

    Xá-lợi-phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế, Xá-lợi-phất, lúc kiếp loạn trược chúng sanh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

    GIẢNG:

    Đoạn này đức Phật xác nhận rõ ràng ý nghĩa không có ba thừa mà chỉ có một Phật thừa. Sở dĩ Phật nói ba thừa là vì chúng sanh ở trong đời ngũ trược: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược, sanh lòng bỏn sẻn, tham lam, ganh ghét... Vì vậy mà Phật tạm dùng phương tiện nói ba thừa để dẹp bỏ những tâm cấu uế đó.

    - Kiếp trược: Thời mà tuổi thọ của loài người dưới hai ngàn tuổi, chỉ cho cõi Ta-bà đức Thích-ca đang giáo hóa.

    - Phiền não trược: Lòng mọi người chứa chấp nhiều tham lam, sân hận...

    - Chúng sanh trược: Con người bám chấp vào sanh mạng mình cho là thật, rồi sanh cống cao ngã mạn.

    - Kiến trược: Kiến chấp một bên, thấy biết lệch lạc tà vạy mà cho là đúng.

    - Mạng trược: Chúng sanh vì sự sống mà tạo rất nhiều nghiệp ác.

    CHÁNH VĂN:

    21.- Xá-lợi-phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên giác, mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Duyên giác.

    Lại nữa Xá-lợi-phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni đó tự cho mình đã được A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết-bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ-kheo thiệt chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ.

    Xá-lợi-phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

    GIẢNG:

    Phật xác nhận một cách quyết liệt, dù là A-la-hán, Duyên giác ngang đó mà tự mãn cho là đủ thì người đó không phải là đệ tử của Phật. Người tu chúng ta hiện tại, đa số mắc phải chứng bệnh tự mãn, tu một thời gian tự thấy rằng mình đã đủ, nên mặc nhiên an hưởng tứ sự cúng dường một cách sung mãn, mà không lo nghĩ đến sự tu tiến. Nên tôi thường nói khẳng định rằng: Nếu chưa thành Phật thì không lúc nào chúng ta ngừng nghỉ tu hành, nếu ngừng nghỉ không tu là rơi vào lỗi tự mãn, đó là tăng thượng mạn. Dù là Bồ-tát cũng vẫn cố gắng tu hành, đến khi thành Phật mới thôi. Ai được chút ít cho là đủ, người đó chỉ là hạt lép, là lá vàng úa, gió thổi qua rơi rụng hết. Nếu là hạt chắc, là thứ thật thì tu cho đến khi thành Phật mới rồi trách nhiệm của mình, chưa thành Phật thì lúc nào cũng phải cố gắng nỗ lực tu chớ không tự mãn. Nhưng mà nhìn lại thì người tu bây giờ tự mãn không phải ít. Họ nghĩ rằng đời này tu gieo giống lành, kiếp sau tu nữa, hoặc già yếu rồi nghỉ ngơi cho thảnh thơi đôi chút, chẳng lẽ suốt đời cặm cụi tu hoài... Nghĩ như vậy là trái với tinh thần của Phật dạy, nên chưa phải là đệ tử Phật.

    Đức Phật đối với những chúng sanh tu mà không muốn thành Phật, chỉ muốn đời sau sanh ra làm người tốt, có đủ duyên phước thì Phật dạy giữ Năm giới, đó là Nhân thừa. Lại có người tu không muốn thành Phật, muốn được sung sướng hưởng phước báo đầy đủ, Phật dạy tu Thập thiện, đó là Thiên thừa. Người không muốn sanh lên cõi trời cũng không muốn trở lại làm người, Phật dạy tu Tứ đế để chứng Niết-bàn không còn tái sanh lại nữa, đó là Thanh văn thừa. Đến hàng Duyên giác thì Phật nói Mười hai nhân duyên, hàng Bồ-tát thì nói Sáu pháp ba-la-mật, hướng dẫn từ thấp dần dần lên. Tới đây Phật mới nói bản hoài của chư Phật ra đời là dạy người tu để thành Phật chớ không dạy điều gì khác.

    Cũng vậy, hiện tại tôi hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử tu, là phải biết rõ nơi mình có “cái chân thật” mà tôi tạm gọi là “Ông chủ” hay “Bản lai diện mục”, còn ý niệm nghĩ suy là vọng tưởng không thật. Biết được như vậy rồi thì đi đứng nằm ngồi, hằng sống với Ông chủ, không chạy theo vọng tưởng hư giả. Đó là bản hoài mà tôi nhắm. Nhưng người tới học đạo có nhiều trình độ. Người già đến thì tôi dạy niệm Phật cho tâm bớt loạn, để khi nhắm mắt theo Phật về cõi Phật. Nếu là người trẻ mới vào đạo chưa rõ gì về Thiền tông, mà tâm quá loạn động thì tôi dạy đếm hơi thở, nhờ đếm hơi thở mà tâm bớt loạn... Đó là những phương tiện tôi đã dùng làm lợi ích cho người tùy theo trình độ căn cơ của họ. Chưa nói được mục đích mà tôi nhắm thì phải nói phương tiện, làm sao cho người đến học đều được lợi ích.

    CHÁNH VĂN:

    Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

    22.-

    Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni
    Cưu lòng tăng thượng mạn
    Cận sự nam ngã mạn
    Cận sự nữ chẳng tin,
    Hàng bốn chúng như thế
    Số kia có năm nghìn
    Chẳng tự thấy lỗi mình
    Nơi giới có thiếu sót
    Tiếc giữ tội quấy mình
    Trí nhỏ đó đã ra
    Bọn cám tấm trong chúng
    Oai đức Phật phải đi
    Gã đó kém phước đức
    Chẳng kham lãnh pháp này
    Chúng nay không cành lá
    Chỉ có những hột chắc.

    GIẢNG:

    Đức Phật nói những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ trong tứ chúng, có khoảng năm ngàn người là những kẻ kém duyên phước, trí nhỏ hẹp, thuộc hàng tăng thượng mạn, họ không kham nhận pháp Phật nên bỏ đi. Sau khi họ bỏ đi, Phật mới nói: Bây giờ trong chúng không còn cám tấm, cành lá úa, chỉ còn hạt chắc thôi.

    CHÁNH VĂN:

    23.-

    Xá-lợi-phất khéo nghe!
    Pháp của các Phật được
    Vô lượng sức phương tiện
    Mà vì chúng sanh nói.
    Tâm của chúng sanh nghĩ
    Các món đạo ra làm
    Bao nhiêu những tánh dục
    Nghiệp lành dữ đời trước,
    Phật biết hết thế rồi
    Dùng các duyên thí dụ
    Lời lẽ sức phương tiện
    Khiến tất cả vui mừng,
    Hoặc là nói Khế kinh,
    Cô khởi cùng Bổn sự,
    Bổn sanh, Vị tằng hữu,
    Cũng nói những Nhân duyên,
    Thí dụ và Trùng tụng
    Luận nghị cọng chín kinh.
    Căn độn ưa pháp nhỏ
    Tham chấp nơi sanh tử
    Nơi vô lượng đức Phật
    Chẳng tu đạo sâu mầu
    Bị các khổ não loạn
    Vì đó nói Niết-bàn,
    Ta bày phương tiện đó
    Khiến đều vào huệ Phật.
    Chưa từng nói các ông
    Sẽ được thành Phật đạo
    Sở dĩ chưa từng nói
    Vì giờ nói chưa đến,
    Nay chính là đến giờ
    Quyết định nói Đại thừa.

    GIẢNG:

    Phật nói cho tất cả hội chúng biết rằng pháp mà Phật được, có sức phương tiện vô cùng, biết tường tận nhân duyên quả báo của sáu loài chúng sanh. Ngài nói pháp dùng những phương tiện như:

    - Khế kinh: Lời dạy của Phật hợp với căn cơ chúng sanh, bằng thể văn xuôi, còn gọi là Trường hàng.

    - Trùng tụng: Một thể văn thuyết pháp của Phật lặp lại ý của đoạn văn Trường hàng bằng kệ tụng.

    - Bản sự: Những việc làm, những kiến văn ở đời trước của Phật do Phật thuật lại.

    - Bản sanh: Phật nhắc lại tiền kiếp của Ngài hay của đệ tử.

    - Vị tằng hữu: Việc chưa từng có, khó hiểu, khó tin.

    - Nhân duyên: Phật giải về căn bản của quả báo từ gốc tới ngọn.

    - Thí dụ: Dùng một mẩu chuyện để so sánh cho dễ hiểu.

    - Cô khởi: Thi văn tự mình xướng lên lúc thuyết pháp.

    - Luận nghị: Biện luận sâu rộng, khúc chiết, mạch lạc cho dễ hiểu.

    Đó là những thể tài thuyết pháp mà Phật đã dùng hoặc đủ chín phần hoặc không đủ chín phần trong mỗi bộ kinh. Phật tùy thời tùy cơ mà nói, dẫn dụ chúng sanh đi từ thấp đến cao, cuối cùng đưa đến Phật thừa là chỗ cứu kính.

    CHÁNH VĂN:

    24.-

    Chín bộ pháp của ta
    Thuận theo chúng sanh nói
    Vào Đại thừa làm gốc
    Nên mới nói kinh này
    Có Phật tử tâm tịnh
    Êm dịu cùng căn lợi
    Nơi vô lượng các Phật
    Mà tu đạo sâu mầu,
    Vì hàng Phật tử này
    Nói kinh Đại thừa đây
    Ta ghi cho người đó
    Đời sau thành Phật đạo
    Bởi thâm tâm niệm Phật
    Tu trì tịnh giới vậy
    Hạng này nghe thành Phật
    Rất mừng đầy khắp mình,
    Phật biết tâm của kia
    Nên vì nói Đại thừa,
    Thanh văn hoặc Bồ-tát
    Nghe ta nói pháp ra
    Nhẫn đến một bài kệ
    Đều thành Phật không nghi.

    GIẢNG:

    Sở dĩ Phật nói chín bộ pháp đó là vì thuận theo căn cơ của chúng sanh mà nói, chớ bản hoài của Phật là chỉ cho chúng sanh một Phật thừa mà thôi. Nếu ai nghe Phật thừa này, đem lòng tin và nói cho người khác nghe thì được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật. Vì tâm họ nhớ nghĩ Phật rất sâu xa, không tự mãn ở những cấp bậc thấp, quyết định họ sẽ thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    25.-

    Trong cõi Phật mười phương
    Chỉ có một thừa pháp
    Không hai cũng không ba
    Trừ Phật phương tiện nói
    Chỉ dùng danh từ giả
    Dắt dẫn các chúng sanh
    Vì nói Trí tuệ Phật.
    Các Phật ra nơi đời
    Chỉ một việc này thiệt
    Hai thứ chẳng phải chân.
    Trọn chẳng đem Tiểu thừa
    Mà tế độ chúng sanh
    Phật tự trụ Đại thừa
    Như pháp của mình được
    Định, huệ, lực, trang nghiêm
    Dùng đây độ chúng sanh.
    Tự chứng đạo Vô thượng
    Pháp bình đẳng Đại thừa
    Nếu dùng Tiểu thừa độ
    Nhẫn đến nơi một người
    Thời ta đọa san tham
    Việc ấy tất không được
    Nếu người tin về Phật
    Như Lai chẳng dối gạt
    Cũng không lòng tham ganh
    Dứt ác trong các pháp
    Nên Phật ở mười phương
    Mà riêng không chỗ sợ.
    Ta dùng tướng trang nghiêm
    Ánh sáng soi trong đời
    Đấng vô lượng chúng trọng
    Vì nói thiệt tướng ấn.

    GIẢNG:

    Đoạn này Phật lặp lại ý chánh của chư Phật mười phương ra đời là chỉ nói một Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Tại sao? Vì quả vị cùng tột mà Ngài chứng được là quả Phật, nếu để lại ít phần không chỉ dạy rốt ráo, đó là thiếu lòng từ, tâm còn san lẫn, sợ người hơn mình. Phật là đấng Đại từ Đại bi, không san lẫn, nên cái gì Ngài được, Ngài muốn cho tất cả mọi người đều được như Ngài. Nếu mọi người chưa được như Ngài thì Ngài chưa mãn nguyện, không bằng lòng. Vì vậy mà cuối cùng Ngài nói: “Đấng vô lượng chúng trọng, vì nói thiệt tướng ấn.” Thông thường trong nhà Phật có nêu ra Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn, hoặc Nhất thật pháp ấn, để làm dấu ấn xác minh coi pháp đó có phải Phật nói không. Tam pháp ấn là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh; Tứ pháp ấn là: vô thường, khổ, không, vô ngã; Nhất thật pháp ấn cũng là Thật tướng ấn. Ấn là dấu in để ấn chứng. Muốn biết kinh nào là thật của Phật nói hay không phải của Phật nói, thì phải lấy Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn hay Nhất thật pháp ấn để làm chỗ ấn chứng. Nhất thật pháp ấn là chỉ cho mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nếu tu thì sẽ thành Phật. Kinh Pháp Hoa, Phật nói tột chỗ đó nên gọi là “Thật tướng ấn”.

    CHÁNH VĂN:

    26.-

    Xá-lợi-phất! Nên biết!
    Ta vốn lập thệ nguyện
    Muốn cho tất cả chúng
    Bằng như ta không khác
    Như ta xưa đã nguyện
    Nay đã đầy đủ rồi
    Độ tất cả chúng sanh
    Đều khiến vào Phật đạo
    Nếu ta gặp chúng sanh
    Dùng Phật đạo dạy cả
    Kẻ vô trí rối sai
    Mê lầm không nhận lời
    Ta rõ chúng sanh đó
    Chưa từng tu cội lành
    Chấp chặt nơi ngũ dục
    Vì si ái sanh khổ
    Bởi nhân duyên các dục
    Sa vào ba đường dữ
    Xoay lăn trong sáu nẻo
    Chịu đủ những khổ độc
    Thân mọn thọ bào thai
    Đời đời tăng trưởng luôn
    Người đức mỏng ít phước
    Các sự khổ bức ngặt
    Vào rừng rậm tà kiến
    Hoặc chấp có, chấp không
    Nương gá các chấp này
    Đầy đủ sáu mươi hai
    Chấp nhận pháp hư vọng
    Bền chặt không bỏ được
    Ngã mạn tự khoe cao
    Dua nịnh lòng không thiệt
    Trong nghìn muôn ức kiếp
    Chẳng nghe danh tự Phật
    Cũng chẳng nghe chánh pháp
    Người như thế khó độ.

    GIẢNG:

    Lời thệ nguyện của đức Phật Thích-ca cũng như chư Phật mười phương là muốn làm sao cho tất cả chúng sanh đều được bằng Phật. Nhưng vì tâm trí chúng sanh mê mờ rối loạn, tà kiến, tham ưa ngũ dục, không bao giờ tu pháp lành, nên trôi lăn trong ba đường dữ chịu mọi khổ đau, do đó không bao giờ nghe được danh hiệu Phật. Những chúng sanh này rất là khó độ.

    CHÁNH VĂN:

    27.-     

    Cho nên Xá-lợi-phất!
    Ta vì bày phương tiện
    Nói các đạo dứt khổ
    Chỉ cho đó Niết-bàn
    Ta dầu nói Niết-bàn
    Cũng chẳng phải thiệt diệt
    Các pháp từ bổn lai
    Tướng thường tự vắng lặng
    Phật tử hành đạo rồi
    Đời sau được thành Phật
    Ta có sức phương tiện
    Mở bày pháp ba thừa
    Tất cả các Thế Tôn
    Đều nói đạo Nhứt thừa
    Nay trong đại chúng này
    Đều nên trừ nghi lầm
    Lời Phật nói không khác
    Chỉ một, không hai thừa.

    GIẢNG:

    Vì hàng chúng sanh khó độ nên Phật mới bày phương tiện dứt các khổ cho họ được Niết-bàn. Niết-bàn đó là Niết-bàn của Nhị thừa. Tuy nói Niết-bàn, nhưng chẳng phải thật diệt. Vì:

    Các pháp từ bổn lai
    Tướng thường tự vắng lặng.

    Từ trước chúng ta thường nghe Phật dạy các pháp ở thế gian này là biến động vô thường, tại sao ở kinh này Phật lại nói “các pháp từ xưa đến nay tướng thường tự vắng lặng”? Chữ “Tướng” ở đây phải hiểu là “Thật tướng”, tức là Thể tánh của các pháp. Chúng ta quán sát thấy các pháp trên thế gian này tướng nó là biến động, có đó rồi mất đó. Ví dụ như cái đồng hồ, thông thường máy chạy, kim quay, chúng ta căn cứ trên kim đồng hồ, định ngày giờ mà làm việc. Nếu máy không chạy kim không quay, thì đồng hồ không xài được. Như vậy, tất cả pháp thế gian được hữu dụng là do linh động có sự sống, nếu nó bất động coi như là chết vô dụng. Đó là cái thấy thông thường của thế gian. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chúng ta mở chốt đồng hồ ra, để riêng từ bộ phận thì máy không chạy, kim không quay; nếu ráp các bộ phận ấy lại thì máy đồng hồ chạy, kim đồng hồ quay. Như vậy, các pháp biến động là do duyên hợp mà có, chớ thật thể của nó vốn không động, nên nói Tự tánh các pháp vốn tịch diệt.

    Cũng vậy, Tự tâm của mỗi người, khi mắt thấy người thấy cảnh... rồi khởi niệm nghĩ về người về cảnh đó là động niệm, mà động niệm là tướng duyên hợp sanh diệt vô thường, đủ duyên thì tạm có, thiếu duyên thì tạm không, không có Thật thể cố định. Như vậy, pháp do duyên mà thành có hay thành không, thì pháp đó không thật. Còn pháp không do duyên mà thành, đó là cái chân thật.

    Vậy, tất cả pháp ở thế gian này, nếu đứng về mặt Bản thể mà nhìn, không có một pháp nào biến động vô thường cả. Sở dĩ thấy các pháp vô thường biến động là vì chưa thấy tột cùng Bản thể của nó, nên theo tình chấp mà thấy có động tịnh, có vô thường. Nếu thấy tột cùng Bản thể của nó thì thấy các pháp nguyên là bất động, lặng lẽ. Ngay nơi bản thân con người sự sống và sự chết là do cái gì? Sống là do duyên, mà chết cũng do duyên. Vậy sống chết là chuyện của duyên; đã là chuyện của duyên thì không phải là chuyện của mình. Ngay nơi sống chết biết đó là tướng của duyên thì chúng ta không còn bị sống chết chi phối nữa, sự sống chết đối với chúng ta rất thường, không quan trọng.

    Xưa có Thiền sư đọc tới hai câu trên ngài nghi: Tại sao các pháp từ xưa đến nay tướng thường vắng lặng? Ngài ôm ấp thắc mắc mãi trong lòng. Một sáng mùa Xuân nọ, ngài ngồi trước cửa chùa, bỗng thấy chim hoàng oanh đậu trên cành liễu hót, ngài hoát nhiên ngộ đạo, liền đọc tiếp hai câu:

    Xuân đáo bách hoa khai
    Hoàng oanh đề liễu thượng.

    Hợp lại thành bài thơ bốn câu:

    Chư pháp tùng bản lai,
    Thường tự tịch diệt tướng.
    Xuân đáo bách hoa khai,
    Hoàng oanh đề liễu thượng.

    Mùa Xuân đến thì trăm hoa nở, chim hoàng oanh đậu trên cành liễu cất tiếng hót. Tất cả pháp, thể vốn không động, khi duyên hợp thì động, Xuân sang thì hoa nở, chim hót. Xuân sang, hoa nở, chim hót là duyên. Cái động đó là động của duyên. Ngài thấy rõ ngay trong các pháp Thể tánh nó vốn lặng lẽ, mà tướng dụng của nó thì biến động, như hoa nở, chim hót khi Xuân đến. Ngộ đạo là thấy cùng tột Bản thể của sự vật, cũng như nhận ra Thể tánh của chính mình, đồng thời cũng biết rõ tướng dụng sinh động của nó không lầm lẫn. Chúng ta vì còn mê nên lầm chấp tướng dụng của các pháp cho là thật, đó là gốc của khổ đau. Người học đạo, nếu thấy tột chỗ cứu kính này thì sẽ thành Phật không nghi, còn nếu chấp tướng động của thân của nghiệp thì vẫn là chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử.

    Đoạn này cốt nói rõ mục tiêu của chư Phật, vì thương xót chúng sanh mê lầm nên mãi chịu khổ. Các ngài dùng nhiều phương tiện giải bày cho hết khổ. Chỗ cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai thứ ba.

    CHÁNH VĂN:

    28.-

    Vô số kiếp đã qua
    Vô lượng Phật diệt độ
    Trăm nghìn muôn ức Phật
    Số nhiều không lường được
    Các Thế Tôn như thế
    Các món duyên thí dụ
    Vô số ức phương tiện
    Diễn nói các pháp tướng
    Các đức Thế Tôn đó
    Đều nói pháp Nhứt thừa
    Độ vô lượng chúng sanh
    Khiến vào nơi Phật đạo
    Lại các đại Thánh chúa
    Biết tất cả thế gian
    Trời, người loài quần sanh
    Thâm tâm chỗ ưa muốn
    Bèn dùng phương tiện khác
    Giúp bày nghĩa đệ nhứt.

    GIẢNG:

    Đoạn này lặp lại ý đoạn trước. Vô số đức Phật đời quá khứ dùng mọi phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến cho vào Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    29.-

    Nếu có loài chúng sanh
    Gặp các Phật quá khứ
    Hoặc nghe pháp bố thí
    Hoặc trì giới, nhẫn nhục
    Tinh tấn, thiền trí thảy
    Các món tu phước huệ
    Những người như thế đó
    Đều đã thành Phật đạo
    Sau các Phật diệt độ
    Nếu người lòng lành dịu
    Các chúng sanh như thế
    Đều đã thành Phật đạo.

    GIẢNG:

    Nếu có những chúng sanh gặp chư Phật đời quá khứ, được các ngài dạy tu Lục độ, những chúng sanh đó hay tu được Lục độ thì họ đã thành Phật. Và sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh có lòng lành dịu, thì cũng đều đã thành Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    30.-

    Các Phật diệt độ rồi
    Người cúng dường xá-lợi
    Dựng muôn ức thứ tháp
    Vàng, bạc và pha lê
    Xa-cừ cùng mã não
    Ngọc mai khôi, lưu-ly
    Thanh tịnh rộng nghiêm sức
    Trau dồi nơi các tháp
    Hoặc có dựng miếu đá
    Chiên-đàn và trầm thủy
    Gỗ mật cùng gỗ khác
    Gạch ngói bùn đất thảy
    Hoặc ở trong đồng trống
    Chứa đất thành miếu Phật
    Nhẫn đến đồng tử giỡn
    Nhóm cát thành tháp Phật
    Những hạng người như thế
    Đều đã thành Phật đạo.

    GIẢNG:

    Phật quá khứ đã diệt độ, nếu có ai xây tháp bằng vàng, bạc, pha lê... hoặc xây bằng gỗ, gạch, ngói, bùn, đất, cho đến trẻ con chơi làm tháp Phật để cúng dường, tất cả những người đó đều đã thành Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    31.-     

    Nếu như người vì Phật
    Xây dựng các hình tượng
    Chạm trổ thành các tướng
    Đều đã thành Phật đạo
    Hoặc dùng bảy báu làm
    Thau, đồng bạch, đồng đỏ
    Chất nhôm cùng chì kẽm
    Sắt, gỗ cùng với bùn
    Hoặc dùng keo, sơn, vải
    Nghiêm sức làm tượng Phật
    Những người như thế đó
    Đều đã thành Phật đạo
    Vẽ vời làm tượng Phật
    Trăm tướng phước trang nghiêm
    Tự làm hoặc bảo người
    Đều đã thành Phật đạo
    Nhẫn đến đồng tử giỡn
    Hoặc cỏ cây và bút
    Hoặc lấy móng tay mình
    Mà vẽ làm tượng Phật
    Những hạng người như thế
    Lần lần chứa công đức
    Đầy đủ tâm đại bi
    Đều đã thành Phật đạo
    Chỉ dạy các Bồ-tát
    Độ thoát vô lượng chúng.

    GIẢNG:

    Nếu các chúng sanh vì Phật mà tạo hình tượng Ngài bằng bảy báu, hoặc dùng các thứ kim loại, hoặc dùng gỗ, bùn, keo, sơn, vải tạc thành tượng Phật, cho đến trẻ con dùng ngón tay hay dùng cây cỏ vẽ thành tượng Phật; nhờ tích chứa công đức, đầy đủ tâm đại bi, nên họ đều đã thành Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    32.-

    Nếu người nơi tháp miếu
    Tượng báu và tượng vẽ
    Dùng hoa, hương, phan, lọng
    Lòng kính mà cúng dường
    Hoặc khiến người trỗi nhạc
    Đánh trống, thổi sừng ốc
    Tiêu địch, cầm, không hầu
    Tỳ bà, chụp chả đồng
    Các tiếng hay như thế
    Đem dùng cúng dường hết
    Hoặc người lòng vui mừng
    Ca ngâm khen đức Phật
    Nhẫn đến một tiếng nhỏ
    Đều đã thành Phật đạo.

    GIẢNG:

    Nếu người ở trước tượng Phật hay tháp miếu Phật mà cúng dường hoa hương, phan lọng, hoặc dùng các loại nhạc cụ trỗi nhạc để cúng dường, hay ca ngâm khen ngợi Phật đều đã thành Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    33.-

    Nếu người lòng tán loạn
    Nhẫn đến dùng một bông
    Cúng dường nơi tượng vẽ
    Lần thấy các đức Phật
    Hoặc có người lễ lạy
    Hoặc lại chỉ chấp tay
    Nhẫn đến giơ một tay
    Hoặc lại hơi cúi đầu
    Dùng đây cúng dường tượng
    Lần thấy vô lượng Phật
    Tự thành đạo Vô thượng
    Rộng độ chúng vô số
    Vào Vô dư Niết-bàn
    Như củi hết lửa tắt.
    Nếu người lòng tán loạn
    Vào nơi trong tháp miếu
    Một xưng Nam-mô Phật
    Đều đã thành Phật đạo
    Nơi các Phật quá khứ
    Tại thế, hoặc diệt độ
    Có người nghe pháp này
    Đều đã thành Phật đạo.

    GIẢNG:

    Nếu người lòng tán loạn thấy tượng Phật họ lễ lạy, hoặc chỉ chấp tay, giơ tay, hoặc hơi cúi đầu để cúng dường Phật, thì lần lần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo Vô thượng, độ tất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn. Hoặc những người lòng tán loạn vào tháp miếu thờ Phật, niệm Nam-mô Phật đều đã thành Phật đạo.

    Đối với chư Phật thời quá khứ, những chúng sanh nào tạo được những phước duyên như vừa nêu thì đều đã thành Phật đạo. Câu đều đã thành Phật đạo cốt nhấn mạnh ý nghĩa: Tất cả chúng sanh ai cũng có sẵn Tri kiến Phật, nhưng vì mê lầm quên đi nên trầm luân trong lục đạo luân hồi. Bây giờ đủ duyên thức tỉnh, biết quay về thì sớm muộn gì cũng sẽ thành Phật. Vì đã có sẵn hạt giống, biết đem ra ươm trồng, thế nào rồi cũng thành quả. Đó là nói đối với người ở thời Phật quá khứ, dù chưa có lòng tin nhưng khi phát lòng tin hướng về Phật thì họ đều đã thành Phật đạo.

    CHÁNH VĂN:

    34.-

    Các Thế Tôn vị lai
    Số nhiều không thể lường
    Các đức Như Lai đó
    Cũng phương tiện nói pháp
    Tất cả các Như Lai
    Dùng vô lượng phương tiện
    Độ thoát các chúng sanh
    Vào trí vô lậu Phật
    Nếu có người nghe pháp
    Không ai chẳng thành Phật
    Các Phật vốn thệ nguyện
    Ta tu hành Phật đạo
    Khắp muốn cho chúng sanh
    Cũng đồng được đạo này
    Các Phật đời vị lai
    Dầu nói trăm nghìn ức
    Vô số các pháp môn
    Kỳ thiệt vì Nhứt thừa
    Các Phật Lưỡng Túc Tôn
    Biết pháp thường không tánh
    Giống Phật theo duyên sanh
    Cho nên nói Nhứt thừa.
    Pháp đó trụ ngôi pháp
    Tướng thế gian thường còn
    Nơi đạo tràng biết rồi
    Đức Phật phương tiện nói
    Hiện tại mười phương Phật
    Của trời người cúng dường
    Số nhiều như hằng sa
    Hiện ra nơi thế gian
    Vì an ổn chúng sanh
    Cũng nói pháp như thế
    Biết vắng bặt thứ nhứt
    Bởi dùng sức phương tiện
    Dầu bày các món đạo
    Kỳ thiệt vì Phật thừa
    Biết các hạnh chúng sanh
    Thâm tâm nó nghĩ nhớ
    Nghiệp quen từ quá khứ
    Tánh dục, sức tinh tấn
    Và các căn lợi độn
    Dùng các món nhân duyên
    Thí dụ cùng lời lẽ
    Tùy cơ phương tiện nói.

    GIẢNG:

    Chư Phật đời vị lai nhiều vô số, dùng vô số phương tiện độ chúng sanh, cũng không ngoài mục đích chỉ cho chúng sanh nhận ra Tri kiến Phật, nên nói rằng: Biết pháp thường không tánh, giống Phật theo duyên sanh, cho nên nói Nhứt thừa. Tại sao nói các pháp thế gian thường không tánh? Tất cả pháp thế gian do duyên hợp mà có giả tướng, đã là giả tướng do duyên hợp mới có thì không có Tự tánh cố định. Ví dụ cái nhà gồm cột, kèo, đòn tay, gạch ngói... hợp lại tạm gọi là cái nhà. Nếu chỉ có cột mà không có đòn tay, ngói... thì không thành cái nhà, hoặc có ngói gạch mà không có kèo cột... cũng không thành cái nhà. Như vậy, cái nhà là tướng do duyên hợp, nó không có Tự thể cố định, nên nói các pháp thường không tánh. Tại sao nói giống Phật theo duyên sanh? Duyên sanh ở đây không có nghĩa do duyên hợp sanh ra giống Phật, mà nơi mỗi chúng sanh đều có sẵn Phật tánh, nếu được thầy giáo hóa khai ngộ và tự mình tu tỉnh thì Phật tánh sẽ hiển hiện. Vì vậy nên nói giống Phật theo duyên sanh. Phật vì biết chúng sanh có sẵn giống Phật, nên Ngài chỉ nói pháp Nhất thừa để cho chúng sanh tu thành Phật, chớ không nói thừa nào khác.

    Pháp đó trụ ngôi pháp, tướng thế gian thường còn nghĩa là pháp đó ở đúng bản vị của nó, tướng thế gian thường trụ. Nếu chúng ta nhìn sự vật theo tướng nhân duyên hòa hợp thì thấy nó hư giả, chợt có chợt không, nên vô thường, không có Tự thể cố định. Chính Tự thể không cố định là cái tướng thường còn không biến dịch không thay đổi. Ví dụ như nước ở nhiệt độ trung bình thì lỏng, ở nhiệt độ cao bốc thành hơi, ở 0o thì đông thành khối. Tùy theo duyên mà hình tướng nước có đổi thay từ lỏng sang cứng hay hơi, nhưng trên Thể tánh của nước vẫn là ướt, không đổi thay, là thường còn. Đa số kinh A-hàm đều đứng trên mặt tướng dụng mà diễn nói, còn các kinh Đại thừa thì đứng trên Bản thể của các pháp mà thuyết minh. Như vậy, nếu nhìn trên hình tướng thì thấy các pháp đổi thay vô thường. Nếu nhìn sâu đến Thể tánh thì thấy Thật tướng của các pháp là thường còn. Tuy Phật biết Thể tánh của các pháp là như vậy, nhưng vì chúng sanh chưa đủ sức thấy như Phật, nên Ngài phương tiện nói tướng dụng của các pháp là vô thường để dắt dẫn lần lần họ đi sâu vào Bản thể. Hiểu như vậy mới không thấy mâu thuẫn và thấy rõ điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa: Qui Tam thừa về Nhất thừa.

    CHÁNH VĂN:

    35.-

    Ta nay cũng như vậy
    Vì an ổn chúng sanh
    Dùng các món pháp môn
    Rao bày nơi Phật đạo
    Ta dùng sức trí tuệ
    Rõ tánh dục chúng sanh
    Phương tiện nói các pháp
    Đều khiến được vui mừng
    Xá-lợi-phất nên biết!
    Ta dùng mắt Phật xem
    Thấy sáu đường chúng sanh
    Nghèo cùng không phước huệ
    Vào đường hiểm sanh tử
    Khổ nối luôn không dứt
    Sâu tham nơi ngũ dục
    Như trâu “mao” mến đuôi
    Do tham ái tự che
    Đui mù không thấy biết
    Chẳng cầu Phật thế lớn
    Cùng pháp dứt sự khổ
    Sâu vào các tà kiến
    Lấy khổ muốn bỏ khổ
    Phật vì chúng sanh này
    Mà sanh lòng đại bi.

    GIẢNG:

    Sau khi Phật thành đạo biết rõ tâm bệnh của chúng sanh, vì muốn cho họ an ổn nên Ngài nói pháp đúng như chỗ họ muốn, vì vậy tất cả đều được vui mừng. Phật dùng trí tuệ nhìn thấy chúng sanh lăn lộn trong sáu đường, nghèo phước đức, nghèo trí tuệ, nên mải đi trên con đường sanh tử hiểm trở không có ngày dừng. Ngay cả chư thiên ở cõi trời tuy sang quí nhưng đức Phật cũng vẫn thấy đó là hàng chúng sanh còn chìm trong dục lạc, vẫn còn bị sanh tử vô thường chi phối, nên Phật nói chưa đủ phước tuệ; nếu đủ phước tuệ thì thoát ly sanh tử, dứt luân hồi. Nếu còn đi trong vòng luân hồi sanh tử thì khổ này nối tiếp khổ kia, không bao giờ dứt. Như thai nhi ở trong bụng mẹ êm ấm, khi ra đời bất thần bị nóng lạnh cọ xát đó là khổ. Lúc còn nhỏ được cha mẹ nuôi dưỡng chu đáo, nhưng thỉnh thoảng cũng bị ốm đau bức ngặt đó là khổ. Đến tuổi già răng rụng, mắt mờ, tai điếc, bệnh hoạn thúc bách đó là khổ. Rồi chết đến hơi thở dồn dập bức ngặt là khổ. Đó là một dòng khổ đuổi nhau từ lúc mở mắt chào đời cho tới ngày nhắm mắt, chung cuộc của kiếp người, chẳng những chỉ một đời này khổ mà còn tiếp diễn tới nhiều đời sau, triền miên không dứt. Thế mà mọi người đối với ngũ dục thế gian lại tưởng là vui... cứ đeo đuổi nắm bắt.

    Thế nên ở đây Phật mới nói lòng tham ngũ dục của con người, giống như con trâu mao mến cái đuôi. Trâu mao có đuôi dài và đẹp đi đâu cũng gác cái đuôi trên lưng, không để cái đuôi lết dưới đất hay dùng đuôi để đuổi ruồi muỗi, vì sợ dơ và rụng lông. Để thấy, đó là cái mê mờ của chúng sanh, đã đi trong đường khổ mà không ý thức được cái khổ, cứ ham thích bám giữ, để rồi chìm sâu trong khổ đau. Tất cả mọi khổ đau đều từ tham muốn mà có, bao giờ hết tham muốn là hết khổ, mà người đời cứ nuôi lòng tham muốn nên khổ mãi. Vì vậy đức Phật nói: Tham ái là cái che lấp, làm cho chúng sanh mờ tối không thấy được lẽ thật. Thí dụ hai bà mẹ có hai đứa con chơi chung, chúng bất hòa cãi lộn, mỗi bà vì quá thương con nên không còn biết phải quấy, đứng ra bênh vực con mình cũng cãi lộn nhau. Người mình thương thì quấy cũng thành phải, người mình ghét thì phải cũng thành quấy, không mù là gì?

    Tất cả mọi thấy biết của chúng sanh đều theo lòng tham ái của chính mình, nói và làm theo cái tham ái đó, nên không thấy được lẽ thật. Vì vậy mà Phật nói chúng sanh đui mù. Bởi đui mù nên càng ngày càng chìm sâu trong tà kiến, bám lấy khổ mà muốn bỏ khổ. Kinh A-hàm, Phật dạy chúng sanh bị sanh mà cầu sanh, bị vô thường mà cầu cái vô thường. Tức là thân này bị sanh ra đã khổ, khi sắp già chết lại muốn đời sau tái sanh mang thân khác. Chính thân này đã vô thường, lại ham muốn những cái vô thường khác. Chẳng hạn mong có chiếc xe thật tốt để khỏi đi bộ cho đỡ khổ nhưng khi được rồi, thời gian sau nó hư phải nhọc công sửa chữa lại càng thêm khổ. Đó là tự thân đã khổ mà muốn lấy khổ để bỏ khổ. Thế nên, Phật khởi tâm đại bi thương xót chúng sanh tham ái mù tối, mà vì họ nói pháp độ cho hết khổ.

    CHÁNH VĂN:

    36.-

    Xưa, ta ngồi đạo tràng
    Xem cây cùng kinh hành
    Trong hai mươi mốt ngày
    Suy nghĩ việc như vầy:
    Trí huệ của ta được
    Vi diệu rất thứ nhứt
    Chúng sanh các căn chậm
    Tham vui si làm mù
    Các hạng người như thế
    Làm sao mà độ được?
    Bấy giờ các Phạm vương
    Cùng các trời Đế Thích
    Bốn Thiên vương hộ đời
    Và trời Đại Tự Tại
    Cùng các thiên chúng khác
    Trăm nghìn ức quyến thuộc
    Chấp tay cung kính lễ
    Thỉnh ta chuyển pháp luân.
    Ta liền tự suy nghĩ
    Nếu chỉ khen Phật thừa
    Chúng sanh chìm nơi khổ
    Không thể tin pháp đó
    Do phá pháp không tin
    Rớt trong ba đường dữ
    Ta thà không nói pháp
    Mau vào cõi Niết-bàn
    Liền nhớ Phật quá khứ
    Thực hành sức phương tiện
    Ta nay chứng đặng đạo
    Cũng nên nói ba thừa.

    GIẢNG:

    Xưa đức Phật mới thành đạo, hoặc Ngài ngồi ngay đạo tràng, hoặc đi dạo trong vườn cây, hoặc đi kinh hành trên đường thẳng; suốt hai mươi mốt ngày, Phật nghĩ rằng trí tuệ mà Ngài chứng được thì quá vi diệu, tối thượng, còn chúng sanh thì căn cơ quá ám độn, lại bị lòng tham ưa ngũ dục che mờ làm sao mà độ được? Ngài nghĩ như vậy thì chư thiên đến thỉnh Ngài nên thuyết pháp. Ngài mới nghĩ tiếp, nếu nói thẳng Phật thừa mà ta đã chứng, thì e chúng sanh không thể tin nhận, sanh lòng hủy báng chánh pháp, sẽ mắc tội phá pháp rơi vào ba đường dữ, tốt hơn ta nên vào Niết-bàn. Nhưng Ngài nhớ lại chư Phật quá khứ từng dùng sức phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nay ta cũng dùng phương tiện nói ba thừa để dẫn dắt họ từ từ.

    CHÁNH VĂN:

    37.-

    Lúc ta nghĩ thế đó
    Mười phương Phật đều hiện
    Tiếng Phạm an ủi ta
    Hay thay! Đức Thích-ca
    Bậc Đạo sư thứ nhứt
    Được pháp Vô thượng ấy
    Tùy theo tất cả Phật
    Mà dùng sức phương tiện
    Chúng ta cũng đều được
    Pháp tối diệu thứ nhứt
    Vì các loại chúng sanh
    Phân biệt nói ba thừa.
    Trí kém ưa pháp nhỏ
    Chẳng tự tin thành Phật
    Cho nên dùng phương tiện
    Phân biệt nói các quả
    Dầu lại nói ba thừa
    Chỉ vì dạy Bồ-tát.

    GIẢNG:

    Khi đức Phật Thích-ca nghĩ nên mở bày phương tiện để giáo hóa chúng sanh, thì mười phương chư Phật hoan hỉ tán thán Ngài là bậc thầy thứ nhất, khéo léo biết dùng ba thừa để giáo hóa, nhưng rốt sau chỉ dùng Phật thừa để dạy Bồ-tát.

    CHÁNH VĂN:

    38.-

    Xá-lợi-phất nên biết!
    Ta nghe các đức Phật
    Tiếng nhiệm mầu rất sạch
    Xưng: “Nam-mô chư Phật!”
    Ta lại nghĩ thế này
    Ta ra đời trược ác
    Như các Phật đã nói
    Ta cũng thuận làm theo
    Suy nghĩ việc đó rồi
    Liền đến thành Ba-nại.
    Các pháp tướng tịch diệt
    Không thể dùng lời bày
    Bèn dùng sức phương tiện
    Vì năm Tỳ-kheo nói.
    Đó gọi chuyển pháp luân
    Bèn có tiếng Niết-bàn
    Cùng với A-la-hán
    Tên pháp, Tăng sai khác.
    Từ kiếp xa vẫn lại
    Khen bày pháp Niết-bàn
    Dứt hẳn khổ sống chết
    Ta thường nói như thế.

    GIẢNG:

    Nghe chư Phật quá khứ khen, Ngài liền hướng về chư Phật xưng: “Nam-mô Phật.” Sau đó, Ngài bắt đầu khởi phương tiện tìm đến Uất-đầu-lam-phất là vị thầy cũ dạy Ngài tu chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ định và A-la-lam vị thầy dạy Ngài tu từ Sơ thiền cho đến Vô sở hữu xứ định. Nhưng hai vị này vừa viên tịch, Ngài mới tới thành Ba-la-nại nơi vườn Lộc Uyển, nói pháp Tứ đế độ năm anh em Kiều-trần-như là những người đồng tu học với Ngài thuở trước. Từ đó mới có Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, mới có danh từ Chuyển pháp luân, Niết-bàn, A-la-hán. Lần chuyển pháp luân này là phương tiện đầu tiên Ngài dùng để giáo hóa chúng sanh.

    CHÁNH VĂN:

    39.-

    Xá-lợi-phất! Phải biết!
    Ta thấy các Phật tử
    Chí quyết cầu Phật đạo
    Vô lượng nghìn muôn ức
    Đều dùng lòng cung kính
    Đồng đi đến chỗ Phật
    Từng đã theo các Phật
    Nghe nói pháp phương tiện
    Ta liền nghĩ thế này:
    Sở dĩ Phật ra đời
    Để vì nói Phật huệ
    Nay chính đã đúng giờ.

    GIẢNG:

    Sau khi Ngài phương tiện nói pháp Tứ đế v.v... để giáo hóa, Ngài xét lại thấy thời cơ đã đến, chúng sanh nghe pháp đầy đủ lòng tin, Ngài thấy cần phải nói thẳng về Phật thừa, nên bắt đầu nói kinh Pháp Hoa.

    CHÁNH VĂN:

    40.-     

    Xá-lợi-phất phải biết!
    Người căn chậm trí nhỏ
    Kẻ chấp tướng kiêu mạn
    Chẳng thể tin pháp này
    Nay ta vui vô úy
    Ở trong hàng Bồ-tát
    Chính bỏ ngay phương tiện
    Chỉ nói đạo Vô thượng
    Bồ-tát nghe pháp đó
    Đều đã trừ lưới nghi
    Nghìn hai trăm La-hán
    Cũng đều sẽ thành Phật
    Như nghi thức nói pháp
    Của các Phật ba đời
    Ta nay cũng như vậy
    Nói pháp không phân biệt
    Các đức Phật ra đời
    Lâu xa khó gặp gỡ
    Chính sử hiện ra đời
    Nói pháp này khó hơn;
    Vô lượng vô số kiếp
    Nghe pháp này cũng khó
    Hay nghe được pháp này
    Người đó cũng lại khó
    Thí như hoa linh thoại
    Tất cả đều ưa mến
    Ít có trong trời, người
    Lâu lâu một lần trổ.

    GIẢNG:

    Phật nói với ngài Xá-lợi-phất rằng: Những người căn trí nhỏ, chậm lụt, chấp tướng, kiêu mạn, không thể tin pháp Phật nói. Họ chỉ có cái ưa muốn tầm thường, như cư sĩ tu thì mong đời sau giàu sang sung sướng, con cái hiếu thảo v.v... Còn người xuất gia tu thì mong đời sau chuyển nữ thành nam, hoặc được thông minh trí tuệ... Hoặc người kẹt trên hình tướng thì pháp có hình tướng mới tin, còn Tri kiến Phật không tướng mạo thì không đủ sức tin nhận. Với người kiêu mạn, họ đã tự thấy đủ, không cần cầu nghe học thì không thể đến được Tri kiến Phật. Đó là những tâm bệnh của chúng sanh nên không thể tin nhận chỗ Phật dạy ở kinh Pháp Hoa này. Nhưng Phật thấy thời tiết đến, lòng chấp của chúng sanh mòn mỏng, Ngài không ngại, không sợ, sẽ vì hàng Bồ-tát nói thẳng chỗ cứu kính là Phật thừa, khiến cho hết lòng nghi sẽ chứng quả Phật. Bởi lâu lắm mới có Phật ra đời; tuy Phật ra đời là khó, nhưng chưa khó bằng nói thẳng Tri kiến Phật, đó là cái khó thứ nhất; người nghe được pháp này cũng khó, là cái khó thứ hai; nếu nghe rồi mà khéo lãnh hội lại càng khó hơn, là cái khó thứ ba. Như vậy, pháp khó nói mà Phật đã nói, pháp khó nghe mà chúng ta được nghe và nghe rồi khéo lãnh hội là tùy ở mỗi người chúng ta. Những cái khó đó nếu chúng ta vượt qua được, giống như hoa ưu-đàm cả trăm năm mới nở một lần. Vậy nên phải khéo nghe và thấy rằng nghe được pháp này là việc hi hữu không phải là chuyện thông thường. Đó là lời khuyến khích của Phật để cho tất cả thính chúng quí pháp và lắng nghe pháp.

    CHÁNH VĂN:

    41.-

    Người nghe pháp mừng khen
    Nhẫn đến nói một lời
    Thời là đã cúng dường
    Tất cả Phật ba đời
    Người đó rất ít có
    Hơn cả hoa ưu-đàm
    Các ông chớ có nghi
    Ta là vua các pháp
    Khắp bảo các đại chúng
    Chỉ dùng đạo Nhứt thừa
    Dạy bảo các Bồ-tát
    Không Thanh văn đệ tử.

    GIẢNG:

    Phật nói rằng người nghe pháp này mà vui mừng, khen ngợi, cho đến nói một lời tán thán thôi là người đó đã cúng dường tất cả Phật trong ba đời, và người đó có mặt trên nhân gian này quí hơn là hoa ưu-đàm. Bởi vậy mà Phật khuyên mọi người đừng có nghi, vì Phật là ông Vua pháp, tức là vị đã biết tột được tâm bệnh của chúng sanh, nói pháp đúng thời đúng bệnh, hướng dẫn chúng sanh từ thấp lên cao đến chỗ rốt ráo. Chúng sanh chớ có nghi ngờ, nghe rồi phải tin hiểu. Ngài kết thúc, việc Ngài nói pháp độ cho Thanh văn đó chỉ là phương tiện tùy cơ, chớ chỗ nhắm của Phật là dạy cho hàng Bồ-tát tu để thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    42.-     

    Xá-lợi-phất các ông!
    Thanh văn và Bồ-tát
    Phải biết pháp mầu này
    Bí yếu của các Phật
    Bởi đời ác năm trược
    Chỉ tham ưa các dục
    Những chúng sanh như thế
    Trọn không cầu Phật đạo
    Người ác đời sẽ tới
    Nghe Phật nói Nhứt thừa
    Mê lầm không tin nhận
    Phá pháp đọa đường dữ
    Người tàm quí trong sạch
    Quyết chí cầu Phật đạo
    Nên vì bọn người ấy
    Rộng khen đạo Nhứt thừa
    Xá-lợi-phất nên biết!
    Pháp các Phật như thế
    Dùng muôn ức phương tiện
    Tùy thời nghi nói pháp
    Người chẳng học tập tu
    Không hiểu được pháp này
    Các ông đã biết rõ
    Phật là thầy trong đời
    Việc phương tiện tùy nghi
    Không còn lại nghi lầm
    Lòng sanh rất vui mừng
    Tự biết sẽ thành Phật.

    GIẢNG:

    Phật nói rằng hàng Thanh văn, Duyên giác hay Bồ-tát nên biết diệu pháp mà Phật dạy là bí yếu của chư Phật, tất cả chư Phật ra đời cốt để truyền dạy cái bí yếu đó. Trong đời ác ngũ trược sau này, chúng sanh tham ưa đắm mê dục lạc, không hề cầu Phật đạo, nghe Phật nói Nhất thừa, họ mê chấp không thể tin nhận, rồi sẽ phá Chánh pháp đọa vào đường dữ. Còn nếu ai biết hổ thẹn, gìn giữ giới luật trong sạch, có chí cầu Phật đạo thì nên vì những người đó nói đạo Nhất thừa tức là nói kinh Pháp Hoa. Pháp của Phật là như thế! Ngài dùng muôn ức phương tiện tùy cơ mà nói, nếu người không chịu học thì không thể hiểu, Phật là bậc thầy khéo dùng mọi phương tiện hướng dẫn, chúng ta chớ có nghi ngờ. Nếu nghe rồi hoan hỉ tin nhận tu hành thì chắc chắn sẽ được thành Phật.


  • 4. PHẨM 3 : THÍ DỤ

    PHẨM 3

    THÍ DỤ

    Trong kinh Pháp Hoa có tất cả bảy dụ tại sao chỉ riêng phẩm này lấy tên là Thí Dụ, còn những phẩm khác cũng dụ mà không để tên Thí Dụ? Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói lên bản hoài của chư Phật ra đời, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều được khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến Phật của chính mình, hay nói cách khác là nhận ra và hằng sống với Tánh giác của chính mình. Nhưng khi chư Phật ra đời không nói thẳng bản hoài đó vì căn cơ chúng sanh chưa kham thọ nhận, nên Phật phương tiện nói Ngũ thừa, Tam thừa, sau cùng mới nói Phật thừa. Trong phẩm này, đức Phật đã dùng những ví dụ để làm sáng tỏ thêm chỗ cứu kính, để hiển bày những phương tiện mà Ngài đã dẫn dắt chỉ là tạm thời. Nhờ vậy đã giúp cho hàng trung căn dễ dàng nhận ra đâu là mục tiêu chính mà Phật muốn chỉ. Cho nên phẩm này lấy tên là Thí Dụ.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ ngài Xá-lợi-phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng:

    - Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng hớn hở được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, tự rất cảm thương mất vô lượng Tri kiến của Như Lai.

    Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vầy: “Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho?”

    Đó là lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp, vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy.

    Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thiệt là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh được pháp phần của Phật.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất sau khi nghe Phật nói về Trí tuệ Phật, Ngài liền tin mình có khả năng thành Phật, hay nói một cách khác là Ngài ngộ được Tri kiến Phật của chính mình, nên vui mừng hớn hở đứng dậy chấp tay trình sở ngộ với Phật.

    Xưa, ngài Xá-lợi-phất nghe Phật dạy Tứ đế hay Mười hai nhân duyên, chớ không nghe Phật nói Tri kiến Phật, chỉ riêng hàng Bồ-tát mới được nghe và được thọ ký sẽ thành Phật, còn Ngài thì không được dự phần. Tự thấy cảm thương mình nên những lúc ở dưới cội cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc kinh hành, Ngài hằng nghĩ tất cả mọi người ai cũng như ai, tại sao người được nghe pháp Tối thượng, người chỉ được nghe pháp Tiểu thừa? Tại sao có chỗ sai biệt như thế? Ví dụ nhiều người tới học đạo, có người tôi khuyên nên ăn ở hiền lành, sống làm sao cho gia đình được hòa thuận tin yêu lẫn nhau. Có người tôi dạy quán các pháp như huyễn để phá ngã chấp và pháp chấp, để tự mình được giải thoát và giải thoát cho chúng sanh. Dạy như vậy tôi có bất công không? - Không. Dạy tu khế lý mà phải khế cơ, nếu trình độ người thấp mà dạy pháp cao thì họ không thể lãnh hội và ứng dụng tu được, nếu ứng dụng không được thì không có lợi ích mà còn thiệt hại là khác. Vì vậy, buộc lòng phải nói pháp ngang với trình độ người nghe, cho họ được lợi ích thực tiễn. Còn đối với người đã thuần thục thì nói thẳng pháp cao họ ứng dụng được, chẳng những tự họ có lợi ích mà còn có lợi cho người sau. Sở dĩ Phật nói pháp sai biệt giữa các môn đồ là bởi căn cơ sai khác, với người trình độ thấp thì Ngài dùng phương tiện nâng lên từ từ, đến khi họ kham lãnh được pháp lớn, thì Ngài bình đẳng nói pháp Nhất thừa. Vậy, nếu mình học pháp thấp mà người được học pháp cao, chớ trách người dạy bất công mà phải tự biết mình chưa đủ sức kham lãnh pháp cao, nên người hướng dẫn phải tùy thuận theo khả năng của mình mà dạy pháp thấp. Đó là cái khéo của người giáo hóa.

    Ở đây, ngài Xá-lợi-phất tự nhận thấy lỗi mình là đã mất vô lượng Tri kiến Như Lai. Nghĩa là Ngài có sẵn Tri kiến Như Lai, nhưng vì căn cơ thấp kém nên Phật không nói thẳng Phật thừa chỉ nói pháp Nhị thừa. Ngài tự cảm thương mình chớ không trách Phật. Nếu Ngài chờ Phật nói cái nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ngay đó mà tu hành thì sẽ được thành Phật. Nhưng vì không hiểu Phật phương tiện tùy cơ nói pháp Nhị thừa, liền tin và tu theo pháp Nhị thừa. Đó là lỗi ở Ngài chớ không phải lỗi ở Phật.

    Kế đó, ngài Xá-lợi-phất tán thán pháp mà Phật nói chưa từng có chưa từng nghe, dứt lòng nghi hối được an ổn. Ngài tự xác nhận mình là con Phật, từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất tự nhận như vậy là vì người tu lấy trí tuệ làm mạng sống, vì nhân lời Phật dạy mà được trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh. Nhờ pháp Phật khiến cho trí tuệ ngày càng tăng trưởng, đó là từ pháp hóa sanh. Được từng phần giác ngộ, nên nói được pháp phần của Phật.

    Ngày nay, đa số người đi chùa tự nhận mình là Phật tử, tức là con của đấng Giác ngộ. Nếu không giác ngộ toàn phần thì ít ra cũng giác ngộ từng phần mới dám xưng là Phật tử, chớ không phải vô phần giác ngộ mà tự xưng là Phật tử được. Trong kinh Phật dạy, người học Phật phải có đủ ba môn trí tuệ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ tức là nghe lời Phật dạy mà khai thông trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh. Tư tuệ là do tư duy pháp Phật dạy mà trí tuệ phát sanh, đó là từ pháp hóa sanh. Tu tuệ là do tu Thiền định mà phát sanh trí tuệ, đó là được pháp phần của Phật. Người học Phật phải có được một trong ba phần trí tuệ vừa nêu thì mới gọi là Phật tử, nếu không hiểu gì về đạo lý giải thoát thì chưa xứng đáng là Phật tử. Đây tôi nêu đôi phần giác ngộ để quí vị tự xét xem mình có phải là Phật tử không? Phật nói tất cả pháp có hình tướng ở thế gian đều là vô thường. Nếu tin mà chưa thấy rõ các pháp là vô thường thì chưa gọi là giác. Từ lâu chúng ta mê muội thấy đời là đẹp là thường, nhờ nghe Phật nói tất cả pháp có hình tướng đều là vô thường mà tâm sáng lên, biết mình đã mê lầm (Văn tuệ). Sau khi nghe rồi suy gẫm, nghiệm xét từ con người đến cảnh vật đều trải qua những giai đoạn thành trụ hoại không, biến dịch không ngừng, biết rõ ràng tất cả pháp có hình tướng đều bị luật vô thường chi phối (Tư tuệ). Sau khi xác nhận lời Phật dạy là chân lý, thì ứng dụng vào đời sống hằng ngày, chẳng hạn tâm vừa dấy khởi chạy theo sắc, theo danh, theo lợi... liền nhớ tới thân vô thường, cảnh vật vô thường, có đó rồi mất đó, đuổi theo danh lợi rồi danh lợi cũng sẽ mất, ngay đó dẹp được lòng tham danh lợi (Tu tuệ). Người tu sống được như vậy mới không hổ thẹn với danh xưng Phật tử.

    CHÁNH VĂN:

    Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    2.-

    Con nghe tiếng pháp này
    Được điều chưa từng có
    Lòng rất đỗi vui mừng
    Lưới nghi đều đã trừ
    Xưa nay nhờ Phật dạy
    Chẳng mất nơi Đại thừa
    Tiếng Phật rất ít có
    Hay trừ khổ chúng sanh
    Con đã được lậu tận
    Nghe cũng trừ lo khổ
    Con ở nơi hang núi
    Hoặc dưới cụm cây rừng
    Hoặc ngồi hoặc kinh hành
    Thường suy nghĩ việc này
    Than ôi! Rất tự trách!
    Sao lại tự khi mình
    Chúng ta cũng Phật tử
    Đồng vào pháp vô lậu
    Chẳng được ở vị lai
    Nói pháp Vô thượng đạo
    Sắc vàng, băm hai tướng
    Mười lực, các giải thoát,
    Đồng chung trong một pháp
    Mà chẳng được việc đây
    Tám mươi tướng tốt đẹp
    Mười tám pháp bất cộng
    Các công đức như thế
    Mà ta đều đã mất.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất nghe Phật nói mọi người ai cũng có Tri kiến Phật, và chủ yếu Phật ra đời là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật. Ngài tin chắc rằng Ngài sẽ được pháp Đại thừa và được thành Phật. Ngài Xá-lợi-phất nói Phật thuyết pháp cốt là giải khổ cho chúng sanh. Rồi Ngài tự trách mình là đệ tử của Phật, cũng được pháp vô lậu mà không được thọ ký thành Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thập lực, tám món giải thoát.

    CHÁNH VĂN:

    3.-

    Lúc con kinh hành riêng
    Thấy Phật ở trong chúng
    Danh đồn khắp mười phương
    Rộng lợi ích chúng sanh
    Tự nghĩ mất lợi này
    Chính con tự khi dối
    Con thường trong ngày đêm
    Hằng suy nghĩ việc đó
    Muốn đem hỏi Thế Tôn
    Là mất hay không mất?
    Con thường thấy Thế Tôn
    Khen ngợi các Bồ-tát
    Vì thế nên ngày đêm
    Suy lường việc như vậy.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất khi ở chỗ vắng vẻ suy gẫm có phải mình đã tự mất giống Phật không, muốn đem hỏi Thế Tôn mà Ngài chưa dám hỏi.

    CHÁNH VĂN:

    4.-

    Nay nghe tiếng Phật nói
    Theo cơ nghi dạy pháp
    Vô lậu khó nghĩ bàn
    Khiến chúng đến đạo tràng
    Con xưa chấp tà kiến
    Làm thầy các Phạm chí
    Thế Tôn rõ tâm con
    Trừ tà nói Niết-bàn
    Con trừ hết tà kiến
    Được chứng nơi pháp không
    Bấy giờ lòng tự bảo
    Được đến nơi diệt độ
    Mà nay mới tự biết
    Chẳng phải thiệt diệt độ
    Nếu lúc được thành Phật
    Đủ ba mươi hai tướng
    Trời, người, chúng dạ-xoa
    Rồng, thần đều cung kính
    Bây giờ mới được nói
    Dứt hẳn hết không thừa
    Phật ở trong đại chúng
    Nói con sẽ thành Phật
    Nghe tiếng pháp như vậy
    Lòng nghi hối đã trừ.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất nói thuở xưa Ngài là thầy của ngoại đạo Phạm chí, Phật biết tâm của Ngài nên giáo hóa Ngài trừ hết các tà kiến, chứng được pháp Không, tức Niết-bàn của Nhị thừa. Nghĩa là Ngài quán sát thấy thân này do năm uẩn giả hợp mà thành, Tự tánh nó là Không nên nói là vô ngã. Người đạt được lý đó thì chứng quả A-la-hán. Ngài tưởng chứng quả A-la-hán là Niết-bàn thật. Bây giờ nghe Phật nói pháp Đại thừa mới biết đó là Niết-bàn tạm, chớ không phải Niết-bàn thật. Tu bao giờ công đức viên mãn thành Phật mới là Niết-bàn thật, Ngài không nghi ngờ nữa.

    CHÁNH VĂN:

    5.-

    Khi mới nghe Phật nói
    Trong lòng rất sợ nghi
    Phải chăng ma giả Phật
    Não loạn lòng ta ư?
    Phật dùng các món duyên
    Thí dụ khéo nói phô
    Lòng kia an như biển
    Con nghe, lưới nghi dứt
    Phật nói thuở quá khứ
    Vô lượng Phật diệt độ
    An trụ trong phương tiện
    Cũng đều nói pháp đó
    Phật hiện tại, vị lai
    Số nhiều cũng vô lượng
    Cũng dùng các phương tiện
    Diễn nói pháp như thế
    Như Thế Tôn ngày nay
    Từ sanh đến xuất gia
    Được đạo chuyển pháp luân
    Cũng dùng phương tiện nói
    Thế Tôn nói đạo thật
    Ba-tuần không nói được.
    Vì thế con định biết
    Không phải ma giả Phật
    Con sa vào lưới nghi
    Cho là ma làm ra
    Nghe tiếng Phật êm dịu
    Sâu xa rất nhiệm mầu
    Nói suốt pháp thanh tịnh
    Tâm con rất vui mừng
    Nghi hối đã hết hẳn
    An trụ trong thiệt trí
    Con quyết sẽ thành Phật
    Được trời, người cung kính
    Chuyển pháp luân vô thượng
    Giáo hóa các Bồ-tát.

    GIẢNG:

    Khi mới nghe Phật nói những vị A-la-hán, Duyên giác tuy chứng Niết-bàn, nhưng không phải thật, ngài Xá-lợi-phất tưởng chừng như ma hóa ra Phật nói. Vì ngày xưa Phật dạy pháp Tứ đế là lý chân thật, ngày nay lại nói Diệt đế chưa phải là cứu kính, chưa phải là Niết-bàn nên Ngài nghi. Nhưng Ngài nghe Thế Tôn giảng chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khi ra đời giáo hóa đều dùng phương tiện như nhau, trước nói ba thừa rồi sau nói Phật thừa, nhờ vậy mà Ngài tin chắc đó là lời Phật nói không phải là ma. Nên Ngài nói rằng nay nghe tiếng Phật rất êm dịu, sâu xa nhiệm mầu thanh tịnh, Ngài vui mừng hết nghi, tin chắc sẽ thành Phật, nói pháp Đại thừa giáo hóa Bồ-tát. Tới đây ngài Xá-lợi-phất có lòng tin bất thoái chuyển không còn lui sụt nữa, quyết định sẽ tiến tới quả Phật, vì vậy mà sau này được thọ ký thành Phật.

    Chúng ta nghe Phật nói, có đủ lòng tin mình có sẵn Tri kiến Phật, khởi tâm tu thì sẽ thành Phật không? Tri kiến Phật là cái nhân, là hạt giống Phật, nếu đã tiến tu không thoái chuyển thì nhất định sẽ thành Phật không nghi, và được thọ ký vô lượng kiếp về sau sẽ thành Phật, không cố định thời gian dài ngắn, quyết định sẽ thành Phật. Đó là then chốt mà người tụng hay trì kinh Pháp Hoa phải nắm vững. Nếu trì kinh Pháp Hoa mà còn mong cầu cho có phước, giàu sang, vui tươi, mát mẻ... thì chưa đúng tinh thần trì kinh Pháp Hoa.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta.

    Xá-lợi-phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bổn nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.

