Kinh Kim Cang giảng giải

25/03/2015 | Lượt xem: 13

Danh mục: Kinh - Luật

Lời mở

 

 Cùng tất cả các vị Độc giả hữu duyên,

Kinh Kim Cang hay kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là một bộ kinh quan trọng, có giá trị rất lớn trong Phật giáo Bắc Tông, đặc biệt cần thiết đối với người tu theo Thiền Tông.

Bộ kinh này đã được Thầy chúng tôi giảng dạy cách đây nhiều năm. Được sự cho phép của Thầy, chúng tôi đã ghi lại từ Dĩa giảng hầu đem lại lợi ích cho mình và người trên con đường học Đạo và hành Đạo.

Nương đây làm cơ duyên khai mở cho chúng ta một lối vào Đại Đạo, để có thể từ đó giải trừ những phiền não khổ đau trong cuộc sống.

Ước mong mọi người xem qua đều được nhiều lợi ich.

 Trong khi biên soạn, dù chúng tôi đã rất nhiều cố gắng nhưng khó tránh khỏi sơ sót. Kính mong các vị có duyên đọc được niệm tình hoan hỷ cho.

Thành kính tri ân tất cả.

 

Thân ái mến trao

Chùa Giác Thiên – Cuối Đông 2010

Ban Biên soạn

 

 

 

 


  • 1. DẪN KHỞI KINH KIM CANG

    DẪN KHỞI KINH KIM CANG

     

  • 2. XUẤT XỨ

      I. XUẤT XỨ:

     Kinh Kim Cang (Kim Cương) hay “Kim Cang

    Bát Nhã Ba La Mật Kinh” (Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật), theo văn Kinh thì chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói. Ngài nói tại vườn Cấp Cô Độc dưới cây ông Kỳ Đà, thuộc nước Xá Vệ (nay là Ấn Độ), Ngài nói với 1250 vị Tỳ Kheo.

    Bản Kinh đã được truyền sang Trung Hoa, có thể vào trước thế kỷ thứ VI. Được biết chính thức vào nhà Lương, triều đại Lương Võ Đế (thế kỷ thứ VI) qua việc con vua Lương Võ Đế là Thế Tử Chiêu Minh đã chia Kinh viết thành tiêu đề cho mỗi đoạn (Bản Kinh này còn được lưu truyền cho đến nay). Kinh vào Trung Hoa là từ chữ Phạn (Sansrit) dịch qua chữ Hán với nhiều dịch giả).

    Kinh Kim Cang được truyền vào Việt Nam lúc nào không được rõ, có lẽ vào đời nhà Lý (Lý Công Uẩn) đã có rồi. Đến đời nhà Trần (1225 - 1400), vua quan tiền Trần đã biết đến kinh này. Vua đầu nhà Trần là Trần Thái Tông (1225 -1258) nhơn đọc Kinh này đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ Tâm” mà hoát nhiên tự ngộ (Khóa Hư Lục - Trần Thái Tông). Kinh Kim Cang vào Việt Nam là được truyền từ Trung Hoa với văn chữ Hán.

     

     


     


     

    V- KINH KIM CANG VÀ 32 TIÊU ĐỀ CỦA THẾ TỬ CHIÊU MINH CON VUA LUƠNG VÕ ĐẾ SOẠN

     

    1. Pháp Hội Nhơn Do

    2. Thiện Hiên Khải Thỉnh

    3. Đại Thừa Chánh Tông

    4. Diệu Hạnh Vô Trụ

    5. Như Lý Thiệt Kiến

    6. Chánh Tín Hy Hữu

    7. Vô Đắc Sở Thuyết

    8. Y Pháp Xuất Sanh

    9. Nhứt Tướng Vô Tướng

    10. Trang Nghiêm Tịnh Độ

    11. Vô Vi Phước Thắng

    12. Tôn Trọng Chánh Giáo

    13. Như Pháp Thọ Trì

    14. Ly Tướng Tịch Diệt

    15. Trì Kinh Công Đức

    16. Năng Tịnh Nghiệp Chướng

    17. Cứu Cánh Vô Ngã

    18. Nhứt Thể Đồng Quán

    19. Pháp Giới Thông Quá

    20. Ly Sắc Ly Tướng

    21. Phi Thuyết Sở Thuyết

    22. Vô Pháp Sở Đắc

     

    23. Tịnh Tâm Hành Thiện

    24. Phước Trí Vô Tỷ

    25. Hóa Vô Sở Hóa

    26. Pháp Thân Phi Tướng

    27. Vô Đoạn Vô Diệt

    28. Bất Thọ Bất Tham

    29. Oai Nghi Tịch Tịnh

    30. Nhất Ly Tướng Hợp

    31. Tri Kiến Bất Sanh

    32. Ứng Hóa Phi Nhơn.

     

    VI - CÁC BẢN KINH KIM CANG DỊCH VÀ GIẢNG CHÚ Ở VIỆT NAM :

     

    Kim Cang dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh.

    Kim Cang dịch giải: Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

    Kim Cang giảng luận: tác giả Giang Vị Nông cư sĩ; Đồ Nam Lão Nhân dịch.

    Kim Cang giảng giải: Hòa Thượng Thích Thanh

    Từ dịch giảng.

    Kim Cang chú giải: Bạch Y cư sĩ Chí Huệ.

    Kim Cang chư gia dịch: Thích Huệ Thông.

     

    Kim Cang quyết nghi: của Ngài Hám Sơn giảng; Hạnh Huệ dịch.

     

    VII - TỰA KINH :

     

    Đề tựa kinh nói gọn theo văn Hán là KIM CANG KINH hay KIM CƯƠNG KINH, có chữ Hán là “cang” hay “cương” chỉ là tiếng phát âm có khác mà cùng một chữ một nghĩa ..................... Nếu nói đủ thì tựa Kinh văn Hán là :

    KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

    Và được dịch ra văn Việt là :

    KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

    Kinh này có tiếng Bắc Phạn là: Vajra Prajnapara- mita sutra.

    * Kim Cang (vajara): là tên một loại khoáng chất, thường được gọi là Kim Cương hay hột xoàn. Đặc tính của Kim Cang là rắn chắc, hay cắt cứa được các kim loại sắt thép ... hay các thứ đá khác. Màu sắc của nó trong sáng lóng lánh rất đẹp dùng làm đồ trang sức- một loại trang sức cao cấp.

    * Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita): Trong cụm từ này có hai từ: một là Bát Nhã, hai là Ba La Mật.

    - Bát Nhã: có nghĩa là Trí Huệ, sự sáng suốt trong tâm hồn, có sự hiểu biết đúng đắn.

    - Ba La Mật: được Trung Hoa dịch là Đáo bỉ ngạn có nghĩa: qua đến bờ kia, tức qua bờ mê đến bến giác, qua bờ đau khổ đến bờ an vui giải thoát.

    Ba La Mật lại có nghĩa là cứu cánh, tức là rốt ráo, trọn vẹn, cùng tột. Như vậy Bát Nhã Ba La Mật có chung nghĩa là một thứ Trí Huệ qua đến bờ kia, là Trí Huệ xóa mê lầm, xóa khổ đau, được an vui giải thoát. Đây là sự sáng suốt trọn vẹn trong tâm hồn. Sự sáng suốt rốt ráo cùng tột vượt hẳn mọi mê lầm giữa thế gian.

    Bát Nhã Ba La Mật là thứ Trí Huệ đặc biệt, có khả năng phi thường hay phá tan bao nhiêu si mê lầm chấp do những ý nghĩ sai lầm làm nên. Nó phá nát tất cả và trong sáng hóa tất cả vô minh phiền não khổ đau. Trí huệ này thật hay và Trí huệ này được thí dụ như là viên Kim Cương có khả năng cắt phá các thứ kim loại và đá, v...v... Như vậy, Bát Nhã Ba La Mật là Pháp (Trí huệ siêu việt) và Kim Cang là thí dụ (một vật rắn chắc, sắc bén nhất). Tựa Kinh này được cấu trúc bởi pháp và dụ như vậy, để nói lên có một thứ Trí Huệ kỳ diệu hay ho nhất có thể chiếu phá tất cả những gì si ám, làm sáng lên tất cả tâm hồn, hóa tan khổ đau, giải thoát sinh tử luân hồi.

     

    VIII - ĐẠI Ý KINH KIM CANG :

     Kinh Kim Cang thuyết minh nhằm làm sáng tỏ Tự Tánh KHÔNG Bát Nhã. Làm sáng lên TÂM Như Lai, tỏ rõ Tánh Tự TÂM, bật dậy An Trụ TÂM Bồ Đề vốn Vô Sở Trụ, phá chấp hình tướng danh từ, giải trừ si ám khổ đau.

     IX - BỐ CỤC :

     Bài Kinh Kim Cang có bố cục khá rõ ràng, tương đối chặt chẽ, có 3 phần rõ rệt: Mở bài - Thân bài - Kết.

     

    A. MỞ BÀI :

     Nói về không gian và thời gian cùng số người nghe pháp (1.250 vị Tỳ kheo).

    Ngài Tu Bồ Đề đại diện chúng thưa hỏi :

    Câu hỏi: “Có người thiện nam, kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM Bồ Đề thì làm sao mà trụ được, làm sao mà hàng phục được TÂM ấy ?”

    Đây là câu hỏi quan trọng để mở đầu và hình thành bài pháp lớn cho cả kinh.

     

    B. THÂN BÀI :

     Đức Phật thuyết minh trả lời làm sáng tỏ điều trọng yếu ở câu hỏi. Đó là làm sao để được Trụ và Hàng phục

    TÂM Bồ Đề. Ngài bằng lý luận rỗng để phá chấp trên hình tướng, trên danh từ văn chữ nhằm hiển bày Tự Tánh KHÔNG - TÂM Như Lai cho người.

    Với lý luận rỗng, Ngài gỡ hết sự đeo mang, bám chấp cho cả người đời và người đạo, để người được sạch trọi trơn mà ngộ ra TÂM Bồ Đề, mà TÂM này vốn rỗng rang trong lặng là: VÔ SỞ TRỤ.

    Tất cả việc lý luận diễn bày trong đây đều nhằm tuyên dương “Kinh Bát Nhã Ba La Mật”. Ngài muốn cho người phải biết đến Kinh này để mà thọ trì đọc tụng vì người giảng nói, hầu được đầy đủ cho đời hành đạo, là tự lợi và lợi tha tốt đẹp. Vì “Kinh này” là pháp hay mầu nhiệm nhất, giá trị nhất, năng lực nhất trong việc giải trừ phiền não khổ đau. Ngài muốn người hành đạo phải nên y theo pháp “Bát Nhã Ba La Mật” mà hành trì tu theo.

     

    C. KẾT :

     Dầu lời Ngài có nói, có diễn bày về Kinh về pháp Bát Nhã Ba La Mật này như vậy, nhưng rồi cũng chớ dính mắc vào lời văn hay chữ này. Đoạn này là lời nói “Từ bi” tối hậu dành cho người có duyên xem, nghe, đọc, học: chớ dính mắc văn Kinh.

     

  • 3. II. GIÁ TRỊ KINH

    II. GIÁ TRỊ KINH:

     Kinh Kim Cang là một bộ Kinh quan trọng, giá trị rất lớn trong Phật giáo Bắc Tông (Trung Hoa - Nhật Bản

    - Đại Hàn - Việt Nam) và là một bộ Kinh đặc biệt quan yếu của Thiền tông Trung Hoa. Giá trị này được diễn ra từ sự thật đến huyền thoại.

     

    A. HUYỀN THOẠI:

     Giá trị Kinh được nhìn qua các tác phẩm tiểu thuyết xưa và nay ở Trung Hoa và Việt Nam.

     1. Ở Trung Hoa

     Xưa: Với tác phẩm một trong “Thất tài tử” là sách “Tây Du Ký” (truyện Tề thiên Đại Thánh) của Ngô Thừa Ân.

    Sách này đã mở đầu bằng một nhân vật chính trong Kinh Kim Cang là “Tu Bồ Đề”, mà trong truyện gọi là Tiên Trưởng Tu Bồ Đề vị “Sư Phụ” của Mỹ Hầu Vương khỉ đá. Tiên đã đặt tên cho con “khỉ đá” là Tôn Ngộ Không, và truyền phép tiên cho. Việc truyền phép này (gõ đầu khỉ ba cái, vào canh ba truyền phép) là diễn theo việc truyền Kinh Kim Cang ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Để rồi sau đó bày cuộc thỉnh Kinh của Đường Tăng (Huyền Trang) trải qua 81 nạn, đây là diễn cụ thể về một Bồ Tát phải độ 9 loài chúng sanh vào Vô dư Niết Bàn. 9 loài ở đây được nhơn lên (9 x 9) thành 81. Đây chính là con số trong Kinh nhằm diễn lên các tình trạng trong tâm mà một hành giả phải vượt qua.

    Trong truyện, Đường Tăng đã trì niệm bài kinh “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” suốt hành trình. Nhờ năng lực Kinh này mà vượt qua hang ma động quỉ, bao nhiêu chướng ngại để cuối cùng đến được cõi Phật, thành tựu quả Phật, tất cả đều trông cậy vào “NGỘ KHÔNG”. KHÔNG là năng lực chủ yếu của Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

    (Tác phẩm này được xuất hiện vào đời Minh ở

    Trung Hoa).

    Nay (hậu bán Thế kỷ 20) với tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa, tác phẩm “Cô Gái Đồ Long” của Kim Dung. Trong truyện này một nhân vật hung tàn là Tạ Tốn với đôi tay nhuộm đầy máu gieo tang tóc khắp giang hồ, tội ác tày trời. Nhưng rồi Tạ Tốn lọt vào tay của các Tăng già Thiếu Lâm Tự. Tạ Tốn bị nhốt trong hầm đá, phía trên ba vị trưởng lão Thiếu Lâm canh giữ. Ba vị luôn tụng Kinh Kim Cang hằng ngày. Tạ Tốn nghe và đã giác ngộ, quên đi thân phận, giải trừ tội báo. Ông thốt lời giác ngộ với nghĩa tử Trương Vô Kỵ rằng: Thân ta đã là không thì ai đem băm dằm ta ra trăm ngàn mảnh thì cũng là không... chuyện giang hồ ta không còn lý tới nữa.

     

    2. Ở Việt Nam

    a. Đoạn Trường Tân Thanh

    Qua tuyệt tác thi ca của thi hào Nguyễn Du là tác phẩm văn thơ “Đoạn Trường Tân Thanh” hay Truyện Kiều. Tác phẩm được chào đời sau năm 1813. Sau khi Tiên Sinh đi sứ sang Trung Hoa về, Tiên Sinh đã giác ngộ Kinh Kim Cang, và viết nên tác phẩm. Đây vừa là một chuyện thật mà cũng là một chuyện hư.

    (Thật) Ở Trung Hoa, khi làm xong công vụ sứ thần, Tiên Sinh có chương trình tham quan thắng tích trên đất Trung Hoa. Việc này được Tiên Sinh ghi lại trên sách: Bắc Hành Thi Tập. Theo đây, Tiên Sinh có ghi lại cơ duyên ngộ Kinh Kim Cang của mình. Khi Tiên Sinh đứng trước “Đài đá chia Kinh” của Thế Tử Chiêu Minh, Tiên Sinh mới hay rằng: Kinh Vô Tự mới là Chơn Kinh (Thế Tử Chiêu Minh đời Lương thế kỷ thứ VI, cách Nguyễn Du thế kỷ XIX (19) là 13 thế kỷ).

    Tiên Sinh đã đọc Kinh Kim Cang cả ngàn lần, mãi đến khi được đứng trước “Đài đá không Kinh không người mới nhận ra Kinh chơn thật”.

    Tiên Sinh phải chăng sau khi đã “Ngộ” chân Kinh và để đánh dấu lần thay đổi vĩ đại, trọng đại này mà lấy cho mình cái tên là “Tố Như”? (Tố Như = Rỗng Không, trong sạch không nhuốm nhơ, thênh thang trùm khắp, lặng yên bất động). Tố Như chính là TÂM “Như Lai”, là “Vô Sở Trụ” mà trong Kinh Kim Cang đã đặc biệt nói đến.

    Từ Trí Huệ Tố Như (Trí Huệ Kim Cang), Tiên sinh đã hình thành nên thi phẩm vĩ đại, một thi phẩm hay tuyệt cả hình thức lẫn nội dung xưa nay chưa từng có.

    Tiên  sinh  đã  thực  sự  có  chủ  ý  khi  hình  thành tác phẩm. Theo nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Hoa) thì câu truyện khi nàng Kiều nhảy xuống

     sông Tiền Đường là hết. Nhưng Tiên Sinh đã thêm đoạn sau cho nàng Kiều sống dậy và đoàn tựu với người yêu với gia đình, cha mẹ, em út. Đoạn này Tiên sinh đã khéo phương tiện mà cứu khổ cho người đời (thả một bè lau cứu người). Tiên sinh đã dựng nên nhân vật Giác Duyên một Sư ni - một bà mẹ Quan Âm - đã chắn lưới vớt Kiều và cứu sống đời Kiều, và Kiều được đổi tên là Trạc Tuyền thực thụ (Trạc Tuyền: một dòng suối trong trẻo không nhuốm nhơ, vẫn đục). Giải pháp của Tiên sinh Nguyễn Du quả là giải pháp nhiệm mầu, là giải pháp nhà Phật, là giải pháp Kinh Kim Cang - Kinh Bát Nhã Ba La Mật.

    “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ tài”.

     

    b. Quan Âm Thị kính:

     Đây cũng là một tác phẩm tuyệt diệu nhưng không biết tác giả là ai.

    Tác phẩm này đã nói rất rõ về chữ TÂM - Năng lực của TÂM. Một người khi rõ suốt về TÂM thì sẽ giải thoát được mọi ràng buộc, qua tất cả khổ nạn giữa trần ai này.

    Nhân vật Thị Kính là một cô gái có chồng nhưng bị một oan tình. Vì muốn làm đẹp cho chồng, cắt sợi râu khi chồng ngủ say mà bị gia đình chồng cho là định giết chồng nên đuổi ra khỏi nhà.

     

    Thị Kính phải giả nam trang để xuất gia và được mang tên là Tiểu Kỉnh Tâm. Kỉnh Tâm là luôn kính trọng, tôn trọng cái TÂM. Coi cái TÂM là trên hết.

    Trong tác phẩm này có câu:

    “ Dứt không Tứ Tướng sá gì Nhị Biên”

    Người tu là người phải không dính mắc bốn tướng, không vướng vào hai bên.

    Tứ Tướng là thuật ngữ chuyên môn của kinh Kim

    Cang và Nhị Biên là từ ngữ ở kinh Bát Nhã.

    Nên muốn hiểu được tác phẩm này phải rõ được kinh Kim Cang và Bát Nhã.

    Đây là những tác phẩm ở Việt Nam mà chúng ta cũng nên tìm hiểu và tìm đọc để thấy người xưa đã ân cần, đã kính ngưỡng với kinh Kim Cang và đã hình thành ra dòng văn học Việt Nam như thế.

     

    B. SỰ THẬT :

     

    Chuyện thật, sự thật về giá trị bản Kinh đối với người thì biết bao nhiêu người được lợi ích, được vượt khỏi từ hố sâu đen tối của vô minh si vọng của đau khổ. Giá trị của Kinh vì vậy thật to lớn, về tác dụng của Kinh đến người có thể nêu lên một ít vị để điển hình.

     

    1. Trung Hoa :

     Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn và Lục Tổ Huệ Năng. Hai vị Tổ thứ năm và thứ sáu của dòng Thiền Bồ Đề Đạt Ma là hai vị rất gắn bó với Kinh Kim Cang. Tổ Hoằng Nhẫn đã truyền Kinh giảng Kinh, Ngài Huệ Năng đã Ngộ Kinh và được trao truyền y bát, tiếp làm Tổ thứ sáu, việc này những ai trong Phật giáo Bắc Tông đều biết đến.

    Sau hai vị, nhất là sau Tổ Huệ Năng thì biết bao con cháu Ngài đã hiểu ra giá trị Kinh này, tất cả đều tôn trọng kính quý.

    Với số lượng người hiểu Kinh và giảng Kinh được ghi thành sách thì cũng rất nhiều. Chỉ một sách “Kim Cang Chư Già” thôi cũng  có cả trăm nhà bàn nói rồi. Còn biết bao sách vở khác nữa không phải sách xưa thôi mà cận đại hiện đại cũng có.

     

    2. Việt Nam :

     Ở Việt Nam Kinh Kim Cang cũng là Kinh quan trọng cho người tu theo đạo Phật theo hệ Bắc Tông từ xưa cho đến thời hiện nay.

    Xưa như các vua, quan triều Trần (Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Trần Tung ...) các Sư tăng thời ấy.

    Đời Lê Nguyễn có Nguyễn Du Tố Như.

     

    Rồi vào thế kỷ 20, thì biết bao vị đã thọ trì đọc tụng giảng nói biên soạn viết lách về Kinh này cũng thật là nhiều. Về bản dịch Hán ra Việt đếm không hết. Có những bản được in ấn chính thức phổ biến rộng, và có những bản phổ biến nội bộ, hoặc chỉ dùng cho cá nhân.

    Nói chung, Kinh Kim Cang ở Việt Nam có vai trò xưa đến nay thật là đáng kể. Giá trị của Kinh vì vậy rất lớn, thật lớn !

     

  • 4. III. CÁC BẢN DỊCH KIM CANG TỪ PHẠN SANG HÁN :

    III. CÁC BẢN DỊCH  KIM CANG TỪ PHẠN SANG HÁN :

     

    Kinh Kim Cang từ Phạn sang Hán có 6 bản dịch của 6 nhà khác nhau. Cho đến nay 6 bản đều còn cả :

    1.  Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần. Đây là bộ thông dụng hiện nay với tên Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật.

    2.  Bồ Đề Lưu Chi đời Nguyên Ngụy.

    3.  Chân Đế đời Trần.

    4.  Đạt Ma Cấp Đa đời Tùy, với tên: Kim Cương

    Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

    5.  Huyền Trang đời Đường, với tên: Năng Đoạn

    Kim Cương Phận.

    6.  Nghĩa Tịnh đời Đường, với tên: Năng Đoạn

    Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

     

  • 5. CÁC BẢN CHÚ GIẢI KINH KIM CANG Ở TRUNG HOA :

    IV.  CÁC BẢN CHÚ GIẢI KINH KIM CANG  Ở TRUNG HOA :

     

    Các sách chú thích Kinh này có tới hàng trăm. Nay nêu những sách quan trọng như sau :

    Kim Cương chú: 1 quyển Tăng Triệu đời Hậu Tần

    Chú.

    Kim Cương Nghĩa Sớ: 6 quyển Cát Tạng đời Tùy soạn.

    Kim Cương Kinh Sớ: 1 quyển, Trí Khải đời Tùy soạn.

    Kim Cương Kinh Chú:  3 quyển, Tuệ Tỉnh đời

    Đường chú.

    Kim Cương Kinh Lược Sớ: 2 quyển, Trí Nguyễn đời Đường thuật.

    Kim Cương Kinh Tân Thuật: 2 quyển, Khuy Cơ đời Đường soạn.

    Kim Cương Kinh Giải Nghĩa: 2 quyển, Tuệ Năng đời Đường thuyết.

    Kim Cương Kinh Sớ Luận Toản Yếu: 2 quyển,

     

    Tông Mật đời Đường thuật.

    Kim Cương Kinh Sớ Ký Khoa Hội: 10 quyển, Tông Mật đời Đường sớ, Tử Duệ đời Tống Ký, Đại chấn khoa hội.

    Kim Cương Kinh Sớ Luận Toản Yếu San Định

    Ký: 1 quyển, Tử Duệ đời Tống ghi.

    Kim Cương Toản Yếu San Định Ký: 7 quyển, Tử

    Duệ đời Tống chép.

    Kim Cương Phá Không Luận: 1 quyển, Trí Húc, Tế Minh đời Minh Luận.

    Kim Cương Quán Tâm Thích: 1 quyển, Trí Húc, Tế Minh đời Minh thuật.

    Kim Cương Kinh Chú Giải: 1 quyển Tông Lặc, Như Kỷ đời Minh cùng chú thích.

    Kim Cương Kinh Tam Muội: 1 quyển, Tịnh Dĩnh soạn.

    Kim Cương Tam Muội: 1 quyển, Thông Lý tập hợp. Kim Cương Tâm Nhẫn Sớ Kinh Kệ Hợp Thích: 2 quyển, Thông Lý thuật.

    Kim Cương Kinh Bộ Chỉ: 2 quyển, Linh Diệu soạn.

     

    Kim  Cương  Kinh  Tông  Thông: 7  quyển,  Tăng

    Phượng Nghi đời Minh Tông thông.

    Kim Cương Kinh Kệ Thích: 2 quyển, Tăng Phượng

    Nghi đời Minh giải thích.

    Kim Cương Kinh Giải Nghĩa: 2 quyển, Từ Hòe

    Đình thuật.

    Kim Cương Kinh Tâm Ấn Sớ : 2 quyển Phổ Uyển thuật.

    Kim Cương Kinh Chú: 2 quyển, Du Việt chú.

    Kim Cương Kinh Định Nghĩa: 1 quyển, Du Việt soạn.

    Kim Cương Chư Gia: (100 nhà) (Bách Gia Chư

    Tử).

    Kim Cương Giảng Luận - Giang Vị Nông.

    Kim Cương Quyết Nghi - Hám Sơn.

    Kim Cương Giảng Giải - Thái Hư Đại Sư.

     

  • 6. KINH KIM CANG VÀ 32 TIÊU ĐỀ CỦA THẾ TỬ CHIÊU MINH CON VUA LUƠNG VÕ ĐẾ SOẠN

    V- KINH KIM CANG VÀ 32 TIÊU ĐỀ CỦA THẾ TỬ CHIÊU MINH CON VUA LUƠNG VÕ ĐẾ SOẠN

     

    1. Pháp Hội Nhơn Do

    2. Thiện Hiên Khải Thỉnh

    3. Đại Thừa Chánh Tông

    4. Diệu Hạnh Vô Trụ

    5. Như Lý Thiệt Kiến

    6. Chánh Tín Hy Hữu

    7. Vô Đắc Sở Thuyết

    8. Y Pháp Xuất Sanh

    9. Nhứt Tướng Vô Tướng

    10. Trang Nghiêm Tịnh Độ

    11. Vô Vi Phước Thắng

    12. Tôn Trọng Chánh Giáo

    13. Như Pháp Thọ Trì

    14. Ly Tướng Tịch Diệt

    15. Trì Kinh Công Đức

    16. Năng Tịnh Nghiệp Chướng

    17. Cứu Cánh Vô Ngã

    18. Nhứt Thể Đồng Quán

    19. Pháp Giới Thông Quá

    20. Ly Sắc Ly Tướng

    21. Phi Thuyết Sở Thuyết

    22. Vô Pháp Sở Đắc

     

    23. Tịnh Tâm Hành Thiện

    24. Phước Trí Vô Tỷ

    25. Hóa Vô Sở Hóa

    26. Pháp Thân Phi Tướng

    27. Vô Đoạn Vô Diệt

    28. Bất Thọ Bất Tham

    29. Oai Nghi Tịch Tịnh

    30. Nhất Ly Tướng Hợp

    31. Tri Kiến Bất Sanh

    32. Ứng Hóa Phi Nhơn.

  • 7. CÁC BẢN KINH KIM CANG DỊCH VÀ GIẢNG CHÚ Ở VIỆT NAM :

    VI - CÁC BẢN KINH KIM CANG DỊCH VÀ GIẢNG CHÚ Ở VIỆT NAM :

     

    Kim Cang dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh.

    Kim Cang dịch giải: Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

    Kim Cang giảng luận: tác giả Giang Vị Nông cư sĩ; Đồ Nam Lão Nhân dịch.

    Kim Cang giảng giải: Hòa Thượng Thích Thanh

    Từ dịch giảng.

    Kim Cang chú giải: Bạch Y cư sĩ Chí Huệ.

    Kim Cang chư gia dịch: Thích Huệ Thông.

     Kim Cang quyết nghi: của Ngài Hám Sơn giảng; Hạnh Huệ dịch

  • 8. TỰA KINH

    VII - TỰA KINH

     Đề tựa kinh nói gọn theo văn Hán là KIM CANG KINH hay KIM CƯƠNG KINH, có chữ Hán là “cang” hay “cương” chỉ là tiếng phát âm có khác mà cùng một chữ một nghĩa ..................... Nếu nói đủ thì tựa Kinh văn Hán là :

    KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

    Và được dịch ra văn Việt là :

    KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

    Kinh này có tiếng Bắc Phạn là: Vajra Prajnapara- mita sutra.

    * Kim Cang (vajara): là tên một loại khoáng chất, thường được gọi là Kim Cương hay hột xoàn. Đặc tính của Kim Cang là rắn chắc, hay cắt cứa được các kim loại sắt thép ... hay các thứ đá khác. Màu sắc của nó trong sáng lóng lánh rất đẹp dùng làm đồ trang sức- một loại trang sức cao cấp.

    * Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita): Trong cụm từ này có hai từ: một là Bát Nhã, hai là Ba La Mật.

    - Bát Nhã: có nghĩa là Trí Huệ, sự sáng suốt trong tâm hồn, có sự hiểu biết đúng đắn.

    - Ba La Mật: được Trung Hoa dịch là Đáo bỉ ngạn có nghĩa: qua đến bờ kia, tức qua bờ mê đến bến giác, qua bờ đau khổ đến bờ an vui giải thoát.

    Ba La Mật lại có nghĩa là cứu cánh, tức là rốt ráo, trọn vẹn, cùng tột. Như vậy Bát Nhã Ba La Mật có chung nghĩa là một thứ Trí Huệ qua đến bờ kia, là Trí Huệ xóa mê lầm, xóa khổ đau, được an vui giải thoát. Đây là sự sáng suốt trọn vẹn trong tâm hồn. Sự sáng suốt rốt ráo cùng tột vượt hẳn mọi mê lầm giữa thế gian.

    Bát Nhã Ba La Mật là thứ Trí Huệ đặc biệt, có khả năng phi thường hay phá tan bao nhiêu si mê lầm chấp do những ý nghĩ sai lầm làm nên. Nó phá nát tất cả và trong sáng hóa tất cả vô minh phiền não khổ đau. Trí huệ này thật hay và Trí huệ này được thí dụ như là viên Kim Cương có khả năng cắt phá các thứ kim loại và đá, v...v... Như vậy, Bát Nhã Ba La Mật là Pháp (Trí huệ siêu việt) và Kim Cang là thí dụ (một vật rắn chắc, sắc bén nhất). Tựa Kinh này được cấu trúc bởi pháp và dụ như vậy, để nói lên có một thứ Trí Huệ kỳ diệu hay ho nhất có thể chiếu phá tất cả những gì si ám, làm sáng lên tất cả tâm hồn, hóa tan khổ đau, giải thoát sinh tử luân hồi.

  • 9. ĐẠI Ý KINH KIM CANG

    VIII - ĐẠI Ý KINH KIM CANG :

     Kinh Kim Cang thuyết minh nhằm làm sáng tỏ Tự Tánh KHÔNG Bát Nhã. Làm sáng lên TÂM Như Lai, tỏ rõ Tánh Tự TÂM, bật dậy An Trụ TÂM Bồ Đề vốn Vô Sở Trụ, phá chấp hình tướng danh từ, giải trừ si ám khổ đau.

  • 10. BỐ CỤC

    IX - BỐ CỤC :

     Bài Kinh Kim Cang có bố cục khá rõ ràng, tương đối chặt chẽ, có 3 phần rõ rệt: Mở bài - Thân bài - Kết.

     A. MỞ BÀI :

     Nói về không gian và thời gian cùng số người nghe pháp (1.250 vị Tỳ kheo).

    Ngài Tu Bồ Đề đại diện chúng thưa hỏi :

    Câu hỏi: “Có người thiện nam, kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM Bồ Đề thì làm sao mà trụ được, làm sao mà hàng phục được TÂM ấy ?”

    Đây là câu hỏi quan trọng để mở đầu và hình thành bài pháp lớn cho cả kinh.

     

    B. THÂN BÀI :

     Đức Phật thuyết minh trả lời làm sáng tỏ điều trọng yếu ở câu hỏi. Đó là làm sao để được Trụ và Hàng phục

    TÂM Bồ Đề. Ngài bằng lý luận rỗng để phá chấp trên hình tướng, trên danh từ văn chữ nhằm hiển bày Tự Tánh KHÔNG - TÂM Như Lai cho người.

    Với lý luận rỗng, Ngài gỡ hết sự đeo mang, bám chấp cho cả người đời và người đạo, để người được sạch trọi trơn mà ngộ ra TÂM Bồ Đề, mà TÂM này vốn rỗng rang trong lặng là: VÔ SỞ TRỤ.

    Tất cả việc lý luận diễn bày trong đây đều nhằm tuyên dương “Kinh Bát Nhã Ba La Mật”. Ngài muốn cho người phải biết đến Kinh này để mà thọ trì đọc tụng vì người giảng nói, hầu được đầy đủ cho đời hành đạo, là tự lợi và lợi tha tốt đẹp. Vì “Kinh này” là pháp hay mầu nhiệm nhất, giá trị nhất, năng lực nhất trong việc giải trừ phiền não khổ đau. Ngài muốn người hành đạo phải nên y theo pháp “Bát Nhã Ba La Mật” mà hành trì tu theo.

     

    C. KẾT :

     Dầu lời Ngài có nói, có diễn bày về Kinh về pháp Bát Nhã Ba La Mật này như vậy, nhưng rồi cũng chớ dính mắc vào lời văn hay chữ này. Đoạn này là lời nói “Từ bi” tối hậu dành cho người có duyên xem, nghe, đọc, học: chớ dính mắc văn Kinh.

  • 11. TIỂU SỬ DỊCH GIẢ PHẠN– HÁN:

    X- TIỂU SỬ DỊCH GIẢ PHẠN– HÁN:

     Bản dịch Kinh Kim Cang này từ chữ Phạn ra chữ

    Hán là do Ngài Cưu Ma La Thập dịch.

     

    Tiểu  Sử  Ngài   CƯU MA LA THẬP

    (344 - 412)

     

    Cưu Ma La Thập là tên một vị dịch Sư Phạn - Hán. Cưu Ma La Thập là người Thiên Trúc (Ấn Độ xưa).

    Cưu Ma La Thập được phiên âm từ tiếng Phạn, người

    Trung Hoa dịch ý là Đồng Thọ.

    Đồng : Trẻ con. Thọ : Người già.

    Tuổi trẻ mà có tài năng, sự hiểu biết như người già nên gọi là Đồng Thọ.

    Ngoài ra tên Đồng Thọ còn là tên được ghép lại từ tên cha và mẹ Ngài.

    Cha Ngài tên là Cưu Ma La Viêm. Viêm được dịch là Đồng.

    Mẹ Ngài là Kỳ Bà. Kỳ Bà dịch là Thọ.

    Thân phụ Ngài là con dòng quan, thân mẫu Ngài là con dòng vua, em gái quốc vương Quy Tư. Cả hai cha và mẹ là người thông thái đương thời.

    phương phi đĩnh đạc, trí óc thông minh.

    Ngài lúc 7 tuổi cùng mẹ xuất gia. Học Kinh với Thầy mỗi ngày thuộc cả ngàn bài kệ, tính ra 32 ngàn chữ tất cả. Với ký ức đó, Ngài thuộc lòng luận tạng A Tỳ Đạt Ma và thông suốt cả nghĩa lý.

    * Năm 9 tuổi, Ngài theo mẹ đến xứ Kế Tân và cầu học với danh sư Bàn Đầu Đạt Đa. Ở đây Ngài học thuộc Kinh Trung A Hàm và Trường A Hàm, tất cả có 400 vạn chữ. Ngài được thầy khen là thần đồng. Vua Kế Tân biết đến, vời Ngài vào cung mở đàn luận biện mời các học giả ngoại đạo luận biện với Ngài. Ngài đã bẻ gãy hết tất cả luận thuyết của các học giả khiến người nể phục.

    Vua Kế Tân kinh dị, lại thêm phần mến mộ. Mỗi ngày nhà vua cấp cho nhiều lễ vật quý hiếm, lại cho 5 vị tăng lớn và 10 vị sa di phục vụ Ngài chu đáo.

    * Năm 12 tuổi, Ngài lại theo mẹ về nước Quy Tư. Các nước lân cận ai cũng mời Ngài với tước vị trọng hậu, nhưng Ngài đều từ khước. Mẹ Ngài lại mang Ngài đến nước Nhục Chi, phía Bắc núi Thông Lãnh.

    Ngài lại được mẹ dắt đến nước Sa Lặc. Ở đây một hôm theo mẹ lễ Phật. Ngài đã đội chiếc bình bát lớn nặng

    lớn mà sao nghe nhẹ quá vậy? tức thì nghe nặng chịch, chịu không nổi Ngài la lên và chiếc bình bát rơi xuống.

    Mẹ Ngài hỏi sao lại như vậy ?

    Ngài đáp: - Chỉ vì tâm con phân biệt nên cái bình bát trở nên có nặng nhẹ mà thôi.

    Lúc Ngài còn là Sadi, vua Sa Lặc đã nghe theo các vị sa môn tinh thông tam tạng thỉnh Ngài thăng tòa khai thị cho tứ chúng. Ngài đã giảng kinh Chuyển pháp luân. Việc này đã tạo sự giao hảo tốt lành cho hai nước Sa Lặc và Quy Tư.

    Ngài là một vị tăng có nhiều đặc tài. Ngoài sở học về Phật pháp, Ngài còn tìm học hết các sách vở ngoại đạo: Ngài giỏi về kinh Vệ đà, Áo nghĩa thư. Ngài lại giỏi về học thuật, văn chương thi kệ và các phương pháp luận, trở thành nhà hùng biện đại tài. Với ngũ minh, Ngài thật sự lão thông. Phương tiện ở Ngài rất rộng, rất nhiều, cùng với trí huệ sâu xa sắc bén đã tạo nên sự hoằng hóa rất tốt đẹp.

    Buổi đầu, Ngài vào đạo bằng pháp Tiểu Thừa nhưng sau đó do học với Pháp sư Tô Ma, một vị đại trí trác việt, giáo hóa pháp Đại Thừa, Ngài đã giác ngộ pháp đại thừa. Vào pháp đại thừa, Ngài mới hiểu ra về cái lý “TỰ TÁNH KHÔNG”. Từ đó Ngài có lời rằng: “Xưa kia ta học tiểu thừa thực khác chi một kẻ không biết gì là vàng ngọc nên cho là đá quý”. Ngài thông đạt pháp Đại thừa và tâm đắc nhất là ba bộ luận: Trung quán, Bách luận, Thập nhị môn.

    Ngài lại theo mẹ đến nước Ôn Túc phía Bắc Quy Tư. Ở đây Ngài lại biện luận cùng vị tu sĩ tài giỏi nhất nước. Ngài đã thắng và vị tu sĩ này quy y với Ngài. Tiếng tăm Ngài lại lan xa. Vua Quy Tư đích thân đến nước Ôn Túc cung nghinh Ngài về nước. Một Đại hội được quốc vương thiết lập, cung thỉnh Ngài khai giảng áo nghĩa của các kinh đại thừa. Cái nghĩa “Tự Tánh KHÔNG” được Ngài giảng diễn khiến mọi người đều nức lòng quy hướng. Trong số đó có công chúa con vua Quy Tư vốn xuất gia theo tiểu thừa đã nhất tâm kính phục hướng về.

    * Năm 20 tuổi, Ngài thọ giới trong giới đàn vương cung. Ngài học luật với Ngài Tỳ Ma La Xoa.

    Sau đó mẹ Ngài sắp từ giã quốc vương Quy Tư đi sang Thiên Trúc, bà đã bảo Ngài La Thập: “Chánh pháp Đại thừa phải truyền qua Đông Độ. Việc ấy phải nhờ sức con, nhưng bản thân con thì không lợi gì cả, biết làm thế nào?!” Ngài thưa với mẹ: “Cái Đạo của các vị Bồ Tát đại sĩ nếu ích lợi được cho người thì phải quên bản thân mình đi. Nếu làm cho chánh pháp Đại thừa được truyền bá, tẩy rửa mê mờ cho nhân loại, thì thân con dầu phải lăn vào lửa cao, vạc nóng, khổ mấy con cũng không tiếc hận”.

    Đến đây, Ngài và mẹ từ biệt nhau.

    Ngài ở lại nước Quy Tư hai năm. Thời gian này Ngài lại tham cứu kinh luận Đại thừa sâu hơn đến chỗ bí ảo nhất của các kinh luận. Quốc vương Quy Tư dâng Ngài một pháp tòa hình sư tử bằng vàng rất quý báu để Ngài ngồi thuyết pháp.

    Thời gian này, Bổn sư Ngài là Bàn Đầu Đạt Đa từ phương xa lặn lội tìm về, vì nghe Ngài có tuệ giác phi thường và nghe quốc vương hoằng dương chánh pháp. Trong dịp này, Ngài Bàn Đầu Đạt Đa đã cùng Ngài thảo luận về pháp Đại thừa. Một tháng trôi qua Ngài đã khéo biện luận khiến Bổn sư tín phục thấu triệt pháp Đại thừa. Vị bổn sư cảm ngộ pháp Đại thừa và đã làm lễ Ngài La Thập, và nói: “Ngài là vị Thầy Đại thừa của tôi, cũng như tôi là vị thầy Tiểu thừa của Ngài vậy”.

    Các nước Tây Vực bái phục tài trí, khí độ của Ngài. Mỗi năm đến ngày đại giảng, các quốc vương đều đến và quỳ bên pháp tòa thỉnh Ngài đạp làm cấp mà bước lên Tòa.

     

    Tiếng tăm Ngài lại vang lên đến Đông Độ (Trung Hoa). Tháng giêng năm Đinh Sửu năm thứ 13 niên hiệu Kiến Nguyên của Phù Kiên, quan Thái Sử tâu có sao tốt xuất hiện cảnh ngoài nước, điềm này sẽ có bực đại trí đức vào phụ tá Trung Hoa.

    Phù Kiên nói: Ta có nghe Tây Vực có Ngài La Thập, tương đương với Ngài Đạo An, có lẽ là vị ấy chăng? Tức thì sai sứ thần cầu thỉnh.

    Đến tháng 9 năm thứ 18, Phù Kiên sai tướng Lã Quang thống lãnh 7 vạn quân chinh phục các nước Tây Vực như Quy Tư, Ô Trành.

    Trước khi cất quân Phù Kiên đã tiễn Lã Quang tại cung Kiến Chương có lời rằng: Cái đạo của các bậc đế vương là ứng theo mệnh trời mà trị thiên hạ, căn bản là phải đem tình thương như mẹ thương con mà thương bá tánh, có đâu vì tham đất mà chinh phạt. Lòng ta thật chỉ cốt được người hữu đạo mà thôi. Ta nghe Tây Vực có Ngài La Thập là người thấu triệt chân lý, rành rẽ cát hung, làm chỗ cho hậu học tôn thờ, lòng ta rất ngưỡng mộ. Đấng hiền triết là quý báu nhất của quốc gia. Vậy khắc phục Quy Tư rồi, tướng quân hãy hộ tống Ngài La Thập về gấp đây cho ta.

    Vua nước Quy Tư không nghe lời can ngăn của Ngài La Thập là: hòa hưỡn đừng giao tranh. Vua đem quân chống trả. Lã Quang thế mạnh đã giết chết vua, chiếm nước Quy Tư rồi đưa Bạch Chấn là em vua Quy Tư lên thay. Lã Quang đã cướp nước và cướp được Ngài La Thập.

    Lã Quang khi được Ngài, thấy Ngài tuổi trẻ, không hiểu gì về Trí Huệ ở Ngài nên sanh tâm coi thường. Chẳng những thế còn hành hạ Ngài, coi Ngài như trò chơi, cho đến làm ô nhục thân danh Ngài.

    Ngài dù bị gian truân nhưng vẫn ẩn nhẫn. Nhiều lần Ngài nói việc kiết hung với Lã Quang. Sự việc xảy ra đều đúng, khiến Lã Quang phải nể phục.

    Lã Quang khi biết Phù Kiên đã bị Dao Trành giết chết, đã tiếm hiệu xưng vương ở Quang Ngoại, lấy hiệu là Thái An.

    Ngài La Thập bị giữ trong thành họ Lã ở Kinh Châu, đã chứng kiến bao cuộc tranh giành ngôi vị, anh em giết hại lẫn nhau. Thời gian này Ngài không thi thố được gì trong việc hoằng dương chánh pháp.

    Ở Quang Trung, Phù Kiên mất. Dao Trành lên ngôi vẫn khát ngưỡng cao danh Ngài, hạ mình cầu thỉnh, nhưng họ Lã không thuận vì sợ Ngài trở thành mưu sĩ cho Dao Trành mà bất lợi cho mình.

    Sau Dao Trành mất, con là Dao Hưng nối ngôi, ban đầu cũng sai sứ thần đến ôn tồn thỉnh mời Ngài mà không được. Đến tháng 5 niên hiệu Hoằng Thi thứ ba. Dao Hưng sai Thạc Đức chinh phạt Lã Long. Lã Long thua xin qui hàng. Bấy giờ Dao Hưng mới rước Ngài La Thập vào Quang Trung. Ngày 20 tháng chạp, Ngài La Thập đến Trường An. Đây là năm thứ 400 đời Hậu Tấn. Dao Hưng tôn trọng Ngài theo lễ Quốc sư, Dao Hưng đã nghe Ngài giảng giải đạo lý Đại thừa không biết mỏi mệt. Lúc này, Ngài La Thập được Dao Hưng thỉnh cư trú ở Tây Minh Các và Tiêu Dao Viện. Nơi đây Ngài chuyên phiên dịch kinh sách từ tiếng Phạn sang chữ Trung Hoa.Dao Hưng đã chủ trương thành lập viện phiên dịch. Ngài La Thập và Dao Hưng tuyển chọn những danh tăng trên 800 vị. Trong đó nổi bật là các Ngài: Tăng Triệu, Tăng Dực, Đạo Dung, Đạo Sanh. Các vị này đã lãnh hội được tôn chỉ của Ngài.

    Ngài La Thập thuộc kinh Phật nằm lòng lại giỏi về ngôn ngữ học, rành văn từ Trung Hoa, có kỹ thuật phiên dịch rất xuất sắc. Dao Hưng rất lấy làm đắc ý ở những bản dịch của Ngài. Như bộ Đại phẩm Bát Nhã.

    Dao Hưng đã cùng dò với Ngài, đối chiếu với bản dịch trước, thật khác xa, hay hơn nhiều, thông suốt, đầy đủ. Dao Hưng và mọi người đều tâm phục tài năng việc làm của Ngài.

    Ngoài việc phiên dịch, Ngài còn trước tác cuốn Thông Tam Thế luận. Quyển sách này đã khiến từ vua đến quan đều thích thú vì rõ được lý nhân quả, việc thiện ác.

    Ngài lại còn hay thuyết pháp ở các chùa lớn trong

    Trường An.

    Tổng số kinh luận Ngài La Thập phiên dịch trên

    300 cuốn. Tất cả đều nói lên hết tôn chỉ sâu xa, diễn tận cùng nguồn gốc thật thần diệu.

    Đương thời Ngài Đạo Sanh, Ngài Huệ Viễn cũng nể trọng Ngài, đã tìm hoặc gởi thư đến Ngài để cầu xác chứng cho chỗ thấy biết của mình.

    Ngài La Thập là con người tài trí hơn người, mở miệng nói ra là thành văn, đặt bút là thành chữ thành nghĩa rõ ràng không phải sửa tới sửa lui. Vậy mà Ngài hay khiêm nhường. Sau những thời giảng, Ngài nói: “Tôi như đám bùn nhơ mà mọc lên được hoa sen vậy, các người hãy hái hoa mà đừng vốc phải bùn lầy”.

    Đến cuối đời, Ngài từ biệt tăng chúng, nói: “Thập tôi cùng với quý vị vì chánh pháp mà được gặp nhau, nhưng thật chưa tận lòng tôi, vậy mà tôi đã phải sắp sửa bước qua đời khác, tình cảnh này biết nói gì nữa. Tôi tự biết mình rất ám muội, lếu láo đảm nhận chức vụ phiên dịch là để truyền bá chánh pháp mà thôi. Trong số trên

    300 cuốn kinh luận tôi đã phiên dịch, chỉ bản Thập tụng luận là chưa kịp san định, nhưng bản ý thì tất không sai lầm. Nguyện rằng bao nhiêu những thứ tôi phiên dịch ra đó đều lưu truyền đến hậu thế, ai cũng hoằng dương. Bây giờ đối trước tăng chúng, tôi muốn có lời nguyện chân thành và chắc thật, rằng nếu những thứ tôi phiên dịch mà không sai lầm thì sau khi hỏa táng thân này, lưỡi tôi vẫn còn nguyên vẹn”.

    Đến ngày 20 tháng 8 niên hiệu thứ 11 của Dao Hưng, tức niên hiệu Nghĩa Hy thứ 5 của nhà Tấn, Ngài an nhiên viên tịch. Ngài mất tại Tiêu Diêu viện, Trường An. Ngài đến Trường An năm 400, mất năm 412.

    Sau khi hỏa táng, đúng như Ngài nói, chiếc lưỡi của Ngài không bị cháy, chiếc lưỡi vẫn còn. Về sau các vị Tăng từ Thiên Trúc đến Trung Hoa, ai cũng nói rằng: “Mười phần trong kho tàng ký ức và Trí Huệ của Ngài La Thập, Ngài đem ra chưa được lấy một phần”.

     

     

     

     

     

     

     

     

    CÂU CHUYỆN   KINH KIM CANG

     Ngài Đức Sơn Tuyên Giám (780-865) một Thiền sư Trung Hoa xuất gia lúc 20 tuổi, nghiên cứu tinh thâm Luật tạng, thông suốt chỉ thú các kinh thuộc Tánh tông và Tướng tông. Vì thường giảng kinh “Kim Cang Bát Nhã” nên người đương thời gọi Ngài là Chu Kim Cang (Chu là họ Ngài). Sư thường nói với đồng học: “Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu, hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động, học cùng không học chỉ có ta biết thôi”.

    Nghe phương nam Thiền tông thạnh hành, Ngài bất bình nói: “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, còn chẳng được thành Phật. Những kẻ ma ở phương nam dám nói: “Trực chỉ nhơn Tâm, kiến Tánh thành Phật, ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ơn Phật”. Sư bèn khăn gói lên đường mang theo bộ Thanh

     

    Long sớ sao là bộ sách giảng giải Kinh Kim Cang. Ngài ra khỏi đất Thục, nhắm Lê Dương tiến bước.

    Bằng bước chân nhiệt tình, rồi Ngài cũng đến được chân núi của Thiền Sư phương nam. Trước khi lên núi Ngài ghé qua một quán bên đường. Quán này do một bà già làm chủ. Bà bán bánh. Ngài bảo bà lấy ít cái bánh để điểm tâm (ăn lót lòng).

    Bà già chỉ gánh của Ngài hỏi :

    - Chẳng hay gói hành lý ấy là sách vở gì ? Ngài bảo với vẻ trịnh trọng :

    - Đó là bộ sách “Thanh Long sớ sao”. Bà già nhìn thẳng Ngài hỏi :

    - Thầy thường giảng kinh gì ? Ngài đáp :

    - Kinh Kim Cang.

    Bà già với sắc mặt tươi vui khi nghe Ngài nói đến

    Kinh Kim Cang, bà nói :

    - Tôi có một câu hỏi, nếu Thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm (tặng không), bằng đáp chẳng được mời Thầy đi nơi khác cho.

    Ngài Tuyên Giám gật đầu chịu (Ngài là giảng sư

    “chuyên gia” về Kinh Kim Cang mà!)

     

    Thế là bà già nghiêm sắc mặt hỏi :

    - Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc” (tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được), xin hỏi Thượng Tọa điểm tâm nào?

    Nghe qua câu hỏi, Ngài lịm người ngẩn ngơ nhìn bà già đỏ mặt, Ngài không đáp được.

    Thế là nhuệ khí ở Ngài đã mất phân nửa. Ngài đành hỏi bà già bán bánh đường lên Long Đàm, nơi đạo tràng của Thiền Sư Sùng Tín.

    Bà già bán bánh xem thế mà quả nhiên lợi hại. Một câu làm người đớ lưỡi, câm họng, cứng hầu.

    “Ba tâm điểm tâm nào?” Quả là bà già đã điểm trúng yếu huyệt của Ngài Tuyên Giám.

    Thế rồi Ngài Tuyên Giám lại gánh gánh kinh lên

    Long Đàm tìm Ngài Sùng Tín.

     

    Đến pháp đường Ngài Tuyên Giám gặp Long Đàm, Ngài nói:

    - Lâu nay nghe danh Long Đàm, nay đi đến Đàm (đầm nước) chẳng thấy, mà Long (con Rồng) đâu cũng không thấy hiện?

     

    Ngài Sùng Tín bình thản đáp :

    - Ông đã gần đến Long Đàm!

    Qua câu trả lời đơn giản trước lời hỏi có vẻ xem thường ở Ngài Tuyên Giám, thế mà Ngài Tuyên Giám lại không đáp được, chẳng có lời nào!

    Ngài Tuyên Giám sau đó xin ở lại Long Đàm để thưa hỏi, học thêm.

    Một đêm, Ngài đứng hầu, Ngài Sùng Tín hỏi:

    - Đêm khuya rồi sao chẳng chịu xuống đi? Ngài kính chào bước ra, lại quay trở vào, thưa:

    - Bên ngoài trời tối đen.

    Ngài Sùng Tín đốt đèn cầy đưa cho, Ngài toan tiếp lấy, Ngài Sùng Tín liền thổi tắt.

    Ngay đó Ngài Tuyên Giám đại ngộ, liền lễ bái. Ngài Sùng Tín hỏi :

    - Ông thấy cái gì ? Ngài thưa :

    - Từ nay về sau con chẳng còn nghi lời nói của chư lão Hòa Thượng trong thiên hạ.

    Ngài Sùng Tín sau đó đã cho chúng biết:

    - Trong chúng đây có một tên răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vót dựng lập đạo của ta.

    Ngài Tuyên Giám cũng vào sáng ngày sau đem bộ Thanh Long sớ sao (bộ sách đem đấu) chất đống trước pháp đường nổi lửa đốt và nói:

    - Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu ở đời in một nhỏ nước gieo trong hồ lớn.

    Sách cháy sạch, Ngài lễ từ tạ Thiền sư Sùng Tín lên đường du phương. Ngài Tuyên Giám đã triệt ngộ kinh Kim Cang đúng như kinh văn đã nói ở đoạn kết. Phải cần một mồi lửa cho kinh văn mới hiện lên “Kinh này” như văn kinh đã nói :

     “Tất cả pháp hữu vi Như mộng huyễn bọt bóng Như sương như điện chớp Hãy nên biết như vậy”.

  • 12. KINH KIM CANG

    KINH KIM CANG

     Dịch Hán – Việt : T. PHƯỚC TÚ

     Tôi nghe như vầy: Một lúc nọ Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc dưới cây ông Kỳ, thuộcnước Xá Vệ, Ngài cùng với một ngàn hai trăm năm chục

    Tỳ kheo chung hội.

    Khi sắp đến bữa ăn trưa, Đức Thế Tôn mặc y cầm bát mà đi vào thành lớn Xá Vệ để xin ăn.

    Vào trong thành, chia ra thứ lớp đi xin đã xong, rồi trở về chỗ cũ. Bữa ăn xong, thâu dọn y bát rồi, rửa chân xong, Đức Phật trải tòa ra ngồi nghiêm chỉnh.

    Lúc đó ông Tu Bồ Đề liền đứng dậy từ chỗ ngồi trong chúng, ông trịch bày vai bên mặt và quỳ gối mặt sát đất, kính cẩn chắp tay mà thưa cùng Phật:

    - Đấng Thế Tôn thật ít có! Đấng Như Lai đã khéo hộ niệm cho các vị Bồ Tát, đã khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát!

    - Thưa Đấng Thế Tôn, có người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì làm sao mà trụ được, làm sao mà hàng phục được TÂM ấy?

    Đức Phật nói: Hay thay! hay thay! Này ông Tu Bồ Đề, theo ông nói thì; Đấng Như Lai khéo hộ niệm cho các Bồ tát, cũng khéo phó chúc cho các Bồ tát.

    Nay ông nên lóng nghe, ta vì ông mà nói: người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM Bồ Đề, thì hãy nên như thế này mà trụ, như thế này mà hàng phục cái TÂM đó.

    - Thưa Đấng Thế Tôn! con xin vâng, nguyện vui thích muốn được nghe.

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát đã như thế này mà hàng phục Tâm đó: có bao nhiêu loài chúng sanh, hoặc là loài Noãn sanh, hoặc loài Thai sanh, hoặc loài Thấp sanh, hoặc loài Hóa sanh, hoặc loài Có hình sắc, hoặc loài Không hình sắc, hoặc loài Có tưởng, hoặc loài Không có tưởng, hoặc loài Chẳng phải có tưởng, chẳng phải không có tưởng, ta đều khiến vào Vô dư Niết bàn mà được diệt độ hết. Cứ như thế mà diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, mà thật ra không có một chúng sanh nào được diệt độ.