    GIẢNG:

    Đức Phật Thích-ca mới thành Phật trong đời này, tại sao ở đây lại nói đức Phật đã từng ở hai muôn ức Phật, vì đạo Vô thượng thường giáo hóa ngài Xá-lợi-phất, ngài Xá-lợi-phất cũng đã từ lâu theo Phật thọ học, và được Phật phương tiện dẫn dắt cho vào pháp Phật? Phật lâu xa đó là chỉ cho Phật pháp thân, còn Phật thành đạo ở Ấn Độ là Phật hóa thân. Đứng về mặt Pháp thân thì ai cũng có Pháp thân Phật, nên nói Phật từng giáo hóa từ xa xưa, và đã từng dạy cho ngài Xá-lợi-phất tu với chí nguyện thành Phật, nhưng vì ngài Xá-lợi-phất quên đi. Khi nghe pháp Nhị thừa, Ngài tu được diệt độ bèn cho là đã đủ. Vì vậy mà đức Phật đã nhắc lại hạnh nguyện xưa của ngài Xá-lợi-phất, rồi mới vì hàng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa, để thấy tất cả mọi người ai cũng có bản nguyện thành Phật. Bản nguyện đó chính là Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, nhưng vì quên, nên khi nghe pháp nhỏ liền chấp nhận và tu rồi tự hài lòng nơi đó. Bây giờ Phật nhắc ai cũng sẵn có Tri kiến Phật và ai tu cũng sẽ thành Phật, chừng đó mới chợt nhận ra tu là phải thành Phật, chớ từng bậc quả vị chỉ là tạm thời thôi.

    CHÁNH VĂN:

    7.- Xá-lợi-phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng, thanh tịnh đẹp đẽ, an ổn, giàu vui, trời, người đông đảo. Lưu-ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có bông trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh.

    Xá-lợi-phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bổn nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là Đại Bửu Trang Nghiêm. Vì sao gọi là Đại Bửu Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ-tát làm “Đại Bửu” vậy. Các Bồ-tát đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức trí tuệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có bông đỡ chân.

    Các vị Bồ-tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh, hằng được các Phật ngợi khen. Thường tu trí tuệ của Phật, đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ-tát như thế, khắp đầy nước đó.

    Xá-lợi-phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ-tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên Mãn Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây.

    Xá-lợi-phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ trong đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp.

    Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    8.-

    Xá-lợi-phất đời sau
    Thành đấng Phật trí khắp
    Hiệu rằng: Phật Hoa Quang
    Sẽ độ vô lượng chúng
    Cúng dường vô số Phật
    Đầy đủ hạnh Bồ-tát
    Các công đức thập lực
    Chứng đặng đạo Vô thượng
    Quá vô lượng kiếp rồi
    Kiếp tên Đại Bửu Nghiêm
    Cõi nước tên Ly Cấu
    Trong sạch không vết nhơ
    Dùng lưu-ly làm đất
    Dây vàng giăng đường sá
    Cây bảy báu sắc đẹp 
    Thường có hoa cùng trái
    Bồ-tát trong cõi đó
    Chí niệm thường bền vững
    Thần thông, ba-la-mật
    Đều đã trọn đầy đủ
    Nơi vô số đức Phật
    Khéo học đạo Bồ-tát
    Những Đại sĩ như thế
    Phật Hoa Quang hóa độ
    Lúc Phật làm vương tử
    Rời nước bỏ vinh hoa
    Nơi thân cuối rốt sau
    Xuất gia thành Phật đạo.
    Phật Hoa Quang trụ thế
    Thọ mười hai tiểu kiếp
    Chúng nhân dân nước đó
    Sống lâu tám tiểu kiếp
    Sau khi Phật diệt độ
    Chánh pháp trụ ở đời
    Ba mươi hai tiểu kiếp
    Rộng độ các chúng sanh
    Chánh pháp diệt hết rồi
    Tượng pháp cũng băm hai
    Xá-lợi rộng truyền khắp
    Trời, người khắp cúng dường
    Phật Hoa Quang chỗ làm
    Việc đó đều như thế
    Đấng Lưỡng Túc Tôn kia
    Rất hơn không ai bằng
    Phật tức là thân ông
    Nên phải tự vui mừng.

    GIẢNG:

    Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất trong đời vị lai, vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường ngàn ức Phật, hộ trì chánh pháp đầy đủ đạo hạnh của Bồ-tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp sẽ thành Phật. Thời gian thành Phật quá xa mà ngài Xá-lợi-phất vui mừng cho rằng “được việc chưa từng có”. Nếu chúng ta thời nay được Phật thọ ký với thời gian lâu xa như vậy sẽ thành Phật, chắc là không mừng, vì tu lâu quá nên ngán. Thọ ký khoảng năm mười năm thành Phật thì khả dĩ vui mừng và lo tu hành cho mau được kết quả. Có phải chúng ta sốt sắng mong mau thành Phật hơn ngài Xá-lợi-phất không?

    Như trước đã nói Tri kiến Phật là cái không hạn cuộc ở không gian và thời gian. Vì nó là cái chưa từng sanh cũng như chưa từng diệt, nên nói bao nhiêu kiếp cũng là vô nghĩa. Chỉ biết mình có Phật tánh và tin mình tu sẽ thành Phật là đủ rồi. Chúng ta vì còn kẹt trên thời gian, chưa nhận ra Tri kiến Phật, chỉ nhận cái thân tứ đại là mình, sống khoảng năm sáu chục năm là chết. Nên nghe nói vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, thấy quá xa không tin mình có thể thực hiện được. Đâu ngờ chính Tri kiến Phật mới thật là mình. Ngài Xá-lợi-phất đã nhận ra Tri kiến Phật chính là mình, biết có Phật nhân chắc chắn Phật quả không mất phần, nên dầu có bỏ bao nhiêu cái thân tứ đại duyên hợp tạm bợ này cũng không đáng kể. Chỉ cần Phật ấn chứng là an lòng, là mãn nguyện rồi.

    Ngày nay chúng ta nghe nói tu khoảng một tỷ kiếp mới thành Phật thì buồn, thấy lâu xa quá không đủ kiên nhẫn để tu, nên xao lãng thối chí. Đó là do tâm sanh diệt nhỏ hẹp lệ thuộc thời gian, nên nghe Phật nói đến thời gian lâu xa không thể nghĩ lường thì hoảng sợ không đủ lòng tin. Có nhiều người tu hạn định trong khoảng thời gian ba năm hoặc năm năm phải đạt đạo. Thoạt nghe thì dường như người ấy có ý chí dõng mãnh đáng khen. Nhưng nếu tu ba năm, năm năm không đạt đạo thì sao? Thoái Bồ-đề tâm, đó là cái bệnh. Người tu mà nôn nóng mong mau thành đạo là người ý chí dõng mãnh hay người tham lam lười nhác? Ví dụ người chân yếu nghe nói cảnh đẹp nhưng đường dài, thì ngao ngán không muốn đi. Với người chân khoẻ, đường dài thì mặc đường dài, cứ nhắm đích mà thẳng tiến, không do dự không ngại ngùng, đó là người dõng mãnh gan dạ, bền chí.

    Cũng vậy, chư Bồ-tát Thanh văn trong pháp hội lòng tin và ý chí đã vững, tuy Phật thọ ký trong khoảng thời gian lâu xa như vậy mà các ngài hoan hỉ vui mừng, tâm không chao động thoái lui. Chúng ta ngày nay lòng tin không vững, thiếu nghị lực, tu muốn cho mau đạt đạo nên dễ bị gạt, rơi vào đường tà, rẽ ngã này tẽ ngã kia, rốt cuộc rồi không đến đích. Đó là bệnh chung của đa số người tu Phật hiện nay. Với người tu chân chánh một phen nghe Phật dạy, biết rõ tu là để giác ngộ thành Phật, lúc nào cũng thấy rõ lẽ thật hư của các pháp, không lầm, không mong dễ, không mong mau, không ham hào nhoáng hấp dẫn, cứ như thế mà sống cho đến khi hoàn toàn triệt ngộ là đến đích thành Phật. Những cái hào nhoáng hấp dẫn thu hút là cái quảng cáo dối gạt người tu. Lý đạo chân thật thì thậm thâm vi diệu, lặng lẽ, không nổi bật, không phô trương màu mè để thu hút người. Nếu người tu Phật càng chạy theo những cái phô trương hấp dẫn là càng xa với đạo.

    Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất thành Phật, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bửu. Cõi nước Ta-bà ngũ trược của đức Phật Thích-ca, chúng sanh nhiều nghiệp ác nên Phật mới phương tiện dùng Ngũ thừa hoặc Tam thừa để giáo hóa. Tại sao cõi nước Ly Cấu là cõi nước thanh tịnh, Phật cũng dùng ba thừa để giáo hóa? Đây là bản nguyện của tất cả chư Phật mười phương đều dùng phương tiện nói ba thừa. Sở dĩ gọi kiếp tên Đại Bửu Trang Nghiêm là vì kiếp đó có vô số Bồ-tát tu hành thanh tịnh, là những bậc cao minh trang nghiêm cõi Phật, chớ không phải cõi đó trang nghiêm bằng châu báu vàng bạc.

    Qua dữ kiện này, chúng ta thấy chùa nào Tăng Ni tu hành chân chánh thanh tịnh thì chùa đó được người đời quí trọng. Nếu chùa nào Tăng Ni phạm trai phá giới, tu hành lôi thôi thì người đời xem thường. Như vậy người đời quí kính là quí kính tâm người cao đẹp thanh tịnh, nếu tâm người ô uế bất tịnh thì không quí. Vậy, chư Tăng Ni đừng quan niệm rằng cất chùa cho thật to, thỉnh Phật cho thật lớn, trang hoàng cho thật lộng lẫy là người đời quí trọng chùa mình. Người đời quí kính là quí kính người tu chân chánh cầu đạo giải thoát, chớ không phải trọng cảnh đẹp. Cho nên người tu ngộ đạo dù cho vị đó mặc áo vá, ăn cơm hẩm, ở hang đá hay am tranh, người ta vẫn tìm đến lễ bái cúng dường. Đạo lý là ở nơi con người, người thanh tịnh mới đáng tôn kính quí trọng. Như vậy, người tu đừng có tâm mơ mộng tạo chùa cảnh cho đẹp để mai kia mình trụ trì, mà phải cố gắng nỗ lực tu, chính mình tu chân chánh mới dạy được người tu đàng hoàng, đó là trang nghiêm chùa cảnh.

    Muốn cõi Phật mình được trang nghiêm thì phải thực hiện đủ hai môn phước và tuệ. Về phần tuệ tự mình phải nỗ lực tu tỉnh để được giác ngộ viên mãn, về phần phước thì phải giáo hóa chúng sanh. Khi đã giáo hóa chúng sanh viên mãn thì thành Phật. Giả sử đời này chúng ta ngộ đạo là đã có trí tuệ, nhưng chưa giáo hóa chúng sanh làm sao có phước? Sở dĩ Bồ-tát khi thành Phật có vô số đồ đệ Thanh văn Bồ-tát, là những bậc tu phạm hạnh, tu Trí tuệ Phật, có sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, tâm ngay thật, chí bền vững, là do thời gian hành Bồ-tát đạo giáo hóa chúng sanh lâu dài, nên mới có quyến thuộc đông như vậy, và có phước tròn đầy nên mới được tôn xưng là Lưỡng Túc Tôn. Ngày nay, chúng ta tu muốn năm năm bảy năm thành Phật, trong khi chưa độ sanh làm sao được phước tuệ viên mãn? Vậy nếu được Phật thọ ký khoảng thời gian lâu dài sẽ thành Phật, chúng ta có buồn ngán không? Thời gian tu tập lâu dài thì việc lợi sanh cũng nhiều, phước đức thêm lớn. Khi việc tự giác giác tha đã viên mãn thì mới đủ phước và tuệ để thành Phật, quyến thuộc mới đông nhiều để trang nghiêm cõi Phật đúng như hạnh nguyện. Tu chỉ muốn năm năm, bảy năm thành Phật, làm sao có đủ phước tuệ để thành Phật? Dù muốn thành cũng không thể thành.

    Đoạn này có hai điểm đáng lưu ý. Kiếp chót của đức Thích-ca thành Phật sanh làm vương tử, ở đây Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất kiếp chót thành Phật cũng làm vương tử và các đức Phật cũng đều như vậy. Tại sao đời chót của chư Phật đều sanh làm vương tử mà không sanh trong gia đình bần cùng? Vì khi Bồ-tát tu tới quả vị Nhất sanh bổ xứ thì phước đức vô lượng vô biên, nên sanh làm vương tử mà không sanh vào chỗ xấu ác. Hơn nữa, vương tử bỏ ngôi đi tu, để cho mọi người thấy rằng Ngài đang ở trong ngũ dục lạc sung mãn, mà gan dạ từ bỏ ngũ dục lạc, khiến cho mọi người ngưỡng mộ kính phục để giáo hóa họ. Và một vương tử có đủ quyền thế mà còn từ bỏ, trong khi mọi người là những kẻ không có chút quyền hành, sao không gan dạ xả bỏ để tu?

    Phần trùng tụng lặp lại ý trên nên tôi không giảng, tuy nhiên bốn câu chót: Đấng Lưỡng Túc Tôn kia, rất hơn không ai bằng, Phật tức là thân ông, nên phải tự vui mừng. Tại sao nói “Phật tức là thân ông”? Vì ngài Xá-lợi-phất nhận ra Tri kiến Phật của chính mình, nên Ngài tin chắc sẽ thành Phật, và Ngài cũng được Phật thọ ký thành Phật. Bởi ngay nơi thân năm uẩn phàm phu này có sẵn Phật nhân nên nói Phật tức là thân này. Trong Chứng Đạo Ca của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đoạn mở đầu có câu “huyễn hóa không thân tức Pháp thân” nghĩa là ngay nơi thân năm uẩn duyên hợp huyễn hóa này tức là Pháp thân; Pháp thân không rời thân năm uẩn này mà có. Ngay thân năm uẩn của mỗi người ai cũng có sẵn Pháp thân, nhưng vì không dám nhận nên tự thấy mình là kẻ phàm phu vô phần, nếu đủ lòng tin dám nhận thì thấy mình có phần, sẽ thành Phật. Vậy không cần tìm kiếm Phật ở đâu xa, chỉ khéo nhận Pháp thân chân thật ngay nơi thân năm uẩn huyễn hóa này, và hằng sống với Pháp thân chân thật thì được an vui tự tại. Nên nói: Phật tức là thân ông, nên phải tự vui mừng.

    CHÁNH VĂN:

    9.- Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và cả đại chúng: trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà v.v... thấy Xá-lợi-phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cổi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. Thích đề-hoàn nhơn cùng Phạm Thiên vương v.v... và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la v.v... cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trỗi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng:

    - Đức Phật xưa ở thành Ba-la-nại, ban đầu chuyển pháp luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn Vô thượng.

    Lúc đó các thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    10.-

    Xưa ở thành Ba-nại
    Chuyển pháp luân bốn đế
    Phân biệt nói các pháp
    Sanh diệt của năm nhóm
    Nay lại chuyển pháp luân
    Rất lớn diệu Vô thượng
    Pháp đó rất sâu mầu
    Ít có người tin được.
    Chúng ta từ xưa lại
    Thường nghe Thế Tôn nói
    Chưa từng nghe thượng pháp
    Thâm diệu như thế này.
    Thế Tôn nói pháp đó
    Chúng ta đều tùy hỉ
    Đại trí Xá-lợi-phất
    Nay được lãnh Phật ký
    Chúng ta cũng như vậy
    Quyết sẽ đặng thành Phật
    Trong tất cả thế gian
    Rất tôn không còn trên
    Phật đạo chẳng thể bàn
    Phương tiện tùy nghi nói
    Ta bao nhiêu nghiệp phước
    Đời nay hoặc quá khứ
    Và công đức thấy Phật
    Trọn hồi hướng Phật đạo.

    GIẢNG:

    Lần đầu đức Phật nói pháp Tứ đế ở vườn Lộc Uyển, để phá ngã chấp cho năm anh em ông Kiều-trần-như khiến chứng Niết-bàn Thanh văn. Nay đức Phật nói pháp Vô thượng vi diệu khó tin khó hiểu, mà ngài Xá-lợi-phất có khả năng tin nhận và được Phật thọ ký, cho nên tất cả thính chúng trong pháp hội đều vui mừng tùy hỉ. Theo các kinh A-hàm thì ngài Xá-lợi-phất là đệ tử lớn của Phật, là người được thời trí, tức là trí tuệ ứng đối kịp thời, hỏi là đáp không cần suy nghĩ, khiến cho người nghe tiếp nhận dễ dàng, nên được khen ngợi là người trí tuệ bậc nhất, là hàng thượng căn. Khi nghe Phật nói pháp tối thượng vi diệu thì Ngài ngộ trước. Cả hội chúng đều hớn hở vui mừng cúng dường y, cúng dường hoa lên đức Phật. Đó là tâm tùy hỉ của người xưa vì đạo. Còn phần đông chúng ta ngày nay thấy có người hơn mình thì không vui, khởi lên những niệm tỵ hiềm, nên tu không tiến là ở chỗ đó. Phần Trùng tụng lặp lại ý trên không có gì khác nên khỏi giảng.

    CHÁNH VĂN:

    11.- Bấy giờ, Xá-lợi-phất bạch rằng:

    - Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật đặng thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết-bàn. Các vị hữu học, vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v... nói là đặng Niết-bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối.

    GIẢNG:

    Ngài Xá-lợi-phất thấy chỉ có Ngài và Bồ-tát Kiên Mãn được thọ ký, số người còn lại chưa được thọ ký. Với tâm lượng của đàn anh, Ngài được lợi ích thế nào thì cũng muốn cho huynh đệ được lợi ích như thế ấy, nên Ngài bạch với Phật rằng nay con không còn nghi hối, được Phật thọ ký. Còn một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo thuộc hàng hữu học và vô học ở trong chúng, thường theo Phật nghe pháp Tứ đế tu chứng Niết-bàn, nghe Thế Tôn nói về Tri kiến Phật, các Tỳ-kheo ấy nghi ngờ không biết mình có kham làm Phật không? Ngài Xá-lợi-phất muốn đức Phật vì một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo ấy mà giải thích rõ hơn, nên Ngài vừa tán thán công đức những vị ấy vừa cầu xin đức Phật thương xót mà nói pháp cho họ hết nghi lầm, đều được thọ ký như Ngài. Đó là tâm hạnh của Bồ-tát. Còn tâm lượng phàm phu thì khác, chỉ muốn mình hơn người chớ không muốn người bằng mình, vì có người bằng mình thì mình mất giá trị. Đó là tâm bệnh của chúng ta hiện nay.

    CHÁNH VĂN:

    12.- Khi ấy, Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Ta trước đâu không nói rằng: Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy hàng Bồ-tát vậy. Nhưng Xá-lợi-phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà đặng hiểu.

    GIẢNG:

    Tới đây, đức Phật bắt đầu chỉ cho mọi người biết rằng đoạn trước chư Phật dùng phương tiện này phương tiện nọ để giáo hóa chúng sanh, nhưng cuối cùng chỉ đưa họ đến quả vị Phật. Bây giờ muốn rõ thì nghe Phật thí dụ:

    CHÁNH VĂN:

    13.- Xá-lợi-phất! Như trong quốc, ấp, tụ lạc có vị Đại trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông: hoặc một trăm, hai trăm, cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chưn cột hư nát, trính xuyên xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa.

    Các người con của Trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó.

    14.- Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn, không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi.

    Xá-lợi-phất! Ông Trưởng giả đó lại nghĩ: Thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế v.v... từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ.

    Nhà này đã bị cháy phải liền mau ra, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? Gì là nhà? Thế nào là hại? Chỉ cứ Đông Tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi.

    GIẢNG:

    Đây là cái cớ đầu tiên của bậc đại trí, đức Phật đưa ví dụ ông Trưởng giả tuổi già, giàu có, nhiều ruộng vườn tôi tớ, nhà rộng lớn chỉ có một cửa để ra vào, cột kèo trính xuyên hư mục, vách phên xiêu vẹo, con trong nhà có hàng mấy chục người đang nô đùa chơi giỡn, bỗng lửa bốc cháy bốn phía nhà.

    Thấy lửa bốc cháy, ông Trưởng giả lo ngại và nghĩ rằng ông tuy ở trong nhà lửa, nếu muốn ra thì ra một cách dễ dàng, còn đám con của ông cứ mải miết chơi giỡn, không hề hay biết, không hề sợ lửa đốt cháy thân mình, cũng không có ý muốn ra khỏi nhà lửa. Ông Trưởng giả bảo các con mau ra khỏi nhà lửa, thế mà các người con không nghe nhìn ông rồi cứ chạy giỡn.

    Nhà lửa là chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đang bị lửa vô thường, lửa tham, sân, si thiêu đốt, mà chúng sanh ở trong ba cõi này không hay biết, không có ý muốn ra. Chúng ta sống trong cõi đời này, một ngày trôi qua là một ngày bị lửa vô thường thiêu đốt mòn một phần thân thể, một tháng trôi qua là một tháng bị lửa vô thường thiêu đốt thân mình, một năm trôi qua là một năm bị lửa vô thường thiêu hoại hình hài. Rồi sáu mươi năm, bảy mươi năm, tám mươi năm toàn thân con người bị thiêu rụi, hoàn toàn sụp đổ. Lửa vô thường thiêu đốt, làm hư hoại người vật từng giây phút, từng ngày giờ, từng năm tháng mà chúng ta không hay không biết! Xưa ông Trụ trì Thiện Phát ở Phước Hòa có vóc dáng tráng kiện, tươi trẻ, khi tới Huệ Nghiêm cũng còn khỏe mạnh, rồi tới Chân Không sức cũng còn kha khá, bây giờ ở Thường Chiếu thì đã già nua yếu đuối. Đó là một bằng chứng cụ thể, lửa vô thường âm thầm thiêu đốt tất cả người vật không ngừng nghỉ.

    Chúng ta xét kỹ rồi thương mình thương người, dù cho người có nhiều tiền của, nhà lầu, xe hơi, quyền thế danh vọng cũng không thoát được cái nạn lửa vô thường thiêu đốt. Vậy mà con người cứ mải đuổi theo danh lợi quyền thế và mong cho ngày tháng qua mau, trông chờ xuân đến để thực hiện những mộng mơ ước muốn của mình cho tốt. Đâu ngờ rằng mong ngày tháng qua mau, là mong lửa vô thường sớm thiêu rụi hình hài này! Tâm người quá mâu thuẫn, luôn luôn sợ chết, không muốn chết sớm, mà mong ngày tháng qua mau, thật là mê lầm điên đảo đáng thương. Nên Phật thuyết giáo cho biết thân là vô thường, các pháp là hư dối, tuy có nghe nhưng vẫn còn mê say ngũ dục, chưa có ý muốn ra khỏi. Cũng giống như những đứa con ông Trưởng giả, tuy nghe cha nói nhà cháy sắp sụp đổ, nguy hiểm tới rồi, mà vẫn cứ mải mê chơi giỡn, không chịu chạy ra, không nghe lời cha khuyên bảo. Đó là những đứa con ngu si bất hiếu. Vậy mà đêm nào chúng ta cũng lạy Phật cầu nguyện: Con kính tin Tam Bảo, học tu theo giáo pháp Phật để được giải thoát sanh tử. Và những buổi sám hối quì thưa có vẻ thống thiết lắm, nhưng rồi thì chứng nào tật nấy không chịu sửa đổi.

    Đời sống của người tu là đời sống cao thượng, ý thức được lý vô thường, biết rõ lửa vô thường đang âm ỉ đốt cháy thân mình, mong muốn thoát ra khỏi nhà lửa nên mới đi tu. Thế mà khi đi tu rồi lại quên, cũng tìm cách này cách nọ để giải trí cho vui, giết chết thì giờ vô ích. Để thời giờ và công sức vào việc tu học thì thấy như làm một việc khó nhọc cực khổ. Thí dụ tối và khuya tôi tăng giờ tụng kinh và ngồi thiền thì quí vị ngán, than không kham nổi. Còn nếu để cho quí vị vui chơi văn nghệ tới khuya thì không ai than thở, lại còn lấy làm thích thú. Vậy văn nghệ có cứu quí vị thoát khỏi lửa vô thường thiêu đốt không? Hay chỉ là những trò chơi giải trí cho vui, qua rồi thì mất? Việc tu là việc cấp thiết để giải khổ thì lại lơ là!

    Vì biết chư Tăng Ni có chí nguyện xuất gia cầu giải thoát sanh tử, tức là cầu ra khỏi nhà lửa, cho nên tôi khuyến khích thúc đẩy cho quí vị nỗ lực tu hành. Khuyến khích thúc đẩy là cái duyên tốt đưa quí vị ra khỏi sanh tử luân hồi, mà quí vị không biết đón nhận, lại có ý tránh né. Có người nói ở đây vừa làm việc, vừa học, vừa tu cực quá, để đi chỗ khác tu cho khỏe. Tu là tu cho quí vị chớ đâu phải tu cho tôi, quí vị tu một ngày là quí vị được lợi ích một ngày, tôi có được lợi ích gì đâu? Chúng ta mê muội tập khí sâu dày, tuy có tỉnh giác phát nguyện xuất gia, tuy xuất gia nhưng lâu rồi quên, trở lại thói cũ là ngu si của thuở xưa, cũng ham chơi, chạy theo những thú vui của thế tục, chớ không chịu lo tu hành để giải thoát sanh tử. Nếu là người trí khi đã xuất gia rồi thì trong lòng đau đáu, nghĩ phải làm sao thoát khỏi cái nhà lửa này, chớ không ngồi yên chờ cho lửa cháy tới thiêu rụi cả nhà, cả thân. Khi nào ra khỏi nhà lửa rồi mới an ổn vui chơi. Ngày nào còn trong nhà lửa là ngày đó phải tỉnh giác, biết sợ cái hiểm nguy của lửa vô thường thiêu đốt mà cố gắng thoát ra.

    CHÁNH VĂN:

    15.- Bấy giờ Trưởng giả liền nghĩ, nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không liền ra chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này.

    Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có, khó đặng mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa, nên mau ra đây, tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con.”

    Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình, nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau, cùng đua nhau ruổi chạy, tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con đặng an ổn ra khỏi nhà lửa, đều ở trong ngã tư đường ngồi nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở.

    Bấy giờ các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho.”

    GIẢNG:

    Nghiệm lại mới thấy cái si mê của chúng ta quá lắm, đang bị nguy hiểm bủa vây, đáng sợ mà không sợ, lại cứ mải miết tham mê, Phật kêu ra mà không ra. Thật đáng thương! Cho nên Ngài mới tìm cách dẫn dụ.

    Trưởng giả biết các con ham chơi, ưa thích đồ quí đẹp, nên bảo: “Các con mau ra khỏi nhà lửa, cha sẽ cho đồ chơi quí tốt như xe dê, xe hươu, xe trâu, ở ngoài cửa sẽ tùy ý dạo chơi, hãy ra mau!” Các người con nghe có đồ chơi tốt quí sanh lòng ham thích, đua nhau chạy ra.

    Tất cả chúng ta đều mê lầm nên Phật nói thẳng lẽ thật, chúng ta không kham tin nhận nên Ngài phải dùng phương tiện dụ dỗ mới chịu nghe. Cái mà đem ra dụ dỗ thì không thật, nhưng đức Phật lại nói. Tuy là cái dụ dỗ không thật mà vẫn hơn. Khi chúng sanh tu để ra khỏi nhà lửa tam giới, chỉ nghĩ sẽ được quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Nhưng khi ra khỏi nhà lửa rồi thì được Phật chỉ cho Phật thừa bình đẳng, quá sức tưởng tượng, quá điều mong ước của chúng sanh.

    Tới đây, chúng ta mới thấy lòng từ bi của đức Phật vô lượng vô biên, Ngài dùng đủ mọi phương tiện dẫn dụ, thế mà chúng ta có người nghe có người không nghe, cứ quanh quẩn trong cảnh nguy hiểm khổ đau không chịu ra. Thậm chí Ngài phải khai thác tâm lý để dẫn dụ: Ráng niệm Phật chừng mười câu, nếu được nhất tâm bất loạn thì được Phật A-di-đà và Thánh chúng đón về Cực lạc, ở đó không có khổ, cực kỳ vui sướng, muốn gì được nấy. Ngài biết chúng sanh đang ham mê ngũ dục lạc ở thế gian, ham tiền của, vàng bạc châu báu nên Phật nói ở cõi Cực Lạc đất cát thì bằng vàng, có lan can, lưới, cây, ao bằng bảy báu, lầu các làm bằng pha lê, xa-cừ, xích châu, mã não. Chúng sanh tham ưa mùi thơm, sắc đẹp, tiếng hay thì Phật nói cõi Cực Lạc có hoa sen lớn, có ánh sáng đủ màu, mùi thơm vi diệu, có nhạc trời, chim báu ngày đêm ca hát với âm thanh tuyệt diệu. Thích ăn ngon, Phật nói ở Cực Lạc muốn ăn liền có ăn... toàn là những cái đúng với sở thích của chúng sanh. Như vậy cho thấy đức Phật từ bi đáo để và rất khéo dùng phương tiện trị bệnh đam mê dục lạc của chúng sanh ở cõi này. Phật nói thẳng chúng sanh không nghe, không tin, nên phải dẫn dụ, dụ bằng cách này không được thì dụ bằng cách khác. Thấy tâm lượng của Phật, chúng ta vừa tôn kính Phật, mà cũng vừa tức cười cho mình là đứa bé bị dụ dỗ!

    CHÁNH VĂN:

    16.- Xá-lợi-phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó.

    Vì cớ sao? Vì ông Trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cực, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác.

    Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu huống gì các con.” Lúc ấy, các người con đều ngồi xe lớn đặng điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông.

    GIẢNG:

    Ông Trưởng giả dụ những người con ra khỏi nhà lửa sẽ cho ba xe, nhờ vậy mà chúng đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa. Khi chúng ra rồi ông Trưởng giả không cho ba xe, mà chỉ cho xe trâu trắng lớn bậc nhất, trang trí bằng những vật quí giá. Sở dĩ ông cho như vậy là vì tâm ông bình đẳng không muốn có sự sai biệt giữa các con. Vả lại ông là người giàu có của cải vô lượng, giả sử cho xe tốt đó khắp người trong thiên hạ cũng không thiếu. Vậy, xe trâu trắng đó là dụ cho Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người; nếu biết quay lại với chính mình, không đuổi theo trần cảnh thì Tri kiến Phật hiện tiền, lúc bấy giờ an vui, tự do, tự tại, vô ngại.

    Qua thí dụ này, chúng ta thấy cái đặc biệt của đạo Phật là nêu lên những cảnh vô thường, khổ não, bất như ý thường xuyên chi phối con người. Sau khi chỉ cho thấy những khổ đau rồi dạy phải tu để thoát khỏi cảnh khổ đó, thì sẽ được an vui tự tại vô ngại. Mới thoạt nhìn thấy đạo Phật như bi quan, nhưng nếu biết nhìn và biết sống đúng lẽ thật thì đạo Phật rất lạc quan và tích cực.

    CHÁNH VĂN:

    17.- Xá-lợi-phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông Trưởng giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng?

    Xá-lợi-phất thưa:

    - Thưa Thế Tôn! Không, ông Trưởng giả đó chỉ làm cho các người con đặng khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa.

    Thế Tôn! Dầu ông Trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông Trưởng giả đó trước có ý nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông Trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích cho các con mà đồng cho xe lớn.

    GIẢNG:

    Đức Phật hỏi ngài Xá-lợi-phất: Ông Trưởng giả hứa cho ba xe, bấy giờ các con ra khỏi nhà lửa, ông chỉ cho có một xe trâu trắng, như vậy ông có lỗi dối gạt không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời không. Vì ông Trưởng giả muốn cho các con khỏi bị lửa thiêu đốt thân mạng, nên dùng phương tiện dẫn dụ cho ra khỏi nhà lửa để thoát khỏi nạn khổ. Chẳng những không cho xe nhỏ mà lại cho xe lớn là điều quá tốt, quá sức tưởng tượng của các con, khiến chúng được điều chưa từng có, lợi ích vui sướng khôn lường. Cũng vậy, Phật thuyết pháp lập ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát rõ ràng. Tới đây Phật nói ba thừa đó không thật, chỉ có Phật thừa mới là cứu kính. Như vậy là sao? Điều này chúng ta phải hiểu cho thật kỹ. Đức Phật với tâm bình đẳng thương chúng sanh như nhau, không muốn có sự sai biệt giữa người này với người khác. Sở dĩ trước Phật lập ba thừa là vì căn cơ chúng sanh còn thấp, nên Phật tùy theo đó mà phương tiện hướng dẫn từ từ. Nay chúng đã đủ khả năng tin nhận nên Phật chỉ thẳng Phật thừa rốt ráo, để tất cả đều được lợi ích như nhau.

    CHÁNH VĂN:

    18.- Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

    - Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá-lợi-phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy, có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện, trí huệ ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa: sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    19.- Ta thấy các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này Đông Tây rảo chạy, dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo.

    GIẢNG:

    Đức Phật là bậc trí tuệ viên mãn, có đủ trí lực, vô sở úy, thần thông, ba-la-mật, vì thương tất cả chúng sanh còn đang mê đắm ngũ dục trong nhà lửa tam giới, nên Ngài mới nguyện sanh vào trong nhà lửa này để độ tất cả ra khỏi nhà lửa. Lửa đó là lửa: sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, lo, buồn. Lửa sanh, già, bệnh, chết âm ỉ thiêu đốt con người từ lúc tóc xanh cho tới bạc đầu không lúc nào dừng nghỉ. Còn lửa tham tài, tham sắc, tham danh... người muốn có nhiều tiền của hay danh vọng thì phải lao thần, hao khí, tổn giảm sức lực nhiều mới có tiền tài, danh vọng, và đã có rồi thì phải phí công gìn giữ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật có thí dụ: “Một cây hương khi được đốt lên, mùi hương lan tỏa dần ra, người xung quanh ngửi được mùi thơm thì cây hương cháy đã gần tàn.” Cũng vậy, khi chúng ta tạo cho đủ điều kiện để thành danh, có quyền lợi thì sức lực đã hao mòn, thân già tóc bạc... Nếu tham mà không được thỏa mãn thì sân hận nổi lên, hoặc lo buồn dấy khởi, tinh thần rối loạn, nói xằng làm bậy, thân tâm bất an, sức khỏe suy yếu. Đó là lửa tham, lửa sân, lửa si thiêu đốt con người, khiến cho người khổ đau bất tận.

    Sở dĩ chúng ta bị sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, lo, buồn, khổ não đốt cháy, là vì chúng ta thích ưa năm món dục lạc ở thế gian là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mắt thì mê sắc đẹp, tai thì ưa tiếng hay, mũi thì thích mùi thơm, lưỡi thì ưa vị ngon, thân thì thích xúc chạm cái trơn, láng, mềm, ấm... Nếu chạy theo năm món đó thì con người đau khổ. Suốt ngày đi làm nhọc mệt cho có tiền, để ăn cho thật ngon, mặc cho thật đẹp rồi tối đi xem hát, nghe nhạc... Cả ngày làm vất vả nhọc nhằn chỉ để thỏa mãn năm món dục lạc. Càng đuổi theo dục lạc càng bị lửa tham dục, lửa sân hận, lửa si mê đốt cháy khốn khổ vô cùng. Chẳng những khổ trong đời hiện tại, mà chính vì đuổi theo danh lợi, tài sắc mà con người gây nhiều tội lỗi tày trời. Khi đã tạo những cái nhân tày trời rồi, thì quả khổ địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh ở đời sau không tránh khỏi. Và thọ báo xong, nếu trở lại làm người thì cũng làm người cùng khổ, lại bị cái khổ người yêu thương xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ; bao nhiêu thứ khổ dồn dập không có ngày dừng, không có ngày ra.

    CHÁNH VĂN:

    20.- Xá-lợi-phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: “Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi.”

    Xá-lợi-phất! Đức Như Lai lại nghĩ: “Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí huệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sanh chẳng có thể do đó mà đặng độ thoát.”

    Vì sao? Vì các chúng sanh đó chưa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đương bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí huệ của Phật.

    GIẢNG:

    Con người mê lầm ngay trong đời hiện tại, khi còn khỏe mạnh thì chạy theo tài sắc, danh lợi... đến khi già chết thì lại lo di chúc cho con cháu chọn đất tốt để chôn, xây mộ cho kiên cố... Chết là thân tứ đại trả về cho tứ đại, thân này vô thường không giữ được, thế mà muốn tạo cái mộ để đời, tất cả đều là tướng vô thường làm sao giữ được? Lớp mê lầm này chồng chất lên lớp mê lầm kia, khổ này chồng lên khổ khác, bao giờ mới ra khỏi?

    Đức Phật nói Ngài có đủ sức thần thông và trí lực vì chúng sanh nói thẳng kinh Pháp Hoa, nhưng Ngài không áp dụng. Vì sức chúng sanh chưa kham tin nhận, nên phải bày những phương tiện như Tam thừa, hay cõi Cực Lạc... Nhờ những phương tiện này chúng sanh ứng dụng tu hành, tự thấy rõ ở trong tam giới là khổ, ham thích quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát là chỗ an vui, để tự cố gắng thoát ra khỏi nhà lửa tam giới. Phật ra vào trong tam giới tự do không ngại, tại sao Ngài không dùng thần thông hay trí lực đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử mà phải dùng phương tiện dẫn dụ? Vì muốn ra khỏi luân hồi sanh tử vĩnh viễn, thì mỗi người phải tự ý thức luân hồi sanh tử là khổ đau và tìm lối thoát ra. Đó là mỗi người tự tạo nhân rồi thọ quả, chớ Phật không thế được. Ví dụ một học giả thông minh tài giỏi đỗ Tiến sĩ, có những đứa con lười biếng học, ông biết học dốt thì thua sút bạn bè, ra đời khó sống. Ông thương, muốn chúng nó học giỏi như ông, mà chúng cứ lười biếng ỷ lại cha mình là người thông minh tài giỏi nên không chịu học hành. Ông tuy thương con, nhưng không thể đem cái thông minh học giỏi của mình cho con được, nên mới dụ các con hãy ráng học ông sẽ cho đồ chơi, để cho các con ham mà lo học thành người tài giỏi. Cũng giống như Phật dẫn dụ chúng sanh thực hành theo lời Ngài dạy để được hết khổ...

    Hiện tại chúng ta tu cứ cầu Phật cho mình thế này cho mình thế khác. Rõ ràng, nếu cho được cứu được thì Phật đã dùng thần thông trí lực khiến cho chúng sanh không già, không bệnh, không chết, cũng như hết tham, hết sân, hết si. Thế mà, chính thân tứ đại của Ngài cũng già cũng chết; tham, sân, si cũng do Ngài tu mới hết và mới thành Phật. Đây là một lẽ thật mà tất cả mọi người tu Phật phải biết và cố gắng thực hành lời Phật dạy để thoát khỏi khổ đau, chớ không phải do lễ lạy van vái mà Phật ban vui cứu khổ cho chúng ta được.

    CHÁNH VĂN:

    21.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, vậy sau đều cho xe trân báu lớn.

    Đức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí tuệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa, mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thinh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sanh ái nhiễm thời sẽ bị nó đốt, các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ đặng chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa.

    Nay ta vì các ngươi mà bảo nhiệm việc đó quyết không dối vậy. Các ngươi chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành.” Đức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sanh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng Thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc, không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo, thiền định vô lậu, cùng giải thoát tam-muội v.v... để tự vui sướng, đặng vô lượng sự an ổn khoái lạc.”

    GIẢNG:

    Thích ưa sắc, thanh, hương, vị, xúc là cái vui tạm bợ thô hèn. Nếu còn kẹt trong ngũ dục là còn có ái nhiễm, có ái nhiễm là bị lửa tham dục thiêu đốt. Muốn ra khỏi ba cõi thì đừng đuổi theo ngũ dục lạc. Nếu dứt được ngũ dục lạc thì sẽ được ba thừa, và khi được ba thừa thì sẽ được an lạc, tức là đã ra khỏi nhà lửa tam giới.

    CHÁNH VĂN:

    22.- Xá-lợi-phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có Trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết-bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa.

    Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí huệ tự nhiên, ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa.

    Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn, cầu Nhứt thiết trí, Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, các món Tri kiến lực, Vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại thừa, Bồ-tát vì cầu đặng thừa này thời gọi là Ma-ha-tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.

    GIẢNG:

    Trở lại ví dụ nhà lửa với ba xe. Nếu người nghe Phật nói pháp Tứ đế tinh tấn tu hành chứng Niết-bàn gọi là Thanh văn thừa, dụ như những người con cầu xe dê. Người nghe Phật nói Mười hai nhân duyên, ở chỗ vắng vẻ quán sát lý duyên sanh của các pháp gọi là Duyên giác thừa, dụ như những người con cầu xe hươu. Người nghe pháp tin nhận, tinh tấn tu hành cầu Nhất thiết trí, Phật trí, có lòng từ bi vô lượng làm lợi ích cho chúng sanh gọi là Đại thừa, dụ như những người con cầu xe trâu.

    CHÁNH VĂN:

    23.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi đặng sự vui Niết-bàn.

    Bấy giờ đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí huệ, lực vô úy v.v... tạng pháp của các đức Phật, các chúng sanh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sanh nó diệt độ.

    Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui Thiền định giải thoát v.v... của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng Thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhứt.”

    24.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông Trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó.

    Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết.

    Xá-lợi-phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba.

    GIẢNG:

    Phật hỏi lại ngài Xá-lợi-phất một lần nữa. Khi các con ra khỏi nhà lửa được an ổn, ông Trưởng giả bình đẳng cho các con một thứ xe là xe trâu trắng. Cũng như đức Phật tuy có phương tiện nói ba thừa, nhưng khi chúng sanh đủ khả năng kham nhận, Phật nói ba thừa là không thật, chỉ thẳng Tri kiến Phật là chỗ cứu kính mà chư Phật hằng khen ngợi hằng hộ niệm, như vậy Ngài có mắc lỗi nói dối hay không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời rằng: “Phật không có lỗi nói dối, vì Phật từ bi, phương tiện và bình đẳng độ cho chúng sanh thoát khỏi khổ đau.”

    Đức Phật kết thúc chỗ cứu kính chỉ có một Phật thừa, nhưng vì phương tiện nên nói thành ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.

    CHÁNH VĂN:

    Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    25.-     

    Thí như ông Trưởng giả
    Có một nhà rất lớn
    Nhà đó đã lâu cũ
    Mà lại rất xấu xa
    Phòng nhà vừa cao nguy
    Gốc cột lại gãy mục
    Trính xuyên đều xiêu vẹo
    Nền móng đã nát rã
    Vách phên đều sụp đổ
    Đất bủn rơi rớt xuống
    Tranh lợp sa tán loạn
    Kèo, đòn sai rời khớp
    Bốn bề đều cong vạy
    Khắp đầy những tạp nhơ
    Có đến năm trăm người
    Ở đỗ nơi trong đó
    Chim xi, hiêu, điêu, thứu
    Quạ, chim thước, cưu, cáp
    Loài ngươn xà, phúc yết
    Giống ngô công, do-diên
    Loài thủ công, bá túc
    Dứu, ly cùng hề thử
    Các giống độc trùng dữ
    Ngang dọc xen ruổi chạy
    Chỗ phân giải hôi thúi
    Đồ bất tịnh chảy tràn
    Các loài trùng khương lương
    Bu nhóm ở trên đó
    Cáo, sói cùng dã can
    Liếm nhai và dày đạp
    Cắn xé những thây chết
    Xương thịt bừa bãi ra
    Do đây mà bầy chó
    Đua nhau đến ngoạm lấy
    Ốm đói và sợ sệt
    Nơi nơi tìm món ăn
    Giành giựt cấu xé nhau
    Gầm gừ gào sủa rân
    Nhà đó sự đáng sợ
    Những biến trạng dường ấy
    Khắp chỗ đều có những
    Quỉ, ly, mị, vọng, lượng
    Quỉ dạ-xoa, quỉ dữ
    Nuốt ăn cả thịt người
    Các loại trùng độc dữ
    Những cầm thú hung ác
    Ấp, cho bú sản sanh
    Đều tự giấu gìn giữ
    Quỉ dạ-xoa đua đến
    Giành bắt mà ăn đó
    Ăn đó no nê rồi
    Lòng hung dữ thêm hăng
    Tiếng chúng đánh cãi nhau
    Thật rất đáng lo sợ
    Những quỉ cưu-bàn-trà
    Ngồi xổm trên đống đất
    Hoặc có lúc hỏng đất
    Một thước hay hai thước
    Qua rồi lại dạo đi
    Buông lung chơi cùng giỡn
    Nắm hai chân của chó
    Đánh cho la thất thanh
    Lấy chân đạp trên cổ
    Khủng bố chó để vui
    Lại có các giống quỉ
    Thân nó rất cao lớn
    Trần truồng thân đen xấu
    Thường ở luôn trong đó
    Rền tiếng hung ác lớn
    Kêu la tìm món ăn
    Lại có các giống quỉ
    Cổ nó nhỏ bằng kim
    Lại có các giống quỉ
    Đầu nó như đầu trâu
    Hoặc là ăn thịt người
    Hoặc lại ăn thịt chó
    Đầu tóc rối tung lên
    Rất ác lại hung hiểm
    Bị đói khát bức ngặt
    Kêu la vừa rong chạy
    Dạ-xoa cùng quỉ đói
    Các chim muông ác độc
    Đói gấp rảo bốn bề
    Rình xem nơi cửa sổ
    Các nạn dường thế đấy
    Vô lượng việc ghê sợ.

    GIẢNG:

    Nhà đã hư mục xiêu vẹo, bị lửa lớn đốt cháy, trong nhà có những cảnh khổ đang diễn ra như: các loài thú dữ, các loài ma quỉ độc ác... luôn luôn tìm cách đe dọa và chực cắn nuốt lẫn nhau. Những chúng sanh trong cõi tam giới cũng thế. Ở cõi Dục, ngoài cái khổ sanh, già, bệnh, chết bức ngặt bản thân; ngoài cái khổ do tham, sân, si, mạn, nghi, đố kỵ... ở nội tâm dày vò, giằng co, còn bị những cái khổ bên ngoài như nghèo thiếu, đấu tranh, chúng sanh với chúng sanh gây họa hại cho nhau, chém giết lẫn nhau... không sao kể xiết. Ở đây đức Phật diễn tả bằng những hình ảnh cọp sói giành giựt mồi cắn xé lẫn nhau, yêu quỉ, hung thần rình rập ăn nuốt thịt người, ăn nuốt thịt thú... Những chúng sanh ở cõi Sắc và Vô sắc tuy có sung sướng thỏa mãn khoái lạc, không còn bị khổ xác thân nhưng vẫn còn bị sự biến dịch của tâm hồn, vẫn còn bị luật vô thường chi phối, hết phước cũng bị đọa lạc nên vẫn còn khổ.

    CHÁNH VĂN:

    26.-

    Nhà cũ mục trên đó
    Thuộc ở nơi một người
    Người ấy vừa mới ra
    Thời gian chưa bao lâu
    Rồi sau nhà cửa đó
    Bỗng nhiên lửa cháy đỏ
    Đồng một lúc bốn bề
    Ngọn lửa đều hừng hực
    Rường cột và trính xuyên
    Tiếng tách nổ vang động
    Nát gãy rơi rớt xuống
    Vách phên đều lở ngã,
    Các loại quỉ thần thảy
    Đồng cất tiếng kêu to,
    Các giống chim, điêu, thứu
    Quỉ cưu-bàn-trà thảy
    Kinh sợ chạy sảng sốt
    Vẫn không tự ra đặng
    Thú dữ loài trùng độc
    Chui núp trong lỗ hang,
    Các quỉ tỳ-xá-xà
    Cũng ở trong hang đó
    Vì phước đức kém vậy
    Bị lửa đến đốt bức
    Lại tàn hại lẫn nhau
    Uống máu ăn thịt nhau.
    Những loại thú dã can
    Thời đều đã chết trước
    Các giống thú dữ lớn
    Giành đua đến ăn nuốt
    Khói tanh bay phùn phụt
    Phủ khắp bít bốn bề
    Loài ngô công, do-diên
    Cùng với rắn hung độc
    Bị lửa lòn đốt cháy
    Tranh nhau chạy khỏi hang
    Quỉ bàn-trà rình chờ
    Liền bắt lấy mà ăn
    Lại có các ngạ quỉ
    Trên đầu lửa bật cháy
    Đói khát rất nóng khổ
    Sảng sốt chạy quàng lên
    Nhà lửa đó dường ấy
    Rất đáng nên ghê sợ
    Độc hại cùng tai lửa
    Các nạn chẳng phải một.

    GIẢNG:

    Đoạn này đức Phật diễn tả lại cảnh khổ của các người con trong nhà lửa, nào là các loài quỉ dữ, các giống thú dữ, các loài trùng độc đang làm hại lẫn nhau... Ông Trưởng giả là người đã ra khỏi nhà lửa, là vị chủ nhân của căn nhà này. Thấy lửa đang cháy, các con đang bị lửa thiêu đốt vô cùng khốn khổ, ông thương và lo cho những người còn ở trong nhà này.

    CHÁNH VĂN:

    27.-

    Lúc bấy giờ chủ nhà
    Đứng ở nơi ngoài cửa
    Nghe có người mách rằng:
    Các người con của ông
    Trước đây vì dạo chơi
    Mà đến vào nhà này
    Thơ bé không hiểu biết
    Chỉ vui ham ưa đắm.
    Trưởng giả vừa nghe xong
    Kinh sợ vào nhà lửa
    Tìm phương nghi cứu tế
    Cho con khỏi thiêu hại
    Mà dụ bảo các con
    Nói rõ các hoạn nạn:
    Nào ác quỉ độc trùng
    Hỏa tai lan tràn cháy
    Các sự khổ thứ lớp
    Nối luôn không hề dứt
    Loài độc xà, nguơn phúc
    Và các quỉ dạ-xoa
    Cùng quỉ cưu-bàn-trà
    Những dã can, chồn, chó
    Chim điêu, thứu, xi, hiêu
    Lại giống bá túc thảy
    Đều đói khát khổ gấp
    Rất đáng phải ghê sợ
    Chỗ khổ nạn như thế
    Huống lại là lửa lớn
    Các con nhỏ không hiểu
    Dầu có nghe cha dạy
    Cứ vẫn còn ham ưa
    Vui chơi mãi không thôi.

    GIẢNG:

    Ông Trưởng giả ra khỏi nhà lửa, biết đàn con mình đang bị lửa thiêu đốt mà không hay, cứ say mê chơi giỡn, thích ưa đồ chơi không có giá trị, không biết lối ra, mắc phải nạn lửa thiêu đốt.

    CHÁNH VĂN:

    28.-     

    Bấy giờ Trưởng giả kia
    Mới bèn nghĩ thế này:
    Các con như thế đó
    Làm ta thêm sầu não.
    Nay trong nhà lửa này
    Không một việc đáng vui
    Mà các con ngây dại
    Vẫn ham mê vui chơi
    Chẳng chịu nghe lời ta
    Toan sẽ bị lửa hại
    Ông bèn lại suy nghĩ
    Nên bày các phương tiện
    Bảo với các con rằng:
    Cha có rất nhiều thứ
    Các đồ chơi trân kỳ
    Những xe báu tốt đẹp
    Nào xe dê, xe hươu
    Cùng với xe trâu lớn
    Hiện để ở ngoài cửa
    Các con mau ra đây
    Cha chính vì các con
    Mà sắm những xe này
    Tùy ý các con thích
    Có thể để dạo chơi
    Các con nghe cha nói
    Các thứ xe như vậy
    Tức thời cùng giành đua
    Rảo chạy ra khỏi nhà
    Đến nơi khoảng đất trống
    Rời những sự khổ nạn.
    Trưởng giả thấy các con
    Được ra khỏi nhà lửa
    Ở nơi ngã tư đường
    Đều ngồi tòa sư tử
    Ông  bèn tự mừng rằng
    Ta nay rất mừng vui
    Những đứa con ta đây
    Đẻ nuôi rất khó lắm
    Chúng nhỏ dại không hiểu
    Mới lầm vào nhà hiểm
    Có nhiều loài trùng độc
    Quỉ ly mị đáng sợ
    Lửa lớn cháy hừng hực
    Bốn phía đều phựt lên
    Mà các trẻ con này
    Lại ham ưa vui chơi
    Nay ta đã cứu chúng
    Khiến đều được thoát nạn
    Vì thế các người ơi!
    Ta nay rất vui mừng.
    Khi ấy các người con
    Biết cha đã ngồi an
    Đều đến bên chỗ cha
    Mà thưa cùng cha rằng:
    Xin cha cho chúng con
    Ba thứ xe báu lạ
    Như vừa rồi cha hứa
    Các con mau ra đây
    Sẽ cho ba thứ xe
    Tùy ý các con muốn
    Bây giờ chính phải lúc
    Xin cha thương cấp cho.

    GIẢNG:

    Ông Trưởng giả khi biết đàn con đang say mê chơi giỡn trong nhà lửa, ông lấy làm lo ngại, muốn cho chúng ra khỏi nhà lửa, phải dùng phương tiện dụ dỗ cho các thứ đồ chơi quí báu như xe dê, xe hươu, xe trâu tùy theo ý thích, nếu chạy ra thì sẽ được cho. Những người con nghe nói thế, đua nhau chạy ra khỏi nhà. Khi các con ra khỏi nhà lửa thì ông Trưởng giả rất vui mừng và đàn con bu quanh xin ông cho đồ chơi báu đẹp. Những người con trong nhà lửa này khi ra khỏi nhà lửa là đã thoát nạn mà không nghĩ mình đã thoát nạn, vẫn còn mang lòng tham, mong cầu đồ chơi quí đẹp. Cũng vậy, chúng ta tu cứ nghĩ tới chứng đắc quả vị này quả vị khác, chớ không biết rằng chủ yếu của sự tu hành là xả ly mọi cố chấp mọi loạn tưởng; hết chấp hết loạn tưởng thì tự nhiên được an vui giải thoát. Hiểu như vậy mới thấy được lý đạo. Phần nhiều chúng ta tu bị kẹt trên phương tiện, hết kẹt phương tiện này đến phương tiện khác, đó là do bệnh si mê, nói lẽ thật không chịu tin nhận, cứ tham lam ham chứng đắc nên mãi chìm trong luân hồi sanh tử.

    CHÁNH VĂN:

    29.-

    Trưởng giả giàu có lớn
    Kho đụn rất nhiều đầy
    Vàng bạc cùng lưu-ly
    Xa-cừ ngọc mã não
    Dùng những món vật báu
    Tạo thành các xe lớn
    Chưng dọn trang nghiêm đẹp
    Khắp vòng có bao lơn
    Bốn mặt đều treo linh
    Dây vàng xen thắt tụi
    Lưới mành kết trân châu
    Giăng bày phủ phía trên
    Hoa vàng các chuỗi ngọc
    Lòng thòng rủ khắp chỗ
    Các màu trang sức đẹp
    Khắp vòng xây quanh xe
    Dùng nhiễu hàng mềm mại
    Để làm nệm lót ngồi
    Vải quí mịn rất tốt
    Giá trị đến nghìn muôn
    Bóng láng trắng sạch sẽ
    Dùng trải trùm trên nệm
    Có trâu trắng to lớn
    Mập khỏe nhiều sức mạnh
    Thân hình rất tươi tốt
    Để kéo xe báu đó
    Đông những tôi và tớ
    Mà chực hầu giữ gìn
    Đem xe đẹp như thế
    Đồng ban cho các con
    Các con lúc bấy giờ
    Rất vui mừng hớn hở
    Ngồi trên xe báu đó
    Dạo đi khắp bốn phương
    Vui chơi nhiều khoái lạc
    Tự tại không ngăn ngại.

    GIẢNG:

    Khi các con ra khỏi nhà lửa, đến vây quanh ông Trưởng giả xin đồ chơi. Với tâm bình đẳng, ông cho các con toàn xe trâu trắng trang hoàng bằng những vật báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự mong ước của các con.

    CHÁNH VĂN:

    30.-

    Bảo Xá-lợi-phất này
    Đức Phật cũng như vậy
    Tôn cả trong hàng Thánh
    Cha lành của trong đời
    Tất cả các chúng sanh
    Đều là con của ta
    Say mê theo thế lạc
    Không có chút huệ tâm.
    Ba cõi hiểm không an
    Dường như nhà lửa cháy
    Các nạn khổ dẫy đầy
    Rất đáng nên ghê sợ
    Thường có những sanh, già
    Bịnh, chết và rầu lo
    Các thứ lửa như thế.
    Cháy hừng chẳng tắt dứt.
    Đức Như Lai đã lìa
    Nhà lửa ba cõi đó
    Vắng lặng ở thong thả
    An ổn trong rừng nội
    Hiện nay ba cõi này
    Đều là của ta cả
    Những chúng sanh trong đó
    Cũng là con của ta.
    Mà nay trong ba cõi
    Có nhiều thứ hoạn nạn
    Chỉ riêng một mình ta
    Có thể cứu hộ chúng
    Dầu lại đã dạy bảo
    Mà vẫn không tin nhận
    Vì nơi các dục nhiễm
    Rất sanh lòng tham mê
    Bởi thế nên phương tiện
    Vì chúng nói ba thừa
    Khiến cho các chúng sanh
    Rõ ba cõi là khổ
    Mở bày cùng diễn nói
    Những đạo pháp xuất thế
    Các người con đó thảy
    Nếu nơi tâm quyết định
    Đầy đủ ba món minh
    Và sáu món thần thông
    Có người được Duyên giác
    Hoặc bất thối Bồ-tát.
    Xá-lợi-phất phải biết
    Ta vì các chúng sanh
    Dùng món thí dụ này
    Để nói một Phật thừa
    Các ông nếu có thể
    Tin nhận lời nói đây
    Tất cả người đều sẽ
    Chứng thành quả Phật đạo.

    GIẢNG:

    Tòa nhà xiêu vẹo hư mục đang bốc cháy, dụ như ở trong ba cõi, chính bản thân của chúng sanh đang bị lửa vô thường thiêu đốt, không thân nào, cảnh nào là không bị lửa tàn phá. Ở trong nhà lửa có đủ thứ hình tướng ghê tởm, đủ thứ hung hiểm ác độc đe dọa sát hại lẫn nhau, đó là dụ cho tham sân si biến ra thiên hình vạn trạng làm khổ con người mà không ai biết. Vì vậy Phật phương tiện dẫn dụ Niết-bàn Thanh văn, Niết-bàn Duyên giác, Niết-bàn Bồ-tát để cho chúng sanh thích, tu hành thoát khỏi phiền não khổ đau. Sau cùng Phật chỉ thẳng Tri kiến Phật là chỗ cứu kính viên mãn. Nếu người đến được chỗ rốt ráo này thì an vui tự tại vô ngại.

    CHÁNH VĂN:

    31.-     

    Phật thừa đây vi diệu
    Rất thanh tịnh thứ nhứt
    Ở trong các thế gian
    Không còn pháp nào trên
    Của các Phật vui ưa
    Tất cả hàng chúng sanh
    Đều phải nên khen ngợi
    Và cúng dường lễ bái
    Đủ vô lượng nghìn ức
    Các trí lực, giải thoát
    Thiền định và trí huệ
    Cùng pháp khác của Phật
    Chứng đặng thừa như thế
    Khắp cho các con thảy,
    Ngày đêm cùng kiếp số
    Thường đặng ngồi dạo chơi
    Cho các hàng Bồ-tát
    Cùng với chúng Thanh văn
    Nương nơi thừa báu này
    Mà thẳng đến đạo tràng
    Vì bởi nhân duyên đó
    Tìm kỹ khắp mười phương
    Lại không thừa nào khác
    Trừ Phật dùng phương tiện
    Bảo với Xá-lợi-phất
    Bọn ông các người thảy
    Đều là con của ta
    Ta thời là cha lành.
    Các ông trải nhiều kiếp
    Bị các sự khổ đốt
    Ta đều đã cứu vớt
    Cho ra khỏi ba cõi
    Ta dầu ngày trước nói
    Các ông được diệt độ
    Nhưng chỉ hết sanh tử
    Mà thiệt thời chẳng diệt
    Nay việc nên phải làm
    Chỉ có trí huệ Phật
    Nếu có Bồ-tát nào
    Ở trong hàng chúng này
    Có thể một lòng nghe
    Pháp thật của các Phật
    Các đức Phật Thế Tôn
    Dầu dùng chước phương tiện
    Mà chúng sanh được độ
    Đều là Bồ-tát cả.

    GIẢNG:

    Phật thừa là pháp vi diệu thanh tịnh bậc nhất, trong thế gian này không có pháp nào hơn được, nên phải khen ngợi. Nếu người nào ưa vui tin nhận được pháp này thì chắc chắn những người đó sẽ thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    32.-

    Nếu có người trí nhỏ
    Quá mê nơi ái dục
    Phật bèn vì bọn này
    Mà nói lý Khổ đế
    Chúng sanh nghe lòng mừng
    Đặng điều chưa từng có
    Đức Phật nói Khổ đế
    Chân thật không sai khác
    Nếu lại có chúng sanh
    Không rõ biết gốc khổ
    Quá say nơi khổ nhân
    Chẳng tạm rời bỏ được
    Phật vì hạng người này
    Dùng phương tiện nói dạy
    Nguyên nhân có các khổ
    Tham dục là cội gốc
    Nếu dứt được tham dục
    Khổ không chỗ nương đỗ
    Dứt hết hẳn các khổ
    Gọi là đế thứ ba.
    Vì chứng Diệt đế vậy
    Mà tu hành Đạo đế
    Lìa hết các khổ phược
    Gọi đó là giải thoát
    Người đó nơi pháp gì
    Mà nói đặng giải thoát?
    Chỉ xa rời hư vọng
    Gọi đó là giải thoát
    Kỳ thiệt chưa phải được
    Giải thoát hẳn tất cả
    Đức Phật nói người đó
    Chưa phải thiệt diệt độ
    Vì người đó chưa được
    Đạo quả Vô thượng vậy
    Ý của ta không muốn
    Cho đó đến diệt độ
    Ta là đấng Pháp vương
    Tự tại nơi các pháp
    Vì an ổn chúng sanh
    Nên hiện ra nơi đời
    Xá-lợi-phất phải biết
    Pháp ấn của ta đây
    Vì muốn làm lợi ích
    Cho thế gian nên nói
    Tại chỗ ông đi qua
    Chớ có vọng tuyên truyền
    Nếu có người nghe đến
    Tùy hỉ kính nhận lấy
    Phải biết rằng người ấy
    Là bậc bất thối chuyển
    Nếu có người tin nhận
    Kinh pháp Vô thượng này
    Thời người đó đã từng
    Thấy các Phật quá khứ
    Cung kính và cúng dường
    Cũng được nghe pháp này
    Nếu người nào có thể
    Tin chịu lời ông nói
    Thời chính là thấy Ta
    Cũng là thấy nơi ông
    Cùng các chúng Tỳ-kheo
    Và các hàng Bồ-tát.

    GIẢNG:

    Đối với những người tâm ý nhỏ hẹp không nhận được pháp lớn, nên Phật phương tiện nói Khổ đế, rồi từ Khổ đế Ngài chỉ nguyên nhân gây ra khổ là Tập đế. Khi đã biết Khổ đế, Tập đế, Ngài mới nói Diệt đế tức là Niết-bàn, muốn đến Niết-bàn là phải biết đường lối tu hành tức là Đạo đế. Nếu người y cứ pháp Tứ đế tu hành thì sẽ chứng được quả A-la-hán. Nhưng quả A-la-hán chưa thật là diệt độ, chưa thật là Niết-bàn. Tại sao? Vì các vị tu pháp Tứ đế thấy thân tâm này bị vô thường chi phối nên mới khổ đau. Gốc của khổ đau là tham, sân, si mà tham, sân, si lại là hư vọng. Những thứ hư vọng đó sạch hết tức là dứt được cái nhân luân hồi sanh tử gọi là Diệt đế. Thanh văn chỉ dẹp được phiền não hư vọng chưa nhận được Tri kiến Phật nơi mình, nên đây Phật nói: “Chỉ xa rời hư vọng gọi đó là giải thoát.” Còn hàng Bồ-tát hay Phật thừa thì nhận ra nơi mình có Tri kiến Phật. Nhận ra nơi mình có Tri kiến Phật rồi thì buông hết những cái hư vọng không thật.

    Ví dụ cái áo bị dính những vết nhơ, khi tẩy hết những vết nhơ thì nói cái áo đã sạch, kỳ thật chỉ hết những vết nhơ chớ chưa thật sạch. Muốn sạch, sau khi tẩy các vết nhơ rồi phải đem cả cái áo ra giặt giũ, chừng đó mới thật sạch. Những vết nhơ sạch là cái sạch tương đối, cái áo sạch toàn diện mới là cái sạch tuyệt đối. Cũng vậy, khi dứt được tham, sân, si, phiền não hư vọng thì tâm lặng lẽ gọi là Niết-bàn giải thoát. Niết-bàn này chỉ là Niết-bàn tiêu cực, chưa có diệu dụng tích cực, nên có nhiều vị A-la-hán chứng Niết-bàn an trụ trong vắng lặng, rồi diệt độ luôn không làm lợi ích chúng sanh. Còn hàng Bồ-tát nhận ra Tri kiến Phật, đoạn dứt nhân luân hồi sanh tử có đủ diệu dụng như: Thập lực, Tứ vô sở úy... ra giáo hóa làm lợi ích chúng sanh. Đó là tinh thần tiêu cực và tích cực của Thanh văn và Bồ-tát.

    CHÁNH VĂN:

    33.-

    Phật vì người trí sâu
    Nói kinh Pháp Hoa này
    Kẻ thức cạn nghe đến
    Mê lầm không hiểu được
    Tất cả hàng Thanh văn
    Cùng với Bích-chi Phật
    Ở trong kinh pháp này
    Sức kia không hiểu được.
    Chính ông Xá-lợi-phất
    Hãy còn nơi kinh này
    Dùng lòng tin đặng vào
    Huống là Thanh văn khác
    Bao nhiêu Thanh văn khác
    Do tin theo lời Phật
    Mà tùy thuận kinh này
    Chẳng phải trí của mình.

    GIẢNG:

    Phật vì người trí sâu nói kinh Pháp Hoa, bởi hạng người này mới có đủ khả năng tin nhận. Còn hạng trí cạn hẹp như Thanh văn, Duyên giác thì không thể hiểu. Chính ngài Xá-lợi-phất đối với kinh Pháp Hoa phải do lòng tin mà vào, huống là những hàng Thanh văn khác.

    CHÁNH VĂN:

    34.-

    Lại nầy Xá-lợi-phất!
    Kẻ kiêu mạn biếng lười
    Vọng so chấp lấy ngã
    Chớ vì nói kinh này
    Hạng phàm phu biết cạn
    Quá mê năm món dục
    Nghe pháp không hiểu được
    Cũng chẳng nên vì nói
    Nếu có người không tin
    Khinh hủy chê kinh này
    Thời là dứt tất cả
    Giống Phật ở thế gian.
    Nếu có người xịu mặt
    Mà cưu lòng nghi hoặc
    Ông nên lóng nghe nói
    Tội báo của người đó
    Hoặc Phật còn tại thế
    Hoặc sau khi diệt độ
    Nếu có người chê bai
    Kinh điển như thế nầy
    Thấy có người đọc tụng
    Biên chép, thọ trì kinh
    Rồi khinh tiện ghét ganh
    Mà cưu lòng kết hờn
    Tội báo của người đó
    Ông nay lại lóng nghe
    Người đó khi mạng chung
    Sa vào ngục A-tỳ
    Đầy đủ một kiếp chẵn
    Kiếp mãn hết lại sanh
    Cứ xoay vần như thế
    Nhẫn đến vô số kiếp
    Từ trong địa ngục ra
    Sẽ đọa vào súc sanh,
    Hoặc làm chó, dã can
    Thân thể nó ốm gầy
    Đen điu thêm ghẻ lác
    Bị người thường chọc ghẹo
    Lại còn phải bị người
    Gớm nhờm và ghét rẻ
    Thường ngày đói khát khổ
    Xương thịt đều khô khan
    Lúc sống chịu khổ sở
    Chết bị ném ngói đá
    Vì đoạn mất giống Phật
    Nên thọ tội báo đó
    Hoặc sanh làm lạc đà
    Hoặc sanh vào loài lừa
    Thân thường mang kéo nặng
    Lại thêm bị đánh đập
    Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ
    Ngoài ra không biết gì
    Vì khinh chê kinh này
    Mà mắc tội như vậy.
    Có khi làm dã can
    Đi vào trong xóm làng
    Thân thể đầy ghẻ lác
    Lại chột hết một mắt
    Bị bọn trẻ nhỏ vây
    Theo đánh đập liệng ném
    Chịu nhiều các đau khổ
    Hoặc có lúc phải chết
    Ở đây vừa chết rồi
    Liền lại thọ thân rắn
    Thân thể nó dài lớn
    Đến năm trăm do-tuần
    Điếc ngây và không chưn
    Lăn lóc đi bằng bụng
    Bị các loài trùng nhỏ
    Cắn rút ăn thịt máu
    Bị khổ cả ngày đêm
    Không tạm có ngừng nghỉ
    Vì khinh chê kinh này
    Mà mắc tội như vậy
    Nếu được sanh làm người
    Các căn đều ám độn
    Lùn xấu lại lệt què
    Đui điếc thêm lưng gù
    Có nói ra lời gì
    Mọi người không tin nhận
    Hơi miệng thường hôi thúi
    Bị quỉ mị dựa nhập
    Nghèo cùng rất hèn hạ
    Bị người sai khiến luôn
    Nhiều bịnh, thân ốm gầy
    Không có chỗ cậy nhờ
    Dầu nương gần với người
    Mà người chẳng để ý
    Nếu có đặng điều chi
    Thời liền lại quên mất
    Nếu học qua nghề thuốc
    Theo đúng phép trị bịnh
    Mà bịnh người nặng thêm
    Hoặc có khi đến chết,
    Nếu tự mình có bệnh
    Không người chữa lành đặng
    Dầu có uống thuốc hay
    Mà bịnh càng thêm nặng
    Hoặc người khác phản nghịch
    Cướp giựt trộm lấy của
    Các tội dường thế đó
    Lại tự mang vạ lây
    Những người tội như đây
    Trọn không thấy được Phật
    Là vua trong hàng Thánh
    Thường nói pháp giáo hóa
    Những người tội như đây
    Thường sanh chỗ hoạn nạn
    Tâm cuồng loạn, tai điếc
    Trọn không nghe pháp được
    Trải qua vô số kiếp
    Như số cát sông Hằng
    Sanh ra liền điếc câm
    Các căn chẳng đầy đủ
    Thường ở trong địa ngục
    Như dạo chơi vườn nhà
    Ở tại ác đạo khác
    Như ở nhà cửa mình
    Lạc đà, lừa, heo, chó
    Là chỗ kia thường đi
    Vì khinh chê kinh này
    Mắc tội dường thế đó
    Nếu đặng sanh làm người
    Điếc, đui, lại câm, ngọng
    Nghèo cùng các tướng suy
    Dùng đó tự trang nghiêm
    Sưng bủng bịnh khô khát
    Ghẻ, lác cùng ung thư
    Các bịnh như trên đó
    Dùng làm y phục mặc
    Thân thể thường hôi hám
    Nhơ nhớp không hề sạch
    Lòng chấp ngã sâu chặt
    Thêm nhiều tánh giận hờn
    Tình dâm dục hẩy hừng
    Đến chẳng chừa cầm thú
    Vì khinh chê kinh này
    Mắc tội dường thế đó.

    GIẢNG:

    Người chấp ngã đắm mê dục lạc thế gian, nghe kinh Pháp Hoa họ không tin lại còn khinh chê làm khuất mờ hạt giống Phật nơi mình, lại còn nói cho người khác không tin làm mờ khuất hạt giống Phật nơi người. Đó là làm đoạn mất hạt giống Phật ở thế gian nên mù mịt mê mờ, mặc tình tạo tội rồi mắc quả báo ở địa ngục. Khi hết quả báo địa ngục còn dư báo làm súc sanh, làm người thì thân thể tàn tật, đau bệnh, nghèo đói... Tất cả mọi khổ đau đều do không tin và khinh chê kinh Pháp Hoa, nên mất ánh sáng trí tuệ mà tạo nghiệp ác thọ quả khổ.

    CHÁNH VĂN:

    35.-

    Bảo cho Xá-lợi-phất!
    Người khinh chê kinh này
    Nếu kể nói tội kia
    Cùng kiếp cũng chẳng hết
    Vì bởi nhân duyên đó
    Ta vẫn bảo các ông
    Trong nhóm người vô trí
    Chớ nên nói kinh này
    Nếu có người lợi căn
    Sức trí huệ sáng láng
    Học rộng và nhớ dai
    Lòng mong cầu Phật đạo
    Những hạng người như thế
    Mới nên vì đó nói
    Nếu có người đã từng
    Thấy trăm nghìn ức Phật
    Trồng các cội đức lành
    Thâm tâm rất bền vững
    Hạng người được như thế
    Mới nên vì đó nói
    Nếu có người tinh tấn
    Thường tu tập lòng từ
    Chẳng hề tiếc thân mạng
    Mới nên vì đó nói
    Nếu có người cung kính
    Không có sanh lòng khác
    Lìa xa các phàm ngu
    Ở riêng trong núi trầm
    Những hạng người như thế
    Mới nên vì đó nói
    Lại Xá-lợi-phất này!
    Nếu thấy có người nào
    Rời bỏ ác tri thức
    Gần gũi bạn hiền lành
    Người được như thế ấy
    Mới nên vì đó nói.
    Nếu thấy hàng Phật tử
    Giữ giới hạnh trong sạch
    Như minh châu sáng sạch
    Ham cầu kinh Đại thừa
    Những người được như thế
    Mới nên vì đó nói.
    Nếu người không lòng giận
    Chắc thiệt ý dịu hòa
    Thường thương xót mọi loài
    Cung kính các đức Phật
    Hạng người tốt như thế
    Mới nên vì đó nói.
    Lại có hàng Phật tử
    Ở tại trong đại chúng
    Thuần dùng lòng thanh tịnh
    Các món nhân cùng duyên
    Thí dụ và lời lẽ
    Nói pháp không chướng ngại
    Những người như thế ấy
    Mới nên vì đó nói.
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Vì cầu Nhứt thiết trí
    Khắp bốn phương cầu pháp
    Chắp tay cung kính thọ
    Chỉ ưa muốn thọ trì
    Kinh điển về Đại thừa
    Nhẫn đến không hề thọ
    Một bài kệ kinh khác
    Hạng người được như thế
    Mới nên vì đó nói.
    Như có người chí tâm
    Cầu xá-lợi của Phật
    Cầu kinh cũng như thế
    Đặng rồi đảnh lễ thọ
    Người đó chẳng còn lại
    Có lòng cầu kinh khác
    Cũng chưa từng nghĩ tưởng
    Đến sách vở ngoại đạo
    Người được như thế ấy
    Mới nên vì đó nói.
    Bảo cùng Xá-lợi-phất!
    Ta nói các sự tướng
    Của người cầu Phật đạo
    Cùng kiếp cũng chẳng hết
    Những người như thế đó
    Thời có thể tin hiểu
    Ông nên vì họ nói
    Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

    GIẢNG:

    Ở trước, Phật dạy những người khinh mạn lười biếng, trí kém... thì không nên vì họ mà nói kinh Pháp Hoa, e họ không đủ sức tin, khinh chê rồi tạo tội mắc quả khổ. Tới đây, Phật dạy đối với những người lợi căn trí sáng, người đã từng gặp Phật có căn lành với Phật, người tinh tấn thường tu tập lòng từ, người cung kính nghe lời Phật dạy không chán nhàm luôn ở chỗ vắng vẻ tu hành, người xa bạn ác gần gũi bạn lành, người giữ giới thanh tịnh cầu pháp Đại thừa, người ít giận tâm dịu hòa, kính Phật, thương chúng sanh, người có tâm thuần tịnh hay dùng phương tiện giảng nói kinh pháp, người thọ trì kinh điển Đại thừa, Tỳ-kheo cầu Nhất thiết trí, người nghe kinh điển thành tâm kính lễ tu tập, không ưa thích sách vở ngoại đạo; nên vì những người đó mà nói kinh Pháp Hoa, vì những hạng người này có khả năng tin thọ.

    Chủ yếu của phẩm Thí Dụ là Phật chỉ cho tất cả hàng đệ tử tu theo Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa biết rõ ba thừa đó, Phật tùy căn cơ của chúng sanh mà phương tiện tạm lập, nên không có thật. Chỗ chân thật cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa.

    Ngoài điểm chủ yếu đã nói, trong phẩm Thí Dụ đức Phật còn nêu lên những cảnh tượng khổ đau đang bức bách con người trong nhà lửa, để cho người tu Phật thấy rõ lẽ thật là người vật đang bị lửa vô thường, lửa tam độc thiêu đốt thân tâm. Thấy được lẽ thật là tỉnh giác, do tỉnh giác mà tiến tu để thoát khỏi lửa thiêu đốt. Đó là người trí mạnh do tỉnh giác mà được giải thoát. Còn người trí yếu, nhờ nghe lời Phật dạy, tuy chưa đủ sức tỉnh giác, nhưng tin lời Phật nói là đúng, y theo đó mà tiến tu, nhờ tiến tu nên cũng được giải thoát. Dụ như trường hợp các con của ông Trưởng giả tin cha cho ba xe, nên cố gắng chạy ra khỏi nhà lửa. Không bị lửa vô thường, lửa tam độc chi phối là giải thoát, còn bị lửa vô thường, lửa tam độc bức bách thì còn trầm luân trong luân hồi sanh tử.

    Thông thường giáo lý Phật nói tu đến chỗ viên mãn thì không còn chấp ngã chấp pháp, nghĩa là không còn thấy thân tâm này là ngã, không còn thấy có pháp để tu để chứng. Lúc không còn thấy ngã pháp là lúc an trụ Niết-bàn tịch diệt. Không còn ngã là không còn mình, vậy ai an trụ Niết-bàn? Không còn pháp là không có Niết-bàn, vậy tu đến chỗ tịch diệt, chỗ tịch diệt đó có phải là hư không chăng, vì không người không vật? Nếu tu để trở thành hư không vô tri thì không nên tu, tu vô ích!

    Đó là một vấn đề mà người tu ít ai để ý, cứ tin Niết-bàn là tịch diệt vắng lặng, không còn gì hết, hiểu như vậy là họa cho người học Phật. Hình ảnh ông Trưởng giả kêu các con và khi các con ra khỏi nhà lửa, được ông cho xe trâu trắng mập, đẹp, trang hoàng bằng bảy báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự ước mơ của các con. Cũng vậy, tu đến chỗ không còn bị lửa vô thường, lửa tham sân si thiêu đốt, đâu phải ngang đó là hết, mà còn cái chân thật không hình tướng, không sanh diệt, thanh tịnh sáng suốt mầu nhiệm, vượt khỏi tầm hiểu biết suy lường của con người, nên đức Phật không nói. Vì Phật không nói nên chúng sanh không biết không tin. Khi xả được kiến chấp về giả ngã và buông được kiến chấp về giả pháp, mà Phật đã tùy căn cơ của chúng sanh giả lập thì cái chân thật hiện bày đầy đủ diệu dụng bất khả tư nghì. Nhiều người học Phật, nghĩ Niết-bàn vắng lặng chắc buồn lắm vì trống vắng. Còn ngã còn pháp thì mình có cái này được cái kia, khi tới Niết-bàn thì vô ngã, không có một pháp thì hưởng cái gì? vui cái gì? Họ đâu ngờ chính khi hết vô minh phiền não, thoát khỏi luân hồi sanh tử trong tam giới thì được tự tại vô ngại, đầy đủ diệu dụng lợi ích chúng sanh. Ví dụ nhà lửa làm sáng tỏ ý nghĩa này.

    Phẩm Thí Dụ còn nói lên rằng: Người đến với đạo Phật mà không tin mình có Tri kiến Phật, đó là tự hủy hoại tự đoạn dứt căn lành của người, làm mất hạt giống Phật ở thế gian. Nên biết rõ Tri kiến Phật không rời thân năm uẩn sanh diệt giả tạm này mà riêng có. Vì vậy, việc tin nhận Tri kiến Phật ở chính mình là việc rất thực tế, không phải là chuyện mơ hồ viển vông. Tin nhận Tri kiến Phật ngay nơi mình thì mới thấy rõ thân năm uẩn giả hợp này là huyễn hóa không thật, nếu ai mê chấp nó là thật thì trầm luân đau khổ. Thế nên nói tin kinh này thì được vô lượng trí tuệ công đức; nếu không tin thì mê muội tạo vô số tội ác, chịu quả khổ cùng cực. Tin là tin mình có giống Phật, nếu tu sẽ được thành Phật, chớ không phải tin trên ngôn thuyết chữ nghĩa suông. Lý này đến phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát sẽ thấy rõ hơn.

    Qua phẩm Thí Dụ, chúng ta thấy lòng từ của Phật đối với chúng sanh vô lượng vô biên không ngằn mé. Ngài dùng mọi phương tiện để dẫn dụ giáo hóa cho chúng sanh mau thoát khỏi nhà lửa Tam giới, được đầy đủ diệu dụng, tiến đến quả Phật như Ngài mới thôi.


  • 5. PHẨM 4 : TÍN GIẢI

    PHẨM 4

    TÍN GIẢI

    Tín là tin, giải là hiểu rõ, tín giải là do giải ngộ mà rõ suốt pháp Phật nên có niềm tin sâu xa không thoái chuyển. Nếu nương lời Phật dạy tin suông mà không giải ngộ, hoặc tin hiểu một cách cạn cợt thì chưa gọi là tín giải đối với pháp mà Phật muốn chỉ. Sau khi đức Phật chỉ rõ nơi mỗi chúng sanh có Tri kiến Phật, tức là mỗi người đã có sẵn Phật nhân, nếu tu sẽ thành Phật quả. Các bậc A-la-hán đệ tử Phật như ngài Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên v.v... nghe Phật nói pháp được giải ngộ, các ngài không còn kẹt ở quả vị Thanh văn nữa, do tin hiểu thâm sâu nên các ngài trình sở ngộ lên đức Phật và sẽ được Phật thọ ký cho. Sự kiện này giống như Thiền tông trình kiến giải và được ấn chứng.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, các ngài Huệ Mạng Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên, từ nơi Phật được nghe pháp chưa từng có. Đức Thế Tôn dự ghi cho ngài Xá-lợi-phất sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, sanh lòng hi hữu hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chấp tay cúi mình cung kính chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch cùng Phật rằng:

    - Chúng con ở đầu trong hàng Tăng, đều lụn tuổi già, tự cho đã được Niết-bàn không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn thẳng cầu thêm đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Đức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi tòa thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, Vô tướng, Vô tác, đối với các pháp du hí thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sanh của Bồ-tát, lòng chúng con không ưa thích.

    Vì sao? Đức Thế Tôn khiến chúng con ra khỏi ba cõi đặng chứng Niết-bàn, lại nay đây chúng con tuổi đã già nua, ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Phật dạy Bồ-tát không hề sanh một niệm ưa thích.

    Chúng con hôm nay ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh văn sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng đặng pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay bỗng nhiên đặng pháp hi hữu, tự rất mừng may đặng lợi lành lớn, vô lượng trân báu chẳng tìm cầu mà tự đặng.

    GIẢNG:

    Trong pháp hội Phật, ngài Xá-lợi-phất là bậc đại căn đại trí, nên khi Phật nói phẩm Phương Tiện Ngài liền thấy rõ bản hoài của Phật và nhận ra nơi mình có Tri kiến Phật. Ngang đó Ngài trình sở ngộ, được Phật ấn chứng và thọ ký cho sau này sẽ thành Phật. Còn các vị A-la-hán trưởng lão như Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên v.v... thuộc hàng trung căn tuy đã nghe Phật giải nói cái nào là phương tiện, cái nào là cứu kính vẫn chưa dám tin nhận. Đến khi Phật nêu ví dụ rõ ràng, các ngài mới thấy rằng ban đầu được Phật dạy pháp Tiểu thừa, các Ngài tu chứng Niết-bàn Thanh văn. Nhưng nay Phật nói quả vị rốt ráo là quả Phật, quả Thanh văn chỉ là giả lập, không phải cứu kính. Các ngài lãnh hội được lý này và chứng kiến ngài Xá-lợi-phất trình sở ngộ được Phật thọ ký, nên vui mừng đứng lên chiêm ngưỡng dung nhan Phật và nói lên tâm trạng của mình rằng: “Đức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi tòa thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, Vô tướng, Vô tác, đối với các pháp du hí thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sanh của Bồ-tát, lòng chúng con không ưa thích.” Vì các ngài đã già và đã chứng được Niết-bàn Thanh văn rồi, nên đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác các ngài không hề nghĩ tới. Nay nghe Phật thọ ký hàng Thanh văn sẽ được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các ngài vui mừng vì bất ngờ mà được của báu, thật hi hữu.

    Qua đoạn này chúng ta thấy tâm nguyện của Thanh văn khác với tâm nguyện của Bồ-tát. Các vị Thanh văn tuổi già, ngồi nghe pháp lâu sanh mỏi mệt, nên không muốn nhớ nhiều chỉ nhớ có ba điều: Không, Vô tướng, Vô tác là ba môn giải thoát. Khi tu dừng hết mọi vọng tưởng, sạch hết kiết sử gọi đó là Không. Vì không còn vọng tưởng, không còn kiết sử, tâm vắng lặng không hình tướng nên nói là Vô tướng. Bởi không có hình tướng nên không có động tác nói là Vô tác. Vậy, Không, Vô tướng, Vô tác là ba cửa giải thoát của hàng Nhị thừa. Hàng Thanh văn do nhận được lý ấy mà thoát ly sanh tử. Đó là đứng trên pháp vô vi mà nói. Nếu nhìn trên tướng hữu vi thì các pháp do duyên hợp tạm có các tướng, nhưng không có Tự tánh cố định, nó chỉ là giả tướng không thật nên nói là Vô tướng. Vì trên Tánh không, nó không có tạo tác, vì tạo tác là tướng của duyên, nên nói là Vô tác. Hàng Thanh văn lấy làm hài lòng ở ba món giải thoát này, cho đó là đã đủ, không khởi nguyện làm lợi ích chúng sanh, nên đối với pháp du hí thần thông tam-muội, tịnh cõi Phật, giáo hóa chúng sanh thì các ngài không ưa thích.

    Thế nào là du hí thần thông tam-muội? Bồ-tát khi đạt lý tất cả pháp duyên khởi Tánh không, bởi Tánh không nên duyên hợp tạm có, có mà có trong hư giả huyễn hóa. Bởi huyễn hóa nên Bồ-tát lấy thân như huyễn độ hữu tình như huyễn, khi làm việc độ sanh không thấy có khổ, vì không còn thấy ta là người giáo hóa, chúng sanh là người được độ, do không chấp ta không chấp người nên không khổ. Hằng ra vào trong ba cõi để độ sanh, tâm an vui không buồn không khổ nên gọi là du hí thần thông tam-muội, đó là tâm hạnh của Bồ-tát. Còn tâm hạnh Phàm tăng của chúng ta ngày nay làm cái gì là kẹt cái nấy, tới đâu là dính đó, do ngã chấp chưa buông, nên ngay khi độ sanh là khởi phiền não. Vì vậy mà không được thần thông du hí tam-muội. Hàng Bồ-tát được du hí tam-muội, nên các ngài hằng tịnh cõi nước Phật bằng cách ra vào trong ba cõi để giáo hóa chúng sanh, chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt, nhiều đời nhiều kiếp làm mãi mãi mà không chán. Do thấy thân như huyễn, dù có bỏ thân huyễn mộng này trăm ngàn lần cũng chỉ là trò chơi, nên ra vào ba cõi cũng như đi du hí không sợ. Đến khi công hạnh viên mãn thì Bồ-tát thành Phật. Cõi nước của ngài có vô số quyến thuộc là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đồng duyên, đồng phước qui hội về, gọi là tịnh Phật quốc độ. Hàng Thanh văn an trụ trong Niết-bàn tịch tịnh, không khởi nguyện độ sanh, vì sợ khởi nguyện là khởi nhân phiền não, nên các ngài chìm lặng mãi trong Niết-bàn tịch tịnh. Nhưng nay nghe Phật thọ ký cho hàng Thanh văn sẽ thành Phật thì các ngài vui mừng, thấy rằng bỗng nhiên được của báu, điều mà các ngài không bao giờ nghĩ tới.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Thế Tôn! Chúng con hôm nay xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó.

    Thí như có người tuổi còn thơ  bé, bỏ cha trốn đi qua ở lâu nơi nước khác, hoặc mười, hai mươi đến năm mươi năm; người đó tuổi đã lớn lại thêm nghèo cùng khốn khổ, rong ruổi bốn phương để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ trở về bổn quốc.

    Người cha từ trước đến nay, tìm con không đặng bèn ở lại tại một thành trong nước đó. Nhà ông giàu lớn của báu vô lượng, các kho đụn, vàng, bạc, lưu-ly, san-hô, hổ phách, pha lê, châu v.v... thảy đều đầy tràn; tôi tớ, thần tá, lại dân rất đông, voi, ngựa, xe cộ, bò, dê nhiều vô số. Cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác, khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều.

    Bấy giờ, gã nghèo cùng kia dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng, lần hồi đến nơi thành của người cha ở.

    Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ lòng rất ăn năn. Ông tự nghĩ, nhà có nhiều của cải, vàng bạc trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thời của cải tản thất không người giao phó. Cho nên ân cần luôn nhớ đến con. Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp đặng con, ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo.

    GIẢNG:

    Chúng sanh đi trên con đường lầm mê, giống hệt như gã cùng tử thơ bé bỏ cha mẹ đi hoang đến xứ người. Trải qua thời gian dài từ mười năm tới năm mươi năm, vì nghèo cùng khốn khổ nên rong ruổi bốn phương tìm cầu sự ăn mặc, đi lần lần tình cờ trở về bản quốc. Đó là tâm trạng của chúng sanh ở giai đoạn bối giác hiệp trần. Tự mình có sẵn Tánh giác, đầy đủ công đức mà quên, nên đi lang thang trong lục đạo luân hồi, không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Bấy giờ bỗng nhiên gặp duyên tốt thức tỉnh cạo tóc xuất gia. Tuy xuất gia mà không nghĩ mình sẽ thành Phật, vì quả Phật quá cao siêu, đòi hỏi phải tích lũy vô lượng vô biên công đức, trải qua thời gian lâu dài, e mình không kham nổi, nên không bao giờ dám nghĩ tu để thành Phật. Tu không phải một đời là thành Phật, mà phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp gạn lọc phiền não, tích lũy công đức. Song, tập khí phiền não đâu phải một lần buông là hết, công quả lợi sanh đâu phải làm đôi ba việc là đủ. Vì vậy, phải siêng năng cần mẫn, không ngại gian lao khó nhọc tự mình tiến tu và làm lợi ích cho mọi người, thì khả dĩ tiến được từng bước trên con đường đi đến quả Phật. Nếu nhút nhát yếu hèn sợ lao nhọc khó khổ thì đã đi ngược đường mà Phật đã đi rồi! Có lắm người tưởng vô chùa tu là thảnh thơi nhàn hạ, nhưng không ngờ vô chùa phải thức khuya dậy sớm để tu học, lại còn phải chấp tác vất vả khổ cực bao nhiêu năm trường. Chẳng những nhiều năm, mà là nhiều đời nhiều kiếp mới thành Phật. Vì lý do đó nên sanh tâm lười mỏi thối chuyển không muốn tu nữa. Như vậy là người tu chấp nhận làm đứa con đi hoang nghèo khổ lang thang nơi này chốn nọ, để ăn mày ăn xin, chớ không chịu làm con Trưởng giả thừa kế sự nghiệp sang giàu của cha, để cho mọi người nương nhờ. Thật là điều đáng tiếc! Con tuy bỏ cha đi hoang, nhưng cha lúc nào cũng nghĩ đến con. Nghĩa là chúng sanh mê, quên Tánh giác có sẵn nơi mình nên tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, còn Tánh giác lúc nào cũng sẵn có nơi mỗi chúng sanh không hề thiếu mất.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Thưa Thế Tôn! Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn lần hồi tình cờ đến nhà người cha bèn đứng lại bên cửa, xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, cư sĩ đều cung kính bao quanh. Trên thân ông đó dùng chuỗi ngọc trân châu giá trị nghìn vạn để trang nghiêm, kẻ lại dân tôi tớ tay cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Màn báu che trên, những phan đẹp thòng xuống, nước thơm rưới đất, rải các thứ danh hoa, các vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy, cho v.v... có các sự nghiêm sức dường ấy, oai đức rất tôn trọng.

    Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn liền sanh lòng lo sợ, hối hận về việc đến nhà nầy, nó thầm nghĩ rằng: “Ông này chắc là vua hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn đặng tiền vật.

    Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức để đặng đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc rồi họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm.” Gã nghĩ như thế rồi, liền chạy mau đi thẳng.

    GIẢNG:

    Gã cùng tử về đến nhà, thấy ông Trưởng giả giàu sang quá, hoảng hốt hãi kinh không dám nhìn cha, bèn bỏ chạy trốn kiếm chỗ nghèo hèn để mưu cầu ăn mặc. Cũng giống như chúng ta phát tâm cắt tóc xuất gia mà không dám nghĩ mình tu sẽ thành Phật, mặc dù hằng đêm miệng đọc tụng: “Ngã kim phát tâm bất vị tự cầu nhân thiên phước báo, Thanh văn, Duyên giác nãi chí quyền thừa chư vị Bồ-tát. Duy y Tối thượng thừa phát Bồ-đề tâm. Nguyện dữ pháp giới chúng sanh nhất thời đồng đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.” Như thế mà khi tu không dám nghĩ mình sẽ thành Phật. Vì sợ tu khó khổ, sợ độ sanh nhọc nhằn, sợ trải qua trăm ngàn kiếp quá lâu! Người tu phát nguyện lớn, ngoài việc tu tỉnh nơi mình còn phải lăn xả vào đời để giác ngộ cho chúng sanh đời đời kiếp kiếp, không biết mỏi mệt. Nếu đời này tu ít chục năm mà đã ngao ngán mệt mỏi thoái lui, như vậy không phải hạnh nguyện của Bồ-tát.

    Tới đây chắc có nhiều vị sẽ đặt vấn đề với tôi: Thầy nói vậy, tại sao Thầy dự định năm tới sẽ nghỉ dạy? Có phải là Thầy đã thoái Bồ-đề tâm và muốn qui tịch không? Như quí vị đã biết đối với người thực hành Bồ-tát đạo phải tu từ Thập tín... đến Thập địa, đến Đẳng giác, Diệu giác và thành Phật. Muốn thành Phật thì phần tự giác và giác tha phải viên mãn. Nhưng riêng tôi thì những gì tôi tu tôi nhận biết đã nói hết cho quí vị nghe rồi, nếu nói nữa chỉ là việc lặp lại mà thôi, chớ không có gì mới mẻ. Tôi cần phải nghỉ để nỗ lực tu thêm, nếu có phát minh được điều gì mới lạ thì sẽ nói cho quí vị nghe, còn nếu chết thì tôi cũng đi trước quí vị được năm mười bước. Việc thầy tới đâu, trò tới đó thì có gì để học? Vì muốn cho mọi người đều được tiến không dừng thì bổn phận người hướng dẫn phải đi trước. Việc tôi nghỉ dạy không phải là thoái tịch ẩn trốn, mà tôi tự thấy rằng chỗ giác ngộ của tôi chưa viên mãn, nên phải nghỉ dạy để có thì giờ nỗ lực tiến tu. Nếu đời này hướng dẫn quí vị không kịp thì đời sau tiếp tục làm nữa, cho đến viên mãn mới thôi. Tôi không chấp nhận: “Thầy trò chỉ tiến một đoạn, rồi ngang đó dừng nghỉ không chịu tiến nữa.”

    CHÁNH VĂN:

    4.- Khi đó, ông Trưởng giả ngồi nơi tòa sư tử thấy con bèn nhớ biết, lòng rất vui mừng mà tự nghĩ rằng: “Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con nầy làm sao gặp đặng, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta dầu tuổi già vẫn còn tham tiếc.” Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại.

    Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu xưng, oan: “Tôi không hề xúc phạm, nhân sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt đó càng gấp cưỡng dắt đem về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất.

    Người cha xa thấy vậy bèn nói với kẻ sứ giả rằng: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại, đừng nói chi với nó.”

    Vì sao? Cha biết con mình ý chí hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm khiếp sợ cho con. Biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả nói với cùng tử: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý.”

    Gã cùng tử vui mừng đặng điều chưa từng có, từ dưới đất đứng dậy, qua đến xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc.

    GIẢNG:

    Đã từ lâu, ông Trưởng giả tiếc sự nghiệp, mong có người thừa kế nay biết con mình đã về, nên yên lòng có người giao phó sự nghiệp. Nhưng gã cùng tử về tới cửa thấy cha quá giàu sang oai quyền, nên khiếp sợ bỏ chạy tới chỗ nghèo hèn mà nương náu. Khi bị sứ giả ví bắt gấp thì kinh sợ ngất xỉu, ông bảo thả ra lấy nước rảy cho tỉnh lại.

    Ở đây nói ông Trưởng giả tham tiếc, là tham tiếc kho báu Trí tuệ Phật chưa có người truyền trao, chớ không phải tham tiếc tiền của vật chất thế gian. Tâm trạng gã cùng tử giống như tâm trạng người tu chúng ta ở giai đoạn mới vào đạo, học chút ít kinh điển, nghe nói muốn thành Phật thì phải trải qua vô số kiếp hành Bồ-tát đạo, tu Lục độ ba-la-mật nào là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn... Bố thí ba-la-mật thì không thấy có người thí, không thấy có kẻ thọ thí và không thấy có vật đem ra bố thí. Bố thí mà không có mình, không có người, không có vật làm sao làm? Khó quá! Bèn thoái Bồ-đề tâm, hoàn tục sống làm lành lánh dữ để có chút phước đời sau hưởng. Chính vì tâm hạ liệt ấy, nên Phật phải dùng phương tiện an ủi, dắt dẫn từ từ.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Bấy giờ ông Trưởng giả toan muốn dụ dẫn người con mà bày chước phương tiện, mật sai hai người, hình sắc tiều tụy không có oai đức: “Hai người nên qua xóm kia từ từ nói với gã cùng tử, nơi đây có chỗ làm trả giá gấp bội. Gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiến làm. Nếu nó có hỏi muốn sai làm gì, thời nên nói với nó rằng: thuê người hốt phân, chúng ta hai người cũng cùng ngươi chung nhau làm.” Khi đó hai người sứ liền tìm gã cùng tử, rồi thuật đủ việc như trên.

    6.- Bấy giờ gã cùng tử trước hỏi lấy giá cả liền đến hốt phân. Người cha thấy con, thương xót và quái lạ. Lại một ngày khác ông ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tụy, phân đất bụi bặm dơ dáy không sạch. Ông liền cổi chuỗi ngọc, áo tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách trỉn dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ dạng đáng nể sợ, bảo những người làm rằng: “Các ngươi phải siêng làm việc chớ nên lười nghỉ.” Dùng phương tiện đó đặng đến gần người con.

    Lúc sau lại bảo con rằng: “Gã nam tử này! Ngươi thường làm ở đây đừng lại đi nơi khác, ta sẽ trả thêm giá cho ngươi. Những đồ cần dùng như loại bồn, chậu, gạo, bột, muối, dấm, ngươi chớ tự nghi ngại. Cũng có kẻ tớ già hèn hạ, nếu cần ta cấp cho, nên phải an lòng, ta như cha của ngươi chớ có sầu lo.

    Vì sao? Vì ta tuổi tác già lớn mà ngươi thì trẻ mạnh, ngươi thường trong lúc làm việc, không lòng dối khi trễ nải giận hờn nói lời thán oán, đều không thấy ngươi có các điều xấu đó như các người làm công khác. Từ ngày nay nhẫn sau như con đẻ của ta.” Tức thời Trưởng giả lại đặt tên cho cùng tử gọi đó là  “con”.

    Khi đó gã cùng tử, dầu mừng việc tình cờ đó song vẫn còn tự cho mình là khách, là người làm công hèn, vì cớ đó mà trong hai mươi năm thường sai hốt phân, sau đó lòng gã mới lần thể tin ra vào không ngại sợ, nhưng chỗ gã ở cũng vẫn nguyên chỗ cũ.

    GIẢNG:

    Gã cùng tử khi gặp cha mà không dám nhận hoảng kinh bỏ chạy. Ông Trưởng giả ngầm sai hai người làm công có thân hình tiều tụy quê xấu, đến dụ dẫn cùng tử về nhà ông để hốt phân dọn dẹp cho nhà cửa sạch sẽ. Cùng tử nghe nói việc hợp với khả năng mình nên nhận làm. Nhân khi đó, ông mới hóa trang ăn mặc dơ xấu để gần gũi an ủi dụ dẫn cho con biết việc nhà và coi ông như cha.

    Nghề hốt phân ngầm dụ cho công phu tu hành tẩy trừ vô minh, ba độc cấu uế. Vô minh cấu uế sạch rồi mới chứng A-la-hán. Các vị tu Thanh văn thường hành hạnh đầu-đà, mặc y bằng vải vụn kết lại nên thô xấu, ăn thì ai cho gì dùng nấy, ở dưới cội cây, sống kham khổ nên thân hình gầy ốm. Ngược lại chúng ta nhìn tượng của các Bồ-tát thì vị nào cũng to mập, ăn mặc sang trọng vui tươi. Qua hai hình ảnh đó chúng ta thấy hạnh Thanh văn tu thì phải cần khổ, nỗ lực tư duy Thiền quán để diệt trừ phiền não ngay trong kiếp này, không muốn tái sanh lại nữa. Còn Bồ-tát được Trí tuệ Bát-nhã thấy các pháp như huyễn, nên tùy duyên ứng hóa, không sợ sanh tử, không cầu Niết-bàn. Thể theo hạnh nguyện, các ngài hiện thân hợp với sở thích của chúng sanh, để gần gũi thân cận mà giáo hóa làm lợi ích cho họ.

    Vì tâm hạ liệt của chúng sanh không kham nhận được pháp lớn, nên sau khi Phật thành đạo ở dưới cội bồ-đề, Ngài suy gẫm nếu đem chỗ chứng ngộ của Ngài ra giảng nói, e chúng sanh không tin nổi, nên Ngài mới phương tiện nói Tứ đế là thời pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Trước hết chỉ cho chúng sanh thấy sanh già bệnh chết là khổ; kế đó chỉ cho tập nhân gây ra khổ đau là tham sân si... vô minh phiền não; tiếp theo là nêu bày cảnh giới an vui sau khi đã diệt hết vô minh phiền não; sau cùng là dạy cho phương pháp đoạn diệt vô minh phiền não. Đây là hình ảnh của ông Trưởng giả cởi hết châu ngọc trang sức, mặc y phục thô xấu, cầm đồ hốt phân đến gần cùng tử để an ủi vỗ về và bảo coi ông như cha, những vật dụng có sẵn trong nhà cứ tự nhiên lấy dùng. Gã cùng tử được ông Trưởng giả coi như con, nhưng chưa dám nhận mình là con Trưởng giả. Cũng vậy, tuy hàng Thanh văn tu học theo pháp Phật dạy, nhưng chưa dám tin mình tu sẽ được thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    7.- Thế Tôn! Bấy giờ Trưởng giả có bịnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết mới bảo cùng tử rằng: “Ta nay rất nhiều vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, trong đó nhiều ít chỗ đáng xài dùng, ngươi phải biết hết đó. Lòng ta như thế, ngươi nên thể theo ý ta.

    Vì sao? Nay ta cùng ngươi bèn là không khác, nên gắng dụng tâm chớ để sót mất.”

    Khi ấy cùng tử liền nhận lời bảo, lãnh biết các của vật, vàng, bạc, trân báu và các kho tàng, mà trọn không có ý mong lấy của đáng chừng bữa ăn, chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng chưa bỏ được.

    GIẢNG:

    Gã cùng tử theo lời yêu cầu của ông Trưởng giả, nhận quản lý kho báu trong nhà nhưng vẫn còn ở ngoài hành lang và chưa dám nghĩ mình có phần trong đó. Cũng vậy, hiện tại nhiều người tu nghe kinh nói mỗi chúng sanh ai cũng có Phật tánh, Bồ-tát tu Lục độ vạn hạnh viên mãn thì sẽ thành Phật. Nghe như vậy rồi khi ra giảng nói cũng giảng nói như vậy, nhưng trong thâm tâm chỉ mong đời này mình tu chứng quả Tu-đà-hoàn hay Tư-đà-hàm là được rồi, chớ không dám nghĩ mình có thể thực hiện được hạnh Bồ-tát.

    CHÁNH VĂN:

    8.- Lại trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con lần đã thông thái trọn nên chí lớn, tự chê tâm ngày trước. Đến giờ sắp chết, ông gọi người con đến và hội cả thân tộc, quốc vương, quan đại thần, dòng Sát-lợi, hàng cư sĩ, khi đã nhóm xong, ông liền tự tuyên rằng: “Các Ngài nên rõ, người nầy là con ta, của ta sanh ra, ngày trước trong thành nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn năm mươi năm, nó vốn tên ấy, còn ta tên ấy. Xưa ta ở tại thành này lòng lo lắng tìm kiếm, bỗng ở nơi đây gặp được nó. Nó thiệt là con ta, ta thiệt là cha nó. Nay ta có tất cả bao nhiêu của cải, đều là của con ta có, trước đây của cải cho ra thâu vào, con ta đây coi biết.”

    Thế Tôn! Khi đó gã cùng tử nghe cha nói như thế, liền rất vui mừng được điều chưa từng có, mà nghĩ rằng: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng báu này tự nhiên mà đến.”

    GIẢNG:

    Khi thấy con mình có trí khôn đủ khả năng quản lý gia sản, ông Trưởng giả bèn họp tất cả thân tộc lại tuyên bố gã cùng tử chính là con ruột của ông, sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp của con ông. Gã cùng tử không có lòng mong cầu mà nay bất ngờ được kho báu, nên rất vui mừng được điều chưa từng có. Ví dụ này nói lên tâm trạng vui mừng bất ngờ của hàng đệ tử Thanh văn khi nhận ra Tri kiến Phật.

    CHÁNH VĂN:

    9.- Thế Tôn! Ông phú Trưởng giả đó là đức Như Lai, còn chúng con đều giống như con của Phật. Đức Như Lai thường nói chúng con là con.

    Thưa Thế Tôn! Chúng con vì ba món khổ nên ở trong sanh tử chịu các sự đau đớn mê lầm không hiểu biết, ưa thích các pháp Tiểu thừa. Ngày nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những phân dơ các pháp hí luận. Chúng con ở trong đó siêng gắng tinh tấn được đến Niết-bàn, cái giá một ngày. Đã được đây rồi lòng rất vui mừng tự cho là đủ, mà tự nói rằng: “Ở trong pháp của Phật, do siêng năng tinh tấn nên chỗ được rộng nhiều.”

    Nhưng đức Thế Tôn trước biết chúng con lòng ưa muốn sự hèn tệ, ham nơi pháp Tiểu thừa, chúng con bèn bị Phật buông bỏ, chẳng vì phân biệt rằng: Các ông sẽ có phần bửu tàng Tri kiến của Như Lai.

    Đức Thế Tôn dùng sức phương tiện nói bày trí huệ của Như Lai. Chúng con theo Phật được giá Niết-bàn một ngày cho là được nhiều rồi, đối với pháp Đại thừa này không có chí cầu. Chúng con lại nhân trí huệ của Phật, vì các vị Bồ-tát mà chỉ bày diễn nói, nhưng chính tự mình lại không có chí muốn nơi pháp đó.

    Vì sao? Đức Phật biết chúng con ưa nơi pháp Tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện thuận theo chúng con mà nói pháp, chúng con không tự biết thật là Phật tử. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế Tôn ở nơi trí huệ của Phật không có lẫn tiếc.

    Vì sao? Chúng con từ xưa đến nay thật là Phật tử mà chỉ ưa nơi pháp Tiểu thừa, nếu chúng con có tâm ham Đại thừa thời Phật vì chúng con mà nói pháp Đại thừa. Ở trong kinh này chỉ nói pháp Nhứt thừa. Lúc xưa đức Phật ở trước Bồ-tát chê trách Thanh văn ham pháp Tiểu thừa.

    Nhưng đức Phật thiệt dùng Đại thừa để giáo hóa, vì thế nên chúng con nói vốn không có lòng mong cầu mà nay báu lớn của đấng Pháp vương tự nhiên đến, như chỗ nên được của Phật tử đều đã được đó.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-diếp hợp pháp ví dụ này: Ông phú Trưởng giả đó là đức Như Lai, cùng tử là hàng Thanh văn, là con của Phật. Ngài nêu lên ba món khổ làm chướng đạo Bồ-đề là khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là ngay nơi thân tâm con người bị lửa vô thường, lửa tham sân si thiêu đốt làm cho đau khổ, lại còn bị ngoại cảnh như thiên tai, binh biến, nghèo đói... chồng chất thêm một lớp khổ nữa gọi là khổ khổ. Hoại khổ là thân con người từng sát-na mọi tế bào sanh diệt... vừa thấy tóc xanh, thoáng chốc đã bạc đầu, da nhăn, răng rụng, mắt mờ, tai điếc... đó là hoại khổ. Hành khổ là sự biến dịch đổi thay nơi con người đưa đến sự già chết. Hành khổ còn chỉ cho hành nghiệp dẫn dắt thần thức đi thọ thân năm ấm, chịu luật vô thường chi phối nên khổ đau.

    Các bậc Thanh văn do nhận ra ba cái khổ này nên quyết tâm cầu thoát ly sanh tử, bằng cách thích tu pháp Tứ đế để chứng Niết-bàn. Vì vậy khi nghe lời Phật dạy, các ngài lo dọn trừ những phân dơ hí luận, tức là tránh xa các lối hí luận suông để vui cười, không giúp cho người nghe thấy được đạo. Bởi dẹp hết hí luận, nên sạch hết nhiễm trước, do sạch hết nhiễm trước được chứng Niết-bàn. Niết-bàn này chỉ có giá trị bằng một ngày! Niết-bàn là vô sanh, đã là vô sanh thì không lệ thuộc thời gian tại sao nói giá trị bằng một ngày? Do tu nên vọng tưởng dừng lặng, khi vọng tưởng dừng lặng cho đó là vô sanh, là Niết-bàn. Niết-bàn đó là trạng thái dừng lặng của vọng tưởng, chưa phải là Niết-bàn chân thật. Nếu tu mà nhận được Tri kiến Phật nơi chính mình chưa từng sanh chưa từng diệt mới là Niết-bàn chân thật cứu kính. Còn Niết-bàn do dừng vọng tưởng, tâm vắng lặng mà không nhận ra Thật thể của chính mình, nên ở đây kinh nói giá trị một ngày.

    Thí dụ tọa thiền trụ tâm vào một cảnh, chẳng hạn như quán thân bất tịnh, dồn hết tâm lực quán sát, thân này là ô uế bất tịnh, lúc nào cũng thấy hình hài này là bất tịnh, không có một niệm khác dấy khởi thì tâm được định. Tuy nhiên, tâm chỉ định trong thời gian quán chiếu, khi hết quán thì tâm hết định. Còn định của Đại thừa là nhận ra Tri kiến Phật có sẵn nơi mình, mà Tri kiến Phật thì hằng hữu, bất động, nên đi đứng nằm ngồi, bửa củi, nấu cơm, không lúc nào thiếu vắng. Hằng sống với Tri kiến Phật thì không có loạn tưởng, không loạn tưởng là định. Định này không xuất không nhập, nên nói là Đại định, là Niết-bàn viên mãn.

    Ngài Ma-ha Ca-diếp thật thà lặp lại rằng Phật có nêu Tri kiến Phật nhưng các ngài đã được Niết-bàn Thanh văn nên lấy làm hài lòng, không cầu pháp Đại thừa. Tới đây có điều chúng ta lấy làm lạ là các ngài Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề… khi nói pháp cho hội chúng nghe thì các ngài cũng nói pháp Đại thừa. Tại sao các ngài không thích và không cầu pháp Đại thừa, mà lại giảng nói pháp Đại thừa?

    Nhân vì các ngài quen nghe Phật khen ngợi pháp Đại thừa, nên có người cần cầu pháp Đại thừa thì các ngài cũng nói, nói để cho người nghe, chớ các ngài không mong cầu. Nếu có người hỏi về hạnh của Bồ-tát phải tu Lục độ ba-la-mật như thế nào, thì các ngài biết liền chỉ dạy cho người tu, nhưng chính các ngài thì không ham thích pháp tu của Bồ-tát. Hiện nay chúng ta tu có vấp phải lỗi này không? Thí dụ trong giới xuất gia, có người tới học đạo, hỏi: Làm thế nào để diệt tham sân si? Các vị trả lời rất rành rẽ, muốn hết tham phải tu hạnh bố thí, muốn đoạn trừ sân phải tu hạnh từ bi nhẫn nhục, muốn dứt sạch si mê phải quán mười hai nhân duyên, hay giới phân biệt quán. Giải thích bố thí phải bố thí như thế nào, Quán từ bi phải quán ra sao, Quán mười hai nhân duyên hay giới phân biệt quán thì phải quán như thế nào. Giải thích một cách rõ ràng tường tận. Nhưng chính bản thân mình khi đối duyên xúc cảnh thì vẫn tham, vẫn sân, vẫn si. Như vậy là sao? Vì người mong cầu muốn dứt trừ tham sân si, được chúng ta hướng dẫn thì họ nỗ lực tu hành. Còn chúng ta nhờ nghe học nên hiểu biết, nhưng lòng chưa thiết tha loại bỏ nên không tu, tham sân si vẫn còn nguyên vẹn.

    Nhiều khi tôi thấy hơi buồn và hổ thẹn. Phật tử ở thế gian, gặp những hoàn cảnh bất như ý phiền não, vào chùa nhờ các thầy các cô giảng dạy, cứu cho họ bớt buồn khổ. Lúc đó các thầy các cô dạy lý thuyết nghe cũng hay lắm. Nhưng rồi mai kia các thầy các cô phiền não thì Phật tử an ủi lại! Như vậy là sao? Ai dạy ai? Nếu chúng ta là người có trách nhiệm đi trước, điều gì chúng ta dạy cho người thì điều đó chúng ta phải làm được, nếu chúng ta làm chưa được viên mãn thì chúng ta cũng làm được đôi phần. Đã làm được đôi phần thì khả dĩ không hổ thẹn. Điều mình làm không được mà đem ra dạy người, đó chỉ là lý thuyết suông không đem lợi ích cho ai cả.

    Đức Phật thuận theo tâm nguyện của các đệ tử, dùng sức phương tiện hướng dẫn cho các đệ tử biết rằng mình là con của Phật. Khi thấy công hạnh đệ tử gần viên mãn thì Phật liền trao truyền sự nghiệp cho, điều mà hàng Thanh văn đệ tử Phật chưa bao giờ nghĩ tới, không có tâm mong cầu, ngoài sức tưởng tượng của các ngài. Đây là lòng chân thành sau khi thấy đạo, các ngài nói lên chỗ hi hữu của mình để đức Phật chứng minh.

    CHÁNH VĂN:

    Bấy giờ ngài Ma-ha Ca-diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    10.-

    Chúng con ngày hôm nay
    Nghe âm giáo của Phật
    Lòng hớn hở mừng rỡ
    Được pháp chưa từng có
    Phật nói hàng Thanh văn
    Sẽ được thành quả Phật
    Đống châu báu vô thượng
    Chẳng cầu tự nhiên được
    Ví như gã đồng tử
    Thơ bé không hiểu biết
    Bỏ cha trốn chạy đi
    Đến cõi nước xa khác
    Nổi trôi khắp nước ngoài
    Hơn năm mươi năm dài
    Cha gã lòng buồn nhớ
    Kiếm tìm khắp bốn phương
    Kiếm tìm đó đã mỏi
    Liền ở lại một thành
    Xây dựng nên nhà cửa
    Năm món dục tự vui
    Nhà ông giàu có lớn
    Nhiều những kho vàng, bạc
    Xa-cừ, ngọc mã não
    Trân châu, ngọc lưu-ly
    Voi ngựa cùng trâu dê
    Kiệu, cáng, đủ xe cộ
    Ruộng đất và tôi tớ
    Nhân dân rất đông nhiều
    Xuất nhập thâu lời lãi
    Bèn khắp đến nước khác
    Khách thương người buôn bán
    Không xứ nào không có,
    Nghìn muôn ức chúng hội
    Vây quanh cung kính ông,
    Thường được bậc vua chúa
    Mến yêu nhớ tưởng đến
    Các quan, hạng hào tộc
    Đều cũng đồng tôn trọng.
    Vì có các sự duyên
    Người đến lui rất đông
    Giàu mạnh như thế đó
    Có thế lực rất lớn
    Mà tuổi đã già nua
    Lại càng buồn nhớ con
    Ngày đêm luống suy nghĩ
    Giờ chết toan sắp đến
    Con thơ dại bỏ ta
    Hơn năm mươi năm tròn
    Các của vật kho tàng
    Sẽ phải làm thế nào?

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-diếp lặp lại ý trên là nghe Phật nói hàng Thanh văn sẽ được thành Phật, các ngài vui mừng bất ngờ được của báu chưa từng có. Ví như gã cùng tử khờ dại bỏ cha đi lang thang trong thời gian năm mươi năm. Ông Trưởng giả là người giàu có lớn, có rất nhiều ngọc ngà châu báu, xe, ngựa, ông là người có nhiều uy tín được vua quan cho đến thứ dân đều tôn trọng cung kính. Ngày càng lớn tuổi, ông nhớ trông con về để ủy thác tài sản sự nghiệp.

    CHÁNH VĂN:

    11.-

    Bây giờ gã cùng tử
    Đi tìm cầu ăn mặc
    Ấp này đến ấp khác
    Nước này sang nước nọ,
    Hoặc có khi được của
    Hoặc có lúc không được,
    Đói thiếu hình gầy gò
    Thân thể sanh ghẻ lác
    Lần lựa đi trải qua
    Đến thành cha gã ở
    Xoay vần làm thuê mướn
    Bèn đến trước nhà cha
    Lúc ấy ông Trưởng giả
    Đang ở trong nhà ông
    Giăng màn châu báu lớn
    Ngồi tòa sư tử cao
    Hàng quyến thuộc vây quanh
    Đông người đứng hầu hạ
    Hoặc có người tính toán
    Vàng, bạc, cùng vật báu
    Của cải ra hoặc vào
    Biên chép ghi giấy tờ
    Gã cùng tử thấy cha
    Quá mạnh giàu tôn nghiêm
    Cho là vị quốc vương
    Hoặc là đồng bậc vua
    Kinh sợ tự trách thầm
    Tại sao lại đến đây?
    Lại thầm tự nghĩ rằng:
    Nếu ta đứng đây lâu
    Hoặc sẽ bị bức ngặt
    Ép buộc sai khiến làm.
    Suy nghĩ thế đó rồi
    Rảo chạy mà đi thẳng
    Hỏi thăm xóm nghèo nàn
    Muốn qua làm thuê mướn.

    GIẢNG:

    Gã cùng tử nghèo đói thân hình tiều tụy lang thang khắp nơi để mưu cầu sự ăn mặc rất gian nan khốn khổ. Một hôm tình cờ trở về cố hương, gặp lại cha già đang ngồi trên tòa báu, có quyến thuộc đông đảo, kẻ hầu hạ, người xuất nhập của cải, kẻ biên chép giấy tờ... có vẻ tôn nghiêm giàu mạnh. Gã cùng tử tự thấy mình lạc loài, tự trách mình sao đến chỗ này, e ngại sẽ bị bắt làm không công, hoặc bị giết, nên hối hận rồi bỏ chạy đi nơi khác. Tâm trạng gã cùng tử giống như chúng ta, nhiều đời đi lang thang trong sáu nẻo luân hồi quá ư khốn khổ, chợt thức tỉnh cầu đạo giải thoát. Nhưng khi tìm đến với đạo, học hiểu chút ít thấy việc thành đạo khó quá sanh nản lòng thối lui không muốn tiến nữa.

    CHÁNH VĂN:

    12.-

    Lúc bấy giờ Trưởng giả
    Ngồi trên tòa sư tử
    Xa trông thấy con mình
    Thầm lặng mà ghi nhớ,
    Ông liền bảo kẻ sứ
    Đuổi theo bắt đem về.
    Gã cùng tử sợ kêu
    Mê ngất ngã trên đất,
    Người này theo bắt tôi
    Chắc sẽ bị giết chết,
    Cần gì đồ ăn mặc
    Khiến tôi đến thế này!
    Trưởng giả biết con mình
    Ngu dại lòng hẹp hèn
    Chẳng chịu tin lời ta
    Chẳng tin ta là cha
    Ông liền dùng phương tiện
    Lại sai hai người khác
    Mắt chột, thân lùn xấu
    Hạng không có oai đức!
    Các người nên bảo nó
    Rằng ta sẽ thuê nó
    Hốt dọn các phân nhơ
    Trả giá bội cho nó.
    Gã cùng tử nghe rồi
    Vui mừng theo sứ về
    Vì dọn các phân nhơ
    Sạch sẽ các phòng nhà.
    Trưởng giả trong cửa sổ
    Thường ngó thấy con mình
    Nghĩ con mình ngu dại
    Ưa thích làm việc hèn
    Lúc đó ông Trưởng giả
    Mặc y phục cũ rách
    Tay cầm đồ hốt phân
    Qua đến chỗ con làm
    Phương tiện lần gần gũi
    Bảo rằng: Ráng siêng làm!
    Đã thêm giá cho ngươi
    Và cho dầu xoa chưn
    Đồ ăn uống đầy đủ
    Thêm đệm chiếu dầy ấm
    Cặn kẽ nói thế này:
    Ngươi nên siêng làm việc!
    Rồi lại dịu dàng bảo
    Như con thiệt của ta.

    GIẢNG:

    Ông Trưởng giả thấy con bỏ chạy, nên sai người đuổi theo bắt lại. Nhưng gã cùng tử thấy người đuổi theo, sợ bắt hành hạ hay giết nên hoảng hốt ngất xỉu. Ông Trưởng giả thấy con mình quá khờ dại nên bảo sứ giả thả ra, mặc tình nó đi đâu thì đi. Tuy nhiên, ông ngầm sai hai người mắt chột, thân lùn xấu, nghèo hèn khuyên gã cùng tử đến hốt phân nhà ông Trưởng giả. Gã cùng tử nhận lời làm thuê cho ông Trưởng giả. Bấy giờ ông Trưởng giả thương xót con khờ dại nên hóa trang, mặc đồ dơ xấu đến gần để an ủi con, cho nó những vật dụng cần dùng, ông khuyên bảo nên siêng làm việc, và nói ông coi gã như là con. Giống như chúng ta khi trở về với đạo, đáng lý phải thừa nhận sự nghiệp lớn lao của Phật là tu để thành Phật và độ sanh. Nhưng vì tâm lượng hẹp hòi, chỉ mong cầu chút ít phước báo ở cõi người cõi trời.

    CHÁNH VĂN:

    13.-

    Ông Trưởng giả có trí
    Lần lần cho ra vào
    Trải qua hai mươi năm
    Coi sóc việc trong nhà,
    Chỉ cho biết vàng, bạc,
    Ngọc trân châu, pha lê
    Các vật ra hoặc vào
    Đều khiến gã biết rõ.
    Gã vẫn ở ngoài cửa
    Nương náu nơi am tranh
    Tự nghĩ phận nghèo nàn
    Ta không có vật đó.
    Cha biết lòng con mình
    Lần lần đã rộng lớn
    Muốn giao tài vật cho
    Liền nhóm cả thân tộc
    Quốc vương, các đại thần
    Hàng Sát-lợi, cư sĩ
    Rồi ở trong chúng này
    Tuyên nói chính con ta
    Bỏ ta đi nước khác
    Trải hơn năm mươi năm,
    Từ gặp con đến nay
    Đã hai mươi năm rồi
    Ngày trước ở thành kia
    Mà mất đứa con này
    Ta đi tìm khắp nơi
    Bèn đến ngụ nơi đây,
    Phàm của cải ta có
    Nhà cửa cùng nhân dân
    Thảy đều phó cho nó
    Mặc tình nó tiêu dùng
    Người con nhớ xưa nghèo
    Ý chí rất kém hèn
    Nay ở nơi cha mình
    Được quá nhiều châu báu
    Và cùng với nhà cửa
    Gồm tất cả tài vật,
    Lòng rất đỗi vui mừng
    Được điều chưa từng có.

    GIẢNG:

    Ông Trưởng giả là người có trí, biết ý chí con hạ liệt, nên phương tiện hướng dẫn cùng tử coi sóc việc nhà cho quen, sau đó chỉ kho tàng của báu, giao cho cùng tử quản lý tất cả sự nghiệp. Rồi ông họp thân tộc, quốc vương, đại thần... công bố cùng tử là con đẻ của ông, sự nghiệp của ông là sự nghiệp của con ông. Gã cùng tử được điều chưa từng có nên rất vui mừng.

    CHÁNH VĂN:

    14.-

    Đức Phật cũng như thế
    Biết con ưa Tiểu thừa
    Nên chưa từng nói rằng
    Các ngươi sẽ thành Phật
    Mà chỉ nói chúng con
    Được có đức vô lậu
    Trọn nên quả Tiểu thừa
    Hàng Thanh văn đệ tử
    Đức Phật bảo chúng con
    Nói đạo pháp tối thượng
    Người tu tập pháp này
    Sẽ được thành Phật quả
    Chúng con vâng lời Phật
    Vì các Bồ-tát lớn
    Dùng các món nhân duyên
    Cùng các môn thí dụ
    Bao nhiêu lời lẽ hay
    Để nói đạo Vô thượng
    Các hàng Phật tử thảy
    Từ nơi con nghe pháp
    Ngày đêm thường suy gẫm
    Tinh tấn siêng tu tập
    Bấy giờ các đức Phật
    Liền thọ ký cho kia
    Các ông ở đời sau
    Sẽ được thành Phật đạo,
    Pháp mầu rất bí tàng     
    Của tất cả các Phật
    Chỉ để vì Bồ-tát
    Mà dạy việc thiệt đó
    Nhưng chẳng vì chúng con
    Nói pháp chân yếu nầy
    Như gã cùng tử kia
    Được gần bên người cha
    Dầu lãnh biết các vật
    Nhưng lòng chẳng mong cầu
    Chúng con dầu diễn nói
    Tạng pháp báu của Phật
    Tự mình không chí nguyện
    Cũng lại như thế đó.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-diếp hợp pháp ví dụ. Ngài nói rằng ông Trưởng giả dụ cho đức Phật, Phật biết hàng Thanh văn ưa pháp Tiểu thừa nên chưa từng nói “các ngươi sẽ thành Phật”, chỉ nói tu hạnh Thanh văn sẽ chứng Niết-bàn, còn hàng Bồ-tát thì Phật dạy tu pháp tối thượng sẽ thành Phật. Do nghe Phật dạy, nên các ngài cũng nói người nào tu pháp tối thượng sẽ thành Phật. Các ngài nói người nào nghe Phật dạy cố gắng tu và được Phật thọ ký, còn các ngài thì vô phần. Để thấy rằng người học đạo hài lòng với pháp nhỏ mà mình đã được thì khó tiến bộ. Phật vì lòng từ bi, thấy đệ tử không có chí nguyện lớn, nên phương tiện thúc đẩy cho tiến lên, cuối cùng Ngài thọ ký cho thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    15.-

    Chúng con diệt bề trong
    Tự cho là đã đủ
    Chỉ xong được việc này
    Lại không biết việc khác
    Chúng con dầu có nghe
    Pháp tịnh cõi nước Phật
    Cùng giáo hóa chúng sanh
    Đều không lòng ưa vui
    Như thế là vì sao?
    Vì tất cả các pháp
    Thảy đều là không lặng
    Không sanh cũng không diệt
    Không lớn cũng không nhỏ
    Vô lậu và vô vi
    Suy nghĩ thế đó rồi
    Chẳng sanh lòng ưa muốn
    Chúng con đã từ lâu
    Đối với trí huệ Phật
    Không tham, không ưa thích
    Không lại có chí nguyện
    Mà đối với pháp mình
    Cho đó là rốt ráo
    Chúng con từ lâu nay
    Chuyên tu tập pháp không
    Được thoát khỏi hoạn nạn
    Khổ não của ba cõi
    Trụ trong thân rốt sau
    Hữu dư y Niết-bàn
    Đức Phật dạy bảo ra
    Chứng được đạo chẳng luống
    Thời là đã có thể
    Báo được ơn của Phật
    Chúng con dầu lại vì
    Các hàng Phật tử thảy
    Tuyên nói pháp Bồ-tát,
    Để cầu chứng Phật đạo,
    Mà mình đối pháp đó
    Trọn không lòng mong muốn
    Đấng Đạo sư buông bỏ
    Vì xem biết lòng con
    Ban đầu không khuyên gắng
    Nói những lợi có thiệt,
    Như ông Trưởng giả giàu
    Biết con chí kém hèn
    Bèn dùng sức phương tiện
    Để hòa phục tâm con
    Vậy sau mới giao phó
    Tất cả tài vật báu,
    Đức Phật cũng thế đó
    Hiện ra việc ít có
    Biết con ưa Tiểu thừa
    Bèn dùng sức phương tiện
    Điều phục tâm của con
    Rồi mới dạy trí lớn
    Chúng con ngày hôm nay
    Được pháp chưa từng có
    Chẳng phải chỗ trước mong
    Mà nay tự nhiên được
    Như gã cùng tử kia
    Được vô lượng của báu.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-diếp thuật lại việc tu hành của hàng Thanh văn là diệt bề trong cho là đã đủ, lại không biết việc khác. Nghĩa là các ngài một bề dẹp những kiết sử trói buộc ở nội tâm, kiết sử hết thì không còn luân hồi, chứng Niết-bàn, các ngài thấy đó là đủ, không tự biết mình có sẵn Tri kiến Phật, không thực hành pháp tịnh cõi nước Phật, giáo hóa chúng sanh. Sỡ dĩ hàng Thanh văn không ưa giáo hóa chúng sanh, làm thanh tịnh cõi nước Phật là vì các ngài quán chiếu thấy tất cả pháp đều không lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vi, chỉ thích an tịnh trong cái tịch tịnh đó. Còn việc độ sanh, tịnh cõi nước Phật, là việc bên ngoài nên không bao giờ nghĩ và thích. Vì vậy, Phật mới vì các ngài khuyến khích muốn cho các ngài được pháp Vô thượng cũng như gã cùng tử được của báu.