    Vì sao? Này Tu Bồ Đề? Nếu vị Bồ Tát có tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng Sanh, tướng Thọ giả, tức vị đó chẳng phải là Bồ Tát.

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa Bồ Tát ở nơi pháp nên không chỗ trụ mà hành Bố thí.

    Chỗ không chỗ trụ đó là chẳng trụ ở Sắc mà bố thí, chẳng trụ ở Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà bố thí .

    Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát phải nên bố thí như vậy mà chẳng trụ ở trên tướng, vì sao? Nếu Bồ Tát chẳng nơi tướng mà bố thí, thì phước đức chẳng thể nghĩ lường.

    Này Tu Bồ Đề! theo ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương đông có thể nghĩ lường được chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không thể nghĩ lường được. Này Tu Bồ Đề? Hư không ở các phương tây, nam,

    bắc, bốn hướng phụ, trên, dưới có thể nghĩ lường được

    chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không thể nghĩ lường được. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát không trụ tướng bố thí, thì

    phước đức cũng chẳng thể nghĩ lường được.

     

    Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát phải nên trụ như chỗ dạy này. Này Tu Bồ Đề! theo ý ông nghĩ sao? ông có thể

    dùng thân tướng để thấy Như Lai được chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn! con chẳng thể dùng thân tướng để được thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai nói thân tướng tức chẳng phải thân tướng.

    Đức Phật bảo Tu Bồ Đề :

    Phàm cái gì có tướng thì đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy được Như Lai .

    Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật :

    – Thưa Đấng Thế Tôn, nếu có chúng sinh nào được nghe lời nói, chương cú như thế này, có sanh được niềm tin chân thật chăng ?

    Đức Phật bảo Tu Bồ Đề :

    Ông chớ nói như vậy! sau khi Đấng Như Lai diệt năm trăm năm cuối sau, có người trì giới tu phước, y theo chương cú này, mà có thể sanh tín tâm, cho lời này là thật thì nên biết người đó chẳng phải chỉ trồng căn lành ở một vị Phật, hai vị Phật, ba, bốn, năm vị Phật, mà đã trồng căn lành ở nơi vô lượng muôn ngàn Đức Phật rồi.

    Ai nghe chương cú này mà sanh niềm tin trong sạch, chỉ trong một niệm thôi. Này Tu Bồ Đề thì Như Lai đều thấy, đều biết, những chúng sanh này được phước đức vô lượng như vậy.

    Vì sao? Vì những chúng sanh này không còn tướng Ngã, tướng Nhơn, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả, không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp.

    Vì sao? Vì những chúng sanh này nếu trong tâm còn mắc tướng, tức còn dính Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả và nếu còn nắm giữ tướng pháp thì mắc phải: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Vì sao? Vì nếu nắm giữ cái tướng phi pháp, tức dính mắc cái Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Thế nên chớ có nắm giữ pháp và chớ nắm giữ phi pháp.

    Do nghĩa này mà Đức Như Lai thường nói:

    Này các vị Tỳ kheo, phải biết những pháp của ta nói đó giả dụ như thuyền bè thôi, đối với pháp hãy còn buông xả, huống nữa là phi pháp.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có được Bồ Đề chăng? Đức Như Lai đã có nói Pháp chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Như con hiểu theo nghĩa của Phật nói, thì không có cái pháp nhất định nào gọi là Bồ Đề và cũng không có cái pháp nhất định nào của Như Lai có thể nói được. Vì sao? Vì chỗ nói Pháp của Như Lai đều chẳng thể nắm được, chẳng thể nói được, chỗ đó là chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Vì sao? Vì tất cả hiền thánh đều do trụ pháp vô vi mà có sai biệt.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên để làm việc bố thí, thì người đó được phước nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất nhiều vậy! Vì sao? Vì phước đức tức chẳng phải tánh phước đức, nên Đức Như Lai nói phước đức nhiều.

    Nếu lại có người theo trong kinh này mà thọ trì chỉ được bốn câu kệ và đem nói với người khác thì phước đức đây lại nhiều hơn phước đức trước.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Vì tất cả các Đức Phật và pháp Bồ Đề của các Đức Phật đều từ kinh này mà có ra.

    Này Tu Bồ Đề, chỗ nói ra Phật Pháp đó tức chẳng phải Phật Pháp.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị Tu Đà Hoàn có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả Tu Đà Hoàn” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì Tu Đà Hoàn tên gọi là nhập lưu tuy nói “nhập” mà không có chỗ nhập, không nhập là không nhập vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, như thế mới thật là chứng quả Tu Đà Hoàn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị Tư Đà Hàm có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả Tư Đà Hàm” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì Tư Đà Hàm tên gọi là nhất vãng lai (tới lui) mà thật không có chỗ vãng lai, như thế đó mới thật là chứng quả Tư Đà Hàm.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị A Na Hàm có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả A Na Hàm” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì A Na Hàm tên gọi là bất lai. Tuy nói bất lai (chẳng trở lại) thật không có chỗ bất lai, như thế đó mới thật là chứng quả A Na Hàm.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị A La Hán có thể nghĩ như thế này: “Ta chứng được quả A La Hán” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì thật ra không có pháp nào gọi là A La Hán.

    Thưa Đấng Thế Tôn, nếu một vị A La Hán nghĩ rằng: “Ta đã chứng được đạo A La Hán” thì vị đó còn dính mắc các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Phật nói con đã được vô tránh tam muội, là kẻ đứng nhất trong mọi người, là kẻ đứng nhất trong hàng A La Hán ly dục.

    Thưa Đấng Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng “Mình đã được đạo A La Hán” thì Đấng Thế Tôn đã không nói: Ông Tu Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na (Tịch tịnh) nhưng Tu Bồ Đề này thật ra không có chỗ hành hạnh A Lan Na cho nên được gọi ông Tu Bồ Đề thích hạnh A Lan Na.

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai xưa kia ở nơi

    Đức Phật Nhiên Đăng có đắc Pháp chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không vậy! Đức Như Lai ở nơi Đức Phật Nhiên Đăng đối với Pháp thật ra chẳng đắc Pháp.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không vậy. Vì sao? Vì trang nghiêm cõi Phật đó tức chẳng phải trang nghiêm nên gọi là trang nghiêm.

    Này Tu Bồ Đề, thế nên các Bồ Tát Ma Ha Tát phải nên như đây mà sanh TÂM Thanh Tịnh: chẳng nên trụ nơi Sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm, phải nên nơi KHÔNG CHỖ TRỤ mà sanh TÂM này.

    Này Tu Bồ Đề, ví như có người thân như núi chúa

    Tu di, thì ý ông nghĩ sao? thân này có lớn lắm không?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất lớn! Vì sao? Vì Đức Phật nói chẳng phải thân nên gọi là thân rất lớn.

    - Này Tu Bồ Đề, như trong sông Hằng có cát nhiều vô số, số sông Hằng lại nhiều như số cát đó, thì ý ông nghĩ sao? Số cát của bao nhiêu sông Hằng đó có nhiều lắm không?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, số cát đó rất nhiều, chỉ riêng cát sông Hằng hãy còn nhiều vô số, huống là số cát kia sao?

    Này Tu Bồ Đề, ta nói thật cho ông rõ, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào lấy bảy món báu đầy khắp các sông Hằng với số lượng hằng hà sa số thế giới tam thiên đại thiên dùng đó để bố thí, thì được phước nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, phước ấy rất nhiều

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào ở nơi kinh này mà chỉ thọ trì bốn câu kệ thôi và đem nói với người khác, thì phước đức này sẽ hơn phước đức trước nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa tùy theo chỗ mà nói kinh này, chỉ chừng bốn câu kệ thì nên biết nơi chỗ đó, tất cả Trời, A Tu La trong đời đều ưng chịu cúng dường như tháp miếu thờ Đức Phật, huống là có người lại riêng siêng năng thọ trì đọc tụng.

    Này Tu Bồ Đề, ông nên biết người này sẽ thành tựu pháp tối thượng ít có nhất, nếu có kinh điển này ở tại chỗ nào tức là có Phật ở chỗ đó hoặc là đệ tử ưu tú của Phật.

     

    Lúc bấy giờ Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, kinh này có tên là gì? Chúng con làm sao phụng trì?

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    - Tên kinh này là “KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT”. Ông hãy theo tên đó mà phụng trì.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao vậy? Vì Đức Phật nói Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có chỗ nói Pháp không?

    Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Như Lai không có chỗ nói Pháp.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Bụi bặm của cả thế giới tam thiên đại thiên có nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, thật ra số bụi bặm đó rất nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, các bụi bặm đó, Đức Như Lai nói chẳng phải là bụi bặm nên gọi là bụi bặm.

    Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới nên gọi là thế giới.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? ông có thể do thấy 32 tướng để thấy Đức Như Lai chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! chẳng thể do nơi

    32 tướng để được thấy Đức Như Lai.

    Vì sao? Vì Đức Như Lai nói 32 tướng tức chính chẳng phải tướng nên gọi là 32 tướng.

    Này Tu Bồ Đề, có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào lấy thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, và nếu lại có người ở nơi kinh này chỉ thọ trì bốn câu kệ và đem nói với người khác thì phước này rất nhiều hơn người kia.

    Lúc bấy giờ ông Tu Bồ Đề nghe Đức Phật nói kinh này rồi, hiểu sâu nghĩa thú, ông xúc cảm rơi lệ mà thưa với Đức Phật:

    - Đấng Thế Tôn, thật ít có! Đức Phật đã nói kinh điển rất là sâu xa ảo diệu như vậy, con xưa giờ tuy được Huệ nhãn mà chưa từng nghe được kinh như thế này.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, nếu có người được nghe kinh này, mà lòng tin thanh tịnh tức thấy được thật tướng, phải biết người này thành tựu công đức ít có nhất.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, thật tướng đây tức chẳng phải thật tướng nên Đức Như Lai gọi đó là thật tướng.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, hôm nay con đã được nghe kinh điển như thế này, con tin hiểu, thọ trì mà chẳng thấy khó khăn.

    Nếu đời sau, năm trăm năm cuối sau, chúng sanh nào được nghe kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người này tức là người ít có nhất.

    Vì sao? Vì người này không có tướng Ngã, Nhơn, Chúng Sanh, Thọ Giả.

    Vì sao thế ấy? Vì tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả này chẳng phải tướng.

    Vì sao? Vì rời tất cả tướng, tức là chư Phật. Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Đúng thế, đúng thế! Nếu lại có người được nghe kinh này mà chẳng sợ, không kinh hãi, không e ngại, thì nên biết người này rất là ít có.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Đức Như Lai nói đệ nhất Ba La Mật tức chẳng phải đệ nhất Ba La Mật nên gọi là đệ nhất Ba La Mật.

    Này Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba La Mật Đức Như Lai nói chẳng phải Nhẫn nhục Ba La Mật nên gọi là Nhẫn nhục Ba La Mật.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Như Lai thuở xưa bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể, chính ngay lúc đó ta không có các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Vì sao? Vì thuở xưa trong lúc cái thân bị chặt từ khúc đó, nếu ta khởi các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả thì ta sẽ sanh giận dữ.

    Này Tu Bồ Đề! Ta lại nhớ thuở quá khứ, ta từng làm vị Tiên nhẫn nhục suốt năm trăm đời, suốt trong thời gian đó, ta chẳng khởi các tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Này Tu Bồ Đề, vì thế các bậc Bồ Tát phải nên rời tất cả tướng mà phát khởi TÂM Bồ Đề; chẳng nên trụ nơi Sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm. Mà phải sanh TÂM nơi CHỖ KHÔNG TRỤ.

    Thế nên Đức Phật nói: “TÂM Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố thí.

    Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh phải nên bố thí như thế, Đức Như Lai nói tất cả tướng tức chẳng phải tất cả tướng và nói tất cả chúng sanh tức chẳng phải tất cả chúng sanh.

    Này Tu Bồ Đề, Đức Như Lai có lời nói chân chính, thật sự đúng đắn chẳng dối gạt chẳng sai trật.

    Này Tu Bồ Đề, Đức Như Lai đắc Pháp đó không thật, không hư.

    Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát tâm trụ nơi pháp mà hành bố thí thì như người vào chỗ tối tăm, tức không thấy được chỗ nói này.

    Nếu Tâm Bồ Tát chẳng trụ pháp mà hành bố thí thì như người mắt sáng với ánh sáng mặt trời chói chang nên thấy được các thứ hình sắc.

    Này Tu Bồ Đề, về đời tương lai, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào có thể nơi kinh điển này thọ trì đọc tụng, tức được Đức Như Lai dùng Trí Huệ Phật thấy được người này, biết rõ người này, các công đức đều thành tựu vô lượng vô biên.

    Này Tu Bồ Đề, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ trong buổi sáng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, cứ như thế suốt trăm ngàn muôn ức kiếp vẫn đem thân mạng bố thí.

    Nếu lại có người nghe kinh điển này mà lòng tin chẳng trái, thì phước đây sẽ nhiều hơn phước trước, huống là biên chép, thọ trì, đọc tụng và vì người giảng nói.

    Này Tu Bồ Đề, nói tóm lại thì kinh này chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể đo lường, công đức đó thật không bờ mé. Đức Như Lai vì người phát Tâm Đại thừa nói, vì người phát Tâm Tối thượng thừa nói.

    Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, nói rộng vì người. Đức Như Lai sẽ biết được người này, sẽ thấy rõ người này, các công đức đều được thành tựu chẳng thể đo lường, chẳng thể cân lường, không có bờ mé, chẳng nghĩ bàn.

    Những người như thế ắt sẽ đảm đương được pháp Bồ Đề. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu người này say mê pháp nhỏ, đeo mang cái thấy: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả, tức đối với kinh này chẳng thể nghe được, đọc tụng hoặc giảng nói cho người được.

    Này Tu Bồ Đề, ở đâu đâu, nếu có kinh này cũng đều được tất cả Trời, Người, A tu la… Ở trong đời ưng chịu cúng dường.

    Nên biết những chỗ như vậy tức là tháp Phật, đều phải nên cung kính làm lễ vòng quanh và lấy các thứ hương hoa tung rưới ở những nơi ấy.

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào thọ trì, đọc tụng kinh này, nếu bị người kh- inh rẻ thì người này bị tội nghiệp ở đời trước, lẽ ra phải bị rơi vào đường ác mà hôm nay mới bị người khinh rẻ, nhưng vì thế mà tội nghiệp đời trước được tiêu diệt, nên được Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, ta nhớ về thuở quá khứ ở vô lượng vô số kiếp, ở trước lúc Đức Phật Nhiên Đăng ta được gặp tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha các Đức Phật, ta đều cúng dường, hầu hạ không thiếu sót.

    Nếu lại có người ở trong đời cuối mà có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì được công đức so với công đức sự cúng dường của ta đối với các Phật thì người đó hơn ta trăm lần, muôn ức cho tới không thể tính toán thí dụ được … mà ta thì chỉ bằng một phần công đức của người đó thôi.

    Này Tu Bồ Đề, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ ở trong đời cuối mà biết thọ trì, đọc tụng kinh này, thì công đức đã được đó, nếu ta nói cho đầy đủ e rằng người nghe sanh lòng cuồng loạn hồ nghi chẳng tin.

    Này Tu Bồ Đề, ông nên biết nghĩa của kinh này chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn.

     

    Lúc đó ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    -Thưa Đấng Thế Tôn, người thiện nam kẻ thiện nữ nào đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì phải trụ như thế nào?

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    Người thiện nam kẻ thiện nữ nào đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì nên như đây mà sanh Tâm: ta phải diệt độ tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh được diệt độ rồi mà không có chúng sanh nào thật được diệt độ.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Nếu vị Bồ Tát có các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả thì vị đó chẳng phải Bồ Tát.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Vì thật ra không có pháp nào phát Tâm Bồ Đề cả.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? lúc Đức Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có pháp nào được Bồ Đề chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không có pháp nào vậy!

    Như con hiểu nghĩa Đức Phật nói, thì lúc đó Đức Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng không có pháp nào được Bồ Đề.

     

    Đức Phật nói:

    Đúng thế! đúng thế! Này Tu Bồ Đề, thật không pháp nào để Như Lai được Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, nếu có pháp nào để Đức Như Lai được Tam Miệu Tam Bồ Đề, thì Đức Phật Nhiên Đăng chẳng thọ ký cho ta là: Ông ở đời sau sẽ làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

    Đã thật không có pháp nào để được Bồ Đề, nên Đức Phật Nhiên Đăng có lời thọ ký cho ta rằng: Ông ở đời sau sẽ làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

    Vì sao? Vì Như Lai tức là nghĩa các pháp tự Như. Nếu có người nói: Đức Như Lai được Bồ Đề, này

    Tu Bồ Đề, thật ra không có pháp nào để được A Nậu Đa

    La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, chỗ được pháp Bồ Đề của Như Lai trong pháp đó không thật không hư, thế nên Như Lai nói tất cả pháp đều là Phật pháp.

    Này Tu Bồ Đề, nói tất cả pháp, tức chẳng phải tất cả pháp nên gọi là tất cả pháp.

    Này Tu Bồ Đề ví như thân người cao lớn. Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Như Lai nói: thân người cao lớn, tức chẳng phải thân lớn nên gọi là thân lớn.

    Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng như thế ấy, nếu nói rằng: Ta nên diệt độ vô lượng chúng sanh thì đó chẳng gọi là Bồ Tát.

    Thế nên Như Lai nói tất cả pháp không Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Này Tu Bồ Đề nếu có vị Bồ Tát nói: Ta nên làm trang nghiêm cõi Phật, thì đó chẳng gọi là Bồ Tát.

    Vì sao? Đức Như Lai nói làm trang nghiêm cõi Phật đó tức chẳng phải làm trang nghiêm nên gọi là làm trang nghiêm.

    Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát thông đạt pháp “Vô Ngã”

    đó thì Đức Như Lai nói: đây mới chính thật Bồ Tát.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Nhục nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có

    Nhục nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Thiên nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có Thiên nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Huệ nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có

    Huệ nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Pháp nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có

    Pháp nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Phật nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có

    Phật nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Như trong sông

    Hằng có cát, Đức Phật nói là cát chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế, Đức Như Lai nói là cát.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? như số cát trong một sông Hằng, có số sông Hằng bằng số cát đó, có cõi Phật bằng số cát của các sông Hằng đó, như thế có nhiều chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất nhiều. Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

     

    Chúng sanh trong tất cả cõi nước như thế có bao nhiêu giống loại, tâm niệm, Đức Phật đều biết hết, vì sao? Như Lai nói các tâm đều chẳng phải tâm, nên gọi là tâm, bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề, tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên để bố thí, người này do nhân duyên như vậy lại được phước đức nhiều chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế! Người này do nhân duyên như vậy mà được phước rất nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, nếu phước đức thật có thì Như Lai chẳng nói được phước đức nhiều, mà do phước đức không thật, nên Như Lai nói được phước đức nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? có thể do nơi sắc thân cụ túc để thấy Đức Phật chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! không nên do thân cụ túc để thấy Đấng Như Lai.

    Này Ông Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao? có thể do các tướng cụ túc để thấy Đức Như Lai chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! không nên do nơi các tướng cụ túc để thấy Như Lai. Vì sao? Đức Như

    Lai nói các tướng cụ túc tức chẳng phải cụ túc nên gọi là cụ túc.

    Này Tu Bồ Đề, ông chớ nói Như Lai nghĩ như thế này “Ta nên có chỗ nói Pháp” ông chớ nghĩ như vậy.

    Vì sao? Nếu có người nói: “Đức Như Lai có chỗ nói Pháp” tức người đó chê bai Đức Phật mà chẳng thể hiểu được chỗ nói của ta. Này Tu Bồ Đề, nói Pháp mà không Pháp có thể nói, nên gọi là nói Pháp.

    Lúc đó Huệ Mạng Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, trong tương lai nếu có chúng sanh nào nghe nói Pháp này mà sanh lòng tin chăng?

    Đức Phật nói:

    Này Tu Bồ Đề, chúng sanh kia chẳng phải chúng sanh, chẳng phải không phải chúng sanh.

    Vì sao? Này Tu Bồ Đề, chúng sanh tên chúng sanh đó, Đức Như Lai nói chẳng phải chúng sanh nên gọi là chúng sanh.

    Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Phật được A Nậu Đa La

    Tam Miệu Tam Bồ Đề là không chỗ được chăng?

    Đức Phật nói: Đúng thế, đúng thế!

     

    Này Tu Bồ Đề, Ta ở nơi pháp Bồ Đề cho đến không có một pháp nhỏ có thể được nên gọi Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, hơn nữa, pháp này bình đẳng không có cao thấp, nên gọi đây là Bồ Đề.

    Do không Ngã, không Nhơn, không Chúng sanh, không Thọ giả mà tu tất cả pháp lành tức được Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, nói pháp lành đó, Đức Như Lai nói chẳng phải pháp lành nên gọi là pháp lành.

    Này Tu Bồ Đề, nếu trong cõi tam thiên đại thiên có bao nhiêu núi chúa Tu di mà có người đem số bảy báu như thế để bố thí, và nếu có người lấy kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho đến chỉ bốn câu kệ thôi mà thọ trì đọc tụng và nói cho người khác nghe thì phước đức này sẽ hơn phước đức người trước gấp trăm, gấp muôn ức lần cho tới không thể tính toán, thí dụ được.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý

  • 13. KINH KIM CANG giảng giải

    KINH KIM CANG

     Giảng giải

     Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

    Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa

     

    Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

     

     Hôm nay đầy đủ nhân duyên, chúng ta bàn vào kinh Kim Cang. Bài kinh Kim Cang này chúng ta sẽ học qua quyển sách mang tên “Đồi Sứ Chơn Không (2)”.

    Đồi Sứ Chơn Không là kỷ niệm một thời tu học của Thầy tại Tu Viện Chơn Không ở núi lớn Vũng Tàu.

    Đây là chỗ huynh đệ tụ họp bàn chuyện đạo lý và cùng nghỉ ngơi trong những lúc rảnh rỗi. Đó là một kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời của Thầy.

    Đồi sứ Chơn Không giữa núi non Nghìn năm quyện chặt nghĩa sắc son Đá sạn khô cằn thân sứ rắn

    Lá thắm hoa tươi nở mãi còn.

     Chúng ta đã có duyên học về kinh Bát Nhã, giờ bàn đến Kim Cang.

    Kim Cang và Bát Nhã là một cặp, một đôi rất là quan trọng ở trên con đường tu Thiền. Nếu Bát Nhã là chìa khóa để mở vào đạo Thiền, vào cõi Tâm linh thì kinh Kim Cang là sức sống mở ra từ chìa khóa ấy. Cho nên Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác đã từng nói rằng:

     

    Kiếm Bát Nhã

    Vòng lửa Kim Cang

    Đã hay thối thụt lòng ngoại đạo

    Từng làm khiếp vía lũ thiên ma

     

    Ngài ví Bát Nhã như là một vũ khí, là lưỡi kiếm bén và Kim Cang cũng là một thứ vũ khí, là vòng lửa. Kiếm và vòng lửa là hai loại vũ khí rất là lợi hại. Sự lợi hại này đã làm thối thụt lòng ngoại đạo, làm khiếp vía lũ thiên ma.

    Bát Nhã và Kim Cang là hai bửu bối để chúng ta nhiếp phục ngoại đạo, không bị rơi vào con đường tà ngoại, không bị thiên ma vây bủa, như vậy con đường tu của chúng ta sẽ bảo đảm đi đến chỗ viên thành Đạo quả. Nên hai thứ kinh điển này hết sức là quan trọng đối với người đi vào cửa Đạo nói chung và với người đi vào đạo Thiền nói riêng.

    Nếu đi vào con đường Thiền mà chúng ta nắm vững được Bát Nhã Tâm Kinh và Kim Cang Bát Nhã thì quả là chúng ta có một lợi khí hết sức là tốt lành. Từ đây sẽ mở ra lối Đạo cho chúng ta. Khi đó mình mới thật sự có Trí Huệ để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

     

    Bây giờ chúng ta bắt đầu đi vào bài kinh Kim Cang.

     

    '' Văn kinh:

     Tôi nghe như vầy: một lúc nọ Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc dưới cây ông Kỳ, thuộc nước Xá Vệ, Ngài cùng với một ngàn hai trăm năm chục Tỳ kheo chung hội.

    Phật dạy khi còn sanh tiền trong buổi kết tập kinh điển do Ngài Đại Ca Diếp làm chủ tịch vì Ngài Anan có trí nhớ rất tốt, có một sức cường ký nên những gì Phật nói Ngài Anan đều nhớ và thuộc hết và giờ đọc lại đều bắt đầu bằng câu: “Như thị ngã văn” nghĩa là chính Ngài Anan được nghe như vầy.

    Pháp hội này được diễn ra ở trong vườn Cấp Cô Độc dưới cây ông Kỳ. Đây là thửa vườn cất Tinh xá cho Phật và Tăng chúng ở.

    Tên nầy ghép chung tên của hai người.

    - Một người tên Kỳ Đà (Jeta Jeta), dịch là Chiến Thắng. Ông là vị Thái Tử, con Vua Ba Tư Nặc, trị vì nước Xá Vệ. Ông có một miếng vườn hoa kiểng ở ngoại thành Xá Vệ chừng năm dặm, là nơi ông tới lui vui chơi ngắm hoa trông kiểng.

    - Một người tên là Tu Đạt Đa (Sudatta), dịch là Thiện Cấp Thí, nghĩa là người hay bố thí, làm việc từ thiện xã hội. Ông là một Đại thần đương triều. Vì người đời cảm ơn đức gọi ông là Trưởng Giả Cấp Cô Độc.

    Ông Cấp Cô Độc vì mộ Phật Pháp, muốn mua miếng vườn của Thái Tử Kỳ Đà để xây cất tinh xá cúng lượng vàng trải khắp khu vườn. Ông Cấp Cô Độc không mặc cả, xe vàng đến trải đất mua vườn.

    Thái Tử Kỳ Đà thấy ông có lòng vì Phật Pháp mà xem nhẹ của cải, nên lấy làm vui thích hiến cúng luôn cả cây kiểng và những đất cây còn lại chưa trải vàng.

    Do vậy miếng vườn này gọi chung là vườn Kỳ Thọ

    Cấp Cô Độc thuộc nước Xá Vệ.

    * Xá Vệ (Sràvasti): Dịch là văn vật. Là một thành phố lớn, cũng là thủ đô của nước Kiều Tất La. Nước nầy là một nước lớn của thời đó (Lúc ấy nước Ấn Độ chia ra làm nhiều nước). Đây là nước nằm ở trung tâm điểm xứ Ấn, gọi là Trung Thiên Trúc. Vào thời Phật, Vua Ba Tư Nặc trị vì nước nầy.

    Pháp hội diễn ra ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc đó là không gian và thời gian được xác định một cách khái quát là một lúc nọ với thành phần tham dự gồm 1250 vị Tỳ kheo. Đây là những vị đã thành tựu quả vị A la hán chứ không phải Tỳ kheo chung chung. Như vậy ngoài những vị này còn có những vị khác nữa.

    * Tỳ Kheo: (Bhiksu) Đó là hàng đệ tử đã lãnh thọ đủ qui giới của Phật. Một chúng lớn trong bốn chúng đệ

     

    tử của Đức Phật. Tỳ Kheo còn có âm Tỳ Khưu, Tỷ Khưu, Tỷ Khiu, Tỷ Kheo.

    Tỳ Kheo có nghĩa: Khất sĩ, Phá ác, Bố ma.

    - Khất sĩ: là người trên thì xin pháp của Phật để nuôi Tâm, dưới xin cơm nước của người đời để sống mà hành Đạo phá ác, bố ma, giải trừ phiền não khổ đau.

    - Phá ác: là diệt trừ những điều ác việc ác, các thứ làm chướng con đường hành Đạo như: Tham, Sân, Si v.v…

    - Bố ma: là ruồng bố quân ma, giải trừ những ma oán trong lòng.

    * Thế Tôn: là 1 trong 10 tên của Phật là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

    Ở trong kinh Kim Cang này thường dùng 3 tên: Thế Tôn, Phật, Như Lai để chỉ cho Phật.

     

    '' Văn kinh:

    Khi sắp đến bữa ăn trưa, Đức Thế tôn mặc y cầm bát đi vào thành lớn Xá Vệ để xin ăn.

    * Y: Nghĩa chữ nho là áo, chiếc áo. Nhưng theo chỗ quen dùng trong nhà Phật, thì khi nói đến Y, lá Y tức là nói đến chiếc áo riêng biệt với thế gian, là chiếc áo giải thoát được truyền từ Đức Phật. Chiếc Y nầy là mảnh vải được cắt rọc ra thành nhiều khổ, hay vải vụn được ghép lại. Vì việc nầy nên gọi là Nạp Y hay là Ma Nạp Ca Sa. Ca Sa là chiếc áo hoại sắc bạc màu. Điều đáng chú ý là dù cắt rọc, dù ghép vụn, nhưng là ghép thứ tự có bờ, có mẫu hẳn hoi, gọi là Điều (bờ mẫu).

    Việc nầy có xuất xứ như vầy: Một hôm Đức Phật và Ngài A Nan đứng trên ngọn núi Linh Thứu trông xuống. Ngài thấy đồng ruộng, cánh đồng làm ruộng lúa có đắp bờ mẫu từng ô từng ô để giữ nước, tùy chỗ cạn sâu. Và đây là những ô để dân chúng gieo trồng lúa thóc, làm lương thực để được no ấm sống còn.

    Từ cái cảnh đồng ruộng và tác dụng của nó, Đức Phật bèn lấy đó làm kiểu mẫu cho chiếc áo của hàng Tăng Già. Ngài nói với A Nan về kiểu áo như vậy với ý nghĩa rằng:

    “Chiếc áo Tăng Già là mảnh ruộng phước để cho chúng sanh gieo giống”.

    Từ đó chiếc áo Tăng Già được thành hình và truyền mãi cho đến nay. Vì vậy chiếc áo Tăng Già hay lá Y gọi là: Vô Thượng Phước Điền Y! “Phước Điền Y” tức chiếc áo ruộng phước.

    * Bát: Tiếng Phạn gọi là Bát Đa La, dịch là Ứng

    Lượng Khí.

     

     '' Văn kinh:

     Vào trong thành, chia ra thứ lớp đi xin đã xong, rồi trở về chỗ cũ. Bữa ăn xong, thâu dọn y bát rồi, rửa chân xong, Đức Phật trải tòa ra ngồi nghiêm chỉnh.

    Chúng ta thấy Phật cũng bình thường như mình phải không? Gần tới bữa ăn cũng nghe đói bụng, rồi cũng phải mặc thêm lá y để đi ra ngoài. Đức Phật bằng từng bước chân chậm rãi mà đi vào thành xin ăn chứ Ngài không có bay, không có biến hóa, không có gì là kỳ bí cao siêu thần thánh hết.

    Ăn xong Ngài cũng thâu dọn y bát, rửa tay chân, trải tòa ra ngồi .

    * Trải tòa: Là trải đồ ngồi là một mảnh vải vuông vừa một người ngồi. Đây là vật tùy thân của một Tỳ Kheo cũng như Y và Bát. Vật nầy tiếng Phạn gọi là Ni Sư Đàn. Nho dịch là Tọa Cụ.

    Một con người sống bình thường như vậy nhưng nếu nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy ở Đức Phật toát hiện một cái gì siêu thoát không phàm tục như mình.

     

    Phật là một con người bình thường nhưng không tầm thường.

    Đó là từ Tâm giải thoát mà hiện tướng giải thoát cho nên trong tướng đi, tướng ôm bình bát của Phật, những cái cất nhấc tay chân, những thế đứng, thế ngồi đều toát ra vẻ gì phi thường kỳ diệu mà chúng ta rất khó giải thích cho được.

    Tất cả tất cả đều mang vẻ giải thoát, thanh thoát vô cùng nên nói Đức Phật có 80 vẻ đẹp là vậy và 80 vẻ đẹp này chỉ có khi Ngài thành Đạo. Từ 80 vẻ đẹp mà sinh hoạt nên sinh hoạt ở Ngài thật là hay.

    Đức Phật ở đây thật bình dị thật gần gũi với chúng ta. Nên có một vị Thiền Sư đã nói: “Phật là ông già phàm phu” !

    Lời nầy là lời tâng trọng Ngài biết bao! Một lời gần như âu yếm Ngài, âu yếm vị cha già hiền lành.

    Ôi! Đức Phật, Ngài “dễ thương” biết mấy! “Dễ thương” thật dễ thương, con người có cuộc sống thường nhật bình thường như vậy.

    Đời sống của người đạt Đạo là vậy, thật bình dị, không có bày vẻ gì bởi vì giờ đây Năng Lực Sống của họ không phải là thân xác này, không phải dung nghi này,

     

    không phải là cái ăn cái mặc, cái nằm, cái ngồi mà đời sống chính của người đạt Đạo là cõi Tâm Thanh Tịnh trọn vẹn - là Như Lai.

    Nên Đức Phật có đi xin là xin cho cái thân, nuôi cái thân để làm phương tiện lợi ích chúng sanh chứ không phải xin cho Như Lai. Như Lai thì không ăn xin.

    Như vậy Đức Phật xin mà không có tham, theo thứ lớp mà xin chứ không như mình xin mà còn có sự mong cầu, chọn lựa, còn nặng vì thân xác.

    Đức Phật sống một cuộc sống bình thường như vậy. Bình thường nhưng thật khó làm. Nên các Thiền Sư khi hiểu ra điều này đã nói rằng: “Bình thường tâm thị Đạo”.

    Đạo là gì? Đạo là một đời sống Tâm bình thường. “Tâm bình thường” ở trong cái ăn, cái mặc, cái nói. . . là một cái Tâm không có dao động, không có Tham Sân Si, không có đòi hỏi, một cái Tâm rất bình thường, đời thường như vậy.

    Bình thường mà không có phiền não.

    Đó là một đời sống rất là cao siêu, rất là mầu nhiệm, là đời sống Phật.

    Đây là sự hiện thân của Đức Phật để giáo hóa chúng sinh, là điều chúng ta phải học để thấy rằng đời sống siêu việt không phải là có thần thông phép nhiệm mà chính trong đời sống thường tình như thế này mà vẫn là giải thoát. Đạo như vậy mới thực tế, thực tiễn và con người sống được như vậy mới thực là con người đáng quý, dễ cảm, dễ mến. Nên chúng ta đừng nhìn Phật qua hào quang, phải là một con người biết quá khứ, vị lai mà hãy nhìn Phật là một ông già phàm phu như vậy. Để từ con người phàm phu của mình bật sáng Trí huệ để rồi mình cũng được như Phật. Ông Phật đó mới là ông Phật thiệt. Chính chỗ đó là Sức Sống Phật, là sức sống bình thường như thế và chúng ta tu là để sống lại con người bình thường như vậy mà thôi.

     

    '' Văn kinh:

     Lúc đó ông Tu Bồ Đề liền đứng dậy từ chỗ ngồi trong chúng, ông trịch bày vai bên mặt và quỳ gối mặt sát đất, kính cẩn chắp tay mà thưa cùng Phật:

     

    •  Tu Bồ Đề: (Subhuti) Một vị đệ tử thuộc hàng lớn của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tên Ngài theo tiếng Trung Hoa gọi là Huệ Mạng, nên có khi gọi chung là Huệ Mạng Tu Bồ Đề.

    Huệ Mạng có nghĩa là lấy Trí Huệ làm mạng sống. Trong hàng đệ tử Phật, Ngài là người “Giải Không

    đệ nhất”, là người hiểu về lý Không hơn hết trong chúng.

    Ngài có nhiều tên gọi: Huệ Mạng, Giải Không, Không

    Sanh, Thiện Cát (Kiết), Thiện Hiện.

    •  Bồ Tát (Bodhisattva): Bồ Tát nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, mà nguyên ngữ Phạn là Bodhisattva. Người Trung Hoa dịch là Đại giác hữu tình, hay: Hữu tình giác, Giác hữu tình.

    - Hữu tình giác: Là một người, một sinh vật có sự giác ngộ.

    - Giác hữu tình: Người giác rồi lại giúp kẻ khác cũng được giác.

    Như vậy một vị Bồ Tát phải có đủ hai việc:

    - Một là Tự giác (chính mình giác). Tự giác tức là có Trí.

    - Hai là Giác tha (Làm (dạy) cho kẻ khác cũng được giác như mình). Giác tha tức là Hạnh.

    •  Thiện Nam: Người Nam biết hướng thiện, biết hướng trên đường giải thoát trong Phật đạo. (Phật tử Nam)

    •  Thiện Nữ: Người Nữ biết hướng thiện, biết hướng trên đường giải thoát trong Phật đạo. (Phật tử Nữ)

    •  Tâm Bồ đề: (Viết gọn lại của cụm từ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm) Là Tâm Giác. Tâm sáng suốt chẳng gợn mảy tình thức. Tâm trong ngời sạch bóng tham sân, là Tâm chân thật nơi chính mình.

    Để mở đầu cho thời Pháp, Ngài Tu Bồ Đề, người ở hàng đầu, là bậc Trưởng Lão trong chúng. Ngài mở lời thưa thỉnh cầu Phật ban pháp mầu.

    Theo đúng nghi cách thưa hỏi cầu Phật, người đệ tử Phật từ thế ngồi phải đứng dậy hành lễ mà thưa hỏi. Việc hành lễ trước hết phải trịch áo bày vai phải (Đắp y chừa vai mặt). Đây là muốn nói lên: Con, đệ tử Phật nguyền đưa vai gánh vác Pháp Phật, quyết hứng trọn vẹn lời dạy của Phật, trước là làm lợi ích cho mình và sau là làm lợi ích cho chúng sanh. Nguyền gánh vác hết tất cả Phật sự.

    Đó là tất cả ý nghĩa của tâm nguyện người xuất gia theo Phật gọi là:

    THƯỢNG HOẰNG PHẬT ĐẠO HẠ HÓA CHÚNG SANH

     

    (Trên hoằng truyền Phật đạo

    Dưới hóa độ chúng sanh)

    “Hoằng hóa lợi sinh” là bổn phận hàng đệ tử của Phật. Sau khi “trịch áo bày vai” kế đến tư thế: quỳ gối

    chắp tay. Quỳ cũng phải quỳ chân mặt, quỳ sát đất. Quỳ

    như vậy là thế quỳ chịu đựng. Muốn thừa đương Phật Pháp, muốn hoá độ chúng sanh, là đệ tử Phật phải kiên tâm chịu đựng. Pháp Phật là pháp mầu, rất khó gặp ở thế gian, nên là rất quý báu. Pháp Phật là pháp vi diệu nên rất khó nghe. Vậy muốn nghe được pháp mầu, là hàng đệ tử Phật phải thiết tha dồn hết tâm trí, hết sức mình để đón nhận.

    Đây không phải là sự quỳ lụy vô lý khiếp nhược, mà là một sự kiêu hùng ở một người biết nhận chân giá trị của một vấn đề. Đó là hình ảnh kiêu dũng ở một con người thao thức ánh sáng giác ngộ. Như Thần Quang đã đối trước Thiền Tổ Đức Đạt Ma chôn chân trong tuyết băng và chặt phăng một cánh tay dâng lên Tổ để được nghe pháp mầu. Đó cũng là chỗ gan lì của chàng cư sĩ Huệ Năng đã chịu lao nhọc suốt bao ngày tháng, để được nghe giáo pháp thâm sâu. Là chỗ biết bao người vì đạo giác ngộ mà đã không tiếc thân mạng.

    Nên việc trước tiên là phải xem nhẹ bản thân nầy. Dồn hết một lòng hướng về chánh pháp. Ở đây Ngài Tu Bồ Đề đã thể hiện bằng cách quỳ gối chắp tay chờ đợi đón nhận pháp mầu của Phật. Đây là điều nguyện thứ nhất trong 10 đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.

    - Một là lễ kính chư Phật. (Nhứt giả lễ kính chư Phật) Kế đó Ngài Tu Bồ Đề kính cẩn chắp tay mà thưa

    cùng Phật. Ngài nói lên lời xưng tán Đức Phật:

     

    '' Văn kinh:

    Đấng Thế Tôn thật ít có! Đấng Như Lai đã khéo hộ niệm cho các vị Bồ Tát, đã khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát!

    Đây là lời tán dương từ một người trò biết rõ công đức của một vị Thầy. Công đức được thể hiện cụ thể đó là Đức Phật đã “hộ niệm” và “phó chúc” cho các vị Bồ tát.

    * Hộ niệm:

    - Hộ niệm tức giúp đỡ Bồ Tát tu tập pháp lành.

    Đức Phật hằng theo dõi từng bước hành đạo và trợ lực nung đẩy trí hạnh ở các Bồ Tát. Ngài luôn có mặt để dìu dắt các Bồ Tát, như mẹ hiền luôn bên cạnh con thơ

    để đút mớm sữa, cơm, tập ngồi, tập đứng, tập đi, tập nói cho con. Đây là việc rất cần thiết ở một bậc Thầy và Phật đã thành tựu công đức này.

    * Phó chúc:

    - Phó chúc tức dạy dỗ Bồ Tát học tập và hành Phật sự.

    Đức Phật luôn dặn dò chỉ vẽ, nhắc nhở các Bồ Tát, chỉ dạy những pháp sâu mầu uẩn áo để Bồ Tát trước độ mình sau độ người.

    Hai đức tính: HỘ NIỆM và PHÓ CHÚC là hai việc tối cần yếu ở một người Thầy cũng như hai việc Nuôi và Dạy ở một bà mẹ hiền. Đức Phật đối với các Bồ Tát cũng vậy.

    Ngài Tu Bồ Đề là một vị đệ tử rất hiểu về công đức của Thầy mình, nên lời khen tặng này không phải là một lời nịnh bợ, mà đó là lời nói lên sự hiểu biết, sự trân trọng về một bậc Thầy khả kính, khi Ngài đã biết công đức của Phật, sự thành tựu của Phật.

    Đó là lời nói xuất phát từ một tâm hồn trong sáng. Sự tán thán nầy là điềm lành lớn trong việc ươm trồng hạt giống Bồ Đề. Đây là điều thứ hai trong 10 đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền:

     

    - Hai là tán thán Đức Như Lai. (Nhị giả xưng tán Như Lai)

    Một người khi biết rõ công đức của Phật, sự thành tựu của Phật thì phát lòng nguyền theo dấu của Phật để được đời sống như Phật.

    Người muốn thực hiện đời sống như Phật, phải biết rõ từng bước trải qua của Phật, phải nhận rõ cách thế đặt chân cất chân của Phật. Bồ Tát là kẻ Thiện Nam Thiện Nữ đã phát lòng theo con đường Phật. Ngài Tu Bồ Đề muốn cho những người như thế có được chỗ cất nhắc chân đi, nên Ngài thưa hỏi với Phật:

     

    '' Văn kinh:

     - Thưa Đấng Thế Tôn, có người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì làm sao mà trụ được, làm sao mà hàng phục được TÂM ấy?

     Lời thưa hỏi nầy tức là lời muốn học hỏi theo con đường của Phật để tu tập. Lễ kính Phật không chưa đủ, tán thán Phật suông cũng chưa đủ, mà phải học theo Phật và làm như Phật mới là xứng pháp. Kính Phật, trọng Phật, khen Phật không gì bằng sống được như Phật. Muốn sống được như Phật thì phải nhận ra cái gì mà Phật đã nhận, phải làm cái gì mà Phật đã làm. Đó là phải rộng tu.

    Rộng tu là pháp cúng dường Phật. Lễ vật cúng dường Phật vì thế không gì bằng “rộng tu”. Tu hết những gì Đức Phật đã tu. Việc thỉnh pháp nầy ở Bồ Tát Tu Bồ Đề chính vì muốn rộng tu. Trước là đáp đền ơn Phật, kế là tự độ mình và sau là độ chúng sanh.

    Đây là điều nguyện thứ ba của Bồ Tát Phổ Hiền đại diện cho hàng Bồ Tát còn trong vòng phát tâm tu tập. Điều nguyện nầy là:

    - Ba là rộng tu cúng dường. (Tam giả quảng tu cúng dường).

    Xin được rộng tu để gọi là cúng dường lên chư Phật chứ không phải để xin một phước báu hay một ngôi vị nào đó. Tu một cách rộng rãi đó mới xứng đáng là một đệ tử của Phật.

    Ngài Tu Bồ Đề hỏi:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, có người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì làm sao mà trụ được, làm sao mà hàng phục được TÂM ấy?

    Đây là một câu hỏi rất quan trọng. Chúng ta bàn về câu hỏi này để thấy rõ hơn về một câu hỏi trọng yếu mà nhiều người đã hiểu lầm. Mà hiểu lầm về câu hỏi này là lầm về pháp tu ở nơi đây. Đây là một câu hỏi hai vấn đề:

    Người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì:

    - Làm sao mà Trụ được Tâm Bồ Đề ?

    - Làm sao mà Hàng phục được TÂM ấy ?

    Người đã phát khởi Tâm Bồ Đề tức là đã hướng đến

    Tâm Bồ Đề. Hướng tới nhưng chưa đến được.

    Biết Tâm Bồ Đề là Tâm giác ngộ, là Tâm Phật, là một cái TÂM rất tốt đẹp thì làm sao mà Trụ được và làm sao mà Hàng phục được TÂM ấy? Giống như bây giờ chúng ta biết Sài Gòn là một thành phố đẹp thì làm sao mà đến được Thành phố đó và làm sao ở lại Thành phố ấy?

    Chúng ta thấy cấu trúc Tâm Bồ Đề là lối cấu trúc tiếng Phạn và tiếng Hán. Tiếng Phạn là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề và tiếng Hán là Tâm. Rất giống với lối cấu trúc ở Bát nhã. Nên đây chính là Tâm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa và đó chỉ là cảnh giới “Chơn Không” mà thôi !

    Bằng vào câu: “… vân hà ưng trụ  kỳ Tâm?”. Nói theo văn phạm thì “kỳ” là một Đại danh từ thay thế cho danh từ đứng trước nó là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cho nên “kỳ Tâm” tức “Tâm Bồ Đề”, vậy câu này phải hiểu là: “Làm sao nhận ra Tâm Bồ Đề”.

    Người cầu đạo trước hết phải làm sao “nhận ra” Tâm Bồ Đề. Mà nói gọn là “Nhận Ra” TÂM. Theo nhà Thiền gọi là: Ngộ Bổn Tâm.

    Vậy chữ Trụ ở đây đồng nghĩa với chữ Ngộ (Ngộ bổn Tâm). “Ngộ Bổn Tâm” là Ngộ cái Tâm xưa nay ở ngay chính mình mà trong nhà Thiền cũng gọi là “Thấy Tánh” (Kiến Tánh). “Thấy Tánh” tức là “Nhận ra” Tánh. Như vậy “Trụ” cũng lại đồng nghĩa với “Kiến Tánh”. (Tâm hay Tánh là Năng lực sống có nơi người suốt 24/24 giờ. Đây là Tâm chân thật).

    Thay vì nói : “Làm sao Trụ được Tâm Bồ Đề?”

    Thì nói: “Làm sao Ngộ Bổn Tâm?” Hay “Làm sao Kiến Tánh?” (Tánh hay Tâm trong nhà Thiền dùng tương đương với Bồ Đề hay Bát Nhã trong kinh điển Đại Thừa).

    Đến câu: “… Vân hà hàng phục kỳ Tâm?” (“… Làm sao hàng phục TÂM ấy?”).

    “TÂM ấy” tức Tâm Bồ Đề. Nên câu này trở thành: “Làm sao hàng phục Tâm Bồ Đề?”

    Hàng phục có hai ý:

    - Một là Chiết Phục.

    - Hai là Qui Phục.

    * Theo nghĩa chiết phục, thì “Hàng Phục” tức là dẹp trừ hay diệt trừ, làm cho đối tượng phải chịu thua đi.

    “Phật hàng phục ma quỉ”, là Đức Phật làm cho lũ ma quỉ phải thua, hoặc là bị tiêu diệt, hoặc là bị tan rã. Theo nghĩa nầy thì Hàng Phục mang tính chủ động.

    * Theo nghĩa qui phục, thì “Hàng Phục” tức là về với, đầu hàng, tự mình trở về, hay về với đối tượng. Đây là chủ thể hướng về đối tượng.

    “Ma quỉ hàng phục Phật”, là ma quỉ đã thua Phật, chịu về với Đức Phật. Hàng Phục ở đây là chịu thua. Theo nghĩa nầy thì Hàng Phục mang tính thụ động.

    Vậy nên “Hàng Phục” ở đây phải hiểu theo nghĩa thứ hai. Theo nghĩa nầy thì:

    “Làm sao “về với” cái Tâm Bồ Đề?”

    Nhiều người cho chữ “Tâm ấy” là tâm vọng.

    Có sự hiểu lầm như vậy là do cái nghiệp hay hơn thua hay đấu tranh nên đọc đến chỗ này thì chúng ta hiểu theo nghĩa thứ nhất là Chiết phục là phải tiêu hủy, là hủy diệt. Hiểu như vậy là không đúng với văn kinh và hiểu lầm như vậy sẽ biến kinh này từ Đốn giáo trở thành Tiệm giáo.

    Kinh Kim Cang này là kinh Bát Nhã mà tu theo hệ Bát Nhã thì phải “Bất trừ vọng tưởng bất cầu chơn”. Nên hiểu theo nghĩa “vọng tâm” là trái với văn kinh là hạ thấp giá trị của văn kinh.

    “Làm sao về với cái Tâm Bồ Đề?”

    Việc cầu đạo phải thế. Phải làm sao chung sống được với cái Tâm Bồ Đề. Mà từ lâu mình chỉ cùng sống với tâm si mê điên đảo.

    Vậy “Hàng Phục” Tâm Bồ Đề tức muốn sống được bằng Tâm Bồ Đề. Tức muốn sống thuần Tâm Giác. Để dễ hiểu mình thay “Hàng Phục” bằng “Sống Bằng”, câu hỏi trở thành:

    “LÀM SAO SỐNG BẰNG TÂM BỒ ĐỀ?”

    Làm sao “sống bằng” Tâm Bồ Đề?, câu hỏi nầy là câu hỏi mà trong nhà Thiền, khi người học đã nhận ra Bổn Tâm, thì hỏi: Làm sao Phò Trì? Tức làm sao Phò Trì Tâm Bồ Đề? “Phò Trì” hay giữ gìn. Đây chính là “Sống Bằng” (Làm sao sống bằng Tâm ấy?). Và như vậy “Phò

    Trì” cũng chính là “Hàng Phục”.

    - Làm sao NHẬN RA TÂM BỒ ĐỀ?

    - Làm sao SỐNG BẰNG TÂM BỒ ĐỀ?

    Đây là hai vấn đề rất quan trọng - Quan trọng bậc nhất. Một người cầu đạo phải nắm vững - Đây không phải là giáo điều bó buộc, mà là vấn đề phải đặt ra trước ngưỡng cửa giác ngộ - Tự mình phải biết đặt ra.

    Người cầu đạo phải đi mòn gót trong các tùng lâm, đạo tràng cũng vì hai vấn đề nầy. Hai vấn đề nầy khi chưa được giải quyết, người cầu đạo chưa yên tâm mà ăn mà ngủ. Cả hai vấn đề nầy được giải quyết thì gọi đó là NGỘ.

    Người tu hành hội được như thế nầy mới thật là người tu hành chân chánh, là vị chân tu. Từ đây mà hành mới thật là hành đạo. Và đạo nghiệp mới nắm chắc phần bảo đảm. Từ đây mới xứng gọi là Hành giả.

    Nếu nói theo một đại sự nhân duyên Phật ra đời vì: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP PHẬT TRI KIẾN cho chúng sanh (theo kinh Pháp Hoa), thì hai vấn đề nầy: TRỤ và HÀNG PHỤC, tức là giai đoạn NGỘ và NHẬP PHẬT TRI KIẾN.

    PHẬT TRI KIẾN tức cái THẤY BIẾT PHẬT. Cái

    THẤY BIẾT PHẬT tức cái THẤY BIẾT GIÁC.

    Theo bốn bước giáo hóa của Phật: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP. Thì hai bước KHAI, THỊ, Đức Phật nhằm MỞ, CHỈ cho chúng sanh có khái niệm về TRI KIẾN PHẬT. Chúng sanh nghe qua tin nhận rằng nơi mình sẵn có TRI KIẾN PHẬT. Tin nhận mình có TÂM BỒ ĐỀ. Tin đây là cảnh giới an vui thanh tịnh không có bóng dáng khổ đau. Người tin được như vậy gọi là Thiện. Đàn ông gọi là Thiện Nam, người Nữ gọi là Thiện Nữ. Do niềm tin nhận được Tâm Bồ Đề là ở ngay nơi chính mình. Biết rằng Phật giải thoát an vui tự tại cũng do đây, nên phát khởi hướng về.

    Từ đây Đức Phật dạy thêm cho bước thứ ba là NGỘ, để khiến cho Thiện Nam, Nữ nhận ra được Tri Kiến Phật và thêm bước thứ tư là NHẬP tức khiến Thiện Nam Nữ hằng sống bằng Tri Kiến Phật để được giải thoát hoàn toàn.

    Như vậy rõ ràng hai bước nầy: NGỘ, NHẬP là hai bước tối thiết yếu.

    Mà một người đã đủ 4 bước: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP, Đức Phật thọ ký cho rằng: người ấy nhất định thành Phật.

    Ở đây TRỤ và HÀNG PHỤC là hai bước cuối cùng trong 4 bước. Vậy nếu TRỤ được và HÀNG PHỤC được, tức NGỘ, NHẬP TÂM BỒ ĐỀ thì nhất định thành Phật. “Nhận ra” Tâm Bồ Đề. Hằng “Sống bằng” Tâm Bồ

    Đề thì nhất định thành Phật.

    Thiền Sư là những người đi từ những bước nầy. Các Ngài là những kẻ trung thành nhất trong những bước quyết định nầy. Nên chủ trương: KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT thật không ngoa, không phô trương chút nào. Các Ngài phải được coi là những đứa con trung kiên nhất theo đường lối của Phật vạch ra, vẽ nên.

    Các Thiền Sư chính thống, không ai không khởi hành trình bằng con đường nầy. Thiền Sư khai thị cho người là khai thị bước thứ ba và thứ tư này. Làm sao để người Nhận ra (Ngộ) Tâm Bồ Đề và Sống được  bằng (Nhập) Tâm Bồ Đề. Gọi là Kiến Tánh (Ngộ) Khởi Tu (Sống bằng).

    Như Ngài Huệ Minh khi được Tổ Huệ Năng khai thị thì Ngài thưa: “Như người uống nước nóng lạnh tự biết”. Đó là Ngài đã Trụ đã Ngộ ra Tâm Bồ Đề. Sau đó Tổ dạy: “Phải khéo hộ trì” là khéo giữ gìn cái Tâm Bồ Đề, phải sống khắn khít đừng để mình rời xa nó nữa. Đó là Nhập Tâm Bồ Đề.

    Nói cụ thể theo chăn Trâu thì mình vốn có con Trâu Bồ Đề là con Trâu quý, con Trâu báu mà mình đã lạc khỏi Trâu, giờ nghe nói mình hướng đến để tìm.

    Tìm gặp được Trâu là Ngộ là Trụ. Tiếp theo là bước Hàng phục là Sống bằng đời Trâu - Sống bằng Tâm Bồ Đề một cách khắn khít -  Hòa nhập đời Trâu . Đi cùng Trâu đi, bước cùng Trâu bước, phải rõ mồn một, chớ tạm gián cách. Phải theo Trâu tới độ “ Sờ sờ trước mắt ”. Ta tức Trâu –Trâu tức Ta.

    Nếu nói tu giống như chăn trâu và trâu là vọng tâm. Tu là giữ tâm vọng đó là sai. Tu theo kiểu diệt vọng tâm là một chuyện rất nhọc nhằn mà không đi tới đâu.

    Cụ thể đời tu là phải tìm Trâu và theo Trâu. Đây phải là con Trâu quý  là Tâm Bồ Đề, chứ con trâu vọng tâm thì đâu cần phải đi tìm và chăn để rồi mất Trâu là đổ nợ. Điều này trái với đời thường phải không? Nó không hợp lý Tự tánh mà cũng không hợp lý đời.

    Biết là phải biết cái tốt, biết cái thật. Biết Tâm Bồ Đề là cái Tâm chơn thật. Làm sao nhận ra cái thật và sống bằng cái thật thì cái giả sẽ tiêu thôi. Khi Ngộ Tâm Bồ Đề và sống bằng Tâm Bồ Đề thì tất cả tâm Tham Sân Si sẽ tự tiêu. Ngộ ra Tâm Bồ Đề và từ đây mà tu. Đây là chỗ tu hết sức nhanh lẹ là lối Thiền đốn giáo.