    CHÁNH VĂN:

    16.-

    Thế Tôn! Chúng con nay
    Được đạo và chứng quả
    Ở nơi pháp vô lậu
    Được huệ nhãn thanh tịnh.
    Chúng con từ lâu nay
    Gìn tịnh giới Phật chế
    Mới ở ngày hôm nay
    Được hưởng quả báo đó
    Trong pháp của Pháp vương
    Lâu tu hành phạm hạnh
    Ngày nay được vô lậu
    Quả báu lớn Vô thượng.
    Chúng con ngày hôm nay
    Mới thiệt là Thanh văn
    Đem tiếng đạo của Phật
    Cho tất cả đều nghe.
    Chúng con ngày hôm nay,
    Thiệt là A-la-hán
    Ở nơi các thế gian
    Trời, người và ma, Phạm
    Khắp ở trong chúng đó
    Đáng lãnh của cúng dường.
    Ơn lớn của Thế Tôn
    Đem việc ít có nầy
    Thương xót dạy bảo cho
    Làm lợi ích chúng con
    Trải vô lượng ức kiếp
    Ai có thể đền được.
    Tay lẫn chân cung cấp
    Đầu đảnh lễ cung kính,
    Tất cả đem cúng dường
    Đều không thể đền được
    Hoặc dùng đầu đội Phật
    Hai vai cùng cõng vác
    Trong kiếp số hằng sa
    Tận tâm mà cung kính
    Lại đem dưng đồ ngon
    Y phục báu vô lượng
    Và các thứ đồ nằm
    Cùng các món thuốc thang
    Gỗ ngưu đầu, chiên-đàn
    Và các vật trân báu
    Để dựng xây tháp miếu
    Y báu lót trên đất
    Như các việc trên đây
    Đem dùng cúng dường Phật
    Trải số kiếp hằng sa
    Cũng không đền đáp được
    Các Phật thật ít có
    Đấng vô lượng vô biên
    Đến bất khả tư nghì
    Đủ sức thần thông lớn,
    Bậc vô lậu vô vi
    Là vua của các pháp
    Hay vì kẻ hạ liệt
    Nhẫn việc cao thượng đó,
    Hiện lấy tướng phàm phu
    Tùy cơ nghi dạy nói
    Các Phật ở nơi pháp
    Được sức rất tự tại
    Biết các hàng chúng sanh
    Có những điều ưa muốn
    Và chí lực của nó
    Theo sức nó kham nhiệm
    Dùng vô lượng thí dụ
    Mà vì chúng nói pháp,
    Tùy theo các chúng sanh
    Trồng căn lành đời trước
    Lại biết đã thành thục
    Hay là chưa thành thục
    Suy lường những điều đó
    Phân biệt biết rõ rồi
    Ở nơi đạo Nhứt thừa
    Tùy cơ nghi nói ba.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-diếp nói hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế chứng quả A-la-hán. A-la-hán là bậc sạch hết lậu hoặc, xứng đáng cho trời người cúng dường nên gọi là Ứng Cúng. Tuy xưa gọi A-la-hán là bậc Ứng Cúng, nhưng nay xét kỹ lại thì quả Thanh văn hãy còn hạn hẹp chưa xứng cho trời người cúng dường. Bấy giờ các ngài Thanh văn, nhận ra Tri kiến Phật mới thật xứng đáng cho trời người cúng dường. Đó là ngài Ma-ha Ca-diếp kể lại công ơn giáo hóa vô cùng lớn lao của Phật. Nhờ công giáo hóa của Phật nên các ngài mới đến được chỗ cứu kính chân thật.

    Công ơn giáo hóa sâu dày của Phật cũng như của Thầy Tổ, đối với người học đạo lôi thôi thì họ không thấy không biết, vì họ không nhận được sự lợi ích, vẫn còn mê mờ khổ đau. Còn người học Phật chân chánh, càng tu càng thấy công ơn của Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, và công ơn của Thầy Tổ trực tiếp hướng dẫn chúng ta tu học cũng không phải nhỏ. Tại sao vậy? Vì ở thế gian chúng ta học về ngôn ngữ, luận lý, công nghệ, giúp cho chúng ta khôn ngoan lanh lợi, ăn nói lưu loát. Có nghề nghiệp để sanh sống thì chúng ta có danh vị quyền lợi, được giàu sang no ấm, cao lắm là một đời người bốn năm mươi năm, mà chúng ta còn mang ơn thầy dạy suốt đời. Đối với đức Phật, từ vô lượng kiếp chúng ta vô minh tạo nghiệp, đi trong luân hồi sanh tử chịu khổ triền miên. Nay được Phật chỉ dạy cho phương pháp tu hành, nhận ra Tri kiến Phật thoát ly sanh tử, đời đời kiếp kiếp không còn khổ đau. Như vậy, công ơn của Phật đối với chúng ta chừng bao nhiêu? Không thể tính kể, khó mà đền đáp! Cho dù tâm cung kính đảnh lễ, đầu đội Phật, vai cõng Phật, hoặc dâng cúng thức ăn, y phục, thuốc thang, sàng tòa toàn bằng vật quí báu, hoặc xây tháp miếu thờ tượng Phật trải qua vô lượng kiếp, cũng không đền đáp được công ơn của Phật. Tại sao vậy? Vì tất cả việc làm đó đều là hình thức, là tướng sanh diệt nên có giới hạn. Còn Phật chỉ bày Tri kiến Phật là cái không hình tướng, không giới hạn, chúng ta nhận ra và hằng sống với nó thì dứt khổ đau vĩnh viễn. Lấy cái giới hạn mà đáp cái vô hạn làm sao đáp được? Khi đã biết ơn Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, thì cái ơn gần nhất là Thầy Tổ, đã có công nối tiếp nhắc nhở lời Phật dạy cho chúng ta nghe để tu, thì công ơn ấy cũng không thể kể xiết.

    Vì vậy ngài Ma-ha Ca-diếp tán thán công ơn của Phật không thể tính kể, không thể đền đáp. Vì thương và làm lợi ích cho đệ tử mà đức Phật đã phương tiện, tùy nghi phân biệt giảng dạy từ thấp lên cao, cuối cùng đưa các ngài từ quả vị Thanh văn đến đạo Nhất thừa rốt ráo.


  • 6. PHẨM 5 : DƯỢC THẢO DỤ

    PHẨM 5

    DƯỢC THẢO DỤ

    Dược Thảo Dụ là ví dụ cây cỏ thuốc. Ngang đây đáng lý Phật thọ ký cho các vị Tỳ-kheo và A-la-hán. Nhưng vì Phật muốn nói rộng cho hàng Thanh văn thấy rõ công đức chân thật của Như Lai, rồi sau mới thọ ký, nên Phật nói phẩm Dược Thảo Dụ này.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Ma-ha Ca-diếp và các vị đại đệ tử:

    - Hay thay! Hay thay! Ca-diếp! Khéo nói được công đức chân thật của đức Như Lai. Đúng như lời các ông vừa nói; đức Như Lai lại còn có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được.

    Ca-diếp nên biết! Đức Như Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng trí huệ phương tiện mà diễn nói đó, pháp của Phật nói thảy đều đến bậc Nhứt thiết trí. Đức Như Lai xem biết chỗ qui thú của tất cả pháp, cũng rõ biết chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sanh thông thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí huệ cho các chúng sanh.

    GIẢNG:

    Đức Phật xác nhận Tôn giả Ma-ha Ca-diếp khéo tán thán công đức của Như Lai. Đúng như lời của Tôn giả Ma-ha Ca-diếp nói, Như Lai còn có vô lượng vô biên công đức, dù trải qua vô số kiếp nói cũng không hết được. Sở dĩ Như Lai có được công đức như thế do Ngài tu nhân lành vô lượng vô biên, là hành Lục độ ba-la-mật, độ vô số chúng sanh được giải thoát. Ngài tu mãi cho đến khi công hạnh viên mãn thành Phật mới thôi. Còn hàng phàm phu chúng ta chỉ tu được nhân phước báo của nhân thiên, nó hữu lượng hữu biên, nên thành tựu quả cũng hữu lượng hữu biên, vì vậy còn quanh quẩn trong cõi trời cõi người. Ở đây nói trì kinh Pháp Hoa có công đức nhiều là vì kinh này dạy Bồ-tát tu đến Phật quả mới viên mãn công hạnh, chớ không dừng ở bất cứ quả vị nào. Quả Phật là chỗ cứu kính của người tu Phật, nên nói kinh Pháp Hoa là vua các kinh là nghĩa đó.

    Phật lại nói Như Lai là vua tất cả pháp, nói lời không hư dối, dùng sức trí tuệ phương tiện nói pháp đều đưa chúng sanh đến bậc Nhất thiết trí. Như Lai biết chỗ qui thú của tất cả pháp, cũng biết rõ tâm sở hành của chúng sanh. Chỗ qui thú của tất cả pháp là nguồn cội của các pháp, Phật giác ngộ thấy rõ nhân nào đưa chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử, nhân nào đưa chúng sanh tới chỗ giải thoát Niết-bàn. Ngài thấy tận nguồn cội của pháp hữu vi sanh diệt ở thế gian và pháp vô vi bất sanh bất diệt xuất thế gian. Bởi thấy tận nguồn cội của các pháp, nên thấy được tâm sở hành của chúng sanh, tức là tâm ưa thích đến chỗ này đến chỗ kia của chúng sanh. Do biết pháp và biết tâm người nên Phật giáo hóa thông suốt không chướng không ngại. Chúng ta hiện thời, pháp thì biết chút ít, tâm người cũng biết sơ sơ, nên giáo hóa thường bị chướng ngại. Nếu biết pháp mà không biết tâm người, thì nói pháp chỉ khế lý mà không khế cơ nên người nghe không thỏa mãn, không thực hành theo, không được lợi ích, do đó có chướng ngại. Nếu biết tâm người mà không biết pháp thì cũng không giáo hóa được, vì chính bản thân mình chưa tu chưa tiến, làm sao biết rõ đường hướng để chỉ dạy cho người tu theo? Thế nên giáo hóa mà bị chướng ngại là lỗi tại chúng ta chưa được trí tuệ viên mãn, không biết pháp không rõ tâm người!

    CHÁNH VĂN:

    2.- Ca-diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất, sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc bậc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn.

    Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thọ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.

    GIẢNG:

    Phật dụ mặt đất sanh ra cây cỏ thuốc, cây nhỏ, cây vừa, cây lớn, màu sắc tên gọi khác nhau. Một trận mưa xuống, tùy theo khả năng của mỗi loại mà thấm nhuần sanh trưởng khác nhau. Ở đây nêu lên hai cái bình đẳng. Bình đẳng thứ nhất là cây lớn, cây vừa, cây nhỏ, tất cả đều từ đất mọc lên. Bình đẳng thứ hai là dù cây nhỏ cây vừa, hoặc cây lớn cũng được nước của trận mưa rưới đều. Cùng từ đất mọc lên, cùng nhận nước từ một trận mưa, mà sức hấp thụ phân nước của mỗi loại sai khác, nên thấm nhuần và sanh trưởng cũng sai khác.

    Đất là dụ cho Tri kiến Phật nơi mỗi chúng sanh ai cũng có sẵn. Mưa là dụ cho pháp Phật dạy chung cho tất cả, nhưng tùy theo sự mê muội của mỗi chúng sanh dày hay mỏng mà nhận hiểu sâu hay cạn. Đó là do căn cơ của mỗi loại mà lợi ích có sai khác, không phải pháp Phật dành cho người cao hay dành cho người thấp. Vì căn cơ sai biệt nên pháp trở thành sai biệt. Cũng như trong pháp hội này, thính chúng đều là người xuất gia, ai cũng muốn nghe pháp mà đến đây. Tôi giảng cũng bình đẳng không đặc biệt dành riêng cho một người nào. Nhưng trong đây, có người hiểu sâu, có người hiểu cạn, có người nghe vui vẻ hân hoan, có người nghe không hiểu buồn ngủ... Có phải tại tôi nói pháp chú ý người này nên họ vui vẻ hân hoan, bỏ rơi người nọ nên họ buồn ngủ không? Tôi nói pháp bình đẳng, đối với người có khả năng tiếp thu được, họ hiểu nên họ vui. Người thiếu khả năng, nghe không hiểu nên buồn ngủ. Đó là do trình độ người nghe sai biệt nên hiểu biết cũng sai biệt.         

    Qua ví dụ trên, chúng ta thấy rằng sở dĩ Phật nói ba thừa là tại căn cơ của chúng sanh sai biệt, nên Ngài tùy thuận nói, nhưng chỗ thú hướng bình đẳng là Ngài qui Tam thừa trở về Nhất thừa. Đó là ý nghĩa cùng một thửa đất cùng một đám mưa, nhưng tùy loại giống mà hấp thụ phân nước khác nhau nên có cây lớn, cây trung, cây nhỏ khác nhau.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Ca-diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, a-tu-la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam thiên đại thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời nầy:

    “Ta là đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn thời làm cho chứng Niết-bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhứt thiết trí, bậc Nhứt thiết kiến, là bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, a-tu-la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy.”

    Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Phật mà nghe pháp. Lúc đó đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh nầy nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại, ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo.

    Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng, và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng.

    Đức Như Lai nói pháp một tướng, một vị, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “Nhứt thiết chủng trí”. Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết.

    Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết Chủng tướng Thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì được pháp gì?

    Chúng sanh ở nơi các bậc, chỉ có đức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng, các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó.

    Đức Như Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết-bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “Nhứt thiết chủng trí”.

    Ca-diếp! Các ông rất là hi hữu, có thể rõ biết đức Như Lai tùy cơ nghi nói pháp hay tin hay nhận, vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết.

    GIẢNG:

    Tới đây, chúng ta thấy như đức Phật tự khen mình. Nhưng kỳ thật Phật xác định công đức Như Lai rộng lớn như vậy, là do làm lợi ích cho chúng sanh trong vô số kiếp mới được thành tựu quả Phật. Ngài tuyên bố dõng dạc rằng: Khả năng và sở nguyện của Ngài là làm lợi ích chúng sanh đến chỗ viên mãn. Đối với người chưa được độ Ngài làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ Ngài làm cho tỏ ngộ, người chưa an Ngài làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn Ngài làm cho chứng Niết-bàn, ở đời này và đời sau, Ngài đều biết đúng như thật. Ngài là bậc Nhất thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Hàng trời, người, a-tu-la nên đến để nghe pháp.

    Xét lại, chúng ta và chúng sanh đời sau chưa được độ, chưa được tỏ ngộ, chưa được an, chưa được Niết-bàn mà Phật đã diệt độ rồi, sao ở đây Ngài lại nói như thế? Đức Phật là đấng Vô thượng sư, một ông thầy không có ai hơn được. Khi đức Phật còn tại thế, Ngài thường khuyên dạy các Tỳ-kheo phải y theo pháp mà nỗ lực tu hành. Muốn đền ơn Phật là phải giáo hóa chúng sanh, giáo hóa chúng sanh là đền ơn Phật. Chúng ta ở đời này cũng như chúng sanh ở đời sau không có duyên gặp Phật. Thuở Phật ra đời, không biết chúng ta là loài chúng sanh nào, có thể là kiến hay muỗi cắn Phật một chút, do cái duyên đó nên ngày nay cách Phật mấy ngàn năm mới được gặp Phật pháp tu hành. Tuy gặp Phật pháp mà chỉ gặp gián tiếp, chớ không được gặp trực tiếp. Chính vì lời dạy trên của Phật, mà sau khi Phật niết-bàn, hàng đệ tử lớn của Ngài ghi chép lời dạy của Ngài thành Tam tạng giáo điển lưu truyền cho đời sau. Người đi trước đã tu học, dạy cho người sau được tu học, cứ thế mà truyền mãi cho tới ngày nay, nên tất cả chúng ta cũng được gặp Phật pháp. Tuy chúng ta không tỏ ngộ như người xưa, nhưng cũng được phần tỉnh sáng, tuy không được Niết-bàn an vui vĩnh viễn như người xưa, nhưng cũng được những giờ phút an ổn. Ngày nay chúng ta được phúc duyên ngồi đây nghe pháp, là chúng ta đã được Phật gián tiếp độ rồi. Chúng ta được tỉnh sáng phần nào là nhờ Phật mà được tỏ ngộ. Tâm chúng ta bớt phiền não là nhờ Phật mà được an. Như vậy lời nói của Phật không dối.

    Sở dĩ đạo Phật tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm nay là do giáo pháp Phật còn, và còn người tu đúng theo pháp Phật. Ngoài ra chùa chiền, di tích, nghi thức tôn giáo chưa phải là yếu tố chánh để duy trì Phật pháp. Trọng tâm của sự truyền bá đạo Phật, là phải làm sao chính mình thông hiểu và thực hành đúng pháp Phật, để được lợi ích thực tiễn, rồi dạy người hiểu và tu đúng theo pháp Phật, được lợi ích như mình. Cho nên chúng tôi tự thấy trách nhiệm là phải làm sao cho Tăng Ni và Phật tử hiểu, thực hành được những gì mà chúng tôi đã hiểu, đã thực hành, thì khả dĩ Phật pháp mới được trường tồn. Nếu hiểu Phật pháp mà không tu hoặc tu sai, hay tu mà không hiểu Phật pháp là tự mình hủy diệt mình, tự làm cho đạo Phật không còn giá trị chân chánh nữa.

    Phật nói Ngài là bậc Nhất thiết trí, tức là trí Phật biết được tất cả. Bậc Nhất thiết kiến, tức là Phật thấy được tất cả. Bậc Tri đạo, tức là Phật biết đường để dẫn cho mọi người đi. Bậc Khai đạo, tức Phật là người mở đường cho chúng sanh đi. Bậc Thuyết đạo, tức Phật là người nói con đường cho chúng sanh biết để đi. Vì vậy nên tất cả hãy đến để nghe. Phật biết rõ trình độ của chúng sanh nào là lợi căn, độn căn, tinh tấn, giải đãi... Ngài tùy theo căn cơ của họ mà giảng nói để họ cũng được lợi ích. Ngài không bỏ sót một người nào, khôn lanh Phật cũng độ, dại khờ Phật cũng độ, siêng năng Phật cũng độ, lười biếng Phật cũng độ. Nên Ngài nói ai ai cũng đều được lợi lành, được an ổn, đời sau sanh vào cõi lành, hưởng vui sướng. Nhờ nghe pháp Phật mà bớt chướng ngại, lần lần sẽ được vào đạo, chứng Phật quả. Pháp Phật ví như một đám mưa lớn rưới khắp tất cả cỏ cây, tùy theo giống của mỗi loại đều được hấp thụ, đượm nhuần và sanh trưởng.

    Pháp Phật nói chỉ có một tướng, một vị, đó là tướng giải thoát, vị giải thoát. Phật giáo hóa suốt bốn mươi chín năm, Ngài nói pháp rất nhiều, tại sao chỉ có một tướng giải thoát, một vị giải thoát? Như chúng ta biết, Phật nói pháp thấp nhất là năm giới, người giữ năm giới là giải thoát được năm phần chướng nạn. Ví dụ người có tật tham lam trộm cắp, khi phát nguyện giữ năm giới thì không trộm cắp nữa, không trộm cắp là đã giải thoát được cái nạn bị bắt bớ đánh đập tù tội. Người ghiền rượu khi phát nguyện giữ năm giới thì giải thoát được cái nạn nghiện ngập say sưa. Vậy giữ một giới là giải thoát được một nạn chướng, giữ hai giới là giải thoát được hai nạn chướng... Trong luật gọi là từng phần giải thoát. Như vậy không phải pháp Phật có một vị là vị giải thoát sao?

    Tướng xa lìa là xa lìa tham sân si, phiền não chấp trước. Đối trước danh lợi, tài sắc... biết là giả dối không thật, không khởi tham sân si, chấp trước, đó là xa lìa, chớ không phải chạy trốn danh lợi, tài sắc mới gọi là xa lìa. Tướng diệt là sạch hết mọi vọng niệm, tâm thanh tịnh, hướng đến bậc Nhất thiết chủng trí. Sở dĩ Phật dạy cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát, là vì Ngài được Nhất thiết chủng trí, tức là trí biết được mọi chúng sanh. Nên ai nghe kinh này rồi thọ trì, đọc tụng và đúng như lời Phật dạy mà tu hành thì người đó được công đức tự mình không hay biết, không thể suy lường. Chúng ta ngày nay chỉ đọc tụng mà không đúng như lời Phật dạy để tu hành, cho rằng đọc tụng nhiều là tu nhiều. Tu và đọc có giống nhau không? Nếu bảo đọc tụng kinh là tu, tôi cho rằng chưa đúng. Vì sao? Ví dụ một bệnh nhân đến bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ cho toa bảo về nhà mua đủ những thứ thuốc ghi trong toa mà uống sẽ lành bệnh. Bệnh nhân đem toa về cứ đọc tới đọc lui hiệu thuốc ghi trong toa, mà không mua thuốc để uống. Như thế bệnh có lành không? Cũng vậy, ở đây Phật dạy đọc tụng rồi đúng như lời dạy của Phật mà tu hành mới được công đức. Phải hiểu chỗ này cho thật kỹ. Đọc rồi nhớ ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống đó là tu, chớ không phải đọc tụng suông như đọc toa thuốc mà gọi là tu được.

    Hiện tại có rất nhiều người tụng kinh Pháp Hoa, tu theo kinh Pháp Hoa, nhưng chúng ta tụng và tu theo kinh Pháp Hoa với tâm niệm gì? Cầu Trí tuệ Phật hay cầu phước báo, cầu lợi lộc? Nếu cầu phước cầu lợi là phản bội kinh Pháp Hoa rồi! Tôi xin nhắc lại kinh Pháp Hoa dạy tu để được Nhất thiết chủng trí, tức là tu để được Trí tuệ Phật. Phật dạy một đàng chúng ta làm một nẻo, mà cho là trì kinh, cho là mình tu cao, chỉ tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng ngã mạn. Đó là một cái bệnh mà ít ai biết. Nói lời thật thì khó nghe và làm mích lòng người. Nhưng biết, thấy người tu sai mà không nói thì vấp phải cái lỗi bỏn sẻn, nên buộc lòng chúng tôi phải nói. Giảng kinh Pháp Hoa là phải làm sáng tỏ lý kinh, chớ để cho người tu theo kinh Pháp Hoa mà tu lầm, tu sai thì không được.

    Tại sao trì tụng kinh và đúng như lời dạy của Phật tu hành mà không tự biết công đức? Vì mình không tự biết mình căn cơ ở bậc thượng, bậc trung hay bậc hạ. Chỉ có Phật mới biết, nên Ngài mới bủa ra nhiều pháp môn. Chúng sanh thích hợp với pháp môn nào thì ứng dụng pháp môn đó mà tu hành, chớ tự mình không biết. Phật do được Nhất thiết chủng trí mới biết được Chủng tướng, Thể tánh của chúng sanh: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Và được pháp gì? Nên Ngài đúng theo từng tâm niệm của chúng sanh mà giáo hóa được kết quả thiết thực. Chúng ta tu chưa được Nhất thiết chủng trí, nói pháp không đúng tâm niệm của chúng sanh nên không có kết quả tốt.

    Xưa ngài A-nan hướng dẫn cho hai vị đệ tử Sa-di tu, một vị Ngài dạy quán sổ tức, một vị Ngài dạy quán bất tịnh. Cả hai tu một thời gian không kết quả, khi gặp lại Ngài, hai vị trình là tu không tiến bộ. Ngài A-nan thắc mắc tại sao mình dạy tu đúng với pháp Phật mà đệ tử tu không có kết quả. Ngài bèn trình việc này lên Phật, Phật hỏi hai vị đó trước làm nghề gì. Ngài A-nan thưa, một người làm thợ rèn, một người giữ nghĩa địa. Phật nói ngài A-nan dạy tu không hợp căn cơ của người. Với người thợ rèn thì nên dạy tu sổ tức, vì thợ rèn hay thụt ống bễ, dạy quán sổ tức họ dễ nhớ dễ thực hành. Người giữ nghĩa địa thường thấy thây chết nên dạy quán bất tịnh. Theo lời Phật, ngài A-nan dạy hai vị Sa-di tu một thời gian được kết quả tốt. Để thấy chúng ta chưa được Nhất thiết chủng trí, không biết tâm hành của chúng sanh, nên giáo hóa không có kết quả. Vì vậy, chúng ta tu nửa chừng như hiện nay, dù có thông minh đến đâu đi nữa, cũng chưa đủ phương tiện giáo hóa người, nên đừng tự mãn mà phải tu cho đến chỗ rốt ráo thành Phật mới thôi. 

    Phật lặp lại một lần nữa là pháp Phật có một tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết-bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, là chỉ cho Niết-bàn tịch diệt không có tướng mạo, không sanh diệt, không vô thường. Phàm cái gì có hình tướng thì sanh diệt, vô thường, là duyên hợp huyễn hóa không thật. Do đó Phật mới dùng phương tiện để đưa mọi người tu từ thấp lần lần lên cao, rồi đến Trí tuệ Phật là cái chân thật. Nên nói Như Lai tùy cơ nghi nói pháp mà tâm phàm phu chúng ta khó có thể hiểu biết được.

    Tới đây Phật khen Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề rất là hi hữu ít có. Tại sao Phật khen các ngài rất ít có? Vì các ngài biết rõ Phật tùy cơ nghi nói pháp nên tin nhận được, chỗ khó hiểu khó biết bây giờ các ngài đã hiểu đã biết. Như vậy là các ngài xứng đáng gánh vác trách nhiệm mà Phật giao phó, nên Phật khen để rồi sau này Phật thọ ký.

    CHÁNH VĂN:

    Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    4.-

    Pháp vương phá các cõi
    Hiện ra trong thế gian
    Theo tánh của chúng sanh
    Dùng các cách nói pháp.
    Đức Như Lai tôn trọng
    Trí huệ rất sâu xa
    Lâu giữ pháp yếu này
    Chẳng vội liền nói ra
    Người trí nếu được nghe
    Thời có thể tin hiểu,
    Kẻ không trí nghi hối
    Thời bèn là mất hẳn.
    Ca-diếp! Vì cớ đó
    Theo sức chúng nói pháp
    Dùng các món nhân duyên
    Cho chúng được chánh kiến.
    Ca-diếp ông nên biết!
    Thí như vừng mây lớn
    Nổi lên trong thế gian
    Che trùm khắp tất cả
    Mây trí huệ chứa nhuần
    Chớp nhoáng sáng chói lòa
    Tiếng sấm xa vang động
    Khiến mọi loài vui đẹp
    Nhựt quang bị che khuất
    Trên mặt đất mát mẻ
    Mây mù sa bủa gần
    Dường có thể nắm tới.
    Trận mưa đó khắp cùng
    Bốn phương đều xối xuống
    Dòng nước tuôn vô lượng
    Cõi đất đều rút đầy
    Nơi núi sông hang hiểm
    Chỗ rậm rợp sanh ra
    Những cây cối cỏ thuốc
    Các thứ cây lớn nhỏ
    Trăm giống lúa mộng mạ
    Các thứ mía cùng nho
    Nhờ nước mưa đượm nhuần
    Thảy đều tươi tốt cả.
    Đất khô khắp được rưới
    Thuốc cây đều sum sê
    Vừng mây kia mưa xuống
    Nước mưa thuần một vị
    Mà cỏ cây lùm rừng
    Theo mỗi thứ đượm nhuần
    Tất cả các giống cây
    Hạng thượng, trung cùng hạ
    Xứng theo tánh lớn nhỏ
    Đều được sanh trưởng cả.
    Gốc thân nhánh và lá
    Trổ bông trái sắc vàng
    Một trận mưa rưới đến
    Cây cỏ đều thấm ướt
    Theo thể tướng của nó
    Tánh loại chia lớn nhỏ
    Nước đượm nhuần vẫn một
    Mà đều được sum sê.

    GIẢNG:

    Phần trùng tụng lặp lại ý chính ở trên là, Phật ra đời cốt chỉ cho mọi người nhận ra Tri kiến Phật. Nhưng vì căn cơ chúng sanh không đồng, nên phải tùy theo trình độ mà giáo hóa có sai biệt, để cho người cao cũng như người thấp đều nhận được lợi ích và cuối cùng Ngài đưa đến chỗ cứu kính bình đẳng là quả Phật. Phật dụ pháp Phật bình đẳng như nước mưa có một vị ngọt rưới khắp cỏ cây lớn nhỏ, tùy mỗi loại cây mà hấp thụ nước sai biệt, nhưng loại nào cũng bình đẳng nhận lợi ích.

    CHÁNH VĂN:

    5.-

    Đức Phật cũng như thế
    Hiện ra nơi trong đời
    Ví như vầng mây lớn
    Che trùm khắp tất cả.
    Đã hiện ra trong đời
    Bèn vì các chúng sanh
    Phân biệt diễn nói bày
    Nghĩa thật của các pháp
    Đấng Đại Thánh Thế Tôn
    Ở trong hàng trời người
    Nơi tất cả chúng hội
    Mà tuyên nói lời này:
    Ta là bậc Như Lai
    Là đấng Lưỡng Túc Tôn
    Hiện ra nơi trong đời
    Dường như vừng mây lớn
    Thấm nhuần khắp tất cả
    Những chúng sanh khô khao
    Đều làm cho lìa khổ
    Được an ổn vui sướng
    Hưởng sự vui thế gian
    Cùng sự vui Niết-bàn.
    Các chúng trời người này
    Một lòng khéo lóng nghe
    Đều nên đến cả đây
    Ra mắt đấng Vô thượng
    Ta là đấng Thế Tôn
    Không có ai bằng được
    Muốn an ổn chúng sanh
    Nên hiện ra trong đời
    Vì các đại chúng nói
    Pháp cam lồ trong sạch
    Pháp đó thuần một vị
    Giải thoát Niết-bàn thôi.
    Dùng một giọng tiếng mầu
    Diễn xướng nghĩa nhiệm nầy
    Đều thường vì Đại thừa
    Mà kết làm nhân duyên
    Ta xem tất cả chúng
    Khắp đều bình đẳng cả
    Không có lòng bỉ thử
    Cùng với tâm yêu ghét
    Ta không chút tham đắm
    Cũng không có hạn ngại
    Hằng vì tất cả chúng
    Mà bình đẳng nói pháp
    Như khi vì một người
    Lúc chúng đông cũng vậy
    Thường diễn nói pháp luôn
    Từng không việc gì khác
    Ngồi, đứng, hoặc đến, đi
    Trọn không hề nhàm mỏi
    Đầy đủ cho thế gian
    Như mưa khắp thấm nhuần
    Sang hèn cùng thượng, hạ
    Giữ giới hay phá giới
    Oai nghi được đầy đủ
    Và chẳng được đầy đủ
    Người chánh kiến, tà kiến
    Kẻ độn căn, lợi căn
    Khắp rưới cho mưa pháp
    Mà không chút nhàm mỏi.
    Tất cả hàng chúng sanh
    Được nghe pháp của ta
    Tùy sức mình lãnh lấy
    Trụ ở nơi các bực
    Hoặc là ở trời, người
    Làm Chuyển Luân Thánh vương
    Trời, Thích, Phạm, các vua
    Đó là cỏ thuốc nhỏ
    Hoặc rõ pháp vô lậu
    Hay chứng được Niết-bàn
    Khởi sáu pháp thần thông
    Và được ba món minh
    Ở riêng trong núi rừng
    Thường hành môn Thiền định
    Chứng được bực Duyên giác
    Là cỏ thuốc bực trung.
    Hoặc cầu bực Thế Tôn
    Ta sẽ được thành Phật
    Tu hành tinh tấn, định
    Là cỏ thuốc bực thượng.
    Lại có hàng Phật tử
    Chuyên tâm nơi Phật đạo
    Thường thật hành từ bi
    Tự biết mình làm Phật
    Quyết định không còn nghi
    Gọi đó là cây nhỏ.
    Hoặc an trụ thần thông
    Chuyển bất thối pháp luân
    Độ vô lượng muôn ức
    Trăm nghìn loài chúng sanh
    Bồ-tát hạng như thế
    Gọi đó là cây lớn.
    Phật chỉ bình đẳng nói
    Như nước mưa một vị
    Theo căn tánh chúng sanh
    Mà hưởng thọ không đồng
    Như những cỏ cây kia
    Được đượm nhuần đều khác.

    6.-       

    Phật dùng món dụ này
    Để phương tiện chỉ bày
    Các thứ lời lẽ hay
    Đều diễn nói một pháp
    Ở nơi trí huệ Phật
    Như một giọt trong biển.
    Ta rưới trận mưa pháp
    Đầy đủ khắp thế gian
    Pháp mầu thuần một vị
    Tùy sức riêng tu hành,
    Như thể lùm rừng kia
    Và cỏ thuốc những cây
    Tùy giống lớn hay nhỏ
    Lần lần thêm sum sê.
    Pháp của các đức Phật
    Thường dùng thuần một vị
    Khiến cho các thế gian
    Đều khắp được đầy đủ
    Lần lựa siêng tu hành
    Rồi đều được đạo quả.
    Hàng Thanh văn, Duyên giác
    Ở nơi chốn núi rừng
    Trụ thân hình rốt sau
    Nghe Phật pháp được quả
    Đó gọi là cỏ thuốc
    Đều được thêm lớn tốt.
    Nếu các vị Bồ-tát
    Trí huệ rất vững bền
    Rõ suốt cả ba cõi
    Cầu được thừa tối thượng
    Đó gọi là cây nhỏ
    Mà được thêm lớn tốt.
    Lại có vị trụ thiền
    Được sức thần thông lớn
    Nghe nói các pháp không
    Lòng rất sanh vui mừng
    Phóng vô số hào quang
    Độ các loài chúng sanh
    Đó gọi là cây lớn
    Mà được thêm lớn tốt
    Như thế, Ca-diếp này!
    Đức Phật nói pháp ra
    Thí như vừng mây lớn
    Dùng nước mưa một vị
    Đượm nhuần nơi hoa người
    Đều được kết trái cả
    Ca-diếp ông phải biết
    Ta dùng các nhân duyên
    Các món thí dụ thảy
    Để chỉ bày đạo Phật
    Đó là ta phương tiện
    Các đức Phật cũng thế
    Nay ta vì các ông
    Nói việc rất chân thiệt
    Các chúng thuộc Thanh văn
    Đều chẳng phải diệt độ
    Chỗ các ông tu hành
    Là đạo của Bồ-tát
    Lần lần tu học xong
    Thảy đều sẽ thành Phật.

    GIẢNG:

    Pháp Phật nói thì bình đẳng, không đặc biệt chú trọng kẻ thân người sơ, kẻ thấp người cao... Hạng người nào đến với Phật, Phật đều bình đẳng giáo hóa cho, không có tâm bỉ thử cùng với tâm yêu ghét, nên việc giáo hóa của Ngài không chướng ngại, không hạn cuộc, khiến cho người nghe ai ai cũng đều được lợi ích. Tuy nhiên, tùy theo hạnh nguyện của mỗi người, mà sự lợi ích có sai biệt. Đối với người nghe pháp Phật, phát tâm qui y giữ năm giới mong đời sau làm người lương thiện hưởng phước lành. Hoặc người phát tâm tu Thập thiện mong đời sau sanh lên cõi trời hưởng phước báo an vui, hoặc làm Chuyển Luân Thánh vương. Những người tu với hạnh nguyện như thế, Phật dụ như cỏ thuốc nhỏ. Đối với người tu theo pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, mong chứng quả Thanh văn, Duyên giác, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc trung. Đối với người tu chỉ mong cầu thành Phật không mong cầu quả vị nào khác và tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc thượng. Đối với hàng Bồ-tát mới phát tâm, thực hành hạnh từ bi, làm lợi ích chúng sanh, tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật không còn nghi ngờ nữa. Hàng Bồ-tát này, Phật dụ như loại cây nhỏ... Đối với hàng Bồ-tát an trụ thần thông, chuyển pháp luân bất thoái, độ vô lượng vô số chúng sanh, đây chỉ cho hàng Bồ-tát từ Sơ địa cho tới Thập địa. Hàng Bồ-tát này được Phật dụ như loài cây lớn.

    Trong năm hạng người phát tâm tu với hạnh nguyện sai khác, được Phật dụ cho ba loại cỏ và hai loại cây. Chúng ta tự kiểm lại xem chúng ta thuộc hạng nào trong năm hạng này? Ở đây đức Phật cụ thể hóa ví dụ, là trình độ chúng sanh tuy sai biệt nên pháp tu có thấp cao, nhưng pháp Phật thì bình đẳng chỉ có một vị giải thoát. Bởi pháp Phật bình đẳng chỉ có một vị giải thoát, tuy lúc đầu phát tâm nhỏ, tu giữ năm giới, tu Thập thiện, nhưng dần dần sẽ tiến đến chỗ viên mãn là thành Phật, chớ không có dừng nghỉ ở một quả vị nửa chừng.

    Phẩm Dược Thảo Dụ nói lên tâm bình đẳng của Phật khi giáo hóa chúng sanh, giống như nước mưa rưới khắp tất cả loài cây cỏ. Và chúng sanh ai ai cũng có Tri kiến Phật, bình đẳng như nhau cùng nghe pháp Phật, tùy theo căn cơ sai biệt mà lợi ích có sai khác. Nhưng cuối cùng rồi cũng được thành Phật, giống như các loài cây cỏ đều từ mặt đất mọc lên tùy loại giống mà hấp thụ nước mưa sai khác, nhưng tất cả cây lớn hay cỏ nhỏ loại nào cũng đều được sanh trưởng.


  • 7. PHẨM 6: THỌ KÝ

    PHẨM 6

    THỌ KÝ

    GIẢNG:

    Thọ ký có nghĩa là trao nhận. Tức là đức Phật biết người đệ tử công hạnh tu hành sắp viên mãn Ngài liền thọ ký cho vị đó sẽ thành Phật. Tùy theo công hạnh và thời gian tu hành dài hoặc ngắn mà Phật thọ ký có sai biệt. Việc thọ ký của Phật giống như Thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử. Khi trò ngộ đạo, chỗ thấy biết của trò ngang bằng chỗ thấy biết của thầy, thầy thấy như thế nào trò thấy như thế ấy, ngang đây thầy ấn chứng cho trò. Tôi ví dụ để quí vị tạm hiểu, ông cha có một đứa con đi học, đứa bé thông minh học giỏi thường đứng đầu lớp, mỗi năm học mỗi lên lớp, hết cấp tiểu học lên trung học rồi lên đại học. Nếu nó chuyên ngành khoa học và vẫn học giỏi dẫn đầu lớp, có người hỏi con ông chừng nào ra trường, ông trả lời bốn năm nó sẽ tốt nghiệp Cử nhân khoa học. Nếu nó chuyên ngành Y khoa và cũng đứng đầu lớp thì ông cũng trả lời bảy năm nó sẽ tốt nghiệp Tiến sĩ y khoa. Sở dĩ ông cha dám nói như vậy là vì ông biết khả năng của con mình. Ngược lại nếu đứa con học bình thường, hay ngồi lại lớp thì ông cha không dám nói khẳng định như thế. Cũng vậy, ở đây hàng đệ tử Phật đã trình bày chỗ thấu suốt lý Phật dạy, phiền não đã sạch và đã chứng A-la-hán. Bấy giờ các ngài hướng về Phật, nhận ra Tri kiến Phật để tu, không còn nghi ngờ nên ngang đây đức Phật thọ ký cho sẽ thành Phật.

    Phẩm Tựa nói tổng quát toàn bộ kinh. Phẩm Phương Tiện, Phật nêu lên bản hoài của Phật ra đời là Khai Thị chúng sanh Ngộ Nhập Tri kiến Phật. Bấy giờ hội chúng chỉ có hàng thượng căn bậc thượng như ngài Xá-lợi-phất nhận ra Tri kiến Phật, còn hạng thượng căn bậc trung thì chưa nhận được. Vì vậy mà phẩm Thí Dụ, Phật dẫn dụ một cách rõ ràng chủ đích của Phật ra đời, thì hàng thượng căn bậc trung như ngài Ca-diếp, Tu-bồ-đề... mới ngộ được Phật tri kiến. Nên đến phẩm Tín Giải thì các ngài ra trình sở ngộ lên đức Phật. Đáng lý tới đây là Phật thọ ký, nhưng vì Phật thấy số người còn lại chưa thâm nhập nổi, nên Ngài nói thêm phẩm Dược Thảo Dụ, để cho thấy rõ thâm ý của Phật là bình đẳng giáo hóa, đưa mỗi người tiến tới chỗ cứu kính là thành Phật, chớ không để bất cứ một ai dừng ở một quả vị thấp nào. Rồi sau đó, Phật mới thọ ký cho những đệ tử trình sở ngộ như ngài Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... sẽ thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế này:

    - Ông Ma-ha Ca-diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Phật Thế Tôn, cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm. Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp, hầm hố gò nổng, đất bằng lưu-ly, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ.

    Bồ-tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật pháp.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    2.-

    Bảo các Tỳ-kheo rằng:
    Ta dùng mắt của Phật
    Thấy ông Ca-diếp này
    Ở nơi đời vị lai
    Quá vô số kiếp sau
    Sẽ được thành quả Phật,
    Mà ở đời vị lai
    Cúng dường và kính thờ
    Đủ ba trăm muôn ức
    Các đức Phật Thế Tôn.
    Vì cầu trí huệ Phật
    Mà tịnh tu phạm hạnh
    Cúng dường đấng Tối thượng
    Nhị Túc Tôn xong rồi
    Tu tập trọn tất cả
    Trí huệ bực Vô thượng
    Ở nơi thân rốt sau
    Được chứng thành làm Phật.
    Cõi đó rất thanh tịnh
    Chất lưu-ly làm đất
    Nhiều thứ cây bằng báu
    Thẳng hàng ở bên đường
    Dây vàng giăng ngăn đường
    Người ngó thấy vui mừng
    Thường thoảng ra hương thơm
    Rải các thứ hoa đẹp
    Các món báu kỳ diệu
    Dùng để làm trang nghiêm
    Cõi đó đất bằng thẳng
    Không có những gò hầm.
    Các hàng chúng Bồ-tát
    Đông không thể xưng kể
    Tâm các vị hòa dịu
    Đến được thần thông lớn
    Phụng trì các kinh điển
    Đại thừa của các Phật
    Các hàng chúng Thanh văn
    Vô lậu thân rốt sau
    Là con của Pháp vương
    Cũng chẳng thể kể hết
    Nhẫn đến dùng thiên nhãn
    Cũng chẳng thể đếm biết.
    Phật đó sẽ sống lâu
    Tuổi mười hai tiểu kiếp
    Chánh pháp trụ ở đời
    Đủ hai mươi tiểu kiếp
    Tượng pháp trụ ở đời
    Cũng hai mươi tiểu kiếp
    Đức Quang Minh Thế Tôn
    Việc của Ngài như thế.

    GIẢNG:

    Sau khi các Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... trình sở ngộ, đức Phật liền thọ ký cho các ngài thành Phật. Trước thọ ký cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp đời vị lai sẽ được thành Phật đầy đủ mười hiệu và đủ ba mươi hai tướng tốt. Ngài phụng thờ ba trăm muôn ức đức Phật mới thành Phật. Chúng ta thấy thời gian tu hành của ngài Ca-diếp quá lâu, mà Ngài được thọ ký là vui mừng thấy mình được điều chưa từng có. Điều này nói lên tâm hạnh của Bồ-tát có khác với tâm hạnh của phàm phu.

    Sau khi thành Phật, tuổi thọ của Ngài đến mười hai tiểu kiếp, một tiểu kiếp là 16.800.000 năm. Tính ra đến 201.600.000 năm. Sống quá lâu! Còn cõi nước thì đất bằng phẳng trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng đồ báu không có dơ bẩn, không có cực khổ. Đồ đệ toàn là hàng Bồ-tát, La-hán nhiều vô lượng vô biên. Sở dĩ Tôn giả Ca-diếp khi thành Phật mà được chánh báo y báo tốt đẹp lớn lao như vậy, là nhờ công phu tu hành giáo hóa chúng sanh lâu dài và nhiều vô kể. Nhân thế nào thì quả thế ấy, nhân lớn thì quả phải to.

    Phật thọ ký cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp sau khi thành Phật, số Bồ-tát Ngài độ được có tới ngàn muôn ức, Thanh văn cũng vô số. Một vị Bồ-tát khi thành Phật, không có đơn độc ở một mình, như đức Thích-ca khi thành Phật bên cạnh Ngài có rất nhiều Bồ-tát, La-hán, Thanh văn. Những đồ đệ đó đều là những người đã có túc duyên nhiều đời nhiều kiếp với Ngài, chớ không phải chỉ có duyên một đời này. Như vậy những đệ tử Bồ-tát, Thanh văn, La-hán trước kia là những người phàm, khi Phật còn làm Bồ-tát giáo hóa họ tu; thầy tiến lên thành Phật, trò cũng tiến lên thành Bồ-tát, La-hán.

    Chúng ta thấy tất cả Bồ-tát được Phật thọ ký, vị nào cũng có đồ đệ đông như vậy. Vì rằng một vị tu hành từ khi mới phát tâm tu, cho tới ngày thành Phật, là đời đời giáo hóa chúng sanh và cũng tiếp tục gặp lại nhau ở nơi này hay ở nơi khác, những người này là hàng Bồ-tát, hàng Thanh văn câu hội về quốc độ của Phật. Như vậy, không có nghĩa tu một đời tâm hạnh bị mất, nếu phát tâm chân chánh, tu hành đứng đắn thì đời này mới tu duyên phước còn mỏng thì độ ít, đời sau tiếp tục tu nữa và giáo hóa nhiều hơn, đời sau nữa tiếp tục công hạnh cũ, như thế mà tiếp tục cho đến khi thành Phật, thì quyến thuộc là Bồ-tát, Thanh văn cũng đông vầy. Thế nên chúng ta không thể lo tu một mình để cầu mau thành Phật, thiếu phần giác tha thì công hạnh chưa viên mãn làm sao thành Phật được. Để thấy tinh thần kinh Pháp Hoa là Bồ-tát đời đời thực hiện bản nguyện nối tiếp thắp sáng ngọn đuốc Phật pháp cho chúng sanh, đến khi công hạnh viên mãn mới thành Phật, và chúng sanh được giáo hóa cũng thành Bồ-tát và La-hán câu hội về quốc độ của các ngài. Phần trùng tụng lặp lại ý trên.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Lúc bấy giờ, ngài Đại Mục-kiền-liên, ngài Tu-bồ-đề, ngài Đại Ca-chiên-diên v.v... thảy đều run sợ một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng:

    Thế Tôn rất hùng mãnh
    Pháp vương trong dòng Thích
    Vì thương xót chúng con
    Mà ban giọng tiếng Phật.
    Nếu rõ thâm tâm con
    Được Phật thọ ký cho
    Như dùng cam lồ rưới
    Từ nóng được mát mẻ.
    Như từ nước đói đến
    Bỗng gặp cỗ tiệc vua
    Còn ôm lòng nghi sợ
    Chưa dám tự ăn liền
    Nếu lại được vua bảo
    Vậy sau mới dám ăn,
    Chúng con cũng như vậy
    Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa
    Chẳng biết làm thế nào
    Được huệ Vô thượng Phật,
    Dầu nghe giọng tiếng Phật
    Nói chúng con thành Phật
    Còn ôm lòng lo sợ
    Như chưa dám tự ăn
    Nếu được Phật thọ ký
    Mới là khoái an vui
    Thế Tôn rất hùng mãnh
    Thường muốn an thế gian
    Xin thọ ký chúng con
    Như đói cần bảo ăn.

    GIẢNG:

    Còn ba vị chưa được thọ ký là ngài Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên nên các Ngài run sợ, chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật. Vì bốn vị cùng là bạn, trình độ học tu ngang nhau, một trong bốn vị được thọ ký thành Phật, lúc đó ba người còn lại cả mừng hóa thành hoảng hốt, bởi hoảng hốt nên run sợ. Thế nên các Ngài mới trình bày tâm trạng của các Ngài:

    Nếu rõ thâm tâm con
    Được Phật thọ ký cho
    Như dùng cam lồ rưới
    Từ nóng được mát mẻ.

    Tâm các Ngài đang nóng nảy, hồi hộp, lo sợ không biết có được Phật thọ ký không. Nếu bấy giờ được Phật thọ ký thì như được rưới nước cam lồ khiến cho tâm các Ngài được mát mẻ, êm ả, không còn hồi hộp lo sợ nữa.

    Kế đến các Ngài lại nói thêm:

    Như từ nước đói đến
    Bỗng gặp cỗ tiệc vua
    Còn ôm lòng nghi sợ
    Chưa dám tự ăn liền
    Nếu lại được vua bảo
    Vậy sau mới dám ăn.

    Các Ngài dụ các Ngài như ở nước đói đến gặp tiệc vua ban đủ thức ăn sang trọng bày la liệt trên bàn, lòng còn lo sợ chưa dám ăn liền, vì chưa được mời ăn. Nếu được vua bảo, thì các Ngài mới dám ăn. Thí dụ này nói lên ý nghĩa các Ngài đã được cái thấy biết mà huynh đệ các ngài như Tôn giả Xá-lợi-phất, Ma-ha Ca-diếp đã được, nhưng chưa dám tin rằng mình sẽ được thọ ký thành Phật. Nay nếu được Phật thọ ký thì tâm các Ngài mới an, mới tin chắc.

    Các Thiền sư cũng có tâm trạng như các Tôn giả ở đây. Như ngài Vĩnh Gia Huyền Giác do xem kinh Duy-ma-cật mà ngộ đạo, Ngài biết rõ mình đã thông suốt được lý Thiền, nhưng chưa được bậc Tôn túc nào ấn chứng, nên thể theo lời đề nghị của Thiền sư Huyền Sách đến Lục Tổ cầu xin ấn chứng. Sau khi được Lục Tổ ấn chứng, Ngài mới dám nói lên chỗ chứng đạo của mình qua bài Chứng Đạo Ca. Nếu chưa được ấn chứng vẫn còn hồ nghi. Đó là tâm niệm của người xưa và người gần đây không khác nhau. Những đồ đệ của đức Phật khi xưa khao khát được Phật thọ ký như thế nào, thì các Thiền sư sau này khao khát được thầy ấn chứng cũng như vậy. Vì vậy sau khi các Thiền sư ngộ đạo rồi, đi tìm thiện hữu tri thức trình sở ngộ và cầu xin ấn chứng để an ổn mà tiến tu.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn, bảo các thầy Tỳ-kheo rằng:

    - Ông Tu-bồ-đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm muôn ức na-do-tha đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ-tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Kiếp đó tên Hữu Bửu, nước đó tên là Bửu Sanh. Cõi đó bằng thẳng, đất bằng lưu-ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai, chông cùng tiện lợi dơ dáy, hoa báu trải khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ-tát đông vô số nghìn muôn ức na-do-tha.

    Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùng chúng Thanh văn.

    Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    5.-       

    Các chúng Tỳ-kheo này!
    Nay ta bảo các ông
    Đều nên phải một lòng
    Lóng nghe lời ta nói
    Đệ tử lớn của ta
    Là ông Tu-bồ-đề
    Rồi sẽ được làm Phật
    Hiệu gọi là Danh Tướng
    Sẽ phải cúng vô số
    Muôn ức các đức Phật
    Theo hạnh của Phật làm
    Lần lần đủ đạo lớn
    Thân rốt sau sẽ được
    Ba mươi hai tướng tốt
    Xinh lịch đẹp đẽ lắm
    Dường như núi báu lớn
    Cõi nước của Phật đó
    Trang nghiêm sạch thứ nhứt
    Chúng sanh nào được thấy
    Không ai chẳng ưa mến.
    Phật ở trong cõi đó
    Độ thoát vô lượng chúng.
    Trong pháp hội của Phật
    Các Bồ-tát đông nhiều
    Thảy đều bực lợi căn
    Chuyển pháp luân bất thối.
    Cõi nước đó thường dùng
    Bồ-tát để trang nghiêm
    Các chúng Thanh văn lớn
    Chẳng có thể đếm kể
    Đều được ba món minh
    Đủ sáu thứ thần thông
    Trụ tám pháp giải thoát
    Có oai đức rất lớn.
    Đức Phật đó nói pháp
    Hiện ra vô lượng món
    Pháp thần thông biến hóa
    Chẳng thể nghĩ bàn được.
    Các hàng trời, nhân dân
    Số đông như hằng sa
    Đều cùng nhau chắp tay
    Lóng nghe lãnh lời Phật
    Đức Phật đó sẽ thọ
    Tuổi mười hai tiểu kiếp
    Chánh pháp trụ lại đời
    Đủ hai mươi tiểu kiếp
    Tượng pháp trụ ở đời
    Cũng hai mươi tiểu kiếp.

    GIẢNG:

    Đức Phật thọ ký cho ngài Tu-bồ-đề sau này sẽ thành Phật hiệu là Danh Tướng, kiếp tên Hữu Bửu, cõi nước tên Bửu Sanh, cõi đó bằng thẳng, đất bằng lưu-ly, cây báu trang nghiêm, hàng đồ đệ toàn là Thanh văn, Bồ-tát đông vô số không thể tính kể. Sự kiện này cho chúng ta thấy, làm việc lợi sanh được phần công đức là tích tụ thành một hạt lưu-ly, làm vô số công đức thanh tịnh trải qua nhiều đời nhiều kiếp, thì tụ thành cả quốc độ toàn là lưu-ly thanh tịnh theo như công hạnh tu hành của mình. Đó là do tinh thần độ sanh không giới hạn, nếu công hạnh viên mãn thì thành Phật. Nếu công hạnh chưa viên mãn mà muốn thành Phật sớm thì cõi nước không thanh tịnh, tuổi thọ không lâu dài, đồ đệ chưa phải là hàng Thánh. Ở đây đức Phật nói “Phật Danh Tướng thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùng chúng Thanh văn”. Tại sao Phật Danh Tướng lại nói pháp ở trên hư không? Như chúng ta biết, ngài Tu-bồ-đề tu hạnh quán lý Không, nên được Phật khen là Giải không bậc nhất trong hội chúng. Do ngộ được lý Không nên khi nói pháp Ngài nói về lý Bát-nhã Chân không. Vì vậy mà nói Ngài ở trên hư không vì chúng sanh nói pháp.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ-kheo:

    - Ta nay nói với các ông, ông Đại Ca-chiên-diên này ở đời sẽ tới, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do-tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành cúng dường tháp miếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương hoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan v.v...

    Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ-tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm-phù-na-đề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh và a-tu-la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ-tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp.

    Lúc đó Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    7.-

    Các chúng Tỳ-kheo này!
    Đều nên một lòng nghe
    Như lời của ta nói
    Chân thiệt không khác lạ.
    Ông Ca-chiên-diên này
    Sau sẽ dùng các món
    Đồ cúng dường tốt đẹp
    Mà cúng dường các Phật.
    Các đức Phật diệt rồi
    Dựng tháp bằng bảy báu
    Cũng dùng hoa và hương
    Để cúng dường xá-lợi.
    Thân rốt sau của ông
    Được trí huệ của Phật
    Thành bực Đẳng Chánh Giác
    Cõi nước rất thanh tịnh
    Độ thoát được vô lượng
    Muôn ức hàng chúng sanh
    Đều được mười phương khác.
    Thường đến kính cúng dường,
    Ánh sáng của Phật đó
    Không ai có thể hơn
    Đức Phật đó hiệu là:
    Diêm-phù Kim Quang Phật
    Bồ-tát và Thanh văn
    Dứt tất cả hữu lậu
    Đông vô lượng vô số
    Trang nghiêm cõi nước đó.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Ca-chiên-diên cũng được Phật thọ ký. Do tu hạnh Bồ-tát cung kính cúng thờ tới tám ngàn ức Phật, sau Phật diệt độ lại xây tháp miếu cúng dường. Sau lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, công hạnh viên mãn sẽ thành Phật hiệu Diêm-phù-na-đề Kim Quang, quốc độ bằng phẳng, đất bằng pha lê, trang nghiêm bằng cây báu... Sở dĩ Bồ-tát ra đời gặp Phật là vì các ngài tu hạnh Bồ-tát, mà Bồ-tát là nhân mà Phật là quả, nên ra đời đều gặp Phật. Nơi nào có Phật là có các ngài gần gũi tôn trọng cúng dường và tu học. Trải qua thời gian lâu dài công hạnh viên mãn, thì thành Phật cõi nước đẹp đẽ trang nghiêm.

    CHÁNH VĂN:

    8.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo trong đại chúng:

    - Ta nay nói với các ông, ông Đại Mục-kiền-liên đây sẽ dùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Sau khi đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngang rộng thẳng bằng năm trăm do-tuần, dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành. Đem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phan để cúng dường tháp.

    Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường hai trăm muôn ức các đức Phật cũng như trước, rồi sẽ được thành Phật hiệu: Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Kiếp đó tên là Hỉ Mãn, nước tên là Ý Lạc, cõi đó bằng thẳng, chất pha lê làm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người được thấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ-tát và Thanh văn số nhiều vô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp trụ lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi tiểu kiếp.

    Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    9.-

    Đệ tử của ta đây
    Là Đại Mục-kiền-liên
    Bỏ thân người nầy rồi
    Sẽ được gặp tám nghìn
    Hai trăm muôn ức vị
    Các đức Phật Thế Tôn.
    Ông vì cầu Phật đạo
    Nên cúng dường cung kính
    Ở nơi các đức Phật
    Thường tu trì phạm hạnh
    Ở trong vô lượng kiếp
    Phụng trì pháp của Phật.
    Các đức Phật diệt rồi
    Xây tháp bằng bảy báu
    Tháp vàng rất cao rộng,
    Dùng hoa hương kỹ nhạc
    Để dùng dưng cúng dường
    Tháp miếu các đức Phật.
    Lần lần được đầy đủ
    Đạo hạnh Bồ-tát rồi
    Ở nơi nước Ý Lạc
    Mà được thành quả Phật
    Hiệu là Đa-ma-la
    Bạt Chiên-đàn Hương Phật
    Đức Phật đó thọ mạng
    Hai mươi bốn tiểu kiếp
    Thường vì hàng trời, người
    Mà diễn nói đạo Phật
    Chúng Thanh văn vô lượng
    Như số cát sông Hằng
    Đủ ba minh, sáu thông
    Đều có oai đức lớn
    Bồ-tát đông vô số
    Chí bền lòng tinh tấn
    Ở nơi trí huệ Phật
    Đều không hề thối chuyển.
    Sau khi Phật diệt độ
    Chánh pháp sẽ trụ đời
    Đủ bốn mươi tiểu kiếp
    Tượng pháp cũng như thế.

    10.-

    Các đệ tử của ta
    Bực oai đức đầy đủ
    Số đó năm trăm người
    Ta đều sẽ thọ ký
    Ở nơi đời vị lai
    Đều được chứng thành Phật
    Ta cùng với các ông
    Đời trước kết nhân duyên
    Ta nay sẽ thuật nói
    Các ông khéo lóng nghe.

    GIẢNG:

    Ngài Ma-ha Mục-kiền-liên được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật hiệu là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, kiếp tên Hỉ Mãn, nước tên Ý Lạc... cũng do tu hạnh Bồ-tát, phụng thờ vô số đức Phật công hạnh viên mãn mới được thành Phật.

    Sau khi thọ ký cho bốn vị đại đệ tử xong, Phật hứa rằng năm trăm vị đại đệ tử của Phật tuần tự sẽ được thọ ký. Không riêng gì đối với đệ tử lớn mà những vị nhỏ, có khả năng tin thọ lời Phật dạy là được Phật bình đẳng thọ ký cho. Đây là một lối  ấn chứng cho đệ tử đủ lòng tin mà an tâm tiến tu không lui sụt.

    Qua phẩm Thọ Ký chúng ta thấy cõi nước của các vị Phật tương lai, cõi nào cũng bằng phẳng, đất thì bằng vàng, bằng lưu-ly, trang nghiêm bằng bảy báu, đồ đệ là hàng Bồ-tát, Thanh văn vô số. Tuổi thọ của Phật thì rất lâu, chánh pháp, tượng pháp cũng lâu... Rồi chúng ta nghiệm lại đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni cũng là một vị Phật, tại sao cõi Ta-bà của Ngài toàn là gò nổng, đất bùn sình nhơ nhớp, chúng sanh ở cõi này thì nhiều khổ đau phiền não, đồ đệ thuộc hàng Bồ-tát, Thanh văn chỉ có một ngàn hai trăm năm mươi vị? Còn tuổi thọ của Ngài chỉ có tám mươi tuổi, chánh pháp của Ngài trụ thế có năm trăm năm, tượng pháp một ngàn năm?

    Đức Phật Thích-ca sanh ở cung vua Tịnh Phạn xứ Ấn Độ giáo hóa cõi Ta-bà này là Phật ứng thân; chúng sanh ở cõi Ta-bà này vô minh nghiệp chướng sâu dày, phước mỏng, thì chánh báo và y báo của họ dĩ nhiên là thô xấu bất tịnh. Phật vì từ bi tùy duyên ứng thân ở cõi này để cứu độ họ. Ví dụ như người ở thủ đô giàu có, ăn cao lương mỹ vị, ở nhà lầu đi xe hơi, sống rất sung túc sang trọng. Người đó thấy dân miền sơn cước quê dốt, thiếu ăn thiếu mặc, tình nguyện đến đó để hướng dẫn dân miền này biết chữ, biết nghề nghiệp làm cho đủ cơm ăn áo mặc. Khi người thủ đô đến miền sơn cước ở thì đời sống của họ cũng đạm bạc không tiện nghi, vì chỗ ở này là chỗ ở tạm. Cũng vậy, đức Thích-ca ra đời ở cõi Ta-bà này là một chặng Hóa thân của Ngài để hóa độ. Cõi này là cõi tạm, Ngài ở một thời gian ngắn Ngài đi, nên tuổi thọ không dài. Còn cõi nước không thanh tịnh trang nghiêm, vì chúng sanh cõi này đa phần phước mỏng nghiệp dày nên cũng có các y báo chung như thế.


  • 8. PHẨM 7: HÓA THÀNH DỤ

    PHẨM 7

    HÓA THÀNH DỤ

    Hóa Thành Dụ là ví dụ hóa ra cái thành tạm, cho kẻ đi đường dài mỏi mệt nghỉ chân để rồi tiếp tục đi nữa. Dụ này ngầm nói lên quả vị Thanh văn, Duyên giác chỉ là Niết-bàn tạm, không phải cứu kính. Cứu kính là phải đạt quả vị Phật.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:

    - Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Nước đó tên Hảo Thành, kiếp tên Đại Tướng. Các Tỳ-kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương Đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lựa chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng?

    - Thưa Thế Tôn! Không thể biết!

    - Các Tỳ-kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực, đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức Tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay.

    Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    2.-

    Ta nhớ đời quá khứ
    Vô lượng vô biên kiếp
    Có Phật Lưỡng Túc Tôn
    Hiệu Đại Thông Trí Thắng.
    Như người dùng sức mài
    Cõi tam thiên đại thiên
    Hết tất cả địa chủng
    Thảy đều làm thành mực
    Quá hơn nghìn cõi nước
    Bèn chấm mỗi điểm trần
    Như thế lần lựa chấm
    Hết các mực trần nầy.
    Bao nhiêu cõi nước đó
    Điểm cùng chẳng điểm thảy
    Lại đều nghiền làm bụi
    Một bụi làm một kiếp
    Kiếp số lâu xa kia
    Lại nhiều hơn số bụi
    Phật đó diệt đến nay
    Vô lượng kiếp như thế
    Trí vô ngại của Phật
    Biết Phật đó diệt độ
    Và Thanh văn, Bồ-tát
    Như hiện nay thấy diệt.
    Các Tỳ-kheo nên biết
    Trí Phật tịnh vi diệu
    Vô lậu và vô ngại
    Suốt thấu vô lượng kiếp.

    GIẢNG:

    Đức Phật kể lại chuyện của một đức Phật từ kiếp xa xưa tên là Đại Thông Trí Thắng. Từ khi đức Phật ấy diệt độ nhẫn đến nay thời gian rất lâu xa. Thí như lấy đất tam thiên đại thiên thế giới, mài nát ra thành mực, rồi cứ đi về phương Đông cách khoảng một ngàn cõi nước chấm một điểm nhỏ, và cứ thế mà chấm cho đến khi hết mực được mài, thì chừng bao nhiêu thế giới? Không thể tính đếm được, quá nhiều. Bây giờ đem những thế giới chấm mực và không chấm mực nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi tính là một kiếp. Như vậy vô số bụi là vô số kiếp. Từ khi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhập diệt tới nay lâu hơn vô số kiếp đó, thế mà đức Thế Tôn dùng Tri kiến Phật xem thuở lâu xa đó thấy như hiện nay. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi, không thể tính toán ra thời gian đó là bao nhiêu, làm sao mà tin được? Đứng về mặt sự mà nói thì kinh Phạm Động trong bộ Trường A-hàm có ghi lại sáu mươi hai kiến chấp của ngoại đạo. Sở dĩ ngoại đạo có những kiến chấp là do họ tu Thiền định, nếu sức định vừa thì họ nhớ từ năm mười kiếp về trước, thấy rõ về túc mạng, gia tộc, quốc độ, sanh hoạt của họ và mỗi loài chúng sanh. Nếu sức định sâu thì thấy cả trăm cả ngàn đời về trước. Họ thấy tới đâu là họ chấp tới đó. Còn những gì xa hơn chỗ thấy biết do sức định thì họ không biết. Ở đây nói lên sức định của Phật thâm sâu không thể diễn tả nổi. Cho nên cái biết của Ngài về quá khứ cũng không thể nghĩ lường. Thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng tịch diệt, đến lúc đức Thích-ca ra đời trải qua thời gian lâu xa vô kể, mà bây giờ Ngài ưng nhớ lại thì thấy rõ như chuyện hiện nay. Đó là do sức Thiền định sâu, nhớ được quá khứ rất lâu xa. Đứng về mặt lý, thì Tri kiến Như Lai là Trí tuệ Phật, mà Trí tuệ Phật thì không lệ thuộc thời gian... Thời gian như ngày, tháng, năm chẳng qua là khái niệm do người đặt ra, không có thật. Quả đất cứ xoay quanh mặt trời, vùng đất nhận ánh sáng mặt trời, người cho là ngày, vùng đất không nhận ánh sáng mặt trời, người cho là đêm, chớ nó không tự nói là ngày hay là đêm. Thời gian chỉ là ý niệm người đặt ra tạm dùng không có lẽ thật. Dù thời gian muôn ngàn triệu ức, nhưng đối với đức Đại Thông Trí Thắng tức Tri kiến Phật là cái không hình, không tướng, không sanh, không diệt thì không bị giới hạn bởi thời gian. Vì vậy mà nói dù cho vô lượng kiếp xa xưa không thể tính đếm được, cần nhớ thì nhớ thấy như hiện tại.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

    - Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước.

    Thuở đó, các vị trời Đao-lợi ở dưới cội cây bồ-đề đã trước vì đức Phật đó mà trải tòa sư tử cao một do-tuần. Phật ngồi nơi tòa nầy sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm Thiên vương rưới những hoa trời khắp một trăm do-tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế.

    Các Tỳ-kheo! Đức Đại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa.

    Ông nội là vua Chuyển Luân Thánh vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Khi đã đến nơi, tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật.

    GIẢNG:

    Tại sao đức Phật Đại Thông Trí Thắng ngồi đạo tràng phá quân ma rồi sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thân tâm chẳng động mà Phật pháp không hiện tiền? Đứng về mặt sự thì chúng ta thấy đức Thích-ca Mâu-ni tuổi thọ khoảng tám mươi tuổi. Ngài tọa thiền bốn mươi chín ngày đêm, đêm sau cùng đầu hôm, ma quân đến quấy nhiễu, Ngài chiến đấu với ma quân, đến canh năm lúc sao Mai mọc thì Ngài thành đạo. Còn đức Phật Đại Thông Trí Thắng tuổi thọ đến năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, nên thời gian Ngài nhập định chiến đấu với ma quân cũng lâu dài và mãi đến mười tiểu kiếp sau trời Đao-lợi trải tòa sư tử dưới cội bồ-đề, Ngài ngồi trên tòa này mới thành đạo. Sự kiện này nói lên đức Thích-ca Mâu-ni là Phật hóa thân tuổi thọ ngắn nên thời gian tu cũng ngắn, còn đức Đại Thông Trí Thắng là Phật báo thân, tuổi thọ dài nên thời gian tu cũng dài. Đứng về mặt lý thì nếu nhập định thân tâm không động, mãi an trú trong định thì chưa giác, mà nếu chưa giác thì chưa thành Phật, nên nói Phật pháp chưa hiện ra. Thiền tông có một câu chuyện nói lên ý nghĩa này: Xưa có một bà già thấy một Thiền sư tu hành tinh tấn, bà phát tâm cất một cái am và cung cấp lương thực cho ngài ở tu. Thiền sư ở yên tu một thời gian, một hôm bà sai đứa cháu gái đem cơm đến cho ngài và dặn đứa cháu khi đưa cơm xong thì vòng tay ôm ngài và hỏi: “Ngay bây giờ thì thế nào?” Đứa cháu gái làm đúng như lời bà dạy. Thiền sư trả lời:

    Khô mộc ỷ hàn nham
    Tam xuân vô noãn khí.

    Dịch:

    Cây khô tựa đá lạnh
    Ba xuân không hơi ấm.

    Tuy cô gái ôm ngài, nhưng ngài không động tâm, trơ trơ như cây khô như đá lạnh, đã trải qua ba năm rồi lòng ngài như băng giá không có chút tình cảm hơi ấm với người. Hành động của cô gái đối với ngài, ngài không hề khởi niệm dục vọng. Cô gái về thuật lại sự việc ấy cho bà nghe, bà nói: “Uổng mấy năm nuôi ông thầy không có trí tuệ.” Bà bèn đốt am đuổi đi.

    Một người tu chân chánh bị nữ sắc cám dỗ tâm không dao động, đối với chúng ta ngài là người có đạo lực cao, đáng tán thán khen ngợi. Nhưng dưới mắt bà già cũng như dưới mắt Thiền tông thì Thiền sư ấy đang chìm trong nước chết, tức là đang ở trong trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng, chưa đến chỗ rốt ráo. Để cảnh giác ngài, bà đốt am để ngài vươn lên. Một việc làm phi thường của bà già thấu được lý đạo. Đây nói ngồi thân tâm không động, Phật pháp chẳng hiện tiền, là chỉ trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng. Trải qua mười tiểu kiếp lúc đó Phật pháp mới hiện tiền, tức là vượt qua chỗ nước chết, trí tuệ sáng ra.

    Đức Phật Đại Thông Trí Thắng lúc chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên là Trí Tích. Trí Tích là trí chứa nhóm lâu đời, phần sau sẽ giải thích rộng hơn. Khi Phật thành đạo thì mười sáu người con phát tâm tu và cả quyến thuộc đều lần lượt kéo đến chiêm ngưỡng cung kính, cúng dường, khen ngợi.

    CHÁNH VĂN:

    4.-

    Thế Tôn oai đức lớn
    Vì muốn độ chúng sanh
    Trong vô lượng ức năm
    Bèn mới được thành Phật
    Các nguyện đã đầy đủ
    Hay thay lành vô thượng.
    Thế Tôn rất ít có
    Một phen ngồi mười kiếp
    Thân thể và tay chân
    Yên tịnh không hề động
    Tâm Phật thường lặng lẽ
    Chưa từng có tán loạn
    Trọn rốt ráo vắng bặt
    An trụ pháp vô lậu.
    Ngày nay thấy Thế Tôn
    An ổn thành Phật đạo
    Chúng con được lợi lành
    Mừng rỡ rất vui đẹp.
    Chúng sanh thường đau khổ
    Đui mù không Đạo sư
    Chẳng biết đạo dứt khổ
    Chẳng biết cầu giải thoát
    Lâu ngày thêm nẻo ác
    Giảm tổn các chúng trời
    Từ tối vào nơi tối
    Trọn chẳng nghe danh Phật.
    Nay Phật được Vô thượng
    Đạo an ổn vô lậu
    Chúng con và trời người
    Vì được lợi lớn tột
    Cho nên đều cúi đầu
    Qui mạng đấng Vô thượng.

    GIẢNG:

    Mười sáu vị vương tử và trong thân quyến tán thán Phật. Trong lời tán thán Phật, đoạn trên lặp lại ý đức Phật tu hành, đoạn dưới nói lên sự đau khổ của chúng sanh là do đui mù không người hướng dẫn. Chúng ta thấy mọi loài chúng sanh ai ai cũng có mắt, thấy đường đi, ai ai cũng phân biệt được cảnh vật tốt xấu, tại sao trong kinh nói mù? Chữ đui mù ở đây ý nói rằng tất cả chúng sanh ở trong thế gian này, nếu không có Phật ra đời thì không làm sao nhận ra Pháp thân thanh tịnh bất sanh, bất diệt của mình. Cứ sống theo vọng tưởng hình tướng sanh diệt nên chúng sanh đời đời kiếp kiếp mê mờ, chẳng khác nào người mù không thấy lối đi. Chính vì mê mờ chẳng biết đạo dứt khổ, chẳng biết cầu giải thoát. Khi sanh ra không biết mình từ đâu đến, rồi khi nhắm mắt chẳng biết mình đi về đâu! Sống cứ loanh quanh lẩn quẩn trong việc ăn, mặc, ở, bệnh, già, chết... không biết đầu mối trước, cũng không biết cuối mối sau, cứ mù mù mịt mịt, không có ánh sáng nên mãi đau khổ. Sở dĩ như thế là vì không có minh sư hướng dẫn để thoát khỏi vòng lẩn quẩn đó, nên càng ngày càng tạo thêm nghiệp ác, dẫn tới những đường ác như địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Không có người tu Thập thiện nên cõi trời ít chúng sanh sanh lên đó. Như vậy thì đường ác càng ngày càng tăng, cõi thiện càng ngày càng giảm, nên nói từ tối vào nơi tối. Kinh A-hàm, Phật có dùng thí dụ để giải thích sự kiện này. Phật nói có bốn hạng người:

    1.- Từ tối vào tối: là những người quá khứ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh nghèo khổ bệnh tật, chẳng những không phát tâm hướng thiện lại còn hung dữ tàn bạo tạo nhiều nghiệp ác. Trước đã mờ mịt nay lại tạo nghiệp đen tối nữa nên nói từ tối vào tối.

    2.- Từ sáng đến sáng: là những người quá khứ đã tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh giàu sang, thông minh, hiền hậu, lại biết làm lành tạo nghiệp thiện. Trước đã sáng suốt nay tiếp tục tạo nghiệp duyên tốt nên nói từ sáng đến sáng.

    3.- Từ tối đến sáng: là những người quá khứ mê mờ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh cơ cực bần cùng, nay biết hướng thiện tạo nghiệp duyên lành, lần lần nghiệp ác giảm, nghiệp thiện và trí tuệ tăng trưởng, nên nói từ tối đến sáng.

    4.- Từ sáng vào tối: là những người trước đã có phước duyên lành sanh ra trong cảnh giàu có, mà không biết nương đạo lý tạo nhân lành lại tạo nghiệp ác. Vì vậy mà đời này thì sung sướng nhưng mai kia sẽ khổ sở, nên nói từ sáng vào tối.

    Tới đây chúng ta thấy trách nhiệm của Tăng Ni là làm thầy dẫn đường cho người đời. Vì vậy mình phải tự tu cho sáng được lý đạo, để rồi hướng dẫn người biết đường thoát ra khỏi cảnh mê mờ u tối, bằng cách mồi đuốc trí tuệ với chánh pháp của Phật. Chính Tăng Ni phải là ngọn đuốc soi đường cho người đời đi đúng hướng, chớ không thể chấp nhận một kẻ dẫn đường là người mù dẫn theo một số người đui, chắc chắn không tránh khỏi cảnh lạc đường hay sa hầm sụp hố, khổ đau không có ngày cùng.

    CHÁNH VĂN:

     5.- Bấy giờ, mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng: “Đức Thế Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân.” Lại nói kệ rằng:

    Đức Phật không ai bằng
    Trăm phước tự trang nghiêm
    Được trí huệ vô thượng
    Nguyện vì đời nói pháp
    Độ thoát cho chúng con
    Và các loài chúng sanh
    Xin phân biệt chỉ bày
    Cho được trí huệ Phật
    Nếu chúng con thành Phật
    Chúng sanh cũng được thế
    Thế Tôn biết chúng sanh
    Thâm tâm nghĩ tưởng gì
    Cũng biết đạo chúng làm
    Lại biết sức trí huệ
    Muốn ưa và tu phước
    Nghiệp gây tạo đời trước
    Thế Tôn biết cả rồi
    Nên chuyển pháp Vô thượng.

    GIẢNG:

    Trên là cảnh khổ của chúng sanh không gặp Phật ra đời. Nay được Phật ra đời là điều mãn nguyện bậc nhất của các vương tử nên các ngài tán thán và khẩn cầu Phật vì lợi ích chúng sanh mà chuyển pháp luân.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Phật bảo các Tỳ-kheo:

    - Lúc đức Đại Thông Trí Thắng Phật được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhựt nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?”

    Lại trong các cõi đó cung điện của chư thiên cho đến Phạm cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời.

    GIẢNG:

    Khi đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật thì năm trăm muôn ức cõi Phật ở mỗi phương trỗi lên sáu điệu vang động. Trong cõi nước chỗ nào tối tăm, ánh sáng mặt trời mặt trăng không đến được, nay nhân Phật thành đạo, hào quang của Phật bủa khắp cả mười phương, chỗ tối tăm người ta không thấy nhau bây giờ được thấy. Do đó, các chúng sanh mới lần theo ánh sáng tìm đến chỗ Phật ngự. Khi đến nơi, ra mắt Phật, tán thán Phật, cúng dường Phật và cuối cùng thỉnh Phật chuyển pháp luân. Phần này, đứng về mặt sự thì Trí tuệ Phật là cái hằng sáng soi khắp tất cả chỗ, được dụ như mặt trời không chỗ nào là soi chẳng đến. Tại sao? Vì do công phu Thiền định sâu nên khi giác ngộ thì giác ngộ viên mãn. Do giác ngộ viên mãn nên trí tuệ trùm khắp cả mười phương. Đứng về lý thì Trí tuệ Phật không sanh, không diệt không bị hạn cuộc ở thời gian như đã trình bày ở đoạn trước, và ở đây thì nói Trí tuệ Phật không hình, không tướng nên không bị hạn cuộc bởi không gian. Trong kinh thường ví Trí tuệ Phật rộng lớn như hư không, phàm cái gì có hình tướng là có giới hạn, còn hư không không hình tướng nên không ngằn mé, không giới hạn, bởi không giới hạn nên trùm khắp cả mười phương, vì vậy mà đâu đâu cũng thấy được ánh sáng Phật.

    Khi chúng sanh còn mê thì Trí tuệ Phật bị hạn cuộc trong thân năm uẩn, bị giới hạn bởi ý niệm thời gian. Khi đã giác ngộ rồi, hết vô minh phiền não thì Trí tuệ Phật bủa khắp tất cả chỗ. Sự kiện này người giác ngộ thì tự biết. Bây giờ chúng ta chỉ lý luận để tạm hiểu chớ chưa phải là thấy thật. Do đó phải nỗ lực tu hành để nhận ra lẽ thật ấy.

    CHÁNH VĂN:

    7.- Bấy giờ, phương Đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm thiên ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm thiên vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này?” Lúc đó các vị Phạm thiên vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm thiên vương lớn tên Cứu Nhứt Thiết vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng:

    Các cung điện chúng ta
    Sáng suốt chưa từng có
    Đây là nhân duyên gì
    Phải nên chung nhau tìm
    Là trời Đại đức sanh
    Hay là Phật ra đời
    Mà ánh sáng lớn này
    Khắp soi cả mười phương.

    Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện mỗi vị đều lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương Tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, Long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân và phi nhân... cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chưn Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật.

    Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật, cây bồ-đề đó cao mười do-tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nạp ở.”

    Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:

    Thế Tôn rất ít có
    Khó thể gặp gỡ được
    Đủ vô lượng công đức
    Hay cứu hộ tất cả
    Thầy lớn của trời người
    Thương xót ở trong đời
    Mười phương các chúng sanh
    Khắp đều nhờ lợi ích.
    Chúng con cùng theo đến
    Năm trăm muôn ức nước
    Bỏ vui Thiền định sâu
    Vì để cúng dường Phật
    Chúng con phước đời trước
    Cung điện rất tốt đẹp
    Nay đem dưng Thế Tôn
    Cúi xin thương nạp thọ.

    Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: “Cúi xin Thế Tôn chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết-bàn.”

    Khi ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng:

    Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn
    Cúi xin diễn nói pháp
    Dùng sức từ bi lớn
    Độ chúng sanh khổ não.

    Lúc đó, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lắng yên nhận lời đó.

    8.- Lại nữa các Tỳ-kheo! Phương Đông Nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm thiên vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương tên là Đại Bi, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng:

    Việc đó nhân duyên gì
    Mà hiện tướng như thế?
    Các cung điện chúng ta
    Sáng suốt xưa chưa có
    Là trời Đại đức sanh
    Hay là Phật ra đời?
    Chưa từng thấy tướng này
    Nên chung một lòng cầu
    Quá nghìn muôn ức cõi
    Theo luồng sáng tìm đó
    Phần nhiều Phật ra đời
    Độ thoát khổ chúng sanh.

    Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, các hàng chư thiên, Long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi nhân v.v... cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân.

    Khi ấy, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chưn Phật, đi quanh trăm nghìn vòng... liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở.”

    Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng:

    Thánh Chúa vua trong trời
    Tiếng ca-lăng-tần-già
    Thương xót hàng chúng sanh
    Chúng con nay kính lễ.
    Thế Tôn rất ít có
    Lâu xa một lần hiện
    Một trăm tám mươi kiếp
    Luống qua không có Phật
    Ba đường dữ dẫy đầy
    Các chúng trời giảm ít.
    Nay Phật hiện ra đời
    Làm mắt cho chúng sanh
    Chỗ qui thú của đời
    Cứu hộ cho tất cả
    Là cha của chúng sanh
    Thương xót làm lợi ích
    Nhờ phước lành đời trước
    Nay được gặp Thế Tôn.

    Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: “Cúi xin đức Thế Tôn thương xót tất cả chuyển pháp luân cho, để độ thoát chúng sanh.”

    Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ khen rằng:

    Đại Thánh chuyển pháp luân
    Chỉ bày các pháp tướng
    Độ chúng sanh đau khổ
    Khiến được rất vui mừng
    Chúng sanh nghe pháp này
    Được đạo hoặc sanh thiên
    Các đường dữ giảm ít
    Bậc nhẫn thiện thêm nhiều.

    Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời.

    9.- Lại nữa các Tỳ-kheo! Năm trăm muôn ức cõi nước ở phương Nam các vị Đại Phạm vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này?

    Trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương lớn tên là Diệu Pháp, vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

    Các cung điện chúng ta
    Quang minh rất oai diệu
    Đây không phải không nhân
    Tướng này phải tìm đó
    Quá hơn trăm nghìn kiếp
    Chưa từng thấy tướng này
    Là trời Đại đức sanh
    Hay đức Phật ra đời?

    Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội cây bồ-đề, hàng chư thiên, Long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân.

    Khi đó, các vị Phạm thiên vương, đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nạp xử.” Bấy giờ, các vị Đại Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng:

    Thế Tôn rất khó thấy
    Bậc phá các phiền não
    Hơn trăm ba mươi kiếp
    Nay mới thấy một lần
    Hàng chúng sanh đói khát
    Nhờ mưa pháp đầy đủ
    Xưa chỗ chưa từng thấy
    Đấng vô lượng trí huệ
    Như hoa ưu-đàm-bát
    Ngày nay mới gặp gỡ
    Cung điện của chúng con
    Nhờ hào quang được đẹp
    Thế Tôn đại từ mẫn
    Cúi xin thương nhận ở.

    Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi đều bạch rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân làm cho tất cả thế gian các hàng trời, ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn đều được an ổn mà được độ thoát.”

    Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng:

    Cúi mong Thiên Nhân Tôn
    Chuyển pháp luân Vô thượng
    Đánh vang pháp cổ lớn
    Mà thổi pháp loa lớn
    Khắp rưới pháp vũ lớn
    Độ vô lượng chúng sanh
    Chúng con đều qui thỉnh
    Nên nói tiếng sâu xa.

    Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng lặng yên nhận lời đó.

    10.- Phương Tây Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế.

    Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở Thượng phương, các vị Đại Phạm thiên vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng này? Lúc đó, trong chúng có một vị Đại Phạm thiên vương tên là Thi-khí vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

    Nay vì nhân duyên gì
    Cung điện của chúng ta
    Ánh sáng oai đức chói
    Đẹp đẽ chưa từng có
    Tướng tốt như thế đó
    Xưa chưa từng nghe thấy
    Là trời Đại đức sanh
    Hay là Phật ra đời?

    Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, Long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển pháp luân.

    Lúc đó, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải trên đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: “Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nhận ở.”

    Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:

    Hay thay! Thấy các Phật
    Đấng Thánh Tôn cứu thế
    Hay ở ngục tam giới
    Cứu khỏi các chúng sanh
    Thiên Nhân Tôn trí khắp
    Thương xót loài quần manh
    Hay khai môn cam lồ
    Rộng độ cho tất cả.
    Lúc xưa vô lượng kiếp
    Luống qua không có Phật
    Khi Phật chưa ra đời
    Mười phương thường mờ tối
    Ba đường dữ thêm đông
    A-tu-la cũng thạnh
    Các chúng trời càng bớt
    Chết nhiều đọa ác đạo
    Chẳng theo Phật nghe pháp
    Thường làm việc chẳng lành
    Sắc, lực, cùng trí huệ
    Các việc đều giảm ít
    Vì tội nghiệp nhân duyên
    Mất vui, cùng tưởng vui
    Trụ trong pháp tà kiến
    Chẳng biết nghi tắc lành
    Chẳng nhờ Phật hóa độ
    Thường đọa trong ác đạo.
    Phật là mắt của đời
    Lâu xa mới hiện ra
    Vì thương các chúng sanh
    Nên hiện ở trong đời
    Siêu việt thành Chánh giác
    Chúng con rất mừng vui
    Và tất cả chúng khác
    Mừng khen chưa từng có.
    Cung điện của chúng con
    Nhờ hào quang nên đẹp
    Nay đem dưng Thế Tôn
    Cúi mong thương nhận ở.
    Nguyện đem công đức này
    Khắp đến cho tất cả
    Chúng con cùng chúng sanh
    Đều đồng thành Phật đạo.

    Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát.” Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương đồng nói kệ rằng:

    Thế Tôn chuyển pháp luân
    Đánh trống pháp cam lồ
    Độ chúng sanh khổ não
    Mở bày đường Niết-bàn
    Cúi mong nhận lời con
    Dùng tiếng vi diệu lớn
    Thương xót mà nói bày
    Pháp tu vô lượng kiếp.

    GIẢNG:

    Phật vì muốn đưa mình và chúng sanh ra khỏi khổ luân hồi sanh, lão, bệnh, tử, mới xuất gia tu hành. Khi thành Phật rồi sao Ngài không đi giáo hóa cứu độ chúng sanh hết khổ, mà đợi khuyến thỉnh mới ra nói pháp? Thái độ này không riêng gì đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai mà ngay cả đức Thích-ca cũng vậy, Phật có thiếu từ bi chăng? Theo tâm lý thông thường thì những gì mà người đời không ưa thích, chưa biết giá trị, dù vật có quí giá đem cho, họ vẫn không trọng. Hơn thế nữa, Phật pháp cao siêu vượt ngoài sự hiểu biết thông thường của con người, nên khó nói, khó hiểu, khó nhận. Cái cao quí, khó nói khó hiểu khó nhận, nếu đem cho một cách dễ dàng thì sẽ bị khinh thường, khi đã khinh thường thì người không cố gắng tu học để được lợi ích. Phật sẵn sàng cho nhưng người nhận phải thiết tha mong cầu. Đã thiết tha mong cầu thì khi nhận mới chịu áp dụng tu hành, có tu mới lợi ích. Vì vậy khi Phật thành đạo, đợi mấy phen thưa thỉnh Ngài mới chuyển pháp luân.

    Trí tuệ Phật trùm khắp tất cả chỗ, chúng sanh trong mười phương được soi sáng, nên tìm đến để cúng dường hương hoa cùng cung điện, xin Phật nạp thọ và cung thỉnh Phật chuyển pháp luân.

    Trong phần này có đề cập đến những chúng sanh không theo Phật nghe pháp, thường làm việc ác nên sắc, lực cùng trí tuệ đều suy giảm. Tại sao? Vì người tạo nghiệp ác là do thiếu trí tuệ nên tâm không sáng, vì tâm không sáng nên hiện ra tướng bên ngoài u tối, và sức lực yếu kém, do quả báo sát sanh hại vật chiêu cảm mà nên. Đồng là người sanh ra trong cõi đời mà người thì sắc diện trí tuệ sáng suốt, sức lực khỏe mạnh, kẻ thì sắc diện tối, sức lực yếu kém, đó là kết quả do tạo nghiệp ác hay nghiệp lành mà nên.

    “Vì tội nghiệp nhân duyên, mất vui cùng tưởng vui.” Tội nghiệp đây không có nghĩa là thương xót theo tình cảm thông thường của chúng ta mà là thân, khẩu, ý tạo nghiệp gây tội, do nghiệp và tội đó là nhân là duyên cho nên “mất vui cùng tưởng vui”. Mất vui cùng tưởng vui là sao? Vì nhân duyên gây tạo nghiệp xấu ác nên có tội, vì có tội nên không được hưởng thú vui ở thế gian, không được vui mà lòng vẫn ham muốn, do lòng ham muốn nên cứ mơ tưởng đến lạc thú. Đó là do tội nghiệp mà ra vậy.

    “Trụ trong pháp tà kiến, chẳng biết nghi tắc lành, chẳng nhờ Phật hóa độ, thường đọa trong ác đạo.” Có những chúng sanh thấy biết lệch lạc sai lầm, không biết điều thiện việc lành, cái không đáng nghĩ cứ nghĩ, việc không nên làm cứ làm, không có duyên với Phật nên không được Phật hóa độ. Vì vậy mà đọa trong đời ác. Phật là bậc trí tuệ dẫn dắt đưa chúng sanh ra khỏi chỗ mê lầm tối tăm nên nói Phật là mắt của đời.

    Tóm lại, mười sáu vị vương tử cho đến mười phương tất cả Phạm thiên đều đến cúng dường tán thán Phật, và cầu thỉnh Phật thương xót chuyển pháp luân độ cho chúng sanh được thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    11.- Lúc bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen chuyển pháp luân mười hai hành hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc là trời, ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ.

    Và rộng nói pháp Mười hai nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não.

    Vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời xúc diệt, xúc diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời ái diệt, ái diệt thời thủ diệt, thủ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sanh diệt, sanh diệt thời lão, tử, ưu bi, khổ não diệt.

    Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na-do-tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được Thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát.

    Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na-do-tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được.

    GIẢNG:

    Đức Phật Đại Thông Trí Thắng ở thời xa xưa khi bắt đầu giáo hóa cũng dùng phương tiện nói pháp Tứ đế gọi là “Tam chuyển pháp luân, Thập nhị hành”. Tam chuyển pháp luân là Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển. Thị chuyển là Phật chỉ rõ bốn lẽ thật có tánh cách khách quan: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Khuyến chuyển là Phật khuyên năm vị Tỳ-kheo xưa chưa từng nghe, nay cần phải biết hãy chánh tư duy để phát sanh trí tuệ: đây là khổ các ông phải biết, đây là tập các ông phải đoạn, đây là diệt các ông phải chứng, đây là đạo các ông phải tu. Chứng chuyển, Phật nói đối với pháp Tứ đế Ngài đã biết, đã tu, đã đoạn và đã chứng. Đây là khổ ta đã biết, đây là khổ tập ta đã đoạn, đây là khổ diệt ta đã chứng, đây là khổ đạo ta đã tu. Phật nói về Tứ đế ba lần là Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển mỗi lần đều lặp lại bốn đế, ba lần lặp lại, thành muời hai. Nên nói Thập nhị hành. Lần thứ nhất chưa hiểu nói cho hiểu, lần thứ hai hiểu rồi phải tu, lần thứ ba tu rồi để chứng.

    Đức Phật thuyết pháp rất cụ thể, mỗi khi Ngài nói điều gì thì điều đó Ngài đã biết rõ, đã thực hành và được lợi ích, khuyên người nên làm để được lợi ích như Ngài, nên lời Phật dạy rất có giá trị được coi là chân lý. Chúng ta ngày nay nói pháp, chỉ lý thuyết suông thiếu cụ thể, có khi lại mâu thuẫn nữa. Vì vậy tốn công rất nhiều mà kết quả rất ít. Điều mình dạy người mà chính bản thân mình chưa thực hành được thì làm sao có đủ kinh nghiệm, đủ lòng tin, để hướng dẫn người? Trên đây là Phật chuyển pháp luân, chúng ta chớ lầm lối chuyển luân xa của ngoại đạo là dẫn điện chạy từ rún qua xương cùng, rồi theo xương sống chạy lên đầu xuống rún trở lại, dẫn điện chạy vòng vòng trong người gọi là chuyển luân xa. Hiện tại có nhiều người mang hình thức tu sĩ Phật giáo đầu tròn áo vuông vẫn tin và tu theo, thật là một việc đáng tiếc! Danh từ Phật giáo bị ngoại đạo lợi dụng, thế mà người tu Phật không biết lại thực hành theo!

    Kế đến là Phật nói pháp Mười hai nhân duyên là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập... cho tới sanh duyên lão tử, ưu bi khổ não, đó là chiều lưu chuyển. Còn chiều hoàn diệt là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt... cho tới sanh diệt thì lão tử diệt, ưu bi khổ não không còn. Căn cứ vào Mười hai pháp nhân duyên thì đầu mối của luân hồi sanh tử là vô minh. Từ vô minh dẫn tới hành rồi thúc đẩy thức đi thọ sanh, khi có bào thai thì có danh sắc, có danh sắc thì có lục nhập... Cứ như vậy tạo nghiệp rồi trở lại sanh, liên miên không cùng tận. Muốn dứt vòng luân hồi đó là phải diệt vô minh, làm cho trí tuệ bừng sáng thì hết tạo nghiệp tức là hành diệt, nếu hết tạo nghiệp thì thức không còn đi thọ sanh, nên thức diệt... Nhưng mà vô minh gốc, thuộc về quá khứ không thể diệt, phải đoạn vô minh hiện tại là ái, thủ, hữu; nếu ái, thủ, hữu dứt thì vô minh gốc cũng không còn. Vậy làm thế nào phá vô minh? Mọi nguời ai cũng thấy thân này là thật, thấy vọng tưởng là thật, thấy cảnh vật là thật. Dùng trí Bát-nhã quán chiếu thấy thân này do duyên hợp tạm có, vọng tưởng cũng là tướng duyên hợp chợt hiện chợt mất, cảnh vật cũng là tướng duyên hợp không thật. Khi thấy thân này không thật, vọng tưởng không thật, cảnh vật không thật thì ái, thủ, hữu theo đó mà dứt. Như vậy vô minh diệt thì hành diệt ngay trong đời này. Đó là dùng trí tuệ phá dẹp vô minh để thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhưng từ đâu mà thắp sáng trí tuệ? Kinh A-hàm Phật có dạy chư Tỳ-kheo: “Các ông hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp.” Chánh pháp Phật dạy được kết tập lại thành Tam tạng giáo điển, chúng ta học hiểu và thực hành theo lời Phật dạy bằng cách giữ giới luật, tu Thiền quán, trí tuệ bừng sáng, không còn thấy biết mê mờ, không tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, đó là tự thắp đuốc lên với chánh pháp để phá vô minh. Đạo Phật chủ trương phát huy trí tuệ để dẹp vô minh, vì vậy trong tất cả thời khóa tụng niệm ở trong chùa đều có tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bát-nhã Tâm Kinh là kinh dạy cho chúng ta dùng trí thấy đúng như thật về thân, về tâm, về pháp. Bất cứ pháp tu nào cũng phải có trí tuệ, để phá vô minh mới dứt luân hồi sanh tử. Trước tự mình tu, sau là giáo hóa cho người tu, hết vô minh thoát ly sanh tử luân hồi. Đó là mồi đuốc chánh pháp, hay nói theo tinh thần Thiền tông là truyền đăng tục diệm.

    Sau đây Phật lại dạy: “Do không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được Thiền định sâu mầu ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát.” Không thọ tất cả các pháp là sao? Kinh Phạm Động trong Trường A-hàm có ghi lại giai đoạn Phật đi du hóa gặp hai người Phạm chí, thầy thì dùng đủ cách để chê Phật, trò cũng dùng đủ cách để khen Phật. Khi về tinh xá Phật dạy các Tỳ-kheo: Nếu gặp người hủy báng Phật, Pháp, Tăng, các ngươi chớ sanh oán giận, hoặc có ác ý với người ta, vì như vậy sẽ bị hãm nịch. Và khi gặp người khen ngợi tán thán Phật, Pháp, Tăng, các ngươi lấy đó làm vui mừng kiêu hãnh cũng bị hãm nịch. Vì khi vui mừng kiêu hãnh hay oán giận có ác ý thì không thấy đúng lẽ thật, mờ tối không có trí tuệ nên bi ưu khổ não bủa vây.

    Phật lại nói tiếp, người chỉ căn cứ vào hình thức giới tướng như ăn một ngày một bữa, mặc chỉ ba y, đêm thức nhiều ngủ ít, hành hạnh khất thực... Phật nói người khen Ngài như vậy là chưa hiểu Ngài. Chỗ đáng khen của Ngài chỉ có các bậc A-la-hán mới biết để khen là: “Ngài biết tất cả pháp mà không thọ.” Thế nào là không thọ? Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không thọ nhận. Mắt thấy cảnh, thấy người biết là cảnh là người, chớ không thấy cảnh đẹp người đẹp thì ưa thích, thấy cảnh xấu người xấu thì ghét bỏ, đó là không thọ. Hoặc tai nghe tiếng khen biết là khen, nghe tiếng chê biết là chê, không nhận tiếng khen khởi tâm vui mừng, không nhận tiếng chê sanh tâm buồn giận, đó là không thọ. Nếu thấy cảnh đẹp người đẹp hay nghe tiếng khen mà sanh lòng ưa thích đó là thọ lạc. Hoặc thấy cảnh xấu người xấu hay tiếng chê mà sanh buồn giận đó là thọ khổ. Tắng ái sở dĩ có là do thọ khổ thọ lạc mà ra. Nếu không có tắng ái làm gì có thủ và hữu đời sau? Nên nói không thọ tất cả là nhân giải thoát.

    Nhưng làm sao không thọ? Mắt thấy vật thấy người, biết đẹp biết xấu, tai nghe tiếng khen tiếng chê, biết là khen là chê. Nhưng đẹp xấu khen chê, dùng trí tuệ biết rõ nó là tướng duyên hợp không thật. Đẹp trên tướng giả, xấu trên tướng giả, khen trên tướng giả, chê trên tướng giả. Thấy đúng lẽ thật của các pháp không lầm, không lầm thì không thọ, không thọ thì không nhiễm trước do đó mà được vô lậu giải thoát. Chúng ta vì si mê nên lầm chấp các pháp, chấp các pháp là thọ nên tự trói buộc, sanh vô số phiền não khổ đau, đi mãi trong luân hồi sanh tử.

    CHÁNH VĂN:

    12.- Bấy giờ, mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Các vị Đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế Tôn! Chúng con có chí mong được Tri kiến của Như Lai, chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho.”

    Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển Luân Thánh vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho.

    Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa-di qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Đức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa-di vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa-di Bồ-tát thảy đều tin thọ, trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong Thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp.

    GIẢNG:

    Mười sáu vị vương tử xuất gia làm Sa-di các căn trí lanh sáng, thiết tha cầu Phật Đại Thông Trí Thắng nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để các ngài được nghe và được tu chứng thành Phật. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thể theo lời yêu cầu của mười sáu vị Sa-di, Ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói xong liền trụ trong Thiền định suốt tám mươi bốn ngàn kiếp.

    CHÁNH VĂN:

    13.- Bấy giờ, mười sáu vị Bồ-tát Sa-di biết Phật nhập thất trụ trong Thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

    Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    GIẢNG:

    Sau khi biết Phật Đại Thông Trí Thắng trụ trong Thiền định, muời sáu vị Bồ-tát Sa-di đều lên pháp tòa vì tứ chúng mà nói kinh Pháp Hoa, mỗi vị đều độ vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị Sa-di chỉ là Bồ-tát thôi, chưa chứng quả Phật mà vẫn ra nói pháp cho tứ chúng nghe. Vì các vị Bồ-tát Sa-di đã tin thọ lời Phật dạy rồi, nên có quyền ra hành Bồ-tát đạo độ chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha được viên mãn để thành Phật. Chúng ta thấy rõ tinh thần của đạo Phật, ngoài công việc tự giác ở chính mình, còn phải làm lợi ích cho chúng sanh, chớ không phải đợi tu thành Phật rồi mới ra giáo hóa. Như chúng ta đã thấy Phật Thích-ca thường nhắc lại ở kinh Bản Sanh, trải qua nhiều đời nhiều kiếp Ngài hành Bồ-tát đạo, kiếp sau cùng mới thành Phật dưới cội bồ-đề. Nên nói tự giác giác tha viên mãn thì thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    14.- Đức Đại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau từ tam-muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: “Mười sáu vị Bồ-tát Sa-di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy.

    Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ-tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ-tát Sa-di đó nói mà thọ trì không mất, thời người đó sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trí huệ của Như Lai.”

    GIẢNG:

    Pháp mà mười sáu vị Sa-di Bồ-tát nói là kinh Pháp Hoa, tức là Tri kiến Phật. Các ngài đã tin nhận được Tri kiến Phật rồi thọ trì tu hành, sau này chắc chắn sẽ thành Phật không nghi. Đó là trách nhiệm giáo hóa của đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã xong.

    CHÁNH VĂN:

    15.- Phật bảo các Tỳ-kheo:

    - Mười sáu vị Bồ-tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy. Sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ-tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ-tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ-tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt.

    Các Tỳ-kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa-di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện đương nói pháp trong cõi nước ở mười phương, có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ-tát, Thanh văn để làm quyến thuộc.

    Hai vị Sa-di làm Phật ở phương Đông: vị thứ nhứt tên là A-súc ở nước Hoan Hỉ, vị thứ hai tên là Tu-di Đảnh.

    Hai vị làm Phật ở phương Đông Nam: vị thứ nhứt tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng.

    Hai vị làm Phật ở phương Nam: vị thứ nhứt tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt.

    Hai vị làm Phật ở phương Tây Nam: vị thứ nhứt tên là Đế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng.

    Hai vị làm Phật ở phương Tây: vị thứ nhứt tên là A-di-đà, vị thứ hai tên là Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não.

    Hai vị làm Phật ở phương Tây Bắc: vị thứ nhứt tên là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu-di Tướng.

    Hai vị làm Phật ở phương Bắc: vị thứ nhứt tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương.

    Một vị làm Phật ở phương Đông Bắc hiệu Hoại Nhứt Thiết Thế Gian Bố Úy.

    Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích-ca Mâu-ni Phật ở cõi nước Ta-bà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Các Tỳ-kheo! Lúc chúng ta làm Sa-di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn hằng hà sa chúng sanh, vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo.

    Vì sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh được hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ-kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ-tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết-bàn.

    Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết-bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí huệ Phật được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp.

    Các Tỳ-kheo! Nếu đức Như Lai tự biết giờ niết-bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh, lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào Thiền định, bèn nhóm các Bồ-tát và chúng Thanh văn mà vì nói kinh này. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi.

    Các Tỳ-kheo nên rõ! Đức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham năm món dục, vì hạng người này mà nói Niết-bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận.

    GIẢNG:

    Những vị Sa-di Bồ-tát do nghe kinh Pháp Hoa và nói kinh Pháp Hoa để giáo hóa chúng sanh, sau này ra đời đều gặp chư vị Bồ-tát, và chư Phật tiếp tục tu hành tiến mãi trên đường tu cho đến khi thành Phật. Và sau khi thành Phật thì cứ hai vị giáo hóa một phương, như phương Đông có Phật A-súc, Phật Tu-di Đảnh, phương Nam có Phật Sư Tử Âm, Sư Tử Tướng... cho tới muời phương, phương nào cũng có các Phật do đức Đại Thông Trí Thắng giáo hóa thành Phật. Và chính đức Thích-ca Mâu-ni cũng do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa giáo hóa mà được thành Phật. Như vậy là thế nào? Kinh Kim Cang có đoạn nói: Kinh này là mẹ của chư Phật ba đời. Kinh điển từ miệng Phật nói ra, tại sao lại nói kinh là mẹ của Phật? Kinh này là chỉ cho Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Chư Phật nếu được thành Phật là phải đầy đủ trí tuệ, nếu không có trí tuệ thì không thể thành Phật, mà Phật là giác và giác là trí tuệ. Nên nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật. Cũng vậy, ở đây thay vì nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật thì dùng hình ảnh đức Phật Đại Thông Trí Thắng nói kinh Pháp Hoa, con của Ngài nhân nghe kinh Pháp Hoa mà tu hành thành Phật ở khắp mười phương. Như vậy, chư Phật ở mười phương được thành Phật là do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa, các ngài nghe tu hành mà được thành Phật. Đức Đại Thông Trí Thắng là chỉ cho Pháp thân, nếu muốn sống được với Pháp thân thì không gì hơn là từ Tri kiến Phật mà vào, vì Tri kiến Phật là dụng của Pháp thân.

    Ví dụ một ngọn đèn đốt ở giữa nhà, nhà có sáu cửa mở rộng, người ở ngoài nhà do thấy ánh sáng từ sáu cửa mà biết có đèn trong nhà, và phải do cửa mà vào nhà mới thấy được ngọn đèn. Ngọn đèn dụ cho Pháp thân Phật, ánh sáng tỏa ra sáu cửa dụ cho Tri kiến Phật. Tri kiến Phật từ Pháp thân tỏa ra gọi là dụng của Pháp thân, muốn sống được với Pháp thân thì phải từ Tri kiến Phật mà vào, chớ không có con đường nào khác. Vì vậy nên đây mới nói đức Đại Thông Trí Thắng giảng kinh Pháp Hoa cho các Sa-di Bồ-tát tu và được thành Phật. Tóm lại muời phương chư Phật đều từ cửa Tri kiến Phật mà ngộ nhập được Pháp thân Phật, chớ không có cửa nào đường nào khác. Vì vậy nên các ngài tu trong vô lượng kiếp khi thành Phật rồi mỗi vị phân ở mỗi phương, để nói lên ý nghĩa Pháp thân không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

    Tới đây Phật nói Trí tuệ Phật khó tin khó hiểu. Song, có vô số chúng sanh đã được Phật giáo hóa, tu theo Phật chứng quả Thanh văn rồi đến Bồ-tát. Lại cũng có người sau này nghe pháp Phật có lòng tin tưởng Phật nhập Niết-bàn là hết không trở lại, không ngờ Phật thị hiện Niết-bàn ở đây rồi giáng sinh ở kia để giáo hóa chúng sanh, chớ không phải ngang đó mà hết.

    Diệt độ tức là Niết-bàn. Đạo Phật chỉ có một Niết-bàn duy nhất là Niết-bàn Phật. Sở dĩ Phật nói Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác chẳng qua là phương tiện dẫn dụ, vì Ngài biết tâm chúng sanh thích ngũ dục ưa pháp nhỏ, để cho thấy dễ họ ham mà hướng dẫn họ tu lần lần. Nếu nói tu lâu và phải chứng được Phật quả thì họ ngán sanh lười mỏi không chịu tu.

    CHÁNH VĂN:

    16.- Thí như đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do-tuần, chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường nầy đến chỗ trân bửu, có một vị Đạo sư thông minh sáng suốt khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch Đạo sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về.”

    Vị Đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: “Bọn nầy đáng thương, làm sao cam bỏ trân bửu lớn mà muốn lui về.” Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do-tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn nầy có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành nầy sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được.”

    Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn.

    Lúc ấy Đạo sư biết chúng nhân đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi.”

    Các Tỳ-kheo! Đức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị Đại đạo sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế nầy: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành.” Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết-bàn.

    Nếu chúng sanh trụ nơi hai bậc, đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói: “Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết-bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa làm thành lớn, đã biết nghỉ xong mà bảo đó rằng: Chỗ châu báu ở gần, thành nầy không phải thiệt, của ta biến hóa làm ra đó thôi.”

    Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    17.-

    Đại Thông Trí Thắng Phật
    Mười kiếp ngồi đạo tràng
    Phật pháp chẳng hiện tiền
    Chẳng được thành Phật đạo
    Các trời thần, Long vương,
    Chúng a-tu-la thảy
    Thường rưới các hoa trời
    Để cúng dường Phật đó
    Chư thiên đánh trống trời
    Và trỗi các kỹ nhạc
    Gió thơm thổi hoa héo
    Lại mưa bông tốt mới
    Quá mười tiểu kiếp rồi
    Mới được thành Phật đạo
    Các trời cùng người đời
    Lòng đều sanh hớn hở
    Mười sáu người con Phật
    Đều cùng quyến thuộc mình
    Nghìn muôn ức vây quanh
    Cùng đi đến chỗ Phật
    Đầu mặt lạy chân Phật
    Thỉnh Phật chuyển pháp luân:
    “Đấng Thánh sư mưa pháp
    Lợi con và tất cả
    Thế Tôn rất khó gặp
    Lâu xa một lần hiện
    Vì giác ngộ quần sanh
    Mà chấn động tất cả.”
    Các thế giới phương Đông
    Năm trăm muôn ức cõi
    Phạm cung điện sáng chói
    Từ xưa chưa từng có
    Phạm vương thấy tướng nầy
    Liền đến chỗ Phật ở
    Rải hoa để cúng dường
    Và dưng cung điện lên
    Thỉnh Phật chuyển pháp luân
    Nói kệ ngợi khen Phật
    Phật biết chưa đến giờ
    Nhận thỉnh yên lặng ngồi
    Ba phương cùng bốn phía
    Trên, dưới cũng như thế
    Rưới hoa, dưng cung điện
    Thỉnh Phật chuyển pháp luân:
    “Thế Tôn rất khó gặp
    Nguyện vì bổn từ bi
    Rộng mở cửa cam lồ
    Chuyển pháp luân Vô thượng.”

    18.-     

    Thế Tôn huệ Vô thượng
    Nhân chúng nhân kia thỉnh
    Vì nói các món pháp
    Bốn đế, mười hai duyên
    Vô minh đến lão tử
    Đều từ sanh duyên hữu
    Những quá hoạn như thế
    Các ông phải nên biết.
    Tuyên nói pháp đó rồi
    Sáu trăm muôn ức cai(
    [1])
    Được hết các ngằn khổ
    Đều thành A-la-hán
    Thời nói pháp thứ hai
    Nghìn muôn hằng sa chúng
    Ở các pháp chẳng thọ
    Cũng được A-la-hán
    Từ sau đây được đạo
    Số đông đến vô lượng
    Muôn ức kiếp tính kể
    Không thể được ngằn mé.

    19.-

    Bấy giờ mười sáu vị
    Xuất gia làm Sa-di
    Đều đồng thỉnh Phật kia
    Diễn nói pháp Đại thừa:
    “Chúng con cùng quyến thuộc
    Đều sẽ thành Phật đạo
    Nguyện được như Thế Tôn
    Huệ nhãn sạch thứ nhất.”
    Phật biết lòng đồng tử
    Chỗ làm của đời trước
    Dùng vô lượng nhân duyên
    Cùng các món thí dụ
    Nói Sáu ba-la-mật
    Và các việc thần thông
    Phân biệt pháp chân thiệt
    Đạo của Bồ-tát làm
    Nói kinh Pháp Hoa này
    Kệ nhiều như hằng sa.
    Phật kia nói kinh rồi
    Vào tịnh thất nhập định
    Tám muôn bốn nghìn kiếp
    Một lòng ngồi một chỗ.
    Các vị Sa-di đó
    Biết Phật chưa xuất thiền
    Vì vô lượng chúng nói
    Huệ Vô thượng của Phật
    Mỗi vị ngồi pháp tòa
    Nói kinh Đại thừa này
    Sau khi Phật yên lặng
    Tuyên bày giúp giáo hóa.
    Mỗi vị Sa-di thảy
    Số chúng sanh mình độ
    Có sáu trăm muôn ức
    Hằng hà sa các chúng.
    Sau khi Phật diệt độ
    Các người nghe pháp đó
    Ở các nơi cõi Phật
    Thường cùng thầy sanh chung.
    Mười sáu Sa-di đó
    Đầy đủ tu Phật đạo
    Nay hiện ở mười phương
    Đều được thành Chánh giác
    Người nghe pháp thuở đó
    Đều ở chỗ các Phật
    Có người trụ Thanh văn
    Lần dạy cho Phật đạo.
    Ta ở số mười sáu
    Cũng từng vì ngươi nói
    Cho nên dùng phương tiện
    Dẫn ngươi đến huệ Phật
    Do bổn nhân duyên đó
    Nay nói kinh Pháp Hoa
    Khiến ngươi vào Phật đạo
    Dè dặt chớ kinh sợ.

    20.-

    Thí như đường hiểm dữ
    Xa vắng nhiều thú độc
    Và lại không cỏ nước
    Chốn mọi người ghê sợ
    Vô số nghìn muôn chúng
    Muốn qua đường hiểm nầy
    Đường đó rất xa vời
    Trải năm trăm do-tuần.
    Bấy giờ một Đạo sư
    Nhớ dai có trí huệ
    Sáng suốt lòng quyết định
    Đường hiểm cứu các nạn
    Mọi người đều mệt mỏi
    Mà bạch Đạo sư rằng:
    “Chúng con nay mỏi mệt
    Nơi đây muốn trở về.”
    Đạo sư nghĩ thế này
    Bọn nầy rất đáng thương
    Làm sao muốn lui về
    Cam mất trân bửu lớn?
    Liền lại nghĩ phương tiện
    Nên bày sức thần thông
    Hóa làm thành quách lớn
    Các nhà cửa trang nghiêm
    Bốn bề có vườn rừng
    Sông ngòi và ao tắm
    Cửa lớn lầu gác cao
    Trai, gái đều đông vầy.
    Hóa ra thành đó rồi
    An ủi chúng: “Chớ sợ
    Các ngươi vào thành nầy
    Đều được vừa chỗ muốn.”
    Mọi người đã vào thành
    Lòng đều rất vui mừng
    Đều sanh tưởng an ổn
    Tự nói đã được độ.
    Đạo sư biết nghĩ xong
    Nhóm chúng mà bảo rằng:
    “Các ngươi nên đi nữa
    Đây là hóa thành thôi
    Thấy các ngươi mỏi mệt
    Giữa đường muốn lui về
    Nên dùng sức phương tiện
    Ta hóa làm thành này
    Các ngươi gắng tinh tấn
    Nên đồng đến chỗ báu.”

    21.-

    Ta cũng lại như vậy
    Đạo sư của tất cả
    Thấy những người cầu đạo
    Giữa đường mà lười bỏ
    Không thể vượt đường dữ
    Sanh tử đầy phiền não
    Nên dùng sức phương tiện
    Vì nghỉ nói Niết-bàn.
    Rằng các ngươi khổ dứt
    Chỗ làm đều đã xong
    Đã biết đến Niết-bàn
    Đều chứng A-la-hán
    Giờ mới nhóm đại chúng
    Vì nói pháp chân thật
    Sức phương tiện các Phật
    Phân biệt nói ba thừa
    Chỉ có một Phật thừa
    Vì nghỉ nên nói hai
    Vì các ngươi nói thiệt
    Các ngươi chưa phải diệt,
    Vì Nhất thiết trí Phật
    Nên phát tinh tấn mạnh
    Ngươi chứng Nhất thiết trí
    Mười lực các Phật pháp
    Đủ băm hai tướng tốt
    Mới là chân thiệt diệt,
    Các Phật là Đạo sư
    Vì nghỉ nói Niết-bàn
    Đã biết ngơi nghỉ rồi
    Dẫn vào nơi huệ Phật.

    GIẢNG:

    Để cho rõ nghĩa hơn, Phật nói ví dụ: Có một đoàn người đi lấy trân bảo phải đi qua con đường rất dài, hoang vắng không người, nhiều tai nạn nguy hiểm. Đoàn người này đi qua được một đoạn đường dài khá mệt nhọc mà chưa tới chỗ trân bảo, nên sanh tâm chán nản muốn thoái lui. Khi đó vị hướng đạo là người thông minh tài trí rõ biết đường đi, không muốn cho đoàn người mất lợi ích bèn dụ dẫn đoàn người rằng, ở phía trước có một cái thành rất an ổn, hãy ráng đi chút nữa rồi sẽ vào thành nghỉ ngơi cho khỏe. Nghe vị hướng đạo nói, mọi người rất vui mừng, nỗ lực tiếp tục đi đến thành, vào trong ấy được mọi nhu cầu tiện nghi rất an ổn, nên muốn nghỉ luôn ở đó. Vị hướng đạo thông minh tài trí biết đoàn người nghỉ đã hết mệt, bèn nói với họ rằng thành này do ta hóa ra để cho các người nghỉ, chớ không phải là chỗ chứa trân bảo. Hãy ra khỏi thành này và đi thêm một đoạn đường nữa sẽ đến chỗ chúng ta muốn đến. Đoàn người hết mệt nhọc nên tiếp tục đi đến đích.

    Đây là tâm bệnh chung của tu sĩ chúng ta, khi mới xuất gia tuổi còn trẻ phấn chấn tu hành, nhưng khi tu được năm, mười năm, chưa chứng đạo quả bèn sanh tâm lười mỏi muốn thoái lui, vì thấy quả Phật khó thành. Trên đường tu hay gặp những chướng nạn Ma vương như sắc, tài, danh, lợi cám dỗ. Người tu không khéo tỉnh giác thì mắc bẫy, sa hầm sụp hố. Nên tuổi trẻ đi tu thì nhiều nhưng giữ được phạm hạnh thanh tịnh cho tới tuổi già thì rất ít. Số còn lại, người thì tay bồng tay dắt, kẻ thì lạc ngõ tẽ này, kẻ thì lạc lối quanh nọ... Rốt cuộc rồi tu chẳng tới đâu. Nên người hướng dẫn biết tâm bệnh đó phải khuyến khích, chẳng hạn như tôi nói tu một giờ là tiến một giờ, tu một ngày là tiến một ngày, tu một tháng là tiến một tháng. Vọng tưởng khởi, biết, không theo là giác, vọng tưởng khởi một trăm lần, giác một trăm lần là tiến rồi. Tôi lấy cái nhỏ để khuyến khích họ, chớ bảo tọa thiền nhập định năm, bảy ngày thì họ không thực hiện nổi, phải tùy theo trình độ mà hướng dẫn, điều phục họ tiến cho xuôi đường thẳng lối, làm thầy khó là khó ở chỗ đó.

    Đây là phần hợp pháp thí dụ: Vị Đạo sư dẫn đường là dụ cho đức Phật. Đoàn người đi tìm trân bảo dụ cho các bậc Thanh văn, Duyên giác đang tu theo sự hướng dẫn của Phật. Hóa thành là Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và chỗ chứa trân bảo tức quả Phật. Phật biết hàng Tỳ-kheo tu theo hạnh Thanh văn với tâm nguyện nhỏ hẹp, nên trước Ngài nói tu đoạn sạch phiền não liền chứng Niết-bàn tịch diệt. Niết-bàn đó chỉ là phương tiện, là Niết-bàn tạm thôi, vì chỉ làm lợi ích cho mình, thiếu phần công đức lợi tha cho người nên chưa được viên mãn. Vì vậy muốn được Niết-bàn cứu kính chân thật ngoài phần tự tu cho mình giác ngộ thành Phật, còn phải giáo hóa cho người cũng được giác ngộ thành Phật như mình, tới đó mới là viên mãn. Như vậy quí vị mới thấy tinh thần Tiểu thừa và Đại thừa dị biệt ở chỗ nào. Thật ra tu mà giữ phạm hạnh, hết phiền não tâm thanh tịnh, sánh với chúng ta thì quá quí. Tuy nhiên được phần mình rồi, nhìn lại người còn đang mờ tối quờ quạng khổ đau, mà làm ngơ không hóa độ thì lòng từ chưa khai mở. Nên ở trước Phật mới ví Niết-bàn Thanh văn giá đáng chừng một bữa ăn là vậy.

    Phật dùng thí dụ này cho hàng Thanh văn thấy rõ thêm các ngài đã có chủng tử Tri kiến Phật và Niết-bàn các ngài được chỉ là tạm, chưa phải cứu kính, không nên an trú trong đó. Phải khởi tâm đại bi, ra giáo hóa chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha viên mãn thành Phật. Vì thương chúng sanh, vì thương đệ tử đi chưa tới chỗ cứu kính viên mãn, nên Phật dùng mọi phương tiện để giáo hóa, thúc đẩy đi cho tới chỗ rốt ráo như Ngài, Ngài mới toại nguyện. Nên khi Phật nói kinh Pháp Hoa rồi Ngài nhập Niết-bàn rất là hợp lý, vì đã có người tin nhận chỗ Ngài muốn chỉ. Vì vậy, Phật niết-bàn rồi mà Phật pháp vẫn còn tồn tại ở thế gian không mất. Đây tôi nhắc lại một lần nữa, bản hoài của đức Phật là muốn cho mọi người đều được giác ngộ thành Phật, chớ không bằng lòng cho bất cứ một ai dừng ở bất cứ chặng đường nào. Nếu chúng ta hài lòng ở chặng đường nào đều bị Phật quở.

    Phẩm này có thể phân bốn đoạn:

    1.- Trí tuệ Phật không bị hạn cuộc ở thời gian, vì định lực Phật rất thâm sâu nên có thể nhớ vô số kiếp về quá khứ, thấy biết một cách tường tận không sai lầm. Và vì Trí tuệ Phật là thể sáng suốt thanh tịnh, vượt ngoài ý niệm về ngày tháng năm theo thông lệ của thế gian.

    2.- Trí tuệ Phật không bị giới hạn bởi không gian, vì Phật đã trải qua vô lượng kiếp tu tập trí tuệ, nên Trí tuệ Phật viên mãn không giới hạn. Và Trí tuệ Phật là thể sáng suốt không hình tướng trùm khắp, nên không giới hạn bởi không gian.

    3.- Mười sáu vị vương tử từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng mà được thành Phật, rồi phân vị mà giáo hóa ở tám phương. Điều này cho chúng ta thấy sức hiểu biết của Phật không thể nghĩ bàn, không riêng ở cõi Ta-bà mới có Phật như từ lâu chúng ta nghĩ tưởng, mà ở những thế giới khác cũng có Phật giáo hóa. Trí tuệ Phật là Thể sáng suốt viên mãn trùm khắp tất cả không đâu không có. Và không ai tu mà không từ Trí tuệ Phật khởi tu để được thành Phật.

    4.- Dụ hóa thành cho thấy rằng Trí tuệ Phật rộng lớn không ngằn mé. Công hạnh Phật không thể tính kể, với ý chí tầm thường của phàm phu không thể theo nổi, nên Phật tùy căn cơ chúng sanh phương tiện nói Ngũ thừa Phật giáo hướng dẫn từ thấp lần lên cao, cuối cùng đưa chúng sanh đến mục đích cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa. Còn kết quả được ở Ngũ thừa chỉ là quả an vui tạm bợ không nên an trụ nơi ấy.

    Muốn đạt được quả Phật thì phải trải qua nhiều kiếp tu lâu dài cho công hạnh Bồ-tát đầy đủ, Trí tuệ Phật viên mãn mới thành Phật.



    ([1]) Cai: một trăm triệu.

  • 9. PHẨM 8: NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ

    PHẨM 8

    NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ

    Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký là năm trăm vị đệ tử được Phật thọ ký sau sẽ thành Phật. Ở phẩm Thí Dụ Phật đã thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất; ở phẩm Thọ Ký, Phật thọ ký cho ngài Huệ Mạng Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên và tới đây Phật lại thọ ký cho năm trăm vị đệ tử như Phú-lâu-na, Kiều-trần-như... sau sẽ thành Phật, vì lòng tin các ngài đã thuần thục.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, ngài Mãn Từ Tử từ nơi đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế nầy:

    “Thế Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, cứu vớt chúng sanh ra khỏi các chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Phật Thế Tôn hay biết bổn nguyện trong thâm tâm của chúng con.”

    GIẢNG:

    Tôn giả Mãn Từ Tử nghe Phật thọ ký cho các bậc huynh trưởng, lòng Tôn giả đã thanh tịnh, vui mừng đến đảnh lễ Phật và nghĩ rằng việc làm của Phật rất ít có, Phật biết chủng tánh của chúng sanh, mà vì họ phương tiện nói pháp theo chỗ họ mong muốn. Hôm nay trong hội này, nếu Phật theo bản nguyện của Tôn giả mà thọ ký cho thì thật là sung sướng, là điều mà Tôn giả trông mong chờ đợi đã lâu. Đó là tâm khao khát được thọ ký của Tôn giả Mãn Từ Tử.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:

    - Các ông thấy Mãn Từ Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhứt trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặc siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lợi mừng cho hàng bốn chúng giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn Từ Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhứt.

    Ông lại ở pháp Không của chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm, đầy đủ sức thần thông của Bồ-tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh.

    Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thiệt là Thanh văn. Nhưng ông Mãn Từ Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sanh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sanh.

    Các Tỳ-kheo! Ông Mãn Từ Tử cũng được bậc nhứt ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở nơi chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhứt.

    Trong hàng người nói pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhứt, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, khiến an lập nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sanh, lần lần đầy đủ đạo Bồ-tát.

    Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi nầy thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là: Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Đức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Đất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay, không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ.

    Tất cả chúng sanh đều do biến hóa sanh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc, có đức tinh tấn trí huệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm.

    Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: một là Pháp hỉ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na-do-tha các chúng Bồ-tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại, khéo hay giáo hóa loài chúng sanh. Chúng Thanh văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát.

    Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bửu Minh, nước tên Thiện Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    3.-       

    Các Tỳ-kheo lóng nghe
    Đạo của Phật tử làm
    Vì khéo học phương tiện
    Chẳng thể nghĩ bàn được
    Biết chúng ưa pháp nhỏ
    Mà sợ nơi trí lớn
    Cho nên các Bồ-tát
    Làm Thanh văn, Duyên giác
    Dùng vô số phương tiện
    Độ các loài chúng sanh,
    Tự nói là Thanh văn
    Cách Phật đạo rất xa
    Độ thoát vô lượng chúng
    Thảy đều được thành tựu
    Dầu ưa nhỏ, biếng lười
    Sẽ khiến lần thành Phật.
    Trong ẩn hạnh Bồ-tát
    Ngoài hiện là Thanh văn
    Ít muốn, nhàm sanh tử
    Thiệt tự tịnh cõi Phật
    Bày ba độc cho người
    Lại hiện tướng tà kiến,
    Đệ tử ta như vậy
    Phương tiện độ chúng sanh
    Nếu ta nói đủ cả
    Các món việc hiện hóa
    Chúng sanh nghe đó rồi
    Thời lòng sanh nghi lầm.