    Vậy trước là làm sao Ngộ được Tâm Bồ Đề, kế đó tập Sống Bằng Tâm Bồ Đề, tức là Huân Tu. Trong nhà Thiền gọi là Đốn Ngộ khởi Tu.

    Tu như vậy gọi là đốn tu. Đốn tu nên đốn chứng. Việc thành Phật chỉ trong nháy mắt. Đây là chỗ tu của Long Nữ trong hội Pháp Hoa, Thiên Nữ trong hội Duy Ma Cật. Là chỗ mà Huyền Giác nói:

    - Một nhảy vào đất Như Lai.

    Chính chỗ này là câu hỏi rất quan trọng làm bật dậy về một pháp tu đốn giáo. Nên hiểu được kinh Kim Cang là hiểu Tâm Bồ Đề. Rõ ngay Tâm thể đã sẵn Tâm Bồ Đề, làm sao nhận ra Tâm Bồ Đề và sống đuợc bằng Tâm Bồ Đề là xong.

    Câu hỏi này thật là quan trọng, người có Trí đặt câu hỏi cũng có trí. Biết đặt câu hỏi, hỏi đúng, hỏi chính xác thì vấn đề cũng bật ra cho mình. Nên phải biết hỏi.

    Đặt được câu hỏi và trả lời được câu hỏi này đó là con người giác ngộ và giải thoát. Ai chưa biết thắc mắc những vấn đề trọng đại như thế này là người đó chưa có sự thao thức với vấn đề giải thoát. Có thao thức mới đặt ra để rồi giải quyết chứ không phải để biết cho vui. Phải hỏi những câu hỏi như thế này, đừng hỏi những câu hỏi lặt vặt không đáng.

     

     '' Văn kinh:

     Đức Phật nói:

    - Hay thay! hay thay! Này ông Tu Bồ Đề, theo ông nói thì, Đấng Như Lai khéo hộ niệm cho các Bồ tát, cũng khéo phó chúc cho các Bồ tát.

     Đức Phật đã khen đệ tử như vậy, khen đệ tử là người có trí biết học. Một vị Thầy mà khen ngợi học trò qua câu hỏi, qua sự thắc mắc trên sự học, người Thầy ấy quả là có nhiều thiện chí giáo dục. Tuy là Thầy mà chịu nhận cái hay của học trò thì đây là vị Thầy có đức độ, có dạ từ tốn, biết tôn trọng năng lực Trí Huệ ở người học.

    Từ việc cư xử như vậy ở một người Thầy dễ khiến cho người học hứng thú học tập. Đức Phật đã khéo léo hướng dẫn cho các Bồ Tát tu học.

     

    '' Văn kinh:

     Nay ông nên lóng nghe, ta vì ông mà nói: Người thiện nam kẻ thiện nữ đã phát khởi TÂM Bồ Đề, thì hãy nên như thế này mà trụ, như thế này mà hàng phục cái TÂM đó.

    Đức Phật trước khi giảng nói, Ngài nhắc người nghe phải giữ tư thế như vậy. “Lóng nghe”. Đây là một tư thế học tập rất thành công. Có lóng nghe mới nghe rõ, mới ghi nhận không sai sót và chính đây sẽ phát minh được điều Phật muốn nói ở ngay nơi mình.

    Đức Phật nói Pháp là từ bản Tâm Thanh Tịnh lưu xuất, nguồn Tâm lực này sẽ tác động thẳng vào bản Tâm người nghe. Nhưng nếu tâm người nghe không lóng đọng bao cặn bã, suy tư vớ vẫn thì người nghe không nhận ra được điều gì ở nơi mình.

    Chúng ta nghe Pháp, ghi nhận Pháp để sáng Pháp thì phải bằng một tâm lóng đọng tức “lóng nghe”.

    Đáp lại lời Phật khuyến phát, Ngài Tu Bồ Đề thưa:

     

    '' Văn kinh:

    - Thưa Đấng Thế Tôn! con xin vâng, nguyện vui thích muốn được nghe.

     Ngài thưa như vậy là diễn lên trạng thái nghe Pháp của mình. Lòng mình đã sẵn an vui để đón nhận Pháp từ Phật, có chuẩn bị được như vậy thì khi đón nhận Pháp ở Phật mới khiến lòng mình an vui thật sự.

    Bởi thế nên tại sao có người cũng đồng nghe Pháp mà chẳng ích lợi gì?. Chỉ vì người ấy chẳng được như vậy. Nghe bằng một lòng bất ổn, bằng sự khắc khoải rối bời thì làm sao mà an lạc được. Đem tâm sầu khổ mà nghe Phật Pháp thì Phật Pháp khi đón nhận sẽ mang màu sắc sầu khổ. Dù mình đang đau khổ còn đầy những kiến chấp nhưng khi nghe Pháp thì phải biết dẹp qua hết một bên để có được niềm an bình nhất thời hầu đón nhận sự bình an ở Pháp Phật. Phải dành một khoảng trống trong tâm hồn mà đón nhận Phật Pháp.

    Giữ “Tâm an vui” để nghe Pháp là một điều rất cần thiết vậy.

     

    '' Văn kinh:

     Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát đã như thế này mà hàng phục Tâm đó: có bao nhiêu loài chúng sanh, hoặc là loài Noãn sanh, hoặc loài Thai sanh, hoặc loài Thấp sanh, hoặc loài Hóa sanh,  hoặc loài Có hình sắc, hoặc loài Không hình sắc, hoặc loài Có tưởng, hoặc loài Không có tưởng, hoặc loài Chẳng

     

    phải có tưởng, Chẳng phải không có tưởng, ta đều khiến vào Vô dư Niết bàn mà được diệt độ hết. Cứ như thế mà diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, mà thật ra không có một chúng sanh nào được diệt độ.

     •  Bồ Tát Ma Ha Tát : Bồ Tát lớn. Đây là hạng Bồ Tát ở vào thập địa gần kề quả Phật. Là hạng Bồ Tát đã giác ngộ, có công hạnh sâu dày. Ngài Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền đều là Bồ Tát Ma Ha Tát.

    •  Chúng Sanh : Chỉ chung các loài có mạng sống . Có chín loài.

    1.    Loài Noãn sanh : Loài sanh trứng như gà, vịt, chim, cò v.v…

    2.    Loài Thai sanh : Loài sanh từ thai như người, trâu, bò v.v…

    3.    Loài Thấp sanh : Loài sanh từ ẩm thấp như vi trùng, các thứ vi sinh động vật.

    4.    Loài Hóa sanh : Loài sanh từ sự biến hóa, nhân không rõ ràng. Như trong cỏ mục thấy sanh ra đom đóm.

    5.    Loài Có hình sắc : Loài có hình sắc rõ ràng, bằng con mắt người bình thường nhận ra được như chúng sanh cõi dục, cõi sắc.

    6.    Loài Không hình sắc :  Loài không có hình sắc rõ ràng, mắt người không trông thấy, như chúng sanh cõi vô sắc.

    7.    Loài Có tưởng : Loài có ý tưởng khởi động rõ ràng. Như chúng sanh ở cõi trời hữu tưởng.

    8.    Loài Không có tưởng : Loài không có ý tưởng, ý tưởng chìm lắng bất động. Như chúng sanh ở cõi trời vô tưởng.

    9.    Loài Chẳng phải có tưởng, Chẳng phải không tưởng : Loài ý tưởng không nhất thiết là có hay là không. Như  chúng sanh ở cõi trời phi phi tưởng xứ, trong cõi vô sắc.

    Các vị Đại Bồ tát hàng phục Tâm Bồ Đề bằng cách độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được diệt độ.

    Hàng phục Tâm Bồ Đề tức để sống bằng Tâm Bồ

    Đề, bậc Đại Bồ Tát phải độ tất cả chúng sanh.

    Trong chúng sanh có chia ra làm 9 loài, một vị Đại

    Bồ Tát phải độ hết 9 loài ấy.

    Đây là điều nếu hiểu theo định nghĩa về 9 loài thì thật là nhiêu khê! Cả 9 loài biết là bao, làm sao mà độ hết. Chỉ nói riêng loài người thôi cũng chưa đã độ hết. Không nói chung cả loài người mà chỉ nói riêng số người trong một nước thôi cũng đâu đã độ hết.

    Về việc này không nói các Đại Bồ Tát mà kể luôn cả Đức Phật, Ngài cũng đâu đã độ hết. Toàn dân trên đất nước Ấn Độ ngày đó, Đức Phật  đã độ được bao nhiêu người được vào Vô Dư Niết Bàn? Độ người vào Phật Pháp, quy y Tam Bảo thôi mà cũng chưa được bao nhiêu, huống là độ vào Vô Dư Niết Bàn. Trong hàng đệ tử chính thức, hàng Tỳ Kheo chỉ có chừng 1250 (một ngàn hai trăm năm mươi) vị, mà các vị này chỉ mới là A La Hán hãy còn ở vào Hữu Dư Niết Bàn.

    Như vậy thì sao? Đức Phật chưa độ hết người xứ Ấn Độ vào Vô Dư Niết Bàn, huống là độ hết 9 loài chúng sanh, thì sao Ngài lại thành Phật được? Mình phải hiểu lời nói này thế nào cho phù hợp?

    * Việc thứ nhất phải đặt ra là “độ chúng sanh”. Mà chúng sanh này là chúng sanh nào? Chúng sanh như định nghĩa theo sinh vật học hay sao? Việc này phải phân rành.

    * Việc thứ hai là “cách độ”, độ như thế nào? Độ làm sao? Những vấn đề ác nghiệt này đã xoáy cháy óc não người muốn tu hành, nhưng với Thiền Sư Hoài Hải, người đã khế hội Đại Đạo trong pháp hội Mã Tổ Đạo

    Nhất. Ngài đã vì chúng chỉ ra, thật đơn giản, Ngài dạy:

    “j Việc thứ nhất: Độ chúng sinh. Chín loài chúng sanh trong một thân đầy đủ, tùy tạo tùy hành:

    + Vô Minh là Noãn Sanh

    + Ôm ấp phiền não ở trong là Thai Sanh

    + Nước ái thấm ướt là Thấp Sanh

    + Nóng nảy khởi phiền não là Hóa Sanh

    Ngộ tức là Phật, mê gọi Chúng sanh. Bồ Tát chỉ lấy tâm sanh niệm làm chúng sanh, nếu rõ Tâm ở trên bản thể (nguồn Tâm) của mình mà độ lúc chưa hiện bày, chưa hiện bày đều không, tức biết thật không có chúng sanh được độ diệt.”

    Như vậy 9 loài chúng sanh đây là từ một tâm biến động mà dấy sanh. Vậy chúng sanh mà phải độ  đây là Chúng Sanh tâm, chứ không phải là chúng sanh theo nghĩa sinh vật học.

    Việc thứ nhứt đã được xác định.

    k' Việc thứ hai: Cách độ. Do Ngộ tức nhận ra Bổn Tâm (Tâm Bồ Đề) mà không còn lầm (Mê) các dạng tướng được hình thành trên một Tâm. Vì Tâm Tánh đã Không, nên dù dạng tướng dấy động có khởi (chúng sanh khởi) thì cũng chỉ là Không. Ở trong Tánh KHÔNG, không lầm chúng nữa, nên chúng trở thành không. Đây là độ mà không thấy có chúng sanh nào được diệt độ.

    Như vậy, việc độ chúng sanh này không còn là vấn đề nan giải nữa, không riêng gì Phật và bậc Bồ Tát Ma Ha Tát tu được, làm được, mà cả mình, những ai có thiện chí tu hành cũng đều có thể tu được.

    Chúng ta đừng nệ rằng chỉ có bậc Đại Bồ Tát mới có thể tu được. Vì rằng các Ngài không phải khi không mà liền trở thành Đại Bồ Tát rồi các Ngài mới huân tu, mà trước khi các Ngài được gọi là Đại Bồ Tát, thì các Ngài cũng là chúng sanh mê lầm như mình. Các Ngài cũng không hơn gì mình khi còn là chúng sanh. Các Ngài nay được gọi là Đại Bồ Tát vì các Ngài đã làm được những việc phải làm.

    Dụ như muốn làm Bồ Tát thì hãy quên thân. Quên được thân, không còn chấp nơi thân mà hành đạo thì gọi đó là Bồ Tát. Chứ đừng nói đợi khi tôi làm Bồ Tát rồi tôi mới quên thân được.

    Muốn làm Bồ Tát phải biết rõ bệnh chúng sanh để độ chúng sanh.

    Việc độ chúnh sanh như trên (độ 9 loài chúng sanh) là việc chính yếu. Phải biết rõ từng bộ mặt một để mà độ chúng. Tức đối 9 loài chúng sanh mình phải biết rõ từng dạng một, khi chúng nảy sanh trên một Tâm. Biết, để không lầm chúng nữa! Không lầm thì không dính mắc nữa, “không dính mắc” tức sống bằng “Tâm Bồ Đề”.

    Ở trên, Thiền Sư Hoài Hải đã nói về 9 loài, nhưng có vẻ khái quát, giờ đây đến phần mình, mình phải phân rành nhận rõ hơn về chúng để dễ dàng hạ thủ công phu độ chúng.

  • 14. 9 LOẠI CHÚNG SANH

    9 LOÀI CHÚNG SANH

     

    Chín loài chúng sanh theo đây được hiểu theo những trạng thái tâm hồn trên một Tâm. Căn cứ từ từng đặc tính của từng loài mà diễn ra từng dạng trong Tâm.

     

    1. Loài Noãn Sanh: Loài sanh từ trứng.

     Đặc tính: Trứng có từng điểm, từng chấm được kết thành chuỗi hay thành khối. Phải trải qua nhiều giai đoạn mới thành hình sanh ra con.

    Trứng trong Tâm: Từng móng niệm rời rạc không niệm nào có ý nghĩa rõ rệt. Đây là những niệm loáng thoáng trong đầu, chúng kết thành dòng. Dòng niệm nầy hình thành, nảy sanh trong tâm nhưng chưa có tác dụng hiện thời. Có thể coi đây là những ý niệm bâng quơ, không đâu, là những ý niệm vớ vẩn. Dựa vào thời gian thì đây là những ý niệm, nghiêng về hoài niệm quá khứ và mơ màng về tương lai.

    Như khi đang ngồi chơi, thay vì không có niệm gì, nhưng lại chợt khởi lên nhớ lại: Hôm qua... đi chợ... người ấy… nhớ quen quen… mình… ngu thật… Rồi lại chợt khởi niệm: Vì, ngày mai… mình...ước gì… trúng số… có tiền… cất nhà… đi chơi…, sướng thật.

    Những ý niệm này tuy không dính gì hiện tại, nhưng vẫn gây tác động trong hiện tại. Như khi khởi niệm “ngu thật”, thì liền đó mày nhíu lại có một chút bực bội hiện lên.

    Hay khi khởi niệm “sướng thiệt”, thì môi nhếch mép cười. Sự hài lòng được hiện rõ.

    Trong nhà Thiền có truyền nhau câu truyện vui vui. Chuyện nói, có một chú đạo hầu (thị giả) đứng quạt hầu một Hòa Thượng. Tay quạt mà đầu óc chú đâu đâu.

     

    Chú theo niệm dấy khởi thấy mình ngày thêm lớn học hành giỏi giang, để rồi thành một Thượng Tọa với trụ trì một chùa to lớn, có đông đệ tử, có người hầu kẻ hạ đủ điều. Quyền hành trong tay đứa nào sái quấy thì côn cây lên đầu.

    Ngay khi ấy, (bằng ý niệm côn cây) sẵn cây quạt trên tay, chú đập thẳng xuống. Tiếng vang lên cái “Bốp”. Chú giựt mình, mắt trợn trừng, miệng há hốc. Chú đã đập quạt lên đầu vị Hòa Thượng.

    Cũng may vị Hòa Thượng là người đã đắc đạo, thấy được tâm ý chú. Hòa Thượng nói: - Lỗi ở chú kia, sao con lại đập ta! Như vậy để thấy, những khởi niệm đâu đâu, mà vẫn gây tác động trong hiện tại.

    Mặt khác, tuy đây là những niệm vu vơ, nhưng khi gặp duyên thì sẽ trở thành hiện thực. Như trứng chưa thành con, nhưng khi gặp duyên thì trứng liền nở thành con.

    Đây trường hợp của Vương Thúy Kiều trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh. Trong cuộc đời truân chuyên của nàng Kiều được báo hiệu từ giấc mơ gặp gỡ Đạm Tiên.

    Khi ban ngày, Kiều đã gặp Mã Đạm Tiên, thì đây là cảnh duyên. Nếu như bao người gặp qua rồi thôi, xem mả đó như bao mả khác, thì làm gì có sự trằn trọc về đêm.

    Kiều không vậy, thấy cảnh lòng sanh, nàng dấy niệm vẫn vơ theo cuộc đời thảm đạm của Đạm Tiên, để rồi gẫm lại đời mình:

    “Nỗi niềm tưởng đến mà đau,

    Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?”

    Vương Quan, em nàng, tuổi còn trẻ, tâm hồn trong ngần, lời chị (Kiều) như làn mây đen trôi ngang, khiến Vương Quan cảm thấy có gì khác lạ, chàng linh cảm có gì không hay, nên tìm cách nói kéo chị về hiện thực:

    “Quan rằng: Chị nói hay sao?

    Một lời là một vặn vào khó nghe! Ở đây âm khí nặng nề,

    Bóng chiều đã ngã, dặm về còn xa”.

    Vậy mà Kiều vẫn không chịu dừng, cũng cứ vẫn vơ vơ vẫn:

    “… chờ xem, ắt thấy hiển linh bây giờ”

    Đạm Tiên đã xuất hiện theo gió cuốn cây rung. Thấy thế, Kiều lại càng dấn niệm nhập liền vào duyên.

    “Hỡi tình ta lại gặp ta.

    Chớ nề u hiển, mới là chị em”.

    Tai họa cho cuộc đời Kiều bắt đầu từ đây.

    Duyên lại chồng duyên. Từ kết duyên với cái mã, rồi kết duyên với người dưới mả, lại kết thêm duyên nghiệp tài hoa.

    “Gốc cây, lại vạch một bài cổ thi”

    Rồi lại kết duyên cả cuộc sống của Đạm Tiên, tâm hồn Kiều lúc này:

    “Gương nga chênh chếch dòm song.

    Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân”.

    Thật là rối bời. Vừa gặp kẻ điêu linh vì bể tình

    (duyên Đạm Tiên), lại liền gặp kẻ trao tình (Kim Trọng).

    Lòng nàng đã động tình (duyên Đạm Tiên) lại gặp duyên tình (Kim Trọng), ngay đây tình nàng nẩy nở (trứng đã nở ra con) do vậy lòng nàng bối rối. Nàng đã gởi lòng cho Kim Trọng nhưng bóng Đạm Tiên cứ dật dờ ám ảnh, nên nàng đâm ra hoài nghi về việc trăm năm:

    “Người đâu gặp gỡ làm chi.

    Trăm năm biết có duyên gì hay không?”

    Lòng Kiều đã gởi cho Kim Trọng, hồn nàng lại vương vấn Đạm Tiên, khiến cõi lòng nàng thật là phức tạp. Nàng yêu, yêu một kẻ sống và yêu một kẻ chết. Sống là “sinh”, chết là “tử”. Nàng yêu “sinh tử”. Trong cái yêu như vậy khiến tâm hồn nàng bất an vô cùng, nhưng nàng lại say mê nó:

    “Ngổn ngang trăm mối tơ lòng,

    Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình”.

    Từ đây dòng hành thức cứ thế mà lan man xoay chuyển trong đầu Kiều. Hướng tương lai gần như Kiều đã cảm thấy được bến đỗ của thuyền tình là đâu:

    Đêm dần khuya,

    “Chênh chênh bóng nguyệt xế mành”

    Đầu nàng nặng (Trứng đã tượng quá nhiều). “Tựa đầu bên triện, một mình thiu thiu” Nàng đã đi vào cơn mộng mị:

    “Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,

    Có chiều phong vận, có chiều thanh tân”

    Đạm Tiên xuất hiện trên hành thức của Kiều và báo cho Kiều biết về số kiếp của nàng:

    “Vâng trình hội chủ xem tường,

    Mà xem trong sổ đoạn trường có tên. Âu đành quả kiếp nhân duyên,

    Cũng người một hội, một thuyền đâu xa”.

    Trong mơ Kiều như vừa lòng với số phận, nàng “lĩnh ý đề bài”:

    “Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm”.

    Kiều như đắc ý về hướng tương lai của mình qua lời xác nhận của Đạm Tiên, Tiên khen:

    “Giá đành tú khẩu, cẩm tâm, khác thường! Ví đem vào tập đoạn trường,

    Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai!”

    Tâm trạng Kiều như vậy tức nàng có quy định về giả thuyết, rằng: Nếu mà mình như Đạm Tiên có cuộc sống như nàng, thì mình sẽ là người đầy đủ nghệ thuật hơn nàng, sẽ là kẻ đứng nhất trong nghề thanh lâu (Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai).

    Nhưng lòng dạ nàng Kiều thật là ngoắt ngoéo. Đến khi tỉnh ra, rồi gẫm thân phận mai sau mà khóc rấm rức làm động giấc nồng mẹ cha, để khiến mẹ cha phải buông lời trấn an:

    “Dạy rằng: Mộng triệu cứ đâu?

    Bỗng không mua não chuốt sầu nghĩ nao!”

    Nghe qua, Kiều làm như đứa con hiếu thảo, biết nghe lời mẹ cha, bèn thôi.

    Nhưng thôi bên kia (Tử – việc Đạm Tiên) để mà xoay bên này (Sinh – Kim Trọng):

    “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch tương”

    Cái niệm bể tình nằm yên (Lòng theo việc Đạm Tiên) nhưng nó làm nhân để kết nghiệp tình (Chuyển lòng theo Kim Trọng).

    “Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,

    Nách tường bóng liễu bay sang láng giềng”.

    Từ cái hướng “kết nghiệp” tình để rồi có niệm (tạo trứng) để thực hiện “kết nghiệp tình” làm sao để được gặp chàng? Gặp được Kim Trọng. Đầu óc Kiều làm việc dữ dội!

    “Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng

    Nỗi riêng, riêng chạnh, tấc riêng một mình”.

    Đó là tất cả đầu mối của cái kiếp “Đoạn Trường”. Tất cả những diễn biến trong tâm hồn Kiều là việc

    “tạo trứng” để chuẩn bị khi gặp duyên là nẩy nở “sanh con”.

    Thế nên, khi tai biến đến gia đình Kiều, thì nàng liền nghĩ đến chuyện “bán mình chuộc cha”. “Bán mình chuộc cha” đây đâu phải là lối giải quyết duy nhất!

    Nguyễn Du đã kết:

     

    “Đã mang lấy nghiệp vào thân,

    Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa!”

    Nàng đã móng khởi: Mình sẽ có đời sống như Đạm

    Tiên!

    Đây tức “ý nghiệp”. Đã có Nghiệp nhân như vậy nên Nghiệp quả như vậy.

    Muôn sự tại nàng, nàng ơi!

    Từ “Noãn Sanh”: Niệm “Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai” để rồi có niệm “treo giá” bán mình chuộc cha! Đây là “Thai Sanh”.

     

    2. Loài Thai Sanh: Loài sanh từ thai.

     Đặc Tính: Thai có hình thù rõ rệt, xác định giống loại. Không qua giai đoạn nào, một phen thai nghén đã là con. Con được sanh ra là con, không có sự biến thái nào.

    Thai Trong Tâm: Niệm khởi có hình thù rõ rệt. Có tác dụng hiện thời. Là những ý niệm liên quan trực tiếp tạo thành hành động đương thời. Dựa vào thời gian thì đây là những niệm mang tính hiện tại, có tác động hiện tại.

    Những niệm này là những niệm thực tế, làm nảy sanh liền sự việc, tạo sinh hoạt nhất thời.

    Thí dụ, ngồi chơi trước cảnh sắc, chợt nghe đói bụng, liền nghĩ đến ăn. Phải tìm cái gì để ăn? Ngó quanh quất xem có gì để ăn được? A, có trái mận trên cành, làm sao bẻ? Liền nghĩ cách, phải trèo lên quằn nhánh hái. Và ngay đó thực hiện liền, trèo lên hái mận, ăn.

    Hay đối diện trước một người, để nói về vấn đề gì đó, đầu óc phải suy nghĩ để nói. Và từ suy nghĩ phát khởi thành tiếng nói, điệu nói và bằng cử chỉ hành động.

    Hoặc đối trước một cái máy hư, phải tìm tòi suy nghĩ thế này thế nọ, để rồi sửa chữa lại.

    Trước trang giấy, ngồi cắn bút suy nghĩ xem phải viết lời mở đầu như thế nào, vào thân bài ra sao, đoạn nào phải viết thế nào, rồi phần kết luận phải kết làm sao?… để rồi mới đặt viết xuống viết. Viết rồi nghĩ tới nghĩ lui sửa lại xóa đi, thêm thắt v.v...

    Bằng những niệm có tính thực hiện như vậy, đây là loài thai sanh. Nghĩ sao làm vậy. Việc làm được thực hiện theo niệm nghĩ.

    Những niệm này tuy có tính hiện tại nhưng trong đó vẫn ngầm có mầm quá khứ. Mầm quá khứ tức là loài noãn sanh. Noãn, sanh ra làm con. Con thành thai. Thai đẻ ra hành động tạo sinh hoạt.

    Kiều, khi gia đình ngộ biến, cha bị cầm cọng, nàng đã suy nghĩ rất nhiều về việc của cha, cuối cùng nàng quyết định theo thế kẻ yếu: Ngộ biến tùng quyền.

    “Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,

    Trong khi ngộ biến tùng quyền, biết sao? Duyên hội ngộ, đức cù lao,

    Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn? Để lời thệ hải minh sơn,

    Làm con trước phải đền ơn sanh thành. Quyết tình, nàng mới hạ tình:

    Dẽ cho để thiếp, bán mình chuộc cha!”

    Kiều đã quyết “Bán mình chuộc cha”. Nàng cho đây là vì chữ Hiếu.

    Có thực, chữ Hiếu là quyết định trọn vẹn trong quyết định của nàng không?

    Khi cha mắc nạn, thì con phải làm gì đó để cứu cha là điều nhất định – Đây là Hiếu.

    Nhưng Hiếu không có nghĩa là phải “bán mình”. Tại sao Kiều lại không nghĩ đến cách nào khác, dù

    có tính cách cục bộ? Mà lại, khi nghĩ chỉ nghĩ đến một

    giải pháp là phải “bán mình” để có tiền chuộc cha?

     

    “Bán mình” để nói lên lòng hiếu đạo sao?

    Tại sao? - Kiều đâu không đã mang phải ấn tượng làm kiếp giang hồ như  Đạm Tiên. Việc này đã gây một vết đậm trong tư tưởng Kiều. Cuộc trăng hoa đã manh nha trong hồn Kiều, trong cuộc sống của Kiều mấy lúc qua. Việc nàng gặp gỡ Kim Trọng đã nói lên điều đó. nàng đã sử dụng nghệ thuật “chăng luới tình” với Kim Trọng. Chính nàng đã khéo léo gợi hứng cho Kim Trọng. Nàng đã chứng tỏ: “Thì treo giải nhứt, chi nhường cho ai?”

    Nghệ thuật của Kiều trước Kim Trọng là khiến cho Kim Trọng chụp hụt món ngon vật báu. Nàng xích tới rồi sụt lui, sụt lui rồi nhích tới, cứ vậy nàng gây cho Kim Trọng vừa tăng gia cường độ vừa đảo lộn khiến Kim Trọng phải đê mê cả hồn lẫn xác.

    Mới dự vào cuộc tình ái mà bản lãnh của nàng đã cao như vậy. Nghiệp tình ái của nàng như vậy đã nặng lắm rồi. Trứng tình ái đã sanh con ái tình đã thành thai tình ái. Do đó, trong tâm hồn nàng đầy ắp thai tình ái đã phát triển trọn vẹn.

    Nay duyên ngoài đã đến, tai biến gia đình như vậy, lòng Hiếu nàng trỗi dậy. Nhưng lòng nàng đã đầy thai tình ái, nên lòng Hiếu có trỗi dậy, cũng là đội thai tình ái mà trỗi dậy. Như vậy lòng Hiếu nầy là lòng Hiếu bị dính chất tình ái. Nên quyết định “bán thân” của nàng là một giải pháp không đứng đắn, chỉ là giải pháp theo tiếng gọi của dục tính mà thôi.

    Thai tình ái ở lòng nàng có dịp đẻ ra con tình ái, hợp tình hợp lý theo lý luận biện bạch của nàng.

    Điều này có khi chính nàng không hay biết, nó đã đánh tráo nàng mà nàng không ngờ đến.

    Năng lực Nghiệp tinh vi như vậy. Nó âm ỉ cháy mà mình không hay, đến khi phát lửa ngọn, lúc đó mới hay là bị cháy nóng. Nên sau đó, khi nàng đã thực sự đi vào biển đục, thì đã bao lần nàng muốn tự tử quyên sinh.

    Nàng đúng là một chúng sanh thuần tuý: Sợ quả, chẳng sợ nhân!

    Như vậy niệm khởi đưa đến quyết định “bán mình chuộc cha” là Thai sanh, để rồi thực hiện việc bán mình lấy tiền chuộc cha xảy ra trong thực tế xã hội. Cuộc đời Kiều từ đây chính thức diễn ra khúc “đoạn trường”. Nỗi khổ và niềm đau dày xéo tâm hồn lẫn thân xác nàng đến độ tan nát.

     

    3. Loài Thấp Sanh: Loài sanh từ sự ẩm ướt.

     Đặc Tính: Thấp, môi trường ẩm, từ đây hay sinh ra loài vi sinh hình dạng nhỏ nhắn, phải tinh mắt lắm mới nhận ra. Và loài này có đời sống rọ rạy không bao giờ chịu yên.

    Loài Thấp Sanh trong Tâm: Là những niệm phát sanh từ sự u tối trong tâm hồn. Khi cõi lòng thấm ướt bởi nước mắt nước mũi… nước tình ái, thì có những niệm khởi dậy. Những niệm này nhỏ nhít nhưng lúc nhúc. Chúng rọ rạy, tạo nên sự ray rức, khiến cho tâm hồn trở nên oằn oại đau nhức, chịu không thấu. Từ đây sanh ra hai trạng thái hoặc là vùng lên trở thành cuồng nộ, hoặc là lịm chết.

    - Sự cuồng nộ đưa đến hành động hung tàn man dại. Việc này gây cho cuộc đời trở nên sóng gió, làm cho thiên hạ phải giở sống giở chết với mình.

    - Sự lịm chết đưa đến hành động quyên sinh tự tử, hay tìm cách thủ tiêu cuộc sống bằng cách: hoặc sống thu mình trong rừng sâu núi thẳm chẳng ai biết, hay chui rút bên chân thần thánh ma quỷ, các món ghiền gập và chui cả vào nghệ thuật. Đây cũng là lối tự tử - tự tử sống.

    Kiều, khi đã vào kiếp đoạn trường, nước mắt, nước mũi, nước tình ái thấm ướt cõi lòng nàng, tạo sự ẩm thấp u tối thành môi trường tốt, cho việc nảy sanh các chúng sanh. Những chúng sanh nầy trở lại cắn rứt tâm hồn nàng, khiến cho mảnh hồn nhừ nát tan tành.

    Chúng xui nàng tìm lấy cái chết. Nên đã bao lần nàng ra tay hủy diệt đời mình.

    Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

    Dập dìu lá gió, cành chim

    Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh

    Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

    Giật mình, mình lại thương mình xót xa

    Khi sao phong gấm rủ là,

    Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

    Mặt sao dày gió dạn sương,

    Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?

    Mặt người như Sở, mây Tần

    Những mình nào biết có xuân là gì!

    Đòi phen gió tựa, hoa kề,

    Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.

    Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

    Đòi phen nét vẽ câu thơ,

    Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.

    Vui là vui gượng kẻo là, Ai tri âm đó, mặn mà với ai?

     

    Thờ ơ gió trúc, mưa mai,

    Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.

    Nỗi lòng đòi đoạn xa gần,

    Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau !

    Nhớ ơn chín chữ cao sâu, Một ngày một ngã bóng dâu tà tà.

    Dặm ngàn, nước thẳm, non xa, Nghĩa đâu thân phận con ra thế này!

    Sân hòe đôi chút thơ ngây, Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?

    Nhớ lời nguyện ước ba sinh, Xa xôi ai có biết tình chăng ai?

     

    4- Loài Hóa Sanh:

     Loài sanh ra từ sự biến hóa, gần như không có giống, không nhơn.

    Đặc Tính: Nhơn để sanh ra không rõ rệt. Hóa hiện vô chừng.

    Loài Hóa Sanh trong Tâm: Những niệm bất chợt biến hóa. Những niệm nầy không có chiều hướng, tuỳ duyên mà hóa hiện thành hình thù, có ra hành động. Nên nó có rất nhiều bộ mặt.

    Sự sinh khởi của nó không có sự chuẩn bị. Vì thế hành trạng của nó thật là khó lường. Khi xuất hiện, nó ở dạng chập chờn ẩn khuất. Tình trạng rõ ràng nhất là sự mộng mị.

    Chính nó hay làm đảo lộn tâm hồn mình, gây biến tính đánh mất đi chiều hướng sống thường nhật. Cá tính bị thay đổi.

    Khi một tâm hồn bấn loạn, thì những cử chỉ hành động thường do nơi niệm hóa sanh hướng dẫn. Cho nên sự việc và kết quả chẳng vào đâu, chẳng dính gì đến tính nết bình thường. Trường hợp tâm hồn bị  khủng hoảng thái quá, bỗng dưng người ta hét lên la lối tầm bậy tầm bạ, chạy nhảy tứ tung, trở thành điên loạn, hay lịm người đi, rồi trở thành kẻ bơ phờ thờ thẫn.

    Một hình thức khác, như Kiều khi mang tên là Trạc Tuyền ở Quan Âm Các của nhà Hoạn Thư, nàng đã cùng Thúc Sinh, chồng Hoạn Thư, lén hàn huyên tâm sự. Nhưng bị Hoạn Thư rình nghe hết từ đầu đến đuôi. Kiều biết việc bại lộ, lành ít dữ nhiều, lòng nàng bấn loạn tính bài đào tẩu. Trước khi rời Quan Âm Các, Kiều đã lận theo mình chuông vàng khánh bạc. Nàng đã trở thành kẻ trộm.

    Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co. Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân,

    Bên mình giắt để hộ thân,

    Lần nghe canh đã một phần trống ba.

    Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

    Bỏ trốn Quan Âm Các, Kiều lại tìm đến chùa lân cận do sư Giác Duyên trụ trì. Nàng bèn dâng chuông vàng khánh bạc lên sư trụ trì, nói rằng đây là quà tặng của người sư huynh vị trụ trì, mà nàng là đệ tử của người đến trước để báo tin, vị sư thầy sẽ đến trong vài ngày sau.

     “Thấy màu ăn mặc nâu sòng.

    Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.

    Gạn gùng ngành ngọn cho tường, Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:

    Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh, Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu.

    Bản sư rồi cũng đến sau,

    Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.

    Rày vâng diện kiến rành rành

    Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra.”

    Đến đây Kiều mang thêm tội nói dối. Kiều trở thành con người láo xược. Nàng hóa ra là con người lừa đảo.

    Và rồi trong đoạn đời lao đao thác loạn, Kiều không còn giữ được tính nết ngày xưa. Nàng đã trở thành con người muôn mặt trong cuộc sống Yến tiễn Oanh đưa.

    Nàng đã bị niệm hóa sanh, nó biến hóa mặt nàng. Những bộ mặt như vậy khi có ra thì Kiều nào có hay. Đến lúc yên tĩnh rồi thì nàng mới hay, hay rồi lại thổn thức, lại khiến tâm hồn thêm bấn loạn. Càng bấn loạn thì nàng lại có ra nhiều bộ mặt quái gở khác.

     

    •  Sự liên hệ giữa bốn loài :

    Bốn loài: Noãn Sanh, Thai Sanh, Thấp Sanh, Hóa Sanh, đối với một con người bình thường (không là người tu) chúng luôn luôn sanh khởi. Với sự có mặt của chúng, con người mới thấy mình có sống, mới thấy mình hiện diện trong cuộc đời, và mới thấy cuộc sống nầy có ý nghĩa.

    Nhưng mà khi chúng tràn đầy tâm hồn mình thì mình kêu khổ than sầu.

    Chúng tuy được phân loại ra từng loài, nhưng sự sinh khởi của chúng rất phức tạp. Có khi chúng sinh khởi không phải đơn thuần. Không phải cái nầy sinh ra hết rồi

    mới đến cái kia. Mà chúng vẫn đồng lúc sinh khởi. Cũng như trong một ngày trong cuộc đời không phải chỉ có con người được sinh ra thôi, mà con chó, con mèo, con chim, con cá, vi trùng, vi khuẩn, v.v… cũng được sinh ra.

    Sự sinh ra của chúng hết sức là phức tạp  như vậy nên mình khó mà nhận ra chúng được. Vả, khi sinh khởi chúng có nhiều dạng nhiều hình thức, có thể nói là trùng trùng.

    Hễ cái nầy sanh thì cái kia sanh, cái nọ sanh, chúng xoay vần. Đây là nhân kia, kia là nhân đây. Việc sinh hóa của chúng thật là tinh vi.

    Sự liên tay của chúng gây tác hại cho con người vô kể. Chúng đã phá hoại tất cả hạnh phúc của con người.

    Nhưng khổ thay, con người không có nó thì không chịu. Con người lấy chúng làm con cái mình, cứ để yên cho chúng đập phá niềm hạnh phúc của mình. Vì rằng con người xây dựng hạnh phúc trên cảm giác. Có được cái cảm giác theo ý mình thì gọi đó là có được hạnh phúc.

    “Có cảm giác theo ý mình”. “Ý mình” là gì? “Ý kiến”

    là gì? “Bán mình chuộc cha” Bán được là thỏa ý.

    Như vậy “Ý” chỉ là một loài chúng sanh. Nó đã là một loài chúng sanh thì đâu phải là mình. Và như vậy cái điều nói là “thỏa ý mình” tức là “thỏa ý chúng sanh” rồi, nào phải thỏa ý mình? Do đó nói rằng được hạnh phúc, thì cái hạnh phúc đó là cái hạnh phúc của chúng sanh chớ nào có dính gì đến mình. Nên hạnh phúc không cánh mà bay. Mình chỉ kịp kêu la ơi ới thôi. Và mãi mãi nó chỉ là cái bóng không bao giờ chụp được. Vì thế cái mà gọi là hạnh phúc đó, nó đã mang mầm đau khổ. Cho nên sau khi có cảm giác hạnh phúc thì đó là một đống chình ình đau khổ.

    Như người cho uống được rượu là sướng (hạnh phúc) nhưng khi vừa thấy khoái thấy sướng (hạnh phúc) thì lại lăn cù, bỏ lại cho đời một đóng thù lù rên rỉ ói mửa. Lúc đó người chẳng ra người, chẳng giống ai. Và khi mà tỉnh lại thì nghe ê ẩm, nghe bần thần dã dượi, nghe khổ sở.

    Tại sao chúng ta lại chọn một thứ hạnh phúc như vậy? Hạnh phúc phải là hạnh phúc! Tại sao hạnh phúc phải pha vào hương vị khổ đau?

    Như vậy mới thấy con người đã lầm. “Lầm” tức là “Mê”. Cái không phải là gì mình hết, lại chứa dựa, lại lấy

    nó làm mình, lấy nó làm “ý mình”. Rồi tìm cách để thỏa “ý” đó. “Lấy các loài chúng sanh như vậy làm con cái mình”, đối với người trí gọi là: khá thương xót đó!

    Tội nghiệp biết bao! Khi mình thấy một người, lôi lũ trẻ hoang nghịch ngợm về nhà nuôi chứa, và nghe lời chúng bày biểu việc nầy việc nọ. Mà những việc ấy nhằm vào việc phá sản. Nhưng người vẫn vui lòng nghe theo. Vì sao, vì như chúng khiến gỡ bàn, gỡ ghế, gỡ tủ, gỡ giường... đem bán, bán thì có tiền, có tiền thì người chủ thích. Rồi cứ thế nghe theo chúng, đến đỗi có lúc chúng quát nạt làm chủ lại mà cũng phải nghe theo. Lần hồi sự sản bị tiêu tan, trở nên người cùng khốn. Ác thay đến lúc nghèo đói mà chúng có chịu bỏ đâu. Chúng vẫn cứ ù lì ở lại, còn hăng say đày xác chủ nhân nó nữa. Thảm cảnh như vậy, mình có thấy thương người ấy lắm không?

    Với thảm cảnh con người nói ra không hết, không cùng. Nguyễn Du đã tạm đưa ra nhân vật “Kiều” để nói lên một thảm cảnh của thân phận con người.

    Bằng bốn loại chúng sanh liên tay gậm nhấm, phá nát đời người, không còn là gì sinh khí sống. Giống như lũ vi trùng “Kohk” phá nát buồng phổi làm cho không khí không còn châu lưu trong thân xác.

    Bốn loài tuy nguy hiểm như vậy, nhưng cũng may là chúng không có tự tánh, tức chúng không có tính cố định, nên mình có thể chuyển đổi hay hóa giải chúng

    được. Như đã thấy, thì chúng có khởi lên, có sanh ra cũng là từ sự bất chợt mà sanh. Chúng dầu có sanh ra mà không thật có (nên mình không dính mắc nó thì thôi). Cái “hiện tượng sanh ra mà không thật có” gọi đây là VỌNG. Khởi dậy, động là Vọng.

    Bám vào nó là NIỆM. Hiệp chung lại gọi là VỌNG NIỆM hay ĐỘNG NIỆM.

    Như Kiều, bỗng dưng khởi về cái mả bên đường, đây là Vọng. Lại theo đó (mà muốn biết) là Niệm.

    Có Vọng Niệm, nên có vấn đề.

    Sự phân biệt ra, đây gọi là Vọng Thức. Nên Kiều mới hỏi phăng ra nguồn cội cái mả. Khi biết qua nguồn cơn mả người, thì lại sanh ra tưởng tượng về người, về thân thế sự nghiệp. Đây là Vọng Tưởng.

    Đã Vọng Tưởng nên sinh tình. Gọi là Vọng Tình. Tình đã có nên sinh ra 4 loài. Bốn loài làm nhơn

    làm quả với nhau, tạo thành vòng nghiệp chướng. Kiếp

    Đoạn Trường có ra từ đây.

    Vậy 4 loài chúng sanh đầu đuôi gì cũng chỉ là VỌNG. (Vọng có nghĩa là giả, không thật, không thiệt có).

    Đã là Vọng nên chúng dầu có mặt, có tinh khôn gì đi nữa, cũng chẳng giải quyết được gì. Càng giải quyết càng rối vì càng thêm vọng thôi, mà vọng thêm thì 4 loài lại càng thặng dư, sẽ bị tình trạng nhân mãn. Tai kiếp mạng vong không làm sao tránh khỏi. Đây là vì chấp giả (vọng) làm thiệt mà ra nông nổi.

    Đời Kiều đã bao phen dãy dụa mà chẳng được gì, nàng đành chưởi đổng mà nhăn mặt:

     “Chém cha cái số má đào.

    Mở ra rồi lại buộc vào như chơi!”

     Bao nhiêu giải pháp đã đặt ra, nào quyên sinh, nào đào tẩu, nào dựa vào thế lực tiền bạc tình cảm (Thúc Sinh), nào dựa vào thế lực sức mạnh (Từ Hải), rồi thế lực triều đình (Hồ Tôn Hiến)… để rồi cuối cùng nhờ vào thế lực … dòng nước sông Tiền Đường để kết thúc cái trò Đoạn Trường.

    Nhưng do túc duyên (duyên xưa), mà được nhà sư Giác Duyên đã phòng sẵn lưới vớt được nàng lên và cứu sống cho. Từ đây nàng nương nhờ cửa Phật, tắm gội nước cam lồ:

    “Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng

    Bốn bề bát ngát mênh mông

    Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau”.

     

    Với ngày tháng, Phật pháp đã giúp nàng rũ sạch kiếp đoạn trường. Lòng nàng đã không 4 loài chúng sanh nghiệp chướng tình ái kia rồi:

    “Nạn xưa trút sạch làu làu!”

    Như vậy, 4 loài chúng sanh đây là giai đoạn thứ nhứt. Khởi đầu 4 loài nầy là Vọng Tình. Là khởi Niệm ái tình. Chỉ vì NIỆM. Qua được, rũ sạch 4 loài tức qua được bể tình.

    Từ đây cõi lòng trở nên trong sáng. Và từ chỗ trong sáng nầy, lấy đây mà soi rọi các tưởng. Đây là chuyển sang giai đoạn thứ hai.

    (Con đường tu như thế nầy là đi theo lối tiệm tiến, tức là Tiệm Tu).

     

    5. Loài Có Hình Sắc:

     

    Loài Có hình sắc là loài có hình thù rõ rệt. Có ý niệm khởi dậy rõ ràng. Đối cảnh sắc thấy rõ tâm ý duyên theo. Qua sự đối cảnh rồi mà vẫn còn thấy bóng dáng hiện rõ trong Tâm. Đây là dạng thuộc về Pháp Trần.

    Như máy chụp ảnh, ống kính đối cảnh, cảnh hiện bóng trong buồng tối. Đã lảy cò máy rồi, đóng ống kính lại, bóng được giữ lại trong phim.

     

    Loài chúng sanh nầy luôn sanh ra trong tâm người bình thường. Và vẫn có với những người tu trong lúc ban sơ.

    Dù một người tu, như người đã xuất gia thành một Tỳ Kheo, thì một Tỳ Kheo giữ giới nghiêm chỉnh, không còn để tâm vào duyên thế tục, nhưng trong tâm vẫn còn những cảnh duyên của thời quá khứ (trước lúc xuất gia). Nên khi tọa thiền những thứ cảnh sắc quá khứ vẫn còn chỗi dậy hiện ra. Những cảnh sắc như vậy là loài Có hình sắc.

     

    6. Loài Không Hình Sắc:

     Loài Không hình sắc là loài không có hình thù rõ rệt, hay không có hình thù.

    Do công phu tập định, dùng các pháp quán, như các pháp Tứ Niệm Xứ, khi đắc lực thì đè bẹp được những hình ảnh thuở quá khứ, thì trong tâm trở nên rỗng không, không hình sắc.

    Người tu không biết, cho đây là đã chứng quả. Vì vậy cho nên cố giữ cái không nầy.

    Mà không biết rằng, cái không nầy là cái không do “đè bẹp” loài có hình sắc mà ra. Nên “cái không” nầy là cái không “có sự” sinh ra. Nó là cái không “sinh diệt” khi

     

    mà không còn “đè” được thì nó mất đi và cảnh sắc lại bật lên và hiện trở lại. Thế nên cái không nầy là cái không có tướng. Có cái hình thù “không” rõ ràng.

    Cũng như thấy trên bàn có ly tách bề bộn chướng mắt, thì xua dẹp nó đi. Xua dẹp rồi thì cái tướng không trống hiện ra. Đây chỉ là sự thay đổi sự hiện ra. Thay vì để đồ đạc hiện ra, thì dẹp nó đi để cái không trống hiện ra. Như vậy rõ ràng, cái không trống nầy là đối đãi với đồ đạc.

    Cái không có hình sắc nầy là “cái tướng không” đối với “cái tướng có”. Nên nó cũng chỉ là một thứ tướng. Là tướng không có hình sắc.

    “Cái tướng không có hình sắc” có sự sinh ra như vậy, nên cũng là thứ chúng sanh. Loại chúng sanh không hình sắc, vậy thôi. Chấp giữ cái “không hình sắc” nầy làm sự nghiệp, làm mình, thì thật là vô dụng. Vì lấy nó làm “mình” thì phải giữ kỹ nó. Nếu buông ra thì các thứ hình sắc lại bật ra.

    Như trên mâm cơm, muốn giữ mèo, mà bằng cách cứ ôm riết mèo vào lòng, không dám buông nó ra. Tay đã mắc ôm mèo thì còn tay nào mà ăn cơm. Mèo không ăn được gì thiệt, nhưng chính đương sự cũng chẳng ăn được gì. Giữ mèo như đây thiệt là giữ kỹ nhưng chẳng được gì. Chỉ được mâm cơm còn nguyên đó thôi.

    Như chuyện vui dân gian Việt nam có kể. Có gia đình nọ, cha mẹ vì bận việc phải đi xóm, giao nhà và ngựa cho thằng con trông chừng. Cha nó bảo: Con coi chừng cửa, chừng ngựa, ba má mắc đi xóm. Thằng con tỏ ra ngoan hiền dạ dạ vâng vâng, gật đầu lia lịa. Đến khi cha mẹ nó đi rồi, nó mới ngẫm nghĩ rằng: Ba mình dặn coi cửa, coi ngựa, vậy mình gỡ cửa để lên mình ngựa; Và cỡi ngựa đi chơi, thì sợ gì mất cửa mất ngựa.

    Nó cho như vậy là sáng kiến khôn ngoan, bèn gỡ cửa để lên mình ngựa đi chơi. Bảo đảm trăm phần trăm không mất món nào, nó cứ rong chơi đến chiều.

    Lúc cha mẹ nó xong việc trở về, thì hỡi ôi! Đồ đạc của cải không cánh  mà bay đi mất hết. Nhìn lại ngựa, ngựa đâu không thấy, nhìn cửa, cửa cũng không nào. Cha mẹ nó điên tiết, chỉ đợi “thằng con yêu quý” ló mặt về là nện cho nó một trận nên thân.

    Cha nó đứng chống nạnh trước nhà chờ nó. Ông ta thấy dáng nó đủng đỉnh trở về (chắc ăn mà), ông càng lộn ruột lên đầu, những mong quánh nó một trận. Nhưng khi đến gần, cha nó thấy rõ cánh cửa trên mình ngựa, ông ta sựng lại, quát: Mầy làm cái thá gì vậy?

    - Thì ba bảo con giữ cửa, trông ngựa. Con giữ còn nguyên, có mất thứ nào đâu. Nó trả lời tỉnh bơ như vậy.

    Cha nó tức muốn ói máu đi được. Nhưng thấy việc nó làm mà cũng mắc tức cười. Ông ức quá, không thể đánh nó được, vì mình là cha mà nói không rành với cái thằng ngốc tử. Ông bực quá giựt hai cánh tay mình xuống:

    - Con ơi con! Kiểu “thông minh” của con đã làm tán gia bại sản rồi con ơi!

    (Giữ kỹ theo kiểu nầy thật uổng công).

    Khi lo giữ cái không, sợ nó mất đi, thì thiệt cái không không mất, nhưng các thứ của báu đã mất. Cái “kho báu trí huệ” chẳng dùng vào đâu được, thì coi như đã mất. Khi đã mãi lo ôm giữ cái không, thì còn biết gì đến bao việc xung quanh. Người ta ai khổ, ai sao sao chẳng còn hay biết gì. Và ngay cả đến sự xúc chạm vào thân cũng chẳng còn hay biết gì. Đây không là một tai họa sao?

     

    7. Loài Có Tưởng :

     Loài có tưởng là loài có tâm tưởng. Tưởng ở đây không là tư tưởng, nghĩ ngợi thế nầy thế nọ, không như là tư tưởng gia. Tưởng ở đây thuộc về quán tưởng. Là một lối sử dụng Tâm Ý, nghiêng hẳn về một pháp nào đó. Như quán tưởng về cái thân bất tịnh. Quán tưởng về đất, hay về nước, hoặc về lửa, về gió. Trong tứ đại, quán một đại.

    Phép quán tưởng khi quán thuần thục thì sẽ thấy toàn thân, toàn cảnh giới đều thuần một thứ.

    Như quán tưởng Đất thì sẽ thấy khắp thân, khắp cảnh giới đều là Đất.

    Quán tưởng Nước thì sẽ thấy khắp thân, khắp cảnh giới đều là Nước.

    Quán tưởng Gió, Lửa cũng vậy.

    Như thế trong tâm, cái tưởng nảy nở sinh ra đầy khắp. Ngoài cái tưởng như vậy ra không còn cái gì khác.

    Hoặc như quán tưởng Sắc. Tức tưởng các thứ màu sắc. Như tưởng về màu trắng, thì tâm toàn cảnh giới đều chỉ có cái tưởng trắng. Tưởng đỏ, thì đầy tưởng đỏ. Tưởng xanh đầy tưởng xanh v.v…

    Cái tưởng sanh ra đầy trong Tâm, đầy cảnh giới, đâu đâu cũng là tưởng. Trong sự sống chỉ thuần là tưởng. Lấy cái tưởng nầy làm sự nghiệp, chấp nó là mình. Đây là loài chúng sanh có tưởng.

    Về lối tưởng nầy có rất nhiều môn. Người tu không khéo lâm vấp vào cảnh giới nầy thật là chướng ngăn. Là một loài chúng sanh có vẻ hấp dẫn, nhưng thật là bất lợi.

    Đa phần người “ham tu”, tu vội vã không cần nghiệm tới xét lui, thường hay đi vào con đường nầy. Vì thấy liền sự “linh nghiệm”. Như ham thích vân du, thì tu theo pháp tưởng xuất hồn. Dùng tưởng tưởng riết thì thấy hồn đi chơi. Ngồi một chỗ mà đi được khắp nơi. Từ Cần Thơ có thể đi chơi Vũng Tàu, Đà Lạt, Huế, Hà Nội. Từ Việt Nam có thể đi sang Pháp, sang Hoa Kỳ, sang Nga, sang Đức, v.v…

    Trong thích thú được rong chơi, mà đâu hay rằng trong đời sống như vậy là đời sống của loài chúng sanh có tưởng.

     

    8. Loài Không Có Tưởng :

     

    Loài không có tưởng là loài không có tâm tưởng. Đối lại với loài có tưởng.

    Với loài nầy thay vì phát triển tưởng, thì lại nhằm tiêu diệt tưởng. Do diệt hết các tưởng mà trở thành vô tưởng.

    Vì không có tưởng nên không còn hay biết gì ở mình, ở cảnh giới. Không còn cảm giác, trở thành như loài vô tri vô giác.

    Tự chấp lấy cái chỗ không không, như gỗ như đá nầy, cho đây là mình. Mà không hay rằng đây cũng chỉ

     

    là một thứ được sanh ra sau khi tiêu diệt cái kia. Nó có sanh ra và chấp lấy để làm sự sống, nên nó cũng chỉ là một loài chúng sanh. Một loại chúng sanh không có tưởng.

    Nếu dùng công phu thiền định (tọa thiền diệt tưởng) đến được chỗ nầy thì gọi là “Khô Thiền”. Một thứ thiền khô chết. Người tu Thiền không khéo hay lấy đây làm cảnh sở chứng.

    Ra công tu tập để được đến chỗ nầy cũng rất là tinh tấn. Nhưng đây chưa phải chánh tinh tấn.

    Loài chúng sanh nầy cũng có sức hấp dẫn người tu. Vì ở chỗ “Vô Tưởng” không còn thấy có cảnh khổ đau. Ở cái thân đã quên mất, nên có bị ngắt nhéo cũng không thấy đau. Ở trong tâm tưởng bặt, nên không còn có khổ.

    Người tu vì “sợ” khổ đau mà tu, khi tu hay đi vào con đường nầy, để thành ra loại chúng sanh vô tưởng.

    Đã vào đây thì thiệt khó mà ra. Vì trước hết đâu còn biết trời cao đất rộng là gì, kế đó quá say mê cảnh giới không khổ không đau, không còn nghĩ đến việc xa lìa đây nữa.

     

    9.  Loài Chẳng  Phải  Có  Tưởng Chẳng  Phải

    Không Tưởng:

     

    Loài chúng sanh nầy là loài siêu đẳng trong 9 loài. Loài nầy chẳng phải có tưởng, chẳng phải không

    tưởng. Tức là vừa không có tưởng, cũng lại vừa có tưởng.

    Đây là loại phi phi tưởng xứ. Là loài không có tưởng mà có chút ít linh tri, mà chẳng phải là trí huệ.

    Đây cũng là do công phu chín mùi trên con đường diệt sạch tưởng mà có được. Khi tưởng diệt sạch, thì có chút linh tri. Có được cảm nhận tự tâm. Nhưng sự cảm nhận nầy là nhầm lắng yên, lắng sâu hơn nữa trong cái vô tưởng. Nên cũng chỉ là loài chúng sanh chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng.

    Loài chúng sanh nầy không còn bóng dáng đau khổ nữa, mà cảm thấy thích thú. Vì thế nên càng rút sâu hơn nữa vào vô tưởng để có thêm cường độ thích thú. Chung qui cũng chỉ là một hình thức hưởng thụ cảm giác một cách tinh vi siêu thượng hơn những cảm giác phàm tục khác. Từ nghiệp nhơn và cảnh giới như vậy, nên được xếp loại theo thứ bậc cảnh giới và chủng loại là: Trời phi phi tưởng xứ. Là một loại trời ở từng bậc cao nhất.