    4.-

    Nay Phú-lâu-na đây
    Ở xưa nghìn ức Phật
    Siêng tu đạo mình làm
    Tuyên hộ các Phật pháp
    Vì cầu huệ Vô thượng
    Mà ở chỗ chư Phật
    Hiện ở trên đệ tử
    Học rộng có trí huệ
    Nói pháp không sợ sệt
    Hay khiến chúng vui mừng
    Chưa từng có mỏi mệt
    Để giúp nên việc Phật.
    Đã được thần thông lớn
    Đủ bốn trí vô ngại
    Biết các căn lợi độn
    Thường nói pháp thanh tịnh
    Diễn xướng nghĩa như thế
    Để dạy nghìn ức chúng
    Khiến trụ pháp Đại thừa
    Mà tự tịnh cõi Phật.
    Đời sau cũng cúng dường
    Vô lượng vô số Phật
    Hộ trợ tuyên chánh pháp
    Cũng tự tịnh cõi Phật
    Thường dùng các phương tiện
    Nói pháp không e sợ
    Độ chúng không kể được
    Đều thành Nhứt thiết trí
    Cúng dường các Như Lai
    Hộ trì tạng Pháp bảo.
    Sau đó được thành Phật
    Hiệu gọi là Pháp Minh
    Nước đó tên Thiện Tịnh
    Bảy thứ báu hiệp thành
    Kiếp tên là Bửu Minh
    Chúng Bồ-tát rất đông
    Số nhiều vô lượng ức
    Đều được thần thông lớn
    Sức oai đức đầy đủ
    Khắp đầy cả nước đó
    Thanh văn cũng vô số
    Ba minh tám giải thoát
    Được bốn trí vô ngại
    Dùng hạng này làm Tăng,
    Chúng sanh trong cõi đó
    Dâm dục đều đã dứt
    Thuần một biến hóa sanh
    Thân trang nghiêm đủ tướng
    Pháp hỉ, Thiền duyệt thực
    Không tưởng món ăn khác.
    Không có hàng nữ nhân
    Cũng không các đường dữ
    Phú-lâu-na Tỳ-kheo
    Khi công đức trọn đầy
    Sẽ được tịnh độ nầy
    Chúng Hiền Thánh rất đông
    Vô lượng việc như thế
    Nay ta chỉ nói lược.

    GIẢNG:

    Phật tán dương công đức thuyết pháp của Tôn giả Mãn Từ Tử trong hội chúng của Phật, ngoài Phật ra thì Tôn giả Mãn Từ Tử là người thuyết pháp bậc nhất trong hàng đệ tử Phật. Phật nói chẳng những trong đời này Tôn giả Mãn Từ Tử rộng nói pháp Phật mà thuở quá khứ, ở nơi chín mươi ức đức Phật, Tôn giả cũng đã từng nói pháp bậc nhất và trong những kiếp tương lai Tôn giả cũng sẽ nói pháp bậc nhất, giáo hóa chúng sanh làm thanh tịnh cõi Phật. Đó là do duyên phước nhiều đời, Tôn giả mới làm được việc đó. Cũng vậy, trong đời hiện tại chúng ta có năng khiếu gì tốt, là do nhiều đời chúng ta đã gieo trồng giống đó, chớ không phải chỉ trong một đời mà được.

    Phật nói thuở đó Tôn giả Mãn Từ Tử căn cứ vào “pháp Không” của chư Phật mà nói, nên thông suốt, được bốn trí vô ngại, nói pháp thanh tịnh không nghi lầm, đủ sức thần thông của Bồ-tát, thường tu hạnh thanh tịnh. Pháp Không ở đây là chỉ cho pháp Bát-nhã. Do đạt được Trí tuệ Bát-nhã nên Tôn giả thuyết pháp không chướng ngại, chỉ dạy cho mọi người đều được pháp thanh tịnh. Người thuở đó gọi Tôn giả Mãn Từ Tử là Thanh văn, nhưng với Phật thì Tôn giả Mãn Từ Tử là Bồ-tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh khiến trụ nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì vậy, nên sau khi nhắc đến Tri kiến Phật, Tôn giả liền lãnh hội và được Phật thọ ký cho sau này sẽ thành Phật. Do Tôn giả chuyên tu hạnh tuyên dương chánh pháp khai thông trí tuệ cho người, nhờ nhiều đời nhiều kiếp tích lũy phước đức đó nên khi thành Phật hiệu là Pháp Minh.

    Cõi nước thì lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà trang nghiêm, cõi này gần cung điện của chư thiên, nên hai bên giao tiếp nhau rất dễ. Nhân dân ở cõi này do tu đầy đủ hạnh thanh tịnh, nhờ nguyện lực mà được hóa sanh, nên không có tướng nam tướng nữ. Nhân dân ở cõi này dùng hai món ăn là pháp hỉ và thiền duyệt chớ không dùng thức ăn bằng phạn thực như chúng sanh ở cõi Ta-bà, nên có đủ ba món minh, sáu pháp thần thông, tám món giải thoát. Khi đói thì nghe pháp, tâm hoan hỉ liền được no. Hoặc đói thì tọa thiền, tâm hoan hỉ liền được no. Vì nhân dân ở cõi này chỉ cần chánh pháp và Thiền định chớ không cần cơm gạo thô phù như ở cõi Ta-bà. Chúng đệ tử toàn là hàng Thanh văn, Bồ-tát nhiều vô số không thể tính đếm, tuổi thọ thì dài vô kể.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A-la-hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử khác thời sung sướng lắm.”

    Đức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với ngài Đại Ca-diếp:

    - Một nghìn hai trăm vị A-la-hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Trong chúng đó, đệ tử lớn của ta là Kiều-trần-như Tỳ-kheo sẽ cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Năm trăm vị A-la-hán: ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, ông Dà-gia Ca-diếp, ông Na-đề Ca-diếp, ông Ca-lưu-đà-di, ông Ưu-đà-di, ông A-nậu-lâu-đà, ông Ly-bà-đa, ông Kiếp-tân-na, ông Bạc-câu-la, ông Châu-đà-tá, ông Dà-đà v.v... đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng một hiệu là Phổ Minh.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    6.-

    Kiều-trần-như Tỳ-kheo
    Sẽ gặp vô lượng Phật
    Qua vô số kiếp sau
    Mới được thành Chánh giác
    Thường phóng quang minh lớn
    Đầy đủ các thần thông
    Danh đồn khắp mười phương
    Tất cả đều tôn kính
    Thường nói pháp Vô thượng
    Nên hiệu là Phổ Minh
    Cõi nước đó thanh tịnh
    Bồ-tát đều dõng mãnh
    Đều lên lầu gác đẹp
    Dạo các nước mười phương
    Đem đồ cúng vô thượng
    Hiến dưng các đức Phật,
    Làm việc cúng đó xong
    Sanh lòng rất vui mừng
    Giây lát về bổn quốc
    Có sức thần như thế.
    Phật thọ sáu muôn kiếp
    Chánh pháp trụ bội thọ
    Tượng pháp lại hơn chánh
    Pháp diệt trời người lo.

    7.-

    Năm trăm Tỳ-kheo kia
    Thứ tự sẽ là Phật
    Đồng hiệu là Phổ Minh
    Theo thứ thọ ký nhau:
    Sau khi ta diệt độ
    Ông đó sẽ làm Phật
    Thế gian của ông độ
    Cũng như ta ngày nay
    Cõi nước đó nghiêm sạch
    Và các sức thần thông
    Chúng Thanh văn, Bồ-tát
    Chánh pháp cùng tượng pháp
    Thọ mạng kiếp nhiều ít
    Đều như trên đã nói.
    Ca-diếp! Ông đã biết
    Năm trăm vị tự tại
    Các chúng Thanh văn khác
    Cũng sẽ làm như thế
    Vị nào vắng mặt đây
    Ông nên vì tuyên nói.

    GIẢNG:

    Bấy giờ, chư vị A-la-hán là huynh đệ đồng đẳng với Tôn giả Mãn Từ Tử, khi thấy Tôn giả được thọ ký rồi, các ngài mong rằng các ngài sẽ được Phật thọ ký cho mình. Phật biết tâm niệm ấy của các ngài liền thứ tự thọ ký cho các ngài được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong đó đệ tử lớn của Phật là ngài A-nhã Kiều-trần-như do công đức cúng dường sáu muôn hai ngàn ức đức Phật, sau sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh. Kế đến năm trăm vị A-la-hán như Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Dà-gia Ca-diếp, Nan-đề Ca-diếp, Ca-lưu-đà-di, Ưu-đà-di, A-nậu-lâu-đà... đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đồng hiệu là Phổ Minh.

    Tại sao chư vị A-la-hán thấy Tôn giả Mãn Từ Tử được thọ ký, các ngài đều vui mừng và mong được Phật thọ ký cho mình thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, còn chúng ta nghe các ngài được thọ ký chúng ta tự thấy mình là kẻ vô phần nên không vui mừng? Tôi ví dụ, các anh em cùng học chung một lớp, đến giờ trả bài, anh A trả bài thuộc được tám điểm thầy khen giỏi, anh B trả bài thuộc được tám điểm cũng được thầy khen giỏi. Mình lúc đó cũng thuộc bài chưa được gọi lên trả bài trong lòng cũng mong được thầy gọi lên trả bài. Nếu hôm đó mình không thuộc bài thì không dám mong được trả bài. Qua ví dụ này chúng ta thấy sở dĩ các ngài mong được Phật thọ ký, là vì các ngài cũng có sở ngộ như những người bạn đồng đẳng mà chưa được Phật xác chứng, nên mong chờ. Nếu các ngài chưa ngộ chắc không dám mong, do thấy được tâm mong chờ đó Phật liền thọ ký cho. Đó là ý nghĩa vui mừng chờ thọ ký là như vậy.

    CHÁNH VĂN:

    8.- Bấy giờ, năm trăm vị A-la-hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, ăn năn lỗi của mình mà tự trách:

    - Thế Tôn, chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí huệ Như Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ.

    Thế Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho đó rồi đi. Gã đó say nằm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ.

    Lúc sau, người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh nầy, sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi nầy. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh, nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thật là khờ lắm, nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thời thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn.”

    Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ-tát giáo hóa chúng con khiến phát lòng cầu Nhứt thiết trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Đã được đạo A-la-hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ-kheo! Đạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết-bàn mà các ông cho là thiệt được diệt độ.”

    Thế Tôn! Chúng con nay mới biết mình thiệt là Bồ-tát được thọ ký sẽ thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.

    Bấy giờ, ông A-nhã Kiều-trần-như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    9.-

    Chúng con nghe Vô thượng
    Tiếng thọ ký an ổn
    Vui mừng chưa từng có
    Lạy Phật trí vô lượng.
    Nay ở trước Thế Tôn
    Tự hối các lỗi quấy
    Trong Phật báu vô lượng
    Được chút phần Niết-bàn
    Như người ngu vô trí
    Bèn tự cho là đủ.
    Thí như người nghèo cùng
    Qua đến nhà thân hữu
    Nhà đó rất giàu lớn
    Bày đủ các tiệc ngon
    Đem châu báu vô giá
    Cột dính trong vạt áo
    Thầm cho rồi bỏ đi
    Gã say nằm không hay.
    Sau khi gã đã dậy
    Dạo đi đến nước khác
    Cầu ăn mặc tự sống
    Nuôi sống rất khốn khổ
    Được ít cho là đủ
    Chẳng lại muốn đồ tốt
    Chẳng biết trong vạt áo
    Có châu báu vô giá.
    Người thân hữu cho châu
    Sau gặp gã nghèo này
    Khổ thiết trách gã rồi
    Chỉ cho châu trong áo.
    Gã nghèo thấy châu đó
    Lòng gã rất vui mừng
    Giàu có các của cải
    Tha hồ hưởng ngũ dục.
    Chúng con cũng như vậy
    Thế Tôn từ lâu xưa
    Thường thường giáo hóa cho
    Khiến gieo nguyện Vô thượng.
    Chúng con vì vô trí
    Chẳng hay cũng chẳng biết
    Được chút phần Niết-bàn
    Cho đủ chẳng cầu nữa
    Nay Phật giác ngộ con
    Nói chẳng phải thiệt diệt
    Được Phật huệ Vô thượng
    Đó mới là thiệt diệt.
    Con nay từ Phật nghe
    Thọ ký việc trang nghiêm
    Cùng tuần tự thọ ký
    Thân tâm khắp mừng vui.

    GIẢNG:

    Năm trăm vị A-la-hán được thọ ký vui mừng hớn hở, ăn năn lỗi mình và tự trách: Mình cũng có khả năng thành Phật và cũng được Phật thọ ký, vậy mà từ lâu chứng quả A-la-hán tự cho là đủ, nay mới biết mình là kẻ vô trí, chỉ biết lấy trí nhỏ cho là đủ, nên các ngài mới dùng ví dụ hạt châu cột trong chéo áo của chàng say rượu. Tại sao các ngài dùng ví dụ này? Vì ở phẩm Hóa Thành Dụ, Phật có nói thuở Ngài còn tu hạnh Sa-di Bồ-tát đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa đồ đệ, nay Ngài thành Phật những đồ đệ này cũng có duyên theo Ngài là hàng hữu học vô học chứng A-la-hán ở trong hội này. Những vị này nghe Phật nhắc lại, liền nhớ mình đã được gieo trồng hạt giống Tri kiến Phật hồi xa xưa, nay lại quên, cứ theo phương tiện Phật dạy hiện thời tu theo hạnh Thanh văn. Nay Phật nhắc lại liền tin nhận, được an vui tự tại và được Phật thọ ký. Các ngài dùng hình ảnh anh chàng nghèo say rượu tới thăm người bạn thân, được bạn đãi cơm thịnh soạn và tặng cho một hạt châu cột trong chéo áo. Do uống rượu say nên quên không nhớ mình có hạt châu quí giá, cứ đi lang thang cầu thực một cách khổ sở. Sau bạn cũ bất thần gặp lại, thì ra anh bạn nghèo say nay vẫn còn nghèo, mới trách: Xưa tôi có cho anh một hạt châu cột trong chéo áo sao không lấy ra dùng? Từ đó anh bạn nghèo mới lấy hạt châu ra xài và trở thành người giàu có sang trọng. Người cho châu là dụ cho đức Phật, từ thuở xa xưa, Ngài đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa cho đồ đệ rồi. Kẻ nghèo say rượu chỉ cho hàng đệ tử đã được Phật nói kinh Pháp Hoa rồi mà quên đi. Bấy giờ được Phật nhắc lại mới nhớ, nhận ra Tri kiến Phật nơi mình và được Phật thọ ký sẽ thành Phật. Qua ví dụ này, chúng ta thấy tâm hạnh của hàng Thanh văn còn hạn cuộc chưa viên mãn, được chút ít cho là đủ. Chỗ mà hàng Thanh văn lấy làm sở chứng sở đắc đó không phải là bản hoài của Phật; Phật muốn ai tu rồi cũng thành Phật như Ngài, chớ không bằng lòng cho chúng ta an trú ở quả vị Thanh văn, Duyên giác.

    Vậy kinh Pháp Hoa dạy chúng ta phát tâm tu phải rộng lớn, là tự mình tu được giác ngộ thành Phật và giáo hóa cho người tu cũng được giác ngộ thành Phật như mình. Muốn được thế thì phải trải qua thời gian công phu tu tập lâu dài, công hạnh mới viên mãn.


  • 10. PHẨM 9 : THỌ HỌC VÔ HỌC NHÂN KÝ

    PHẨM 9

    THỌ HỌC VÔ HỌC NHÂN KÝ

    Thọ Học Vô Học Nhân Ký nghĩa là thọ ký cho hàng đệ tử hữu học và vô học. Hàng hữu học là người tu chứng từ quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm. Tôn giả A-nan và La-hầu-la bấy giờ còn ở trong vòng hữu học. Hàng vô học là những người tu dứt sạch lậu hoặc, chứng A-la-hán.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Bấy giờ ngài A-nan và ngài La-hầu-la nghĩ như vầy: “Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm.” Liền từ nơi chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có đức Như Lai là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, a-tu-la trong đời. A-nan thường làm vị Thị giả hộ trì tạng Pháp, La-hầu-la là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của chúng con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ.

    Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc hữu học cùng vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu đến trước Phật chấp tay, một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A-nan và La-hầu-la rồi đứng qua một phía.

    GIẢNG:

    Tôn giả A-nan và La-hầu-la là hai vị gần gũi với Phật nhất, lòng tha thiết muốn được thọ ký nên cùng đứng lên một lượt trình bày sở nguyện của mình. Tôn giả A-nan đặc biệt là hộ trì tạng Pháp, Tôn giả La-hầu-la là con của Phật, tất cả hội chúng ai cũng đều biết là chưa được thọ ký, nay mong được Phật thọ ký để mọi người được mãn nguyện. Thấy hai vị đứng dậy thưa thỉnh thì hàng đệ tử hữu học vô học đồng hưởng ứng cũng mong được Phật thọ ký.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Bấy giờ, đức Phật bảo A-nan:

    - Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng Pháp vậy sau chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ-tát v.v... làm cho thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu-ly. Kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, nếu có người ở trong nghìn muôn ức vô lượng a-tăng-kỳ kiếp, tính đếm số kể chẳng có thể biết được. Chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội chánh pháp.

    A-nan! Đức Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các đức Phật Như Lai ở muời phương đồng ngợi khen công đức của Ngài.

    Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    3.-

    Nay Ta nói trong Tăng
    A-nan người trì pháp
    Sẽ cúng dường các Phật
    Vậy sau thành Chánh giác
    Hiệu rằng: Sơn Hải Huệ
    Tự Tại Thông Vương Phật
    Cõi nước kia thanh tịnh
    Tên Thường Lập Thắng Phan
    Giáo hóa các Bồ-tát
    Số đông như hằng sa
    Phật có oai đức lớn
    Tiếng đồn khắp mười phương
    Vì bởi thương chúng sanh
    Nên sống lâu vô lượng
    Chánh pháp bội thọ mạng
    Tượng pháp lại bội chánh
    Vô số hàng chúng sanh.
    Đông như cát sông Hằng
    Ở trong pháp Phật đó
    Gieo nhân duyên Phật đạo.

    GIẢNG:

    Trước hết là Phật thọ ký cho Tôn giả A-nan cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng Pháp sau sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương, giáo hóa hai muơi ngàn muôn ức hằng hà sa chúng Bồ-tát cũng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tên nước là Thường Lập Thắng Phan, tức là thường dựng cây cờ thù thắng, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn tức là kiếp đó có tiếng nhiệm mầu khắp cả. Thọ mạng vô lượng ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Sở dĩ Ngài được thọ ký như thế là vì do công hạnh tu tập của Ngài chứa nhóm mà được vậy.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Bấy giờ, trong hội hàng Bồ-tát mới phát tâm tám nghìn người đều nghĩ thế nầy: “Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ-tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn được thọ ký như thế?”

    Lúc ấy, đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ-tát mà bảo rằng:

    - Các thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A-nan ở chỗ đức Phật Không Vương đồng thời phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A-nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà A-nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ-tát. Bổn nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy.

    Ngài A-nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng Pháp của vô lượng nghìn muôn ức các đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bổn nguyện.

    Khi đó Ngài A-nan nói kệ rằng:

    Thế Tôn rất ít có
    Khiến con nhớ quá khứ
    Vô lượng các Phật pháp
    Như chỗ nghe ngày nay
    Con nay không còn nghi
    An trụ trong Phật đạo
    Phương tiện làm Thị giả
    Hộ trì các Phật pháp.

    GIẢNG:

    Tôn giả A-nan được thọ ký rồi thì hàng Bồ-tát sơ phát tâm trong đại chúng khởi nghĩ: Tại sao mình tu hạnh Bồ-tát chưa được thọ ký mà Phật thọ ký cho hàng Thanh văn, như vậy là lý do gì? Nhân đó, Phật mới giải thích lý do: Hồi thời đức Phật Không Vương, Tôn giả A-nan cùng với Phật Thích-ca đồng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Song Tôn giả A-nan thì ưa học rộng, Phật Thích-ca thì tinh tấn tu hành nên nay Ngài đã thành Phật, Tôn giả A-nan thì còn hộ trì pháp Phật. Đó là nguyên nhân mà Phật thọ ký cho Tôn giả A-nan. Tôn giả A-nan phát tâm đồng thời với đức Phật, nhưng vì Ngài nghiêng về học vấn nên thông thì có thông mà ngộ thì chưa, nên phải hộ trì tạng Pháp Phật của sáu mươi hai ức đức Phật mới chứng thành Phật đạo. Thế nên, người tinh tấn tu hành và người ham học rộng biết nhiều, kết quả sai biệt như vậy. Tuy nhiên, không phải đặt nặng phần tu mà thiếu phần học, nếu tu mà không học thì tu mù tu sai, kết quả cũng không tới đâu, tự mình không lợi ích cũng không giáo hóa được người. Nếu lấy sự học hiểu làm trên, thì thời gian học hiểu chiếm hết không có thì giờ tu và giáo hóa thì công hạnh tự giác giác tha làm sao viên mãn thành Phật? Học tuy khó mà nhiều người ham, tu thấy dễ mà ít người kham nổi, cần phải nỗ lực cả hai mặt.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Bấy giờ, Phật bảo ông La-hầu-la:

    - Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu: Đạo Thất Bửu Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong mười thế giới. Thường vì các đức Phật mà làm trưởng tử cũng như hiện nay.

    Đức Phật Đạo Thất Bửu Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật nầy, qua sau đây rồi sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    Lúc ta làm Thái tử
    La-hầu làm trưởng tử
    Ta nay thành Phật đạo
    Thọ pháp làm Pháp tử
    Ở trong đời vị lai
    Gặp vô lượng ức Phật
    Làm trưởng tử cho kia
    Một lòng cầu Phật đạo.
    Hạnh kín của La-hầu
    Chỉ ta biết được thôi
    Hiện làm con cả ta
    Để chỉ các chúng sanh
    Vô lượng ức nghìn muôn
    Công đức không thể đếm
    An trụ trong Phật pháp
    Để cầu đạo Vô thượng.

    GIẢNG:

    Kế đến Phật thọ ký cho Tôn giả La-hầu-la cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần trong mười thế giới và cũng thường làm trưởng tử chư Phật, với tâm cầu Phật đạo tu mật hạnh sẽ thành Phật hiệu là Đạo Thất Bửu Hoa, cõi nước, thọ mạng, giáo hóa cũng như đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Bấy giờ, đức Thế Tôn thấy bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật. Phật bảo A-nan:

    - Ông thấy bậc hữu học vô học hai nghìn người đây chăng?

    - Vâng con đã thấy.

    - A-nan! Các người này sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì pháp tạng. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bửu Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn sống lâu một kiếp cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ-tát, chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau.

    Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    Hai nghìn Thanh văn đây
    Nay đứng ở trước ta
    Thảy đều thọ ký cho
    Đời sau sẽ thành Phật
    Cúng dường các đức Phật
    Như số trần nói trên
    Hộ trì tạng pháp Phật
    Sau sẽ thành Chánh giác
    Đều ở nơi mười phương
    Thảy đồng một danh hiệu
    Đồng thời ngồi đạo tràng
    Để chứng huệ Vô thượng
    Đều hiệu là Bửu Tướng
    Cõi nước cùng đệ tử
    Chánh pháp và tượng pháp
    Thảy đều không có khác.
    Đều dùng các thần thông
    Độ mười phương chúng sanh
    Tiếng đồn vang khắp cùng
    Lần nhập vào Niết-bàn.

    Lúc đó, bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng:

    Thế Tôn đèn huệ sáng
    Con nghe tiếng thọ ký
    Lòng vui mừng đầy đủ
    Như được rưới cam lồ.

    GIẢNG:

    Sau cùng, Phật thọ ký cho hàng hữu học và vô học cả thảy hai ngàn người, về sau cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần trong năm mươi thế giới cũng hộ trì pháp tạng. Rốt sau thành Phật đồng hiệu là Bửu Tướng, tuổi thọ, sự giáo hóa đồng giống nhau. Những vị này đều nhân Phật chỉ dạy nên bấy giờ gặp lại và được Phật thọ ký. Khi được thọ ký các ngài đồng phát tâm vui mừng thấy như được rưới cam lồ.

    Tới đây tôi lặp lại lần nữa, hàng thượng thượng căn như ngài Xá-lợi-phất chỉ nghe qua một lần (phẩm Phương Tiện) là ngộ. Hàng thượng căn như ngài Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... Phật nói thêm một ví dụ nữa (phẩm Thí Dụ) các ngài mới ngộ. Còn hàng trung căn thì Phật phải giảng dạy thêm (Hóa Thành Dụ) rồi mới ngộ. Đến hàng hạ căn thì chưa ngộ nên Phật phải mấy phen nói đi nói lại để cho ngộ.


  • 11. PHẨM 10: PHÁP SƯ

    PHẨM 10

    PHÁP SƯ

    Pháp Sư là thầy nói pháp, mà pháp được nói là kinh Diệu Pháp Liên Hoa tức là Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người. Nếu quên, không nhớ nơi mình có Tri kiến Phật thì đời đời kiếp kiếp không bao giờ thành Phật. Nếu nhớ nơi mình có Tri kiến Phật lấy đó làm nhân tu hành không nghi ngờ thì thời gian sau sẽ thành Phật. Vì Tri kiến Phật quan trọng như vậy, nếu người chỉ Tri kiến Phật cho chúng ta nhớ và tin để tu hành, thì công đức người đó vô lượng vô biên không tính kể. Vì vậy phẩm này trước tán thán kinh, kế đó tán thán người truyền bá kinh.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ-tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng:

    - Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư thiên, Long vương, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi nhân, và Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích-chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ, một câu, nhẫn đến một niệm tùy hỉ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Phật bảo Dược Vương:

    - Lại sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, một câu, một niệm tùy hỉ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho.

    Nếu lại có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường: hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chấp tay cung kính. Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian.

    Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật. Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển: hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, chấp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như Lai mà cúng dường đó. Phải biết người đó là Bồ-tát lớn thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sanh mà nguyện sanh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại là người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường.

    Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh, sau khi ta diệt độ vì thương chúng sanh mà sanh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người là sứ của Như Lai, đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói.

    Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng.

    Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chấp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ ngon, trỗi các thứ kỹ nhạc, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dưng cho đó.

    Vì sao? Người đó hoan hỉ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    2.-       

    Nếu muốn trụ Phật đạo
    Thành tựu trí tự nhiên
    Thường phải siêng cúng dường
    Người thọ trì Pháp Hoa.
    Có ai muốn mau được
    Nhứt thiết chủng trí huệ
    Nên thọ trì kinh này
    Và cúng dường người trì.
    Nếu người hay thọ trì
    Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
    Nên biết là sứ Phật
    Thương nhớ các chúng sanh
    Những người hay thọ trì
    Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
    Xa bỏ cõi thanh tịnh
    Thương chúng nên sanh đây.
    Phải biết người như thế
    Chỗ muốn sanh tự tại
    Ở nơi đời ác này
    Rộng nói pháp Vô thượng,
    Nên đem hoa, hương trời
    Và y phục, báu trời
    Đống báu tốt trên trời
    Cúng dường người nói pháp.
    Đời ác, sau ta diệt
    Người hay trì kinh này
    Phải chấp tay lễ kính
    Như cúng dường Thế Tôn,
    Đồ ngon ngọt bậc thượng
    Và các món y phục
    Cúng dường Phật tử đó
    Mong được giây lát nghe.
    Nếu người ở đời sau
    Hay thọ trì kinh này
    Ta khiến ở trong người
    Làm việc của Như Lai.
    Nếu ở trong một kiếp
    Thường ôm lòng chẳng lành
    Đỏ mặt mà mắng Phật
    Mắc vô lượng tội nặng.
    Có người đọc tụng trì
    Kinh Diệu Pháp Hoa này
    Giây lát dùng lời mắng
    Tội đây lại hơn kia.
    Có người cầu Phật đạo
    Mà ở trong một kiếp
    Chấp tay ở trước ta
    Dùng vô số kệ khen
    Do vì khen Phật vậy
    Được vô lượng công đức
    Khen ngợi người trì kinh
    Phước đây lại hơn kia.
    Trong tám mươi ức kiếp
    Dùng sắc thinh tối diệu
    Và cùng hương vị xúc
    Cúng dường người trì kinh
    Cúng dường như thế rồi
    Mà được chốc lát nghe
    Thời nên tự mừng vui
    Nay ta được lợi lớn.
    Dược Vương! Nay bảo ông
    Các kinh của ta nói
    Mà ở trong kinh đó
    Pháp Hoa tột thứ nhứt.

    GIẢNG:

    Phẩm Pháp Sư cho chúng ta thấy đức Phật vì hàng hạ căn như Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, thiên, long... hạng cầu Thanh văn, cầu Bích-chi Phật, cầu Phật, ở trước Phật nghe chừng một câu kinh, một bài kệ nhẫn đến phát tâm tùy hỉ, đều được Phật thọ ký thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì đã có giống Phật chắc chắn sẽ thành Phật. Như vậy là đại chúng ở đây ai cũng thấy mình có phần hết. Còn chúng ta hiện nay tuy có nghe kinh Pháp Hoa, nhưng không sanh đồng thời với Phật nên không được thọ ký, thấy như vô phần. Nhưng chúng ta đừng mặc cảm vì Phật có nói: “Lại, sau khi đức Như Lai diệt độ nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, một câu, một niệm tùy hỉ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho.” Đức Phật tuần tự thọ ký cho người có mặt và ngầm thọ ký cho người sau. Như vậy là pháp Phật nói ra trùm khắp các căn cơ của chúng sanh, hàng hạ căn cũng có phần trong đó.

    Phật nói ai mà nghe kinh Pháp Hoa, hoặc thọ trì, đọc tụng, biên chép, vì người giải nói cung kính cúng dường, người đó từ trước đã cúng dường mười muôn ức đức Phật và cũng đã thành tựu công đức Phật, hoặc vì chí nguyện lớn thương xót chúng sanh mà vào cõi này chớ không phải mới tu, các vị đó đang hành Bồ-tát hạnh. Như vậy là Phật vì căn cơ bậc thấp mà nâng lên, để cho chúng ta khỏi mặc cảm chỉ có các bậc chứng A-la-hán hàng hữu học vô học được thọ ký, còn chúng ta thì vô phần. Nếu đã có phần với kinh Pháp Hoa thì sau này thành Phật không nghi.

    Đến đây Phật lặp lại cho rõ ý Ngài đã nêu ở trên, là có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Ngài nói chỉ những người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa. Những người tu hạnh Bồ-tát vì lợi ích chúng sanh mà trở lại cõi này, những người cúng dường Phật hãy đến cúng dường những người đó. Phật nâng chúng ta lên tột đỉnh, ngang với đức Phật để cho chúng ta đừng tự ti mặc cảm mình là chúng sanh hèn hạ không có phần. Đó là lòng từ bi vô bờ bến của Phật. Ngài dạy cho hàng thượng căn khác, dạy cho hàng hạ căn khác, để cho hàng chúng sanh nào cũng có lòng tin rằng mình có Tri kiến Phật. Dù là một niệm hướng về Trí tuệ Phật mà tiến tu thì sớm muộn gì cũng thành Phật. Vì đã tin mình có Phật nhân nên tu hạnh Bồ-tát, tu hạnh Bồ-tát là vì chúng sanh mà giáo hóa cho viên mãn công hạnh thì thành Phật, người đó là sứ giả của Như Lai. Giả sử bây giờ có người hỏi những chúng sanh nào sẽ thành Phật, tôi chỉ quí vị đang ngồi nghe kinh Pháp Hoa có được không? - Được. Chỉ do công phu tu hành tinh tấn hay giải đãi mà thành Phật trước hay sau thôi. Thoạt nghe thấy như dễ nhưng kỳ thật không dễ, vì ở sau, Phật đưa ra những điều kiện mà vị Pháp sư phải có.

    Phật nói rằng: “Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng.” Tại sao thường chửi mắng Phật trong một kiếp mà tội nhẹ hơn là dùng một lời dữ chê mắng người phàm phu đọc tụng kinh Pháp Hoa? Có phải Phật thấp hơn kẻ phàm phu trì kinh Pháp Hoa chăng? Xưa, khi Phật thành đạo đi giáo hóa, nhiều tín đồ Bà-la-môn giáo theo Ngài. Các vị truyền đạo Bà-la-môn giận tức nên vây chửi Phật, Ngài thản nhiên không đáp lại, khiến họ càng tức thêm nên chặn Phật lại hỏi lý do, Ngài trả lời là Ngài không thọ nhận lời chửi mắng đó, nên Ngài thản nhiên bất động. Vì Ngài thản nhiên bất động, nên không có sân hận dấy khởi, làm gì có chướng ngại Phật? Đối với người phàm phu mới phát tâm tu, đạo lực còn yếu kém, nếu bị người ác mắng chửi, sân hận liền dấy khởi, thối tâm Bồ-đề. Phật nêu lên ví dụ này để nhấn mạnh kẻ làm cho người tu trở ngại, thối Bồ-đề tâm là tội nặng. Còn làm, mà người tu không chướng ngại không thối chuyển, ngay cả mắng chửi Phật, tội cũng nhẹ. Đối với đức Phật, đồng một việc ác, nếu việc ác đó gây tổn hại sự tu hành nhiều thì tội nặng, nếu không gây tổn hại cho sự tu hành thì tội nhẹ. Vì chửi mắng Phật mà Phật không thối tâm Bồ-đề, Phật không bị tổn thương nên Ngài nói tội nhẹ. Còn hàng phàm phu sơ cơ, nếu làm khó hoặc chửi mắng làm cho họ thối tâm Bồ-đề thì tội nặng. Tội nặng ở chỗ làm cho người tu không tiến, chớ không phải nặng ở chỗ người có công đức nhiều hay người có công đức ít. Để thấy lòng từ của Phật vô lượng vô biên, chỉ vì lợi ích cho chúng sanh, muốn cho mọi người tiến đến chỗ giác ngộ như Ngài, mà không ngần ngại tự hạ mình thấp đưa người lên, để tạo duyên tốt cho người tu tiến. Tới đây Phật nói quá dễ chỉ cần tùy hỉ hay đọc tụng năm, bảy câu cũng được Phật thọ ký. Đó là vì hạng người hạ căn, tâm hạ liệt nên Phật phải nói dễ để nâng đỡ cho họ tu, chớ không phải là pháp dễ.

    Thứ đến Phật còn hạ thấp Ngài xuống một bậc nữa, Ngài nói: “Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật, tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác.” Phật là bậc thầy của trời người, là bậc Toàn Giác tại sao lại cõng vác kẻ phàm phu mới phát tâm tu? Ví dụ người đời sanh ra một đứa con dáng dấp tính hạnh cũng như cách nói năng rất vừa ý họ. Đứa bé đó rất được họ thương cưng, chính vì thương cưng nên họ thường ẵm bồng, cõng trên lưng trên vai. Cũng vậy bản hoài của Phật ra đời là dạy cho người tu thành Phật, nên người mà trì tụng kinh Pháp Hoa tức tin mình có sẵn Tri kiến Phật và tu hành để được thành Phật, nên Phật hài lòng nâng đỡ cho tiến; ở đây diễn tả bằng cách cõng vác trên vai. Lại nữa Tri kiến Phật của Phật hay Tri kiến Phật của người không hai không khác. Vì không hai không khác nên Ngài hằng mang vác không rời.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Lúc bấy giờ, Phật lại bảo ngài Dược Vương đại Bồ-tát:

    - Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin, khó hiểu.

    Dược Vương! Kinh này là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ.

    Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người đó có sức tin lớn và sức chí nguyện, các sức căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được đức Như Lai lấy tay xoa đầu.

    GIẢNG:

    Trong các kinh Phật nói, như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên... thì kinh Pháp Hoa là bậc nhất, khó tin khó hiểu. Vì kinh Pháp Hoa chỉ thẳng Tri kiến Phật, là chỗ giác ngộ viên mãn mà Phật đã đạt được và biết mọi người ai cũng có sẵn, nên Phật chỉ cho để tu thành Phật như Ngài. Nhưng khi Phật chỉ thì người ta không tin không nhận được, vì mọi người quen nhìn ra ngoài không biết tự tri. Hơn thế nữa, Tri kiến Phật là cái không hình không tướng, không thể dùng mắt thịt hay suy tư mà biết được nên khi chỉ thì khó nhận khó tin.

    Đến đây Phật lại an ủi người sau, khi Phật còn tại thế nói kinh Pháp Hoa người nghe còn khó tin khó nhận, sanh lòng oán ghét, huống là sau khi Phật diệt độ. Vì kinh Pháp Hoa là tạng bí yếu của các đức Phật, chỉ có người khéo nghe khéo nhận mới tin được. Còn nghe mà không hiểu thì không tin, nếu không hiểu không tin thì xem thường, rồi sanh lòng phỉ báng.

    Phật lại nói, sau khi Phật diệt độ có người trì tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa thì sẽ được Phật lấy y trùm và người đó cùng Như Lai ở chung, được Như Lai lấy tay xoa đầu. Hiện tại có rất nhiều người trì tụng và giảng kinh Pháp Hoa, mà chúng ta chưa thấy Phật lấy y trùm và lấy tay xoa đầu, như vậy là Phật nói rỗng sao? Điều này chúng ta cần hiểu cho thấu đáo. Nếu chúng ta thọ trì kinh Pháp Hoa, tức là chúng ta tin nhận nơi mình có Tri kiến Phật, mà Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người không rời thân năm uẩn này, lúc nào cũng hiện hữu nơi mỗi chúng ta. Như vậy, không phải Phật đang trùm chúng ta, xoa đầu chúng ta, và ở chung với chúng ta sao? Quí vị nên nhớ, Như Lai đây không phải là Phật Thích-ca mà là Tri kiến Phật hay Pháp thân. Nếu hiểu Như Lai là Phật Thích-ca thì chúng ta sẽ ước vọng ra ngoài, tìm kiếm tướng lạ này tướng lạ nọ, trở thành mê tín. Lý kinh rất cao siêu rất thực tế, nếu hiểu lầm thì kinh điển trở thành huyễn hoặc, gây tác hại cho người tu học.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Dược Vương! Nơi nơi, chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này, đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá-lợi.

    Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa hương, chuỗi ngọc, lọng lụa, tràng phan, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng, ngợi khen. Nếu có người thấy được tháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia cùng xuất gia làm đạo Bồ-tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép, thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ-tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là hay khéo tu đạo Bồ-tát. Có chúng sanh nào cầu Phật đạo hoặc thấy, hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia soi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi lần thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần.

    Bồ-tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn xa.

    Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Bồ-tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thiệt. Tạng kinh Pháp Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ-tát mà chỉ bày cho.

    Dược Vương! Nếu có Bồ-tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ-tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hạng tăng thượng mạn.

    GIẢNG:

    Phật dạy, nơi chỗ đọc tụng biên chép kinh Pháp Hoa hoặc có kinh Pháp Hoa, nên xây tháp bảy báu cúng dường mà không cần để xá-lợi. Nghĩa là người mà tin hiểu Tri kiến Phật tức là tin Phật tánh sẵn có nơi chính mình, như vậy chỗ đó nên xây tháp mà thờ vì có sẵn Phật pháp thân không cần xá-lợi.

    Phật nói thêm, người hành đạo Bồ-tát mà chưa thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa, thì người đó chưa khéo tu đạo Bồ-tát, vì chưa tin nhận nơi mình có sẵn Tri kiến Phật. Còn người mà biết thọ trì, biên chép, cúng dường, giảng nói kinh Pháp Hoa thì sẽ gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tại sao được gần? Kinh Pháp Hoa là chỉ cho Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, người mà biết trở về với Phật tánh của chính mình là người đó gần với Phật rồi, nên nói gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Phật dùng ví dụ người đào giếng, đào từng lớp đất khô rồi dần dần tới lớp đất im im, lần tới lớp đất ướt. Khi tới lớp đất ướt là biết sắp tới nước. Cũng vậy, người nào đối với kinh Pháp Hoa đủ niềm tin, biết trở về với chính mình thì chắc chắn người đó sẽ thành Phật. Vì biết mình có sẵn Tri kiến Phật và biết trở về với Tri kiến Phật, thì cũng như người đi lạc đường mà tìm ra đường về, và bắt đầu đi về thì chắc chắn người đó sẽ tới nhà.

    Tới đây Phật nói ngược lại, nếu người nghe kinh Pháp Hoa không tin lại nghi sợ, nên biết đó là Bồ-tát mới phát tâm. Còn hàng Thanh văn nghe kinh này mà nghi sợ thì biết đó là tăng thượng mạn. Tại sao vậy? Vì Phật chỉ thẳng Tri kiến Phật, nếu tin nhận được tức là khởi tu Phật nhân, nhất định sẽ thành Phật quả. Mà Bồ-tát tu cốt là để thành Phật, bây giờ nghe kinh Pháp Hoa mà sợ thì biết người đó mới bắt đầu, nên chưa hiểu, chưa tin, lại sợ. Còn hàng Thanh văn tự cho mình chứng quả Tu-đà-hoàn... hay A-la-hán là đủ rồi. Bấy giờ nghe kinh Pháp Hoa thì không tin nên gọi là tăng thượng mạn, được ít cho là đủ.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, người thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này.

    Nhà Như Lai chính là tâm từ bi lớn đối với tất cả chúng sanh, y Như Lai chính là lòng nhu hòa, nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là Nhứt thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ-tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này.

    Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhân làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóa Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, ta liền sai nhiều trời, rồng, quỉ, thần, càn-thát-bà, a-tu-la v.v... nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác, nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong kinh nầy quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    6.-

    Muốn bỏ tánh biếng lười
    Nên phải nghe kinh này
    Kinh này khó được nghe
    Người tin nhận cũng khó.
    Như người khát cần nước
    Xoi đào nơi gò cao
    Vẫn thấy đất khô ráo
    Biết cách nước còn xa
    Lần thấy đất ướt bùn
    Quyết chắc biết gần nước.
    Dược Vương! Ông nên biết
    Các người như thế đó
    Chẳng nghe kinh Pháp Hoa
    Cách trí Phật rất xa,
    Nếu nghe kinh sâu này
    Quyết rõ pháp Thanh văn
    Đây là vua các kinh
    Nghe xong suy gẫm kỹ
    Phải biết rằng người đó
    Gần nơi trí huệ Phật.
    Nếu người nói kinh này
    Nên vào nhà Như Lai
    Mặc y của Như Lai
    Mà ngồi tòa Như Lai
    Ở trong chúng không sợ
    Rộng vì người giải nói,
    Từ bi lớn làm nhà
    Y nhu hòa nhẫn nhục
    Các pháp không làm tòa
    Ở đó vì người nói.
    Nếu lúc nói kinh này
    Có người lời ác mắng
    Dao gậy, ngói, đá đánh
    Nhớ Phật nên phải nhịn.
    Ta trong muôn ức cõi
    Hiện thân sạch bền chắc
    Trải vô lượng ức kiếp
    Vì chúng sanh nói pháp.
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu hay nói kinh này
    Ta sai hóa tứ chúng
    Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni
    Và nam, nữ thanh tịnh
    Cúng dường nơi Pháp sư
    Dẫn dắt các chúng sanh
    Nhóm đó khiến nghe pháp.
    Nếu người muốn làm hại
    Dao gậy cùng ngói đá
    Thời khiến người biến hóa
    Giữ gìn cho người đó.
    Nếu người nói Pháp Hoa
    Ở riêng nơi vắng vẻ
    Lặng lẽ không tiếng người
    Đọc tụng kinh điển này
    Bấy giờ ta vì hiện
    Thân thanh tịnh sáng suốt
    Nếu quên mất chương cú
    Vì nói khiến thông thuộc.
    Nếu người đủ đức này
    Hoặc vì bốn chúng nói
    Chỗ vắng đọc tụng kinh
    Đều được thấy thân ta
    Nếu người ở chỗ vắng
    Ta sai trời, Long vương
    Dạ-xoa, quỉ, thần thảy
    Vì làm chúng nghe pháp.
    Người đó ưa nói pháp
    Phân giải không trở ngại
    Nhờ các Phật hộ niệm
    Hay khiến đại chúng mừng
    Nếu ai gần Pháp sư
    Mau được đạo Bồ-tát
    Thuận theo thầy đó học
    Được thấy hằng sa Phật.

    GIẢNG:

    Đây, Phật đưa ra điều kiện người nói kinh Pháp Hoa phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai mới đủ tư cách của người nói kinh Pháp Hoa. Vì vào nhà Như Lai mới có tâm từ bi rộng lớn đối với tất cả chúng sanh, mặc y Như Lai mới có đủ nhu hòa nhẫn nhục đối với tất cả mọi khó khổ chướng ngại, ngồi tòa Như Lai mới có đủ trí tuệ rộng lớn thấy rõ tất cả pháp không có Tự thể cố định. Từ lâu chúng ta quen học hiểu trên sự tướng, hiểu thọ trì, đọc tụng bằng lời, diễn nói bằng ngôn ngữ, biên chép bằng tay, sẽ được Phật xoa đầu thọ ký thành Phật. Nhưng ở đây Phật dạy người nói kinh Pháp Hoa phải có đủ ba điều kiện vừa nêu. Nếu muốn giảng nói kinh Pháp Hoa thì trước phải biên chép, thọ trì, đọc tụng cho thể nhập, rồi sau mới vì người mà giảng dạy. Như vậy, thì người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa cũng phải vào nhà Như Lai, ngồi tòa Như Lai, mặc y Như Lai mới gần với Tri kiến Phật. Tại sao? Vì Tri kiến Phật là Tánh giác có sẵn nơi mỗi người mà bị vô minh vọng tưởng che khuất, muốn cho Tánh giác hiển lộ thì phải có trí tuệ thấy rõ Thật tướng tất cả pháp không có Tự thể cố định tùy duyên tạm có, huyễn hóa không thật, thấy rõ ràng không lầm lẫn, thì đối với mọi hoàn cảnh khó khổ, đói thiếu, vinh nhục... không cố chấp không chao động, và thấy chúng sanh đang mê mờ chạy theo giả tướng, tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử không có ngày dừng, nên khởi lòng từ bi tế độ.

    Thiền sư Duy Tín nói rằng: “Ba mươi năm trước, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau khi gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông. Bây giờ tôi thấy núi sông là núi sông.” Khi chưa học đạo còn phàm phu, trí tuệ chưa sáng thấy lầm các pháp là thật, nên thấy núi thật là núi, thấy sông thật là sông. Khi được thiện tri thức chỉ dạy biết tu, dùng trí tuệ quán chiếu thấy rõ các pháp không có Tự thể cố định, do duyên hợp tạm có không thật, thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông, nên không cố chấp không phiền não. Vì không cố chấp nên tâm không vọng động, Tâm thể nhất như, thấy các pháp đúng như bản vị của nó, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Như vậy, muốn vì người nói kinh Pháp Hoa là phải đủ ba điều kiện nêu trên, mới không hướng dẫn người tu sai lạc.

    Phật kết thúc rằng người có đủ ba điều kiện nêu trên, vì chúng sanh nói kinh Pháp Hoa thì Phật sẽ sai hóa nhân đến để nghe pháp, luôn luôn được Phật hộ niệm và người nói pháp đó là người thấy Phật. Tại sao được thấy Phật? Vì người nói được kinh Pháp Hoa là người có đủ từ bi nhẫn nhục trí tuệ, mà người đã có trí tuệ là người hằng sống với Trí tuệ Phật thì thấy Phật chớ gì.

    Qua phẩm này, chúng ta thấy Phật tán thán kinh Pháp Hoa là ít có, quí nhất trên đời, quí nhất trong các kinh, vì vậy mà Phật tán thán người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa. Kế đó, Phật tán thán người đem kinh này ra giảng nói cho mọi người nghe, nhắc cho mọi người nhớ và tin nơi mình có sẵn Tri kiến Phật là quí. Sau rốt, Phật nêu lên ba điều kiện mà một Pháp sư nói kinh Pháp Hoa phải có: tâm từ bi lớn, nhu hòa nhẫn nhục, và sống bằng Trí tuệ Bát-nhã.

    Như vậy, Phật tùy theo người hạ căn mà nói. Người nào có một niệm hướng về kinh Pháp Hoa đều có thể thành Phật. Ngài nói thật thấp rồi Ngài nâng lên cao. Người nói kinh Pháp Hoa phải có ba điều kiện nêu trên, chớ không phải dễ. Phật vừa an ủi kẻ hạ căn không mặc cảm để nỗ lực tu, vừa răn dè kẻ nghe nói dễ rồi lơ là khinh thường, hoặc hiểu theo sự rồi chấp tướng, cứ lo trì tụng lễ bái suông cho là đủ công đức sẽ thành Phật. Thành Phật thì ai cũng có khả năng thành, nhưng thành hay không còn tùy thuộc ở người có thực hiện ba điều kiện vừa nêu hay không.


  • 12. PHẨM 11: HIỆN BẢO THÁP

    PHẨM 11

    HIỆN BẢO THÁP

    Như tôi đã nói mục đích Phật nói kinh Pháp Hoa là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật. Phẩm Tựa nói tổng quát trọn bộ kinh. Từ phẩm Phương Tiện đến phẩm Pháp Sư là phần “khai” Phật tri kiến. Những phẩm này Phật dùng những phương tiện thực tế, cũng như các đệ tử Phật dùng những thí dụ cụ thể nói lên chỗ nhận hiểu của các ngài, để minh chứng rằng các ngài đã tin nhận nơi mình có sẵn Tri kiến Phật. Trước tiên là ngài Xá-lợi-phất, kế đến là bốn vị Đại Ca-diếp, Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên... sau nữa gồm năm trăm vị A-la-hán, và cuối cùng thì có những vị hữu học vô học như ngài A-nan, La-hầu-la... Phật tùy theo cơ duyên mà thọ ký cho, phần này là phần khai, tức là mở ra cái hướng để nhìn và đi vào.

    Phẩm Hiện Bảo Tháp là phần “thị” Phật tri kiến. “Thị” là chỉ cho người thấy (ngộ), “thị” và “ngộ” không rời nhau. Tri kiến Phật tướng trạng như thế nào mà có thể chỉ được? Tri kiến Phật là Tánh giác có sẵn nơi mỗi người, hằng sáng soi mà không hình không tướng, nên khó chỉ khó nhận. Giống như không khí tối cần thiết cho lẽ sống của sanh vật, nhưng không hình không tướng nên khó chỉ; khó chỉ không phải là không có. Vì vậy mà phải mượn những hình ảnh biểu trưng để chỉ cho chúng ta ngầm nhận ra Tri kiến Phật, nên phẩm Hiện Bảo Tháp, phẩm Đề-bà-đạt-đa... nêu lên những hình ảnh biểu trưng cho Tri kiến Phật có sẵn muôn thuở không mất ở nơi mỗi người, khi người tin nhận thì nó hiện tiền. Ở đây mang tính cách giải bày nêu ra phần khai, thị, ngộ, nhập, kỳ thật toàn bộ kinh đều chỉ cho mọi người nhận ra nơi thân năm uẩn này có sẵn Tri kiến Phật chớ không ở nơi nào khác.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do-tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do-tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau dồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu, chiên-đàn khắp cùng cả cõi nước.

    Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu: vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ thiên vương, trời Đao-lợi rưới hoa mạn-đà-la cúng dường tháp báu.

    Các trời khác và rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân, phi nhân v.v... nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan, lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen.

    Bấy giờ, trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng:

    - Hay thay! Hay thay! Đức Thích-ca Mâu-ni Thế Tôn! Có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm Diệu Pháp Liên Hoa. Đúng thế! Đúng thế! Đức Thích-ca Mâu-ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều là chân thật.

    GIẢNG:

    Tới đây Phật nêu lên hình ảnh một tháp bằng bảy báu, từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không, rồi từ trong tháp đó vang ra tiếng khen Phật Thích-ca nói kinh Pháp Hoa là đúng là chân thật. Tháp bảy báu là tượng trưng cho cái thân hình thành bằng thất đại: đất, nước, gió, lửa, không, thức, kiến. Khi “ngộ”, nhận ra Tri kiến Phật thì nó thanh tịnh trở thành thất bảo, nếu còn mê Tri kiến Phật, tâm uế trược thì nó là thất đại. Tại sao tháp bảy báu này nổi lên trụ ở giữa hư không mà không trụ ở mặt đất? Ở phẩm Pháp Sư, Phật có nói người giảng kinh Pháp Hoa phải có đủ ba điều kiện là từ bi, nhẫn nhục và trí tuệ rõ biết tất cả pháp Không. Trụ trong hư không là ngồi tòa Như Lai, với Trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả các pháp Tự tánh là Không. Thấy được như thế mới chuyển thất đại thành thất bảo. Ngay trong thất đại có sẵn Tri kiến Phật, đoạn sau biểu trưng bằng Phật Đa Bảo, nếu gặp duyên khai mở thì nó hiện ra rỡ ràng, nên nói ở trong tháp bảy báu vang ra tiếng khen Phật Thích-ca nói kinh Pháp Hoa đúng và chân thật. Kinh Pháp Hoa chính là Tri kiến Phật, chư Phật đời quá khứ cũng ngộ Tri kiến Phật, chư Phật đời hiện tại, đời vị lai cũng ngộ Tri kiến Phật không khác.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra, đều được pháp hỉ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay rồi đứng một bên.

    Lúc đó, có vị đại Bồ-tát tên Đại Nhạo Thuyết, biết lòng nghi của tất cả trời, người, a-tu-la v.v... trong thế gian mà bạch Phật rằng:

    - Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?

    Lúc đó, Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát:

    - Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước, cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông, có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo, đức Phật đó tu hành đạo Bồ-tát phát lời thệ nguyện lớn rằng: “Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: Hay thay!”

    Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng, trời, người, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn.”

    Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”

    Đại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Đa Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”

    GIẢNG:

    Từ trước những người đứng ra thưa hỏi là những vị Thanh văn, La-hán có trong lịch sử. Tới đây là phần “thị” Phật tri kiến dùng hình ảnh biểu trưng để chỉ, nên người đứng ra thưa hỏi cũng là vị Bồ-tát biểu trưng tên là Đại Nhạo Thuyết. Ngài đứng ra thưa hỏi nguyên do nào tháp nổi lên trụ giữa hư không và vang ra tiếng như vậy?

    Ngài được đức Phật giải thích rằng, trong tháp báu ấy có toàn thân Như Lai. Thời quá khứ xa xưa, về phương Đông có cõi nước tên là Bảo Tịnh, Phật hiệu Đa Bảo tu hạnh Bồ-tát, có lời thệ nguyện là sau khi Ngài diệt độ, nơi nào nói kinh Pháp Hoa thì tháp Ngài sẽ nổi lên ở trước để nghe kinh và chứng minh. Đây lại nêu lên hình ảnh tượng trưng nữa. Phật đã thành Phật mà còn nghe pháp là chuyện thừa, vì đã là bậc vô học rồi đâu còn cần nương pháp để học để tu. Tại sao Phật Đa Bảo đã niết-bàn rồi mà còn nguyện nghe pháp và chứng minh pháp hội đó? Rõ ràng là ý nghĩa biểu trưng! Đa Bảo là nhiều báu, Bảo Tịnh là của báu trong sạch, nước Phật và hiệu Phật đều là quí báu, những món quí báu đều chỉ cho Tri kiến Phật. Tri kiến Phật thanh tịnh, sáng suốt không bị thời gian không gian chi phối, rất tôn quí nên nói là báu. Ở đây Phật Đa Bảo là chỉ cho Tri kiến Phật, hay Phật pháp thân, mà Phật pháp thân thì thanh tịnh ở ngay nơi thân thất đại của mỗi người, nên tượng trưng bằng cõi nước Bảo Tịnh. Thí dụ con người chúng ta tâm đang bị phiền não chi phối, thường tạo những ác nghiệp nên thường lộ ra dáng vẻ tối tăm nặng nề, nếu tâm thường an vui sáng suốt, thường tạo nghiệp lành thì lộ ra dáng vẻ tươi sáng thanh tịnh. Vì vậy ở đây nói tâm thanh tịnh thì hiện ra thân cũng thanh tịnh, nên nói là báu.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Bấy giờ, ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát do sức thần của đức Như Lai mà bạch Phật rằng:

    - Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của đức Phật đó.

    Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát Ma-ha-tát:

    - Phật Đa Bảo đó có nguyện sâu nặng: “Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra.”

    Đại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại.

    Ngài Đại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng:

    - Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường.

    GIẢNG:

    Đến đây, chúng ta càng thêm sáng tỏ là, đức Phật Đa Bảo có nguyện rằng khi tháp Ngài hiện ra trong hội nghe kinh Pháp Hoa, đức Phật giảng kinh Pháp Hoa trong thời đó, muốn cho tứ chúng thấy được thân của Ngài thì, các Hóa thân của Phật đó đang phân đi giáo hóa ở khắp nơi phải tụ hội về một chỗ, ngồi yên lại, mở tháp ra mới thấy được thân của Ngài. Nếu mà phân thân Phật đi làm Phật sự chưa tụ hội về thì không thể mở tháp được, và cũng không thấy toàn thân của Phật Đa Bảo được. Lời nguyện này có ý nghĩa gì? Phật pháp thân tức là Phật Đa Bảo, Phật báo thân là chỉ cho thân Phật Thích-ca giáng sanh ở Ấn Độ, Phật hóa thân hay Ứng thân là những thân Phật phân ra đi nói pháp ở các cõi trong mười phương. Muốn thấy được Phật Đa Bảo thì các Hóa thân phải cùng qui hội về nhập Pháp thân là thấy rõ toàn thân Ngài. Đoạn sau sẽ nói rõ ý này.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặng mày, liền thấy năm trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa cõi nước ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ-tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ-tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sanh mà nói pháp. Phương Nam, Tây, Bắc, bốn phía trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế.

    Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ-tát rằng: “Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta-bà, chỗ của đức Thích-ca Mâu-ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai.”

    5.- Lúc bấy giờ, cõi Ta-bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu-ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng. Đốt hương báu lớn, hoa mạn-đà-la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác.

    Lúc đó, các đức Phật đều đem theo một vị Bồ-tát lớn để làm Thị giả qua cõi Ta-bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do-tuần, nhánh lá bông trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa sư tử cao năm do-tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau dồi đó.

    Khi ấy, các đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lựa đến khắp đầy cả cõi tam thiên đại thiên mà ở nơi thân của đức Thích-ca Mâu-ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết.

    Bấy giờ, đức Thích-ca Mâu-ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh cùng a-tu-la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác.

    Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu-ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do-tuần, nhánh lá bông trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do-tuần, dùng các thứ báu để trau dồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục-chân-lân-đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di v.v... thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.

    Đức Thích-ca Mâu-ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh và a-tu-la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu-ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do-tuần, nhánh, lá, bông, trái thứ tự tốt đẹp, dưới cây đều có tòa sư tử bằng báu cao năm do-tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau dồi đó.

    Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục-chân-lân-đà, núi Đại Mục-chân-lân-đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di v.v... thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất.

    Bấy giờ, ở phương Đông, các đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng hà sa cõi nước của đức Thích-ca Mâu-ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm ngồi ở tám phương. Bấy giờ, mỗi mỗi phương các đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na-do-tha cõi nước.

    GIẢNG:

    Đức Phật Thích-ca được đại chúng yêu cầu họp các Hóa thân Phật của Ngài về, để chúng chiêm ngưỡng và được thấy đức Phật Đa Bảo ở trong tháp. Bấy giờ Phật Thích-ca từ giữa chặng mày phóng ra một luồng hào quang sáng qua vô số cõi nước ở phương Đông, Nam, Tây, Bắc... Các Hóa thân Phật thấy hào quang liền biết Phật muốn mình qui hội về, tuần tự các ngài rủ nhau về. Khi vô số Hóa thân Phật đều qui hội về thì cõi Ta-bà này được dẹp hết các loài trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục, chỉ còn một cõi thanh tịnh, hiện ra các tòa báu để cho Hóa thân Phật an trụ. Khi Hóa thân Phật an trụ xong thì Phật mới mở cửa tháp cho đại chúng thấy Phật Đa Bảo. Chúng ta phải hiểu như thế nào về ba đức Phật này? Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ có nói về ba thân Phật như sau:

    Pháp thân khởi niệm; Pháp thân là Tự tánh pháp thân, khởi niệm là Hóa thân. Khi khởi niệm mà không dính không kẹt hai bên có không, tà chánh v.v... là Báo thân thanh tịnh. Thân tuy nói là ba nhưng cùng một Thể. Pháp thân là chỉ cho Tự tánh thanh tịnh của chính mình, Báo thân là chỉ cho tâm thanh tịnh lìa chấp hai bên, còn niệm tưởng dấy từ tâm gọi là Hóa thân. Như chúng ta mỗi ngày khởi vô số nghĩ tưởng hết chuyện xưa đến chuyện nay, hết chuyện thiện tới chuyện ác, hết chuyện bên Đông tới chuyện bên Tây... Đó là Hóa thân của chúng ta, vì chúng ta là phàm phu nên Hóa thân không đi giáo hóa chúng sanh, mà là đi phá phách chọc ghẹo chúng sanh, chớ không làm được điều gì hay. Ví dụ như đang tu, bỗng dưng khởi lên những niệm rất trần tục đó là phá phách chớ gì? Chư Phật đã giác ngộ thấy nơi nào chúng sanh có duyên liền khởi nguyện đến giáo hóa. Phật khởi niệm, khởi trong giác ngộ chớ không khởi trong mê mờ như chúng sanh. Do đó chúng sanh có vô số phiền não, Phật cũng có vô số Hóa thân để giáo hóa. Bây giờ muốn thấy được Pháp thân Phật thì Hóa thân phải qui về với Báo thân và phải ngồi yên, nghĩa là những Hóa thân tức là những vọng tưởng chạy Đông chạy Tây khắp cả mười phương phải dừng, phải định thì Pháp thân Phật mới hiển hiện, nếu còn vọng tưởng rối loạn thì Pháp thân Phật không hiển hiện. Chúng ta tu hành lúc nào cũng vậy, nếu muốn được giác ngộ thì phải định, tức là sạch hết mọi loạn tưởng rồi mới phát tuệ, tức là nhận ra Tri kiến Phật sẵn có nơi mình. Đây là những hình ảnh biểu trưng, chúng ta chớ kẹt trên danh tướng mà không thấu được lý kinh, rồi không ứng dụng tu hành được.

    Đến đây chúng ta thấy có cái gì mâu thuẫn: Tại sao cõi Ta-bà của Phật Thích-ca không thanh tịnh, nào là núi sông, gò nổng, sỏi cát... lộn xộn đủ thứ, còn các cõi phân thân Phật đến giáo hóa thì thanh tịnh trang nghiêm toàn là bảy báu? Như vậy phân thân do Phật hóa ra có giá trị hơn chính Báo thân Phật Thích-ca sao? Như trên đã nói Hóa thân là những vọng tưởng chạy khắp mười phương nghĩ về người, về trời, về thú, về địa ngục... đó là đang đi trong lục đạo. Tất cả những vọng tưởng đó đều bất tịnh. Khi mà dừng hết mọi vọng tưởng bất tịnh chạy Đông chạy Tây đó, thì tâm thanh tịnh an định, nên cõi nước cũng thanh tịnh, mà khi tâm thanh tịnh thì Phật hiện tiền. Nhưng muốn dừng hết mọi vọng tưởng không chạy Đông chạy Tây, hay nói theo trong kinh là gom hết Hóa thân Phật về một nơi thì trước tiên phải có trí tuệ không kẹt hai bên. Người đối với cảnh khởi niệm phân biệt hai bên, tốt xấu, hay dở, phải trái... rồi sanh ưa ghét, niệm khởi rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt diệt, vô số vọng niệm chạy khắp sáu đường không dừng nghỉ, nên phiền não trần lao cũng vô số. Đó là người thấy một bên không có trí tuệ. Nếu người có trí tuệ đối với các pháp thấy đúng như thật, do duyên hợp tạm có, không có tự thể cố định nên không chấp thế này là tốt thế kia là xấu, không khởi niệm ưa chán tìm cầu hay ghét bỏ, nên không bị phiền não chi phối, tâm được an định. Như vậy là người có trí không kẹt hai bên. Trí không kẹt hai bên ở đây tượng trưng bằng hình ảnh hào quang phát ra ở giữa chặng mày.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Lúc đó các đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị Thị giả qua thăm viếng đức Thích-ca Mâu-ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo Thị giả rằng:

    - Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ-xà-quật, chỗ của đức Thích-ca Mâu-ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này:  “Như Lai có được ít bịnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ-tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?” Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: “Đức Phật kia cùng muốn mở tháp báu này.”

    Các đức Phật sai người đến cũng như vậy.

    Bấy giờ, đức Thích-ca Mâu-ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đều ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chấp tay một lòng nhìn Phật.

    Khi ấy, đức Thích-ca Mâu-ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn.