     

    Trong 5 loài này thì đây là thứ chúng sanh cao cấp, là thứ dạng tư tưởng tinh vi. Niệm ở dạng nhỏ nhiệm ẩn kín, khó thấy, khó phát hiện. Chỗ đạt của chúng đều trái Tánh Thể, không đúng tự Tánh, không đúng thể tự Tâm. Chúng chỉ là giả thôi!

     

    '' KẾT LUẬN VỀ CHÍN LOÀI

     

    Trong 9 loài chúng sanh: Noãn, Thai, Thấp, Hóa, Sắc, Vô Sắc, Tưởng, Vô tưởng, Chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, dựa vào đặc tính, có thể chia ra làm hai nhóm.

    - Nhóm thứ nhất: 4 loài: Noãn, Thai, Thấp, Hóa.

    4 loài nhằm chung các loài ở cõi Dục. Những chúng sanh còn nặng tham dục.

    - Nhóm thứ hai: 5 loài: Sắc, Vô Sắc, Tưởng, Vô tưởng, Chẳng Phải Có Tưởng Chẳng Phải Không Tưởng.

    5 loài nhằm chung các loài ở cõi Sắc, Vô Sắc. Những chúng sanh nhẹ đi tham dục. Có ý hướng thoát ly tham dục.

    Như vậy kể cả 9 loài là gồm 3 cõi: Cõi Dục (Dục Giới), Cõi Sắc (Sắc Giới), Cõi Vô Sắc (Vô Sắc Giới). Ba cõi nầy thường quen dùng theo từ Hán - Việt là Tam Giới.

    Vậy Tam giới có là từ một tâm vọng động mà có. Nên trong Phật Pháp gọi là: TAM GIỚI DUY TÂM.

    Và khi tâm vọng động, nảy sanh có phân biệt. Do phân biệt mà có muôn ngàn sự sai biệt. Mỗi mỗi sự sai biệt đều khác nhau. Mỗi sự khác nhau đó gọi là Pháp. Sự phân biệt gọi là Thức. Nên muôn pháp từ thức mà sanh. Gọi rằng: VẠN PHÁP DUY THỨC.

    Từ tâm động khởi vọng. Như nước động có sóng

    (vọng).

    Động, Vọng sinh ra tam giới. Trong tam giới, có đủ thứ đời sống, đủ thứ cách thế sống, mỗi mỗi đều khác nhau gọi là Pháp. Như khi khởi sóng thì có lượn nhỏ, lượn to, lượn thấp, lượn cao, hướng Đông, hướng Tây, hướng Nam, hướng Bắc, sóng nổi, sóng ngầm v.v… mỗi mỗi cách thế, hình thức khác nhau, như vậy mỗi thứ gọi là Pháp. Mà trong tam giới có vô số như vậy. Nên trong Phật Pháp nói rằng:

     

     

    TÂM SANH CHỦNG CHỦNG PHÁP SANH

    (Tâm mà sanh, lớp lớp Pháp sanh).

     Vậy 9 loài chúng sanh gốc từ một Tâm sanh. Muốn hiểu 9 loài hãy nhìn lại Tâm mình.

    Như vậy tu là phải độ hết chín loài chúng sanh, mà Ngô Thừa Ân đã biến hóa thành 81 nạn trong Tây Du Ký. Người tu phải vượt qua sự biến hiện của chín loài chúng sanh này, không lầm một loài nào thì mới có thể giải quyết hết các niệm tưởng trong ta gọi là độ mà không thấy có độ vì chúng vốn không có thật.

    Có mà không thật giống như bóng, bóng có là do thiếu ánh sáng, chúng ta tu là tăng nguồn ánh sáng lên thì bóng niệm sẽ tự tiêu.

    Nên để hàng phục và an trụ Tâm Bồ Đề thì một Bồ Tát phải độ chín loài chúng sanh tức là chín dạng tâm ý, phải nhìn ra hết chín loài chúng sanh trong tâm xem đó như chín thứ vi trùng trong cơ thể vậy.

    Bồ Tát phải giải quyết tiêu giải hết, điều khiến tất cả vào Vô Dư Niết Bàn mà được diệt độ.

    * Niết Bàn trong nhà Phật gồm có:

    - Hữu dư Niết Bàn: Là Niết Bàn của hàng Thanh Văn của các bậc A Na Hàm và A La Hán. Niết Bàn này còn giới hạn vì chưa được trọn vẹn.

    - Vô dư Niết Bàn: Đây là Niết Bàn của Phật là cõi không còn đau khổ, là cõi an vui trọn vẹn, không còn bị rỉ chảy, là Niết Bàn rốt ráo còn gọi là Vô trụ xứ Niết Bàn.

    Phật và Bồ Tát đều ở trong Vô trụ xứ Niết Bàn là Niết Bàn không có cảnh giới, không có chỗ nơi, nơi nào các vị sống thì nơi đó là Niết Bàn. Niết Bàn trên từng bước đi trên từng hơi thở.

    Bồ Tát độ tất cả chúng sanh vào Vô Dư Niết Bàn tức là độ hết những tâm niệm Tham, Sân, Si nơi mình trở thành Thanh Tịnh thành Phật hết.

    Ở trong ta có cõi Niết Bàn đó là cõi vắng lặng là cõi Không ở Bát Nhã. Bồ Tát đều khiến vào Vô Dư Niết Bàn mà được diệt độ, khi đó mới thật là an ổn trọn vẹn.

    Một khi “chúng sinh tâm” độ được rồi thì “chúng sanh hiện tượng” sẽ dễ dàng giải quyết. Khi Tham Sân Si nơi mình đã sạch, tức là trong Tâm không còn Tham Sân Si thì mình mới độ được chúng sanh bên ngoài, mới giúp cho người bớt Tham, Sân, Si. Nên chỗ tu quan trọng là độ tất cả vào Vô Dư Niết Bàn - Độ mà không thấy chúng sanh nào được diệt độ.

    Độ mà không độ vì những tâm niệm của mình tuy rằng có nhưng chúng vốn không thật. Người không hiểu thì cho Tham, Sân, Si là thật có. Ở đây mình phải thấy lại nếu chúng là thật thì phải có mặt suốt 24/24 giờ trong ngày. Đằng này nó chỉ có vài giờ nên chỉ là giả có, là những thứ bóng chập chờn mà thôi. Bồ Tát do ngộ Tâm Bồ Đề, từ Tâm Bồ Đề mà sống, mà quán chiếu giống như bật ngọn đèn sáng lên nên bao nhiêu bóng niệm đều tự tan.

    Như vậy độ mà không thấy mình có độ, vì rõ được trong ánh sáng vốn không có bóng, trong Tâm Bồ Đề vốn không có Niệm, không có Tham, Sân, Si. Từ Tâm Bồ Đề mà rọi vào cõi lòng, rọi đến đâu thì chúng sanh được hóa sáng, được thanh tịnh đến đó gọi là được vào Vô dư Niết Bàn, được thành Phật, cứ như vậy mà độ. Độ tức là sống bằng Tâm Bồ Đề. Bật dậy Tâm Bồ Đề để rồi từ nơi đó mà sống, sống không rời thì gọi là tu là Chân tu. Nhưng làm sao để bật dậy Tâm Bồ Đề? Kinh Bát Nhã nói :

    “Thị chư pháp Không tướng

    Bất sanh, bất diệt

    Bất cấu, bất tịnh

    Bất tăng, bất giảm”.

     

    Nghĩa là :

    Cái KHÔNG của các thứ đây: Chẳng sanh – chẳng diệt Chẳng dơ – chẳng sạch Chẳng thêm – chẳng bớt.

     

    Như vậy để ngộ Tâm Bồ Đề thì nhất định chúng ta không chấp vào hai bên. Chính là khi lìa cái thấy hai bên, đó là cơ hội để bật sáng Tâm Bồ Đề và sống bằng Tâm Bồ Đề mà thấy qua mắt, nghe qua tai, nếm qua lưỡi, xúc chạm qua thân…

    Từ chỗ không trống, không một vật mà nhìn qua mắt thì nguồn ánh sáng đó, vốn không một vật tức không có Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi… không tất cả chúng sinh thì đó là cái nhìn độ chúng sinh. Trong cái nghe cũng bằng Năng Lực trong suốt đó mà tiêu giải Tham, Sân, Si. Rồi trong cái ngửi của mũi cũng không có Tham, Sân, Si vì từ Nguồn sáng đó mà mình hít thở nên cũng độ được chúng sanh Tham, Sân, Si ở mũi. Trong Nguồn sáng đó mà ta nếm qua lưỡi thì những vị ngon béo bổ cũng được hóa tán hết và Tham Sân, Si theo luỡi cũng biến mất. Rồi từ nơi Tự Tánh KHÔNG mà xúc chạm thì xúc chạm đến đâu cũng là rỗng là KHÔNG, cũng là không có Tham, Sân, Si tại đó.

    Như vậy từ Tâm Bồ Đề mà sống ra, nhìn ra thì tất cả chúng sanh đều được độ hết.

    Hình ảnh của Bồ Tát Di Lặc với 6 chú nhỏ ở trên người là Bồ Tát đã độ hết chúng sinh ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (ý qua hình ảnh tay nắm cái đãy lại) độ mà

    không thấy có chúng sanh nào được độ hết là như vậy. Đây là một lối tu từ trong gốc tu ra, từ Cội Tâm, từ Tự Tánh KHÔNG mà tu ra nên đòi hỏi chúng ta phải có sự gan dạ buông bỏ các pháp có hai thì mới có thể ngộ ra Tâm chân thật ở nơi mình rồi từ đó khởi tu.

    Nhà Thiền gọi là “Xứng Tánh khởi tu”, từ gốc Bồ Đề mà phóng ra nên Năng lực tu rất là hùng hậu. Ngay trong lòng Phật mà chúng ta sống ra bằng Năng lực Phật thì tất cả ma oán đều được giải quyết dễ dàng.

    Nên đường lối tu tiệm là tu dần dần, tỉa lần từng chúng sinh một để tiến vào gốc Bồ Đề là lối tu rất chậm, dù có tinh tấn nhưng rất khó giải quyết.

    Ở đây khi chúng ta định hướng được Phật rồi thì phải một phen không kể thân mạng chạy xắn vào gốc Bồ Để mặc cho ma quân bên ngoài có nhiều vô số. Vào được rồi chúng ta sẽ rõ ràng ma quân đó, chúng sinh đó chỉ là bóng, là giả. Bật sáng được Nguồn Tâm thì rõ ràng tâm niệm chỉ là giả có.

    Từ cái Thật mà sống thì không còn ăn thua với cái giả nữa. Đây là lối tu đốn ngộ.

    Thấy Tánh – An lập trong cái Tánh mà sống, mà dụng công gọi là “Vô công dụng Đạo”, tức là khi đó chúng ta không có khởi lên ý niệm phải tu như thế này, như thế nọ, mà chỉ là sống thẳng vào Tự Tánh, phát huy Năng lực của Tự Tánh.

    Đây là điều rất khó hiểu nếu đi vào bằng con đường suy lý thì người ta không chấp nhận được vì cho rằng không có tác ý thì không thể tu được.

    Nhưng chúng ta hãy thấy lại, trong cuộc sống thường ngày có những lúc chúng ta không tác ý gì cả mà mình vẫn biết làm việc, vẫn biết đi, biết thấy, biết nghe... phải không ?

    Sức sống đó còn có khi mình chưa biết tu nên khi nhận ra sức sống này thì chúng ta có thể tu mà vẫn không tác ý.

    Điều này những người có căn tánh Tiểu Thừa không hiểu được, còn những vị Bồ Tát thấy ra được chỗ này và dụng công được như đây thì gọi là Đại Thừa. Nên Đại Thừa là một thứ “dụng công không tác ý”, tất cả là từ nơi Tự Tánh mà lưu xuất.

    Nhưng để nhận ra chỗ này thì đòi hỏi mình phải thật gan dạ, phải dám coi thân mạng này như là không có, phải một phen cắt đứt tất cả những dây mơ rễ má, những bám chấp bấy lâu nay.

    “Vong thân mạng” để chúng ta nhận ra điều này và từ đây mà sống thì đối với thân mạng mình mới nhẹ đi, chứ còn không chúng ta cứ vì thân mạng này mà tu nên tu cả đời cũng chỉ là mắc kẹt trong thân mạng, kẹt trong Ngũ Uẩn mà không có một sự giải thoát thật sự, nếu có thì chỉ là sự giải thoát tạm thời mà thôi.

    Muốn có giải thoát chân thực, người tu nhất định phải nhẹ đi về cái chấp thân xác, nhẹ đi cái chấp về nguồn nghiệp lực, nguồn nghiệp thức của mình. Tuy chưa bỏ dứt được nhưng phải có một phen nhứt thời dẹp đi thì mới có thể giải quyết được.

    Cụ thể như trên sông đầy lục bình, mà mình muốn uống nước thì phải làm sao ? Nơi nào có lục bình thì nơi đó có nước, nên phải biết dùng hết sức mình đẩy dạt lục bình ra sẽ thấy nước rõ ràng, tuy mình chưa dẹp hết nhưng thấy được nước rồi thì từ đây chúng ta càng dạt thì nước càng rộng và rác sẽ tiêu thôi.

    Nói dễ hiểu hơn, như mặt nước nổi màng màng, khi chúng ta để yên thì thấy nước có màng màng thật sự, nhưng khi khoát nước rồi thì màng màng sẽ tiêu vào trong nước. Ví dụ này gần với cách tu này. Tâm của mình giống như mặt nước, chúng sinh tâm là những niệm nghĩ giống như màng màng nổi trên mặt nước. Chỗ nào

    màng màng, chỗ đó là nước, ngay nơi ý niệm chỗ đó là Tâm ta nên chúng ta mạnh dạn hụp đầu vào thì ngay đó rõ ràng thế nào là nước, thế nào là Tâm và chúng ta thấy điều đó thật là thần tốc mà không có sự trừ diệt gì cả.

    Nếu chúng ta thấy có Tham, Sân, Si là thật và cần phải diệt trừ giống như thấy màng màng nổi trên mặt nước là thật và chúng ta hớt màng màng đổ đi, đổ hết màng màng thì cũng sẽ hết nước. Đó là một lối giải quyết sai lầm. Nên không có sự “trừ diệt” mà chỉ là “độ” thôi, vì nó chính là từ nơi cái Tâm của mình, do mình nhìn lầm hiểu lộn mà có ra vậy thôi.

    Giống như Bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng nở ra trăm người con, 50 đứa xuống biển và 50 đứa lên non, đông quá bà hết nhớ, rồi những đứa con này sinh con đẻ cái ra trùng trùng tất cả kéo về vây Bà Âu Cơ.

    Thoạt đầu Bà không biết là con mình, Bà còn ngăn chặn, còn đánh còn trừ thế nầy thế nọ, nhưng nếu Bà trừ, Bà giết là giết con là cắt đi dòng máu của mình.

    Bây giờ Bà biết ra bao nhiêu đứa này đều là con của mình hết thì đứa nào xuất hiện Bà chìa khai sinh ra :

    - Con là con của má đây !

    Nó đọc được khai sinh của nó, biết đây là má mình. Mình và má cùng một dòng máu thì không còn quậy nữa.

    Như vậy gọi là độ mà không có độ gì hết vì thật ra chúng là con của mình. Là con của mình nên chỉ là nhìn nhận, là một cuộc chiến rất là hòa bình, không có gì gọi là sắc máu, chỉ là “nối dòng máu thắm xóa thù hằn xưa” là “bất chiến tự nhiên thành” lối tu này là vậy.

    Nên thấy có một triệu niệm tưởng thì triệu niệm tưởng đó cũng là từ nơi Tự Tánh mà do mình nhìn sai rồi cho là kẻ thù của mình, phải trừ phải diệt đi thì đó là lối tu sai lầm.

    Các vị tu theo Tiểu Thừa không chấp nhận điều này, cứ giết một cách triệt để không còn một đứa nào hết nên được mang nghĩa là sát tặc. A La Hán có nghĩa là Sát tặc, tức là giết những tên giặc. Nhưng nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy không có đứa nào là giặc mà đều là con của mình, do mình đẻ ra và chúng đều mang dòng máu của mình. Nên chỉ có thương yêu và Từ bi mà không có gì phải chém giết thanh toán lẫn nhau.

    Vì hiểu được chỗ này mà Ngài Lâm Tế nói rằng người nào tu mà đối đầu với vọng tưởng, diệt vọng tưởng đó là : “Trên da thịt khoét thành thương tích”. Da thịt đau chỗ nào mình khoét chỗ đó, cho đó là kẻ thù của mình như vậy có thiệt hại cho mình không ?

    Rất thiệt hại, đó là chỗ tu sai lầm, chỉ làm hư hại cuộc đời mình thôi, cho nên Tham, Sân, Si, chúng sinh bốn loài hay chín loài cũng vậy, người biết tu là độ chúng vào Vô dư Niết Bàn chứ không có giết hại, không có tàn sát gì cả.

    Do vì chúng là vọng không thật nên nói không có chúng sanh nào được độ.

    Nếu chúng ta nhận ra được chỗ này thì công phu sẽ đổi mới hoàn toàn, trở thành thoải mái nhẹ nhàng vô cùng, ra công ít mà kết quả nhiều, niệm tưởng rất dễ dàng giải quyết. Giống như các chú Tiểu trong chùa, có thể ngỗ nghịch lăng xăng với các vị, nhưng với tôi, chỉ cần nhìn một cái thôi là các chú xếp re hết, đó là “nối dòng máu thắm”.

    Bởi vậy chúng ta thấy vị họa sĩ nào đó vẽ đôi mắt Bồ Đề Đạt Ma trắng bạch như hột gà mới thấy họa sĩ đó diễn tả hết ý, chỉ cần có con mắt nhìn như vậy thì bao nhiêu chú vọng tưởng xếp de hết trọi, không đứa nào dám ngóc đầu lên, giống như mình đã là Thầy của chúng rồi, thì chỉ cần nhìn một cái là chúng im lặng.

     

    Chúng ta hãy bằng con mắt của Tổ Bồ Đề Đạt Ma mà nhìn những chúng sinh lóc nhóc ở trong tâm, trợn con mắt đó lên thì chúng sinh kia im lặng hết, công phu như vậy mới là thần tốc và thật tuyệt vời. Vì sao các vị Bồ Tát tu được như thế.

     

    '' Văn kinh :

     Vì sao? Này Tu Bồ Đề? Nếu vị Bồ Tát có tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng Sanh, tướng Thọ giả, tức vị đó chẳng  phải là Bồ Tát.

     Bồ Tát độ chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được độ. Vì Bồ Tát không có bốn tướng : Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Nếu Bồ Tát có Tứ tướng thì không còn là Bồ Tát.

    Tứ Tướng, đây là một từ rất là chuyên môn, kinh có đề ra mà không có lý giải. Vậy Tứ tướng này có nghĩa là gì ? Chúng ta xét từng tướng một.

     

  • 15. TỨ TƯỚNG ( Phần 1)

    TỨ TƯỚNG

     Thể.

    * TỨ TƯỚNG: Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả.

    1. Tướng Ngã : Là Ta, là Mình, là Tôi, là Chủ Thể.

    2. Tướng Nhân: Là những cái đối lại với Ta là Khách

     Bây giờ như Tôi và các vị, thì Tôi là Ngã, các vị là Nhân ! Đó là nói về con người, còn nói về sự vật thì sao?

    Tôi là Ngã và bình hoa này là Nhân, tức là cái gì đối lại với Tôi đều là Nhân hết. Như tôi dùng quyển sách này, thì quyển sách này là Nhân đối với Tôi. Tôi là Trụ Trì ngôi chùa này thì Tôi là Ngã, cái Chùa là Nhân. Nghĩa là cái gì thuộc về Chủ Thể là Ngã, cái gì thuộc về Khách Thể gọi là Nhân.

    3. Tướng Chúng sinh: Là Tướng hiện tượng, là các vấn đề, các sự việc, các cảnh giới xảy ra giữa Ngã và Nhân.

    Khi có Ngã có Nhân rồi thì xảy ra cái gì đó. Cái gì đó là Chúng sinh. Cụ thể Ngã là người Nam, Nhân là người Nữ. Nam nữ gặp nhau sinh ra con thì con là Chúng sinh.

    4. Tướng Thọ giả: Là cảm giác thọ nhận, cảm giác phân biệt và lưu trữ buồn vui, thương ghét, ưa chán, tạo thành thời gian, tuổi thọ.

    Như Tôi là Ngã, các vị là Nhân và Chúng sinh là những vấn đề nói chuyện hôm nay và ngay đây các vị sinh ra cái cảm giác là thích, là ưa, là chán ghét, thì đó gọi là Thọ giả, tức là các cảm giác sinh ra. Nam và nữ sống với nhau đẻ ra lũ con rồi với lũ con đó mà buồn vui, sướng khổ, đó là Thọ giả.

    Như vậy ở trong đời có người nào sống mà thoát ra ngoài Tứ tướng không? Từ người dân phèn đến ông vua đều sinh hoạt trong Tứ tướng này hết mà khi sinh hoạt trong bốn tướng này thì sẽ đưa đến kết quả là khổ.

    Kết quả của Tứ Tướng là khổ nhất định không sai. Cho nên Tứ tướng này tạo nên cái khổ cho con người và khổ luôn cho con trâu, con bò, con heo, con gà, con vịt, khổ luôn cho thần tiên, ma quỷ. Người nào

    dính vào bốn tướng thì đều khổ. Vua quan sĩ thứ, người

    giàu, kẻ nghèo gì cũng đều khổ hết, khi có đủ bốn tướng này. Tứ tướng đưa tới khổ như vậy nên nếu Bồ Tát có Tứ tướng thì không còn gọi là Bồ Tát.

    tại sao, chồng đổ thừa tại vợ, vợ đổ thừa tại chồng, rồi đổ thừa tại con, cứ đổ thừa vòng vòng mà không thấy cái khổ lớn nhỏ gì trong cuộc đời cũng đều bắt đầu từ đây.

    Và khi thấy đây là khổ thì liền có sự giải quyết, giải quyết về cái Thọ cảm vì sống đòi hỏi có cảm giác nên khổ. Bây giờ để trừ khổ thì trừ cảm giác này trước tức là cảm giác sướng thích gì đó mà chúng ta gọi là hạnh phúc gia đình. Biết rõ trong hạnh phúc gia đình có nhuốm mùi đau khổ, là một quá trình gây đau khổ nên thức tỉnh và giải quyết cái hạnh phúc gia đình đó gọi là “ Cắt ái ly gia” là bỏ đi cái điều yêu thương , cái gọi là hạnh phúc đau khổ này để sống đời không gia đình gọi là người Xuất gia. Như vậy, một người xuất gia, bỏ vợ, bỏ con, bỏ thọ giả là giải quyết được Tứ tướng ở cấp 1, cấp đau khổ của thế tục.

    Thí dụ về 4 tướng:

    * Tứ tướng ở cấp 1:

    1. Tướng Ngã : Thấy có đây là mình là người Nam.

    2. Tướng Nhơn: Thấy có kia là người Nữ.

    3. Tướng Chúng Sanh: Người nam và người nữ hiệp lại nảy sanh, mắt thì nổi sóng, mũi thì phập phồng, lòng thì rạo rực, v.v...

    4. Tướng Thọ Giả: Khi cuộc gặp gỡ diễn ra, thì thấy có thời gian, sao mà ngắn  thế! Muốn kéo dài mãi cuộc diễn nối tiếp .Có buồn vui thương nhớ kéo dài.

    Bốn tướng trên đây chỉ là trên mặt tổng quát đại cương. Nhằm nói lên hiện tượng sống bình thường trên bình diện tâm ý bình thường. Nên chỉ là 4 tướng thô. Bốn tướng này nhằm nói lên sự dính mắc giữa căn thân và cảnh sắc. Đã dính mắc như vậy nên sinh ra luân hồi.

    Bốn tướng theo đây có thể coi như là Tứ  tướng ở cấp 1.

    Tứ tướng ở cấp 1 này mình xóa được thì bớt khổ về đời sống gia đình nhưng người xuất gia này đã hết khổ chưa ? - Chưa.

    Nếu người xuất gia này vào chùa và tự thấy mình là Tăng, thấy kia là Ni rồi cũng có chuyện thương và ghét, ưa và không ưa xảy ra, rồi cũng có những cảm giác vui buồn như vậy vẫn còn khổ, khổ theo kiểu nhà chùa. Như Tôi là trụ trì là Ngã. Đệ tử, Phật tử là Nhân, Thầy trò liên hệ với nhau có những vấn đề xảy ra là Chúng sinh tướng, rồi cũng vui, cũng buồn là có tướng Thọ giả. Vậy là vẫn còn trong Tứ tướng, vẫn còn khổ và xem như đây là Tứ tướng cấp 2.

    * Tứ Tướng ở cấp 2:

    1. Tướng Ngã: Thấy mình là Thầy

    2. Tướng Nhân: Thấy kia là Trò

    3. Tướng Chúng sinh: Những vấn đề liên hệ giữa

    Thầy và trò.

    4. Tướng Thọ giả: Có buồn vui xảy ra.

    Ở chùa rồi vẫn lu bu nhiều chuyện, bây giờ vào thất thì mình là Ngã, thất là Nhân. Có Ngã có Nhân thì có những vấn đề sanh ra, rồi cũng vui buồn với cái thất. Như vậy là cũng còn Tứ tướng, vẫn còn khổ.

    Bây giờ bỏ hết, chỉ biết chú trọng vào pháp tu thôi, niệm Phật, trì chú, tham thiền… thì Tứ tướng còn không? - Còn, nó ở mức độ tinh vi hơn. Đó là Tứ tướng ở cấp 3.

    * Tứ tướng ở cấp 3 :

    1- Tướng Ngã: Thấy có Tôi là người hành Pháp.

    2- Tướng Nhân : Thấy có pháp Thiền để tôi hành.

    3- Tướng Chúng sinh: Những vấn đề xảy ra khi hành pháp, ngồi Thiền đau nhức thế này, thế nọ…

    4. Tướng Thọ giả: Nghe có cảm giác thích thú hay ê ẩm, buồn chán.

    Nếu vượt qua được cái đau nhức của thân xác, chỉ còn lại Tôi và Pháp, còn lại cảnh giới thanh tịnh an lạc, và Tôi nghe thú vị quá hay thấy ma quỷ và cảm nghe sợ hãi, như vậy là vẫn ở trong Tứ tướng, Tứ tướng ở mức độ sâu hơn, tinh vi hơn.

    Như khi ngồi Thiền xong mình khoe với Thầy với bạn là: “Thời ngồi Thiền của tôi an lạc vô cùng”.

    Nếu ai đó nói: “ Xí ! Ăn thua gì, đó là ma phá chứ có gì tốt !”. Mình nghe buồn, cụt hứng liền, có đau khổ nhè nhẹ sinh ra. Như vậy là chưa thoát ra khỏi Tứ tướng. Nên tu đến cấp độ không còn Tứ tướng thì dễ không ? Thật là khó ! Cái Tứ tướng đi đến mức độ tinh vi, nhỏ nhiệm. Nhiều khi chúng ta hài lòng về cái Tứ tướng của mình, bị kẹt ở trong đó mà không hay.

    Như Tôi lúc mới về ngôi chùa này, không có đủ tiền để đóng tiền điện nữa, chỉ có gần năm chục ngàn đồng thôi mà phải mượn chú đệ tử thêm mấy ngàn mới đủ đóng. Bây giờ cơ ngơi như thế này thì sao ? Tôi thấy là tôi cũng hay cũng tài lắm, tôi hứng chí cười thầm ở trong bụng dù tôi kín đáo không cười ngoài miệng, không khoe với người, nhưng vẫn còn cái thầm thầm bên trong. Như vậy là tôi còn Tứ tướng không? - Còn. Và nếu ai kiếm chuyện đụng đến cái Chùa này thì tôi sẽ khổ thôi. Tôi không hiểu chuyện đó là chuyện của nhân duyên mà cứ tưởng mình tài, mình giỏi rồi khoe với đệ tử :

    - “Thầy hay Thầy khéo như vậy đó, mấy đứa con phục tài Thầy không ?”

    Như vậy là mình hoàn toàn kẹt trong Tứ tướng, mà còn kẹt trong Tứ tướng thì cái tu của mình tốt không ? - Việc tu của mình vẫn còn phàm phu tục tử chưa phải là Bồ Tát. Phải khéo thấy chỗ này.

    Một Bồ Tát thực sự phải không dính vào Bốn Tướng. Mình tu rất là tốt, nhưng không thấy mình là người

    tu, không thấy có pháp để mình tu, không thấy có chúng

    sinh tướng là những cảnh giới nào đó xảy ra, và không còn có cảm giác nào nữa trên đường tu của mình, như vậy mới là tốt. Ở đây chúng ta chưa có ai được vậy hết, nhưng chúng ta phải hiểu về điều đó để đừng dính vào trong Tứ tướng.

    Đa số người gọi là tu nhưng kẹt trong Tứ tướng này rất là nhiều, cứ cho mình là tài là giỏi, mà hễ còn kẹt trong Tứ tướng thì còn đau khổ và như vậy đối với cái Đạo hãy còn xa, chưa thật sự là giác ngộ, là sáng đạo. Đó là chỗ sâu xa ý nhị mà chúng ta phải hiểu biết để hành Đạo cho tốt. Nên người xưa mới dạy người tu “Dứt không Tứ tướng sá gì Nhị biên”. Ở kinh Kim Cang  là không Tứ tướng và ở kinh Bát Nhã là không Nhị Biên, không hai bên. Một câu ngắn gọn vậy mà mang hai ý nghĩa kinh rất là sâu sắc.

    Tu mà được trình độ “Dứt không Tứ Tướng sá gì Nhị biên”  thì chúng ta được giải thoát, đó là cái chuẩn của người tu, đừng có tìm gì ở đâu xa nữa. Cái Tu quan trọng là phải “Dứt không Tứ Tướng” chứ không phải tu để có chùa to Phật lớn, tài sản đồ sộ, có tiền trữ ngân hàng. v.v... những điều đó không khéo lại trở thành một thứ Tứ tướng mới ở trên đời sống hành đạo, mà kẹt vào Tứ tướng thì chỉ có quả khổ mà thôi. Phải khéo biết để lấy chuẩn này mà xét vào đời tu của mình và của người.

    Người thật sự “Dứt không Tứ Tướng” thì thiệt là hiếm phải không ? Như vậy mới thấy người tu đạt được cảnh giới đó mới thật là chân tu, còn nếu chúng ta dính mắc Tứ Tướng một cách nặng nề thì không phải là chân tu.  Dù mình “đường đường Tăng tướng” nhưng chưa bảo đảm là chân tu khi chúng ta còn những Tứ tướng ngấm ngầm, những cái Tứ tướng thầm thầm bên trong.

    Nên người biết tu là phải dòm lại cái Tứ tướng của mình và phải coi Tứ tướng là cây thước để đo trình độ công phu tu hành của mình. Muốn biết người tu hành ra sao thì lấy cây thước này ướm vào. Nếu bốn khúc Tứ tướng mà còn trọn vẹn thì biết là tu chưa tốt, còn bốn khúc này mà có giảm bớt phần trăm thì đó là người tu khá. Nhưng chúng ta đừng đo người làm chi mà lâu lâu phải đo lại mình, lúc trước Tứ tướng là 100% thì bây giờ còn lại bao nhiêu phần trăm ?

    Ở đây nhớ là phải đo tỉ lệ phần trăm cả bốn thứ chứ không phải là đo tỉ lệ theo kiểu bớt từng món. Như sau thời gian tu 10 năm thì không còn tướng Thọ giả chỉ còn tướng Chúng sinh thôi, tu 20 năm thì tướng Chúng sinh không còn hay tướng Nhân không còn chỉ còn tướng Ngã thôi. Đo như vậy là không được mà phải đo tỉ lệ phần trăm chung cho cả bốn tướng, vì nếu cái này còn thì mấy cái kia còn nên không tính từng  món được mà phải tính tỉ lệ phần trăm chung cho cả bốn món và người nào khi ướm lại cây thước Tứ tướng này mà nó không bật số thì biết người đó là Đại Bồ Tát, người đó mình lạy là vừa lắm không còn nghi ngờ, còn người nào ướm vào mà nó nổi cộm lên thì mình xá mà lui.

     

    Đây là cây thước để đo lường trình độ tu của mình nên lâu lâu phải ướm lại để xem mình teo tóp được bao nhiêu phần trăm.

     * TỨ TƯỚNG VÀ NGŨ UẨN:

     

    Tứ tướng là pháp cơ bản để xác định trình độ tu của một Bồ Tát, các vị Bồ Tát phải từ nơi không Tứ tướng làm cơ sở để mà tu. Bây giờ chúng ta bàn qua về sự tương quan giữa Tứ Tướng và Ngũ Uẩn.

    Tứ tướng: Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả.

    Ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

    Nếu chúng ta tu hay sống mà dính vào trong Ngũ uẩn này thì Ngũ uẩn trở thành Nhân và khi có đủ Ngã Nhân rồi thì sẽ sinh ra Chúng sinh, có Chúng sinh thì có Thọ giả.

    Bây giờ cái gì xác định là Ngã ?  Ngã là một từ ngữ chỉ cho cái tôi, cái xác định cái tôi chính là cái Niệm nên Niệm là xác định của Ngã.

    Khi có Niệm có Ngã thì Ngũ uẩn này trở thành Nhân và sẽ có vấn đề là Chúng sinh xảy ra, tiếp theo có vui buồn là Thọ giả. Tứ tướng có ra không cần đến duyên bên ngoài mà ở ngay trong một thân Ngũ uẩn. Và con người khổ là do từ Niệm dính vào Ngũ uẩn, đây là điều thiên hạ không ngờ tới.

    Một con người bình thường có ai là không có Niệm không? Ai cũng sống bằng Niệm và từ Niệm liên hệ với Ngũ uẩn tạo nên đời sống cái tôi của mình và từ đó có Ngã  có Nhân tạo nên Chúng sinh và Thọ giả thành ra bao cái khổ trên trần đời. Đây là cái gốc khổ mà người đời không biết cứ đổ thừa tại trời, tại đất, tại người…mà không biết cái gốc chính là do Niệm tác động đến Ngũ uẩn, đó là chỗ chúng ta phải thấy.

    Nên tu là phải tách rời cái Ngũ uẩn, tu mà không vướng vào Ngũ uẩn để không tạo thành thế Tứ tướng thì mới có sự giải thoát. Còn không biết tu chúng ta luôn tạo nên thế Tứ tướng mặc dù chúng ta tu dính vào một món thôi như là khi Niệm dính vào Sắc thì Sắc sẽ trở thành Nhân.

    Người không hiểu tu trên Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức mà Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc về pháp sinh diệt, khi có khi không. Do tu trên pháp sinh diệt mới sinh ra Tứ tướng, đó chỉ là thay đổi kiểu Tứ tướng chứ chưa thoát ly được Tứ tướng. Vì thế tu hoài mà không thành được Bồ Tát, không thành được Phật. Đây là điều chúng ta phải nhớ, không nên dụng công ở trên pháp sinh diệt. Ở trên pháp sinh diệt mà dụng công thì rất chậm, và giải quyết vấn đề không tốt.

    Ở đây Bồ Tát không từ Tứ tướng mà tu nên Ngã không thành lập, tức là Niệm hông có thì đối với Ngũ uẩn sẽ không có dính mắc, Ngũ uẩn trở thành tan biến.

    Nói theo Bát Nhã là Bồ Tát từ cái KHÔNG  mà tu, từ cái KHÔNG  này mà chiếu kiến Ngũ uẩn. Bồ Tát rõ ra thật Tánh Ngũ uẩn là KHỒNG nên Ngũ uẩn tan biến trong cái nhìn của Bồ Tát và pháp sinh diệt trở thành vô sinh. Trong Vô sinh thì không có Tứ tướng, không có khổ nên Bồ Tát Quán Tự Tại qua hết tất cả khổ nạn. Con đường tu của Bồ Tát rõ ràng như thế, Bồ Tát Quán Tự Tại đã tu như vậy. Bồ Tát do ngộ cái KHÔNG và từ cái KHÔNG mà tu mà dụng công. Từ nơi Vô sinh mà tu nên đạt quả Vô sinh, rõ ràng phương pháp Nhân Quả rất là chuẩn xác.

    Chúng ta tu bằng Nhân sinh diệt nên quả là sinh diệt, chưa thoát khỏi Tứ tướng nên còn luẩn quẩn trong cái khổ. Như vậy mới thấy cái tu quan trọng ở chỗ nào. Tu là phải tu đúng Nhân đúng Quả.

    Bằng nhân Vô sinh mới có quả Vô sinh.

    Nên tu mà còn thấy mình quan trọng là còn vướng vào trong Ngũ uẩn, là có Ngã có Nhân, có đủ Tứ tướng, tu như vậy chưa hết khổ. Tu làm sao không thấy có mình, không lấy mình làm Nhân, không vì Ngũ uẩn mà tu, không tu cho Ngũ uẩn, không tạo thành cái thế có Ngã có Nhân. Làm sao chúng ta khởi sự công  phu như vậy, phải ở trong thế không Ngã không Nhân mà tu. Đừng nói rằng “Nếu tôi không Ngã không Nhân thì tôi đã thành Bồ Tát rồi tu chi nữa”.

    Ở đây phải hiểu là mình mới ngộ Tánh KHÔNG nên vẫn còn phải tu, giống như Bồ Tát Quán Tự Tại vậy, phải có thời gian huân tu mới trở thành hành thâm. Hành thâm là sống nhuần nhuyễn bằng cái không Tứ tướng, công phu từ cái không  bốn tướng. Đây là công phu hết sức đặc biệt, là một công phu siêu việt nên các Bồ Tát tu rất nhanh mà không thấy mình có tu gì hết gọi là “Tu vô tu, tu ; Chứng vô chứng, chứng”. Tu mà không thấy mình có tu vì không có Tứ tướng. Chứng mà không thấy mình có chứng vì không có Tứ tướng.

    Không có chứng là không có Thọ giả là Vô Sở Đắc, nếu chúng ta cảm thấy có an lạc có thanh tịnh là vướng vào Thọ giả, vướng vào Tứ tướng. Từ đây làm sáng tỏ

    hơn về Vô Sở Đắc ở Bát Nhã. Nên cái Tâm cầu chứng cầu đắc, cầu giác ngộ là một thứ tệ hại trên đường tu. Cầu ngộ tham ngộ đó là tai họa vì vướng vào Thọ giả. Có Thọ giả tức là có Chúng sinh, có Nhân, có Ngã, tức là có Tứ tướng. Từ cái chuẩn này để chúng ta thấy lại, biết bao người đã vướng vào chỗ tu này. Tu thì rất đông mà không giải thoát được bao nhiêu người. Người tu không hiểu đến một lúc nào đó cảm thấy mình như bừng vỡ, như là ngộ, rồi la làng lên:

    - Tôi ngộ rồi, ngộ sướng lắm.

    Nói một hồi là phát khùng luôn.Tại sao ngộ mà phát khùng ? Vì đó là tướng Thọ giả, từ tướng Thọ giả nên có đủ hết Tứ tướng.

    Bám vào Tứ Tướng đó là tai họa. Ngộ mà có cảm giác thì đó là một thứ Tứ tướng mà thôi. Nên tu là phải Vô Sở Đắc, phải không có gì để được.

    Chính Tứ tướng ở kinh Kim Cang làm sáng tỏ thêm kinh Bát Nhã, hai kinh này bổ túc và xác định cho nhau. Đường tu có bài bản rõ ràng như vậy nên ai dụng công trong Tứ tướng thì nhất định người đó không có giác ngộ, không có giải thoát. Khi đã hiểu rõ về Tứ tướng thì chúng ta mới thấy Tứ tướng đi đến mức độ hết sức tinh vi và có thể nói cái nảy sinh ra Tứ tướng đó chính là Niệm.

    Có Niệm là có Tứ tướng. Niệm sanh Tứ tướng sanh. Vì vậy khi chúng ta có một niệm, dù là niệm tốt niệm thiện đi nữa thì cũng sinh ra Tứ Tướng. Để đường tu không rơi vào Tứ Tướng thì nhất định chúng ta phải giải quyết cái niệm này.

    Phải từ không Niệm mà tu. Không Niệm nhưng không có nghĩa là diệt Niệm. Bằng cái diệt Niệm để mà tu thì là có Ngã có Nhân, đó là lối tu có Ngã có Nhân, một lối Ngã Nhân tinh vi hơn, kín đáo hơn thôi. Chỗ này thật là khó, nên phải nắm vững được nguyên tắc của kinh Kim Cang để chúng ta tu cho thật tốt. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không tu gì hết khi chưa tiêu dung được Tứ tướng, chưa tiêu dung được Niệm. Chúng ta phải tu, tu bằng cách này cách nọ, để rồi một lúc nào đó mình sẽ ngộ được cái chỗ không Tứ tướng. Phải có cái tâm tu, tâm kiếm tìm thì mới có thể được.

    Như Ngài Huệ Năng đứng ở cạnh nhà của người, nghe người tụng kinh Kim Cang đến câu “Ưng Vô Sở Trụ nhi sanh kỳ Tâm” thì Ngài Huệ Năng bừng ngộ về chỗ gọi là Vô Sở Trụ, đó là chỗ không Tứ Tướng. Tại sao chúng ta nghe hoài mà không ngộ, ở đây phải biết là Ngài Huệ Năng cũng đã từng thao thức về chỗ đó, thao thức đến độ 24 tuổi đời mà chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình.

    Huệ Năng không biết đó là gì nhưng trong lòng đã từng thao thức về chỗ sâu xa đó trong tâm hồn mình. Có thao thức nên khi nghe đến chỗ đó, sự thao thức của Huệ Năng mới được mở lối, được lóe sáng gọi là Ngộ. Nhưng đó là cái nhận của Huệ Năng mà chưa được xác quyết nên Ngài phải đến Hoàng Mai để nhờ Ngũ Tổ khai thị cho và khi Tổ đem kinh Kim Cang ra nói, Huệ Năng mới toàn triệt tức là ngộ trọn vẹn.

    Nên mình phải có cái tâm kiếm tìm, phải có cái tâm tha thiết đối với chỗ này, là làm sao không Tứ tướng, để lúc nào đó mình thể nhận ra chỗ không Tứ Tướng. Và bắt đầu từ chỗ thể nhận đó mà khởi công phu, thì cái tu đó mới thật sự là tốt, lúc đó mới được gọi là Chân tu.

    Người Chân tu phải là người không dính Tứ tướng, còn mình dính hết tướng này tướng nọ, bốn tướng dính hết thì có gọi là Chân tu không ?

    Chân tu ở đây không nói là người giữ giới luật nghiêm chỉnh. Giữ giới  luật nghiêm chỉnh chưa hẳn là chân tu, vì người giữ giới luật họ còn bị cái Ngã cái Nhân, cái Chúng sinh, cái Thọ giả và có khi còn nặng hơn người thường. Như khi chưa biết tu chưa vào chùa thì cái chấp về phải quấy, tốt xấu không có bao nhiêu, đến khi vào tu rồi thì theo kinh điển dạy, tiếp nhận không chính xác để rồi trở thành chấp, chấp về đạo đức chứ không phải chấp về thế gian, chấp về những cái tốt những cái thiện rất là nặng nề, đó là vướng vào Tứ Tướng.

    Nên Chân tu không phải xác định ở trên giới luật nghiêm chỉnh mà xác định ở chỗ Tứ tướng nặng hay nhẹ. Tứ tướng nặng là tu không tốt và người không Tứ tướng mới thật sự là Chơn tu, vì người không Tứ tướng, không Ngã, không Nhân, không Chúng sinh, không Thọ giả thì họ có Tham, Sân, Si không ?

    Tham, Sân, Si có khởi dậy là do có Tứ tướng.

    Có Tứ tướng mới chấp vào Ngũ uẩn, mới thành ra Tham, Sân, Si. Không có cái Tham, Sân, Si nào mà không có Tứ tướng dự vào, người tu Tham, Sân, Si thì có phải là người Chân tu không? – Không. Vậy thì người sống được không Tứ Tướng thì mới thật là kẻ Chân tu.

    Chúng ta phải lấy cái chuẩn này và đây là cái chuẩn của Bồ Tát chứ không phải cái chuẩn mình đặt ra, nên đừng nhìn người Chân tu qua dáng mạo, qua sự nghiệp, qua chùa to, Phật lớn, có đệ tử đông, có nhiều tiền của... Đó chỉ là người tu có nhiều tài sản thôi, còn là chân tu hay không lại là chuyện khác. Rồi chúng ta thấy một người tu lang thang mà họ sống không có Tứ tướng thì cho đó không phải là Chân tu. Vậy là chúng ta lầm. Người sống không Tứ Tướng là người Chân tu, chúng ta phải xác định về điều đó và đến phần mình cũng vậy. Sống mà thấy mình có Tứ tướng, người thấy mình có Tứ tướng thì biết chưa phải là Chân tu dù người ta có tôn trọng có kính lạy mình đi nữa. Dù mình không giết một con ruồi, con kiến gì nhưng điều đó chưa bảo đảm là một kẻ Chân tu. Như vậy mới thấy để trở thành một người Chân tu thật là khó và vì thế một vị Chân tu mới thật có giá trị chứ đâu phải ai cạo đầu bận áo cà sa cũng là người Chân tu. Nên rất khó tìm một vị Chân tu.

    Chúng ta phải hiểu cái chuẩn của một vị Chân tu như vậy để đừng có xác định lầm lẫn, đừng lầm ở nơi mình và nơi người. Đừng tưởng tu một thời gian người ta lễ bái, cúng dường điều này điều nọ thì cho mình đã là Chân tu. Đừng lầm như vậy mà đổ nợ. Đó là một đời sống Tứ tướng và khi vướng vào Tứ tướng rồi thì chúng ta hết trở thành Chân tu.

    Nên muốn phá một người Chân tu là làm cho họ dính vào Tứ tướng. Đi tu mà dính nặng vào Tứ tướng là tiêu đời tu. Đó là chúng ta làm hư đời tu của họ mà không cần giết họ. Nếu giết nhầm người không Tứ tướng thì chẳng dính vào đâu. Còn làm cho họ dính vào Tứ tướng đó là cái hại rất nặng nề, coi như phá mất sự nghiệp tu hành của họ. Họ tu mà thích tiền, thích bạc, thích giàu thì đem tiền đến là họ chết ở trong tiền bạc, không cất đầu lên nổi. Nếu họ còn nặng về những thứ đó thì không phải là Chân tu. Những người tu mà mình phàn nàn sao còn mắc danh mắc lợi, nhiễm danh nhiễm lợi, là tại sao? Là cũng do mắc Tứ tướng vì có Tứ tướng nên mới dính Danh, dính Lợi.

    Nên Tứ tướng là cái gốc còn những chuyện Danh, Lợi, Tình... chỉ là những chuyện phụ thuộc thôi. Chúng ta phải nhìn thẳng ngay cái gốc của nó, nếu người nói tôi không dính Danh, dính Lợi thì xem người đó có Tứ tướng không? Nếu họ có Tứ tướng là chưa đúng, nhiều khi họ thật thà cũng thấy mình không có Danh, có Lợi, nhưng mắc vào Tứ tướng mà không hay vì Tứ tướng như chúng ta đã nói là cái rất tinh vi. Tứ tướng còn thì còn Danh, Lợi, họ thích Danh Lợi kiểu nào đó mà chúng ta chưa biết thôi. Nên Tứ tướng là cái để cho chúng ta kiểm tra lại đời sống hành đạo của mình rất tốt.

    Vì vậy mà ở đây nói Bồ Tát phải không Tứ tướng và trong kinh này rất nhiều chỗ nói về Tứ tướng để thấy Tứ tướng là cái chuẩn để xác định lại công phu tu tập của mình. Chúng ta tu đến khi nào nhìn lại thấy Tứ

     

    tướng của mình bị teo tóp thì biết công phu có tiến bộ và đến một lúc mình không có Tứ tướng gì cả thì biết là mình tu khá và đến khi dứt luôn cái thấy về Tứ tướng thì thật là tuyệt. Nên hành trình tu của chúng ta cũng thật là dai dẳng.

     

     * TỨ TƯỚNG VÀ PHÁP TU ĐỐN TIỆM   :

     

    Từ nơi Tứ tướng này chúng ta có thể xác định về cái tu đốn và tu tiệm tức là tu lẹ và tu chậm là như thế nào ?

    Người tu mà phá từ cái Thọ giả (4) phá lần lên tướng Chúng sinh (3) rồi tướng Nhân (2) tới cái tướng Ngã (1) tức là vô hiệu hóa từ dưới lên ( 4=0 → 3=0 → 2=0

    →1=0 ). Đó là đường lối tiệm là tu dần dần, đây là đường lối tu của Ngài Thần Tú là phá từ cái Thọ giả, phá từ cảm giác thô phá lần lên cái tinh vi hơn. Lối tu này không có bảo đảm, bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả xoay dần làm Nhân làm Quả với nhau. Cái Thọ giả làm Nhân để thành ra cái Ngã, rồi cái Ngã làm Nhân để đưa tới cái quả là Thọ giả, nên tu hành ở trong vòng Nhân Quả không ra khỏi luân hồi chỉ có kết quả thiện, hay kết quả tốt hơn bình thường vậy thôi.

    Còn người tu ngộ được TÂM Bồ Đề thì trong TÂM có Ngã không ? Trong Tánh KHÔNG có Ngã không ? - Không. Ngã là không là Zéro thì Nhân, Chúng sinh, Thọ giả cũng là Zéro. Đường lối tu như thế này là đường lối đốn tu và tiêu biểu là Ngài Huệ Năng. Ngài Huệ Năng một phen nghe kinh Kim Cang liền ngộ sâu vào chỗ Vô Sở Trụ đó là ngộ vào TÂM Bồ Đề.

    TÂM Bồ Đề đó là Tánh Không và như chúng ta đã học qua Bát Nhã thì Tánh Không là cái đã sẵn như vậy chứ không phải cái tưởng tượng, nó có trước tấm thân này mà vì chúng ta không biết để bị chôn vùi trong Ngũ uẩn. Những người chưa có kinh nghiệm về điều này thì cũng rất là khó tin, bằng cái suy lý tức là bằng cái ý tưởng ý thức thì không làm sao hiểu được, không chấp nhận được về Tánh Không này.

    Ở đây Bồ Tát ngộ được TÂM Bồ Đề rồi từ TÂM Bồ Đề mà độ chúng sinh. Bồ Tát từ chỗ không có Tứ tướng mà độ chúng sinh nên độ rất hay. Thành công mà không thấy mình thành công, vì hông Ngã thì ai thành công? Không Nhân thì thành công cái gì? Không Chúng sinh thì những chuyện thành công ra sao cũng không thành, hông Thọ giả thì không có cảm giác thú vị gì trong chuyện thành công, nên người đạt được chỗ này không khoe gì  với ai, tự mình lặng lẽ mà sống vậy thôi. Đây là chỗ chúng ta phải lưu ý, dù mình tu chưa được như vậy nhưng phải hiểu để ngăn ngừa về cái tánh tật truyền kiếp ở nơi mình. Tứ tướng đó là thứ nghiệp thức chủng tử truyền kiếp, loay hoay là chúng ta bị vướng, mà vướng vào Tứ tướng thì công phu rất chậm, ra công nhiều mà kết quả không được bao nhiêu.

    Nên chúng ta phải làm thế nào ngộ được TÂM Bồ Đề rồi từ đó độ chúng sinh. Điều này rất hợp với Thiền là “Xứng Tánh khởi tu”. Ngộ rồi tu thì đó mới đúng là Chân tu.

    Người ngộ Bát Nhã, nắm vững Bát Nhã mới thông cảm chỗ này. Rõ Bát Nhã thì sẽ rõ chỗ không Tứ Tướng ở đây. Không Tứ tướng vì không Nhị Biên.

    Chúng ta có Tứ tướng là do có Nhị biên, có Ngã có Nhân. Từ Nhị biên mà sanh ra Tứ tướng, sanh ra Chúng sinh, sinh ra Thọ giả. Ở Bát Nhã chỉ nói đến Nhị biên. Kinh Kim Cang khai triển ra Tứ tướng thế này thì rõ ràng hơn. Hai vấn đề này bổ túc cho nhau để làm sáng tỏ vấn đề tu hành của chúng ta.

    Đường lối tu rõ ràng như vậy, nên chúng ta tu cần phải học. Hiểu thấu đáo sẽ rút ngắn đường tu của mình rất nhiều. Đừng tưởng tu là phải đi từ từ chỉ đi theo con

    đường tiệm tiến thôi là chúng ta lầm. Ngoài đi bộ còn có đi máy bay, đi phi thuyền nữa phải không ? Mình chỉ biết đi bộ rồi cho ai cũng phải đi bộ như mình hết, không có con đường nào khác. Đó là “ếch ngồi đáy giếng thấy trời bằng vung”, ra khỏi đáy giếng sẽ thấy trời rộng mênh mông.

    Nên chúng ta học về kinh Kim Cang mới thấy trong đây rất là chuyên môn giúp chúng ta đi vào con đường đạo một cách ngắn gọn và chính xác. Vì vậy trong nhà Thiền truyền kinh Kim Cang và quan trọng kinh Kim Cang là vậy.

     

    '' Văn kinh :

     

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa Bồ Tát ở nơi pháp nên không chỗ trụ mà hành Bố thí.

    Bố thí nghĩa là cho ra của cải của chính mình. Cơ sở của Bố thí là tài sản của chính chúng ta mà cho ra, cho một cách rộng rãi, không có phân biệt, không có tính toán.

    Bố thí trong nhà Phật gồm:

      • Bố thí nội tài : Là đem tài sản nơi bản thân mình như đem sức khỏe, đem máu, lông tóc của mình giúp cho người.

     • Bố thí ngoại tài : Là đem tài sản, vật chất từ động sản đến bất động sản, từ tiền bạc nhà cửa đất đai cho người.

      • Bố thí vô úy : Là đem sự không sợ hãi đến cho người, chúng ta biết rằng con người sống rất nhiều sợ hãi, người sợ ma, người sợ sâu, sợ rắn rít và thế giới hiện nay người ta sợ về khủng bố…

    Người đang sợ, mình làm sao cho họ hết sợ. Bố thí cái không sợ hãi đến cho người là điều rất cần thiết vì con người luôn sợ hãi. Sợ hãi vì con người chấp vào Tứ tướng, chấp vào Ngũ uẩn, chấp vào những cái giả mà cho là thật. Do đó bị hụt hẫng đau buồn, vì vậy cái sợ hãi của con người không bao giờ cùng, nhất là sợ hãi về thân phận, sợ hãi vế cái Ngũ uẩn của mình.

    Nên đừng làm cái gì cho người phải sợ hãi, không nên hù nhát dọa dẫm người. Phải làm cho người hết sợ và cách   tốt nhất là làm sao cho người “chiếu kiến Ngũ uẩn giai Không”. Khi Ngũ uẩn giai Không, cái chấp về Ngũ uẩn, cái chấp về Tứ tướng trở thành không thì không còn sợ hãi.

     • Bố thí Pháp : Là đem cái Pháp, cái Chân lý, lẽ thực đến cho người, làm cho người hiểu được Chánh pháp, hiểu được Phật pháp.

    Bố thí Pháp tuy không phải là vật chất, nhưng có công đức rất to lớn vì có khả năng giúp cho người được giác ngộ, giải thoát hết đau khổ và người được thí pháp dùng hoài không hết, sống chết gì cũng dùng được nên bố thí Pháp rất là quan trọng. Phật và chúng Tăng chỉ bố thí Pháp và đó là cái bố thí tốt nhất.

       • Bố thí Bất nghịch ý : Là một cách bố thí không nghịch ý trái ý người, người muốn cái gì mình cho cái ấy, vật mình rất thích nhưng người xin vẫn cho.

    Đây là một lối bố thí rất khó như trong sám hối có câu : “Ai xin đầu cho ngay chẳng tiếc”. Đã là người tu thì phải bố thí như vậy và người tu làm được vì khi chiếu kiến Ngũ uẩn giai Không, không có Tứ tướng rồi thì vẫn bố thí được.

    Nên để được cái Không, cái không Tứ tướng thì chúng ta phải tập tu như vậy, những cái khó bố thí chúng ta vẫn bố thí được. Đó là cách để trừ về cái chấp Tứ tướng, cái chấp về Ngũ uẩn, chấp về cái Ngã và Ngã sở của mình. Người tu phải tập bố thí đó là điều nhất định, không nên vì lý do này, lý do khác mà làm chựng đi việc bố thí của mình.

    Bố thí bất nghịch ý là bố thí cao cấp đòi hỏi chúng ta hiểu Pháp thật sâu xa, phải giác ngộ Ngũ uẩn giai

    Không, phải “Dứt không Tứ tướng sá gì Nhị Biên” chúng ta mới thực hiện được bố thí này trọn vẹn. Người giác ngộ thật sự thì với bố thí này không khó, các Ngài làm bình thường, giải quyết một cách nhẹ nhàng như cho người một đồng tiền một chén gạo vậy thôi.

    Bố thí là một hạnh rất cần thiết trên đường tu của mình, và ở đây Đức Phật nói :

     

    '' Văn kinh :

     Chỗ không chỗ trụ đó là chẳng trụ ở Sắc mà bố thí, chẳng trụ ở Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà bố thí.

     Đây là chỗ tu hạnh Bố thí. Bố thí là không trụ ở Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

    - Sắc là hình thù, tướng mạo là cái đối lại với con mắt.

    - Thinh là âm thanh là tiếng tăm là cái đối lại với lỗ tai.

    - Hương là mùi là những cái đối với mũi.

    - Vị là vị là những cái đối với lưỡi.

    - Xúc là những cảm giác ở thân là những cái đối lại với thân.

     

    là những cái đối lại ý căn của mình.

    Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp là sáu Trần và đối lại với sáu Trần là sáu Căn là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. Ở đây Đức Phật dạy không nên trụ ở trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà hành Bố thí.

    Trong khi ở xã hội chúng ta thấy bố thí là trụ trên Sắc, ở trên cơm áo gạo tiền mà bố thí, đem tiền của đi cứu trợ đó là lấy cái Sắc đem cho người, là dính mắc trên Sắc mà bố thí. Rồi nghe người kêu gọi mới đem cho, cho rồi muốn được người khen… là trụ trên Thinh mà bố thí. Cho người nước mắm, nước tương, mùi này mùi nọ là dính ở trên Hương, cho người đường, muối để cho người có vị ngọt hay mặn đó là dính trên Vị. Rồi người lạnh quá mình đem cho mền mùng… đó là trụ trên Xúc mà bố thí. Hay người có niềm đau khổ nào đó mình đến an ủi vỗ về để cho cái pháp trong đầu họ thay đổi đó là trụ ở trên Pháp mà bố thí. Như vậy, thông thường con người đều ở trên sáu trần mà bố thí. Khi gọi là bố thí thì đều trụ ở trên sáu thứ đó.

    Bố thí theo đây con mắt phải không dính sắc thì con mắt là không, lỗ tai không dính tiếng thì lỗ tai là không, mũi không dính hương, lưỡi không dính vị, da thịt không có một bóng dáng nào, tất cả đều là không hết. Từ các căn là Rỗng là Không mà bố thí, Căn đã không thì Trần cũng trở thành không, Bố thí như thế mới đúng với lời Phật dạy trong đây. Từ cơ sở này mà bố thí thì không có sự suy nghĩ động não, không có sự tính toán. Phải bố thí thì bố thí, bố thí rồi là thôi rất khỏe cái đầu. Trước khi thí, đang khi thí và sau khi thí vẫn là rỗng rang.

    Còn mình bố thí có suy nghĩ nên dễ sanh ra phiền não, do trụ ở trên sáu Trần mà bố thí, phải động não phải vất vả hết các Căn. Do vậy nhiều người làm từ thiện dễ sanh bực bội chán nản. “Ủy lạo càng nhiều nổi quạu càng dữ” là vậy. Phải thấy hai lối bố thí này chênh lệch nhau rất nhiều.

    Ở đây Phật dạy phải từ chỗ không Tứ tướng mà hành bố thí. Khi chúng ta liên hệ với xã hội, tương quan với cuộc sống thì bố thí là cái cụ thể nhất, nên phải ở trong thế không Tứ tướng mà tương quan, phải lìa sáu trần mà bố thí. Bố thí vậy là không mắc kẹt vào vật thí và người được thí, không mắc kẹt vào sự việc khi thí. Trước khi thí, đang khi thí và sau khi bố thí mình đều giải thoát, như vậy công đức bố thí mới thật trọn vẹn.

    à người được thí là Nhân. Đồ đạc đem thí, những sự kiện xảy ra trong khi thí là Chúng sinh, Thọ giả là cảm giác vừa bụng hay không vừa bụng. Bố thí như vậy hoàn toàn ở trong Tứ tướng nên lối bố thí này phước không nhiều, rất hạn chế. Ở đây bố thí không trụ tướng thì phước vô lượng vô biên, có thể cho ít mà phước nhiều, còn không biết thì cho nhiều mà phước không được bao nhiêu. Chúng ta biết bố thí theo đây thì giàu nghèo gì cũng bố thí được, không có tài sản vẫn bố thí được. Đây là bố thí của Phật của Bồ Tát, là bố thí không trụ tướng, ngồi tại bồ đoàn vẫn gọi là bố thí. Khi không dính Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Chính lúc đó là chúng ta đã tu hạnh bố thí, bố thí Ba La Mật.

    Như vậy là đệ tử Phật, người nào cũng bố thí được vì những thứ này người nào cũng có hết. Trong cuộc sống mình có Sắc không ? - Có. Có những cái đối lại với con mắt thì mình bố thí được. Rồi ở mình có Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp thì mình bố thí được. Nhất là với cái Pháp là những hình bóng trong đầu mà mình không dính mắc thì đó là bố thí. Chúng ta tu là phải bố thí như vậy, bố thí cả đời cho đến khi thành Phật.

     

     '' Văn kinh :

     Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát phải nên bố thí như vậy mà chẳng trụ ở trên tướng, vì sao? Nếu Bồ Tát chẳng nơi tướng mà bố thí, thì phước đức chẳng thể nghĩ lường.

     Này Tu Bồ Đề! theo ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương đông có thể nghĩ lường được chăng?

     - Thưa Đấng Thế Tôn, không thể nghĩ lường được.

     Này Tu Bồ Đề? Hư không ở các phương tây, nam, bắc, bốn hướng phụ, trên, dưới có thể nghĩ lường được chăng?

     - Thưa Đấng Thế Tôn, không thể nghĩ lường được.

     Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát không trụ tướng bố thí, thì phước đức cũng chẳng thể nghĩ lường được.

     Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát phải nên trụ như chỗ dạy này.

    Như hư không mênh mông không thể nghĩ lường. Nên Bồ Tát không trụ tướng mà bố thí thì  phước đức cũng chẳng thể nghĩ lường, công đức đó tràn ngập cả trời đất.

    Chúng ta tu bố thí để mong cho có nhiều tiền nhiều của, như một số Thầy dạy người nghèo tu bố thí để sau được giàu có đó là một lối dạy chưa rốt ráo, một cách làm ăn khôn ngoan, nói theo thế gian là đầu tư, là bỏ con tép bắt con tôm… Dầu có được tiền bạc của cải thì có đầy cả trời đất như ở đây nói không ? Với bố thí không trụ tướng thì phước (không thể nghĩ lường). Nên phải biết bố thí thẳng như chỗ Phật dạy đừng có tham những chuyện lặt vặt.

    Bố thí không trụ tướng không có nghĩa là chúng ta không cho ai cái gì chỉ bố thí Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp thôi. Đừng mượn chỗ này để lý luận bao che để chúng ta khỏi phải cho ai cái gì, nếu như vậy là có trụ tướng rồi. Chúng ta thấy tiền của vật chất cũng là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp nên cần cho mình cũng cho ra không có tiếc. Bố thí không trụ tướng phước đức mới thật sự nhiều vì chúng ta biết rồi, tài sản của cải vật chất của mình nhiều cỡ nào cũng không tới đâu, và chúng ta đừng lấy của cải vật chất để trị giá phước đức của một người tu. Với người xã hội thì được nhưng với người tu mà chúng ta định giá phước đức trên tài sản của cải là rất sai lầm. Phước đức của người tu phải là phước đức vô vi là ở chỗ mênh mông không trống như trời đất vậy, phải không thấy có một tài sản nào gọi là của mình hết, vì khi chúng ta thấy phước đức có trị giá bằng bạc tỷ đi nữa thì như vậy là có Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả là có trụ tướng.

    Rồi có những vị càng tu càng nghèo, nếu chúng ta nói người tu đó mất phước, tu mà không có phước đức thì coi chừng chúng ta lầm. Đừng lấy tiền bạc mà trị giá người tu. Phước đức của người tu phải ở trên cái vô vi, cái vô tướng, không thể nhìn thấy, không thể tính đếm được. Nó phải là vô lượng vô biên thì mới thật sự là phước đức.

    Người bố thí như đây chỉ còn là một cái Không mênh mông thôi không còn lại gì hết. Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp triệt tiêu. Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý cũng tan biến hết. Người này Ngũ uẩn giai Không nên qua được tất cả khổ nạn, mà người qua được tất cả khổ nạn thì phước đức vô lượng vô biên phải không ?

    Nên chỗ tu này rất đặc biệt và cùng khắp, ai tu cũng được. Mắt thấy Sắc liền bố thí Sắc, Tai nghe tiếng liền bố thí tiếng, Mũi ngữi mùi liền bố thí mùi, Miệng nếm vị liền bố thí vị, Thân xúc chạm liền bố thí sự xúc chạm. Tu như vậy thật là tốt, rất nhiều chuyện để mình tu, tu cả ngày không hết, đi đứng ngồi nằm, nói nín động tịnh gì cũng tu, tu bất cứ ở đâu, tu như vậy mới nhiều và công đức mới lớn. Đó là cách chúng ta tu bố thí để được phước đức vô lượng vô biên và đến khi già bệnh chết thì mình có phước đức vô lượng phủ luôn cái già, bệnh, chết. Già, bệnh, chết là cái của thân xác không có gì quan trọng nên mình cũng bố thí được. Có thân bố thí thân, có già bố thí già, có bệnh, có chết đều bố thí hết. Bố thí được như vậy là giải thoát khỏi sinh tử, khỏi khổ đau trong cuộc đời này. Đây là chỗ tu thật đặc biệt, là hạnh tu của Bồ Tát.

     

    '' Văn kinh :

     Này Tu Bồ Đề! theo ý ông nghĩ sao? ông có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai được chăng?

     Đức Phật hỏi Ngài Tu Bồ Đề có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai được chăng ? Thân tướng là thân xác thịt của Thái tử Tất Đạt Đa. Nói rõ hơn là có thể bằng thân tướng Tất Đạt Đa để thấy được Như Lai không ?

    Thông thường mình nói thân tướng của Như Lai chính là thân tướng của Tất Đạt Đa. Nhưng sức sống của Đức Phật bây giờ hoàn toàn không phải là sức sống của thời niên thiếu. Sức sống bây giờ mới là Như Lai, là một sức sống đặc biệt không phải từ nơi thân tướng của Thái tử Tất Đạt Đa. Ở đây Tu Bồ Đề hiểu được chỗ hỏi của Đức Phật nên trả lời :

     

    '' Văn kinh :

    - Thưa Đấng Thế Tôn! con chẳng thể dùng thân tướng để được thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai nói thân tướng tức chẳng phải thân tướng.

    Như Lai là tiếng tự xưng của Đức Phật, là Thể Tánh chân thật. Đó là sức sống đích thực của Đức Phật bây giờ. Nên sức sống Như Lai không dính gì đến con người của Tất Đạt Đa. Con người Tất Đạt Đa đã biến mất trong con người giác ngộ của Ngài và thân xác của Đức Phật bây giờ cũng khác với thân xác Thái tử Tất Đạt Đa một cách rõ ràng. Đức Phật có thêm 80 vẻ đẹp, đó là do công đức tu hành từ sức sống Như Lai mà có ra.

    Chính Da Du Đà La cũng thấy Đức Phật không phải từ thân tướng mà thấy một cái gì khác hơn, thấy được vẻ quang minh xán lạn của Đức Phật nên mới  khiến nàng cúi đầu đảnh lễ xin xuất gia. Điều đó để thấy ngay cả thân xác cũng có sự đổi khác, khi tâm người thanh tịnh thì các tuyến nội tiết thay đổi làm cho sức sống thay đổi, phát huy về năng lượng rộng rãi và hùng hậu gọi là hào quang sáng chói hơn. Những điều đó khi còn là thân Thái tử không làm sao có được.

    Những cái bên ngoài chúng ta có thể thấy được là do sức sống bên trong của Đức Phật và sức sống đó gọi là Như Lai. Đó là cái gì vô hình vô dạng không thể rờ đụng xúc chạm được nhưng là một Năng lực rất thật và từ Năng lực đó mà Đức Phật sống sinh hoạt, nên để nhìn được sức sống Như Lai thì không thể nhìn trên thân tướng. Thân tướng thật sự không phải là thân tướng vì do tứ đại giả hợp mà thành nên không thật sự là có thân tướng. Do duyên sinh mà có mà duyên sinh thì không thật là vô thường là giả. Cái gì từ Nhân Duyên sinh có ra nên cũng từ Nhân Duyên mà tan hoại. Thân tướng từ Nhân Duyên sinh mà có nên không phải là Như Lai.

    Như Lai là một Năng Lực thường trụ bất biến, là một Năng Lực không có tan hoại.

    Đây là chỗ chúng ta thường lầm cứ nhìn thân tướng mà thấy Như Lai, thấy Phật. Thân tướng Phật là hình thù của Tất Đạt Đa ngày xưa, bây giờ tạm mượn hình thù 32 tướng đó để sống bằng Năng lực Như Lai và biến chuyển thân xác trở thành trong sáng hóa. Dù mang dáng dấp Thái tử Tất Đạt Đa nhưng sức sống Tâm linh hôm nay đã hoàn toàn khác hẳn. Đây là điều chúng ta phải khéo thấy. Đức Phật lúc bấy giờ là bằng thân xác thịt rõ ràng còn không nên từ đó mà thấy Như Lai, huống nữa thân tướng Như Lai bây giờ là xi măng là gỗ, là đất, là những vật chất thuần túy thì càng không phải là Như Lai.

    Nên chúng ta thấy Thiền Sư mạnh tay đem Phật gỗ xuống đốt và nói rằng: “Phật đất không độ được nước, Phật vàng không độ được lửa, Phật đồng không độ được lò đúc”. Do vì các Ngài hiểu ra được thân tướng thật sự của Như Lai, mà không vướng trên thân tướng của thân xác. Nên chúng ta đến với Như Lai mà đến bằng thân tướng của thân xác là một sự sai lầm.

    Bây giờ chúng ta có tạc tượng vẽ hình thì đó chỉ là tạm mượn hình ảnh một biểu tượng để hướng về một đấng Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng, giúp cho chúng ta sống lại cái tinh túy của Phật đà. Vì vậy đến với Phật phải đến bằng Thể Tánh Như Lai. Từ thân xác mà vào đó là sai lầm và có thể nói rằng người tin Phật như vậy là tin bằng mê tín, là chưa hiểu được Phật, chưa rõ sức sống Phật là như thế nào nên trở thành mê tín.

     

    '' Văn kinh :

     Đức Phật bảo Tu Bồ Đề : “Phàm cái gì có tướng thì đều là hư vọng”.

     Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy được Như Lai .

     

     Những cái có tướng đều là giả hết. Vì là do Nhân Duyên sinh hợp lại thành ra một thứ tướng dạng nào đó. Hễ cái gì có hình tướng thì là Nhân Duyên sinh. Do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành nên là vô thường là hư giả, hư vọng. Từ cái chuẩn này để chúng ta thấy sự thật của các hình tướng là như vậy.

    Ở trước các tướng mà chúng ta không bị vướng các tướng, không sanh tâm trên tất cả tướng, đó là chúng ta thấy được Như Lai, thấy được Bản Tâm, Bản Tánh. Như vậy Như Lai là cái Tánh Thể đích thực ở nơi mình, ở nơi chúng sinh. Để thấy được Như Lai thì chúng ta hãy thấy tất cả tướng mà chẳng phải tướng. Trước hết thân xác của mình đây mà mình chẳng thấy có thân xác, chẳng dính mắc trên thân xác thì chính khi đó chúng ta thấy được Như Lai.

    Như Lai là Tánh Thể, nhưng trong Tánh Thể đó không có thân xác, không có một tướng nào cả, tuy vậy nó lại bao trùm vạn vật giống như hư không không có hình thù nhưng bao trùm vạn vật và tất cả vạn vật có hình thù nhưng không ngoài hư không. Như Lai cũng như vậy. Người thể hội được Như Lai thì rõ ra Như Lai ở khắp tất cả mọi nơi, trùm khắp cả trái đất. Như Lai không phải là cái ở trong thân cũng như Như Lai không phải là cái ở trong vạn vật mà vạn vật là cái ở trong Như Lai ở trong hư không. Thân xác là một món ở trong Như Lai nên không thể từ thân xác mà thấy Như Lai. Phải rời tất cả tướng mà thấy hư không mà thấy Như Lai, vì có rời tất cả tướng thì chúng ta mới có cái nhìn mênh mông được.

    Nếu chúng ta chỉ biết cái thân này để thấy Như Lai thì Như Lai là cái gì nhỏ tíu mà mình gọi là tâm hồn là ý thức. Đây là chỗ sai lầm của nhiều người tu, khi tu chỉ dụng công ở cái đầu gói gọn trong ý căn thôi, tu vậy nên rất dễ nhức đầu. Trong khi mình còn có các căn Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân nữa. Mắt nhìn một cái là mênh mông đất trời, so với cái có trong hộp sọ thì nhỏ tíu giống như hư không ở trong cái ly này mà so với hư không mênh mông bên ngoài. Đó là chỗ đáng tiếc của chúng ta, chưa rõ được Tâm Như Lai chỉ tu trong ý căn mà không biết tu bằng cái Tâm mênh mông, không biết tu ở mắt, ở tai, ở mũi, ở miệng, ở thân. Chúng ta tu gói gọn ở nơi chính mình mà không tu được ở người, ở vật, ở cảnh sắc thì đó là một sự thiệt thòi. Trong khi mình vốn là mênh mông như hư không mà chỉ thu gọn lại có nội trong thân xác này thôi. Tại sao chúng ta không dám tu ở người, ở cảnh, ở vật trong khi tất cả người, cảnh, vật đều ở trong Tâm ta hết. Nếu ở ánh nhìn thì đều ở trong ánh nhìn của chúng ta, nếu ở âm thanh thì đều ở trong cái nghe của mình. Vậy tại sao chúng ta lại bỏ đi cái mình bao la đó mà chỉ tu trong phạm vi nhỏ hẹp chỉ biết có mình thôi, coi người là xa lạ là ngoài mình. Nên ai sống chết mặc ai không cần biết tới. Đó là tâm nhỏ mọn, hẹp hòi, tu như vậy chúng ta trở thành ích kỷ hồi nào mình không hay.

    Khi rõ Như Lai là phủ trùm hết từ mình, người và ngoại vật, phủ trùm tất cả thì công phu của chúng ta trở nên rộng rãi mênh mông, với công phu như vậy mới lợi ích cho người và tu vậy mới đúng với Thể Tánh Như Lai. Chúng ta thấy Như Lai độ chúng sinh một cách rộng rãi chứ Ngài không ở yên tại gốc Bồ Đề vì Ngài đã thấy rõ Tâm ở trên vạn loại, Như Lai ở khắp mọi nơi nên

    Ngài đi vào lòng cuộc sống để hóa độ chúng sinh. Đó là một đường lối tu rất tích cực khi chúng ta không dính mắc trên thân tướng, hình dạng... thì rõ ràng thân xác này không phải là ta. Ta thực sự là Như Lai chứ không phải là thân xác nên Đức Phật tự xưng là Như Lai. Đó mới chính là thân tướng đích thực, là sức sống chính của Ngài, chúng ta phải khéo thấy chỗ này.

     

    '' Văn kinh :

     Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật :

     – Thưa Đấng Thế Tôn, nếu có chúng sinh nào được nghe lời nói, chương cú như thế này, có sanh được niềm tin chân thật chăng ?

     Ngài Tu Bồ Đề sợ chúng ta không tin được điều này và có thể nghi ngờ lời nói của Đức Phật. Đây cũng là điều khó tin phải không ? Nhiều khi chúng ta ngỡ ngàng chưa tin được vì mình đã quen với điều hình tướng, đến với Phật cũng là đến với hình tướng.

    Giống như vị trụ trì ở chùa mà Ngài Đơn Hà thỉnh tượng Phật xuống đốt vào mùa đông, vị đó ngăn lại thì Ngài Đơn Hà bảo: “Tôi đốt để tìm Xá Lợi”. Ngài Đơn Hà đốt tượng là phá cái chấp, đốt cái chấp của vị trụ trì kẹt ở trên hình tướng, cho thân tướng là Phật mà không chịu thấy Phật là cái gì ngoài thân tướng. Ngài Đơn Hà đã khai thị cho vị trụ trì và đó là điều thật tốt, nhắc vị đó biết rằng: “Phật gỗ không có Xá Lợi”. Khi không còn nặng trên hình tướng, chịu nhìn vào trong Tâm thì rõ được Phật ở ngay trong lòng. Đó là điều cụ thể và các Thiền Sư đã dựa vào kinh Kim Cang này để khai thị, các Ngài khéo vận dụng Phật pháp vào trong đời sống để khai thị cho người và đây là một cách giáo hóa rất hay.

    Ngài Tu Bồ Đề thắc mắc, lo ngại không có người hiểu được, sợ giáo pháp của Phật bị mai một bị chôn vùi ở mai sau.

     

    '' Văn kinh :

     Đức Phật bảo Tu Bồ Đề :

    Ông chớ nói như vậy! sau khi Đấng Như Lai diệt năm trăm năm cuối sau, có người trì giới tu phước, y theo chương cú này, mà có thể sanh tín tâm, cho lời này là thật thì nên biết người đó chẳng phải chỉ trồng căn lành ở một vị Phật, hai vị Phật, ba, bốn, năm vị Phật, mà đã trồng căn lành ở nơi vô lượng muôn ngàn Đức Phật rồi.

    Như bây giờ mà mình nghe lời này : “Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy được Như Lai ”. Chúng ta tin được điều này thì phải biết rằng mình cũng đã có căn lành với Phật pháp từ lâu xa rồi và hiện giờ trong lớp học này cũng có người tin được phải không ?

    Đã cách Phật hơn 2500 năm mà vẫn có người tin được nên điều lo của Ngài Tu Bồ Đề không nhầm. Vì sao ? Vì điều này là sự thật ở nơi mỗi chúng sinh, nếu chúng ta chịu thực hành lời dạy “đừng dính mắc vào hình tướng” thì chúng ta có cơ hội nhận ra Thể Tánh Như Lai này ở nơi mình. Và như vậy cũng đừng nên coi thường người chưa học. Trước chúng ta thi hào Nguyễn Du đã tin rõ ràng, đã nhận ra chỗ này nên Ngài lấy hiệu là Tố Như. Tố là rỗng không, Như là Như Lai. Tâm Như Lai là một Tâm rỗng không bất động.

    Các vị Thiền Sư đã tin và xác quyết về chỗ nói này và đến đời chúng ta vẫn tin được điều này là một sự thật cũng như tin hư không là sự thật dù có trải qua hằng tỉ năm. Vì thế chúng ta đừng cho cái Pháp của Đức Phật là cao siêu không người hiểu tới, không phải vậy. Chuyện hái sao trên trời hay bắt cá dưới biển là chuyện khó, nhưng để vớ được hư không là chuyện trong tầm tay của chúng ta phải không ? Sở dĩ chúng ta không nhận ra hư không chỉ

    vì chúng ta dính mắc vào người, vào cảnh vật, dính mắc vào các hình tướng ... Nếu một phen mình không dính vào tất cả các thứ giữa này thì hư không sẽ rỡ ràng thôi.

    Tâm Như Lai cũng vậy, tại chúng ta dính vào các tướng bên ngoài và các tướng bên trong là những niệm khởi ở nơi mình nên không thấy được Như Lai. Chính những niệm khởi là tướng vì khi chúng ta nghĩ ra một người là chúng ta vẽ ra được người đó, nghĩ tới cái nhà là vẽ ra cái nhà... Như vậy rõ ràng cái nghĩ của mình là tướng, khi mình không chấp vào tướng, không dính vào những niệm nghĩ thì Tâm Như Lai lộ bày rõ ràng. Đó là cái thật nghìn đời như hư không vậy. Nên người nào biết theo chương cú này mà sinh hiểu thì sẽ có cơ hội nhận ra Tâm Như Lai, sẽ có niềm tin về Như Lai.

    Tâm Như Lai ở tại đây, ngay đây không có gì là cao siêu hết, chỉ vì mình chấp tướng, chấp vào những niệm khởi ở trong lòng.

     

    '' Văn kinh :

    Ai nghe chương cú này mà sanh niềm tin trong sạch, chỉ trong một niệm thôi - Này Tu Bồ Đề thì Như Lai đều thấy, đều biết, những chúng sanh này được phước đức vô lượng như vậy.

    Ai tin được điều này chỉ trong một niệm thôi thì Như Lai đều thấy biết, vì người thể nhận được chỗ này tức là đã thể nhận cái phát sóng cùng với cường độ phát sóng của Phật nên liền có sự giao cảm, bắt đúng phát sóng của Như Lai thì Như Lai liền biết.

    Tâm của chúng ta có nhiều tần số từ thấp đến cao, nếu tần số đầy tướng đầy niệm là màn hình của mình bị nhiễu, còn những niệm tưởng vơi đến chỗ phẳng lặng thì phát sóng rộng và tốt có thể nối ráp được với Nguồn lực với sức sống của Như Lai. Tâm mình và Tâm Như Lai giao thoa tạo một tâm lực hùng hậu tốt đẹp nên phước đức theo đó cũng vô lượng vô biên, cụ thể là mình có cơ hội giải khổ trọn vẹn. Cái phước được giải khổ, được hết khổ đó là cái phước lớn nhất.

     

    '' Văn kinh :

     Vì sao? Vì những chúng sanh này không còn tướng Ngã, tướng Nhơn, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả, không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp.

     Chính khi chúng ta không có Tứ tướng thì sẽ không có niềm đau nỗi khổ xảy ra.

    pháp tức là không có các pháp của Phật, cũng không có các pháp của chúng sinh, lặng hết pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Ngay khi không có tướng pháp và tướng phi pháp, trong cảnh giới hoàn toàn rỗng lặng đó thì rất đúng với kinh Bát Nhã. Bặt hết các thứ, không có một thứ gì trong đó gọi là “Bổn lai vô nhất vật”.

     

    '' Văn kinh :

     

     

    Vì sao? Vì những chúng sanh này nếu trong Tâm còn mắc tướng, tức còn dính Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả và nếu còn nắm giữ tướng pháp thì mắc phải: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

     Nếu còn mắc giữ tướng pháp, còn dính vào kinh điển thì còn dính vào bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Nên Nguyễn Du ở trước đài đá chia kinh khi không còn thấy quyển kinh nào mới trực ngộ ra rằng: “Kinh vô tự mới là Chân kinh”. Chính kinh “vô tự” là thứ kinh không phải pháp cũng không phải phi pháp. Nhận ra được chỗ đó mới đúng là thâm ý của kinh Kim Cang. Nguyễn Du nói: “Tôi đã đọc kinh Kim Cang hàng ngàn Ông đọc thuộc làu mà không hiểu ý kinh, cho đến khi trong đầu bặt hết về văn kinh thì “kinh vô tự” mới bật ra, khi đó mới thật là giác ngộ về kinh Kim Cang.

    Chúng ta học kinh để rồi quên kinh, chứ không phải ôm kinh. “Nhiều kinh rinh không nổi” là vậy ! Chính vì chỗ này mà Ngài Đức Sơn khi rõ ra được cái hồn của kinh, thì đem xác kinh ra đốt. Đó là chỗ đặc biệt, nên chúng ta còn dính kinh là còn dính bốn tướng. Như Ngài Đức Sơn khi gánh kinh lên núi với ý mong đấu sách, lúc đó ông dương dương tự đắc coi mình là vĩ đại. Ngay đó là đã có Tứ tướng sinh ra. Ngài là Ngã, Ngài Sùng Tín là Nhân, Chúng sinh là đem kinh ra để mà đấu, là những vấn đề hiện ra “Đến đây mà Đàm không thấy Long cũng chẳng hiện” rồi cũng có ra những cảm thọ là tướng Thọ giả. Đó là dính hết bốn tướng vì dính vào kinh văn. Ngài Đức Sơn kẹt vào kinh văn, Ngài Sùng Tín thổi tắt ngọn đèn tức là đốt cháy kinh văn và Ngài Tuyên Giám đã ngộ. Đó là ngộ được chỗ “vô tự”, chỗ vô pháp và vô phi pháp. Vì ngộ được chỗ đó mà cái chấp về Tứ tướng bị triệt tiêu nên ông đốt sạch bộ kinh gánh theo. Đây là chỗ nhiều người đã kẹt mà không hay tưởng mình biết nhiều kinh là giỏi nhưng đó là sự vướng mắc nặng nề để làm nên

    Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Càng học thì Bản Ngã càng lớn, thấy mình giỏi giang, coi thiên hạ không ra gì, thì đó là Tứ tướng đã bành trướng đã mở rộng. Nên học Đạo sai lầm thì cũng nguy hại, trở ngại cho đường tu của mình và gây rắc rối cho người. Chúng ta học thì học mà đừng lấy số lượng kinh điển làm sự nghiệp, học rồi phải tiêu giải, phải đốt đi chứ không phải để đếm bộ, để tính công. Dính mắc vào pháp là nảy sinh ra Tứ Tướng.

     

    '' Văn kinh :

     

    Vì sao? Vì nếu nắm giữ cái tướng phi pháp, tức dính mắc cái Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Thế nên chớ có nắm giữ pháp và chớ nắm giữ phi pháp.

     Chữ phi pháp ở đây là chẳng phải pháp. Cái Pháp chân thật là “vô pháp” mà chúng ta thấy có pháp thì đã trở thành phi pháp. Như cái bàn này gọi là sạch là do không có gì ở trên bàn mà chúng ta đem một quyển kinh, dù là kinh quý để lên bàn thì đã làm mất đi cái trống sạch của cái bàn là đã trở thành phi pháp. Nên nói rằng nắm giữ cái tướng phi pháp tức là dính mắc vào Tứ tướng, lẩn quẩn trong Tứ tướng.

    Chúng ta không nắm giữ sách báo thế gian cũng không nắm giữ kinh sách thì tay mình mới thật sự là tự do, thật sự là linh hoạt. Nên pháp và phi pháp đều phải xả, chúng ta nhớ chuyện vị Thiền Sư khai thị cho chú thị giả bưng dĩa trái cây không ? Dĩa trái cây là quí là pháp. Ngài bảo : “Buông”. Cái dĩa rớt, chú dòm dòm tức là còn dính. Ngài bảo : “Buông”. Chú thị giả giựt mình ngộ đạo.

    Vậy nguyên tắc để chúng ta ngộ Đạo là phải không dính mắc một thứ gì hết. Như bài pháp này quí vị nghe qua rồi cho rằng hay quá, cứ nhớ văng vẳng trong đầu thì chạy xe về nhà có tốt không ? Đang chạy xe mà cứ nhớ ở đây là lái xe không tốt. Hiểu xong là buông, học rồi, nhận rồi thì quên, đừng dính mắc vào pháp lòng mình mới an ổn thật sự, khi đó lái xe tỉnh táo thì sẽ an toàn cho mình và cho người. Nên phải thông suốt chỗ này.

     

    '' Văn kinh :

     

     Do nghĩa này mà Đức Như Lai thường nói: “Này các vị Tỳ kheo, phải biết những

    pháp của ta nói đó giả dụ như thuyền bè

    thôi, đối với pháp hãy còn buông xả, huống nữa là phi pháp”.

     

    Ở đây Đức Phật nói Pháp của Ngài như thuyền bè thôi, qua sông rồi dù con thuyền có đẹp cũng phải bỏ, có vậy chúng ta mới lên bờ được. Với kinh Kim Cang này rất hay, nhưng cũng là một thứ thuyền bè, khi chúng ta ngộ được ý kinh rồi thì phải quên nó đi, như Nguyễn Du ngộ được kinh Vô tự rồi thì nhẹ đi kinh văn. Đây là lối dạy rất hay, dạy nhưng không để mình vướng, dù kinh có quí tốt nhưng không tôn thờ để làm vướng cho mình. Chúng ta giảng Pháp, dạy Pháp không khéo khiến người kẹt Pháp là hại người.

    “Đối với pháp hãy còn buông xả huống nữa là phi pháp”. Chánh pháp còn buông xả thì với tà pháp là những pháp sai lầm không phù hợp chân lý, chúng ta lại để trong lòng sao ? Ở đây rất khế hợp với kinh Bát Nhã. Bát Nhã nói là Vô, là không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có 12 nhân duyên… không có pháp, không có gì trong đó.

    Như vậy để thể hội Phật Pháp, thể nhập vào chân trời Tánh KHÔNG thì chúng ta phải xả, xả phi pháp rồi xả luôn cái gọi là chánh pháp. Dùng chánh pháp để xả phi pháp rồi sau đó xả luôn chánh pháp. Chánh pháp ví như cây chổi và phi pháp như rác, phải biết quét rác xong rồi thì quăng chổi đi, chứ mình ôm cây chổi hoài thì không tốt. Phải dụng tâm như vậy. Chánh pháp là cái

     

    chính yếu là cái quan trọng mà chúng ta còn xả bỏ thì với những pháp linh tinh lặt vặt ở thế gian mình lại giữ sao ? Chúng ta còn vướng vào pháp thế gian thì không làm sao bật dậy được Chánh pháp. Không bật dậy được Chánh pháp thì không giúp chúng ta ngộ được Pháp, nên tu lâu mà không tới đâu là vậy.

    Nhiều khi Pháp thì chúng ta bỏ mà phi pháp, những chuyện thị phi tào lao mình lại ôm giữ. Đó là lỗi của nhiều người tu, đi ngược lại với văn kinh ở đây thật là đáng tiếc. Nên dụng công không khéo thì uổng cả đời tu, uổng cả một đời làm người. Phải nhớ bằng Chánh pháp mà sống, nói bàn như Chánh pháp để giải trừ phi pháp và khi tới bờ rồi mới xả bỏ Pháp.

     

    '' Văn kinh:

     

     

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có được BỒ ĐỀ chăng? Đức Như Lai đã có nói Pháp chăng?

     Đoạn này Đức Phật hỏi Tu Bồ Đề: Đức Như Lai có được Bồ Đề chăng? Có nói Pháp chăng? Thông thường thì mình nói Đức Phật có được Bồ Đề và có nói pháp, cụ thể là nói pháp Tứ Đế ở tại Vườn Nai. Ngài Tu Bồ Đề trả lời rất khéo, và kính trọng Phật .

     

    '' Văn kinh:

     Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Như con hiểu theo nghĩa của Phật nói, thì không có cái pháp nhất định nào gọi là BỒ ĐỀ và cũng không có cái pháp nhất định nào của Như Lai có thể nói được. Vì sao? Vì chỗ nói Pháp của Như Lai đều chẳng thể nắm được, chẳng thể nói được, chỗ đó là chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Vì sao? Vì tất cả hiền thánh đều do trụ pháp vô vi mà có sai biệt.

     Vậy là Như Lai không có được Bồ Đề, Như Lai không có nói Pháp. Vì sao ? Vì chỗ đó chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, vì tất cả Hiền Thánh đều do trụ pháp vô vi mà có sai biệt.

    “Vô vi” là cảnh giới bất động không có ý niệm là một Tâm Thanh Tịnh trọn vẹn là cõi Diệt Đế ở Tứ Đế, là cõi Niết Bàn, là cõi Tự Tánh đó là chỗ trụ của các bậc Hiền Thánh. Còn chúng ta trụ ở hữu vi, ở ý niệm, tâm niệm, trụ vào vọng tình, vọng tưởng đó là chỗ trụ của chúng sinh. Các bậc Hiền Thánh sống trong cảnh giới Vô vi, và từ cảnh giới vô vi mà có sai biệt, có pháp để khai mở cho người, nên Vô vi này gọi là pháp Bồ Đề.

    Như vậy Đức Phật gọi là được pháp Bồ Đề thì thật ra không có pháp Bồ Đề vì chỗ đó là cõi vô vi, là cõi vắng lặng không có một ý niệm, cõi đó không có danh từ, không có từ ngữ nào hết, là chỗ không một pháp. Nói pháp Bồ Đề là pháp giác ngộ, pháp cao siêu là pháp để thành Phật đi nữa thì trong đó cũng không có.

    Giống như cái bảng này vốn là vậy, tuy có viết lên là pháp Bồ Đề nhưng thực chất thì không có cái gì gọi là pháp Bồ Đề. Pháp Bồ Đề thuộc về danh ngôn mà danh ngôn thì không thực có. Khi tấm bảng sạch không một chữ thì gọi là vô vi. Ở đây là một cõi Tâm vắng lặng tuyệt đối mà có ra các pháp gọi là Bồ Đề, Tứ Đế, Bát Nhã… và được gọi là có sai biệt.

    Đức Phật khi thành Đạo là thành cái Tâm vô vi như một màn hình trong suốt không có pháp nào trong đó, nhưng vì người mà có hiện chữ, nên chữ cũng mang tính trong suốt của màn hình. Đức Phật nói Pháp suốt cả đời nhưng thật không có Pháp nào để nói, giống như màn hình tivi, hiện hình suốt cả ngày nhưng xem lại

    màn hình vẫn trong suốt không có gì trong đó. Đó là cách dụng tâm của Như Lai. Còn chúng ta dụng công giống như trên tấm bảng phải có viết chữ lên mà viết càng nhiều thì càng mất đi sự trong sạch của nền bảng. Ở trên mặt phẳng tâm, khi chúng ta khởi niệm, khởi ý để có nên lời nên chữ là đã có dấu vết trên tâm ý, làm cho tâm bị nhòa đi tạo thành Nghiệp nơi tâm ý. Giống như máy vi tính, chúng ta đánh chữ rồi save (lưu) lại. Còn Tâm Phật thì không có save, không có ghi vào bộ nhớ, nên Phật có nói mà không thành Nghiệp. Nói như không nói, nên nói Như Lai không có nói Pháp vì chỗ nói Pháp đó vốn không một pháp, chỗ nổi hình ảnh trên tivi vốn không có một hình ảnh nào. Như vậy từ màn hình tivi làm cơ sở để chúng ta hiểu về Tâm Như Lai.

    Phật có nói Pháp là vì duyên, vì chúng sinh chứ không phải vì Ngài, nên không có sự suy nghĩ nào trước khi nói, đó là chỗ đặc biệt của Phật. Chúng ta nói là do mình học, ghi vào bộ nhớ rồi nói trở ra, nói có sự vận dụng về trí não, có kèm theo sự suy nghĩ, nên cái nói của mình rất mệt, rất dễ nhức đầu.

    Chúng ta cũng có lúc nói mà không cần phải suy nghĩ, không cần phải nhớ nhưng có điều mình có mà không biết sử dụng. Như con nít trước khi nói là không biết nói, như vậy cái chỗ không nói mà nói là có nơi ta từ hồi con nít nhưng lớn lên mình lại không dùng và còn nhắc nhau phải “suy nghĩ 7 lần mới nói ”, đó là làm nhòa đi cái Tâm trong sáng ở nơi mình. Chúng ta tưởng suy nghĩ nhiều là hay nhưng thật ra rất là dở, dễ làm nhức đầu và lời nói của người lớn thường có kèm theo sự lợi hại, có tính ác độc bên trong nên khiến người nghe phải đau đầu, không có được sự thoải mái như khi nghe con nít nói. Còn Như Lai từ chỗ không lời, không có ý niệm mà vẫn dậy lên được Pháp nên gọi chỗ đó là không có nói Pháp.

    Chỗ nguồn của lời Pháp là không có pháp. Điều đó để thấy các Ngài biết sử dụng khả năng tuyệt hảo ở nơi mình. Chúng ta càng lớn càng làm mất đi tính trong sáng ở nguồn tâm, trở thành người nguy hiểm lợi hại không còn đơn giản như trẻ thơ mà mình cho như vậy là khôn, đó là chỗ đáng tiếc. Phải thấy được chỗ “không ý mà dệt nên lời”. Dựa vào đây để chúng ta thấy lại mình có giảng Pháp đúng với cơ sở thuyết Pháp của Phật không ? Khi nói, chúng ta đánh mất đi sự trong sáng của Tự Tâm, khởi niệm để nói, mà có Niệm là đã xác định cho cái Ngã của mình và giảng nói rồi thì tự hào về lời Pháp của mình, muốn người nghe phải ghi nhớ đó là chuyện rất tầm bậy. Như vậy là làm nhòa đi Bản Tâm của mình và cũng không làm trong sáng được tâm người, không khiến người an, không khiến người giác ngộ. Người đang vẩn đục mà tâm mình vẩn đục thì như nước đục đổ vào nước đục nên không làm trong được. Có nhiều vị giảng mà người càng nghe càng lu bu, có khi lại sanh ra cái chấp này chấp nọ vì chỉ biết dùng tâm vọng tưởng, tâm đầy niệm để truyền đạt cho người thêm cái suy nghĩ của mình. Vì vậy người có hiểu thêm về giáo lý mà không ngộ được Pháp.

    Phải phân biệt rõ “giáo lý” và “Pháp” là hai chuyện khác nhau. Nói “giáo lý” là đem những bài vở trong kinh ra nói, nói về cái lý của Đạo được gọi là Giảng sư. Nói “Pháp” đúng nghĩa là phải đạt được trình độ nói từ chỗ không lời, từ chỗ không khởi niệm, không khởi ý, lời nói phải không mang bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Giống như nước trong thì mới có thể lắng trong hóa sạch sự vẩn đục ở người và người nói Pháp được vậy gọi là Pháp sư, là Bồ Tát. Đây là chỗ mà các Giảng sư không hiểu tới, khi nói suy nghĩ cho sâu xa, cố nói cho hay, cho giỏi để người nghe kính phục tôn trọng, rồi cũng cho là mình vĩ đại, như vậy rõ ràng là sinh hoạt hoàn toàn trong Tứ tướng chỉ phô trương bản ngã của mình trước người mà không giúp người hiểu ra được chính họ, khiến người trở thành kẻ nô lệ cho mình. Đó là điều tai hại.

    Nên về chuyên môn của nói Pháp có những điều chúng ta không làm nổi. Sự hoằng pháp trong nhà Phật không như các nhà truyền giáo của các tôn giáo khác. Một người truyền giáo chân chính chỉ là  khai thị cái Pháp cho người để người trực nhận và được giải thoát, giúp người ngộ Pháp để tự trừ đi tâm mê, một việc làm hoàn toàn vì người chứ không có một ý đồ nào cho mình, không nhằm ràng buộc, không nhằm mở rộng tín đồ… Cái Pháp này đặc biệt vậy đó, vì thế Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa đã nói rõ là “Truyền Pháp cứu mê tình”, chỉ truyền Pháp chứ không truyền giáo. Như vậy, mới đúng là một người truyền Pháp thật sự. Từ chỗ không lời mà dậy lên Pháp để cứu khổ cho người. Đây là chỗ cao cả của Phật và các bậc Tổ sư. Chúng ta kính Phật và trọng các Tổ sư là ở điểm này.

    Chỗ nói Pháp của các Ngài là từ cõi vắng lặng, từ Chơn Không mà thành Diệu Hữu. Từ Chơn Không diễn lên thành diệu dụng gọi là có sai biệt và khi có Diệu Hữu có nói ra Pháp mà vẫn không mất chỗ vắng lặng trong tâm hồn, vẫn không mất tính Chơn Không. Đó là chỗ chẳng thể nắm được, chẳng thể nói được, chỗ đó chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Nên kinh điển sâu xa nhất là kinh điển không chữ, là kinh điển vô tự. Chính chỗ không chữ này mới là Chân kinh.

    Chúng ta phải thấy được từ nguồn nói của Phật thì chỗ đó mới có giá trị tuyệt cao, còn chúng ta chỉ thấy Phật qua kinh Kim Cang, chỉ hiểu kinh điển qua văn tự thôi thì chưa nhằm. Chỉ đọc trên văn chữ nên không giúp gì được cho mình vì vậy những si mê hãy còn nguyên.

    Đây là tâm sự của Nguyễn Du: “Tôi đã đọc kinh Kim Cang hàng ngàn lượt, nhưng chỗ thâm áo trong ấy tôi chưa từng rõ được ”. Nên chúng ta học kinh thế nào để thấu vào xương tủy, phải rõ ý kinh chứ không chỉ là mân mê mò bắt ở trên văn tự. Phải nhận rõ kinh vô tự. Phải thấy ra chỗ không nói Pháp ở nơi Như Lai thì đó mới thực sự là ngộ ra Chân kinh, là chỗ Như Lai không có được Pháp Bồ Đề và Như Lai cũng không có chỗ nói Pháp.

    Ngài Tu Bồ Đề nói như ngược với lịch sử, nhưng rất phù hợp với Tâm Như Lai, nói thẳng vào cõi sống của Như Lai. Điều nói nầy tuy không mang tính lịch sử nhưng vẫn mang tính hiện thực, nên chỗ này nếu khéo chúng ta sẽ thấy được Phật ngay, sẽ rõ được bản tánh Như Lai ở tại mình.

    Đến với kinh điển văn học Phật phải thấy được điều này thì  lịch sử không quan trọng lắm. Quan trọng là những lời văn lời Pháp này có tác dụng thật sự với mình ở hôm nay không? Đã cách mấy ngàn năm nhưng giờ chúng ta nhận ra thì vẫn có thể thông cảm được với sự chứng ngộ và chỗ giảng nói Pháp của Đức Phật. Vẫn còn thấy được chỗ Phật chứng và chỗ Phật nên lời thành Pháp. Có một sự xác chứng rõ ràng ở nơi chính mình chứ không chỉ là một niềm tin vu vơ. Người như vậy đạt được trình độ gọi là siêu thời gian và vượt không gian thành ra giây phút này đây chính là giây phút mấy ngàn năm xưa. Nên một khi ngộ rồi, có vị nói rằng: “Đức Như Lai vẫn còn ở nơi ngọn Linh Thứu sơn, vẫn còn đang thuyết Pháp”. Đó là sự thông cảm trọn vẹn về Đức Phật ở ngay nơi tâm linh. Chúng ta thông cảm được chỗ này ở ngay Tâm mình thì quả là chúng ta đã ở gần bên Phật. Thấy Phật được như thế thì dù có xa Đức Phật vẫn thấy gần bên Phật. Hãy nhìn Như Lai và Pháp của Như Lai như vậy, phải ở trên văn tự mà lìa văn tự, đừng lầm văn tự thì mới có thể hiểu đúng nghĩa.

  • 16. TỨ TƯỚNG ( Phần 2)

    '' Văn kinh:

      Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bao thứ báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên để làm việc bố thí, thì người đó được phước nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

     

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất nhiều vậy! Vì sao? Vì phước đức tức chẳng phải tánh phước đức, nên Đức Như Lai nói phước đức nhiều.

     Phước đức tức chẳng phải “Tánh” phước đức, có nghĩa là sự thật của cái phước đức không phải là cố định. Chữ Tánh ở đây nghĩa là cố định. Phước đức không có cố định nên mới nói nhiều nói ít. Như ở đây thì Phật nói là nhiều, còn Tổ Đạt Ma thì nói: “Hoàn toàn không công đức” vì phước đức này thuộc về phước đức hữu vi là phước đức không có thật, không còn mãi.

     '' Văn kinh:

     Nếu lại có người theo trong kinh này mà thọ trì chỉ được bốn câu kệ và đem nói với người khác thì phước đức đây lại nhiều hơn phước đức trước.

     Đức Phật làm một cuộc so sánh để thấy sự chênh lệch giữa người bố thí và người thọ trì chỉ 4 câu kệ chừng

    16 chữ thôi mà giá trị lại hơn rất nhiều.

    Thọ trì tức là hiểu rồi vận dụng vào trong đời sống gọi là tu, hiểu ứng dụng tu rồi đem giảng nói với người thì phước đức đây lại nhiều hơn phước đức trước. Thọ trì kinh này, phải lưu ý chữ “Kinh này” và đây là vấn đề của chúng ta. “Kinh này” là kinh nào mà Nguyễn Du đã nặng lòng đọc tới đọc lui hàng nghìn lần vẫn chưa có chỗ vào, mãi đến khi đứng trước đài đá chia kinh mới hay kinh vô tự mới là chân kinh.

    Nên “Kinh này” không phải là kinh được bắt đầu bằng “Như thị ngã văn” không phải là quyển kinh mình đang đọc. Như vậy nếu cho bốn câu kinh nằm trong đây thì đó là một sai lầm. Chữ “Kinh này” trong kinh sách nhà Phật nghĩa rất bóng bẩy, rất là khó hiểu. Không phải chỉ kinh Kim Cang dùng đến “Kinh này” mà kinh Pháp Hoa, những kinh Đại thừa Phật giáo hay dùng chữ “Kinh này”. Khi chúng ta có gặp ở bộ kinh nào đó rồi cho là bộ kinh mình đang đọc là chưa phải. Phải cẩn thận.

     

    '' Văn kinh:

     

     Này Tu Bồ Đề, vì sao? Vì tất cả các Đức Phật và pháp Bồ Đề của các Đức Phật đều từ kinh này mà có ra.

     “Kinh này” là kinh quan trọng là kinh đặc biệt. Từ “Kinh này” lưu xuất ra Đức Phật và Pháp của Đức Phật tức là “Kinh này” đẻ ra Phật pháp. Như vậy “Kinh này” là “mẹ của Chư Phật là mẹ của Phật pháp”.

     ''   Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, chỗ nói ra Phật pháp đó tức chẳng phải Phật pháp.

     Chỗ nói ra Phật Pháp tức chẳng phải Phật Pháp. Chỗ đó không phải là Phật Pháp, chỗ nổi lên hình ảnh và chữ trên màn hình tivi, chỗ đó vốn không có hình ảnh

    và chữ gì cả. Tức là từ một cõi Tâm vắng lặng tuyệt đối mà có nói ra Phật Pháp.

     

    '' Văn kinh:

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị Tu Đà Hoàn có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả Tu Đà Hoàn” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì Tu Đà Hoàn tên gọi là nhập lưu tuy nói “nhập” mà không có chỗ nhập, không nhập là không nhập vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, như thế mới thật là chứng quả Tu Đà Hoàn.

    - Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị Tư Đà Hàm có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả Tư Đà Hàm” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì Tư Đà Hàm tên gọi là nhất vãng lai (tới lui) mà thật không có  chỗ vãng lai, như thế đó mới thật là chứng quả Tư Đà Hàm.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị A Na Hàm có thể nghĩ như thế này: “Ta đã chứng được quả A Na Hàm” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được.

    Vì sao? Vì A Na Hàm tên gọi là bất lai. Tuy nói bất lai (chẳng trở lại) thật không có chỗ bất lai, như thế đó mới thật là chứng quả A Na Hàm.

    - Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Một vị A La Hán có thể nghĩ như thế này: “Ta chứng được quả A La Hán” được chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, chẳng thể nghĩ như thế được. Vì sao? Vì thật ra không có pháp nào gọi là A La Hán.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, nếu một vị A La

    Hán nghĩ rằng: “Ta đã chứng được đạo A La Hán” thì vị đó còn dính mắc các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Phật nói con đã được vô tránh tam muội, là kẻ đứng nhất trong mọi người, là kẻ đứng nhất trong hàng A La Hán ly dục.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng “Mình đã được đạo A La Hán” thì Đấng Thế Tôn đã không nói: Ông Tu Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na (Tịch tịnh) nhưng Tu Bồ Đề này thật ra không có chỗ hành hạnh A Lan Na cho nên được gọi ông Tu Bồ Đề thích hạnh A Lan Na.

     Đức Phật nêu lên bốn quả Thánh, bốn từng bậc tu chứng là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Bốn quả Thánh đó các vị chứng được là vì các vị không có thấy mình chứng nên gọi là được quả vị như thế, cho đến quả vị cao nhất là A La Hán, thì vị đó cũng không cảm thấy mình có chứng gì cả. Vì nếu một vị A La Hán thấy mình có chứng quả thì vị ấy có bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả .Với Ngài Tu Bồ Đề cũng vậy, do Ngài “không thấy mình được đạo A La Hán, không có chỗ hành hạnh A Lan Na” cho nên đức Phật nói Ngài thích hạnh A Lan Na (hạnh tịch tịnh, vắng lặng).

    Đây là hơi hướm “Vô Sở Đắc” ở kinh Bát Nhã. Để có chứng có đắc thì phải Vô sở đắc, phải không có sở đắc, không tự thấy mình có được thì mới gọi là được, còn thấy mình được cái này cái nọ là còn kẹt trong Tứ tướng nên chưa gọi là được.

    Như vậy chúng ta cũng phải đi theo đường lối này. Không thấy được cái chi trên con đường hành Đạo của mình.

     

    '' Văn kinh:

     Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai xưa kia ở nơi Đức Phật Nhiên Đăng có đắc Pháp chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không vậy! Đức Như Lai ở nơi Đức Phật Nhiên Đăng đối với Pháp thật ra chẳng đắc Pháp.

     Chính bản thân Đức Phật tu cũng vậy, cũng phải Vô Sở Đắc vì Vô Sở Đắc nên mới có được Bồ Đề có được Niết bàn. Đây là tinh thần của Vô Sở Đắc trọn vẹn.

     

     '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không vậy. Vì sao? Vì trang nghiêm cõi Phật đó tức chẳng phải trang nghiêm nên gọi là trang nghiêm.

     

     Trang nghiêm tức là làm đẹp, làm tốt, nói gọn là tu. Như vậy Bồ Tát có tu có làm tốt cho cõi Phật của mình không ? Đây là điều mà mình thấy ai cũng có tu có làm đẹp cho cõi Phật cả. Nhất là một vị Bồ Tát càng phải làm điều đó. Nhưng ở đây Ngài Tu Bồ Đề đáp: Bồ Tát không có trang nghiêm cõi Phật tức là không có tu. Vì sao ? Vì trang nghiêm cõi Phật đó tức chẳng phải trang nghiêm nên gọi là trang nghiêm. Nếu trang nghiêm mà chúng ta cảm thấy có trang nghiêm tức là tu mà thấy có tu thì cái tu đó chưa thật sự là tốt, khi chúng ta còn tu tức là còn làm, thì đó chưa phải là thành tựu, chưa phải là kết quả tốt, còn thấy mình có làm có tu thì cái tu đó còn giới hạn lắm.

    Người Chân tu thật sự thì không còn thấy có tu có làm có xây dựng cho việc tu hành của mình nữa. Nên có chỗ nói rằng : “Tu mà không tu mới thật là Chân tu”. Còn

     

    chúng ta có tu thế này thế kia đó là mình còn chấp vào tướng tu, còn chấp vào Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả. Đây là chỗ thật khó hiểu nhưng người đạt được Tâm Bồ Đề rồi thì cái Tu của họ đúng là như vậy. Tu mà không thấy mình có tu vì họ tu ngay trong Chân  tâm. Ngay Phật Tâm mà sống không rời thì gọi đó là Tu.

    Cái nghĩa tu là sửa chữa từ xấu làm cho tốt, từ hư làm hết hư, đó là nghĩa tu của bước ban đầu còn rất hình thức và hạn chế, giống như kiểu tu của mình vậy, có bỏ mái tóc đời, có bỏ đi điều ác, có tụng kinh niệm Phật, có thấy cụ thể như vậy mới gọi là tu. Còn với chỗ tu này của các Bồ Tát thì tu không có nghĩa là sửa chữa nữa vì chỗ này là Tâm Bồ Đề là Tâm Thanh Tịnh, là chỗ tốt đẹp mà mình bày chuyện tu là hư chuyện. Như cái bàn này đã đẹp rồi mà chúng ta bày đặt xách búa để sửa là phá hoại. Nên “Tu” đối với cái bàn lúc này là làm sao cho cái bàn bóng láng và sạch sẽ mãi.

    Đây là chỗ chúng ta nên lưu ý về việc “Tu” của Bồ Tát ở giai đoạn này, gọi là tu mà không có tu, trang nghiêm mà không phải trang nghiêm. Nên Quốc sư Huệ Trung nói rằng: “Nếu bảo ta tu là tai họa” tức là nói tới chỗ cao sâu thế này. Tu ở đây là sống bằng Thể Tánh sống không rời Tự Tánh gọi là tu. Bồ Tát còn đang tu

     

    thì cũng có thể bị rời, khi nào rời thì sống cho không rời vậy thôi, chứ không có gì khác hơn nữa. Tu như vậy nên không thấy mình có ra công gọi là “Vô công dụng đạo” hay “Vô công dụng hạnh” đó là chỗ công phu rất cao sâu.

     

    '' Văn kinh:

    Này Tu Bồ Đề, thế nên các Bồ Tát Ma Ha Tát phải nên như đây mà sanh TÂM Thanh Tịnh: chẳng nên trụ nơi Sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm, phải nên nơi KHÔNG CHỖ TRỤ mà sanh TÂM này.

     

     

    Đây là một đoạn kinh rất là quan trọng.

    Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát là các vị Bồ Tát lớn, là Đại Bồ Tát là những vị tu hành thâm niên. Các Bồ Tát Ma Ha Tát phải nên như đây mà sanh Tâm Thanh Tịnh: Chẳng nên trụ nơi Sắc mà sanh tâm tức là không nên ở trên Sắc là những cái đối với con mắt mà sinh tâm, không nên dính mắc trên âm thinh ở lỗ Tai mà sinh tâm, không nên dính với Vị là những cái đối với lưỡi mà sinh tâm, không nên dính những Xúc chạm ở da thịt mà sinh tâm.