    Tức thời, tất cả chúng trong hội đều thấy đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào Thiền định, lại nghe Phật đó nói:

    - Hay thay! Hay thay! Thích-ca Mâu-ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này.

    Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên đức Phật Đa Bảo và Phật Thích-ca Mâu-ni.

    Lúc đó, đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích-ca Mâu-ni Phật mà nói rằng: 

    - Thích-ca Mâu-ni Phật có thể đến ngồi trên tòa này.

    Tức thời đức Thích-ca Mâu-ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó.

    Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai đức Như Lai ngồi xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng: “Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.”

    Tức thời đức Thích-ca Mâu-ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng:

    - Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người.

    GIẢNG:

    Khi Hóa thân Phật cùng qui hội về, đều ngồi trên tòa sư tử sai Thị giả đem hoa báu đến núi Kỳ-xà-quật vấn an Phật Thích-ca, cùng với đại chúng và cúng dường cung thỉnh Phật Thích-ca mở tháp bảy báu để chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo.

    Sau khi Hóa thân Phật qui hội về ngồi yên rồi, Phật Thích-ca mới mở được cửa tháp cho đại chúng thấy toàn thân Phật Đa Bảo trong tháp, và Phật Đa Bảo mời Phật Thích-ca cùng ngồi nửa tòa với Ngài. Như vậy để thấy rằng Pháp thân là có sẵn muôn đời nếu dừng hết vọng tưởng điên đảo thì ngay nơi Báo thân này Pháp thân hiện tiền. Nếu còn vọng tưởng duyên theo ngoại cảnh thì Pháp thân ẩn khuất không hiển hiện.

    Khi đại chúng thấy hai đức Phật cùng ngồi tòa sư tử trong tháp bảy báu trên hư không, đều nghĩ rằng Phật ngồi trên hư không cao xa, mong đức Như Lai dùng sức thần thông khiến cho các ngài đều được ở trên hư không. Phật Thích-ca liền dùng thần thông tiếp đại chúng trên hư không. Tại sao có những hiện tượng như vậy? Như phẩm Pháp Sư đã nói, người nào muốn thấy được Tri kiến Phật là phải từ bi, nhẫn nhục và thấy tất cả pháp là Không. Vì vậy, đức Phật phương tiện giáo hóa để cho người dùng trí Bát-nhã tu, thấy tất cả pháp là Không, đó là thần thông, chớ không phải dùng thần lực đưa tất cả đại chúng từ mặt đất lên hư không để thấy Phật. Nếu Ngài biến hóa đại chúng được như vậy thì Ngài cũng biến hóa cho tất cả chúng sanh thành Phật, để họ khỏi tu, vì tu khó và lâu lắm mới được thành Phật. Đó là Ngài vận dụng phương tiện giáo hóa cho chúng sanh tỉnh giác, không còn lầm lẫn chấp các pháp là thật có. Thấy rõ các pháp duyên hợp giả có, Tự tánh là không, tâm không còn chấp, không còn chạy theo các pháp, tâm an định, Pháp thân hiển hiện. Vì vậy ở đây nói nâng đại chúng lên hư không để thấy Phật và được nghe Phật nói pháp. Và sau khi nâng đại chúng lên hư không rồi, nói rằng: “Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người.” Khi nâng đại chúng lên hư không thì ngang chừng đó là phải lúc, là xứng đáng nhận lãnh lời phó chúc, nên Ngài kết luận là Ngài sắp vào Niết-bàn, ai có thể nói kinh Pháp Hoa thì Ngài giao phó. Khi đại chúng còn ở dưới đất tức là còn chấp có, chấp không, thấy hai bên, Ngài không tuyên bố lời này. Khi nâng đại chúng lên hư không, tức là đại chúng đã có trí tuệ thấy rõ tất cả pháp đúng như thật, không còn kẹt hai bên, Phật mới tuyên bố như vậy.

    Qua những hình ảnh trên, nếu chúng ta căn cứ trên chữ nghĩa thì thấy khó hiểu khó tin, thấy như huyễn hoặc mê tín, rồi đâm ra phỉ báng kinh. Lý kinh thật cao siêu tuyệt diệu, nếu chúng ta không hiểu, vô tình biến thành cái tầm thường rồi phỉ báng, điều này không nên để xảy ra.

    CHÁNH VĂN:

    Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    7.-

    Đấng Thánh chúa Thế Tôn
    Dầu diệt độ đã lâu
    Ở trong tháp báu này
    Còn vì pháp mà đến
    Các ông lại thế nào
    Há chẳng siêng vì pháp?
    Phật Đa Bảo diệt độ
    Đã vô lượng số kiếp
    Nơi nơi đến nghe pháp
    Vì khó gặp được vậy.
    Phật kia bổn nguyện rằng:
    Sau khi ta diệt độ
    Nơi nơi tháp ta qua
    Thường vì nghe Pháp Hoa.
    Lại vô lượng các Phật
    Số nhiều như hằng sa
    Của ta phân thân ra
    Vì muốn đến nghe pháp
    Và cùng để ra mắt
    Phật diệt độ Đa Bảo
    Nên đều bỏ cõi đẹp
    Cùng với chúng đệ tử
    Trời, người, rồng, thần thảy
    Và các việc cúng dường
    Muốn pháp lâu ở đời
    Cho nên đến cõi này.
    Ta vì các Phật ngồi
    Dùng sức thần thông lớn
    Dời vô lượng trời, người
    Làm cho nước thanh tịnh.
    Các đức Phật mỗi mỗi
    Đều đến dưới cây báu
    Như hoa sen trang nghiêm
    Nơi ao báu trong sạch.
    Dưới mỗi cây báu đó
    Có tòa báu sư tử
    Phật xếp bằng ngồi trên
    Sáng suốt rất đẹp đẽ
    Như giữa đêm tối tăm
    Đốt đuốc lớn lửa sáng.
    Thân Phật thoảng hương thơm
    Bay khắp mười phương nước
    Chúng sanh được hương xông
    Vui mừng không kể xiết
    Thí như luồng gió lớn
    Thổi lay nhánh cây nhỏ
    Dùng các phương tiện đó
    Làm cho pháp ở lâu.

    GIẢNG:

    Phật khuyến khích đại chúng rằng Phật Đa Bảo đã niết-bàn lâu rồi, nay vì kinh Pháp Hoa mà hiện bảo tháp để nghe, bởi kinh Pháp Hoa khó gặp khó được, đại chúng nên phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa.

    CHÁNH VĂN:

    8.-

    Nói cùng hàng đại chúng
    Sau khi ta diệt độ
    Ai có thể hộ trì
    Đọc nói kinh pháp này
    Thời nay ở trước Phật
    Nên tự phát lời thệ.
    Coi Phật Đa Bảo kia
    Dầu đã diệt từ lâu
    Do bổn thệ nguyện rộng
    Mà còn rền tiếng lớn.
    Đức Đa Bảo Như Lai
    Và cùng với thân ta
    Nhóm họp các Hóa Phật
    Phải nên biết ý này.
    Các hàng Phật tử thảy
    Ai có thể hộ pháp
    Nay nên phát nguyện lớn
    Khiến pháp ở đời lâu.
    Có ai hay hộ được
    Kinh Diệu Pháp Hoa này
    Thời là đã cúng dường
    Thích-ca cùng Đa Bảo
    Đức Đa Bảo Phật đây
    Ở trong tháp báu lớn
    Thường dạo qua mười phương
    Vì để nghe kinh này.
    Cũng là để cúng dường
    Các Hóa Phật đến nhóm
    Trang nghiêm rất sáng đẹp
    Các thế giới vô lượng.
    Nếu người nói kinh này
    Thời là đã thấy ta
    Cùng Đa Bảo Như Lai
    Và các vị Hóa Phật.

    GIẢNG:

    Phật dạy tất cả những người đã phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa, sau đó là phải thệ nguyện. Tại sao phải thệ nguyện? Vì Phật Đa Bảo từ muôn kiếp tới giờ vẫn còn ở trong tháp không hư, không hoại, đó là nói lên ý nghĩa Pháp thân không hoại diệt vì nó vô tướng, bởi vô tướng nên thọ trì rất là khó. Phàm cái gì có hình tướng mắt thấy tay sờ mó được thì nắm bắt gìn giữ tương đối dễ. Tri kiến Phật tuy không tướng mà hằng hiện hữu, muốn chỉ và muốn nhận rất khó, nên đòi hỏi người tu phải bền chí nhẫn nại tâm không lui sụt, mới có thể tiến tới đích được. Tuy biết mình có sẵn Tri kiến Phật, song thời gian tu để nhận ra nó không hạn định. Trong kinh thường diễn tả rất lâu xa, nếu thệ nguyện không vững, khi khỏe vui thì tu, mệt buồn thì nghỉ, như vậy không tiến. Do đó Phật dạy người phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa phải có chí nguyện bền vững.

    CHÁNH VĂN:

    9.-

    Các thiện nam tử này
    Đều nên suy nghĩ kỹ
    Đây là việc rất khó
    Phải phát nguyện rộng lớn
    Bao nhiêu kinh điển khác
    Số nhiều như hằng sa
    Dầu nói hết kinh đó
    Cũng chưa đủ làm khó,
    Hoặc đem núi Diệu Cao
    Ném để ở phương khác
    Cách vô số cõi Phật
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Nếu người dùng ngón chân
    Động cõi nước Đại thiên
    Ném xa qua cõi khác
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Hoặc đứng trên Hữu đảnh
    Nói vô lượng kinh khác
    Vì để dạy bảo người
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Nếu sau lúc Phật diệt
    Người ở trong đời ác
    Có thể nói kinh này
    Đây thời rất là khó.
    Giả sử lại có người
    Dùng tay nắm hư không
    Để mà khắp dạo đi
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu người tự thơ trì([1])
    Hoặc bảo người thơ trì
    Đây thời là rất khó.
    Hoặc đem cả cõi đất
    Để trên móng ngón chân
    Bay lên đến Phạm thiên
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Sau khi Phật diệt độ
    Người ở trong đời ác
    Tạm đọc kinh pháp này
    Đây thời mới là khó.
    Giả sử gặp kiếp thiêu
    Gánh mang những cỏ khô
    Vào lửa không bị cháy
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu người trì kinh này
    Vì một người mà nói
    Đây thời mới là khó.
    Hoặc người trì tám muôn
    Bốn nghìn các tạng pháp
    Đủ mười hai bộ kinh
    Vì người mà diễn nói
    Khiến các người nghe pháp
    Đều được sáu thần thông
    Dầu được như thế đó
    Cũng chưa lấy làm khó,
    Sau khi ta diệt độ
    Nghe lãnh kinh điển này
    Hỏi nghĩa thú trong kinh
    Đây thời mới là khó.
    Hoặc có người nói pháp
    Làm cho nghìn muôn ức
    Đến vô lượng vô số
    Hằng hà sa chúng sanh
    Chứng được quả La-hán
    Đủ sáu phép thần thông
    Dầu có lợi ích đó
    Cũng chưa phải là khó,
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu người hay phụng trì
    Những kinh điển như đây
    Đây thời là rất khó.

    GIẢNG:

    Phật nói kinh Pháp Hoa rất khó thọ trì, khó đem ra giảng dạy. Ngài dùng những ví dụ để so sánh cái khó của kinh Pháp Hoa. Thứ nhất là dầu cho nói hết kinh điển của Phật nhiều như số cát sông Hằng cũng chưa đủ làm khó.

    Thứ hai là đem núi Diệu Cao ném ở phương khác, cách vô số cõi Phật cũng chưa phải là khó. Thứ ba là dùng ngón chân động cõi nước Đại thiên ném xa qua cõi khác cũng chưa phải là khó. Thứ tư là đứng trên cõi trời Sắc cứu kính nói vô lượng kinh để dạy bảo người cũng chưa phải là khó. Thứ năm là dùng bàn tay nắm hư không để dạo đi khắp cõi nước cũng chưa phải là khó. Thứ sáu là đem tất cả cõi đất để trên móng ngón chân bay lên đến Phạm thiên cũng chưa phải là khó. Thứ bảy là gặp kiếp thiêu mang những cỏ khô vào lửa không bị cháy cũng chưa phải là khó. Thứ tám là trì tám muôn bốn ngàn Tạng pháp đủ mười hai bộ kinh, giảng nói cho người nghe chứng Lục thông cũng chưa phải là khó. Thứ chín là nói pháp độ cho vô số chúng sanh chứng Lục thông La-hán cũng chưa phải là khó. Cái khó nhất là sau khi Phật diệt độ ở trong đời ác nói được kinh này mới thật là khó.

    Chín việc khó vừa nêu trên, đối với khả năng chúng ta đã không làm được, thế mà sánh với việc thọ trì giảng nói kinh Pháp Hoa trong đời ác trược càng khó hơn nữa. Như vậy là sao? Đời ác trược là thời mà tâm người đang điên đảo móng vọng tìm cầu, tranh giành, dua nịnh, người mạnh lấn hiếp người yếu, khen mình chê người, lừa dối lẫn nhau. Với tâm người mê mờ cuồng loạn như thế, mà giảng nói Tri kiến Phật thì họ có tin có nhận được không? Thật khó mà tin nhận được! Vì muốn nhận ra Tri kiến Phật là phải dừng tất cả mọi vọng niệm. Nếu vọng niệm còn chạy ngược chạy xuôi, dù cho thuyết giảng thế nào chăng nữa, người ta cũng không hiểu không tin nên nói là khó. Nên nhớ, kinh này là chỉ cho Tri kiến Phật, chớ không phải bộ kinh văn tự được ghi chép bằng giấy mực và đóng lại thành tập thành bộ. Thế nên muốn giảng giải chỉ cho người nhận ra Tri kiến Phật là phải có đủ từ bi, nhẫn nhục và trí tuệ mới hội đủ điều kiện để thuyết giảng, nên nói là khó. Ngày nay chúng ta thấy giảng kinh Pháp Hoa tuy dễ, nhưng nếu làm đúng thì chúng ta ít ai làm được. Như hôm nay tôi giảng kinh Pháp Hoa cũng chỉ là gượng gạo nói, chưa trọn vẹn ý nghĩa trên và có lẽ người nghe cũng còn dính kẹt đủ thứ trần lao, nên nghe thì nghe chớ chưa nhận ra Tri kiến Phật.

    CHÁNH VĂN:

    10.-

    Ta vì hộ Phật đạo
    Ở trong vô lượng cõi
    Từ thuở trước đến nay
    Rộng nói nhiều các kinh
    Mà ở trong kinh đó
    Kinh này là bậc nhứt
    Nếu có người trì được
    Thời là trì thân Phật.
    Các thiện nam tử này
    Sau khi ta diệt độ
    Ai có thể thọ trì
    Và đọc tụng kinh này
    Thời nay ở trước Phật
    Nên tự nói lời thệ
    Kinh pháp đây khó trì
    Nếu người tạm trì đó
    Thời ta rất vui mừng
    Các đức Phật cũng thế
    Người nào được như vậy
    Các đức Phật thường khen
    Đó là rất dõng mãnh
    Đó là rất tinh tấn
    Gọi là người trì giới
    Bậc tu hạnh đầu-đà
    Thời chắc sẽ mau được
    Quả Vô thượng Phật đạo.
    Có thể ở đời sau
    Đọc trì kinh pháp này
    Là chân thật Phật tử
    Trụ ở bậc thuần thiện.
    Sau khi Phật diệt độ
    Có thể hiểu nghĩa này
    Thời là mắt sáng suốt
    Của trời người trong đời.
    Ở trong đời kinh sợ
    Hay nói trong chốc lát
    Tất cả hàng trời người
    Đều nên cúng dường đó.

    GIẢNG:

    Vì muốn hộ trì Phật đạo thường còn mà Phật hằng nói kinh, và trong các kinh, Phật thường nói kinh Pháp Hoa là bậc nhất. Nên người nào thọ trì kinh này là hộ trì pháp Phật, thọ trì thân Phật được Phật hoan hỉ tán thán khen ngợi là người trì giới tinh tấn, dõng mãnh tu hạnh đầu-đà, chắc chắn sẽ mau được Vô thượng Phật đạo, sẽ là con mắt sáng cho thế gian, xứng đáng cho trời người cúng dường.



    ([1]) Thơ trì: biên chép và thọ trì

  • 13. PHẨM 12 : ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA

    PHẨM 12

    ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA

    Căn cứ kinh A-hàm thì đương thời với Phật, Đề-bà-đạt-đa là người có tham vọng thay Phật thống lãnh Tăng đoàn, từng làm cho thân Phật ra máu, phá hoại Phật nhiều cách, làm chướng ngại sự tu tiến của Phật chẳng những một đời mà nhiều đời ở quá khứ. Với con mắt phàm phu và Nhị thừa thì thấy Đề-bà-đạt-đa là người tội lỗi, phạm tội ngũ nghịch phải đọa địa ngục. Nhưng ở đây dưới mắt Phật thì Đề-bà-đạt-đa là thiện hữu tri thức của Phật, nhờ Đề-bà-đạt-đa Ngài mới được viên mãn công hạnh Bồ-tát để thành Phật. Như vậy nhãn quan của kinh A-hàm và kinh Đại thừa về Đề-bà-đạt-đa rất dị biệt, phần sau sẽ giải thích.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các vị Bồ-tát và hàng trời, người, bốn chúng:

    - Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị Quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ-đề, lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ Sáu pháp ba-la-mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước, thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng.

    Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, Vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho Thái tử. Đánh trống rao lệnh cầu pháp khắp bốn phương: “Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thời ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ.”

    Khi ấy có vị Tiên nhân đến thưa cùng Vua rằng: “Ta có pháp Đại thừa tên là kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nếu Đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì Đại vương mà tuyên nói.”

    Vua nghe lời vị Tiên nhân nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị Tiên nhân để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị Tiên nhân trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho Tiên nhân không thiếu thốn.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    2.-

    Ta nhớ kiếp quá khứ
    Vì cầu pháp Đại thừa
    Dầu làm vị Quốc vương
    Chẳng ham vui ngũ dục.
    Đánh chuông rao bốn phương
    Ai có pháp Đại thừa
    Nếu vì ta giải nói
    Thân sẽ làm tôi tớ.
    Giờ có tiên Trường thọ
    Đến thưa cùng Đại vương
    Ta có pháp nhiệm mầu
    Trong đời ít có được
    Nếu có thể tu hành
    Ta sẽ vì ông nói.
    Khi Vua nghe Tiên nói
    Sanh lòng rất vui đẹp
    Liền đi theo Tiên nhân
    Cung cấp đồ cần dùng
    Lượm củi và rau trái
    Theo thời cung kính dâng
    Lòng ham pháp Đại thừa
    Thân tâm không lười mỏi,
    Khắp vì các chúng sanh
    Siêng cầu pháp mầu lớn
    Cũng không vì thân mình
    Cùng với vui ngũ dục
    Nên dầu làm Vua lớn
    Siêng năng được pháp này
    Do đó được thành Phật
    Nay vẫn vì ông nói.

    GIẢNG:

    Phẩm này cũng có vẻ huyền bí như phẩm Hiện Bảo Tháp, nếu không khéo nghe có thể hiểu lầm. Trước hết Phật kể lại thuở vô lượng kiếp về trước, Ngài từng làm Quốc vương cầu đạo Vô thượng Bồ-đề, muốn viên mãn hạnh Lục độ, thực hành pháp Bố thí rốt ráo không tiếc thân mạng, Vua truyền ngôi cho Thái tử, đi khắp nơi để cầu pháp. Lúc bấy giờ có vị Tiên nhân tự giới thiệu với Vua là ông có pháp Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, nếu Vua không trái ý ông thì ông sẽ vì Vua mà nói. Vua nghe rất vui mừng bèn theo vị Tiên ấy trải qua một ngàn năm, xả thân, phụng thờ, hầu hạ, cung cấp mọi nhu cầu không thiếu sót. Ở đây Quốc vương vì muốn viên mãn hạnh Lục độ để thành Phật, nên Ngài thực hành pháp Bố thí, buông xả tất cả những sở hữu như danh vọng, quyền hành, vợ con... cho tới thân mạng cũng không lẫn tiếc, tức là không còn chấp thân tâm là thật, không còn chấp ngoại cảnh là thật. Do buông xả tất cả ngã pháp, nên mới thể nhập Tri kiến Phật. Xưa Thiền sư Qui Tông đệ tử của ngài Mã Tổ, là người buông xả tất cả nên được Thiền sư Hoàng Bá khen: “Trong đây chỉ có Qui Tông là người tiêu chảy đầy đất.” Tổ nói nghe có vẻ tiếu ngạo, nhưng kỳ thật đó là lời tán thán hạnh buông xả của ngài Qui Tông. Tu mà không buông xả, còn một niệm chấp thủ thì không bao giờ thấy đạo.

    Vì vậy vừa có một niệm dấy khởi, dù là niệm thiện hay niệm bất thiện đều phải buông, đó là xả. Buông sạch không còn một niệm, tâm thanh tịnh đó mới thật là xả.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Phật bảo các Tỳ-kheo rằng:

    - Thuở ấy, Vua đó thời chính thân ta, còn Tiên nhân đó nay chính là ông Đề-bà-đạt-đa. Do nhờ ông thiện tri thức Đề-bà-đạt-đa làm cho ta đầy đủ Sáu pháp ba-la-mật, từ bi hỉ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc Đẳng chánh giác rộng độ chúng sanh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề-bà-đạt-đa cả.

    GIẢNG:

    Phật nói vị Tiên nhân thuở xưa, nay chính là Đề-bà-đạt-đa, vị Quốc vương cầu đạo, nay chính là Ngài. Nhờ thiện tri thức Đề-bà-đạt-đa mà Phật thực hành viên mãn Sáu pháp ba-la-mật, từ bi hỉ xả... được đầy đủ công đức trí tuệ và thành Phật. Chỗ này chúng ta phải hiểu cho thấu đáo, nếu không, thì sẽ hoang mang nghi ngờ.

    Trong kinh A-hàm Phật có tuyên bố rằng Đề-bà-đạt-đa sau khi chết sẽ đọa địa ngục không thể cứu. Tôn giả A-nan là em ruột của Đề-bà-đạt-đa nghe Phật nói vậy lo sợ thương khóc, đến thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn do thiên nhãn mà Phật nói như vậy, hay Ngài dùng trí suy luận quán xét về nhân duyên mà nói như vậy?” Phật trả lời rằng: “Ta dùng trí xét thì thấy Đề-bà-đạt-đa không có một hành vi thiện nên ta nói như thế.” Nhìn theo lý nhân quả thì Đề-bà-đạt-đa tạo quá nhiều nghiệp ác, mà tội nặng nhất là phá hòa hợp Tăng và làm thân Phật ra máu, đó là hai tội trong năm tội ngũ nghịch. Chỉ tạo một trong năm tội ngũ nghịch là phải đọa địa ngục rồi huống là hai tội. Đó là cái nhìn tương đối theo kinh A-hàm dạy bỏ ác làm thiện, mà Đề-bà-đạt-đa đã làm nhiều điều ác, nên Phật nói đọa địa ngục để hướng dẫn chư Tỳ-kheo tu, bỏ pháp ác thực hành pháp thiện.

    Còn kinh Pháp Hoa thì chỉ thẳng Tri kiến Phật. Tri kiến Phật thì không bị giới hạn bởi không gian thời gian, không kẹt trong pháp tương đối hai bên. Giáo lý cứu kính không cho phép chúng ta nhìn hai bên thiện ác mà phải thấy vượt trên cả thiện ác. Khi đã nhận ra nơi mình có cái chân thật là Phật tánh thì ở trong mọi hoàn cảnh bất như ý phải khắc phục để vượt qua, như thế công hạnh Bồ-tát mới viên mãn, thành Phật. Ví dụ thầy A phát tâm tu hạnh bố thí, đem rất nhiều của cải tiền bạc xây chùa, cúng Tăng, giúp đỡ người đau bệnh tật nguyền nghèo khó... Tuy nhiên, thầy cũng còn để lại một vài vật quí mà thầy ưa thích. Một hôm có người đến xin vật quí đó, nếu thầy A thấy người xin là kẻ xấu lợi dụng lòng tốt của mình nên không cho, như vậy hạnh bố thí của thầy chưa tròn. Tuy thầy A quí các vật đó không đem ra bố thí, nhưng có người xin, thầy vui vẻ cho và thấy người dám xin là người tốt, muốn giúp cho thầy buông xả rốt ráo, sớm thành tựu hạnh bố thí.

    Hạnh nhẫn nhục và những hạnh khác cũng vậy. Nếu người phát tâm tu hạnh nhẫn nhục mà không có sự thử thách thì hạnh nhẫn nhục không viên mãn. Ví dụ thầy B là người giữ giới rất nghiêm minh, sống rất thành thật hài hòa trên kính dưới nhường, nên rất được thầy bạn thương quí. Thầy phát tâm tu hạnh nhẫn nhục. Một hôm bất thần có người mắng thầy thậm tệ, cho thầy là kẻ phạm trai, phá giới, phản thầy, lừa bạn, không xứng đáng là người tu. Nếu thầy tức giận phân bua cải chính thì thầy thực hành hạnh nhẫn nhục chưa tròn. Nếu thầy bình thản chấp tay Mô Phật, thấy người đó đã vì sự tu tiến của thầy mà phải chấp nhận nghiệp ác khẩu, họ đã hi sinh quá nhiều, không phải Bồ-tát nghịch hạnh là gì? Thầy không giận mà còn nhớ ơn và kính trọng. Như vậy thì không có niệm oán thù thân sơ để đi tới từ bi bình đẳng, có như thế công hạnh nhẫn nhục của thầy mới viên mãn.

    Bồ-tát có khi hiện thuận hạnh, an ủi vỗ về trong khi chúng ta nguy khốn hay thối tâm Bồ-đề; có khi hiện nghịch hạnh để thử thách, khiến người đang kẹt trong cảnh xuôi thuận được thức tỉnh để tiến. Cả hai thuận hạnh hay nghịch hạnh đều là Bồ-tát giúp cho người tu được viên mãn công hạnh tu hành. Nếu thấy người an ủi vỗ về giúp đỡ là người ơn, người thử thách rầy mắng là kẻ phá hại, còn thấy người ơn và kẻ hại là còn thấy hai. Còn thấy hai thì không thể nào nhận ra Tri kiến Phật mà kinh Pháp Hoa đã dạy. Vì vậy nên ở đây Phật nói Đề-bà-đạt-đa là thiện hữu tri thức của Ngài, không phải đời này mà là nhiều kiếp về trước. Nhờ thiện hữu tri thức Đề-bà-đạt-đa mà Phật viên mãn công hạnh Bồ-tát, được thành Phật.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Phật bảo hàng tứ chúng:

    - Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề-bà-đạt-đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên Đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sanh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sanh được quả A-la-hán, vô lượng chúng sanh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sanh phát tâm Vô thượng đạo, được Vô sanh nhẫn đến bậc Bất thối chuyển.

    Sau khi đức Thiên Vương Phật nhập Niết-bàn, chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá-lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do-tuần, ngang dọc bốn mươi do-tuần. Các hàng trời, nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc ca tụng để lễ cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sanh được quả A-la-hán, vô lượng chúng sanh ngộ Bích-chi Phật, bất khả tư nghì chúng sanh phát tâm Bồ-đề đến bậc bất thối chuyển.

    Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

    - Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Đề-bà-đạt-đa, sanh lòng trong sạch kính tin chẳng sanh nghi lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, được sanh ở trước các đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sanh ra thường được nghe kinh này. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thời hưởng sự vui rất thắng diệu, nếu sanh ở trước Phật thời từ hoa sen hóa sanh.

    GIẢNG:

    Tới đây Phật thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa sau thành Phật hiệu là Thiên Vương, cõi nước cũng trang nghiêm đẹp đẽ, đồ đệ cũng đông đảo. Phật lại kết thúc rằng: Nếu đời sau, ai nghe phẩm Đề-bà-đạt-đa mà kính tin không nghi thì không đọa ba đường ác, sanh vào cõi lành, từ hoa sen sanh. Tại sao chỉ tin mà phước lớn như vậy? Vì Tri kiến Phật không phải chỉ có nơi người thiện mà người ác cũng có. Từ trước những người thiện biết hướng về Phật pháp, biết trì kinh Pháp Hoa đều đã được Phật thọ ký thành Phật. Đến đây, người làm điều ác phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật ra máu như Đề-bà-đạt-đa cũng được Phật thọ ký thành Phật. Như vậy để thấy rằng người thiện hay ác đều có Tri kiến Phật, nếu biết thức tỉnh tu hành thì sẽ thành Phật. Kế đó là đối với tất cả chướng duyên, người tu khắc phục được, tâm không phiền não luôn luôn thanh tịnh thì có một sức mạnh phi thường, tiến vững trên đường đạo, không yếu hèn rơi trong đường ác.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Bấy giờ ở Hạ phương vị Bồ-tát theo hầu đức Đa Bảo Như Lai tên là Trí Tích bạch với đức Đa Bảo Phật nên trở về bổn quốc, đức Thích-ca Mâu-ni Phật bảo Trí Tích rằng:

    - Thiện nam tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ-tát tên Văn-thù-sư-lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ.

    Lúc đó, ngài Văn-thù-sư-lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ-tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta-kiệt-la trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, đầu mặt kính lạy chân hai đức Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía.

    Ngài Trí Tích Bồ-tát hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng:

    - Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh số được bao nhiêu?

    Ngài Văn-thù-sư-lợi nói:

    - Số đó vô lượng không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết.

    Ngài Văn-thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ-tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ-tát này đều là của ngài Văn-thù-sư-lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ-tát đều chung luận nói Sáu pháp ba-la-mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành “nghĩa không” của Đại thừa.

    Ngài Văn-thù-sư-lợi nói với ngài Trí Tích rằng:

    - Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế.

    Lúc ấy, ngài Trí Tích Bồ-tát nói kệ khen rằng:

    Đại Trí đức mạnh mẽ
    Hóa độ vô lượng chúng
    Nay trong hội lớn này
    Và tôi đều đã thấy
    Diễn nói nghĩa thiệt tướng
    Mở bày pháp Nhứt thừa
    Rộng độ các chúng sanh
    Khiến mau thành Bồ-đề.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Thị giả của Phật Đa Bảo ở phương dưới tên là Trí Tích. Tích là dấu vết, là chứa nhóm, Trí Tích là trí hiểu biết do huân tập, nên còn kẹt còn vướng mắc. Trí này còn phân biệt còn vướng mắc, thuộc về Hữu sư trí, nên không thể tin nhận Tri kiến Phật. Vì vậy mà ở đây biểu trưng bằng hình ảnh Bồ-tát Trí Tích ở Hạ phương đòi trở về bản quốc. Bồ-tát Văn-thù tiêu biểu cho Căn bản trí. Căn bản trí hằng dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái chấp trước, luôn thanh tịnh, có khả năng tin nhận Tri kiến Phật, nên biểu trưng bằng hình ảnh Bồ-tát Văn-thù ngồi hoa sen lớn từ biển lớn vọt lên hư không, đến núi Linh Thứu đảnh lễ Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, Bồ-tát Trí Tích và Bồ-tát Văn-thù cùng thăm hỏi nhau. Hai vị Bồ-tát gặp nhau để làm gì? Vì Bồ-tát Trí Tích thuộc về Hữu sư trí, do huân tu, tùy duyên ứng hiện giáo hóa chúng sanh mà được. Còn Bồ-tát Văn-thù là Căn bản trí có sẵn nơi mỗi người hằng thanh tịnh sáng suốt. Hai trí này hợp nhau mới viên mãn đạo Bồ-đề thành Phật, nên nói Bồ-tát Trí Tích và Bồ-tát Văn-thù cùng ra mắt luận nói pháp mầu. Lại nữa, Căn bản trí là trí biết đầy đủ, biết được Tri kiến Phật sẵn có nơi mọi chúng sanh. Vô số chúng sanh ở cõi Ta-bà này ai cũng có Tri kiến Phật, nên nói Bồ-tát Văn-thù giáo hóa vô lượng vô số chúng sanh không thể tính kể.

    CHÁNH VĂN:

    6.- Ngài Văn-thù-sư-lợi nói:

    - Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

    Ngài Trí Tích hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng: 

    - Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?

    Ngài Văn-thù-sư-lợi nói:

    - Có con gái của vua rồng Ta-kiệt-la mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào Thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát-na phát tâm Bồ-đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ-đề.

    Trí Tích Bồ-tát nói rằng:

    - Tôi thấy đức Thích-ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ-đề chưa từng có lúc thôi dứt, ta xem trong cõi tam thiên đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải, mà không phải là chỗ của Bồ-tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ-đề. Chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc Chánh giác.

    Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước, đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:

    Thấu rõ tướng tội phước
    Khắp soi cả mười phương
    Pháp thân tịnh vi diệu
    Đủ ba mươi hai tướng
    Dùng tám mươi món tốt
    Để trang nghiêm Pháp thân
    Trời, người đều kính ngưỡng
    Long thần thảy cung kính
    Tất cả loài chúng sanh
    Không ai chẳng tôn phụng
    Lại nghe thành Bồ-đề
    Chỉ Phật nên chứng biết
    Tôi nói pháp Đại thừa
    Độ thoát khổ chúng sanh.

    GIẢNG:

    Ở đây không những nam tử được Bồ-tát Văn-thù giáo hóa cho thành Phật, mà hàng nữ nhi như Long nữ cũng được độ thành Phật. Long nữ chẳng những mang thân nữ lại còn là loài rồng mới có tám tuổi, mà nói thành Phật thì Bồ-tát Trí Tích không tin. Tại sao? Vì Trí Tích là trí do huân tập. Bởi do huân tập được, nên chỉ biết tu mà được thành Phật. Thành Phật là phải trải qua vô lượng kiếp hành Bồ-tát đạo, như lời Phật Thích-ca kể lại tiền thân của Ngài. Bây giờ nói Long nữ, vừa là nữ, vừa là thú, vừa là nhỏ mà thành Phật, thì làm sao tin được? Nên với Bồ-tát Trí Tích, Ngài không thể tin. Còn Bồ-tát Văn-thù là Căn bản trí, biết rõ tất cả chúng sanh đều có sẵn Tri kiến Phật, nếu căn tánh lanh lợi khi được khai thị, tin nhận và hằng sống với Tri kiến Phật là thành Phật, bất luận là nam hay nữ, lớn hay nhỏ, người hay thú.

    CHÁNH VĂN:

    7.- Bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất nói với Long nữ rằng:

    - Người nói không bao lâu chứng được đạo Vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển Luân Thánh vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?

    Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dưng lên đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ-tát cùng Tôn giả Xá-lợi-phất rằng:

    - Tôi hiến châu báu, đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?

    Đáp:

    - Rất mau.

    Long nữ nói:

    - Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.

    Đương lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ-tát, liền qua cõi Vô cấu ở phương Nam ngồi tòa sen báu thành bậc Đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.

    Khi ấy, trong cõi Ta-bà hàng Bồ-tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhân cùng phi nhân đều xa thấy Long nữ thành Phật khắp vì hàng nhân thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô cấu sáu điệu vang động, cõi Ta-bà ba nghìn chúng sanh trụ bậc Bất thối, ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ-đề mà được lãnh lời thọ ký.

    Trí Tích Bồ-tát và ngài Xá-lợi-phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.

    GIẢNG:

    Không riêng gì Bồ-tát Trí Tích không tin Long nữ sẽ thành Phật mà cả Tôn giả Xá-lợi-phất cũng không tin. Ngài nêu lên năm điều mà nữ giới không thể làm được, là Phạm thiên vương, Đế Thích, Ma vương, Chuyển Luân Thánh vương, Phật. Thông thường những người tu hành có liên hệ tình cảm với phái nữ, nửa chừng cởi áo tu ra đời thì bấy giờ người nữ ấy bị coi như ma nữ, phá hại người tu hành. Ở đây nói nữ giới không thể làm Phạm thiên, Đế Thích, Chuyển Luân Thánh vương, cho đến Ma vương cũng không làm được. Tại sao chê phái nữ quá vậy? Như trước đã nói, tuy Tôn giả Xá-lợi-phất đã được thọ ký, nhưng Ngài còn quen cái nhìn theo nghiệp tướng, thấy người nữ nghiệp nặng hơn người nam, nên không thể làm Phạm thiên, Đế Thích... Vì nhìn trên nghiệp tướng nên thấy người nữ khó tu hơn người nam.

    Long nữ dâng hạt châu lên Phật để cúng dường, có nghĩa là trình sự tin nhận Tri kiến Phật. Giống như trình sở ngộ để Phật Tổ ấn chứng cho chỗ tin, thấy của mình là không sai. Việc thành Phật của Long nữ nhanh hơn việc dâng châu lên Phật.

    Bấy giờ trong chúng hội đều thấy Long nữ thoạt biến thành nam tử đầy đủ công hạnh Bồ-tát, liền qua cõi Vô cấu thành Phật thuyết pháp. Ngài Trí Tích thuộc hàng Bồ-tát, Tôn giả Xá-lợi-phất thuộc hàng Thanh văn, cả hai đều là bậc trí tuệ. Nhưng trí tuệ của hai Ngài do huân tập, còn hạn cuộc trong vòng tương đối nên còn thấy theo nghiệp tướng, vì vậy mà không thể tin Long nữ thành Phật. Căn cứ trên nghiệp tướng thì thân nam nữ có sai biệt, nhưng Tri kiến Phật sẵn có nơi mỗi người thì không khác. Hơn nữa Tri kiến Phật không có nam nữ đối đãi, vì không có nam nữ đối đãi nên ai nhận ra Tri kiến Phật thì thành Phật, bất luận nam hay nữ, không nhận được thì không thành Phật.

    Phẩm này nêu lên hai đặc điểm:

    - Thứ nhất là bình đẳng giữa thiện và ác, kẻ ác người thiện ai cũng có Tri kiến Phật như nhau. Dù ác dù thiện một phen nhận ra Tri kiến Phật của chính mình thì thành Phật. Chẳng hạn đồ tể Quảng Ngạch ngộ được lý đạo liền nói: “Hôm qua tâm dạ-xoa, ngày nay mặt Bồ-tát, dạ-xoa và Bồ-tát, chỉ cách một đường tơ.” Ở đây Phật thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa thành Phật là để nói kẻ ác phạm tội ngũ nghịch như Đề-bà-đạt-đa vẫn có Tri kiến Phật, nếu thức tỉnh tu hành thì cũng thành Phật.

    - Thứ hai là bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người và thú, người nam hay người nữ, kể cả súc sanh đều có Tri kiến Phật. Vì vậy mà Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng nói: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật.” Đó là để nói lên ý nghĩa này. Ai ai cũng có Tri kiến Phật, nhưng vì quên nên không nhận, vì vậy mà cứ luân hồi mãi trong sáu đường. Nếu nhận ra thì thành Phật, nên ở đây Long nữ khi nghe kinh Pháp Hoa liền tin nhận và thành Phật.

    - Phẩm kinh này dạy cho chúng ta một lối nhìn bình đẳng, dù là người thiện hay ác, đều thấy như nhau, đối với người ác, không khinh thường, không ác cảm, dù là người nam hay nữ cũng thấy như nhau, vì ai ai cũng có Tri kiến Phật. Dù là người hay thú, tất cả đều có Tri kiến Phật nên không nỡ hại nhau. Nếu tin nhận được thì công đức vô lượng.


  • 14. PHẨM 13 : TRÌ

    PHẨM 13

    TRÌ

    GIẢNG:

    Trì có nghĩa là gìn giữ. Vậy ở đây gìn giữ cái gì? Người tu theo kinh Pháp Hoa là phải gìn giữ cho kinh này tồn tại mãi ở thế gian. Mà kinh này là chỉ cho Tri kiến Phật sẵn có nơi mỗi người, làm sao cho mọi người ở thế gian mãi mãi đủ lòng tin nơi mình có Tri kiến Phật. Và thứ nữa, là sau khi đã tự nhận ra nơi mình có Tri kiến Phật, luôn luôn phải gìn giữ chớ để phiền não trần lao phủ che, nghĩa là lúc nào cũng nhớ nơi mình có Tri kiến Phật không quên, đó là  “Trì”.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, ngài Dược Vương đại Bồ-tát và ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát Ma-ha-tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ-tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng:

    - Cúi mong đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sanh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ trì, giải nói, biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Dược Vương và Bồ-tát Đại Nhạo Thuyết đứng lên thệ nguyện đem kinh Pháp Hoa truyền bá cho chúng sanh đời sau, khi Phật đã niết-bàn. Tuy chúng sanh đời sau căn lành ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn, tham lợi dưỡng cúng dường, tăng trưởng nhiều tật xấu ác, xa lìa đạo giải thoát rất khó giáo hóa, nhưng các ngài vẫn nguyện khởi sức nhẫn lớn để truyền bá kinh này, dù có bị hại cũng không tiếc thân mạng.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A-la-hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này.

    Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng:

    - Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này. Vì sao? - Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chân thật.

    GIẢNG:

    Tới đây các vị A-la-hán và hàng hữu học vô học đã được thọ ký cũng phát nguyện: Đời sau sẽ truyền bá kinh Pháp Hoa, mà truyền bá ở cõi khác, chớ không truyền bá ở cõi Ta-bà. Vì chúng sanh ở cõi này tệ ác, không chân thật, nghiệp chướng nặng nề, các ngài không kham giảng nói, các ngài chỉ có thể giáo hóa những chúng sanh ở những cõi hiền lành. Đó là tâm nguyện của các vị A-la-hán, tuy đã được thọ ký thành Phật tâm lợi tha vẫn còn hạn cuộc. Ở trên thì các vị Bồ-tát phát nguyện: Sau khi Phật niết-bàn đời sau chúng sanh nghiệp ác sâu dày, dù có khó giáo hóa đến đâu các ngài cũng sẵn sàng xả thân, làm lợi ích cho họ mà không tiếc thân mạng. Tâm hạnh Bồ-tát và La-hán khác nhau ở chỗ đó.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Khi đó, dì của Phật là Đại Ái Đạo Tỳ-kheo ni cùng chung với bậc “học” và “vô học” Tỳ-kheo ni sáu nghìn người, đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt chẳng tạm rời.

    Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kiều-đàm-di:

    - Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như Lai, tâm bà toan cho rằng tôi chẳng nói đến tên bà, để thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư?

    Kiều-đàm-di! Tôi trước tổng nói tất cả Thanh văn đều đã được thọ ký, nay bà muốn biết thọ ký đó, đời tương lai sau bà sẽ ở trong pháp hội của sáu muôn tám nghìn ức đức Phật làm vị Đại pháp sư và sáu nghìn vị “học” và “vô học” Tỳ-kheo ni đều làm Pháp sư. Bà lần lần đủ đạo hạnh Bồ-tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Kiều-đàm-di! Đức Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ-tát tuần tự thọ ký được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Bấy giờ, mẹ của La-hầu-la là bà Gia-thâu-đà-la Tỳ-kheo ni nghĩ rằng: “Thế Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi.”

    Phật bảo bà Gia-thâu-đà-la:

    - Ngươi ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, tu hạnh Bồ-tát làm vị Đại pháp sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.

    Lúc đó, bà Đại Ái Đạo Tỳ-kheo ni và bà Gia-thâu-đà-la Tỳ-kheo ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

    Đấng Thế Tôn Đạo sư
    Làm an ổn trời người
    Chúng con nghe thọ ký
    Lòng an vui đầy đủ.

    Các vị Tỳ-kheo ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn! Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này.

    GIẢNG:

    Tới đây chúng ta thấy có điều dường như lạc đề, là hai vị thuộc cấp lãnh đạo bên Ni giới là Tỳ-kheo ni Đại Ái Đạo và Da-du-đà-la đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan Phật im lặng không nói, Phật biết tâm trạng của hai bà mong được thọ ký, nên liền thọ ký cho hai bà và sáu ngàn Tỳ-kheo ni hữu học và vô học sẽ được thành Phật. Đây không phải là phẩm Thọ Ký tại sao các bà mong được thọ ký? Ở trước chúng ta đã thấy Phật tổng thọ ký rồi, tuy không nói tên riêng từng người, nhưng trong đó đã có hai bà Đại Ái Đạo và Da-du-đà-la là cấp lãnh đạo của Ni giới. Chẳng lẽ Ni giới lại vô phần, không được Phật gọi tên người nào để thọ ký, trong khi Long nữ là súc sanh mới tám tuổi mà được Phật đề cập đến. Điều này khiến người sau nghi ngờ. Để đánh tan mối nghi ngờ, hai bà tạo điều kiện để Phật gọi tên ít vị lớn thọ ký trước, rồi sau mới thọ ký chung như Phật đã thọ ký bên Tăng, chớ không phải các bà không biết là đã được thọ ký rồi. Sau khi đã được thọ ký, hai bà và các Tỳ-kheo ni khác cũng phát nguyện sau khi Phật niết-bàn, các bà cũng rộng nói kinh Pháp Hoa ở các cõi khác.

    CHÁNH VĂN:

    4.- Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na-do-tha vị đại Bồ-tát, các vị Bồ-tát đó đều là bậc Bất thối chuyển, chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chấp tay mà nghĩ rằng: “Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như lời Phật dạy, rộng tuyên nói pháp này.”

    Các vị đó lại nghĩ: “Nay đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?”

    Lúc đó, các vị Bồ-tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng:

    - Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sanh biên chép kinh này thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa đó, nghĩ nhớ chân chánh, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức oai thần của Phật. Cúi mong đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho.

    Tức thời các vị Bồ-tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:

    5.-

    Cúi mong Phật chớ lo
    Sau khi Phật diệt độ
    Trong đời ác ghê sợ
    Chúng con sẽ rộng nói
    Có những người vô trí
    Lời ác mắng rủa thảy
    Và dao gậy đánh đập
    Chúng con đều phải nhẫn.
    Tỳ-kheo trong đời ác
    Trí tà lòng dua vạy
    Chưa được nói đã được
    Lòng ngã mạn dẫy đầy.
    Hoặc người mặc áo nạp
    Lặng lẽ ở chỗ vắng
    Tự nói tu chân đạo
    Khinh rẻ trong nhân gian
    Vì ham ưa danh lợi
    Nói pháp cho bạch y
    Được người đời cung kính
    Như Lục thông La-hán
    Người đó ôm lòng ác
    Thường nghĩ việc thế tục
    Giả danh “A-luyện-nhã”
    Ưa nói lỗi chúng con
    Mà nói như thế này
    Các bọn Tỳ-kheo này
    Vì lòng tham lợi dưỡng
    Nói luận nghĩa ngoại đạo
    Tự làm kinh điển đó
    Dối lầm người trong đời
    Vì muốn cầu danh tiếng
    Mà giải nói kinh đó
    Thường ở trong đại chúng
    Vì muốn phá chúng con
    Đến Quốc vương, quan lớn
    Bà-la-môn, cư sĩ
    Và chúng Tỳ-kheo khác
    Chê bai nói xấu con
    Đó là người tà kiến
    Nói luận nghĩa ngoại đạo
    Chúng con vì kính Phật
    Đều nhẫn các ác đó.
    Bị người đó khinh rằng
    Các người đều là Phật
    Lời khinh mạn dường ấy
    Đều sẽ nhẫn thọ đó.
    Trong đời ác kiếp trược
    Nhiều các sự sợ sệt
    Quỉ dữ nhập thân kia
    Mắng rủa hủy nhục con
    Chúng con kính tin Phật
    Sẽ mặc giáp nhẫn nhục
    Vì để nói kinh này
    Nên nhẫn các việc khó,
    Con chẳng mến thân mạng
    Chỉ tiếc đạo Vô thượng.
    Chúng con ở đời sau
    Hộ trì lời Phật dặn
    Thế Tôn tự nên biết
    Tỳ-kheo ác đời trược
    Chẳng biết Phật phương tiện
    Tùy cơ nghi nói pháp
    Châu mày nói lời ác
    Luôn luôn bị xua đuổi
    Xa rời nơi chùa tháp
    Các điều ác như thế
    Nhớ lời Phật dặn bảo
    Đều sẽ nhẫn việc đó.
    Các thành ấp xóm làng
    Kia có người cầu pháp
    Con đều đến chỗ đó
    Nói pháp của Phật dặn.
    Con là sứ của Phật
    Ở trong chúng không sợ
    Con sẽ khéo nói pháp
    Xin Phật an lòng ở
    Con ở trước Thế Tôn
    Mười phương Phật đến nhóm
    Phát lời thệ như thế
    Phật tự rõ lòng con.

    GIẢNG:

    Đến hàng Bồ-tát bất thối chuyển đứng lên phát nguyện, là đi khắp mười phương thế giới đem kinh Pháp Hoa giáo hóa chúng sanh, cho họ thọ trì đọc tụng đúng như pháp mà tu hành. Tâm nguyện của các ngài thênh thang không giới hạn, không chọn lựa, sẵn sàng làm việc lợi sanh dù cho bị kẻ cư sĩ vô trí hãm hại các ngài cũng kham nhẫn. Hoặc hàng Tỳ-kheo trí tà ngã mạn, tham danh lợi, lòng còn ác giả danh làm ẩn sĩ, chê bai nói lỗi các ngài là hàng ngoại đạo tự làm ra kinh điển dối gạt người đời, để cầu danh lợi. Cho đến hàng vua quan cư sĩ cho các ngài là kẻ truyền bá tà kiến ngoại đạo, như Tổ Huệ Khả bị giam trong khám, các ngài đều vì Phật mà kham nhẫn. Hoặc quỉ nhập thân người, mắng chửi hủy nhục các ngài, các ngài vì kính Phật vì truyền bá kinh Pháp Hoa, sẵn sàng nhẫn chịu tất cả, chẳng tiếc thân mạng. Tại sao? Vì Tri kiến Phật là tôn quí nếu không truyền bá được thì chúng sanh mê mờ, mãi trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử khổ đau. Còn thân này dù có khéo gìn giữ cũng không gìn giữ được, duy trì được khoảng sáu bảy mươi năm, rồi cũng hoại. Nếu truyền bá cho người tin nhận được Tri kiến Phật thì họ sẽ thành Phật, dứt mọi phiền não khổ đau không còn luân hồi sanh tử. Nên nói chẳng mến thân mạng chỉ tiếc đạo Vô thượng.

    Tại sao ở đây Phật không chỉ định cho đệ tử đi giáo hóa nơi này nơi kia, mà để cho các ngài từ Bồ-tát bậc thượng, đến hàng Bồ-tát mới phát tâm, rồi Thanh văn La-hán, cho đến hàng hữu học vô học, tự đứng lên phát nguyện? Vì chuyện hoằng hóa làm lợi ích cho chúng sanh là trách nhiệm của người thực hành hạnh Bồ-tát. Nếu chỉ định thì có tính cách cưỡng bách bắt buộc, không thích hợp với căn cơ của người tự giác. Vì vậy mà hàng đệ tử Phật thể theo ý Phật, đứng lên phát nguyện đúng với khả năng trình độ của mình, ra làm lợi ích cho chúng sanh.


  • 15. PHẨM 14: AN LẠC HẠNH

    PHẨM 14

    AN LẠC HẠNH

    An lạc hạnh là công hạnh tu hành đúng như lời Phật dạy, để việc tự lợi lợi tha được an vui không có chướng nạn. Vì ở trước các hàng Bồ-tát phát nguyện sau khi Phật niết-bàn, các ngài sẽ đem kinh Pháp Hoa giáo hóa cho người sau, dù có gặp khó khăn chướng ngại cũng không thối chuyển, các ngài xả thân vì đạo Vô thượng Bồ-đề.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi đại Bồ-tát bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn! Các vị Bồ-tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: “Ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này.”

    Thế Tôn! Các vị đại Bồ-tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?

    Phật bảo ngài Văn-thù-sư-lợi:

    - Nếu vị đại Bồ-tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp.

    GIẢNG:

    Bồ-tát Văn-thù tán thán những vị Bồ-tát thuận theo Phật, nguyện ở đời ác sau hộ trì giảng nói kinh Pháp Hoa. Kế đó, Ngài nêu lên câu hỏi: Các vị đại Bồ-tát ở đời ác sau, làm thế nào có thể nói kinh Pháp Hoa? Phật dạy ở đời ác sau muốn nói kinh này phải trụ trong bốn pháp.

    CHÁNH VĂN:

    2.- Một, an trụ nơi “Hành xứ” và nơi “Thân cận xứ” của Bồ-tát, thời có thể vì chúng sanh mà diễn nói kinh này. Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là chỗ “Hành xứ” của đại Bồ-tát? Nếu vị đại Bồ-tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc, lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tướng như thật của các pháp cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ “Hành xứ” của Bồ-tát.

    Thế nào gọi là chỗ “Thân cận” của đại Bồ-tát? Vị đại Bồ-tát chẳng gần gũi Quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi các ngoại đạo Phạm chí, Ni-kiền-tử v.v... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái “Lộ-già-da-đà” phái “Nghịch Lộ-già-da-đà”, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau và bọn Na-la v.v... bày các cuộc chơi biến hiện.

    Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn, chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời Bồ-tát vì nói pháp không có lòng mong cầu.

    Lại chẳng gần gũi những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di hạng người cầu quả Thanh văn, cũng chẳng thăm hỏi, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ-tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu.

    Văn-thù-sư-lợi! Lại vị đại Bồ-tát chẳng nên ở nơi thân người nữ có niệm tưởng hay sanh dục nhiễm và vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa v.v... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam để làm thân hậu.

    Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thời chuyên một lòng niệm Phật.

    Nếu vì người nữ nói pháp thời chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác.

    Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa-di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.

    Văn-thù-sư-lợi! Đó gọi là “chỗ thân cận ban đầu”.

    GIẢNG:

    Bốn pháp Phật dạy Bồ-tát ở đời sau phải an trụ để nói kinh Pháp Hoa là:

    Một là an trụ nơi “Hành xứ” và “Thân cận xứ”. An trụ nơi Hành xứ là nhẫn nhục hòa dịu, khéo thuận mà không vụt chạc, lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi  pháp không phân biệt mà quán tướng như thật của các pháp, chẳng vin theo chẳng phân biệt.

    Trước, tôi nói về hạnh nhẫn nhục hòa dịu không nóng nảy, không kinh sợ. Thí dụ như: Tối, đến giờ chỉ tịnh, thầy Hương đăng sửa soạn đóng cửa chùa. Có người đến ngăn cản, nói những câu trái ý nghịch lòng, làm cho thầy Hương đăng bực bội, thầy lộ ra cử chỉ thô tháo, đóng cửa mạnh tay, gây tiếng động rầm rầm. Đó là thiếu nhẫn nhục, thiếu hòa dịu, vụt chạc. Khi thầy Hương đăng có thái độ vụt chạc không hòa dịu là do tự tâm thầy đã bất an phiền não, nên mới phát lộ ra làm phiền lòng người đối diện và mọi người chung quanh. Khi thấy một sự việc xảy ra, hay nghe một câu nói bất bình, tâm khởi niệm bực bội liền tỉnh giác buông ngay, không tiếp tục nghĩ suy nữa, tâm liền được an ổn. Và tự tâm mình đã an ổn thì mọi người trong cộng đồng sống chung với mình cũng được an vui. Vì vậy muốn được an lạc thì phải tu hạnh nhẫn nhục nhu hòa.

    Kế đó là phải có lòng can đảm không sợ sệt. Vì trong đời sau Phật niết-bàn, người ác nhiều, người hiền ít. Khi nói đạo lý thì người hiền nghe, người ác lại ghét, nên họ hăm dọa phá phách. Nếu vì sự hăm dọa phá phách của họ, mà mình không dám giảng nói thì mình không thực hành được hạnh Bồ-tát. Vì vậy, vừa nhẫn nhục nhu hòa lại vừa can đảm, chớ không phải nhẫn nhục nhu hòa, rồi việc gì cũng vâng dạ tuân theo lệnh của bạo lực, thì không thể xiển dương được chánh pháp. Nhớ là nhẫn mà không nhu nhược.

    Thứ đến là ở nơi các pháp không phân biệt, không vin theo, mà quán tướng như thật của các pháp. Đối cảnh tâm không khởi cái này đẹp cái kia xấu, cái này hơn cái kia thua... đó là ở nơi các pháp không phân biệt. Đúng ra, quán tướng như thật của các pháp trước, rồi mới không khởi phân biệt sau. Hàng Nhị thừa thấy tuớng như thật của các pháp là ngay nơi con người, hiện đang trẻ trung cường tráng, thấy rõ thân năm uẩn đang bị luật vô thường làm cho biến hoại, dần đưa đến bệnh hoạn già nua rồi chết mất, đó là khổ và không. Còn với hàng Bồ-tát thì ngay nơi thân năm uẩn này, thấy rõ nó do duyên hợp tạm có, không có Thật thể cố định. Duyên hợp có hình hài con người thì nói là sanh, duyên ly tán hình hài con người rã tan thì nói là tử. Thành hoại hay sanh tử là do duyên tụ hay tán, rõ ràng nó không thật có. Như vậy thì có gì mà phân biệt tốt xấu hơn thua?

    Nghe nói vậy quí vị đừng tưởng mình ở ngoài cái tụ tán đó, thật ra mình không ở ngoài cũng không ở trong. Tụ tán là tứ đại tụ tán, mà tứ đại là vô tri, còn mình là hữu tri, “cái biết” đâu có tụ tán. Tứ đại tụ lại, có thân bằng xương bằng thịt này gọi là sanh, tứ đại ly tán, thân bằng xương bằng thịt này rã tan gọi là tử. Chớ “cái biết” đâu có sanh tử. Nên tôi nói “gá thân mộng”. Thân này là mộng “cái biết” gá vào thân, thân tứ đại không phải là mình. Vì “cái biết” gá vào thân nên có sanh hoạt hằng ngày gọi đó là cuộc sống tạm. Như vậy, nếu nhìn trên Thật tướng thì thấy thân này là một khối tứ đại đất, nước, gió, lửa hợp thành, sanh là tứ đại hợp, tử là tứ đại tan. Tỉ dụ chúng ta hít vô bao nhiêu không khí, khi thở ra cũng bấy nhiêu khí, mượn vô bao nhiêu gió thì trả ra bấy nhiêu, đất (thức ăn), nước mượn vô bao nhiêu rồi cũng phải trả ra bấy nhiêu . Và ngay thân tứ đại này là bao nhiêu khi rã tan cũng rã tan bấy nhiêu. Tứ đại tụ tán chớ Tri kiến Phật đâu có tụ tán hay sanh tử. Từ người rồi nhìn ra sự vật cũng vậy, duyên tụ thì sự vật thành, duyên tán thì sự vật hoại. Các pháp thành hoại là do duyên tụ tán, không có pháp nào là chân thật chắc bền, nên không vin theo không phân biệt. Đó là chỗ Hành xứ của Bồ-tát. Sở dĩ vin theo các pháp để phân biệt là vì thấy các pháp thật đẹp thật quí... nên ưa pháp này chán pháp kia. Nếu thấy các pháp do duyên hợp tạm có, nó không có Thật thể cố định thì vin vào đâu mà đeo đuổi dính mắc? Vậy Hành xứ của Bồ-tát là tâm nhu hòa nhẫn nhục và thấy các pháp đúng như thật. Thường thì chúng ta dễ mắc kẹt trên giả tướng giả danh, một vị Tỳ-kheo tu khoảng vài chục năm được gọi là Thượng tọa. Nếu có ai không biết gọi là Đại đức, thì khó chịu không vui, đó là do chấp ngã quá nặng, tu càng lâu ngã càng lớn, động tới là nổi sân, đó là do không thấy các pháp đúng như thật, nên ngã chấp càng lớn phiền não thêm dày. Tất cả chỉ là giả danh giả tướng mà người ta không thấy cứ vin vào đó mà chấp, rồi thành bệnh.

    Thế nào là chỗ thân cận của đại Bồ-tát? Một là Bồ-tát không gần gũi với những người có thế lực như Quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng. Hai là không gần gũi với ngoại đạo. Ba là không gần gũi với những người viết sách thế tục. Bốn là không gần gũi hạng người ca hát. Năm là không gần gũi với người sống bằng những nghề ác. Nếu những hạng người đó có đến mong cầu nghe pháp thì Bồ-tát vì họ nói pháp với tâm không mong cầu. Thường tình, thì người nói pháp hay có bệnh mong cầu lợi dưỡng muốn cho người cúng dường, thậm chí tụng kinh chẳng những mong cầu cúng dường mà còn ra giá trước nữa. Phật dạy người tu chúng ta phải có một đời sống cao thượng, nếu đối với năm hạng người đó nói pháp thì tùy cơ mà nói, lòng không mong cầu họ thù đáp bất cứ một thứ gì. Như thế mới là người nói pháp chân chánh.

    Phật lại dạy Bồ-tát không nên thân cận với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cầu quả Thanh văn. Nếu những người này cầu pháp thì vì họ nói pháp, tâm không khởi niệm mong cầu bất cứ điều gì.

    Đến đây, Phật dạy rất tỉ mỉ, nếu hạng người nữ cầu pháp thì không nên nhìn trên thân họ mà sanh tâm dục nhiễm, chỉ một bề nói pháp giáo hóa họ. Chẳng vì hàng gái tơ gái nhỏ mà nói chuyện, cũng chẳng thân cận với người bán nam bán nữ, vì những người này có nhiều chướng tật, gần họ thì lôi thôi lắm. Không nên một mình vào nhà người, đây là lời Phật dạy chớ không phải qui chế của Thiền viện tự đặt ra. Nếu có duyên sự đặc biệt mà vào nhà người thì phải niệm Phật. Niệm Phật là nhớ đến công hạnh Phật mà không khởi niệm ác, chớ không phải ngồi lâm râm niệm Nam-mô A-di-đà Phật. Phật còn dạy khi nói pháp cho người nữ, chớ cười hở răng hoặc để lộ hông ngực. Vì quấn y theo tu sĩ Nam tông Ấn Độ nếu bất cẩn thì để lộ thân ra coi kỳ, nên phải dè dặt tối đa, tránh được những cái đó thì sẽ không có chướng nạn, việc nói pháp mới tốt.

    Phật lại còn cẩn thận dạy không nên nuôi đệ tử Sa-di ít tuổi, và không cùng chúng đồng thầy. Tại sao giáo hóa mà hạn cuộc như vậy? Theo tinh thần thừa kế, tức là nối tiếp ngọn đèn chánh pháp, nếu không nuôi dưỡng người trẻ nhỏ thì lấy ai mà kế thừa Phật pháp? Các chú nhỏ thì khờ dại chưa biết tu hành, ham ăn, ham ngủ, ham chơi, ngỗ nghịch. Nếu nuôi là phải dạy dỗ, mà dạy dỗ thì phải rầy la răn phạt, nếu răn phạt nhiều lần mà nó không nghe thì sanh bực bội, mà bực bội là chướng đạo, ở đây Phật dạy không nên nuôi Sa-di ít tuổi. Và tại sao Phật dạy không cùng với chúng đồng thầy? Thông thường những người tu có cái tình chấp là người cùng thầy, người tu sau gọi người tu trước là Sư huynh. Giả sử như tôi đã nhận những đệ tử bốn năm mươi tuổi, tu cũng mấy mươi năm chẳng hạn như Đắc Pháp, bây giờ tôi nhận chú tiểu chừng mười hai tuổi làm đệ tử. Bấy giờ chú gọi Đắc Pháp là Sư huynh có được không, trong khi Đắc Pháp đã có đệ tử ngoài ba mươi tuổi? Nếu gọi Đắc Pháp là Sư huynh thì gọi đệ tử Đắc Pháp là gì? Chẳng lẽ đệ tử Đắc Pháp ngoài ba mươi tuổi gọi chú tiểu mười hai tuổi bằng Sư chú! Sư chú gì mà Phật pháp chưa thông, giới hạnh chưa nghiêm túc còn đùa giỡn nghịch ngợm? Như thế chỉ làm rối loạn trong đạo. Theo tôi, người thọ Cụ túc giới thì gọi bằng thầy, còn là Sa-di thì gọi bằng chú, chớ Sư thúc Sư bá Sư huynh Sư đệ... không khéo sẽ bị kẹt vào tình chấp chướng đạo!

    Trước Phật dạy những chỗ cần phải xa lánh. Kế, Phật bảo thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm. Chỗ này có nhiều nhà phê bình kinh Pháp Hoa là kinh Đại thừa, chỉ thẳng chỗ cứu kính, mà cũng vẫn còn mang tinh thần Tiểu thừa. Nếu quan niệm như thế là sai lầm. Vì người đem kinh Pháp Hoa ra giáo hóa tức là đem mạng mạch Phật pháp trao lại cho đời, đó là trách nhiệm rất lớn. Nếu người đem trách nhiệm lớn lao trao cho người khác, mà không đủ tác phong uy tín để cho người tin, thì người không quí, không quí thì không thực hành theo. Vì vậy muốn làm được việc lớn khó làm, thì trước hết phải tự tu chỉnh tâm mình cho thanh tịnh, giới tướng cho nghiêm minh, điều mình giảng dạy mới có giá trị, người đời mới kính tin và chấp nhận mà tiến tu dễ dàng. Nếu người giảng nói chưa đủ uy tín, thì dù là của báu đem cho, họ cũng không nhận, chỉ làm chuyện vô ích. Tuy là hình tướng bên ngoài nhưng cũng là điều cần thiết để giáo hóa người.