     

    Tâm ở đây là tâm sinh diệt là Niệm. Phải không ở trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sinh tâm sinh diệt tức là không có khởi niệm ở trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Đối với sáu trần thì lục căn chớ khởi niệm. Phải không khởi niệm, khởi ý trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

    Phải KHÔNG CHỖ TRỤ mà sinh TÂM này.

    TÂM này là TÂM hoa. Tâm này thay thế cho TÂM THANH TỊNH. Chữ “này” là Đại danh từ thay thế cho Tâm Thanh Tịnh.

    Phải KHÔNG CHỖ TRỤ mà sinh TÂM THANH TỊNH. Nói cho dễ hiểu là CHỚ KHỞI NIỆM mà sinh TÂM THANH TỊNH. Để có TÂM THANH TỊNH thì CHỚ KHỞI NIỆM ở nơi các trần. Đối trần lục căn phải thanh tịnh. Đối trần mà không thanh tịnh thì chưa phải người tu tốt.

    Chúng ta nhớ ở truyện Tây Du Ký. Trên đường thỉnh kinh, Đường Tăng sau bao nhiêu năm vất vả, khi đến được một ngôi chùa của triều đình được yên ổn không gặp chuyện gì phiền phức. Đường Tăng ngủ một giấc rồi ra ngoài hóng mát. Tôn Hành Giả thức giấc không gặp Sư Phụ mới đi tìm Đường Tăng và hỏi:

     

    - Đêm khuya sao Sư Phụ không ngủ lại ra đây? Đường Tăng đáp:

    - Sau bao năm vất vả, hôm nay được một ngày yên ổn. Ta ra đây ngắm trăng thanh gió mát.

    Tôn Hành Giả nghe thế liền chỉnh Sư phụ:

    - Người tu hành phải giữ lục căn thanh tịnh.

    Vì lục căn của Đường Tăng lúc này đang nhiễm sáu trần nên bị Tôn Hành Giả nhắc nhở: “Người tu hành phải giữ lục căn thanh tịnh”. Câu này được truyền nhau ở trong tùng lâm. Người tu là người phải giữ lục căn thanh tịnh. Giữ lục căn thanh tịnh tức là chớ khởi niệm ở trên sáu trần.

    Chúng ta nhớ Thiền sư Duy Nghiễm khi đi xem chúng, thấy chúng trồng rau. Ngài nói: “Trồng thì không ngăn ngươi trồng nhưng chớ để cho mọc rễ”. Mọc rễ tức là bén với duyên trần. Làm thì làm nhưng chớ có khởi niệm, đừng để Căn bén với Trần.

    Nếu chúng ta làm việc mà không khởi niệm đó là làm việc ở trong Vô Sở Trụ. Vô Sở Trụ là điều chúng ta có thể thực hiện được. Chỉ cần Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân không giao tiếp với sáu trần. Cái giao tiếp với sáu trần Căn Trần dính nhau là do Niệm.

     

    Niệm là chất keo dán dính Căn - Trần.

    Như vậy muốn Căn Trần không đến nhau thì phải gỡ cái keo Niệm. Mà Căn Trần không đến nhau đó là giải thoát. Nên Ngài Tuệ Trung quốc sư nói: “Căn Trần không đến nhau liền đó giải thoát”. Thật đơn giản phải không? Sở dĩ mình bị ràng buộc là do cái Niệm. Niệm là chất keo dán dính Căn Trần, là sợi dây ràng, sợi dây trói, sợi dây buộc mình. Vì vậy người tu lập Vô Niệm làm Tông. Phải lấy Vô Niệm làm gốc phải không có Niệm. Đây là chỗ tu cốt yếu.

    Người tu theo Đạo Phật, pháp môn nào chẳng cần biết chỉ cần không Niệm đó là người tu tốt. Căn Trần không dính nhau. Đó là chỗ căn bản của chuyện tu hành. Người tu Thiền hay tu Tịnh Độ mà sáu căn không dính sáu trần thì cũng đều tốt. Người tu Tịnh Độ sáu căn không dính sáu trần là khi niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn thì Căn Trần không dính nhau vì không có Niệm. Rất tiếc là những người tu niệm Phật không hiểu chỗ này nên chỉ biết ôm câu niệm Phật mà chịu. Không dám Vô Niệm. Không Vô Niệm thì không đạt được chỗ rốt ráo của pháp môn niệm Phật là “Nhất tâm bất loạn” là Căn Trần không đến nhau.

    Khi niệm Phật mà mắt mình cứ ngóng tới cõi Tây Phương Cực Lạc và tâm mình nghe thích thú về cõi nước Tây Phương Cực Lạc như vậy Căn Trần có dính nhau không? Căn Trần dính nhau thì có giải thoát nổi không?

    – Không. Chỉ ở trên câu niệm Phật mà không biết buông câu niệm Phật. Như vậy chỉ ở giai đoạn một mà không biết tới giai đoạn rốt ráo. Đó là chỗ đáng tiếc do không nắm vững về căn bản của pháp lý. Ở đây nói rất rõ phải là Căn Trần không đến nhau thì mới có sự giải thoát. Chúng ta tu là cầu giải thoát chứ không phải cầu về một cõi nào đó. Muốn về cõi Phật nào đó thì cái cơ bản nhất là phải giải thoát. Giải thoát mới về cõi Phật, còn lăng xăng thì về cõi Phật được không? Đừng nói là cõi Phật mà vô chùa cũng không được nữa. Lăng xăng chuyện gia đình, chuyện mua bán thì vô chùa được không? Chuyện vô chùa còn đòi hỏi có sự giải thoát, đừng nói cõi Cực Lạc mà không có sự giải thoát lại được về sao? Nhiều người tín đồ mình không hiểu chuyện đó. Cứ muốn về cõi Cực lạc mà không cần giải thoát.

    Đa số người tu Tịnh Độ cứ mường tượng đến cõi Tây phương xinh đẹp thế này thế nọ tức là trong đầu đã nảy sinh pháp trần. Dính vào pháp trần thì làm sao có Tâm Thanh Tịnh được. Tu mà dính vào sáu trần đó là tu theo chiều mê tín. Tu lìa sáu trần đó là lối tu chánh tín. Chánh tín và mê tín chúng ta nên xác định như vậy cho rõ ràng dễ hiểu và thực tế. Tất cả những tình trạng gọi là mê tín đều do dính vào sáu trần. Bám vào hình tượng để mà tu là dính vào sắc là mê tín. Thấy gò mối mà cho đó là ông Phật, xúm nhau lạy gò mối. Đó là dính Sắc là mê tín. Rồi dính vào Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà tu đều là mê tín. Dính vào sáu trần đó là Mê tín nên phải lìa sáu trần mà tu, mới là công phu tu Chánh tín, đó gọi là phát Tâm Thanh Tịnh.

    Phải nơi KHÔNG CHỖ TRỤ mà sanh Tâm Thanh Tịnh. Câu chữ Hán là: “Ưng Vô Sở Trụ nhi sanh kỳ Tâm?”. Đây là chỗ tu cốt yếu. Vô Sở Trụ tức là phải để cái Tâm không Niệm. Cần phải có cái Vô Sở Trụ ở ngay trong Tâm mình.

    VÔ SỞ TRỤ là cơ sở để tu hành.

    Khi chúng ta nhận ra được chỗ vắng lặng không một niệm ở ngay trong đầu đó là chỗ ngộ sâu. Còn mình chỉ hiểu lý, hiểu trên lời nói thì đó là ngộ giải. Ngộ giải thì chưa có sức mạnh mà phải nhận ra chỗ không niệm và từ đó công phu thì mới có phần đắc lực.

    Tâm không sanh niệm đó là Vô Sở Trụ.

    Chỉ cần không niệm ở trên trần cảnh thì liền có TÂM Thanh Tịnh và như vậy liền có giải thoát. Chúng ta đổ thừa tại người, tại vật, tại cảnh làm mình tu không được là không đúng. Tại vì Niệm của mình dính trên trần cảnh nên phải quay về nơi mình mà giải quyết. Đó là chỗ Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy vua Trần Nhân Tông: “Phản quang tự kỷ bất tùng tha đắc”. Phải quay lại xoay lại chính mình chớ từ người ngoài mà được. Đây là chỗ tu chính yếu. Đừng đổ thừa tại ngoại cảnh mà do vì mình khởi niệm dính với người.

    Ca dao Việt Nam có bài thơ rất hay:

    Ba cô đội gạo lên chùa

    Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư

    Người về Sư ốm tương tư Ốm lăn ốm lốc cho Sư trọc đầu Ai làm cho dạ Sư sầu?

    Cho ruột Sư héo như bầu đứt dây.

    Thật ra cô yếm thắm có bỏ bùa cho Sư không? – Không. Người về Sư ốm tương tư. Thông thường người ta đổ thừa tại cô gái. Nếu lỗi tại cô gái thì tất cả mọi người trong chùa đều phải  ốm tương tư, đằng này chỉ có Sư ốm mà thôi.

    Ai làm cho dạ Sư sầu? Câu hỏi rất hay. Đó là do NIỆM của Sư. Do Sư  nhìn có niệm gắn vô cô áo thắm nên mới dính bóng hình cô trong đầu. Nếu nhìn mà không có khởi niệm thì đâu có gì. Lỗi là sự khởi niệm. Chính NIỆM làm cho dạ Sư sầu. Niệm làm cho Sư ốm tương tư.

    Cho nên sự đau khổ của mình không phải do Thần thánh đem tới, không do Phật Trời xui khiến hay ma quỉ xúi giục mà do chính mình dấy niệm rồi dấn vào niệm nên mới tương tư, mới đau khổ. Người chỉ là duyên. Duyên là cái của đời của xã hội nên rất khó giải quyết vì không phải của mình. Người ta đi chùa mà mình bắt người ta đừng đi được không? – Không. Cái quan trọng là cái niệm của mình. Niệm là Nghiệp. Nên muốn giải trừ cái quả cái báo thì phải giải trừ cái Nghiệp cái Niệm.

    Như vậy cách để giải quyết bệnh tương tư là vô hiệu hóa cái Niệm. Phải cắt duyên để giải trừ Niệm, giải trừ Nghiệp. “Cắt duyên tiêu nghiệp cũ” đó là đường lối tu của chúng ta. Ở chùa là cắt duyên thế gian để tiêu trừ Nghiệp cũ. Còn mình tu mà không chịu cắt duyên cứ tiếp duyên, cứ khởi Niệm hoài thì tu nổi không? Nghiệp cũ không chịu tiêu còn cộng thêm Nghiệp mới thì chỉ là người ở chùa chứ chưa phải là người tu. Nên người tu lục căn phải thanh tịnh đừng có nghĩ vơ vẩn. Mình nghĩ vơ vẩn mà thiếu định lực, thiếu chí tu thì rất khó tu. Lúc mình vơ vẩn là lúc mình mất chủ định dễ dính với sáu Trần. Lục căn đã nhiễm ô thì tâm niệm tu hành xuống dốc nên phải cẩn thận.

    Đây là đoạn kinh chỉ đạo trên việc tu hành. Tu là không để dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Đoạn kinh này mà đem ướm vào những người tu của mình thì thấy dính nhiều không? – Nhiều. Từ chỗ dính vào sáu Trần mới tạo nên chín loài chúng sanh – Tạo nên Tứ tướng. Nên đây là chỗ rất quan trọng. Muốn giải thoát là phải từ đây, yếu chỉ tu hành là ở đây. Chớ dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Người nào làm được điều này đó là kẻ chơn tu, còn không làm được điều này thì là kẻ lu bu. Mình coi lại những người lu bu đều do dính vào những điều này. Nên phải nhận định được chỗ này và sống được với chỗ dạy này mới là điều quan trọng. Tu học làm sao để sáu Căn đừng dính vào sáu Trần đó là tu học một cách chính đáng. Còn tu học mà Căn Trần dính nhau hoài thì đó là cái tu lệch lạc dầu có bằng tiến sĩ cũng vô ích. Căn Trần còn dính nhau như mủ mít thì không làm sao giải trừ được đau khổ, không làm sao được giải thoát. Đây là chỗ cần phải hiểu. Các Thiền sư nói rất nhiều điều nhưng cũng là từ

     

    đây mà khai thác ra. Chúng ta nắm vững chỗ này thì dễ nhận định về những lời dạy của các Thiền sư. Được khai thị mà mình nghĩ ngợi để trả lời là bị ăn đòn do vì mình dính vào Pháp Trần. Người tu khéo vừa nhớm khởi ý là phải hay phải phát giác và dừng liền. Đợi nó thành ra ý, thành ra lời là không còn kịp nữa. Tu giỏi tu dở là ở chỗ này.

    Nên công phu tu như thế này là công phu tu không có giờ giấc, không có thời khắc. Lục căn của mình lúc nào cũng sẵn sàng để tiếp xúc với lục trần nên lúc nào mình cũng phải sẵn sàng để tu hết. Như vậy là tu 24/24 chứ không phải chỉ tu vài tiếng trong ngày thôi. Phải dụng công miên mật, vừa nói chuyện, vừa làm việc cũng phải lo tu. Đang khi nói chuyện với người mà thấy có cái gì đó xảy ra, thấy thích ý hay bực bội gì đó thì phải kịp thời phát hiện và dừng liền. Đây là lối tu rất hay tu 24/24 tu cả lúc thức và ngủ. Ngủ là chuyện của căn của cơ thể, còn với Trí Tự Tánh thì không có ngủ cho nên người đã ngộ ra Trí Tự Tánh - ngộ ra Vô Sở Trụ thì thức ngủ gì công phu cũng được, họ tu trên từng bước chân, trên từng hơi thở, tu ở khắp mọi chỗ. Người tu Thiền chánh tông đều công phu từ chỗ ngộ này.

    Phải ở nơi KHÔNG CHỖ TRỤ mà sanh TÂM THANH TỊNH. Chỗ này đã khiến cho Huệ Năng ngộ, vua Trần Thái Tông và nhiều vị đã ngộ từ đoạn kinh này. Để cầu TÂM Thanh Tịnh là phải VÔ SỞ TRỤ. Phải không có chỗ Trụ, không có chỗ dính mắc. Bấy lâu nay chúng ta tu là dính trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Chúng ta đối trên hình tượng Phật để mà tu, ở trên kinh sách mà tụng đó là trụ ở Sắc, chúng ta cầu nguyện, niệm Phật niệm kinh, nghe băng đó là trụ trên âm thanh, rồi chúng ta lựa hương trầm, hương thơm đó là trụ vào mùi hương. Chúng ta nấu cơm, nấu thức ăn cho ngon cúng Phật để cầu cái thanh tịnh đó là trụ ở trên Vị, dính trên vị mà cầu. Rồi ở chùa có các hình tượng Phật, Bồ Tát, các phật tử đến vuốt ve, rờ rẫm để cầu cho có phước, cho hết phiền não, đó là ở trên sự xúc chạm mà cầu sự Thanh Tịnh. Hay chúng ta quán tưởng hình ảnh Phật ở trong tâm, niệm một câu kinh ở trong đầu đó là ở trên các Pháp mà cầu Tâm Thanh Tịnh. Ở trên Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà cầu TÂM Thanh Tịnh đó là trái với văn kinh. Dù chúng ta dính vào câu niệm Phật, để một hình ảnh Phật trong tâm thì không làm sao cầu được TÂM Thanh Tịnh. Dính vào câu niệm Phật là đánh mất đi TÂM Thanh Tịnh. Như mình để hoài câu “Nam Mô Phật” trên tấm bảng thì có gọi là bảng sạch không? Tưởng là hay nhưng vẫn làm cho tấm bảng bị nhòa đi, bị dơ đi.

    Thế nên phải như đây mà sanh TÂM Thanh Tịnh. Phải lìa Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Khi chúng ta không trụ vào sáu chỗ đó. Mắt không trụ vào Sắc, thì mắt không dính Sắc, Tai không trụ tiếng thì tai không dính tiếng. Mũi không trụ mùi, lưỡi không dính Vị, thân không xúc chạm và trong đầu không dính một Pháp Trần nào. Ngay lúc mà sáu Căn không dính vào sáu Trần, đầu của chúng ta trong veo, đó là cơ hội để chúng ta ngộ vào Tự Tánh.  Chính Huệ Năng đã bừng ngộ chỗ này. Ngài ngộ không phải là hiểu câu kinh mà nhận ra cái TÂM trong veo ở chính mình, hay ra mình vốn có cái TÂM trong veo và rõ ràng trong đó không có Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. TÂM đó mới thật là Tâm ta.

    Như vậy, nếu chúng ta ở trên văn kinh này mà tụng đọc tối ngày thì có ngộ ra nổi không ? Không ngộ được vì dính mắc vào văn kinh, trụ vào văn kinh. Do đó nhà Thiền chủ trương :

    Bất lập văn tự

    Giáo ngoại biệt truyền

    Nguyễn Du chính là vào bằng cửa “Giáo ngoại biệt truyền”. Khi ông đến đài đá chia kinh, không còn thấy người chia kinh, không thấy kinh được chia. Tất cả đều trống vắng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp ngay đó triệt tiêu. Đó là cơ hội cho ông bừng ngộ, ngộ ngoài kinh điển, là ngộ được TÂM chân thật chính mình nên ông lấy hiệu là Tố Như. “Tố” là rỗng rang không trống. “Như” là sừng sững bất động. Cái rỗng rang bất động đó ở nơi mình chính là TÂM Thanh Tịnh. Chỗ này là chỗ chúng ta ai cũng có thể ngộ.

    Khi không trụ vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp thì đó chính là chỗ VÔ SỞ TRỤ. Hãy ập mình ngộ thẳng vào. Đó là dòng sông trong mát và mình cứ ùm vào thì mọi nhiệt não đều tan biến. Đó là cảnh giới Vô Sở Trụ ở nơi chính ta.

    Nên để tạo cơ hội giác ngộ cho mình thì chớ dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Ai dính Sắc nhiều thì hãy nhẹ bớt, dính Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp nhiều thì nhẹ bớt đi. Khi ngồi thiền là lúc chúng ta nhẹ cả sáu thứ đó. Bằng pháp tu để giải trừ Pháp trần, chúng ta dẹp hết thì ngay đó là TÂM Thanh Tịnh. Hãy ngộ liền, an lập thân mạng mình ngay đó và từ chỗ này mà khởi tu thì cái tu đó thật là nhanh chóng, thật là tuyệt vời như Tổ

     

    Huệ Năng vậy. Cả đời chúng ta chỉ cần ngộ được chỗ đó là không uổng kiếp làm người.

     

    '' Văn kinh :

    Này Tu Bồ Đề, ví như có người thân như núi chúa Tu di, thì ý ông nghĩ sao? thân này có lớn lắm không?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất lớn! Vì sao? Vì Đức Phật nói chẳng phải thân nên gọi là thân rất lớn.

    Này Tu Bồ Đề, như trong sông Hằng có cát nhiều vô số, số sông Hằng lại nhiều như số cát đó, thì ý ông nghĩ sao? Số cát của bao nhiêu sông Hằng đó có nhiều lắm không?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, số cát đó rất nhiều, chỉ riêng cát sông Hằng hãy còn nhiều vô số, huống là số cát kia sao?

    Này Tu Bồ Đề, ta nói thật cho ông rõ, nếu có người   thiện nam, kẻ thiện nữ nào lấy bảy món báu đầy khắp các sông Hằng  với số lượng hằng hà sa số thế giới tam thiên đại thiên dùng đó để bố thí, thì được phước nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    -  Thưa Đấng  Thế Tôn,  phước  ấy  rất nhiều

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào ở nơi kinh này mà chỉ thọ trì bốn câu kệ thôi và đem nói với người khác, thì phước đức này sẽ hơn phước đức trước nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa tùy theo chỗ mà nói kinh này, chỉ chừng bốn câu kệ thì nên biết nơi chỗ đó, tất cả Trời, A tu la trong đời đều ưng chịu cúng dường như tháp miếu thờ Đức Phật, huống là có người lại riêng siêng năng thọ trì đọc tụng.

    Này Tu Bồ Đề, ông nên biết người này sẽ thành tựu pháp tối thượng ít có nhất, nếu có kinh điển này ở tại chỗ nào tức là có Phật ở chỗ đó hoặc là đệ tử ưu tú của Phật.

     

     Lúc bấy giờ Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức

    Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Kinh này có tên là gì? Chúng con làm sao phụng trì?

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    Tên Kinh này là “KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT”. Ông hãy theo tên đó mà phụng trì.

     - Tu Di: Tên một hòn núi lớn nhất trong một cõi, vì lớn nhất nên gọi là núi chúa. Tu Di là tiếng Phạn. Tàu dịch là Diệu Cao, Diệu Quang, An Ninh, Thiện Tích. Đây là hòn núi rún giữa bốn châu : Bắc Cu Lưu Châu, Nam Thiện Bộ Châu hay Nam Diêm Phù Đề (trái đất chúng ta), Tây Ngưu Hóa Châu, Đông Thắng Thần Châu. Núi Tu Di trên đảnh là chỗ ở của trời Đế Thích. Xung quanh bốn mặt có bốn vị Thiên Vương. Là ngọn núi có khả năng chứa 32 tầng trời. Trong nhà Phật nói công ơn cha mẹ như núi chúa Tu Di nên công ơn cha mẹ là to lớn vô cùng.

    - Sông Hằng: Tên gọi là Ganga, người Pháp gọi là Gange. Một con sông lớn nhất và có tiếng nhất ở Ấn Độ. Dịch là Thiên Đường. Sông này phát nguồn từ Tuyết Sơn (Himalaya) chảy xuống chia nhiều sông con và trải qua nhiều thành thị. Sông dài đến 3.100 Km đổ ra Ấn Độ Dương tại vịnh Bengale. Lưu vực sông Hằng là nơi phát tích của Phật Giáo và nhiều nền tôn giáo, triết học khác.

    - Tam Thiên Đại Thiên: Nói cho đủ là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tức là một Thế giới lớn – như Ta Bà thế giới là 1.000 thế giới nhỏ hợp thành một tiểu thế giới.

    1.000 tiểu thế giới hợp thành một Trung thiên thế giới

    1.000 Trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới

    Tiểu Thiên = 1.000 thế giới

    Trung Thiên = 1.000.000 thế giới

    Đại Thiên = 1.000.000.000 thế giới

    Như vậy một tam thiên đại thiên thế giới hay một đại thiên thế giới có một ngàn triệu thế giới. (1 tỉ).

    Đức Phật đã tán dương “Kinh này” vô cùng tận. Vậy “Kinh này” là kinh nào? Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề. Tên kinh này là: “KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT”. Ông hãy theo tên đó mà phụng trì.

    Giờ Đức Phật đã nói rõ ra rồi. “Kinh này” tức là kinh “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật”. Đề tựa này gồm có hai phần: Dụ và Pháp. Dụ là Kim Cang để làm sáng tỏ Pháp là Bát Nhã Ba La Mật.

     

    Kim Cang hay Kim Cương đây là thứ ngọc quý, nó là thứ ngọc đá cứng rắn hay phá hoại được những chất cứng rắn khác như: đồng, chì, sắt, thép, v.v… mà riêng nó thì không gì làm suy siểng được. Nó vốn là bất hoại, nên gọi là Kim Cang bất hoại. Đây là ví dụ để chỉ cho Pháp Bát Nhã Ba La Mật có giá trị phá tất cả phiền não khổ đau giống như Kim Cang phá được tất cả những gì cứng rắn. (Kim Cang có nghĩa là Năng đoạn. Ngài Huệ Năng vì ngộ kinh Kim Cang mà có tên là Năng)

    Bát Nhã Ba La Mật là thứ Trí huệ ở ngay Tự Tâm Tự Tánh. Nó đã sẵn như vậy, không do học tập, không do tu luyện mà nên. Trí này sáng chói hay diệu có khả năng như viên ngọc Kim Cương có thể phá được tất cả những tâm chấp bám muôn đời tạo nên từ vô minh si ám, phá được tất cả tập nhân gây khổ đau. Vì Trí này vốn không Tham, Sân, Si... không tất cả vật, dù là thế gian hay xuất thế gian, hằng trong sáng không bị nhiễm ô. Trí huệ này mầu diệu vô cùng, xoá sanh tử vượt khổ đau. Đây là Trí huệ Tánh KHÔNG. Tánh thể Bát Nhã Ba La Mật hay phá vỡ các thành trì vô minh ngu muội, có khả năng tiêu trừ tam chướng (Nghiệp chướng, Báo chướng, Phiền não chướng) trong nháy mắt. Và chính cái Tánh Bát Nhã này là trường tồn không họai, không gì có thể làm hoại được nó. Như vậy tên “Kim Cang” đây chỉ là dụ thôi. Tên chính của đề kinh là Bát Nhã Ba La Mật.

    Kinh này là “KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT”. Nên thọ trì bốn câu kệ, phải là bốn câu kệ trong bài BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA. Bất cứ bốn câu nào trong đó mà chúng ta hội thì cũng giác ngộ được, còn ở kinh Kim Cang này đâu phải đoạn nào cũng có ý nghĩa sâu xa.

    Với kinh Bát Nhã chúng ta đã học qua thì đoạn nào cũng đều có giá trị thật là to lớn. Rõ ràng nhất là đoạn :

    Sắc bất dị KHÔNG KHÔNG bất dị Sắc Sắc tức thị KHÔNG KHÔNG tức thị Sắc

    Thọ, Tưởng, Hành, Thức

    Diệc phục như thị.

    Ngay đoạn này mà chúng ta thọ trì, đọc tụng và giác ngộ ra rồi vì người giảng nói thì phước đức sẽ vô lượng vô biên. Một người khi ngộ về cái KHÔNG  thì qua tất cả khổ nạn, nên không có phước đức nào bằng. Chúng ta đem của cải đầy trời mà bố thí nhưng khổ nạn mình không qua khỏi, sanh già bệnh chết qua không khỏi thì phước đức đó không có gì là lớn. Từ chỗ này để chúng

     

    ta thấy lại tại sao Ngài Huệ Năng ngộ kinh Kim Cang mà thời khai đường Ngài lại giảng kinh Bát Nhã. Ngài ngộ ở chỗ Vô Sở Trụ thì Vô Sở Trụ đó tức là cái KHÔNG ở Bát Nhã.

    Như vậy, kinh Kim Cang là một bộ kinh nói về bài kinh Bát Nhã một cách rộng rãi hơn, rõ ràng hơn nếu chúng ta hiểu chữ KHÔNG ở Bát Nhã rồi thì đọc qua Kim Cang  không có gì khó hết. Đó là chỗ nhiều người không hiểu rồi lấy bốn câu kệ trong đây mà trì mà giảng. Thông thường người hành trì cho rằng Đức Phật nói bốn câu kệ đó tức là bốn câu kệ ở cuối kinh :

     

    Nhứt thiết hữu vi pháp Như mộng huyễn bào ảnh Như lộ diệc như điển

    Ưng tác như thị quán.

     

    Bốn câu này giá trị không nhiều chỉ ở trên mặt “vô thường” thôi, không có gì sâu xa hết. Vì không ngờ “Kinh này” nằm ở ngoài chứ không phải ở trên văn tự này. Phải hiểu “Kinh này” chính là bài kinh Bát Nhã. Nên nhà Thiền lấy bài kinh Bát Nhã làm bài kinh nhật tụng là kinh tụng hằng ngày cho sinh hoạt tu hành.

    Hãy theo tên đó mà phụng trì. Phụng trì tức là giữ gìn hành trì tu theo. Do vậy mà Ngài Lục Tổ thăng đường chỉ dạy một đề tựa là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Đúng như ở đây nói theo tên đó mà phụng trì. Chỉ cần phụng trì đề tựa kinh là đủ, tức là phụng trì Trí Huệ Bát Nhã vậy. Đó là chỗ vắng lặng tuyệt đối là chỗ không có niệm tưởng, chỗ không có bến mê chỉ toàn là bến giác gọi là Ba La Mật Đa là qua đến bờ kia.

    Một TÂM hoàn toàn là Trí Giác, đó chính là Tâm Kinh là Kinh TÂM. Thọ trì kinh này là sống bằng một Tâm hoàn toàn Trí Giác. Sống được như vậy là chúng ta bỏ mê về giác được giải thoát khỏi khổ từ nơi Ngũ uẩn.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, vì sao vậy? Vì Đức Phật nói Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật nên gọi là Bát Nhã Ba La Mật.

    Đây là mô thức lý luận theo kinh Bát Nhã. B tức chẳng phải B nên gọi là B. B là một danh từ một cụm từ, một tiếng nói đặt là B. Như cái bảng này trước khi viết ra chữ Bát Nhã Ba La Mật thì ở đây vốn không có Bát Nhã Ba La Mật nên mới có thể viết được Bát Nhã Ba La Mật.

     

    Viết được thì xóa được vì từ chỗ không mà có ra. Danh từ có ra từ chỗ không danh từ nên cái có ra không thật có. Nói như vậy để chúng ta đừng mắc kẹt đừng chấp vào danh từ, không để danh từ che mờ cái Trí của mình, vừa nói vừa phá để thấy danh từ là cái giả đừng bám vào. Như cái bảng này phải để sạch nhưng muốn cho các vị hiểu, tôi phải viết thì các vị đừng cho những chữ này là thật nên chớ bám vào danh từ.

    Ở đây, Đức Phật nói rồi phủi liền, không cho chúng ta dính, đó là cách viết chữ trong hư không là một lối chỉ dạy rất tận tình. Giúp người nhận ra cái thật mà không kẹt vào hình thức, tuy có dùng văn tự mà không kẹt vào văn tự. Dù có viết chữ lên bảng nhưng cốt ý là cho người thấy rõ cái nền bảng vốn là sạch vốn là không có chữ. Đức Phật dùng Pháp để chỉ cho chúng ta nhận ra Bản Tâm trong trắng nơi mình, chỉ xong rồi thì xóa không để cái Tâm bị nhòa đi. Đó là một cách dạy rất là từ bi, dạy người để người nhận ra cái thực của chính họ và trong cái thực đó không có cái gọi là danh từ Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Chứ mình nghe nói kinh này hay lắm, rồi cứ lẩm nhẩm hoài “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” thì có tốt không ?

     

    Chúng ta nghe qua, nhận rồi thì thôi. Nên các Thiền sư nói : “Ngươi không có gậy thì ta cho gậy, ngươi có gậy rồi thì ta giựt gậy của ngươi”. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật này là cây gậy, khi mình chưa hiểu chưa có thì các Ngài cho, khi có trong tay thì các Ngài giựt đi vì có mà nắm thì sẽ mất tự do, giựt gậy mới giúp mình đi đứng linh hoạt không bị tê liệt. Đây là lối dạy hết sức từ bi, là hình thức của “bất lập văn tự”.

    Khi chúng ta không còn bám vào pháp Bát Nhã bằng văn tự, thì đó là cơ hội để chúng ta nhận ra Bát Nhã Tự Tâm là một TÂM trong ngần và từ đây mà sống. Đó là thủ thuật xảo thuật của các Thiền sư. Giống như Ngài Tuyên Giám và Sùng Tín. Một đêm Ngài Tuyên Giám đến thất thưa hỏi, khi ra về Ngài thưa: “Bên ngoài trời tối đen”

    Ngài Sùng Tín đốt đèn cầy đưa cho, Ngài toan tiếp lấy Ngài Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Ngài Tuyên Giám đại ngộ. Ngọn đèn là văn tự là pháp, đưa cho người, người thấy rồi thì giựt lại. Bấy lâu nay Ngài Tuyên Giám bám ở trên kinh điển ở trên chữ nghĩa, giờ được Ngài Sùng Tín gỡ giúp cho khi đèn tắt thì Tâm Ngài bừng sáng. Đó là chỗ kỳ diệu.

     

    Do cái tật của chúng ta rất hay bám, chuyện tốt chuyện xấu gì cũng bám như con nít vậy. Nên con nít vừa đưa cái gì vào miệng là phải giựt liền, nếu không sẽ có hại cho nó. Chúng ta phải thông cảm chỗ này và phải thấy rõ kinh hay nhất đó là kinh Bát Nhã Ba La Mật. Cho nên người xưa nói: “Ý tại ngôn ngoại”. Ý ở ngoài lời nói chứ không ở tại lời nói nên chúng ta đừng mò bắt ở trên lời nói, trên văn tự sách vỡ.

    Trong kinh sách này không có cái Tâm mình nên người khéo không mò ở trên kinh văn mà nương vào kinh văn để nhận ra cái gì đó ở nơi mình. Người muốn thấy vầng trăng thật thì phải lắc đầu với bóng trăng, từ bóng trăng mà chúng ta nhìn ngược lên thì sẽ rõ vầng trăng đó là chỗ chúng ta cần phải hiểu. Đừng như Lý Bạch mê say bóng trăng trong nước, nhảy ào xuống để mò trăng để rồi chết chìm trong nước. Đó là sự nguy hại cho mình. Chữ nghĩa văn tự chỉ là bóng của Tâm mà thôi, ở trên chữ nghĩa mà mong tìm Tâm của mình đó là chuyện mò trăng đáy nước mà mong ả Hằng là chuyện không bao giờ được. Nên chữ nghĩa rất là giới hạn chỉ giúp mình tạm thời có khái niệm vậy thôi. Chúng ta phải quên đi kinh văn thì may ra nhận được cái thật nơi chính mình.

     

    Cái “biết” đọc sách mới là cái thật còn những chữ chi chít chỉ là bóng mà thôi. Chúng ta không biết lại đi tìm cái thật ở trên cái bóng giống như mang kiếng mà đi tìm kiếng vậy. Người biết học Đạo là học ở nơi chính mình chứ không phải là cái ở ngoài mình. Đây là chỗ Ngài Tuyên Giám khi hiểu ra thì đem gánh kinh ra đốt vì nguyên mình là một quyển kinh sống còn kinh sách chỉ là quyển kinh chết mà thôi.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức

    Như Lai có chỗ nói Pháp không?

    -  Thưa Đấng  Thế Tôn,  Đức  Như  Lai không có chỗ nói Pháp.

     

     

    Đức Như Lai không có chỗ nói Pháp. Nếu chúng ta nói Như Lai có “chỗ” tức là có Trụ, có Trụ tức có dính mắc mà kinh này là kinh Vô Sở Trụ - là không có chỗ Trụ.

    VÔ SỞ TRỤ là tông chỉ của kinh Kim Cang. Nên Như Lai không có chỗ nói Pháp vì Như Lai không có chỗ trụ, còn chúng ta thì có chỗ nói Pháp, có sách có tài liệu có soạn bài để nói, có sanh tâm động niệm có sự động não để giảng nói cho người. Như vậy có chỗ là có Niệm. Từ Niệm mới có soạn bài viết ra thành văn, nói thành lời gọi là thuyết Pháp.

    Như Lai không từ Niệm mà nói nên Như Lai không có chỗ nói Pháp, không có chỗ thuyết Pháp. Đây là chỗ rất quan trọng. Chính vì Như Lai không có chỗ nói Pháp nên mới thành Pháp một cách vi diệu. Giống như cái bảng không có chỗ để thành chữ là bảng trắng nên mới có thể viết ra được nhiều chữ. Từ một cái Tâm rỗng rang không trống mới có thể thành lời thành Pháp. Chỗ này các Thiền Sư hiểu lắm nên mới diễn tả: “Nói cả ngày mà không động lưỡi”. Nói cả ngày để giáo hóa cho người mà không động lưỡi. Không động lưỡi là không động não, không khởi niệm mà nói Pháp đó gọi là không có chỗ nói Pháp. Như vậy là trong khi nói không có Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Các Ngài nói mà không có cái Ta nên không cản trở cái Pháp đến với người, nói ra bao nhiêu là đến với người trọn vẹn bấy nhiêu vì không có cái Ngã chặn lại không có gì cản trở nên xuyên thủng được tâm hồn của người. Do vậy người dễ dàng đón nhận và dễ bật sáng cái Tâm nơi họ vì thế sau một thời thuyết Pháp của Đức Phật chúng ta thấy có rất nhiều người được giác ngộ.

    Còn chúng ta có chỗ để nói Pháp tức là có sự khởi niệm có cái “Ta” kèm theo, một điều Ta đây hai điều Ta đây. Giảng Pháp mà người nghe không vô là do bản ngã của mình chận lại và như vậy không thành ra là Pháp nên không khai thị được cho người không khiến người giác ngộ. Chúng ta nói mà hay làm duyên làm dáng hay kiểu cách này nọ nên người nghe chỉ chú ý tới mình mà không đón nhận được lời Pháp, không ngộ được gì hết. Đừng tưởng mình ăn hay nói giỏi, đọc sách báo thu nạp kiến thức nhiều là mình sẽ thuyết Pháp hay hơn người xưa. Không phải vậy. Mình chỉ giỏi về kiến thức về lý luận mà không dùng được chỗ nói như Đức Phật nên cái nói của mình không giúp người cảm ngộ, giống như mình cho người uống nước mà mất vệ sinh không có sự thanh lọc về vi trùng nên không có lợi cho người.

    Nên cái thuyết Pháp của Đức Phật rất là kỳ diệu và được gọi là “Ứng vật hiện hình”. Tâm Phật trong sáng thanh tịnh như tấm gương trong nên mình đứng trước Phật hình thù thế nào, vui buồn ra sao đều hiện rõ vào trong Tâm Phật. Từ đó Phật trả cái bóng lại cho mình bằng những lời Pháp lời thuyết giảng cho nên những lời Pháp đó rất phù hợp và khi mình đón nhận cái Pháp khớp với mình rồi thì rất dễ cởi mở dễ giác ngộ. Đức Phật nói Pháp nhằm khai ngộ, giải trừ cái buồn khổ đem an vui đến cho người. Thành tựu được điều đó thì mới

     

    gọi là nói Pháp chứ không phải đem thêm cái gì cho họ mà chỉ là rứt dùm cho họ những cái lo toan tính toán thôi. Thành ra từ Tâm Thanh Tịnh mang chất thanh tịnh mà đến người để làm tâm người thanh tịnh. Giống như mình là cục phèn và người nghe Pháp là nước đục, phèn bỏ vào nước đục sẽ thành ra nước trong. Tâm chúng ta có thanh tịnh thì qua tâm người sẽ khiến cho những niệm nghĩ của người rơi rụng, khiến cho người an vui và ngộ ra được sự thật nơi chính họ, bật sáng Tâm Thanh Tịnh nơi họ. (Đây là chỗ chúng ta chưa thực hành nổi nhưng phải hiểu như vậy).

     

    '' Văn kinh :

     

     

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Bụi bặm của cả thế giới tam thiên đại thiên có nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, thật ra số bụi bặm đó rất nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, các bụi bặm đó, Đức Như Lai nói chẳng phải là bụi bặm nên gọi là bụi bặm.

     

     Như Lai nói thế giới chẳng phải là thế giới nên gọi là thế giới.

     Đức Phật dùng danh từ gì rồi là phủi liền không để cho mình dính mắc trên danh từ, trên chữ nghĩa trên lời nói. Ở đây Như Lai có dùng danh từ thì đó cũng chỉ là chuyện tạm thời là phương tiện để giải trừ cái chấp về danh từ cho người. Còn riêng Ngài thì không có dính mắc gì trên danh từ trên ngôn ngữ. Chúng ta làm sao cũng phải được như vậy. Đó mới là lối nói hay và cái gốc cũng là nói mà không khởi niệm không có động não.

     

    '' Văn kinh :

     Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? ông có thể do thấy 32 tướng để thấy Đức Như Lai chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! chẳng thể do nơi 32 tướng để được thấy Đức Như Lai.

    Vì sao? Vì Đức Như Lai nói 32 tướng tức chính chẳng phải tướng nên gọi là 32 tướng.

     

    Không thể từ 32 tướng để thấy Như Lai vì 32 tướng tức chẳng phải 32 tướng nên gọi là 32 tướng. Như vậy có nghĩa là 32 tướng không có thật, 32 tướng đó là thân tướng của Thái tử Tất Đạt Đa. Như Lai không phải là thân tướng xác thịt mà là sức sống của Tánh thể của Tâm linh. Nhìn Như Lai là nhìn trên Tánh Thể chứ không phải nhìn trên thân tướng. Thể tánh đó mới là Như Lai nên phải thấy Như Lai ngoài 32 tướng.

    '' Văn kinh :

     

    Này Tu Bồ Đề, có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào lấy thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, và nếu lại có người ở nơi kinh này chỉ thọ trì bốn câu kệ và đem nói với người khác thì phước này rất nhiều hơn người kia.

    Lúc bấy giờ ông Tu Bồ Đề nghe Đức Phật nói kinh này rồi, hiểu sâu nghĩa thú, ông xúc cảm rơi lệ mà thưa với Đức Phật:

    - Đấng Thế Tôn, thật ít có! Đức Phật đã nói kinh điển rất là sâu xa áo diệu như vậy, con xưa giờ tuy được Huệ nhãn mà chưa từng nghe được kinh như thế này.

     

    Ngài Tu Bồ Đề là một người tu đã có Trí Huệ, nhưng giờ nghe Đức Phật nói còn xúc cảm rơi lệ, vì đây là Pháp sâu mầu từ nào giờ chưa từng nghe dù Ngài có Huệ nhãn. Huệ nhãn là con mắt của hàng Nhị thừa, của A La Hán nhưng chưa phải là Pháp nhãn, chưa phải là Phật nhãn nên cái nhìn của Ngài còn giới hạn. Bây giờ hiểu ra kinh chỉ thẳng vào cái Tâm cái Tánh, chỉ thẳng vào cội gốc nguồn Tâm nên Ngài xúc động rơi lệ.

    Chúng ta là người tu, bắt đầu khi tu là nước mắt mình phải khô phải ráo, đối với mọi chuyện trong cuộc sống, thương đau khổ cực gì cũng không để rơi lệ mà nước mắt mình chỉ để dùng cho giây phút cảm ngộ này thôi. Có được một lần khóc như thế này là làm thay đổi cuộc đời mình, là cứu sống được chính mình. Nên nước mắt Ngài Tu Bồ Đề ở đây thật là đặc biệt, chúng ta không hiểu nói Ngài là A La Hán rồi mà sao còn bi lụy. Không phải Ngài bi lụy mà Ngài quá cảm ngộ khi nghe được, biết được sự thật sâu dày này ở nơi kinh điển. Biết được “Kinh này” là biết được chính mình một cách rõ ràng hơn, đó là kinh chỉ thẳng vào Trí huệ thâm sâu nhất, Trí huệ qua bờ kia. Ngài thấy rõ Trí huệ Bát Nhã này ở nơi mình nên xúc cảm rơi lệ, thành ra giọt nước

     

    mắt này có trào ra nhưng không rơi xuống mà bốc lên. Đó là sức sống của một sự cảm ngộ sâu sắc.

     

    '' Văn kinh :

     - Thưa Đấng Thế Tôn, nếu có người được nghe kinh này, mà lòng tin thanh tịnh tức thấy được thật tướng, phải biết người này thành tựu công đức ít có nhất.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, thật tướng đây tức chẳng phải thật tướng nên Đức Như Lai gọi đó là thật tướng.

     Ai nghe kinh này mà lòng tin thanh tịnh tức là một lòng tin hoàn toàn trong sáng không có chút ngờ vực, nghĩa là thấy được thật tướng, ngộ được Tâm Tánh ở nơi chính mình. Phải biết người này thành tựu công đức ít có nhất vì người này đã là người giác ngộ. Trong vòng sinh tử luân hồi vô tận mà chúng ta được một lần như thế này thì phải biết đó là điều hết sức quí báu, vì giác ngộ được kinh điển này là cơ hội cho Trí huệ bật sáng giải trừ được khổ nạn ở ngay tấm thân này, ở nơi cuộc sống này.

    Ngài Tu Bồ Đề rất bén nhạy, học liền theo Phật. Chúng ta cũng phải học theo Ngài ở chỗ này. Nói một danh từ gì ra để diễn tả rồi thì phủi liền không mắc kẹt, không chấp có cái “thật tướng” như vậy. Đừng thấy mình dùng được một danh từ quá hay, quá chính xác rồi thích quá nhớ hoài, đi khoe với người này người nọ. Đừng như vậy, chúng ta dùng xong rồi phải phủi liền, không dính vào nó nữa, để không thấy cái gì hay cho mình hết. Như vậy mới vượt ra ngoài Tứ tướng, đó là điều hết sức cần yếu.

     

    '' Văn kinh :

    -          Thưa Đấng Thế Tôn, hôm nay con đã được nghe kinh điển như thế này, con tin hiểu, thọ trì mà chẳng thấy khó khăn.

     Với bản thân Ngài Tu Bồ Đề thì Ngài tin nhận, thọ trì chẳng thấy khó khăn. Như vậy khi giác ngộ được sự thật này rồi thì không còn là chuyện khó khăn nữa vì nó là cái ở nơi chính mình. Giống như khi nhận ra cái kiếng ở ngay tại con mắt mình rồi thì việc nhìn ra không còn khó. Khi mình giác ngộ đúng rồi thì ngay đó liền có hiệu năng. Nếu chúng ta nhận được mà loay hoay mất là chưa

     

    phải. Cái thật thì không bị mất và phải dùng xài được liền, có điều chưa thật trọn vẹn thôi.

     

    '' Văn kinh :

     Nếu đời sau, năm trăm năm cuối sau, chúng sanh nào được nghe kinh này mà tin hiểu thọ trì, thì người này tức là người ít có nhất.

    Vì sao? Vì người này không có tướng

    Ngã, Nhơn, Chúng Sanh, Thọ giả.

      Ở đời chúng ta mà có người tin hiểu thì quả là người ít có nhất, không phải ai cũng hiểu. Nhưng hãy tin tưởng vì chúng ta có cơ sở để hiểu ra điều này. Ngay khi chúng ta sống mà không có cái Ngã, cái Nhân, cái Chúng sanh, cái Thọ giả thì chính đó là cơ hội tốt nhất cho chúng ta rõ ra “Kinh này”. Từ đây để chúng ta kinh nghiệm vào cõi Tâm linh sâu thẳm.

    Trong một ngày sống mình có rất nhiều cơ hội như thế, không phải lúc nào mình cũng có Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Ngay lúc không có bốn tướng đó là lúc chúng ta hiểu “Kinh này” không khó khăn và khi hiểu ra được chỗ này thì Ngã, Nhân, Thọ giả triệt tiêu.

     

    '' Văn kinh:

     Vì  sao  thế  ấy?  Vì  tướng  Ngã,  Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả này chẳng phải tướng.

    Vì sao? Vì rời tất cả tướng, tức là chư Phật.

     Từ trước tới đây Tứ tướng coi như là cây thước để đo lường trình độ tu tiến, trình độ tu chính xác của mình, thì bây giờ cây thước Tứ tướng cũng được quăng luôn, giống như trên bảng này những từ ngữ khác đã xóa hết rồi, thì từ ngữ Tứ tướng cũng phải xóa đi, từ ngữ đặc biệt hay cũng phải không có thì mới gọi là bảng sạch.

    “Rời tất cả tướng tức là chư Phật”. Câu này diễn tả thật hay, như vậy để tìm chư Phật dễ không ? Chỉ cần một lúc không tất cả tướng thì đó là chư Phật hiện tiền. Điều này không khó nếu chúng ta đồng thời không tất cả tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Ngay khi này không thấy có mình, không thấy có đầu, mắt, tay, chân, không thấy có tâm, ý gì cả. Ngay khi không tất cả tướng như thế, rồi không nhà cửa, không dính mắc mọi thứ, coi như tất cả biến mất hết trong cuộc sống của mình thì đó là lúc chư Phật hiện tiền và khi chư Phật hiện tiền thì mình là ai ? - Là Phật.

    Cho nên tu muốn thành Phật là chúng ta phải rời tất cả tướng. Và rồi phải phủi luôn “Tất cả tướng tức chẳng phải tất cả tướng nên gọi là tất cả tướng”. “Chư Phật tức chẳng phải chư Phật nên gọi là chư Phật”. Phải có câu rốt sau cho mình, phải tự tiêu hủy tác phẩm của chính mình thì như vậy mới thành công. Chúng ta vẽ một bức tranh rồi, cuối cùng phải dứt cọ đi phải xoay lưng khỏi bức tranh thì mới gọi là hoàn thành.

    “Rời tất cả tướng tức là chư Phật”. Nên ló ra tướng nào chúng ta phải lắc đầu với tướng ấy không để cho có một tướng nào hết đó là chúng ta rõ ràng chư Phật.

    “Chư Phật hiện tiền” ở khắp nơi khi ta “không tất cả tướng”. Chư Phật sẽ ở trước mắt mình, ở bên tai, bên mũi mình. Chư Phật ở toàn thân và toàn cảnh sắc quanh ta. Rất đơn giản phải không? Đơn giản nhưng không dễ, vì do nghiệp tập của mình cứ níu các tướng không chịu buông tha các tướng, không có tướng chúng ta còn tạo thành tướng, nên có tướng rồi lại buông tha sao?!

    Giống như không có bình hoa này, chúng ta tạo ra bình hoa. Giờ có bình hoa lại đem bỏ sao ? Khó bỏ lắm!

    Nên đây là vấn đề của chúng ta. Từ chỗ không có hoa, mình trồng hoa, có hoa rồi mình cho đi đó là xóa tướng. Chúng ta làm nổi điều đó là chư Phật hiện tiền.

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    Đúng thế, đúng thế! Nếu lại có người được nghe kinh này mà chẳng sợ, không kinh hãi, không e ngại, thì nên biết người này rất là ít có.

     Ở đây chúng ta tuy có nghe được kinh này nhưng có nhiều người vẫn sợ hãi e ngại không dám tin, nghi ngờ không lẽ nó lại đơn giản vậy sao? Nên Đức Phật nói người nghe kinh này mà chẳng sợ, thì biết người này thật là ít có.

    Điều này chúng ta thấy rõ ở Ngài Huệ Năng, khi Ngài rõ ra rồi thì Ngài thốt lên: “Nào ngờ! nào ngờ!” không ngờ nó lại đơn giản như thế.

    Ngài không có e ngại, không có sợ hãi vì vậy Ngài là một con người ít có, là một vị Tổ thật là xứng đáng.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Đức Như Lai nói

    đệ nhất Ba La Mật tức chẳng phải đệ nhất Ba

    La Mật nên gọi là đệ nhất Ba La Mật.

    Này Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba La Mật Đức Như Lai nói chẳng phải Nhẫn nhục Ba La Mật nên gọi là Nhẫn nhục Ba La Mật.

     Pháp Ba La Mật dù rất hay nhưng cũng chớ dính mắc “Đệ nhất Ba La Mật tức chẳng phải đệ nhất Ba La Mật nên gọi là đệ nhất Ba La Mật”. Kinh này dù hay cũng phải gấp lại, có vậy chúng ta mới thật sự là tự do để ra về.

    Trước khi trình bày về pháp nhẫn nhục Ba La Mật thì Đức Phật xóa đi về danh từ nhẫn nhục không để chúng ta bám vào danh từ nhẫn nhục Ba La Mật. “Nhẫn nhục Ba La Mật Như Lai nói chẳng phải Nhẫn nhục Ba La Mật nên gọi là Nhẫn nhục Ba La Mật”. Chúng ta nghe thì nghe để biết về pháp  nhẫn nhục Ba La Mật, nhưng đừng bám vào pháp nhẫn nhục Ba La Mật, đừng bám vào từ ngữ nhẫn nhục Ba La Mật.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Như Lai thuở xưa

    bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể, chính ngay lúc đó ta hông có các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Vì sao? Vì thuở xưa trong lúc cái thân bị chặt từ khúc đó, nếu ta khởi các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả thì ta sẽ sanh giận dữ.

    Này Tu Bồ Đề! Ta lại nhớ thuở quá khứ, ta từng làm vị Tiên nhẫn nhục suốt năm trăm đời, suốt trong thời gian đó, ta chẳng khởi các tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Do Ngài không dính mắc vào bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả nên không sanh ra giận dữ sân hận. Còn chúng ta nổi sân là do mình dính vào bốn tướng, nhiều khi chúng ta đổ thừa tại người, tại sự việc khiến mình nổi giận là sai. Nếu người làm cho mình nổi giận thì sự có mặt của người đó phải khiến cho tất cả mọi người đều nổi giận hết, đằng này chỉ có mình, còn vợ con của họ và bao nhiêu người khác thì không có. Cùng một vấn đề mà chúng ta nghe thì nổi giận đùng đùng mà người khác nghe thì rất bình thường, nên cái giận là từ nơi mình. Đây là chuyện mình phải hiểu rõ thì mới giải quyết được. Chúng ta có học, hiểu đạo lý rồi thì đừng bao giờ đổ thừa cho người khác. Mình giận người và đến khi người chết rồi mình vẫn còn giận, điều đó để xác định cái giận là ở tại nơi chính mình.

    Như tôi nổi giận đánh mấy chú là tại lúc đó trong tôi có đầy bốn tướng. Bốn loài chúng sanh bừng ra trong lòng và để giải tỏa thì tôi phải đánh các chú. Có Tứ tướng mới có nổi giận và khi có Tứ tướng thì có thêm cái Tham nữa. Do Tham mình mới giận dữ như vậy. Tham là chấp vào, như tôi chấp vào lời dạy của mình, muốn cho mấy chú sống tốt đừng tạo những lỗi đó, nhưng mấy chú lại phạm vào. Đó là đụng chạm tới cái Tham của tôi nên tôi phải nổi Sân. Như vậy tôi nổi Tham là tại vì tôi có bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Bốn tướng như bốn vầng mây đen che phủ tâm trí khiến mình không còn sáng suốt đó là Si mê. Mắc vào bốn tướng là có Si và từ Si không thấy thiệt, không thấy đúng, không thấy một cách rõ ràng mà tham chấp vào, rồi từ Tham nổi Sân lên. Nên Tham, Sân, Si là do chấp nơi bốn tướng mà ra.

    Ở đây nói nếu thuở xưa trong lúc bị chặt ra từng khúc mà Như Lai có bốn tướng sinh ra thì sẽ sanh giận dữ. Cho thân này là Ta, tứ đại này là mình là có Ngã tướng sinh ra, đó là sai lầm là Si. Cho thân này là Ta, tham chấp vào thân nên mới nghe đau đớn mới nổi Sân. Khi có bốn tướng thì nhất định có Tham Sân Si. Vì thế muốn đừng có Tham, Sân, Si thì chúng ta phải giải trừ cái Si. Giải trừ cái Si thì giải trừ cái Tham, giải trừ cái Tham thì giải trừ cái Sân.

    Muốn giải trừ cái Si thì chớ dính vào Tứ tướng, chớ sinh ra Tứ tướng. Nói theo Bát Nhã thì chớ sinh ra hai tướng, chớ thấy mình và chớ thấy người, phải không như vậy thì mới giải quyết được Tham, Sân, Si. Còn chúng ta không biết như vậy, Tứ tướng sinh ra mình cứ dính mắc Tứ tướng và lấy Tứ tướng làm đời sống của mình thì nhất định có Si, Tham, Sân xảy ra. Sân xảy ra trở thành mất khôn là ngu là Si. Nên từ Sân thành Si rồi thành Tham. Cái vòng Tham Sân Si, Si Tham Sân không bao giờ dứt. Vì thế nhiều người tu mà vẫn đầy Tham Sân Si là vậy, tu thì tu mà không hiểu không biết khử trừ nó từ tận gốc. Đó là chỗ rất sâu xa mà nguyên nhân là vì chúng ta mê đi Nguồn Tâm, mê đi Bản Tánh của mình, không rõ được “Kinh này” mới sinh ra cớ sự như thế. Nếu chúng ta thấy rõ “Kinh này” thì không còn sinh ra Tứ tướng nữa, vì “Kinh này” là kinh Bát Nhã Ba La Mật là kinh nói về Tự Tánh KHÔNG. Trong Tự Tánh KHÔNG thì không Nhị Biên, không Tứ Tướng, không tất cả. Nên khi giác ngộ “Kinh này” rồi thì Tham Sân Si trở thành vô hiệu hóa, trở thành không. Như vậy chúng ta mới qua được khổ nạn và nói theo đây mình mới thành tựu được Nhẫn nhục Ba La Mật. Nhẫn nhục Ba La Mật không phải là một sự cắn răng cắn lợi mà đó là cái nhẫn nhục rất bình thản, tươi tỉnh mà nhẫn nhục, dù có bị hiếp đáp một cách vô lý vẫn chịu đựng trong một tâm thái an ổn gọi là An Nhẫn.

    An Nhẫn là nhẫn trong cái bình an chứ không phải nhẫn trong một tình trạng chịu đựng khốn khổ. Đó là một ý nghĩa rất sâu xa, dù cho sự việc có khó khổ cỡ nào, vô lý cỡ nào cũng phải an nhẫn. Cái An Nhẫn này không có tức giận, không có Tham Sân Si hay giảm nhẹ cường độ Tham Sân Si nên cái Nhẫn này mới thật phù hợp với cái Nhẫn của nhà Phật, của người tu hành. Đây là cái nhẫn của Thị Kính. Thị Kính có chồng và một hôm phát hiện chồng có sợi râu mọc ngược, sẵn kéo may vá muốn cắt bỏ đi, muốn làm đẹp cho chồng mà mang tiếng là giết chồng. Đó là một nổi oan, rồi phải giả trai để đi tu và được mang tên Kỉnh Tâm. Sau đó gặp Thị Mầu, bị Thị Mầu vu oan là có con với Thị Mầu thì rất là oan phải không ? Người tu bị cái lỗi này là nặng nề lắm, nhưng Kỉnh Tâm không nói một lời, lặng lẽ chấp nhận, chịu roi đòn tơi tả chứ không nhận mình là gái. Bởi vì cái gọi là nam là nữ ở Thị Kính thì có nhưng ở Kỉnh Tâm thì không nên nàng không cần phải biện minh. Nếu biện minh mình là gái là trai là mắc vào cái lỗi gì trên con đường tu? - Là “Ngũ uẩn giai có” thì có tu được nữa không ?

    Kỉnh Tâm là người tu rất tuyệt vời, tu đúng với chỗ dạy này là Nhẫn nhục Ba La Mật là cái Nhẫn cao cấp, Nhẫn không Bốn tướng. Không thấy mình có tướng Ngã nên không thố lộ thân phận mình là gái. Trai cũng được gái cũng được. Không có tướng Nhân nên không có càm ràm thưa gởi nặng nhẹ với Thị Mầu, cũng không thưa với Sư phụ để mong Sư phụ hiểu và giúp cho, không có một sự đối đãi nào đó sinh ra, không có tâm sự cùng ai, chỉ là tự mình tiêu dung, tự mình hóa giải. Là một sự chịu đựng trọn vẹn, chỉ có chịu đựng thôi không dính líu đến ai khác. Không có tướng Chúng sinh là vẫn yên lặng sống theo nếp sống tu hành của mình, không thấy xảy ra chuyện gì, không tạo ra vấn đề gì, coi như không có vấn đề sự kiện gì xảy ra, tham thiền niệm Phật vẫn tham thiền niệm Phật, không để Thị Mầu chen vào thời khóa tu của mình. Cho đến nuôi con thì nuôi con mà không có cảm giác gì là không có Thọ giả. Không thấy có khổ cực đau đớn để buồn chán, để nản lòng gì cả. Không có cảm giác gì sinh ra trong sự vụ đó từ đầu cho tới cuối. Đó là một sự thể hiện tuyệt vời.

    Vì sao Kỉnh Tâm thực hiện được một chuyện nhẫn nhục như vậy? Vì Kỉnh Tâm không có bốn tướng, vì đã là “Kỉnh Tâm”. Kỉnh Tâm là lúc nào cũng kính trọng cái Tâm Phật, cái Tâm Bồ Đề ở nơi mình. Luôn sống bằng Tâm Phật là Tâm Rỗng là Tâm KHÔNG nên lòng của Kỉnh Tâm luôn rỗng rang như hư không. Vì trong cái KHÔNG này không có nam có nữ, không có phải có quấy, bất và bất hết. Do sống bằng Thể Tánh như vậy nên Kỉnh Tâm không có biện minh gì, cứ sống lặng lẽ bình yên như thế. Đây là điều mà các đạo diễn của mình không hiểu lại cho Thị Kính khóc bù lu bù loa, như vậy là làm hạ giá tác phẩm. Kỉnh Tâm không có khóc mà an nhiên chịu gia hình. Đó là nét đặc biệt và chúng ta phải thấy văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng rất là sâu sắc. Đây là một câu chuyện rất hay và từ trong đó có câu rằng: “Nhẫn điều khó nhẫn mới là Chân tu”. Đó là câu chúng ta phải nhớ. Nhẫn này là Nhẫn Ba La Mật là cái

     

    Nhẫn cao cấp nhất nên sau này Kỉnh Tâm mới thành Phật Quan Âm.

    Chúng ta muốn tu tốt, muốn thành Phật thì cũng phải Nhẫn nhục như thế này. Phải biết kính trọng cái TÂM Bồ Đề, vì TÂM Bồ Đề mà sống chứ không sống vì thân vì tâm ý. Sở dĩ chúng ta tu mà không rời được Tứ tướng là vì mình sống không rời được tâm ý, không rời được tâm có chín loài chúng sanh nên nó mới thúc thôi cắn rứt mình. Vì vậy phải sống bằng Tâm Bồ Đề thì mới có được Từ Bi và Trí Huệ.

    Nên vấn đề ngộ Tâm, kính trọng Tâm Bồ Đề là hết sức căn bản, có được cơ bản này chúng ta sẽ sống được như Kỉnh Tâm, sẽ An nhẫn được mọi chuyện trong cuộc sống này. Chúng ta tu phải rán nhẫn nhục như thế này, đây là cái hạnh để tạo nên công đức và cũng cố công đức cho mình. Nếu chúng ta không tu hạnh này thì công đức của mình rất khó thành và có khi còn phá hoại tất cả công đức của mình nữa. Như Kỉnh Tâm không tu hạnh nhẫn nhục sẽ nổi Tham Sân Si lên, bày  hiện thân phận mình là gái thì sao? Lúc đó sẽ không được làm Tăng, không được làm người tu thì thành Phật nổi không ?

    Chúng ta thấy trong cái Nhẫn của Kỉnh Tâm không có bốn tướng nên không có Tham Sân Si. Đó là cái Nhẫn rất siêu việt và thực hiện được cái Nhẫn Ba La Mật này chúng ta mới an nhiên được với tất cả những khổ nạn trong cuộc đời. Chúng ta có khả năng có cơ sở để thực hiện nếu chúng ta hiểu rõ “Kinh này”.

    Như Kỉnh Tâm với chuyện oan động trời như vậy mà còn nhẫn nhục được, thì với những chuyện lẻ tẻ khác lại không nhẫn được sao? Chúng ta tu mà không nhẫn được, không nhịn được những điều nhục nhã, không chờ đợi được thì không phải là người tu.

    Nhẫn có nghĩa là nhịn, là chịu đựng và còn có nghĩa nữa là chờ đợi. Như bây giờ chúng ta nhẫn nhục ăn tương ăn lạt, tụng kinh niệm Phật, ngồi thiền. Đó là nhẫn nhục, chịu đựng những hình thức khổ và phải có sự chờ đợi, tức là phải có thời gian mới thành Chánh quả. Chúng ta tu mà nôn nóng muốn thành Phật liền là thiếu nhẫn nhục. Nên nhẫn nhục có nghĩa là chờ đợi, chờ đợi cái cũ qua đi cái mới trưởng thành, chờ đợi cái ác hết đi, chờ đợi cái thiện phát triển, chúng ta phải biết chờ đợi tức là phải biết nhẫn. Có người không hiểu cho rằng, nhẫn là nhục, mình sống không thể nhục được, không chịu thiên hạ làm nhục mình. “Thà chết vinh hơn sống nhục ”. Đây là nghĩa đùi “Nhẫn thì nhục”. Chúng ta phải hiểu nghĩa Nhẫn nhục trong nhà Phật là Nhẫn những điều khổ nhục, chịu đựng với những điều khổ nhục. Nhẫn để không bị nhục. Như ở giữa chợ hay trong chùa, mình bị hiếp đáp mà không chịu nhịn, gây gỗ hơn thua, đánh lại người, xé quần xé áo thì lúc đó nhục không? Do không nhịn được mới bị nhục. Vì vậy đi theo con đường Đạo là phải Nhẫn nhục.

    Người ta muốn giải quyết vấn đề gì là nhằm vào cái thân của mình, muốn làm nhục trên cái thân của mình thôi, mà chúng ta đã rõ thân là tứ đại giả hợp, không phải là mình rồi, nếu mình bao che, bảo vệ cho cái giả này mà nổi sân nổi hận với người thì có khôn không? Đó là si là ngu. Khi chúng ta biết cái thân này là không đáng thì cái danh càng không đáng nên không có gì để bảo vệ. Hiểu vậy mà nhẫn chứ không phải cắn răng mà chịu đựng nên Nhẫn trong nhà Phật có cái Trí dự vào, khi hiểu được chuyện rồi mình mới thông qua một cách nhẹ nhàng. Khi chúng ta biết rằng vì có Tham Sân Si vì có Tứ tướng mà gây nên khổ, cho nên mình không sống theo nó nữa. Đó là chúng ta nhẫn nhục. Nhẫn nhục với cái Trí thấy biết như vậy thì không có gì xấu hổ hết. Người ta chửi mắng mà mình thấy có vấn đề đó là si mê. Chúng ta tu rồi, mà còn hơn thua là không hiểu đạo lý và như vậy là không biết thương mình

    Khi chúng ta đầy Tham Sân Si, đầy Tứ tướng thì cái khổ mình chịu, nổi sân đánh người thì tổn hại là ở nơi mình, mình la hét thì mình mệt chứ không phải người, nên đầu đuôi gì cũng lỗ, thua cũng lỗ, thắng cũng lỗ, nhưng thua nó lỗ mà còn yên còn an hơn, còn thắng là lỗ trọn vẹn, không tốt gì cả. Cho nên không phải mình không biết tranh hơn với người, con chó còn biết tra- nh hơn nữa mà, dồn nó tới chân tường là nó cắn liền, đừng nói mình là con người. Nếu mình không hơn thua theo kiểu quân tử được thì mình hơn thua theo kiểu tiểu nhân được không? - Được. Nhưng mình không làm những chuyện như thế vì mình hiểu ra chuyện rồi nên không hơn thua nữa. Vả lại, chúng ta hiểu thêm một điều nữa là “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Mọi người đều có Phật tánh, tất cả đều là Phật tương lai nên không vì để bảo vệ thân phận mình mà hủy diệt một ông Phật tương lai khác. Tinh thần huynh đệ của mình phải hiện rõ trong cuộc sống, tinh thần Nhân bản, tinh thần Chúng sinh bản đều phải hiện rõ trong cuộc sống. Khi chúng ta thấy tất cả đều là anh em, tất cả đều là Phật tương lai nên mình không có hại nhau mà nhường nhịn nhau, nhường cho một vị là Phật tương lai thì có gì là lỗ không ?

     

    Chúng ta chín chắn suy nghĩ lại vấn để này để đi tới chỗ gọi là Nhẫn nhục Ba La Mật. Đó là thứ Nhẫn nhục cao cấp nhất. Tu mà không thực hiện được cái Nhẫn này thì con đường thành Phật của mình còn xa lắm, nên đây là một hạnh cần yếu quan trọng trên đường tu, có Nhẫn nhục như thế này mới thành Phật được. Tuy là rất khó nhưng chúng ta có Nhẫn được thì mới là chân tu. “Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu ”. Ở đây chúng ta sống với nhau mà Nhẫn được như thế này thì thật là tốt đẹp phải không ? Vì cái Nhẫn này không cho mình Tham Sân Si. Sống với nhau mà không có Tham Sân Si thì cuộc sống đó  không có gì đau khổ. Với trái đất này nếu con người sống biết Nhẫn nhục như thế này thì trái đất sẽ rất bền, còn không sẽ nguy hiểm vô cùng. Khi Tham Sân Si của mình dấy động mà đụng đến một lực lượng Tham Sân Si hùng mạnh khác, những người có trong tay bom nguyên tử thì thật thảm họa cho trái đất phải không? Như vậy tu Nhẫn là tích cực hay là tiêu cực ở trong cuộc sống này? Phải nói là rất tích cực vì chúng ta bảo vệ được trái đất. Nên Nhẫn nhục này là một đời sống tích cực và có Nhẫn nhục thế này chúng ta mới có thể cứu giúp được cho những người khác, chúng ta coi tất cả mọi người đều là huynh đệ, đều là bạn bè và không chỉ với người thôi

     

    mà với tất cả vạn loại, tất cả loài vật, cây cối thiên nhiên, chúng ta đều tôn trọng bảo vệ không có sự phá hoại nên rất cần thiết cho trái đất và có lợi rất lớn đối với đời sống nhân quần xã hội. Đây là điều hết sức thực tiễn và cần thiết cho loài người nên chúng ta phải ráng sống cho được tinh thần này. Sống được như thế này không phải là một sự khiếp nhược mà là một sự mạnh mẽ.

    Như tiểu Kỉnh Tâm dám chịu đòn, dám chịu đựng những điều vô lý nên là con người rất mạnh, rất là gan dạ chứ không phải là một con người yếu đuối khiếp nhược và do nhẫn nhục Ba La Mật như vậy mà đưa đến thành quả tốt đẹp là thành Phật Quan Âm.

     

    '' Văn kinh:

     

     

     

    Này Tu Bồ Đề, vì thế các bậc Bồ Tát phải nên rời tất cả tướng mà phát khởi TÂM Bồ Đề; chẳng nên trụ nơi Sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm. Mà phải sanh TÂM nơi CHỖ KHÔNG TRỤ.

     

    Phải rời tất cả tướng mà phát khởi TÂM Bồ Đề, vì khi nhẫn nhục không có Tứ tướng thì sẽ thành Chánh giác. Chánh giác đó là Bồ Đề.

    Để được Tâm Bồ Đề phải nên rời tất cả tướng, không dính mắc trên tất cả tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả, đó là phát Tâm Bồ Đề. Từ đây chúng ta thấy lại cái gọi là phát Tâm Bồ Đề của mình bấy lâu nay có đúng là phát Tâm Bồ Đề chưa? Như đối trước Phật chúng ta phát nguyện :

    – “Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni chứng minh cho con học hành sáng lán, mạnh giỏi ít bệnh, ít đau, lâu già, chậm chết A Di Đà Phật”.

    Phát nguyện đó chưa phải là phát Tâm Bồ Đề, vì còn dính Tứ tướng, mình dính đầy hết Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả, đó chưa phải là phát Tâm Bồ Đề. Chúng ta phải cẩn thận về cách dùng từ ngữ này, đừng sử dụng lệch. Nhiều người cho rằng người hồi nào đến giờ chỉ biết nhậu nhẹt, giờ biết đi chùa, biết ăn chay niệm Phật thì đó là đã phát Tâm Bồ Đề. Nói vậy là chưa đúng, mà chỉ là phát tâm hướng thiện thôi. Chúng ta đừng hạ giá Tâm Bồ Đề quá thấp. Tâm Bồ Đề là một Tâm rất quí báu là Tâm giải quyết sinh tử luân hồi cho nên không thể từ nơi Tứ tướng mà phát Tâm được. Như vậy phát Tâm

     

    Bồ Đề là một điều rất khó thực hiện. Chúng ta đi chùa, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật nhiều năm nhiều tháng nhưng chưa phải là phát Tâm Bồ Đề. Thà chúng ta hiểu cao như vậy để chúng ta hướng tới, chứ đừng hạ giá Tâm Bồ Đề qua thấp rồi cho mình cũng đã phát Tâm Bồ Đề rồi. Như vậy là không bao giờ mình có được. Chúng ta phải hiểu cho tới nơi, hiểu cho đúng và thấy rằng mình chưa với được, để mình hướng tới thì còn có hy vọng. Chẳng thà biết giá viên hột xoàn là 50 triệu để rồi mình dành dụm tiền một lúc nào đó mình sẽ mua được, chứ đừng hạ xuống là 5 triệu rồi nói mình cũng mua được rồi thì đó là hột xoàn giả, là không có giá trị.

    Nên đừng hiểu theo kiểu thông thường, cho rằng biết ăn chay niệm Phật là có Tâm Bồ Đề rồi, vậy là yên thôi khỏi phát Tâm Bồ Đề nữa. Không hướng tới Tâm Bồ Đề thì bao giờ chúng ta mới  phát được Tâm Bồ Đề. Phải lưu ý chỗ này.

    Lúc nào là lúc mình phát Tâm Bồ Đề ? Đó là lúc chúng ta không có Tứ tướng. “Rời tất cả tướng mà phát khởi TÂM Bồ Đề”.

    Đây là chỗ rất quan trọng và tất cả chúng ta đều phải phát Tâm Bồ Đề, phải hẹn với lòng mình lúc nào đó phải thực hiện được điều này. Lúc nào đó chính là lúc

     

    không có Tứ tướng. Chúng ta gắng sống làm sao không có Tứ tướng thì đó là phát Tâm Bồ Đề và khi phát Tâm Bồ Đề được rồi thì Tứ tướng trở thành không, vì vậy chúng ta tu rất mau.

    Như Ngài Huệ Năng đã ngộ “Ưng Vô Sở Trụ” mà sanh Tâm Thanh Tịnh tức là sinh Tâm Bồ Đề cho nên công phu của Ngài tu rất nhanh rất lẹ, nhưng cái nhanh cái lẹ đó cũng phải mất 15 năm. Chúng ta đừng mong mau hơn nữa, mong tu vài tháng là xong là dính vào Tứ tướng. Đó là lòng Tham nên sẽ càng chậm hơn.

    Khi không dính vào Tứ tướng, không dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Tứ tướng, sáu trần đều bặt hết, tất cả đều không nhiễm, từ đó mà sanh Tâm Thanh Tịnh.

    Và có Tâm Bồ Đề rồi thì sao? Nói theo kinh Kim Cang là “Tâm Bồ Đề tức chẳng phải Tâm Bồ Đề nên gọi là Tâm Bồ Đề”. Đây là điều chúng ta phải nhớ. Đó là cái giẻ để xóa chữ nếu cho rằng mình được rồi, có rồi, nghe nói Tâm Bồ Đề rồi thích quá gắn bó với nó là sai, không phải như vậy.

     

     '' Văn kinh:

     Nếu Tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ được. Thế nên Đức Phật nói: “TÂM Bồ Tát

    chẳng nên trụ nơi sắc bố thí”.

     

     

     

    Nếu có chỗ trụ thì chẳng trụ được, có được cái gọi là Bồ Đề để trụ vào Bồ Đề thì không thể được. Chính chỗ này mà Ngài Huệ Năng đã được lãnh y bát và nói rằng: “Bồ Đề bổn vô thọ” Nghĩa là: “Bồ Đề vốn không cây”. Trong khi Ngài Thần Tú cho rằng: “Thân thị Bồ Đề thọ”.  Nghĩa là: “Thân là cội Bồ Đề”. Thần Tú cho Bồ Đề là có gốc thật sự, hiểu vậy là sai. Nếu có chỗ trụ thì chẳng trụ được.

    Thế nên Đức Phật nói: “TÂM Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố thí”. Trở lại vấn đề bố thí. Bố thí chân chính là phải không dính ở trên Sắc mà bố thí. Trụ trên Sắc trên tiền bạc vật chất mà bố thí là bố thí có trụ tướng, mà đã có trụ tướng thì không đúng với chỗ dạy này. Chính những người xuất gia hành đạo là những người tu hạnh bố thí không trụ Sắc. Nếu bố thí trụ Sắc thì Phật và Tỳ kheo không tu được vì không có tiền, không có vật chất.

    Nên chúng ta tu mà nghèo không có tiền để bố thí cũng chẳng sao vì bố thí ở đây là không dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Đem Sắc trả về cho cảnh, đem Thinh trả về cho âm thanh, đem Hương trả về cho bông hoa, đem Vị trả về cho nước tương, nước mắm, muối, đường, bột ngọt, đem sự Xúc chạm là nóng, lạnh trả về cho thời tiết. Chúng ta trả hết tức là chúng ta buông hết xả hết những thứ đó thì đó là Bố thí không trụ tướng.

    Bố thí không trụ tướng là bố thí cao cấp mà ai cũng tu được, không một đồng xu dính túi vẫn tu bố thí được.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh phải nên bố thí như thế, Đức Như Lai nói tất cả tướng tức chẳng phải tất cả tướng và nói tất cả chúng sanh tức chẳng phải tất cả chúng sanh.

    Này Tu Bồ Đề, Đức Như Lai có lời nói chân chính, thật sự đúng đắn chẳng dối gạt chẳng sai trật.

    “Như Lai có lời nói chân chánh, thật sự đúng đắn, chẳng dối gạt, chẳng sai trật”.  Từ đây mà chúng ta thấy rõ nỗi lòng của Phật đối với chúng sinh, vì thương chúng sinh mà Đức Phật phải lập đi lập lại, nhồi tới nhồi lui nhiều từ ngữ như vậy vì thương chúng sinh quá mà phải hạ mình nói như vậy để làm niềm tin cho chúng sinh để chúng sinh tin được chỗ này mà có lợi cho chúng sinh. Đức Phật thấy chúng sinh khổ mà thương, thấy được Pháp thật, lẽ thật muốn cho chúng sinh mà chúng sinh không tin, khó tin nên phải nói một cách thiết tha, nói như trải gan trải mật như vậy. Giống như loài yến huyết nhả nước miếng ra để làm tổ, nhả nhiệt tình, hết nước miếng rồi nhả luôn cả máu, nên máu hòa vào nước miếng thành ra yến huyết, tức là yến có màu đỏ. Đó là loại yến đắt giá nhất, mắc hơn yến trắng rất nhiều. Lời nói của Phật phải hiểu đó là lời nói của loài yến huyết, nói tới chỗ máu tiếp thêm nước miếng của mình. Nên chúng ta phải thấy được nỗi lòng của Phật, của các bậc Bồ Tát, những bậc Đạo sư chân chính khi nói với chúng sinh đều như vậy, chúng ta phải thấy được chỗ này mà xác định thêm niềm tin của mình và theo đây mà áp dụng vào đời sống tu hành để có được lợi lạc cho mình.

    Nhiều khi chúng ta cho tiền bạc mới là thực tế, Phật thương mình thì hãy cho mình tiền đi. Chúng ta nói chi những điều này. Nếu chúng ta nói vậy là quá ư phàm tục vì tiền bạc là thứ phù du nhất, chúng ta biết tiền đâu có cứu được về cái bệnh khổ, không cứu được về tuổi già về cái chết, nhiều khi có nhiều tiền lại chết sớm hơn. Chỉ có cái  Pháp như thế này mới là thực tế thực tiễn, Pháp này cứu được cái già, cái bệnh, cái chết cho mình và chúng ta dùng xài được trong mọi lúc nên đi vào con đường Đạo thì những Pháp như thế này hết sức cần thiết. Người tu mà không lấy những cái pháp này để làm của cải mà chỉ biết có tiền bạc vật chất thì thật là đáng tiếc, rất uổng cho đời tu của mình. Vì vậy với những lời bảo chứng này chúng ta thấy hết sức là thâm trầm, là lời nói trào lên máu lệ có thể khiến chúng ta rơi nước mắt nên phải thấy đây là những lời hết sức quí báu.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, Đức Như Lai đắc Pháp đó không thật, không hư.

    Chỗ đắc Pháp này của Như Lai không thật không hư, nên chúng ta thấy Như Lai có thật sự được là nhầm, mà nói không được thì cũng là sai. Nó tuy là sự thật nhưng nếu chấp vào thì trở thành hư trở thành không thật. Chỗ này không thể động đến, là chỗ tối kỵ.

    Chúng ta để tâm động vào, sanh ý mà hiểu là trật liền còn không để tâm gì hết thì nó sờ sờ rõ ràng mồn một. Nó rất là thật nhưng bám vào liền trở thành hư nên nói thật cũng không được nói hư cũng không xong. Nó là cái chính mình rồi thì không thật không hư gì hết.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát tâm trụ nơi pháp mà hành bố thí thì như người vào chỗ tối tăm, tức không thấy được chỗ nói này.

    Nếu Tâm Bồ Tát chẳng trụ pháp mà hành bố thí thì như người mắt sáng với ánh sáng mặt trời chói chang nên thấy được các thứ hình sắc.

    Nếu Bồ Tát tâm trụ nơi pháp tức tâm dính vào Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp…Dính vào niệm để mà Bố thí thì như người vào chỗ tối tăm như người vừa đi vừa lấy tay che mắt. Đó là sự sai lầm. Khi có niệm khởi để sanh hiểu là trái không thể thấy được chỗ nói này.

    Người không trụ sắc tướng mà hành Bố thí giống như người có mắt sáng đi vào trong ánh sáng nên sáng suốt hết, thấy rõ tất cả hiện vật một cách rõ ràng. Như vậy tức là luôn phát sinh Trí Huệ. Từ Nhẫn nhục Ngài chuyển sang Bố thí, phải Nhẫn nhục như vậy và Bố thí như vậy. Hiểu đúng về cái pháp như thế đó là chúng ta hiểu rõ về pháp Ba La Mật, là pháp rốt ráo để thành tựu giải thoát một cách chân chính nhất. Từ đây mà chúng ta nhìn lại thì thấy mình chưa được gì hết và những người xung quanh mình cũng chưa được gì dù họ có bỏ tiền ra rất nhiều, phải chịu cực khổ nhọc nhằn để làm từ thiện xã hội… Nên với pháp Nhẫn nhục và Bố thí như thế này chúng ta không nên coi thường. Đừng cho rằng hồi ở thế gian tôi có tiền tôi cũng biết bố thí rồi và bây giờ không cần biết tới nữa. Nói vậy là sai lầm và chúng ta sẽ không phát huy được cái gọi là Nhẫn nhục Ba La Mật và Bố thí Ba La Mật. Như vậy với cái pháp chúng ta không đạt đến chỗ rốt ráo cho nên cái tu của mình cũng là nửa vời mà thôi.

    Chúng ta không tu không học thì thôi, đã tu đã học thì phải ráng hiểu cho tới nơi tới chốn để rồi chúng ta thực hành cho đúng mức. Và việc thực hiện này không chỉ có lợi cho mình thôi mà lợi cho tất cả những người xung quanh, những người có liên quan với cuộc sống của mình. Khi chúng ta biết Nhẫn nhục thì người sẽ không bị mình hành hạ, người sẽ được an ổn. Khi chúng ta biết Bố thí người xung quanh sẽ được lợi ích. Nhất là khi chúng ta biết bố thí Tham Sân Si, biết bố thí Tứ tướng. Chúng ta sạch hết Tham Sân Si sạch hết Tứ Tướng thì mình sẽ khỏe nhẹ và như vậy là chúng ta qua được bờ bên kia tức là chúng ta được giải thoát được thành Đạo. Nên đây là chỗ chúng ta cần phải học và ráng thực hiện hai hạnh tu này.

    Như vậy Nhẫn nhục như thế này tức là có sự Bố thí và Bố thí như thế này tức là có Nhẫn nhục. Nên Nhẫn nhục tức là Bố thí và Bố thí tức là Nhẫn nhục. Hai pháp này tùy theo tình thế mà có tên khác nhau nhưng lại bổ sung cho nhau rất là tốt đẹp. Với hai hạnh này mà chúng ta chịu huân tu thì nhất định sẽ thành đạt được trên công hạnh của mình và nó là cái tiêu biểu nhất ở trên con đường Bồ tát hạnh. Nếu chúng ta đi trên con đường Bồ tát, hành hạnh Bồ tát mà không hành hai hạnh này thì nhất định là không thành công.

    Như một bà mẹ muốn nuôi con nên người thì bà mẹ đó phải có Nhẫn nhục, phải có Bố thí đối với con. Nếu bà mẹ không có Nhẫn nhục, không có Bố thí với con thì không làm sao nuôi con được. Mình có bầu sữa mà không cho nó bú, có cơm mà không cho nó ăn tức là không bố thí cho nó, không chịu khó làm ăn, không chịu khó nuôi nấng chăm sóc thì nhất định không nuôi được con và như thế là chức năng làm mẹ bị thất bại hoàn toàn. Một Bồ tát đối với chúng sinh cũng như bà mẹ hiền đối với con vậy, cho nên một Bồ tát nhất định phải hành cho được hạnh Nhẫn nhục và Bố thí. Có được hai hạnh đó mới thành tựu được chức năng của Bồ tát là cứu độ chúng sinh. Điều này đúng cả hai mặt lý và sự. Sự và lý đều trọn vẹn đầy đủ hết gọi là sự lý viên dung.

    Chúng ta tu được như thế này thì những người sống với mình đều được hưởng lợi ích một cách cụ thể, lợi ích về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Chúng ta không Tham Sân Si, không Tứ tướng thì của cải mình dễ tuôn ra cho người, không Tham Sân Si thì những người sống chung với mình sẽ được an lạc vui tươi và khi đó chúng ta độ người không khó lắm. Khi người Tham Sân Si với mình mà mình không Tứ tướng, không Tham Sân Si thì mình sẽ dập tắt được Tham Sân Si của người, chuyển hóa được Tứ tướng ở nơi người. Nó có tác dụng ngược trở lại như thế. Nên sống mà Nhẫn nhục và Bố thí được như thế này là một điều rất tốt đẹp và người sống như vậy được gọi là Bồ tát dù mình không muốn là Bồ tát đi nữa. Như vậy đây là hạnh tu hết sức cần yếu cho một người phát Tâm Bồ Đề, phát Tâm Bồ Đề là phải thực hiện hai hạnh này. Được hai hạnh này rồi thì quả vị Phật sẽ đến với mình nên thành Phật là tại nơi đây chứ không phải đi tìm ở đâu. Như Kỉnh Tâm khi bỏ nhục thân rồi thì thành Phật hiện lên không trung, khiến những kẻ có mặt đều kính lễ Ngài. Những người gây hại và thương yêu Ngài đều được lợi ích. Đó là diệu dụng của sức sống nhẫn nhục và trong cái Nhẫn nhục và Bố thí này có Trí huệ và Từ bi không? - Có. Đầy đủ cả Trí và Bi. Đây là điều hết sức cần thiết. Trong khi Trí huệ và Từ bi ra sao mình không rõ lắm nhưng chúng ta cứ sống Nhẫn nhục và Bố thí như vậy thì rồi mình sẽ biết thế nào là Trí huệ, thế nào là Từ bi. Trí huệ và Từ bi được cụ thể là Nhẫn nhục và Bố thí như thế.

    Đây là đoạn pháp rất là kỳ diệu, nhiệm mầu vô cùng. Chúng ta cố gắng tu học và thực hiện vào trong đời sống hằng ngày để xả bỏ về tâm Tham Sân Si vốn là thứ khốn nạn ở nơi mình. Nó là thứ độc hại đã hành hạ mình bao lâu nay và không khéo đến ngàn năm sau vẫn còn tiếp tục hành hạ mình. Nên có được cái pháp như thế này phải biết rằng chúng ta may mắn vô cùng, có trồng sâu căn lành rồi mới có thể đón nhận được pháp này để giải trừ đau khổ cho mình một cách đích thực. Ngay đây và tại đây chúng ta sẽ có được lợi ích, nếu chúng ta thực hiện đúng như pháp. Không có gì để nghi ngờ khi biết rằng Tham Sân Si là nguyên nhân gây khổ cho chúng ta 100% thì giải quyết 100% nguyên nhân gây đau khổ này rồi, chúng ta sẽ hết đau khổ 100% là một sự thật.

    Với những bài pháp như thế này mà chúng ta thấu được thì sẽ thấy rằng mình có một cảm giác nhẹ nhàng thật sự. Đó là một pháp vị rất là hy hữu rất là ít có. Nên hôm nay chúng ta được nghe kinh điển này phải biết mình có phước đức lớn lắm, xung quanh mình còn biết bao người không biết và họ đầy ắp Tham Sân Si, đầy ắp Tứ tướng, họ đang khổ và khổ mãi. Vì vậy phải trân trọng kinh điển như thế này. Và “Kinh này” là “Kinh Tâm” nên chúng ta phải luôn kính trọng cái Tâm Bồ đề của mình như là Tiểu Kỉnh Tâm vậy.

  • 17. TỨ TƯỚNG ( Phần 3)

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, về đời tương lai, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào có thể nơi kinh điển này thọ trì đọc tụng, tức được Đức Như Lai dùng Trí huệ Phật thấy được người này, biết rõ người này, các công đức đều thành tựu vô lượng vô biên.

     Đức Phật nói về đời tương lai, là đời của chúng ta nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào có thể nơi kinh điển này thọ trì đọc tụng tức Đức Phật chứng biết cho và như vậy các công đức đều thành tựu vô lượng vô biên.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ trong buổi sáng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, cứ như thế suốt trăm ngàn muôn ức kiếp vẫn đem thân mạng bố thí.

     

     Nếu lại có người nghe kinh điển này mà lòng tin chẳng trái, thì phước đây sẽ nhiều hơn phước trước, huống là biên chép, thọ trì, đọc tụng và vì người giảng nói.

     Chúng ta cả đời cũng không bố thí thân mạng này được một lần mà ở đây đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí thì phải biết phước đức vô lượng vô biên. Nhưng với người thọ trì đọc tụng vì người giảng nói kinh này thì phước đức đây sẽ nhiều hơn phước đức trước rất nhiều. Vì sao? Vì đó là người đã ngộ được “Kinh này” là người qua được tất cả khổ nạn. Mà người qua được tất cả khổ nạn người đó là ai? - Là Phật là Bồ tát nên công đức rất nhiều.

    Người trước dù bố thí thân mạng nhiều nhưng chưa phải là người giác ngộ. Chưa hiểu “Kinh này” thì công đức chưa có gì nhiều. Chúng ta đem thân này bố thí cho người thì phước đức lớn lắm nhưng điều đó chưa phải công đức. Như những người lính cảm tử họ xem thân mạng nhẹ hơn lông hồng, hy sinh thân này một cách dễ dàng nhưng có thành ra công đức không?  Phước thì có mà công đức thì chưa. Công đức phải từ nơi giác ngộ chân lý, phải giác ngộ chân lý mới làm nên công đức. Đó là chỗ chính yếu, bỏ thân mà chưa giác ngộ chân lý, chưa giác ngộ được cái gọi Tâm Bồ Đề thì không có gì gọi là công đức. Chúng ta phải lưu ý về chỗ nói này, khi chúng ta ngộ được kinh này tức là ngộ được Tâm Bồ Đề, chỗ đó mới thật là công đức.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nói tóm lại thì kinh này chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể đo lường, công đức đó thật không bờ mé. Đức Như Lai vì người phát Tâm Đại thừa nói, vì người phát Tâm Tối thượng thừa nói.

     

     

    Kinh giáo trong nhà Phật chia làm ba thừa là Nhị thừa (gồm có Tiểu thừa và Trung thừa), Đại thừa và Tối thượng thừa.

    - Nhị thừa: là hai trình độ ở trong Phật pháp chưa có thấu đáo, chưa hiểu đến nơi, chỉ hiểu trên nghĩa đen của lời Phật dạy.

    - Đại thừa: là những người có trình độ cao sâu hơn thấy được chỗ nói của Phật rộng rãi hơn, có cái Tâm cũng bao la hơn, hiểu được nghĩa bóng của lời Phật dạy.

     

    - Tối thượng thừa: là người thể nhập được chỗ Phật muốn chỉ. Nên về các thừa thì Tối thượng thừa là thừa cao nhất.

    Tiểu thừa, Trung thừa nói về quả vị là cấp của Thanh Văn và Duyên Giác. Đại thừa là cấp của Bồ Tát và Tối thượng thừa là cấp của Phật là quả vị Phật. Kinh này Đức Phật vì người phát Tâm Đại Thừa nói, vì người phát Tâm Tối Thượng Thừa nói.

    Chúng ta học trong sử thì ai là người phát tâm Đại thừa, phát tâm Tối thượng thừa? - Đó là người nói: “Con đến đây chỉ cầu làm Phật thôi, không cầu gì khác”. Như vậy Ngài Huệ Năng là người phát Tâm Tối thượng thừa, nên Ngài nghe kinh  này rất dễ dàng. Ngài thông suốt kinh Kim Cang này là đã phát Tâm Tối Thượng thừa, là phát Tâm thành Phật. Chỉ cầu thành Phật thôi, không cầu Thanh văn, Duyên Giác, Bồ Tát đó gọi là phát Tâm Tối thượng thừa.

    Nên kinh này vì người tu theo Bồ Tát đạo, Phật đạo mà nói, còn những người phát tâm nhỏ hẹp, thấp thỏi chỉ biết có mình thôi thì nghe rất khó hiểu, trình độ kinh này là trình độ cao cấp chỉ nhắm cho con đường Bồ Tát và con đường Phật.

     

     '' Văn kinh:

     Nếu có người có thể thọ trì đọc tụng, nói rộng vì người. Đức Như Lai sẽ biết được người này, sẽ thấy rõ người này, các công đức đều được thành tựu chẳng thể đo lường, chẳng thể cân lường, không có bờ mé, chẳng nghĩ bàn.

    Những người như thế ắt sẽ đảm đương được pháp Bồ Đề. Vì sao? này Tu Bồ Đề, nếu người này say mê pháp nhỏ, đeo mang cái thấy: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả, tức đối với kinh này chẳng thể nghe được, đọc tụng hoặc giảng nói cho người được.

     Người có thể thọ trì đọc tụng, nói rộng vì người, Đức Như Lai sẽ biết được người này và như vậy sẽ thành tựu công đức to lớn vô cùng. Ở đây nói để thấy giá trị của kinh này to lớn quí báu như vậy.

    Những người nghe được kinh này, có thể thọ trì đọc tụng vì người giảng nói là người đảm đương được pháp Bồ Đề. Vì sao? Vì nếu người này say mê pháp nhỏ,

     

    đeo mang cái thấy Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ Giả tức đối với kinh này chẳng thể nghe được, đọc tụng hoặc giảng nói cho người được. Từ đây để thấy chúng ta muốn nghe được kinh này thì phải không bốn tướng. Ngay khi không có các tướng Ngã, Nhân. Chúng sinh, Thọ giả đó là cơ hội nghe được kinh này.

    Trở lại trường hợp của Ngài Huệ Năng và Huệ Minh. Khi Ngài Huệ Minh đến trước Huệ Năng cầu pháp thì Ngài Huệ Năng nói: “Hãy dẹp sạch các duyên, không nghĩ Thiện, không nghĩ Ác”. Đó là Huệ Năng đã chuẩn bị cho Huệ Minh, đã giúp cho Huệ Minh ở vào tình trạng không Tứ tướng và khi Huệ Minh nghe theo lời hướng dẫn đã ở trong tình trạng không bốn tướng thì Huệ Năng tiếp: “Vậy chính khi đó cái gì là mặt mũi xưa nay của ông?”. Ngay đó Huệ Minh bừng ngộ. Bừng ngộ chỗ không Ngã, không Nhân, không Chúng sinh, không Thọ giả. Mặt mũi của mình là không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả. Đó là chỗ ngộ của Huệ Minh và nhận ra được chỗ đó Huệ Minh nói: “Như người uống nước nóng lạnh tự biết.”

    Bây giờ chúng ta hiểu ra được chỗ này thì mình cũng có thể cảm thông được với Huệ Minh vì chỗ đó ở nơi mọi người đều có. Khi chúng ta không Ngã, không

     

    Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả thì đó là mặt mũi xưa nay của mình.

    Thiền Sư khai thị cho người đều có đường lối rõ ràng như vậy, dẹp sạch các duyên khiến người không trụ vào Tứ tướng ngay đó nhận đầu họ vào thì người nhận ra liền. Như người đang đứng trong nước, lại muốn biết nước và hỏi: “Nước ở đâu?”. Người hướng dẫn sẽ bảo: “Hãy  dẹp hết bèo ra, bèo xấu bèo tốt dẹp hết”. Dẹp  hết rồi thì trước mặt họ là gì? Ngay đó chỉ cần nhận đầu họ xuống là họ biết thế nào là nước. Đó là một phương pháp để khai thị của các Thiền Sư. Chúng ta sống là sống trong Thể Tánh trong cái Tâm Bồ Đề mà mình không hay giống như đứng trong nước mà không biết. Những ý niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả giống như bèo. Nên làm sao giúp họ dẹp cái bèo Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả. Họ chịu làm theo rồi thì chỉ cần ấn đầu họ xuống là họ nhận ra liền.

    Đó cũng là trường hợp của Huệ Khả và Tổ Đạt Ma. Trước tổ, Thần Quang thưa: “Tâm con không an xin Ngài dạy pháp an tâm.”

    Thần Quang không an vì tâm đầy Tứ tướng. Đạt Ma đặt Thần Quang vào vấn đề phải tự giải quyết: “Người đem tâm đây ta an cho.”

     

    Tổ đưa Thần Quang trở về thế chủ động, để mắt tìm thì ngay đó Thần Quang không còn sống bằng bóng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Các tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả đã mất mà Thần Quang không hay nên đáp: “Con tìm tâm không thể được.”

    Đó là lúc Thần Quang sạch Tứ tướng nên Tổ buông một câu: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”.

    Chính chỗ ngươi tìm không ra thì đó chính là Tâm chân thật của ngươi và trong Tâm chân thật đó không có Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả. Khi không Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả thì lúc đó có gì bất an không? Ngay đó những bất an đều triệt tiêu nên Thần Quang trực ngộ nhận ra cái chỗ không Tứ tướng, nhận ra được mình rồi nên cúi đầu đảnh lễ Tổ. Đó chính là Tâm ấn Tâm tức là Tâm của Đạt Ma không Tứ tướng in qua Tâm của Thần Quang cũng không Tứ tướng. Hai Tâm rất khớp nhau gọi là Tâm ấn Tâm. Như vậy khi tâm không Tứ tướng đó là lúc mình ngộ. Vì thế phải dẹp Tứ tướng thì mới có thể nghe kinh này. Nghe kinh này tức là phát được Tâm Bồ Đề là người được pháp Bồ Đề. Nên để phát Tâm Bồ Đề, để ngộ Tâm Bồ Đề thì phải không có tình trạng Tứ tướng.

     

    Như Ngài Hoàng Bá khai thị cho Lâm Tế. Lâm Tế hỏi: “Thế nào là đại ý Phật Pháp?”. Ba lần hỏi đều bị Ngài Hoàng Bá đánh vì đó là chỗ không thể mở lời mà lại mở lời, khi mở miệng là đã có dấy niệm, có dấy niệm là có Tứ tướng nên phải đánh. Người muốn biết im lặng mà lại hỏi “im lặng là như thế nào?” thì ngay đó vả miệng họ, bịt miệng họ là cách chỉ cho họ. Họ vừa mở miệng thì bóp miệng họ liền để cho họ không phải nói. Đó là cơ hội để họ nhận ra cái yên lặng. Thủ thuật của Thiền Sư là vậy. Chính chỗ đó là chỗ không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả. Nên để mau ngộ vào pháp Bồ Đề tự mình phải biết thanh toán Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Có học có biết rồi thì phải tự dẹp cái Tứ tướng này cho mình và đây là chuyện ở ngay chính mình nên mình có thể giải quyết bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Và khi ngộ rồi thì ở đâu cũng vẫn là cái đấy vì thế Ngũ Tổ đã khai thị cho đại chúng rằng: “Người thấy Tánh thì vác đao xông trận cũng vẫn thấy Tánh”. Dù có đánh lộn đi nữa thì cái thấy Tánh vẫn không bị mất. Cái thân mạng có thể bị mất nhưng cái Tánh đó thì không bao giờ mất. Mình chính là Tánh thể đó nhưng nếu mình còn Tứ tướng thì không thể ngộ được pháp Bồ Đề. Như vậy để ngộ pháp Bồ Đề thì phải không Tứ

     

    tướng. Chúng ta vì Tứ tướng mà tu thì không bao giờ ngộ được Tâm Bồ Đề. Đây là yếu chỉ là bí quyết tu hành.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, ở đâu đâu, nếu có kinh này cũng đều được tất cả Trời, Người, A tu la… Ở trong đời ưng chịu cúng dường.

    Nên biết những chỗ như vậy tức là tháp Phật, đều phải nên cung kính làm lễ vòng quanh và lấy các thứ hương hoa tung rưới ở những nơi ấy.

    Này Tu Bồ Đề, lại nữa, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào thọ trì, đọc tụng kinh này, nếu bị người khinh rẻ thì người này bị tội nghiệp ở đời trước, lẽ ra phải bị rơi vào đường ác mà hôm nay mới bị người khinh rẻ, nhưng vì thế mà tội nghiệp đời trước được tiêu diệt, nên được Bồ Đề.

     

     

    Chúng ta phải quý trọng những chỗ có kinh này. Ở đây nói phước đức của việc thọ trì kinh này, nếu bị người khinh rẻ là do người này bị tội nghiệp đời trước,

    lẽ ra phải bị đọa vào đường ác nhưng hôm nay quả báo được giảm nhẹ thay vì quả báo phải bị giết nhưng chỉ bị nói nặng nhẹ một chút thôi là coi như nghiệp đã giải, báo đã trả. Vì vậy khi chúng ta tu theo kinh này mà có những chuyện, những tai nạn xảy ra với mình thì nên mừng là biết mình trì kinh đã có tác dụng nên cái báo mới xảy ra. Như mình làm ăn khá rồi người mới đến đòi nợ mình và thay vì quả báo nặng 100 lần giờ phải trả chừng 10 lần thôi. Nên việc xảy ra mình không buồn, ngay đó chúng ta an được và biết rằng công phu của mình đã tăng tiến.

    Đây gọi là Báo oán hạnh là một trong bốn hạnh của Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dạy. Là một hạnh tu để trả lại những báo nghiệp của mình cho người. Chỗ này Kim Dung trình bày rất hay qua truyện Cô Gái Đồ Long. Khi Tạ Tốn bị bắt nhốt trong hầm đá của núi Thiếu Lâm do ba vị trưởng lão của Thiếu Lâm canh giữ và ba vị đó có tên là Độ Khổ, Độ Ách, Độ Nạn (Điều này để thấy Kim Dung rất khéo và cũng rất thâm đạt Bát Nhã). Ba vị trưởng lão thường ngày tụng kinh Kim Cang và Tạ Tốn nghe hết, nghe thấm vào tim não. Sau đó ông ngộ kinh Kim Cang nên Trương Vô Kỵ đến giải cứu thì Tạ Tốn không chịu và nói rằng: “Thân ta đã là không thì có ai đem băm ra thành trăm mảnh nó vẫn là không. Chuyện giang hồ ta

    không còn biết tới.” Sau đó, trước đông đảo quần hùng Tạ Tốn tự phế võ công, coi như Tạ Tốn chấp nhận cái chết và với một hành động như vậy khiến những anh hùng hào kiệt có cái nhìn đổi khác. Thay vì băm vằm Tạ Tốn ra thì người ta chỉ mắng nhiếc, đánh một bạt tay, phun nước miếng rồi thôi, không ai đánh ông bị trọng thương. Đó là quả báo được hóa giải từ nặng đến nhẹ và có cái nạn đến qua mũi kim châm muốn giết Tạ Tốn thì cũng được người giải trừ cho. Kim Dung đã khéo léo linh hoạt diễn tả đoạn kinh này thật là hay, thật là cụ thể.

    Thế mà ở Việt Nam trong chốn tu hành nhiều người đã đồn đại cho rằng thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang sẽ làm cảnh sắc khô khan, tụng Kim Cang khiến cho người ta nóng nảy dễ gặp tai nạn, dễ bị khùng bị điên. Rồi người bệnh mà nhắm không qua khỏi thì bảo nhau tụng kinh Kim Cang, người bệnh sẽ chết nhanh chết lẹ. Đây là lời nói sai lầm không đúng với tinh thần của kinh và nói như vậy là không hiểu gì về kinh hết. Trong khi kinh này có khả năng độ khổ, độ ách và độ nạn mà trong cuộc đời này chúng ta cầu cái gì hơn là ba điều đó. Ở đây giá trị của kinh là hết sức to lớn nên thật đáng tiếc cho những người tu theo Đạo Phật mà không biết đến kinh Kim Cang hay không hiểu đúng về kinh làm giảm giá trị của kinh. Đây là bộ kinh khiến cho bao người giác ngộ, đã giúp cho rất nhiều người thành tựu được Đạo quả. Chúng ta cũng phải nương đây để mở đường vào Đại Đạo. Vì khi chúng ta thọ trì được kinh này, phát được Tâm Bồ Đề rồi thì Tứ tướng coi như không còn nữa mà tất cả nỗi khổ trên đời này đều từ Tứ tướng có ra. Khi không Tứ tướng thì bao nhiêu   khổ đau đều tan hoại như vậy là chúng ta được giải thoát. Giải thoát thân và giải thoát tâm, đó là chỗ giải thoát trọn vẹn nhất. Nên phải thấy được giá trị của kinh này.

    Lẽ ra phải bị rơi vào đường ác mà hôm nay mới bị người khinh rẻ, nhưng vì thế mà tội nghiệp đời trước được tiêu diệt, nên được Bồ Đề.

    Vì thế sau đó Tạ Tốn được Chư Tăng chùa Thiếu Lâm nhận làm đệ tử xuất gia, được làm Tăng chùa Thiếu Lâm và lại được mang hàng chữ Không là ngang hàng với hàng phương trượng mà ở đây gọi là được Bồ Đề. Đó là một hình ảnh rất hay.

     

     

     

     

    Này Tu Bồ Đề, ta nhớ về thuở quá khứ

    ở vô lượng vô số kiếp, ở trước lúc Đức Phật Nhiên Đăng ta được gặp tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha các Đức Phật, ta đều cúng dường, hầu hạ không thiếu sót.

    Nếu lại có người ở trong đời cuối mà có thể thọ trì đọc tụng kinh này thì được công đức so với công đức sự cúng dường của ta đối với các Phật thì người đó hơn ta trăm lần, muôn ức cho tới không thể tính toán thí dụ được … mà ta thì chỉ bằng một phần công đức của người đó thôi.

     Na do tha là con số của Phạn là con số rất lớn hoặc là bằng ngàn muôn ức hay bằng ngàn vạn. Nhưng công đức đó vẫn không bằng một người ở thời đại chúng ta mà biết thọ trì đọc tụng kinh này. Đức Phật đem bản thân thân Ngài ra làm cuộc so sánh để tuyên dương công đức của kinh này là rất to lớn không thể tính toán được.

     

     

     

     

    Này Tu Bồ Đề, nếu có người thiện nam

    kẻ thiện nữ ở trong đời cuối mà biết thọ trì, đọc tụng kinh này, thì công đức đã được đó, nếu ta nói cho đầy đủ e rằng người nghe sanh lòng cuồng loạn hồ nghi chẳng tin.

    Này Tu Bồ Đề, ông nên biết nghĩa của kinh này chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn.

     Công đức của người thọ trì đọc tụng kinh này thật lớn vì là công đức vô vi nên không thể nghĩ bàn. Không như phước đức của Lương Võ Đế thuộc về phước đức hữu vi. Lương Võ Đế đã cất 72 kiểng chùa, độ rất nhiều người làm Tăng, nhưng việc làm đó đều ở trong Tứ tướng nên Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Hoàn toàn không công đức”. Đây là lối nói rất là Kim Cang. Ta là vua là Ngã tướng, có kẻ tù nhân là Nhân tướng, được cạo đầu làm Tăng là Chúng sanh tướng và khi người này chịu cạo đầu làm Tăng thì ông tha tội và ông thấy thích ý là Thọ giả tướng, rồi lấy tiền của trong kho để cất chùa là chuyện cũng rất dễ làm

     

    phải không? So với Đức Phật ở trước lúc Đức Phật Nhiên Đăng cúng dường hầu hạ cho tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha Đức Phật mà gọi là công đức không có gì đáng kể huống nữa là việc làm của Lương Võ Đế và chính cái chỗ đem công trạng việc làm đó khoe với Tổ để cho thấy mình vĩ đại là đã trưng cái Tứ tướng ra trước Tổ. Đó là vô lễ với Tổ là “không công đức”. Bằng Tứ tướng mà xây dựng nên “không công đức”. Đó là pháp hữu vi mà pháp hữu vi thì tan hoại nên 72 kiểng chùa giờ không còn, kinh sách không còn, những người làm Tăng cũng không còn. Những việc làm của ông trở thành vô nghĩa hết.

    “Hoàn toàn không công đức”. Đó là lời khai thị cũng là lời tiên tri của Tổ. Từ cái nhân là Tứ tướng là sinh diệt nên không công đức là rất phải. Chúng ta đừng tạo công đức theo lối của Lương Võ Đế, mà phải tạo công đức nào xài hoài không mất, trái đất có hủy diệt cũng không mất. Đó mới thật sự là cái công đức để chúng ta tìm cầu. Vì vậy chúng ta thấy rõ chính thọ trì kinh này mới giúp cho chúng ta có một công năng vĩnh cửu không bị hư hoại và công đức này mới thật sự là công đức. Công đức này được xây dựng từ vô vi chứ không phải từ hữu vi nên công đức này là công đức vô lậu chứ không phải công đức hữu lậu như của Lương Võ Đế.

     

    Thường trong nhà thiền khuyến cáo những người tu về phước đức giống như mũi tên bắn lên cao hết đà sẽ rơi trở lại. Giống như Lương Võ Đế cuối đời bị giặc tấn công thì tiêu tan hết sự nghiêp. Cho nên hãy cầu cái công đức vô vi chứ đừng cầu phước đức hữu vi. Cái vô vi tuy không có hình thù, không có sự tướng nhưng rất bền. Như hư không và trái núi cái nào bền hơn? Cái vô vi như hư không thì không bao giờ tan hoại, còn trái núi có thì có đó rồi tan hoại như không. Nên chính cái vô vi mới thật sự là công đức còn phước đức chưa gọi là công đức được. Công đức phải cầu từ nơi Vô Vi, từ nơi Nguồn Tâm Cội Tánh của mình. Còn phước đức chỉ cầu trên hình thức mà thôi nên hai kết quả này khác nhau rất nhiều. Từ đây chúng ta có thể phân biệt được thế nào là công đức, thế nào là phước đức.

    Với một người nghèo rớt mồng tơi mà họ chiếu kiến được Ngũ uẩn giai Không là họ có công đức, còn một người giàu có vô cùng mà chưa rõ được Nguồn Tâm thì chỉ có phước đức mà thôi. Cái phước đức thì có mầm hiểm họa ở bên trong còn công đức thì không có, nó hoàn toàn trong sáng từ đầu đến cuối. Nên cầu có phước chưa phải là điều tốt, cầu được trúng số nhưng trúng số rồi có được yên thân không? Có tiền nhiều đôi khi lại

     

    không ngủ được yên nên đừng cầu phước đức như thế, phước đức khi chết không đem theo được còn công đức là cái gắn liền với mình, chết chúng ta mang theo được.

    Vì vậy là người trí là kẻ khôn nên chọn cái sau khi chết mình mang theo được còn chết mà chỉ mang theo cái đau buồn phải bỏ lại trần gian cái này cái nọ thì thật là đau đớn. Chúng ta có duyên với Phật phải hiểu và thực hiện công đức cho chính mình để khi ra đi có đầy đủ công đức mà đi. Có công đức như người có vốn thì không ngại không sợ gì giống như người đi du lịch vậy thôi.

    Công đức này rất lớn nhưng ở đây không nói nhiều vì e rằng người nghe sanh lòng cuồng loạn hồ nghi chẳng tin. Việc đơn giản như vậy mà có công đức vô lượng vô biên. Đó là sự thật.

     

     '' Văn kinh:

     Lúc đó ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, người thiện nam kẻ thiện nữ nào đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì phải trụ như thế nào?

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề :

    Người thiện nam kẻ thiện nữ nào đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì nên như đây mà sanh Tâm: ta phải diệt độ tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh được diệt độ rồi mà không có chúng sanh nào thật được diệt độ.

    Này Tu Bồ Đề, vì sao? Nếu vị Bồ Tát có các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả thì vị đó chẳng phải Bồ Tát.

     Câu này chúng ta đã thấy từ đầu kinh. Ở đây chỉ hỏi người đã phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì phải trụ như thế nào? Đức Phật bảo: “Phải diệt độ tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh được diệt độ rồi mà không có chúng sanh nào thật được diệt độ”.

     

     

    Độ chúng sinh đây là những tình trạng ở trong tâm là chín loài chúng sanh trong tâm mà chúng ta đã bàn qua. Tu là độ vọng tâm hay vọng niệm có điều độ mà không thấy độ, có giải trừ về vọng tâm vọng niệm mà không thấy mình có diệt trừ vọng niệm, vọng tâm gì cả. Chúng ta độ vọng niệm bằng cách trừ diệt, thấy mình có trừ có diệt niệm là sai. Người tu không thấy có vọng niệm, vọng tâm trong lòng nhưng không phải diệt niệm mà được như thế. Người diệt niệm mà được như vậy là có tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Thấy mình là người diệt và thấy cái niệm bị mình diệt là có Ngã tướng và Nhân tướng. Sau khi diệt có tướng vắng lặng hiện ra đó là tướng Chúng sinh rồi cảm nghe thích thú đó là tướng Thọ giả. Như vậy là có Tứ tướng là lỗi.

    Độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được diệt độ. Không có Tứ tướng mà niệm được hóa giải, chứ vẫn còn niệm ở trong lòng thì không gọi là độ là tu, như vậy là giống như phàm phu rồi. Phải phân biệt kỹ chỗ này. Mình không trừ không diệt mà vẫn được thái bình chứ không phải chúng nổi loại rồi phải trừ phải diệt là sai. Niệm như những  con dân của mình mà nếu giết hết chỉ còn lại mảnh đất không như vậy không thành một quốc gia nữa. Đó là tự mình phá

     

    hại về quốc gia của mình là cách giải quyết sai lầm. Ở đây độ mà không độ chỉ là “nối dòng máu thắm xóa thù hằn xưa” là công phu Bà mẹ Âu Cơ mà chúng ta đã bàn qua. Bà mẹ Âu Cơ không theo đứa con này, diệt đứa con kia mà rõ tất cả đều là con mình. Khi biết tất cả chúng đều là anh em nhau thì đó là một cuộc chiến hòa bình, không trừ mà tự yên. Độ mà không diệt đứa nào gọi là độ mà không độ.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, vì sao? Vì thật ra không có pháp nào phát Tâm Bồ Đề cả.