    Hiện tại có một số Tăng Ni trẻ mang tinh thần Đại thừa quá sớm, cho những tu sĩ gìn giữ giới luật là Tiểu thừa, cố chấp, không hiểu nam nữ bình đẳng, Phật tánh đồng nhất..., kẻ đó là bệnh. Tuy đứng về Tánh mà nói Tri kiến Phật không có nam nữ, không có lớn nhỏ sai biệt. Nhưng chúng sanh nhìn người hướng đạo là nhìn theo Nghiệp tướng hay nhìn theo Thể tánh? Đứng trên mặt giáo hóa lợi tha, chúng sanh phàm phu đa số là nhìn người hướng đạo theo Nghiệp tướng, nếu làm trái với cái thấy biết của họ là họ không tin, họ không tin thì làm sao hướng dẫn họ tu? Vì vậy người giáo hóa lợi tha chẳng những có được tâm hồn cao thượng thanh tịnh, mà còn phải khéo giữ giới tướng cho nghiêm minh thì việc lợi tha mới hữu hiệu. Đối với chúng sanh, chỉ vài hành động sơ suất cũng đủ đánh mất lòng kính tin của họ, thì những điều cao quí mình không đem ra chỉ dạy được. Nên phẩm An Lạc Hạnh, Phật dạy chúng ta muốn làm được việc dễ dàng vui vẻ, thì phần Giới tướng đừng để cho người phàm tục nghi ngờ, cho đến giữ gìn hành vi nhỏ nhiệm để dễ dàng chỉ bày lý cao tột cứu kính cho người tin nhận. Đức Phật rất cẩn thận, sự không rời lý, lý không bỏ sự, lý sự viên dung. Chúng ta thường thì chấp lý bỏ sự, cứ nói làm gàn bướng, khiến cho người khinh chê phỉ báng Tam Bảo, rốt rồi chẳng giáo hóa được ai. Chỗ này phải hiểu cho thật kỹ kẻo lầm ý Phật dạy, cho rằng Phật dạy hàng Thanh văn không phải dạy cho Bồ-tát.

    CHÁNH VĂN:

    3.- Lại nữa, vị đại Bồ-tát quán sát “Nhứt thiết pháp không như thiệt tướng” chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có Thật tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thiệt không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh cho nên nói, thường ưa quán sát Pháp tướng như thế, đó gọi là “chỗ thân cận” thứ hai của vị đại Bồ-tát.

    Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    4.-

    Nếu có vị Bồ-tát
    Ở trong đời ác sau
    Lòng không hề sợ sệt
    Muốn nói kinh pháp này
    Nên trụ vào “Hành xứ”
    Và trụ “Thân cận xứ”.
    Thường xa rời Quốc vương
    Và con của Quốc vương
    Quan đại thần, quan lớn
    Kẻ chơi việc hung hiểm
    Cùng bọn chiên-đà-la
    Hàng ngoại đạo Phạm chí
    Cũng chẳng ưa gần gũi
    Hạng người tăng thượng mạn
    Hàng học giả tham chấp
    Kinh, Luật, Luận Tiểu thừa
    Những Tỳ-kheo phá giới
    Danh tự A-la-hán
    Và những Tỳ-kheo ni
    Ưa thích chơi giỡn cười.
    Các vị Ưu-bà-di
    Tham mê năm món dục
    Cầu hiện tại diệt độ
    Đều chớ có gần gũi.
    Nếu những hạng người đó
    Dùng tâm tốt mà đến
    Tại chỗ của Bồ-tát
    Để vì nghe Phật đạo
    Bồ-tát thời nên dùng
    Lòng không chút sợ sệt
    Chẳng có niệm mong cầu
    Mà vì chúng nói pháp.
    Những gái góa, gái trinh
    Và các kẻ bất nam
    Đều chớ có gần gũi
    Để cùng làm thân hậu.
    Cũng chớ nên gần gũi
    Kẻ đồ tể cắt thái
    Săn bắn và chài lưới
    Vì lợi mà giết hại
    Bán thịt để tự sống
    Buôn bán sắc gái đẹp
    Những người như thế đó
    Đều chớ có gần gũi.
    Các cuộc chơi giỡn dữ
    Hung hiểm đâm đánh nhau
    Và những dâm nữ thảy
    Trọn chớ có gần gũi.
    Chớ nên riêng chỗ khuất
    Vì người nữ nói pháp
    Nếu lúc vì nói pháp
    Chẳng được chơi giỡn cười
    Khi vào xóm khất thực
    Phải dắt một Tỳ-kheo
    Nếu không có Tỳ-kheo
    Phải một lòng niệm Phật
    Đây thời gọi tên là
    “Hành xứ”, “Thân cận xứ”.
    Dùng hai xứ trên đây
    Có thể an lạc nói.
    Lại cũng chẳng vin theo
    Pháp thượng, trung và hạ
    Hữu vi hay vô vi
    Thiệt cùng pháp chẳng thiệt
    Cũng chẳng có phân biệt
    Là nam là nữ thảy
    Lại chẳng được các pháp
    Chẳng biết cũng chẳng thấy
    Đây thời gọi tên là
    “Hành xứ” của Bồ-tát.
    Tất cả các món pháp
    Đều không, chẳng chỗ có
    Không có chút thường trụ
    Vẫn cũng không khởi diệt
    Đây gọi là “Thân cận”
    Chỗ người trí hằng nương.
    Chớ đảo điên phân biệt
    Các pháp có hoặc không
    Là thật, chẳng phải thật
    Là sanh chẳng phải sanh.
    Ở an nơi vắng vẻ
    Sửa trau nhiếp tâm mình
    An trụ chẳng lay động
    Như thể núi Tu-di.
    Quán sát tất cả pháp
    Thảy đều không thật có
    Dường như khoảng hư không
    Không có chút bền chắc.
    Chẳng sanh cũng chẳng xuất
    Chẳng động cũng chẳng thối
    Thường trụ một Tướng thể
    Đó gọi là “Cận xứ”.
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Sau khi ta diệt độ
    Vào được “Hành xứ” này
    Và “Thân cận xứ” đó
    Thời lúc nói kinh này
    Không có lòng e sợ.
    Vị Bồ-tát có lúc
    Vào nơi nhà tịnh thất
    Lòng nghĩ nhớ chân chánh
    Theo đúng nghĩa quán pháp.
    Từ trong Thiền định dậy
    Vì các bậc Quốc vương
    Vương tử và quan, dân
    Hàng Bà-la-môn thảy
    Mà khai hóa diễn bày
    Rộng nói kinh điển này
    Tâm vị đó an ổn
    Không có chút khiếp nhược.
    Văn-thù-sư-lợi này!
    Đó gọi là Bồ-tát
    An trụ trong sơ pháp
    Có thể ở đời sau
    Diễn nói kinh Pháp Hoa.

    GIẢNG:

    Trên là Phật nêu lên sự tướng mà người nói kinh Pháp Hoa cần phải có, để khi giáo hóa chúng sanh không bị chướng ngại. Tới đây là phần lý, người nói kinh Pháp Hoa phải đạt được, tức là thấy các pháp không có tướng cố định do duyên hợp tạm có, nên tâm không điên đảo, không động, không thối chuyển, như hư không, không có Thật tánh. Tất cả lời nói đều không thật, không sanh, không diệt v.v... Tất cả các pháp đều từ nhân duyên mà sanh, do điên đảo mà có. Tại sao nói pháp do điên đảo mà có? Thí dụ đêm tối có người cầm cây nhang cháy quay thật nhanh, người ngoài nhìn thấy một vòng lửa tròn. Vòng lửa tròn ấy không thật có, chẳng qua do tay quay cây nhang nhanh, mắt nhìn không kịp, nên thấy một vòng lửa. Thấy không tới lẽ thật, nên nói điên đảo như thế. Chúng ta có thân này là do duyên hợp tạm có không thật. Nếu nó còn thì mừng, nó hoại thì sợ. Bởi sợ nó mất nên khởi niệm điên đảo tìm gá thân khác. Từ niệm điên đảo đó mà tiếp nối thân sau đi mãi trong ba cõi, nên nói điên đảo sanh. Chúng ta nhìn cho thật kỹ thì tất cả các pháp ở thế gian này, có pháp nào là thật? Như con người, ai cũng nhận thân này là ta là mình, thế mà mỗi ngày đưa vô một số thức ăn, nước, không khí vào trong thân, bao tử, ruột, phổi, tim... nó biến hóa, nó làm gì, chúng ta hoàn toàn không biết, không hề ra lịnh cho nó làm thế này hay thế kia, mặc tình nó làm gì thì làm, nó biến hóa ra sao tùy nó. Nó biến hóa tốt thì thân khỏe mạnh, biến hóa không tốt thì thân đau bệnh. Chúng ta hoàn toàn không biết gì về hoạt động bên trong của thân. Tim đập nhanh, chậm, hay ngừng nghỉ tùy nó; bao tử ruột tiêu hóa tốt hay xấu cũng tùy nó, chúng ta không điều khiển được. Vậy mà nhận nó là ta, chấp chặt nó là mình thật, đó là cái tưởng điên đảo, không đúng sự thật.

    Với cái nhìn của Trí tuệ Bát-nhã thấy sự vật là một dòng chuyển biến trôi chảy, đủ duyên thì tụ, hết duyên thì tan, luôn luôn chuyển động không dừng. Vạn vật luôn luôn biến dịch mà mắt phàm phu của chúng sanh không thấy không biết. Nhìn sự vật như cái bàn, với mắt người thường thì thấy nó là một cố thể, nhưng với mắt khoa học phân tích từ thô đến tế thì cái bàn do nhiều miếng gỗ ráp lại bởi những cây đinh, công thợ... và rồi phân tích đến chỗ vi tế thì thấy cái bàn hình thành bởi những nguyên tử nó đang quay vùn vụt ở trong mỗi vật. Ngay thân con người thì thấy vô số tế bào đang hoạt động, ngay nơi vật thì thấy vô số nguyên tử đang quay, tất cả đều di động không dừng. Vì vậy Phật nói tất cả pháp không có một pháp nào có Thật thể cố định, tụ tán biến chuyển không dừng. Đã là pháp chuyển biến, mà chấp bám chặt muốn nó dừng một chỗ là khờ dại ngu si. Càng bám giữ cái không bao giờ dừng đứng là càng khổ đau. Nên nói chấp là gốc của khổ, điều đó cụ thể vô cùng. Với mắt Trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả người vật là một dòng trôi chảy không dừng. Con người thì sanh, già, bệnh, chết tuần tự đuổi nhau, vật thì thành, trụ, hoại, không. Nếu biết chuyện sẽ đến đương nhiên phải đến, lo sợ cũng không khỏi, nên nhìn và cười nó đến đi một cách bình thản, người như thế có phải là người trí không? Chư Tổ xưa kia trí tuệ tròn đầy, các ngài nói thân này còn cũng tốt mà hoại cũng vui không có gì sợ sệt. Người trí thấy đúng như thật là thấy các pháp là một dòng chuyển biến, đã chuyển biến thì chấp nhận nó đổi thay. Đó là nói các pháp có hình tướng. Còn tâm niệm con người cũng vậy, chợt khởi chợt mất, giây phút trước nghĩ chuyện này, giây phút sau nghĩ chuyện khác, tiếp nối nhau nghĩ tưởng không có được một phút giây dừng lặng. Nó cũng là một dòng trôi chảy biến dịch, ngày nay nghĩ như vậy, ngày mai chưa chắc cũng nghĩ như vậy, vì vọng niệm vô thường đổi thay! Nên đừng chấp lời nói ý nghĩ người đó trước sau như một, nó cứ biến chuyển đổi thay hoài. Vì vậy người tu chúng ta cũng phải thay đổi, chuyển từ nghiệp bất thiện sang nghiệp thiện, chuyển từ mê sang tỉnh. Thí dụ như khi chưa tu thì tham, sân, si có đủ một trăm phần trăm khi biết tu chuyển tham, sân, si giảm dần còn chín mươi, tám mươi, bảy mươi phần trăm cho đến khi hết tham, sân, si.

    Tóm lại, Phật dạy Bồ-tát nói kinh Pháp Hoa giáo hóa chúng sanh, trên mặt sự phải đủ giới tướng, trên mặt lý phải quán thông các pháp, thì khi hành Bồ-tát đạo, mình được an vui, chúng sanh được lợi ích. Nếu chấp sự mà không thông lý, thì chỉ có được hình tướng để cho người mến, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh được thăng tiến lợi ích. Còn nếu thông lý mà bỏ sự, khiến cho người hoang mang không kính tin, cũng không giáo hóa làm lợi ích cho chúng sanh được. Vì vậy lý sự phải viên dung thì việc tự giác giác tha mới viên mãn.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Lại Văn-thù-sư-lợi! Sau khi đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh An lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; cũng chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó.

    Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc “Nhứt thiết chủng trí”.

    GIẢNG:

    Hai là Phật dạy người nói kinh Pháp Hoa mà được an vui thì đừng có nói lỗi người và lỗi kinh, đừng có khinh Pháp sư khác, không nên nói việc hay dở tốt xấu của người. Đối với hàng Thanh văn không khen và cũng không chê. Đa số chúng ta thời nay tụng kinh Pháp Hoa sợ đổ nghiệp, vì vừa ra khỏi đạo tràng thì khen người này chê người kia, tạo điều kiện cho phiền não dấy động làm mờ Trí tuệ Phật, trái với lời Phật dạy thì làm sao được an lạc? Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ đánh Sa-di Thần Hội ở chỗ thấy lỗi người. Lục Tổ dạy chỉ thấy lỗi mình mà không nên thấy lỗi người, vì thấy lỗi người thì lỗi mình đã đến một bên rồi, đó là điều chướng đạo. Tại sao? Vì thấy lỗi người thì bực bội không thể thương người được, bực bội không thương thì không giáo hóa, không chướng đạo là gì? Thế nên không thấy lỗi người, mà hằng thấy tâm niệm mình đang an ổn hay đang bị vọng tưởng dấy động phiền não phủ che, để điều phục cho được yên.

    Trên Phật dạy nơi miệng không nói lỗi người không khen chê người. Tới đây Phật dạy nơi tâm không sanh lòng oán hiềm, nếu có người hỏi thì không dùng pháp Tiểu thừa để đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa giải nói làm cho họ được Nhất thiết chủng trí. Người nói kinh mà tâm còn oán thù người này, hiềm hận người kia, thì tự mình đã chướng đạo, không có lòng từ bủa rộng đâu làm lợi ích cho người được. Và nếu chỉ đem pháp Tiểu thừa ra giảng nói, mà không nói pháp Đại thừa thì không đưa người đến chỗ rốt ráo thành Phật cũng là chướng đạo, chưa đủ tư cách nói kinh Pháp Hoa.

    CHÁNH VĂN:

    Khi ấy, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    6.-       

    Vị Bồ-tát thường ưa
    An ổn nói kinh pháp
    Ở nơi chỗ thanh tịnh
    Mà sắp đặt sàng tòa
    Dùng hương dầu xoa thân
    Tắm gội các bụi dơ
    Mặc y mới sạch sẽ
    Trong ngoài đều sạch thơm
    Ngồi an nơi pháp tòa
    Theo chỗ hỏi vì nói.
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Cùng với Tỳ-kheo ni
    Các hàng Ưu-bà-tắc
    Và hàng Ưu-bà-di
    Quốc vương và vương tử
    Các quan cùng sĩ dân
    Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu
    Vui vẻ vì họ nói
    Nếu có người gạn hỏi
    Theo đúng nghĩa mà đáp
    Nhân duyên hoặc thí dụ
    Giải bày phân biệt nói
    Dùng trí phương tiện này
    Đều khiến kia phát tâm
    Lần lần thêm đông nhiều
    Vào ở trong Phật đạo.
    Trừ lòng lười biếng trễ
    Cùng với tưởng giải đãi
    Xa rời các ưu não
    Tâm từ lành nói pháp.
    Ngày đêm thường tuyên nói
    Giáo pháp Vô thượng đạo
    Dùng các việc nhân duyên
    Vô lượng món thí dụ
    Mở bày dạy chúng sanh
    Đều khiến chúng vui mừng
    Y phục cùng đồ nằm
    Đồ ăn uống thuốc thang
    Mà ở nơi trong đó
    Không có chỗ mong cầu
    Chỉ chuyên một lòng nhớ
    Nhân duyên nói kinh pháp
    Nguyện ta thành Phật đạo
    Khiến mọi người cũng vậy
    Đó là lợi lành lớn.
    Là an vui cúng dường.
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Có thể diễn nói được
    Kinh Diệu Pháp Hoa này
    Lòng không chút ganh hờn
    Không các não chướng ngại
    Cũng lại không ưu sầu
    Và cùng mắng nhiếc thảy
    Lại cũng không sợ sệt
    Không dao gậy đánh đập
    Cũng không xua đuổi ra
    Vì an trụ nhẫn vậy.
    Người trí khéo tu tập
    Tâm mình được dường ấy
    Thời nay trụ an lạc
    Như ta nói ở trên
    Công đức của người đó
    Trong nghìn muôn ức kiếp
    Tính kể hay thí dụ
    Nói chẳng thể hết được.

    GIẢNG:

    Phật trùng tụng và lặp lại ý trên, tuy nhiên có thêm vài chi tiết. Phật dạy phải ăn mặc sạch sẽ trang nghiêm để nói đạo. Kế đến nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Vua, quan... tới hỏi đạo, thì với sắc diện hòa nhã vui vẻ mà đáp, chớ có thái độ bực dọc cau có. Khi đáp thì phải đáp cho đúng với nghĩa lý Phật dạy, dùng mọi cách dẫn giải thí dụ, để cho họ hiểu lần lần được vào đạo.

    CHÁNH VĂN:

    5.- Lại Văn-thù-sư-lợi! Sau khi đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh An lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; cũng chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó.

    Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc “Nhứt thiết chủng trí”.

    GIẢNG:

    Hai là Phật dạy người nói kinh Pháp Hoa mà được an vui thì đừng có nói lỗi người và lỗi kinh, đừng có khinh Pháp sư khác, không nên nói việc hay dở tốt xấu của người. Đối với hàng Thanh văn không khen và cũng không chê. Đa số chúng ta thời nay tụng kinh Pháp Hoa sợ đổ nghiệp, vì vừa ra khỏi đạo tràng thì khen người này chê người kia, tạo điều kiện cho phiền não dấy động làm mờ Trí tuệ Phật, trái với lời Phật dạy thì làm sao được an lạc? Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ đánh Sa-di Thần Hội ở chỗ thấy lỗi người. Lục Tổ dạy chỉ thấy lỗi mình mà không nên thấy lỗi người, vì thấy lỗi người thì lỗi mình đã đến một bên rồi, đó là điều chướng đạo. Tại sao? Vì thấy lỗi người thì bực bội không thể thương người được, bực bội không thương thì không giáo hóa, không chướng đạo là gì? Thế nên không thấy lỗi người, mà hằng thấy tâm niệm mình đang an ổn hay đang bị vọng tưởng dấy động phiền não phủ che, để điều phục cho được yên.

    Trên Phật dạy nơi miệng không nói lỗi người không khen chê người. Tới đây Phật dạy nơi tâm không sanh lòng oán hiềm, nếu có người hỏi thì không dùng pháp Tiểu thừa để đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa giải nói làm cho họ được Nhất thiết chủng trí. Người nói kinh mà tâm còn oán thù người này, hiềm hận người kia, thì tự mình đã chướng đạo, không có lòng từ bủa rộng đâu làm lợi ích cho người được. Và nếu chỉ đem pháp Tiểu thừa ra giảng nói, mà không nói pháp Đại thừa thì không đưa người đến chỗ rốt ráo thành Phật cũng là chướng đạo, chưa đủ tư cách nói kinh Pháp Hoa.

    CHÁNH VĂN:

    Khi ấy, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    6.-       

    Vị Bồ-tát thường ưa
    An ổn nói kinh pháp
    Ở nơi chỗ thanh tịnh
    Mà sắp đặt sàng tòa
    Dùng hương dầu xoa thân
    Tắm gội các bụi dơ
    Mặc y mới sạch sẽ
    Trong ngoài đều sạch thơm
    Ngồi an nơi pháp tòa
    Theo chỗ hỏi vì nói.
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Cùng với Tỳ-kheo ni
    Các hàng Ưu-bà-tắc
    Và hàng Ưu-bà-di
    Quốc vương và vương tử
    Các quan cùng sĩ dân
    Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu
    Vui vẻ vì họ nói
    Nếu có người gạn hỏi
    Theo đúng nghĩa mà đáp
    Nhân duyên hoặc thí dụ
    Giải bày phân biệt nói
    Dùng trí phương tiện này
    Đều khiến kia phát tâm
    Lần lần thêm đông nhiều
    Vào ở trong Phật đạo.
    Trừ lòng lười biếng trễ
    Cùng với tưởng giải đãi
    Xa rời các ưu não
    Tâm từ lành nói pháp.
    Ngày đêm thường tuyên nói
    Giáo pháp Vô thượng đạo
    Dùng các việc nhân duyên
    Vô lượng món thí dụ
    Mở bày dạy chúng sanh
    Đều khiến chúng vui mừng
    Y phục cùng đồ nằm
    Đồ ăn uống thuốc thang
    Mà ở nơi trong đó
    Không có chỗ mong cầu
    Chỉ chuyên một lòng nhớ
    Nhân duyên nói kinh pháp
    Nguyện ta thành Phật đạo
    Khiến mọi người cũng vậy
    Đó là lợi lành lớn.
    Là an vui cúng dường.
    Sau khi ta diệt độ
    Nếu có vị Tỳ-kheo
    Có thể diễn nói được
    Kinh Diệu Pháp Hoa này
    Lòng không chút ganh hờn
    Không các não chướng ngại
    Cũng lại không ưu sầu
    Và cùng mắng nhiếc thảy
    Lại cũng không sợ sệt
    Không dao gậy đánh đập
    Cũng không xua đuổi ra
    Vì an trụ nhẫn vậy.
    Người trí khéo tu tập
    Tâm mình được dường ấy
    Thời nay trụ an lạc
    Như ta nói ở trên
    Công đức của người đó
    Trong nghìn muôn ức kiếp
    Tính kể hay thí dụ
    Nói chẳng thể hết được.

    GIẢNG:

    Phật trùng tụng và lặp lại ý trên, tuy nhiên có thêm vài chi tiết. Phật dạy phải ăn mặc sạch sẽ trang nghiêm để nói đạo. Kế đến nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Vua, quan... tới hỏi đạo, thì với sắc diện hòa nhã vui vẻ mà đáp, chớ có thái độ bực dọc cau có. Khi đáp thì phải đáp cho đúng với nghĩa lý Phật dạy, dùng mọi cách dẫn giải thí dụ, để cho họ hiểu lần lần được vào đạo.

    CHÁNH VĂN:

    7.- Lại Văn-thù-sư-lợi! Vị đại Bồ-tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thọ trì, đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ganh ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc cầu Thanh văn hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ-tát đạo đều không được làm não đó, khiến cho kia sanh lòng nghi hối mà nói với người đó rằng: “Các người cách đạo rất xa trọn không thể được bậc Nhứt thiết chủng trí. Vì sao? Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo vậy.”

    Lại cũng chẳng nên hí luận các pháp có chỗ tranh cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sanh, khởi tưởng đại bi, đối với các đức Như Lai sanh tưởng như cha lành, đối với các Bồ-tát, tưởng là bậc Đại sư; đối với các đại Bồ-tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều.

    Văn-thù-sư-lợi! Vị đại Bồ-tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt nếu thành tựu được hạnh An lạc thứ ba đây, thời lúc nói pháp này không ai có thể não loạn, được bạn đồng học tốt chung cùng đọc tụng kinh này, cũng được đại chúng thường đến nghe thọ. Nghe rồi hay nhớ, nhớ rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay chép, hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển cung kính tôn trọng ngợi khen.

    Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    8.-

    Nếu muốn nói kinh này
    Phải bỏ lòng ganh hờn
    Ngạo dua dối tà ngụy
    Thường tu hạnh chất trực
    Chẳng nên khinh miệt người
    Cũng chẳng hí luận pháp
    Chẳng khiến kia nghi hối
    Rằng người chẳng thành Phật,
    Phật tử đó nói pháp
    Thường nhu hòa hay nhẫn
    Từ bi với tất cả
    Chẳng sanh lòng biếng trễ,
    Bồ-tát lớn mười phương
    Thương chúng nên hành đạo
    Phải sanh lòng cung kính
    Đó là Đại sư ta,
    Với các Phật Thế Tôn
    Tưởng là cha Vô thượng
    Phá nơi lòng kiêu mạn
    Nói pháp không chướng ngại
    Pháp thứ ba như thế
    Người trí phải giữ gìn
    Một lòng An lạc hạnh
    Vô lượng chúng cung kính.

    GIẢNG:

    Pháp thứ ba Phật dạy người nói kinh Pháp Hoa được an lạc, là chớ có ôm lòng ganh ghét dua dối, chớ có khinh mắng người học đạo tối dốt. Đối với người cầu Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát tuy căn cơ họ có chậm lụt, nhưng cũng không được nói làm cho họ xúc não thối Bồ-đề tâm, mất lòng tin, đó là việc làm trái đạo lý. Vì ai cũng có sẵn Tri kiến Phật. Người giảng nói kinh có bổn phận phải khơi dậy niềm tin nơi mọi người, để họ phấn khởi tu tiến. Nếu khinh chê làm xúc não họ, chẳng khác nào mình phủ nhận hạt giống Bồ-đề nơi họ. Đó là bệnh là tội lỗi, chúng ta phải dè dặt, phải chừa. Nếu chúng ta không làm cho người đủ niềm tin phấn khởi tu hành, chớ có làm cho họ thối Bồ-đề tâm. Phật dạy người nói kinh phải có lòng từ đối với chúng sanh, kính thờ Phật coi như cha, Bồ-tát coi như bậc Đại sư. Đồng thời Phật còn dạy người nói kinh chớ có hí luận, tức là dùng pháp này công kích pháp kia, đứng bên này công kích bên kia, đứng bên kia công kích bên này, gây nên sự chia rẽ tranh chấp lẫn nhau, đó là bệnh. Và, đây là cái bệnh của người giảng đạo nữa, nếu người nghe mà chăm chú, tiếp thu nhanh, ưa nghe pháp mình nói, thì nói say mê không chán, quên ngày quên giờ, nếu người nghe lơ đễnh, tiếp thu chậm, thì nói qua loa vài ba câu thôi, không nói nữa. Ở đây, Phật dạy phải điều hòa đừng nói quá nhiều cũng đừng nói quá ít. Nếu nói nhiều quá thì dư, khiến người nghe sanh lòng khinh thường nhàm chán không tu được. Còn nói ít quá thì phụ lòng kính ngưỡng khát vọng của người nghe, và người nghe cũng không hiểu để mà tu tiến. Điều này tuy nhỏ nhưng quan trọng, vì vậy mà phải cố gắng điều hòa đừng để thiên lệch, chớ nói dư mà cũng đừng nói thiếu. Đó là hạnh An lạc thứ ba.

    CHÁNH VĂN:

    9.- Lại Văn-thù-sư-lợi! Các vị đại Bồ-tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt, có vị nào trì kinh Pháp Hoa này ở trong hàng người tại gia, xuất gia sanh lòng từ lớn, ở trong hạng người chẳng phải Bồ-tát sanh lòng bi lớn, phải nghĩ thế này: Những người như thế thời là mất lợi lớn. Đức Như Lai phương tiện tùy nghi nói pháp chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng tin, chẳng hỏi. Người đó dầu chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, lúc ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, người đó tùy ở chỗ nào, ta dùng sức thần thông, sức trí tuệ dẫn dắt đó khiến được trụ trong pháp này.

    Văn-thù-sư-lợi! Vị đại Bồ-tát đó ở sau lúc Như Lai diệt độ nếu thành tựu được pháp thứ tư này thời lúc nói pháp này không có lầm lỗi, thường được hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Bà-la-môn, cư sĩ thảy cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, hàng chư thiên ở trên hư không vì nghe pháp cũng thường theo hầu. Nếu ở trong xóm làng thành ấp, rừng cây vắng vẻ, có người đến muốn gạn hỏi, hàng chư thiên ngày đêm thường vì pháp mà vệ hộ đó, có thể khiến người nghe đều được vui mừng.

    Vì sao? Vì kinh này được sức thần của tất cả các đức Phật thuở quá khứ, vị lai, hiện tại giữ gìn vậy. Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp Hoa này ở trong vô lượng cõi nước, nhẫn đến danh tự còn chẳng được nghe, hà huống là được thấy, thọ trì, đọc tụng.

    Văn-thù-sư-lợi! Thí như vua Chuyển Luân Thánh vương sức lực mạnh mẽ muốn dùng oai thế hàng phục các nước, mà các Vua nhỏ chẳng thuận mạng lịnh, bấy giờ Chuyển Luân Thánh vương đem các đạo binh qua đánh dẹp, Vua thấy binh chúng những người đánh giặc có công, liền rất vui mừng theo công mà thưởng ban. Hoặc ban cho ruộng, nhà, xóm, làng, thành, ấp, hoặc ban cho đồ y phục trang nghiêm nơi thân, hoặc cho các món trân bảo, vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mã não, san-hô, hổ phách, voi, ngựa, xe cộ, tôi tớ, nhân dân, chỉ viên minh châu trong búi tóc chẳng đem cho đó.

    Vì sao? Vì riêng trên đảnh Vua có một viên châu này, nếu đem cho đó thời các quyến thuộc của Vua ắt rất kinh lạ.

    Văn-thù-sư-lợi! Như Lai cũng như thế, dùng sức Thiền định trí huệ được cõi nước pháp, giáo hóa trong ba cõi mà Ma vương chẳng khứng thuận phục, các tướng Hiền Thánh của Như Lai cùng ma đánh nhau. Những người có công lòng cũng vui mừng, ở trong hàng chúng vì nói các kinh khiến tâm kia vui thích, ban cho các pháp Thiền định, giải thoát, vô lậu, căn lực. Và lại ban cho thành Niết-bàn, bảo rằng được diệt độ để dẫn dắt lòng chúng làm cho đều được vui mừng, mà chẳng vì đó nói kinh Pháp Hoa này.

    Văn-thù-sư-lợi! Như vua Chuyển Luân thấy các binh chúng những người có công lớn, lòng rất hoan hỉ đem viên minh châu khó tin từ lâu ở trong búi tóc chẳng vọng cho người, mà nay cho đó.

    Đức Như Lai cũng lại như thế, làm vị đại Pháp vương trong ba cõi, đem pháp mầu giáo hóa tất cả chúng sanh. Thấy quân Hiền Thánh cùng ma ngũ ấm, ma phiền não, ma chết, đánh nhau có công lao lớn, diệt ba độc, khỏi ba cõi, phá lưới ma. Lúc ấy Như Lai cũng rất vui mừng, kinh Pháp Hoa này có thể khiến chúng sanh đến bậc “Nhứt thiết trí” là pháp mà tất cả thế gian nhiều oán ghét khó tin, trước chưa từng nói mà nay nói đó.

    Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhứt của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như Vua sức mạnh kia lâu gìn viên minh châu mà nay mới cho đó.

    Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của các đức Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc trên hết, lâu ngày giữ gìn chẳng vọng tuyên nói, mới ở ngày nay cùng với các ông mà bày nói đó.

    Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    10.-

    Thường tu hành nhẫn nhục
    Thương xót tất cả chúng
    Mới có thể diễn nói
    Kinh của Phật khen ngợi.
    Đời mạt thế về sau
    Người thọ trì kinh này
    Với tại gia, xuất gia
    Và chẳng phải Bồ-tát
    Nên sanh lòng từ bi
    Những người đó chẳng nghe
    Chẳng tin kinh pháp này
    Thời là mất lợi lớn
    Khi ta chứng Phật đạo
    Dùng các sức phương tiện
    Vì nói kinh pháp này
    Làm cho trụ trong đó.
    Thí như vua Chuyển Luân
    Thánh vương có sức mạnh
    Binh tướng đánh có công
    Thưởng ban những đồ vật
    Voi, ngựa và xe cộ
    Đồ trang nghiêm nơi thân
    Và những ruộng cùng nhà
    Xóm làng, thành ấp thảy
    Hoặc ban cho y phục
    Các món trân báu lạ
    Tôi tớ cùng của cải
    Đều vui mừng ban cho,
    Nếu có người mạnh mẽ
    Hay làm được việc khó
    Vua mới mở búi tóc
    Lấy minh châu cho đó.
    Đức Như Lai cũng thế
    Là Vua trong các pháp
    Nhẫn nhục sức rất lớn
    Tạng báu trí huệ sáng
    Dùng lòng từ bi lớn
    Đúng như pháp độ đời
    Thấy tất cả mọi người
    Chịu các điều khổ não
    Muốn cầu được giải thoát
    Cùng các ma đánh nhau,
    Phật vì chúng sanh đó
    Nói các món kinh pháp
    Dùng sức phương tiện lớn
    Nói các kinh điển đó,
    Đã biết loài chúng sanh
    Được sức mạnh kia rồi
    Rốt sau mới vì chúng
    Nói kinh Pháp Hoa này
    Như vua Thánh mở tóc
    Lấy minh châu cho đó.
    Kinh này là bậc tôn
    Trên hết trong các kinh
    Ta thường giữ gìn luôn
    Chẳng vọng vì mở bày
    Nay chính đã phải lúc
    Vì các ông mà nói.
    Sau khi ta diệt độ
    Người mong cầu Phật đạo
    Muốn được trụ an ổn
    Diễn nói kinh pháp này
    Phải nên thường gần gũi
    Bốn pháp trên như thế.
    Người đọc tụng kinh này
    Thường không bị ưu não
    Lại không có bệnh đau
    Nhan sắc được trắng sạch
    Chẳng sanh nhà bần cùng
    Dòng ti tiện xấu xa
    Chúng sanh thường ưa thấy.
    Như ham mộ Hiền Thánh
    Các đồng tử cõi trời
    Dùng làm kẻ sai khiến
    Dao gậy chẳng đến được
    Độc dữ chẳng hại được
    Nếu người muốn mắng nhiếc
    Miệng thời liền ngậm bít
    Dạo đi không sợ sệt
    Dường như sư tử vương
    Trí huệ rất sáng suốt
    Như mặt trời chói sáng.
    Nếu ở trong chiêm bao
    Chỉ thấy những việc tốt
    Thấy các đức Như Lai
    Ngồi trên tòa sư tử
    Các hàng chúng Tỳ-kheo
    Vây quanh nghe nói pháp
    Lại thấy các Long thần
    Cùng a-tu-la thảy
    Số như cát sông Hằng
    Đều cung kính chấp tay
    Tự ngó thấy thân mình
    Mà vì chúng nói pháp.
    Lại thấy các đức Phật
    Thân tướng thuần sắc vàng
    Phóng vô lượng hào quang
    Soi khắp đến tất cả
    Dùng giọng tiếng Phạm âm
    Mà diễn nói các pháp
    Phật vì hàng tứ chúng
    Nói kinh pháp Vô thượng
    Thấy thân mình ở trong
    Chấp tay khen ngợi Phật
    Nghe pháp lòng vui mừng
    Mà vì cúng dường Phật
    Được pháp Đà-la-ni
    Chứng bậc Bất thối trí,
    Phật biết tâm người đó
    Đã sâu vào Phật đạo
    Liền vì thọ ký cho
    Sẽ thành tối Chánh giác.
    Thiện nam tử người này!
    Sẽ ở đời vị lai
    Chứng được Vô lượng trí
    Nên đạo lớn của Phật,
    Cõi nước rất nghiêm tịnh
    Rộng lớn không đâu bằng
    Cũng có hàng tứ chúng
    Chấp tay nghe nói pháp.
    Lại thấy thân của mình
    Ở trong rừng núi vắng
    Tu tập các pháp lành
    Chứng thiệt tướng các pháp
    Sâu vào trong Thiền định
    Thấy các Phật mười phương
    Các Phật thân sắc vàng
    Trăm phước tướng trang nghiêm
    Nghe pháp vì người nói
    Thường có mộng tốt đó.
    Lại mộng làm Quốc vương
    Bỏ cung điện quyến thuộc
    Và ngũ dục thượng diệu
    Đi đến nơi đạo tràng
    Ở dưới cội bồ-đề
    Mà ngồi tòa sư tử
    Cầu đạo quả bảy ngày
    Được trí của các Phật
    Thành đạo Vô thượng rồi
    Dậy mà chuyển pháp luân
    Vì bốn chúng nói pháp
    Trải nghìn muôn ức kiếp
    Nói pháp mầu vô lậu
    Độ vô lượng chúng sanh
    Sau sẽ vào Niết-bàn
    Như khói hết đèn tắt.
    Nếu trong đời ác sau
    Nói pháp bậc nhứt này
    Người đó được lợi lớn
    Các công đức như trên.

    GIẢNG:

    Pháp thứ tư mà người nói kinh Pháp Hoa cần phải có để được an lạc là khởi tâm từ bi lớn. Tại sao đối với hàng tại gia xuất gia thì khởi lòng từ, còn đối với người chẳng phải Bồ-tát thì khởi lòng bi? Vì hàng tại gia xuất gia là những người đang tiến tu, nên Bồ-tát làm lợi lạc khiến cho họ được thăng tiến an vui nên nói là khởi lòng từ; còn đối với hàng chúng sanh chưa tu theo giáo pháp của Phật, lòng tràn đầy khổ đau, vì vậy mà Bồ-tát thương xót dùng mọi phương tiện để cứu khổ khiến cho họ được an vui. Nên nói đối với hàng chúng sanh, Phật nói pháp mà không nghe không hiểu không tin... thì Bồ-tát phải phát tâm đại bi, nguyện rằng: Khi mình được thành Phật thì những người đó ở đâu cũng dùng phương tiện dẫn dắt cho họ tu. Phàm phu có cái bệnh nếu biết điều nào hay có lợi ích thì khuyến khích khuyên bảo cho người làm, mà họ không làm thì bực bội, không nói nữa để khổ cho đáng kiếp, không thèm cứu. Tâm Bồ-tát thì không phải vậy, vẫn trải lòng từ bi mà cứu độ khi họ khổ.

    Phật nói kinh Pháp Hoa rất quí, được chư Phật ba đời hộ trì. Có vô lượng cõi nước không được thấy nghe kinh Pháp Hoa huống là được thọ trì đọc tụng. Điều này làm cho chúng ta có chút nghi vấn. Kinh Pháp Hoa được in ấn và phát hành rất nhiều, tại sao Phật lại nói không được nghe đến tên kinh và thấy kinh để thọ trì? Chúng ta nhớ kinh Pháp Hoa là chỉ cho Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người, nếu không được gặp thiện hữu tri thức khai thị, thì làm sao mà tin hiểu, nên nói khó thấy nghe huống là thọ trì. Chớ không phải quyển kinh Pháp Hoa được in bằng giấy mực mà chúng ta đọc tụng hằng ngày. Tuy nhiên, nhờ đọc tụng kinh Pháp Hoa bằng giấy mực mà chúng ta khéo nhận ra quyển Kinh không lời không chữ mà Phật đã chỉ. Vậy ở đây, quí vị đã từng đọc tụng hằng chục hằng trăm bộ, có nhận ra quyển Kinh không lời chưa?

    Dưới đây Phật dùng ví dụ nói lên cái quí của kinh Pháp Hoa để cho chúng ta thấy, ở vào từng trường hợp đặc biệt nào Phật mới chỉ cho. Phật thí dụ Chuyển Luân Thánh vương muốn hàng phục các nước nhỏ, mà các nước nhỏ không tuân mệnh lệnh, nên Vua đem binh đánh dẹp. Quan quân đánh giặc có công, Vua tùy theo công mà thưởng ban cho ngọc ngà châu báu hay thành ấp... Đối với vị tướng lãnh có công lớn nhất thì Vua lấy hạt minh châu trong búi tóc mà thưởng. Khi Vua thưởng hạt minh châu cho vị tướng lãnh có công lớn, thì tất cả quyến thuộc rất kinh ngạc. Vì hạt minh châu là vật quí nhất, mà Vua lấy đem ra ban thưởng, thật là chuyện hiếm có. Chuyển Luân Thánh vương là dụ cho đức Phật, binh tướng là dụ cho Hiền Thánh tăng đệ tử Phật, giặc phải dẹp là ma ngũ ấm, ma phiền não, ma chết... Vậy chư Tăng Ni có mặt ở đây đã đánh trận nào với ma chưa và đánh như thế nào?

    Ma ngũ ấm là kiến chấp thân năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Thật ngã. Do chấp thân năm ấm là Thật ngã, nên không nhận ra Tri kiến Phật sẵn có nơi mình. Bây giờ phải dùng kiếm Trí tuệ Bát-nhã đâm thủng con ma ngũ ấm, thì tình chấp thân tâm là Thật ngã không còn nữa, Tri kiến Phật hiện tiền. Mỗi tối chúng ta lên chùa hăm he “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, sắc không thật, thọ không thật, tưởng không thật, hành, thức cũng không thật... Tôi xin hỏi, có phải quí vị là binh tướng của Phật đang tuyên chiến với quân ma không? Tuy tuyên chiến với ma mà gặp ma không nỡ giết vẫn còn thương ma, nên cũng thấy “ngũ uẩn giai hữu”, vì vậy bị thua ma dài dài. Ma phiền não thì rất nhiều, nào là tham, sân, si, nào là mạn, nghi, ác kiến... Với ma tham, quí vị có tuyên chiến với nó chưa? Thắng nó hay là bại? Ma sân coi bộ hung dữ quá, thắng nó được mấy trận rồi? Hay là bất như ý là bực tức hiện ra mặt, ra lời, ra tay chân, xong rồi hối hận? Như vậy là thua ma, làm tôi mọi cho nó đó! Nên, khi ma tham ma sân dấy lên, liền biết nó không thật, không có cứ điểm, không có nơi chốn, thì nó tự lặn mất, như vậy là thắng ma. Ma chết là con người khi chết chưa siêu quanh quẩn phá phách người sống. Và sự chết làm mất thân mạng không còn đủ duyên để tiến tu cũng gọi là ma. Khi thân này bệnh, điều trị không khỏi, cái chết sẽ đến nên rất lo sợ, hoặc ở chỗ vắng vẻ có những hiện tướng bất tường hiện ra, chúng ta run sợ đó là sợ ma chết. Tất cả những thứ ma chết chúng ta đều sợ, hễ sợ là chướng đạo, thế nên phải chiến thắng nó. Phá sạch ma ngũ ấm, ma phiền não, ma chết, mới thoát khỏi luân hồi sanh tử trong ba cõi, không còn bị trói buộc trong lưới ma nữa.

    Việc làm này đối với Phật là một công trận lớn nhất, nên Phật rất vui mừng đem kinh Pháp Hoa giảng nói khiến cho được Nhất thiết chủng trí, tức là khiến cho thành Phật để thưởng người công đầu. Trong cuộc chiến với ma quân tùy theo công trận lớn nhỏ, mà Phật có những pháp để thưởng công, nào là Thiền định, giải thoát, nào là vô lậu, căn lực, thành Niết-bàn, hễ chiến đấu có công là được thưởng. Chỉ đặc biệt người có công lớn nhất là được thưởng kinh Pháp Hoa. Xét lại xem, chúng ta có được Phật thưởng công không? Chắc vô phần! Nếu không được thưởng công tức là chưa chiến thắng ma quân. Chúng ta chưa được phần thưởng nào, huống là được thưởng kinh Pháp Hoa! Nhưng tại sao hôm nay chúng ta lại được học kinh Pháp Hoa? Như vậy có trái ngược không? Ở đây chúng ta học kinh Pháp Hoa là học văn tự nghĩa lý, chớ kinh Pháp Hoa vô tự, tức Tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người, chỉ có bậc Thánh tăng phá tan quân ma vượt khỏi lưới ma, Tri kiến Phật mới hiện tiền, nói theo phẩm này thì mới được Phật ban thưởng. Còn chúng ta chưa được dự phần, vì chưa phá được quân ma cũng như chưa ra khỏi lưới ma! “Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của các đức Phật Như Lai” là sao? Vì kinh Pháp Hoa là chỉ Tri kiến Phật, chính Thái tử Tất-đạt-đa đã ngộ, nên thành Phật. Muốn chỉ cho người thì rất khó, vì nó không có tướng mạo, vượt ngoài ngôn ngữ, suy tư, làm sao chỉ được! Nó hằng hiện hữu nơi mỗi người mà chỉ không được, nên gọi là tạng bí mật của Như Lai. Khi căn lành tròn đủ, sạch hết các ma chướng lúc đó mới thấy được tạng bí mật này. Sở dĩ từ lâu Phật không nói kinh Pháp Hoa là tại sao? Vì tất cả chư Phật nhân kinh này mà được thành, song khó tin khó nhận. Đối với người căn cơ thấp kém họ không tin nên Phật không nói. Khi nào phiền não sạch, trí tuệ sáng, Phật chỉ, liền nhận ra tức thành Phật. Đó là dụ “kế châu” tức hạt châu trong búi tóc.

    Như vậy, trong bộ kinh Pháp Hoa có tất cả bảy dụ: dụ Nhà lửa với ba cỗ xe, dụ Dược thảo, dụ Cùng tử, dụ Hệ châu, dụ Hóa thành, dụ Tạc tỉnh, dụ Kế châu. Từ đây về sau thì Phật không dùng thí dụ nữa.

    Phẩm An Lạc Hạnh là phẩm dạy cho chúng ta thực hành nên rất quan trọng. Người muốn nói kinh Pháp Hoa phải cần có đủ bốn điều kiện để được an lạc không bị chướng ngại, đó là:

    1.- Nhẫn nhục nhu hòa, không kinh sợ, quán tướng như thật của các pháp... Không thân cận người có quyền thế, ngoại đạo, kẻ xướng ca, kẻ hung ác...

    2.- Không nói lỗi người, không oán hờn người, không dùng pháp Tiểu thừa để giáo hóa mà chỉ dùng pháp Đại thừa giảng giải, khiến được Nhất thiết chủng trí.

    3.- Không ganh ghét dua dối, không khinh mắng người học đạo...

    4.- Phải có đầy đủ lòng từ bi lớn đối với mọi chúng sanh, dắt dẫn họ an trụ trong pháp Phật...

    Phẩm Trì ở trước là Phật giao phó kinh Pháp Hoa cho người sau, đến phẩm này Phật dạy bốn hạnh cần phải có, để đem kinh Pháp Hoa truyền bá được an lạc không bị chướng ngại. Trong bộ kinh, phẩm trước có liên hệ với phẩm sau. Như vậy trì kinh và đem kinh ra giáo hóa đó là phần Thị và Ngộ Phật tri kiến theo tinh thần của Thiền sư Minh Chánh. Nếu không thấy (thị) làm sao mà nguyện trì và không ngộ làm sao giáo hóa? 


  • 16. PHẨM 15: TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT

    PHẨM 15

    TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT


    Tùng Địa Dũng Xuất nghĩa là từ đất vọt mạnh lên. Ý nói chư Bồ-tát từ dưới đất nứt vọt lên rất nhiều. Phẩm An Lạc Hạnh Phật dạy người trì kinh Pháp Hoa và truyền bá Pháp Hoa, phải tu bốn hạnh như đã nêu lên ở trước thì mới được an lạc. Vì Phật khuyến khích chư Bồ-tát và tất cả chúng nên duy trì kinh Pháp Hoa, để cho chúng sanh cõi Ta-bà được biết và thọ trì, vì vậy chư Bồ-tát phát nguyện thực hành.

    CHÁNH VĂN:

    1.- Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ-tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng đứng dậy chấp tay làm lễ mà bạch Phật rằng:

    - Thế Tôn! Nếu bằng lòng cho chúng con lúc sau khi Phật diệt độ ở tại cõi Ta-bà này siêng tu tinh tấn, giữ gìn, đọc tụng, biên chép, cúng dường kinh điển này, thời chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng nói đó.

    Khi đó, Phật bảo các chúng đại Bồ-tát:

    - Thiện nam tử! Thôi đi chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta-bà của ta tự có chúng đại Bồ-tát số đông bằng số cát của sáu muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ-tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì đọc tụng rộng nói kinh này.

    GIẢNG:

    Phật khuyến khích các vị Bồ-tát nên duy trì kinh Pháp Hoa ở cõi Ta-bà, thì chư Bồ-tát ở phương khác phát nguyện xin được ở cõi Ta-bà tinh tấn gìn giữ, đọc tụng, biên chép, cúng dường kinh điển này, tại sao Phật lại từ chối? Vì ở cõi Ta-bà số chúng Bồ-tát và quyến thuộc đông không thể tính đếm được, sau khi Phật diệt độ có thể hộ trì đọc tụng rộng nói kinh này. Như vậy, có phải Phật dành phần thọ trì truyền bá kinh Pháp Hoa cho chư Bồ-tát, đệ tử của Phật không?

    CHÁNH VĂN:

    2.- Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta-bà ở trong tam thiên đại thiên cõi nước, đất đều rúng nứt, mà ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị đại Bồ-tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ-tát đó thân đều sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta-bà này, cõi đó trụ giữa hư không. Các vị Bồ-tát đó nghe tiếng nói của đức Thích-ca Mâu-ni Phật nên từ dưới mà đến. Mỗi vị Bồ-tát đều là bậc đạo thủ trong đại chúng, đều đem theo sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, huống là những vị đem năm muôn, bốn muôn, ba muôn, hai muôn, một muôn hằng hà sa quyến thuộc. Huống là nhẫn đến những vị đem một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần tư hằng hà sa, nhẫn đến một phần trong nghìn muôn ức na-do-tha phần hằng hà sa quyến thuộc. Huống là những vị đem nghìn muôn ức na-do-tha quyến thuộc, huống là đem ức muôn quyến thuộc, huống là đem nghìn muôn trăm muôn nhẫn đến một muôn, huống là đem một nghìn, một trăm nhẫn đến mười quyến thuộc, huống là đem năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử. Huống lại là những vị riêng một mình ưa hạnh viễn ly, số đông vô lượng vô biên dường ấy, tính đếm thí dụ chẳng có thể biết được.

    GIẢNG:

    Tới đây, lại có thêm những nghi vấn nữa là, tại sao chư Bồ-tát từ lòng đất rúng nứt vọt lên trụ trong hư không. Nếu từ lòng đất vọt lên thì các ngài không phải ở thế giới khác đến. Bồ-tát sao ở dưới đất nhiều vô số vậy? Phần nhiều lấy số sáu để định lượng, như vậy có hàm súc ý nghĩa gì đặc biệt?

    CHÁNH VĂN:

    3.- Các vị Bồ-tát đó từ dưới đất lên, đều đến nơi tháp đẹp bảy báu, chỗ của đức Đa Bảo Như Lai và Thích-ca Mâu-ni Phật, đến nơi rồi hướng về hai vị Thế Tôn mà đầu mặt lạy chân Phật, và đến chỗ các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, cũng đều làm lễ. Đi quanh bên mặt ba vòng, chấp tay cung kính, dùng các cách ngợi khen của Bồ-tát mà ngợi khen Phật, rồi đứng qua một phía, ưa vui chiêm ngưỡng hai đấng Thế Tôn.

    Từ lúc các đại vị Bồ-tát do từ dưới đất vọt lên  dùng các cách ngợi khen của Bồ-tát mà khen ngợi Phật, thời gian đó trải qua năm mươi tiểu kiếp.

    Bấy giờ, đức Thích-ca Mâu-ni Phật nín lặng ngồi yên, cùng hàng tứ chúng cũng đều nín lặng, năm mươi tiểu kiếp, vì do sức thần của Phật, khiến hàng đại chúng cho là như nửa ngày.

    Bấy giờ, hàng tứ chúng cũng nhờ sức thần của Phật, thấy các Bồ-tát đầy khắp vô lượng nghìn muôn ức cõi nước hư không.

    GIẢNG:

    Đoạn này lại có thêm nghi vấn nữa là, chư vị Bồ-tát từ dưới đất vọt lên đến đảnh lễ hai đức Phật, lễ xong thì tán thán khen ngợi, tán thán khen ngợi xong mất một khoảng thời gian là năm mươi tiểu kiếp. Chúng ta thấy đức Phật Thích-ca từ khi giáng sanh đến khi niết-bàn cho đến ngày nay chỉ có trên hai ngàn năm trăm năm (một tiểu kiếp bằng 16.800.000 năm) như vậy lẽ thật ở chỗ nào?

    CHÁNH VĂN:

    4.- Trong chúng Bồ-tát đó có bốn vị Đạo sư: 1.- Thượng Hạnh. 2.- Vô Biên Hạnh. 3.- Tịnh Hạnh.  4.- An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ-tát này là bậc thượng thủ xướng Đạo sư trong chúng đó, ở trước đại chúng, bốn vị đồng chấp tay nhìn đức Thích-ca Mâu-ni Phật mà hỏi thăm rằng:

    - Thưa Thế Tôn có được ít bệnh, ít não, an vui luôn chăng, những người đáng độ thọ giáo dễ chăng, chẳng làm cho đức Thế Tôn sanh mỏi nhọc chăng?

    Khi đó, bốn vị  đại Bồ-tát nói kệ rằng:

    Thế Tôn được an vui
    Ít bệnh cùng ít não,
    Giáo hóa các chúng sanh
    Được không mỏi nhọc ư?
    Lại các hàng chúng sanh
    Thọ hóa có dễ chăng?
    Chẳng làm cho Thế Tôn
    Sanh nhọc mệt đó ư?

    GIẢNG:

    Trong chúng Bồ-tát có bốn vị lãnh đạo là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh. Hạnh có nghĩa là hành. Tại sao bốn vị Bồ-tát này đều có tên chung là Hạnh? Đây là phần ngộ Tri kiến Phật, tức là sống được với Tri kiến Phật. Người mà sống được với Tri kiến Phật, là đã thực hành đầy đủ công hạnh của bậc Bồ-tát, hoặc là hạnh bậc thượng, hoặc là hạnh vô biên, hoặc là hạnh thanh tịnh, hoặc là hạnh an lập. Những hạnh đó giúp cho người ngộ được Tri kiến Phật thoát khỏi phiền não trần lao, cũng như những Bồ-tát từ đất vọt lên giữa hư không. 

    CHÁNH VĂN:

    5.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ-tát mà nói rằng:

    - Đúng thế! Đúng thế! Các thiện nam tử! Đức Như Lai an vui, ít bệnh, ít não, các hàng chúng sanh hóa độ được dễ, không có nhọc mệt.

    Vì sao? Vì các chúng sanh đó, từ nhiều đời nhẫn lại, thường được ta dạy bảo, mà cũng từng ở  nơi các đức Phật quá khứ, cung kính, tôn trọng, trồng các cội lành. Các chúng sanh đó mới vừa thấy thân ta, nghe ta nói pháp, liền đều tin nhận, vào được trong huệ của Như Lai; trừ người trước đã tu tập học hạnh Tiểu thừa; những người như thế ta cũng khiến được nghe kinh này, vào trong huệ của Phật.

    Lúc ấy, các vị đại Bồ-tát nói kệ rằng:

    Hay thay! Hay thay!
    Đức Đại Hùng Thế Tôn
    Các hàng chúng sanh thảy
    Đều hóa độ được dễ
    Hay hỏi các đức Phật
    Về trí huệ rất sâu
    Nghe pháp rồi tin làm
    Chúng con đều tùy hỉ.

    Khi đó, đức Thế Tôn khen ngợi các vị đại Bồ-tát thượng thủ:

    - Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Các ông có thể đối với đức Như Lai mà phát lòng tùy hỉ.

    GIẢNG:

    Đức Phật nhận rằng Ngài được cảnh thuận lợi nên giáo hóa dễ dàng cùng khắp không bỏ sót một ai. Phẩm này nằm trong phần Thị và Ngộ Tri kiến Phật. Phật chỉ cho chúng sanh nhận ra Tri kiến Phật. Song, Tri kiến Phật thì không có hình tướng, đã không hình tướng làm sao chỉ được? Vì vậy, mà Phật dùng những hình ảnh biểu trưng, để người được chỉ nhận ra nơi mình có sẵn Tri kiến Phật. Thế nên, ở đây mượn hình ảnh chư Bồ-tát từ lòng đất vọt lên. Hình ảnh này nói lên ý nghĩa gì? Trong quyển Góp Nhặt Cát Đá của Thiền sư Muju, do Đỗ Đình Đồng dịch có kể câu chuyện tên Giáo Lý Thượng Thừa:

    Có một anh chàng mù đi thăm người bạn thân, vì là bạn thân nên khi gặp nhau nói chuyện quên ngày giờ. Nói mãi tới khuya, anh mù từ giã ra về. Anh bạn sáng mắt mới đốt cây đèn lồng đưa cho anh mù cầm đi đường. Anh mù cười nói:

    - Đối với tôi, đêm như ngày, ngày như đêm, đốt đèn làm gì?

    Anh bạn sáng mắt giải thích:

    - Anh hãy cầm cây đèn, người ta thấy anh, họ tránh, không đụng anh.

    Anh bạn mù nghe nói có lý, nên nhận cây đèn lồng cầm đi về. Đi được nửa đường thì anh bị người đụng, anh la lên:

    - Anh không thấy tôi sao?

    Người đi đường nói:

    - Thưa, tôi không thấy anh.

    Anh mù trách:

    - Tôi cầm cây đèn đây mà anh không thấy à?

    Người đi đường đáp:

    - Thưa bạn, cây đèn bạn đã tắt tự bao giờ!

    Câu chuyện rất đơn giản thông thường, sao gọi là giáo lý thượng thừa? Trong nhà Phật, Trí được chia làm hai loại: Trí hữu sư và Trí vô sư. Trí hữu sư là sự hiểu biết do nghe học ở sách vở, ở các bậc thiện tri thức chỉ dạy, nhờ đó mà được sáng. Trí vô sư là cái biết có sẵn nơi mình, không do học hỏi ở người hay sách vở, mà do tu hành, phiền não lóng lặng tâm thanh tịnh, trí tuệ phát sáng, thấy biết đúng như thật. Trọng tâm kinh Pháp Hoa là khai thị Tri kiến Phật ở nơi mỗi người, để rồi mỗi người tự ngộ nhập Tri kiến Phật của chính mình. Câu chuyện Giáo Lý Thượng Thừa nói lên ý nghĩa: Trí vô sư là cái có sẵn nơi mình, khi nó phát sáng thì thấy biết các pháp đúng như thật không lầm, tránh khỏi mọi tai ách khốn khổ và đi đúng đích. Nếu trí tuệ chưa sáng dù người khác có muốn giúp cũng không giúp được, ngay cả Bồ-tát hay Phật cũng không giải cho mình thoát khỏi ách nạn, sanh tử luân hồi. Thế nên, Trí vô sư là trí thiết yếu, mà mỗi người chúng ta cần phải phát minh. Người phát minh được Trí vô sư phải là bậc Thượng thừa mới thực hiện nổi, chớ hạng tầm thường thì không kham được. Xưa ngài Đức Sơn là người tinh thông Kinh Luật, từng giải kinh Kim Cang, nghe phương Nam Thiền tông thạnh hành, Sư bất bình nói: “Kẻ xuất gia ngàn muôn kiếp học oai nghi tế hạnh của Phật mà chẳng được thành Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ‘trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật’. Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ơn Phật.” Sư bèn khăn gói lên đường mang theo bộ Thanh Long Sớ Sao. Trên đường đi gặp bà già bán bánh, Sư bèn nghỉ chân bảo bà lấy ít bánh điểm tâm. Bà chỉ gánh kinh của Sư hỏi:

    - Gói ấy là sách vở gì?

    Sư bảo:

    - Thanh Long Sớ Sao.

    Bà hỏi:

    - Thầy thường giảng kinh gì?

    Sư đáp:

    - Kinh Kim Cang.

    Bà nói:

    - Tôi có một câu hỏi, nếu Thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp chẳng được, mời Thầy đi nơi khác.

    Sư nhận lời. Bà hỏi:

    - Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.” Xin hỏi Thượng tọa điểm tâm nào?

    Sư không đáp được bèn lên đường đi Long Đàm.

    Đến pháp đường gặp Long Đàm, Sư nói:

    - Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi, đàm chẳng thấy mà long cũng không hiện.

    Sùng Tín bảo:

    - Ngươi đã gần đến Long Đàm.

    Sư không đáp được, liền dừng lại đây.

    Một đêm Sư đứng hầu, Sùng Tín bảo:

    - Đêm đã khuya sao chẳng xuống?

    Sư kính chào bước ra, lại trở vào, thưa:

    - Bên ngoài trời tối đen.

    Sùng Tín thắp đèn đưa Sư, Sư toan tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Sư đại ngộ, liền lễ bái. Sùng Tín hỏi:

    - Ngươi thấy cái gì?

    Sư thưa:

    - Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư lão Hòa thượng trong thiên hạ.

    Đức Sơn ngộ cái gì? Sư nói bên ngoài trời tối đen. Câu ấy chỉ trời tối mà cũng ngụ ý nói con đang mù mịt, không biết làm sao ngộ được Bản tánh của mình. Đức Sơn than tối, Sùng Tín cho đèn, nhưng Đức Sơn vừa cầm đèn thì Sùng Tín liền thổi tắt. Tại sao? Vì người tối dù cho có đèn cũng không thấy cũng không cứu cho được sáng. Khi Sùng Tín thổi tắt đèn, Đức Sơn mới chợt thấy rằng cái sáng phải tự nơi mình phát ra, chớ không phải từ người khác cho mà được, nên ngay đó đại ngộ. Chúng ta thấy lý Thiền cùng với lý kinh Đại thừa rất gần nhau.

    Câu chuyện sau đây cũng nói lên ý nghĩa này.

    Tuyết Phong và Nham Đầu là hai huynh đệ cùng học ở Đức Sơn, Nham Đầu đã đạt được lý Thiền, Tuyết Phong thì còn băn khoăn. Một hôm hai vị cùng đi đến Ngao Sơn, gặp trời trở tuyết nên dừng lại, Nham Đầu mỗi ngày cứ ngủ, Tuyết Phong một bề ngồi thiền. Một hôm Sư gọi:

    - Sư huynh, Sư huynh hãy dậy.

    Nham Đầu hỏi:

    - Làm cái gì?

    Sư nói:

    - Đời nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thúy đi hành cước đến nơi chốn, bị y chê cười, từ ngày đến đây sao chỉ lo ngủ?

    Nham Đầu nạt:

    - Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như thổ địa, ngày sau còn làm mê hoặc người.

    Sư chỉ trong ngực nói:

    - Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám tự dối.

    - Nếu thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì ông đuổi dẹp.

    - Khi tôi mới đến Diêm Quan, nghe nói nghĩa Sắc Không liền được chỗ vào.

    - Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.

    Lạ chưa, ngộ được lý Sắc Không là quá hay, tại sao kỵ ba mươi năm không cho nói đến? - Vì ngộ lý Sắc Không chỉ là cửa không ở ngoài, chưa vào nhà. Nếu lấy đó cho là đủ thì bệnh.

    Tuyết Phong lại nói:

    - Tôi nghe bài kệ qua sông của ngài Động Sơn, ngay đó tôi liền tỉnh.

    Ngài Động Sơn Lương Giới đang đi trên cầu nhìn xuống thấy bóng mình ở dưới sông, ngay đó Ngài làm bài kệ diễn đạt cái ngộ của Ngài. Sau này Tuyết Phong đọc có tỉnh ngộ. Khi thuật lại giai thoại này thì Nham Đầu nói:

    - Nếu thế ấy tự cứu cũng chưa xong.

    Tuyết Phong lại nói thêm:

    - Sau, hỏi Đức Sơn: “Việc Tông thừa tự trước con có phần chăng?” Đức Sơn đánh một gậy hỏi: “Nói cái gì?” Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy.

    Thùng lủng đáy là ngộ suốt rồi. Vậy mà Nham Đầu nạt:

    - Ông chẳng nghe nói “từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà”?

    Trí vô sư là cái có sẵn nơi mình, không phải từ cửa vào, dù chúng ta hỏi, thiện tri thức tạo duyên cho chúng ta ngộ, ngộ đó là cái duyên bên ngoài chưa phải là của báu trong nhà, nó là của người ta, không phải của mình.

    Câu chuyện này cho chúng ta thấy rõ Trí hữu sư là cái biết