     Vì các Bồ Tát không Tứ tướng không Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả nên thật không có pháp nào phát Tâm Bồ Đề cả. Phát Tâm Bồ Đề được đề ra ngay từ đầu nhưng tới đây thì được xóa đi. Đưa vấn đề ra để giảng dạy, cuối giờ xong rồi thì xóa đi để bảng được sạch. Đây là chỗ rất hay của kinh Kim Cang là lối dạy khiến người không dính mắc.

    Từ một Tâm Rỗng Lặng khởi lên diệu dụng nên trong diệu dụng đó cũng mang tính chất rỗng lặng. Ở

     

    nơi mình đã không dính mắc vào từ rỗng lặng thì đến với người cũng không làm cho người dính mắc cái rỗng lặng đó. Như tôi viết chữ trong hư không để nhắc cho các vị, các vị thấy rồi cũng không dính mắc chữ trong hư không. Đây là lối dạy như thế nên cái khôn ngoan của người học Đạo là chớ dính mắc vào văn chữ. Như một Thiền Sư đã nói:

    Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư Đến nay tính lại chừ quên hết

    Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.

      '' Văn kinh:

     

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? lúc Đức Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có pháp nào được Bồ Đề chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn không có pháp nào vậy!

    Như con hiểu nghĩa Đức Phật nói, thì lúc đó Đức Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng không có pháp nào được Bồ Đề.

    Đức Phật nói:

    Đúng thế! đúng thế! Này Tu Bồ Đề, thật không pháp nào để Như Lai được Bồ Đề.

     Ở đây việc gọi là đắc Pháp, gọi là có pháp Bồ Đề để được thì thật ra không thiệt có. Vì thật không có pháp nào là Bồ Đề cả cho nên cũng không có cái nào gọi là được. Cái chỗ gọi là Bồ Đề, cái đó chỉ là một danh từ mà thôi. Giống như tấm bảng vốn trắng sạch mà chúng ta viết lên chữ “pháp Bồ Đề” thì thấy rằng có từ ngữ pháp Bồ Đề nổi lên rõ ràng nhưng thật trong tấm bảng có cái gì đó gọi là pháp Bồ Đề không? - Không có. Nếu chúng ta không thấy như vậy mà cho pháp Bồ Đề là thật có. Đó là lầm. Khi chúng ta lau mất chữ thì rõ ràng tên pháp Bồ Đề không thật có.

    Cũng vậy tên pháp Bồ Đề nói ra để cho có từ ngữ chỉ vào chứ thật ra trong Thể Tánh không có cái gì gọi là Pháp Bồ Đề và khi chúng ta hiểu về Tánh Không ở Bát Nhã thì rõ ràng trong đó không có cái gọi là Tánh Không nữa, chính trong đó là không một vật thì pháp Bồ Đề có thể có được sao? Khi nào chúng ta rõ ràng trong ấy không một vật, không có một pháp thì đó gọi là Bồ Đề. Bồ Đề như vậy là không có thật pháp nên không có cái pháp nào để Như Lai được Bồ Đề.

    Đức Phật xóa về từ ngữ, xóa cái khởi niệm về Bồ Đề. Nói như vậy không có nghĩa là Như Lai không có được Bồ Đề. Chúng ta nhớ là Như Lai đang ở  ngôi thứ nhất. Nên Ngài nói: “Ta không dính cái pháp Bồ Đề nào hết”. Đó là Ngài nói như vậy. Nếu Ngài nói: “Tôi có chứng được pháp Bồ Đề” là Ngài bị kẹt vào Tứ tướng, là có Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ giả. Nhưng khi mình nghe như thế, thì mình lại bảo với nhau rằng: “Phật không có chứng Bồ Đề nên chúng ta cũng không cần chứng Bồ Đề làm gì”. Nói vậy là lầm. Ngôi thứ nhất nói về ngôi thứ nhất thì phải, còn mình là ngôi thứ nhất nói với người khác là ngôi thứ hai về ngôi thứ ba thì mình phải nói:

    “Huynh à! Đức Phật Ngài có chứng được pháp Bồ Đề”.

    Chúng ta phải ở trên chỗ phân ngôi để mà hiểu, đừng nhầm lẫn trên cái nói không cần phân ngôi. Như chúng ta thật sự đang ngủ ngon thì mình không thể nói: “Tôi đang ngủ ngon” nhưng người ngoài nhìn vào thì rõ ràng là mình đang ngủ ngon. Cũng vậy, Đức Phật thật sự đang chứng Bồ Đề. Ở trong chỗ chứng Bồ Đề không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả nên không thể nói: “Tôi đang chứng Bồ Đề”. Còn chúng ta nói không có pháp Bồ Đề không có chứng Bồ Đề nên khỏi phải tu hành gì. Đó là lối nói rất là sai lầm khiến mình trở thành một người phàm phu thật sự sống phóng túng tạo nghiệp gây nghiệp và cái đó được gọi là bệnh Nhậm – Bệnh mặc tình - kệ mồ khỏi phải tu hành gì. Đó là chỗ hiểu rất là nguy hiểm.

    Nhiều người đã vướng vào chỗ này, miệng thì nói Thiền mà không sống gì được với cái Tâm Bồ Đề vì cho rằng Tâm Bồ Đề Như Lai còn nói: “Ta không có chứng” thì huống gì mình nên cứ sống theo kiểu thế tình. Đây là một lối bệnh của người tu nhất là những người tu Thiền mất căn bản, với người không có kiến Tánh thì hay nói bậy lắm. Miệng thì nói Thiền mà tâm không có hành thiền gì hết, tu Thiền không khéo chấp vào chỗ này rồi chứng nào tật ấy. Đó chỉ là nói về Thiền mà không biết Thiền là gì. Phải lưu ý chỗ này, hiểu sai một chút là tệ hại cho đường tu của chúng ta. Mình phạm đủ thứ lỗi mà vẫn không thấy mình có lỗi gì, vì cho tội là giả. Đó là một thứ ngụy biện, một thứ si mê vô cùng, không hiểu được lẽ thật là như thế nào và rồi hậu quả vẫn xảy ra cho mình, nên phải hiểu cho chín chắn cẩn thận.

     

    '' Văn kinh:

      Này Tu Bồ Đề, nếu có pháp nào để Đức Như Lai được Tam Miệu Tam Bồ Đề, thì Đức Phật Nhiên Đăng chẳng thọ ký cho ta là: Ông ở đời sau sẽ làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

    Đã thật không có pháp nào để được Bồ Đề, nên Đức Phật Nhiên Đăng có lời thọ ký cho ta rằng: Ông ở đời sau sẽ làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

    Người đệ tử không có nói gì cả mà vẫn là đang ngủ ngon thì mới được Ông Thầy nhìn nhận xác định cho là: “Ngươi ngủ ngon”. Nên khi tu mà còn thấy có cái pháp để tu, tự thấy cái pháp đó rất là tốt và hãnh diện về pháp tu của mình thì sẽ không được thọ ký thành Phật. Nói theo Bát Nhã là có Sở Đắc, mà nguyên tắc phải là Vô Sở Đắc phải không có gì để được như vậy mới gọi là được. Từ chỗ dạy này chúng ta thấy lại mình, khi chúng ta có tu tốt đến cỡ nào cũng đừng có tự hào là mình tu tốt. Tự hào là vướng vào Tứ tướng, vướng vào Tứ tướng là hỏng. Cụ thể như mình đang ăn ngon mà mình khoe: “Tôi ăn ngon quá” là sẽ ộc ra. Người thực sự ăn ngon thì cứ thế mà ăn, nếu có nói được là sau khi ăn, sau khi nuốt rồi mới nói. Hiểu vậy để thông cảm chỗ dạy này. Nên tại sao tu mà không được gì hết, tu để đạt trình độ không gì để được. Đó mới là chơn tu, còn tu mà thấy có được cái này cái kia thì chưa phải là chơn tu. Chúng ta tu không thấy có gì để được. Chỉ là những phiền não đau khổ xưa nay không còn nữa. Hết phiền não đó là chỗ cần yếu và như vậy là quá đủ phải không? Càng tu thì càng phải dứt đi tâm mong cầu, càng tu thì càng không thấy có gì để được đó mới thật sự là được. Người tu mà khởi lòng tham để được cái này cái kia là trật, dù Tâm Bồ Đề là cái thật tốt và mình muốn được cái Tâm Bồ Đề này cũng là điều không tốt.

    Chúng ta có thể đặt ra ý hướng ban đầu khi khởi hành trình là mình phải đến Tâm Bồ Đề nhưng đang đi mà có niệm vớ vẫn đến Tâm Bồ Đề, cứ lẩm bẩm về Tâm Bồ Đề là tốt thế này thế kia. Đó là sự cản trở là tai họa cho mình. Nó là một định hướng để chúng ta hướng đến. Nhưng khi thật sự khởi hành trình thì chúng ta phải dẹp nó qua một bên, phải nhìn từng bước chân của mình cho thật rõ ràng giữ sự trong sáng trước mắt như vậy chúng ta đi mới tốt. Đừng có ngong ngóng hoài về cái đích về điểm tới. Mình đã xác định là đi Sài Gòn thì cứ thế mà chạy, bằng sự trong sáng trước mắt mà lao tới, chạy đúng mức thì sẽ đến thôi chứ không có sự cầu mong nào hết, nhớ sự cầu mong là một sự cản trở lớn cho chúng ta, đang chạy xe mà mình cứ lẩm bẩm về Sài Gòn thì tay lái không tốt sẽ đụng vào người.

     

    '' Văn kinh:

     Vì sao? Vì Như  Lai  tức  là  nghĩa  các pháp tự Như.

    Chữ Như chúng ta đã bàn qua. Như là Như Lai là sừng sững bất động, nơi đó không có khởi tâm khởi ý, vừa khởi tâm khởi ý là mất đi cái Như Lai. Đó là chỗ hoàn toàn bất động, là nghĩa các pháp tự Như.

    Các pháp tức là mọi vật mọi thứ đều là tự Như, thứ nào cũng là bất động. Khi thấy tất cả các pháp đều bằng cái thấy bất động thì đó là các pháp tự Như. Đó tức là Như Lai. Khi đó các pháp không còn động nữa. Những cái đối với mắt vẫn là bất động, những cái đối với tai, với mũi, với lưỡi, với thân, với ý cũng là bất động hết thì như vậy gọi là Như Lai. Thật ra các trần Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp vốn là bất động. Trần không tự là Trần nhưng nó trở thành Trần là vì chúng ta có sự khởi niệm. Giống như bây giờ tôi nhìn lững vào hư không thì trước mắt tôi không có Trần, nhưng khi tôi khởi niệm khởi ý mới thấy có người có vật trước mặt gọi là có Trần. Như vậy Trần không tự là Trần mà do sanh tâm động niệm mới trở thành Trần, dù Trần có thật sự trước mắt mà chúng ta không có ý niệm trên cảnh thì cảnh trở thành bất động. Bằng cái nhìn bất động trên cảnh sắc nên cảnh sắc trở thành bất động. Như vậy dù có cảnh sắc thật sự không do tôi tạo ra thì nó cũng trở thành không. Nó không thành Trần để đối lại với Căn nên Căn Trần đều triệt tiêu.

     

    Từ một ánh nhìn của Tự Tánh xuyên Căn đến Trần, khi nó xuyên Căn thì Căn trở thành không. Căn không thì có cái gì để gọi là Trần đối với nó không? Ngay đó Căn Trần đều không hết. Vì vậy khi tôi nhìn qua mắt dù có con mắt thật sự đó, nhưng con mắt cũng trở thành không đối với ánh nhìn của tôi, cho nên cái bị thấy bởi con mắt cũng trở thành không luôn. Thường chúng ta chỉ biết ngăn Căn với Trần mà chưa biết tới chỗ “xuyên Căn” đến Trần.

    Nói một cách cụ thể như tôi ở trong nhà tôi nhìn ra bên ngoài là tôi nhìn ra cái cửa để thấy được cảnh sắc bên ngoài. Vậy cái thấy đó do cái cửa thấy hay cái gì thấy? Là do có tôi ở trong nhà nhìn xuyên qua cửa mà thấy chứ không phải cửa thấy. Như vậy cái thấy đó xuyên qua cửa mà đến cảnh đến Trần, cửa thành không thì Trần cũng là không. Cái cửa được hiểu là con mắt  là Căn, cảnh là Trần. Nên từ một cái thấy như vậy xuyên Căn xuyên Trần và như vậy Căn Trần đều không hết. Đó là điều chúng ta không hiểu và cứ tưởng cái thấy là cái cửa mà không biết rằng bên trong cái cửa còn có một Năng lực thấy.

    Cái thấy không phải là con mắt mà chúng ta cho cái thấy là con mắt nên khi nhắm mắt lại hay khi bị mù thì mình nói không còn thấy nữa. Nói vậy chẳng khác nào khi chúng ta đóng cửa lại thì mình cho là hết thấy. Chúng ta còn thấy được cánh cửa bị đóng lại phải không? Như vậy cái thấy không phải là cái cửa không phải là con mắt. Coi như đằng sau con mắt còn một năng lực khác nữa mà thông thường chúng ta không hiểu năng lực đó nên cứ tưởng mắt là cái thấy thôi. Đó là chỗ sai lầm. Nếu chúng ta phát hiện được còn một năng lực ngoài con mắt. Năng lực đó rất là vi diệu thấy xuyên qua mắt thấy đến Trần và cái thấy đó không sinh ra niệm tưởng, không sinh ra cái thương và cái ghét mà chỉ thuần là cái thấy thôi. Bây giờ chúng ta thấy trên thế giới có rất nhiều ngôi nhà, không ai biết là có bao nhiêu ngôi nhà và tất cả đều giống nhau một điều là nhà nào cũng có cửa gọi là nhà cửa. Cái nhà là cái bao che mình và cái cửa là cái nối ráp hư không bên trong nhà và ngoài nhà và đường hư không đó là đường không sinh diệt. Đường đó có trước khi nhà cất nhưng nhà cất rồi thì mình dễ xác định hơn giữa bên trong và bên ngoài. Sự thật là nó không có sinh ra, nó có sẵn trong hư không, nhà sập thì vẫn có. Đó là điều may mắn và nhờ vậy chúng ta mới đi ra đi vô và tạo sự sinh hoạt tốt đẹp được.

    Nói vậy để thấy thân này giống như cái nhà còn Tánh thấy giống như đường nối ráp giữa hư không trong nhà và ngoài nhà. Đó là một sự may mắn rất lớn cho chúng ta. Chúng ta bị nhốt trong nhà nhưng vẫn còn một đường lưu thông từ trong nhà ra ngoài nhà. Vậy thì chúng ta có cơ hội tìm ra hư không mênh mông bên ngoài là nhờ cái cửa đó, cửa sổ cũng được, cửa cái cũng được. Các cửa đều nối ráp với hư không bên ngoài nên chúng ta muốn đi vào hư không thì từ các cửa để đi vào.

    Con người là cái nhà và sáu cửa là cửa mắt, cửa tai, cửa mũi, cửa lưỡi, cửa thân, cửa ý và chúng ta phải thấy ra được nguồn năng lực tỏa sáng ra từ sáu cửa đó. Nguồn năng lực đó bất sinh bất diệt nên khi chưa có con người thì nguồn năng lực đó vẫn có, như khi chưa có nhà thì hư không vẫn có và khi có cái nhà và khi cái nhà sập thì hư không vẫn có. Thân này có chết thì nguồn năng lực đó vẫn là bất diệt không tan rã. Hiểu được điều này là cơ hội cho chúng ta nhận chân được sức sống kỳ diệu, sức sống đó là bất động là Như Lai nên thân này có chết kiểu nào thì vẫn là bất động.

    Từ năng lực bất động đó nối ráp với năng lực bất động ở giữa này là xuyên suốt bất động. Căn Trần đều bất động đều hiện tướng Như Lai. Cho nên chúng ta sống

     

    bằng năng lực Như Lai  thì mới rõ ràng thân này không còn có gì đáng nói. Như vậy nhìn Như Lai không phải nhìn trên cái thân này nên đừng cho thân nam này là mình, thân nữ này là mình, thân ông Tăng này là mình, tất cả những cái nhìn đó đều sai lầm hết.

    Vì các pháp là như như bất động, khi chúng ta nhận ra Thể Tánh Như Lai này rồi thì các pháp tự Như. Hiểu ra điều này thì những chuyện thị phi, hơn thua, phải quấy, thương ghét, những cái gọi là tập tục, tập quán, định lệ… những sự liên hệ giữa mình và người không còn gì để nói. Không là thầy cũng chẳng là trò, không là cha cũng không là con, tất cả đều bất động, không là gì nhau hết. Cái gì là nhau đều thuộc về năng lực nghiệp, thuộc về năng lực nghiệp đó là chuyện của nghiệp báo thì để cho nghiệp báo giải quyết. Như vậy mình mới giải thoát khỏi nghiệp báo.

    Nghiệp báo được xây dựng trên thân miệng ý mà trong nguồn năng lực này thân miệng ý đều  bất động nên được hóa giải hết và nếu nó xảy ra trên thân xác của mình thì đó là chuyện xe hơi đụng xe hơi, xe thì có bị tan vỡ nhưng tài xế lái bằng rờ mốt nên vẫn nhởn nhơ ngoài vòng tai nạn. Người hiểu ra điều này giống như tài xế lái xe bằng rờ mốt. Người ngồi đây điều khiển là người tạo ra xe, sáng chế ra các loại xe, xe hư thì tạo ra xe mới tốt hơn nên không có gì ảnh hưởng hết. Hiểu được vậy là chúng ta hiểu được Phật, hiểu được những con người giác ngộ về tính Như Lai, hiểu được vì sao họ vẫn bất động với bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống. Nếu chúng ta thông cảm được chỗ này thì mới thấy rằng những người tu rất là có lý chứ không mơ hồ và cái lý này mình có thể chứng được nếu chúng ta hiểu và sống được với chỗ này thì chúng ta cũng có thể thông cảm một cách trọn vẹn. Trong đời người chỉ cần một lần mình nhận ra điều này và sống được điều này là xứng đáng cho cuộc đời của mình.

    Năng lực Như Lai, khả năng Như Lai ở nam nữ gì cũng có hết chứ không riêng dành cho người nam thôi. Năng lực Như Lai này vốn không đàn ông, không đàn bà là Năng Lực Chủ, chỉ là Năng Lực Chủ thôi. Nếu chúng ta nói nhận ra ông chủ là còn kẹt, còn cách một khoảng mà phải xóa luôn chữ “ông”. Phật thì không có ông có bà, Phật là như như bất động. Đừng lầm chỗ này. Tướng để gọi là ông là bà đó là tướng của nghiệp lực. Chúng ta tu là vượt lên nghiệp  lực nên không có chấp trên tướng ông hay bà, phải vượt lên mới là giải thoát. Nên mình là nam thì cũng đừng khinh người nữ vì người nữ cũng có Năng Lực Chủ mà người nào nhận ra Năng Lực Chủ

     

    thì người đó có giá trị. Nếu mình chưa nhận ra Năng Lực Chủ thì sợ rằng kiếp sau mình sẽ thành người nữ vì mình thấy người nam có giá trị hơn. Người Việt Nam mình có câu “ghét của nào trời trao của ấy” là thế.

     

    '' Văn kinh:

     Nếu có người nói: Đức Như Lai được Bồ Đề, này Tu Bồ Đề, thật ra không có pháp nào để được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

     Nếu nói Như Lai được Bồ Đề, thật ra không có pháp nào để được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề đó là quả vị cao nhất mà chúng ta hướng tới nhưng đến quả cao nhất này rồi mình cũng dẹp luôn. Như vậy còn có quả báo nào của trần gian để mình vướng vào. Chính chỗ không nhận quả vị đó nên bao nhiêu quả nghiệp trong thế gian mình đều thông qua hết, vì cái đáng cho mình vướng mà mình không vướng thì còn gì để mình vướng. Giống như chúng ta bỏ hết chuyện thế gian để tới Phật mà tới Phật mình cũng không dính nữa thì còn gì để mình dính mắc nữa. Đó là chỗ giải thoát trọn vẹn tưởng chừng như không có gì để được hết nhưng là được tất cả. Đây là chỗ thật hay. Nên người thật sự đạt được quả vị đó thì bao nhiêu danh lợi tình theo thế gian này đều tan biến rã rụng hết. Còn người chưa sống được bằng Năng lực này, còn chưa đến được chỗ đó thì cái danh lợi mình dễ bị vướng lắm. Có điều vướng một cách lẫn khuất một cách tinh vi rồi mình cứ tưởng là không vướng nhưng thật sự lẩn quẩn rồi vẫn mắc vào vòng danh lợi vì còn tướng Ngã, tướng Nhân.

    Còn Tứ tướng thì còn kẹt trong danh lợi tình, kẹt ở một mặt nào đó tinh vi hơn mà bình thường chúng ta tưởng như không có kẹt. Chính chỗ đó cũng làm mất đi về cái đạo đức của mình.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, chỗ được pháp Bồ Đề của Như Lai trong Pháp đó không thật không hư, thế nên Như Lai nói tất cả pháp đều là Phật pháp.

     

     

    Chỗ gọi là được Bồ Đề của Như Lai thì trong cái Pháp đó không thật cũng không hư. Nói là thiệt có cũng không được và nói là không có cũng không xong. Vì sao? Vì khởi một niệm là “có” hay khởi niệm là “không” đều sai. Chỗ đó lìa tất cả niệm, vì lìa tất cả niệm nên gọi là hư, nhưng không phải là không có gì hết. Tuy lìa tất cả niệm nhưng là có, như hư không lìa tất cả vạn vật nhưng vẫn có hư không, hư không vẫn là hiện thực. Nên gọi hư không là không thật không hư. Nói thật cũng không được vì không rờ được, nói là hư cũng không được vì nó là thật, là cái bao trùm vạn vật.

    Chỗ được này của Như Lai cũng vậy nên đừng đòi hỏi phải có khởi niệm. Chính khi mình không xác định gì cả thì đó mới là cái mình chân thực. Đừng tưởng chuyện gì cũng phải xác định. Chúng ta có thật sự xác định được ranh giới giữa Sắc và Không ? Ranh giới giữa hư không và đồ vật ? Có nhiều chuyện trong cuộc đời chúng ta không xác định được thì chỗ gọi là cao tột là Tánh Thể này lại có thể xác định được sao? Chỗ này chúng ta phải khéo mà hiểu. Chúng ta chỉ có thể dứt khoát ở nơi tư tưởng của mình nhưng đến chỗ đó rồi cũng không hoàn toàn dứt khoát được, chúng ta chỉ thôi đi về những nghiệp lực của mình nhưng Tâm Thể thì vẫn bàng bạc trong máu thịt của mình nên muốn tách rời là không được, như muốn dứt khoát giữa thân và tâm là không thể được.

    Vì vậy tất cả pháp đều là Phật pháp, không cái gì không phải là Phật pháp. Những lời nói, những ánh nhìn những cái thấy, nghe… đều là Phật pháp. Khi tôi thấy các vị, các vị cũng là Phật pháp, thấy bông hoa thì bông hoa cũng là Phật pháp vì cái thấy của tôi và bông hoa này có thể tạo thành ranh giới được không? – Không. Từ nơi cái hư là cái thấy của tôi mà thấy được bông hoa là cái thật, trong cái hư mà rõ được đây là bông hoa là thật. Thấy thật mà tôi vẫn rỗng lặng nên là hư. Năng lực này là vậy tiếp xúc với người là thật  mà rõ ràng vẫn rỗng lặng là hư. Cái hư cái thật có trong tất cả các pháp nên tất cả pháp đều là Phật pháp. Khi tôi sống được bằng Năng lực hư và thực đó, thì tất cả pháp giữa này đều là Phật pháp. Cũng như các pháp giữa này đều mang tính hư không nên tất cả pháp giữa này đều là Phật pháp.

    Một người sống được như thế này là con người giải thoát thật sự, họ không còn thấy các pháp giữa này là cái riêng ngoài mình nữa. Tất cả pháp đều là Phật pháp nên tất cả đều là mình. Nên mình nhìn người đó chính là mình, tiếp xúc với cuộc sống thì chính mình là cuộc sống, cuộc sống là chính mình. Mình  là tất cả, tất cả là mình. Một là tất cả, tất cả là một. Không còn có hai thứ giữa nhau nên lúc bấy giờ mình mới có thể yêu thương được tất cả mọi người vì đâu cũng là mình nên mình yêu thương hết tất cả chúng sinh hữu tình và vô tình. Lúc bấy giờ hữu tình vô tình đều thành Phật đạo vì tất cả chỉ là sức sống chính mình mà thôi.

    Cho nên Từ bi trong Đạo Phật là lưu xuất từ đây. Thấy tất cả pháp đều là Phật pháp nên yêu thương tất cả chúng sinh, người và cỏ cây hoa lá cũng đều yêu thương hết vì chính đó là Phật pháp, là mình. Chúng ta tu mà không biết yêu thương, không biết thông cảm với người, còn tàn hại người là điều sai lầm rất lớn. Muốn biết mình tu có tiến bộ không thì hãy xem tình thương của mình có rộng mở và sự gây hại của mình đối với người khác có giảm thiểu không? Nếu sau thời gian tu nhìn lại những sự bực bội giận hờn người khác trước kia đều tan biến, đó là có tiến bộ vì lúc bây giờ tâm mình ở trên họ. Họ chính là Phật pháp ở nơi mình nên mình có thể thông cảm được hết. Đó là chỗ tất cả pháp đều là Phật pháp.

     

     

      '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nói tất cả pháp, tức chẳng phải tất cả pháp nên gọi là tất cả pháp.

    Này Tu Bồ Đề ví như thân người cao lớn. Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Như Lai nói: thân người cao lớn, tức chẳng phải thân lớn nên gọi là thân lớn.

    Nói ra tất cả pháp rồi thì liền xóa đi. Nêu lên một hình ảnh thân người to lớn để làm ví dụ. Đức Như Lai nói thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn nên gọi là thân lớn. Đó cũng là nêu lên một danh từ rồi xóa về danh từ đó.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng như thế ấy, nếu nói rằng: Ta nên diệt độ vô lượng chúng sanh thì đó chẳng gọi là Bồ Tát.

    Thế nên Như Lai nói tất cả pháp không

    Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

     

    Bồ Tát phải là người độ tất cả chúng sinh mà không thấy có chúng sinh nào được độ. Mình tự cho rằng có độ chúng sinh thế này thế nọ, lấy đó làm thành tích thì như vậy không còn là Bồ Tát.

    Nếu thấy mình có độ người, mình có được thành tích là vướng vào Tứ tướng. Nên Bồ Tát không có cầu thành tích, không kể thành tích. Chúng ta chú trọng đến thành tích là một sự sai lầm, làm xong rồi mà thấy đó là thành tích và là thành tích vĩ đại nữa, tưởng vậy là hay nhưng đó là điều làm phiền phức cho mình khiến mình ăn không ngon, ngủ không yên vì dính mắc vào thành tích. Bồ Tát làm rất hay rất tốt nhưng không mắc kẹt vào thành tích gì cả.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề nếu có vị Bồ Tát nói: Ta nên làm trang nghiêm cõi Phật, thì đó chẳng gọi là Bồ Tát.

     Vì sao? Đức Như Lai nói làm trang nghiêm cõi Phật đó tức chẳng phải làm trang nghiêm nên gọi là làm trang nghiêm.

    Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát thông đạt pháp “Vô Ngã”

    đó thì Đức Như Lai nói: đây mới chính thật Bồ Tát.

    Làm trang nghiêm là làm đẹp cho cõi Phật như sửa chữa chùa chiền là cái cụ thể hay tạo cảnh vật bên ngoài như trồng hoa kiểng…

    Bồ Tát là những người chuyên làm đẹp cho cõi Phật mà Bồ Tát lấy Tâm Bồ Đề làm cõi Phật, Bồ Tát làm tốt đẹp Tâm Bồ Đề của mình gọi là trang nghiêm, tức là tu cho ông Phật của mình mỗi ngày mỗi tốt hơn, rõ ràng hơn. Nhưng ở đây nói nếu Bồ Tát làm trang nghiêm cõi Phật như vậy là không phải Bồ Tát. Còn có tu có trang nghiêm có tô phết cho ông Phật của mình thì chưa phải là Bồ Tát. Nếu chúng ta bám vào chỗ làm trang nghiêm, thấy mình có ra công để làm đẹp, có ra công để tu là chưa được. Các Thiền Sư đã hiểu ra điều này nên nói rằng: “Bảo ta tu là tai họa”. Mình tưởng là Thiền Sư nói một cách tùy tiện sai kinh điển nhưng không, lời nói đó rất hợp với chỗ này của kinh Kim Cang. Chúng ta còn ý niệm tu, còn cái pháp để tu, còn chuyện để tu thì chỗ tu của mình chưa tốt vì còn Tứ tướng. Mà còn Tứ tướng thì đúng là tai họa phải không? Nên các vị chối từ không chịu mình có tu gì hết. Đó là chỗ trong kinh Tứ Thập

    Nhị Chương nói: “Tu vô tu, tu ; Chứng vô chứng, chứng”. Tức là: Tu mà không tu mới thật là tu; Chứng mà không chứng mới thật là chứng. Tu mà không thấy mình tu mới là tu tốt. Chứng mà không thấy mình chứng mới là chứng thật sự. Còn thấy mình có tu có chứng là chưa tu tốt, chưa chứng tốt. Giống như mình ngủ vậy. Còn thấy mình ngủ, khoe với người về cái ngủ của mình thì đó chưa thật sự là ngủ ngon. Đây là tinh thần vô chấp, tu thì tu, làm thì làm mà không có chấp, nghĩa là ngay khi tu vẫn là không niệm tức là không có cái tôi để mà tu. Không tu vì “tôi” và không “tôi” mà tu. Vì không tôi mà tu nên gọi là không có tu. Không tu mà không có phiền não không có chấp vào Tứ tướng nên gọi là tu là chơn tu.

    Chúng ta tu mà chứng tỏ cho người thấy là mình có tu, tụng kinh gõ mõ để báo  cho người biết là mình tu hay tu giỏi. Đó không phải chơn tu vì còn mắc kẹt trong Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Với người chơn tu thì cứ âm thầm lặng lẽ mà tu, tu mà trời không hay thần thánh không biết, ma quỷ không tường đó mới là tu giỏi. Mình tu mà thiên hạ biết hết, tu mà cầu nguyện cho chư thiên chư thần biết để họ ủng hộ cho mình cái này cái nọ rồi tưởng như vậy là hay. Tu như vậy là một hình thức lộ liễu, một hình thức phô trương và rồi mình bám vào những vật chất cho đó là có phước là tiêu đời tu của mình chứ không phải là điều tốt. Biết mình ham vật chất thì quỷ thần dùng vật chất, đưa vật chất thêm nữa rồi hớp hồn mình luôn như vậy là tai họa cho mình không? Nên người tu tốt khi tu không còn có phóng tâm phóng ý. Một Bồ tát thật sự phải không thấy mình là người tu, là người trang nghiêm cõi Phật. Vì vô niệm mà tu, vô niệm mà công phu. Từ Vô Ngã mà hành đạo, từ chỗ không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả mà thực hành công phu.

    Bồ Tát tu không có dấy niệm nên không xác định Ngã, chính chỗ đó là Vô Ngã. Từ Vô Ngã mà dụng công. Không có khởi ý, khởi niệm mà vẫn tu, đó là chỗ tu cao cấp. Các Thiền Sư đều tu đúng như đây, từ vô niệm mà tu nên lấy Vô Niệm làm Tông - Vô Niệm là gốc là cơ sở để tu. Vô Ngã mới vô Nhân, vô Chúng sanh, vô Thọ giả. Chính chỗ đó là Vô Sở Trụ. Từ Vô Sở Trụ mà tu, từ chỗ thể nhận Tánh Không, thể nhận Tự Tánh mà tu, tu như vậy mới thật là Vô Ngã. Thiền sư không nói mình là Bồ tát nhưng cái hạnh của các Ngài như vậy nên gọi là Bồ Tát.

    Phải từ Vô Ngã mà xác lập đời tu. Chỗ tu gốc gác là như vậy. Đó là tu theo Thiền Đốn Ngộ. Từ Vô Ngã mà tu thì tướng Nhân, tướng Chúng sinh, tướng Thọ giả tự

     

    mất. Như vậy mới phá Tứ tướng một cách thần tình kỳ diệu. Còn chúng ta tu từ chỗ phá Thọ giả rồi phá Chúng sanh tướng rồi mới đến Nhân tướng thì rất là chậm. Ở đây là Nhân Quả đồng thời, nhân là Vô Ngã nên quả là Vô Ngã mà Vô Ngã là quả vị của Phật. Đó là cõi không có cái ta phàm phu, không có cái ta nghiệp chướng, tất cả đều biến mất. Đây là chỗ tu hết sức độc đáo và tu như vậy mới thực sự là chơn tu, vì trong Vô Ngã này không có Tham Sân Si…, không có 10 tập nhân. Còn chúng ta tu mà hở ra là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi… thì dù không phạm trai, không phá giới nhưng không phải là chơn tu. Tu không ăn cắp ăn trộm gì của ai nhưng thấy người cúng dường nhiều tiền nhiều bạc mà còn động tâm, còn khởi niệm, khởi Tham Sân Si… thì người đó chưa phải là chơn tu vì còn chấp vào Ngã.

    Người tu thông đạt pháp Vô Ngã như thế này mới thật sự là chơn tu, đó mới chính thật là Bồ Tát. Một Bồ Tát phải thực hành đời sống Vô Ngã trong mọi tình huống, nhìn cũng bằng cái nhìn Vô Ngã, nghe cũng nghe bằng cái nghe Vô Ngã, ngửi nếm, xúc chạm cũng bằng cái Vô Ngã, và khi sử dụng đến tư tưởng thì cũng là từ Vô Ngã. Phải Vô Ngã cùng mình, Vô Ngã toàn thân thì đó mới thật sự là Bồ tát. Một người có đời sống Vô Ngã như vậy thì rớ tới tiền bạc có nhiễm tiền bạc không? Rớ đến người có nhiễm người không? Dính tới cảnh có bị nhiễm cảnh không? - Không.

    Một Bồ Tát thật sự làm tất cả việc cho chúng sinh, đụng chạm hết tất cả các pháp thế gian mà không dính một chỗ nào đó mới gọi là “cư trần bất nhiễm”. Ở trong đời mà không nhiễm bụi trần đó là hình ảnh Bồ Tát ngự trên hoa sen, ở trong bùn mà không nhiễm mùi bùn đó mới thật sự là Bồ Tát. Đây là chỗ hết sức cơ bản, dù mình chưa hiểu ra, chưa sống được về chỗ này nhưng chính mình phải biết con đường Bồ Tát là như vậy. Đừng ở trong bản ngã vĩ đại làm những chuyện gọi là từ thiện xã hội rồi cho mình là Bồ Tát thì coi chừng đó là “tác tệ”, “tác oai tác quái” chứ không phải thật sự là Bồ tát. Khi mình thấy có thành tích vĩ đại thì coi chừng nó hại mình. Chúng ta phải hiểu cho đúng về chỗ này để định giá những ai thật sự là Bồ tát giữa cõi đời này. Cái chuẩn của Bồ Tát phải từ Vô Ngã, mình muốn hành đạo Bồ Tát thì cũng phải từ Vô Ngã chứ không phải bằng ý niệm tốt lành mà gọi là Bồ Tát. Một người Chơn tu phải là một người như vậy và người thật sự thâm đạt như vậy mới đáng quí. Nên đây không phải chuyện dễ, muốn giải trừ cái Ngã phải cực khổ lắm vì vậy chúng ta lạy một vị Bồ Tát mình không thấy gì hối tiếc vì chúng ta thua các vị nhiều quá và cái Vô Ngã không chỉ dành riêng cho các vị Bồ Tát mà ai thực hiện được cái Vô Ngã này thì gọi là Bồ Tát. Phải Vô Ngã để thành Bồ Tát chứ đừng nói đợi làm Bồ Tát mới Vô Ngã được.

       '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức

    Như Lai có Nhục nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức

    Như Lai có Nhục nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Thiên nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức

    Như Lai có Thiên nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Huệ nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức

    Như Lai có Huệ nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Pháp nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức

    Như Lai có Pháp nhãn.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Đức Như Lai có Phật nhãn chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế. Đức

    Như Lai có Phật nhãn.

    Nhục nhãn, Thiên nhãn, Huệ nhãn, Pháp nhãn, Phật nhãn.

    - Nhục nhãn: là con mắt thịt. Như Lai vẫn có con mắt thịt.

    - Thiên nhãn: Mắt của Trời nhìn khắp thế gian và nhìn khắp trong lòng con người, thấy một cách chân xác hơn.

    - Huệ nhãn: Là mắt của hàng A la Hán

    - Pháp nhãn: Mắt của Bồ Tát

    - Phật nhãn: Mắt Phật thấy rõ tất cả các pháp tánh. Đức Phật có đủ năm mắt. Như vậy cái mà người

    đời nhìn ra thì Đức Phật có nhìn ra không? - Có. Người

    đời có thấy đẹp thấy xấu thì Đức Phật cũng thấy đẹp thấy xấu. Người đời có cái nhìn như thế nào thì Đức Phật cũng thông cảm được hết. Nhiều người ngỡ rằng Phật không có cái nhìn giống thế gian, không biết chuyện gì ở thế gian. Nói như vậy là lầm. Phật có con mắt thế gian có cái nhìn như thế gian chỉ có điều Phật không chấp như người thế gian thôi, vì trước khi thành Phật, Ngài vẫn là một người bình thường vẫn có gia đình có vợ con, có hưởng ngũ dục thế gian vui chơi như người thế gian. Đức Phật thấy xa thấy rộng hơn người thế gian đó là có

     

    Huệ nhãn Đức Phật cũng có. Nhìn theo con mắt của Bồ Tát là Pháp nhãn Đức Phật cũng có vì tiến trình tu của Đức Phật đã trải qua những bước này. Nên cái thấy theo kiểu thấp và kiểu cao của thế gian và xuất thế gian Đức Phật đều thấy hết, đặc biệt là Đức Phật có Phật nhãn là cái thấy bao trùm hết. Như vậy để thấy năng lực của Phật rất là cao siêu và cái thấy của Phật được coi là cái thấy trọn vẹn, cái thấy tuyệt đối.

    Chúng ta không có đủ 5 mắt, chỉ có con mắt của người thôi, nhìn cái gì cũng nhìn theo cái nhìn của người đời do vậy cái thấy của mình rất hạn chế. Nên người xưa nói cái thấy của con người không quá gang tấc nhưng thật sự mình không thấy tới một tấc vì không thấy được lông mi. Kể cả Khổng Tử cũng chưa thấy nên Khổng Tử thua Hạng Thác khi Hạng Thác hỏi:

    - Trước mắt Ngài có bao nhiêu sợi lông mi? Trước đó thì Hạng Thác hỏi:

    - “Trên trời có bao nhiêu vì sao?”

    - “Dưới thế gian này có bao nhiêu nóc nhà?”. Khổng Tử không trả lời được. Như vậy mắt Khổng

    Tử không khác mắt mình nên nói Khổng Tử là bậc Thánh thì chưa đúng. Chuyện xưa kể vậy để thấy cái nhìn  của mình rất hạn chế thấy không qua rèm mi, chưa có con mắt của Trời nên không thấy được hết trăng sao, chưa có con mắt của Huệ nhãn của hàng A La Hán nên chưa thấy được tâm ý để xa lìa để diệt đi, chưa có Pháp nhãn nên không thấy được các pháp giữa này đúng như thật. Bồ Tát thấy được như thật, còn Đức Phật thấy trùm hết nên Phật là con người có một năng lực đặc biệt.

    Từ chỗ này chúng ta thấy Năng lực Phật và Năng lực phàm phu khác nhau rất nhiều, từ địa vị phàm phu muốn tiến lên địa vị Phật phải trải qua nhiều bước, phải có cái thấy sâu sắc và trùm khắp thì mới là con mắt của Phật. Nên quá trình để đạt đến con mắt của Phật là khó lắm, dù khó chúng ta cũng phải biết như vậy. Đức Phật phải có năm con mắt, vì thế để có con mắt Phật thì với các hạng này chúng ta cũng phải hiểu ra hết chứ đừng nói mình tu thành Phật rồi thì không cần biết tới chuyện thế gian, chuyện của người đời nữa. Coi như bị tê liệt về cái thấy thì đó là điều sai lầm. Mắt Phật sáng suốt  thấy hiểu  hết mọi chuyện từ thề gian đến xuất thế gian, thấy mà không vướng không mắc ở một cái thấy nào hết đó là cái thấy của Như Lai.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? như

    trong sông Hằng có cát, Đức Phật nói là cát chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế, Đức

    Như Lai nói là cát.

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? như số cát trong một sông Hằng, có số sông Hằng bằng số cát đó, có cõi Phật bằng số cát của các sông Hằng đó, như thế có nhiều chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất nhiều.

    Đây là thấy bằng con mắt Nhục nhãn. Người đời thấy là cát, Đức Phật vẫn thấy là cát chứ không phải Phật rồi thấy khác.

    Đức Phật ví dụ như mỗi hạt cát là một con sông Hằng, có một triệu hạt cát thì trở thành một triệu sông Hằng, một triệu sông Hằng sẽ có bao nhiêu hạt cát nữa. Rất nhiều thì cõi Phật cũng nhiều như vậy đó, tức là cõi Phật là hằng hà sa số nói không cùng tận.

    Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề:

    - Chúng sanh trong tất cả cõi nước như thế có bao nhiêu giống loại, tâm niệm, Đức Phật đều biết hết, vì sao? Như Lai nói các tâm đều chẳng phải tâm, nên gọi là tâm, bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề, tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được.

     

     

    Chúng sinh có bao nhiêu loại tâm niệm Đức Phật đều biết hết, rõ hết. Vì sao? Như Lai nói các tâm đều chẳng phải tâm nên gọi là tâm. Ngài thấy tâm chúng sanh là thấy trên tính chất của tâm mà tính chất của tâm là hư vọng, bất cứ tâm gì của con người cũng đều là hư vọng. Thấy như vậy gọi là thấy hết, chứ không phải Phật đi thấy từng người, người này đang nghĩ cái gì, người nọ đang tính cái gì, mà biết chung hết tâm chúng sanh là vọng là giả. Nắm được chỗ này thì mình cũng có thể biết hết tâm niệm của người. Chúng sanh nói gì, lo lắng gì, suy nghĩ kiểu gì chung quy cũng là vọng. Biết vậy là không sai.

    ba thời chẳng thể được. Đây là tâm ý là cái tâm suy nghĩ, nó thuộc về tâm giả tâm vọng. Đức Phật nói tâm chúng sanh là nói trên tâm giả tâm vọng. Tâm đó ở thời quá khứ chẳng thể được nên là giả, tâm hiện tại chẳng thể được nên là giả, tâm vị lai chẳng thể được nên là giả. Tâm ba thời đều là giả hết mà chúng ta sống là sống bằng ba tâm này.

    Như người già thường sống bằng tâm quá khứ, hay nhớ lại thời quá khứ vàng son hay đau khổ để rồi vui buồn giận hờn, sinh ra phiền não mà thực chất quá khứ qua rồi không thể nắm bắt. Tuổi trung niên, thanh niên thì hay sống bằng hiện tại là những người đang hoạt động tốt trong đời sống gọi là sống thực tế, thực tại. Không có mơ mộng gì hết chỉ biết hiện tại, nhưng những suy nghĩ tính toán của họ ở ngay bây giờ có thiết thực không? - Không. Vì vừa nghĩ qua thì nó đã trở thành quá khứ, vừa tính tôi phải làm cái này cái nọ thì nó đã trở thành quá khứ. Cái nghĩ của mình không dừng lại một chỗ như giọt nước trôi trên dòng sông, dòng sông đang diễn biến thì có giọt nước nào đứng lại được không? Những ý niệm của mình dù ở trước mắt, ở hiện tại nhưng nó không dừng trụ. Vì vậy cái gọi là hiện tại thật sự không

    bị hụt hẫng đau khổ. Nhớ những chuyện quá khứ khổ là phải rồi mà tính toán nhiều đến chuyện hiện tại thì vẫn đau khổ vì nó là giả không thật. Lo tính toán nhiều quá về chuyện làm ăn cũng có thể sinh tai biến, nhồi máu cơ tim đó là sự đau khổ thật sự. Nên về cái tâm hiện tại này là chẳng thể được cũng là giả thôi. Còn tâm vị lai là tâm của tuổi trẻ, tuổi học trò thường sống bằng tương lai mơ màng về ngày mai phải như thế này như thế nọ. Mà tương lai thì chưa đến nên đó cũng là những cái nghĩ mộng mị mà thôi, mình nghĩ một đường mà nó đến một nẽo. Vì vậy người đời mới nói rằng:

     Nhân nguyện như thử như thử

    Thiên lý dị nhiên dị nhiên.

     

    Nghĩa là:

     Mình muốn như vậy như vậy

    Mà trời thì như thế như thế.

     Lòng người và cuộc đời không đi đôi. Người ta than thở như vậy mà không biết rằng tại vì những cái tâm hướng về vị lai này vốn là giả không thật thì làm sao đi đôi với thực tế. Đó là chuyện mộng mị, do không hiểu rồi trách trời oán người là một sự đáng tiếc. Tâm ý vốn là giả là vọng nên tính toán cỡ nào cũng là giả, không có gì để nắm bắt được. Vì vậy lý do để chúng ta đau khổ là do sống có ba tâm. Điều này Ngài Tuyên Giám đã thua bà già bán bánh. Bà hỏi rằng: “Kinh Kim Cang nói quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Vậy Thầy điểm tâm nào?” - Ngài trả lời không xong nên thua bà già. Đây là chỗ rất hay. Chúng ta muốn giải thoát là giải thoát khỏi ba tâm này. Còn ai sống bằng ba tâm này thì nhất định có đau khổ, suốt đời khổ vì sống bằng ba tâm.

    Nên mình đừng có hiểu ai hết, với Đức Phật thì có thể hiểu được tâm chúng sinh thế này thế nọ. Nhưng với mình thì chỉ nên hiểu chính mình, dòm lại coi bây giờ mình có tâm quá khứ không? Bây giờ mình có tâm hiện tại không? Bây giờ mình có tâm vị lai không?- Nếu có thì nhất định có khổ. Giống như vào chùa mà vướng tâm quá khứ, vì thất tình mà đi tu thì ở chùa cứ ngó mông lung rầu rĩ buồn bực. Còn người vướng tâm hiện tại lại lăng xăng tính toán lo đám sám gọi là thực tế thì trở thành người lu bu, đó cũng chưa phải là người tu. Rồi tính Tết này mình xin thầy về nhà thế này thế nọ là vướng tâm vị lai, ngồi thiền không yên vì những tính

    toán thúc thôi bức bách mình, xin thầy không cho thì khổ vì tâm vị lai không thực hiện được.

    Người tu là người giải quyết ba tâm, phải không tâm quá khứ, không tâm hiện tại, không tâm vị lai. Người tu kỹ, người tu chân chính phải không ba tâm. Đơn giản nhưng thật là khó. Vì thế với những người trung niên xuất gia thì rất sợ tu Thiền vì ngồi Thiền tâm quá khứ trào ra như cuồn phim được chiếu lại cho mình xem. Nhưng đã tu rồi phải can đảm coi nó diễn lại, mình có bình thường dững dưng được với nó thì đó là cơ hội để cho mình tiến bộ. Nên quá khứ cũng không phải là xấu mà là cái để mình kinh nghiệm. Đó là những cái dốc trên đường tâm linh nếu chúng ta vượt lên được thì đó là mình có tiến bộ. Vì vậy tu lâu lâu mình thử cho quay lại những hình ảnh quá khứ nếu mình bình thường được là có tiến bộ, còn chiếu lại mà chuyện vui thì cười, chuyện buồn thì rưng rưng nước mắt đó là tu yếu.

    Khi chúng ta sống bằng ba tâm là sống bằng Nghiệp, Nghiệp lực của mình xây dựng trên ba tâm. Như vậy phải không ba tâm mới giải trừ được Nghiệp lực. Nên tu là phải lo giải quyết những điều này. Không chấp vào tâm quá  khứ, quá khứ đã qua rồi đừng lôi kéo trở lại làm gì, hiện tại thì không dừng trụ nên đừng nắm bám làm chi,

    tương lai thì chưa đến nên cũng đừng mơ màng, có vậy chúng ta tu mới được và như vậy tâm của mình mới thật sự an tịnh. Nhiều khi chúng ta đi tu rồi mà quá khứ buồn quá, muốn chạy trốn quá khứ phải mơ màng về một cõi Phật nào đó để quên quá khứ, đó là vướng vào tâm vị lai. Như vậy vị lai này là cái phủ lấp quá khứ và quá khứ vẫn chưa tiêu trừ, vẫn còn nằm ở đó nên một lúc nào đó nó lại trào ra do vì mình không dám chấp nhận sự thật. Đó là một sự đánh lừa mình mà thôi. Chúng ta phải dám đối mặt với quá khứ để tiêu dung, nếu có chạy trốn tránh né thì chỉ là sự tạm thời mà thôi, mình phải đối mặt và làm trắng sạch trở lại giống như mình phải đối mặt với những chữ đã viết trên bảng, lau từ từ để trả lại nền bảng trắng sạch. Những người tu lớn tuổi thì rất cực khổ về chuyện này, nhưng không như vậy thì không giải quyết được Nghiệp, không tiêu được tội lỗi và việc làm để trắng sạch như thế này gọi là sám hối. Như vậy suốt đời tu là suốt đời xin sám hối, làm cho nó trắng sạch hết.

    Tánh tội vốn không do tâm tạo Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong Tội tiêu tâm diệt cả hai không Thế ấy mới là chơn sám hối.

    Để tiêu trừ về quá khứ thì không nên mơ màng về vị lai, cũng không bận lòng về hiện tại. Người xưa nói người tu là người ngăn đi về tâm hiện tại và tâm vị lai để tiêu trừ về tâm quá khứ.

    Chúng ta vào chùa ăn cơm mặc áo là để tiêu trừ nghiệp cũ, ngăn chặn nghiệp mới. Tu là làm chuyện đó, nếu mình không chịu ngăn nghiệp hiện tại và vị lai thì giải quyết nghiệp quá khứ rất là khó vì nghiệp quá khứ làm nhân để nảy sinh nghiệp hiện tại và nghiệp vị lai. Có nghiệp hiện tại và vị lai thì sẽ làm đậm nét thêm nghiệp quá khứ, như vậy thì chúng ta không làm sao giải quyết được. Như người ghiền á phiện muốn cắt cơn á phiện là phải có môi trường cho thích hợp để ngăn đi duyên á phiện, không cho á phiện lọt vào sinh hoạt của mình. Đó là dứt duyên hiện tại và vị lai để rồi chỉ còn lo tiêu giải nọc á phiện, chứ mình vừa muốn cai á phiện mà lại vừa nuốt vừa thầu á phiện thì không làm sao cai được. Tu cũng vậy, cho nên người ta chộ những người tu mà không biết tu là: “Đi tu còn nhớ lu mắm sặc” thì làm sao tu được rồi còn đi tìm mắm sặc để ăn nữa.

    Nên tu nhất định phải giải trừ ba nghiệp này. Tuổi nhỏ ở chùa là phải lo diệt cái tâm mộng mị, tâm vị lai khi nó nẩy sinh. Tuổi trung niên là phải diệt đi tâm tính

    toán để tạo nên Danh lợi ở ngay đời sống hiện tại của mình, người già thì lo diệt đi tâm quá khứ. Nếu chúng ta không lo diệt ba tâm này thì chỉ có tiếng là ở chùa chứ chưa phải là tu, còn người cư sĩ tại gia mà biết giải trừ ba tâm, không sống bằng tâm này thì vẫn được gọi là người tu. Cái tu trong nhà Phật mang tính cách rộng rãi như vậy. Vì vậy chúng ta muốn đi tu thì cũng phải đi tìm một ngôi chùa tương đối trang nghiêm thanh tịnh còn không thì mình ở nhà tạo một chỗ riêng để tu thì tốt hơn chứ vào chùa mà tạo thêm lu bu nữa thì không đáng. Tu là phải cắt duyên để tiêu diệt nghiệp cũ, đừng gây thêm duyên nữa. Phải là “Vạn duyên buông hết một Niệm không sanh”. Những  duyên nào làm cho mình dính líu đến quá khứ, hiện tại, vị lai thì cắt hết duyên đó đi để rồi trong lòng không sinh một niệm. Đó là phương pháp hành trì rất là hiệu nghiệm. Chúng ta không làm như vậy thì không phải là người hành Đạo tốt.

    “Vạn duyên buông hết một Niệm không sanh”. Một câu nói đơn giản như vậy nhưng rất ý nghĩa, dựa vào đây mà chúng ta thiết lập đời sống tu hành của mình. Đi tu phải xuất gia là vậy, xuất gia để mình không còn dính líu đến gia đình, không dính líu đến quá khứ, không bận rộn hiện tại. Được ở một ngôi chùa tương đối thanh tịnh thì đó là cơ hội tốt để chúng ta dứt duyên. Phải hiểu về nguyên tắc tu hành của mình là như thế. Muốn biết trình độ tu của chúng ta có tiến bộ hay không là dựa vào ba tâm này để quyết định chứ không phải dựa vào cái chỗ có phước ở trên Danh Lợi mà quyết định. Chưa tu thì nghèo xác nghèo xơ, tu rồi thì có phước được nhiều tiền nhiều của cho đó là tiến bộ trên đường tu là đổ nợ. Chúng ta phải lấy ba tâm này kiểm xét lại chính mình và coi đây là yếu chỉ trên đường tu.

    Để trở về Tâm chân thật thì phải bôi xóa hết ba tâm này. Và khi ngộ ra được Tâm chân thật thì mới thấy rõ ràng ở trong Tâm chân thật vốn không có ba tâm này (ba tâm này thuộc về tâm ý là tâm giả tâm vọng). Giống như chúng ta biết trong Tánh bảng vốn không có chữ, từ đây mình nương vào Tánh bảng để xóa chữ. Từ nơi Tánh bảng ra công xóa chữ để tấm bảng trở thành trắng sạch thì đó như là Tâm chân thật của mình. Cụ thể như vậy, phải lấy đây làm chỗ dụng công của mình, đừng nghĩ gì những chuyện xa xôi. Đừng thấy mình tu được nhiều người lễ bái là cho mình tu hay tu thành công. Nếu mình còn ba tâm mà người ta lạy thì mình nên né đi giống như người ta xách dao mài cục đá của mình hoài thì sẽ mòn hết không tốt. Nên phải lấy chỗ không ba tâm làm yếu chỉ công phu. Tu phải không để cho quỉ thần thấy tâm kể cả Phật cũng không thấy thì mới hay. Khi mình tu đến trình độ không ba tâm rồi sẽ thì tạo một sự giao cảm đối với Tâm Phật, lúc đó có một sự cảm thông trọn vẹn giữa mình và Phật. Như vậy đến Phật thay vì lâm râm khấn nguyện thì chúng ta hãy lặng hết đi, không nói gì nhưng lòng mình trọn vẹn nhất thì đó mới là lời nói chân thật.

    Từ đây chúng ta hiểu lại chuyện của Huệ Khả trình kiến giải với Tổ Đạt Ma. Huệ Khả gặp được Tổ rõ ra Tâm chân thật vốn không ba tâm nên trình pháp chỉ là im lặng, không nói một lời, lặng lẽ như vậy là cảm thông được về cái Đạo chân thật về cái Tâm chân thật. Chỗ tu đắc lực là chỗ không nên lời đó là chỗ chơn thật, chỗ sạch ba tâm. Nên chúng ta không tu gì nhiều chỉ cần sạch ba tâm là được, chỉ lo giải trừ ba tâm. Tu có bằng tiến sĩ mà còn đầy ba tâm thì vẫn không có giá trị. Người tu hơn nhau là ở chỗ đó, chứ không phải hơn nhau ở bằng cấp, ở kiến thức. Có ba tâm là có khổ, còn mình không ba tâm thì nhất định hết khổ. Đây là chỗ kỳ diệu. Chúng ta hiểu lý này và trực nhận được Tâm chân thật thì sẽ giải quyết ba tâm nhanh lẹ. Đừng để mình vướng vào ba tâm, vướng vào chỉ là khổ sở bất an, khổ quanh quẩn mà thôi. Khi còn nhỏ bị người ăn hiếp tu khá lên có địa vị rồi thì trả ân trả oán, tu để lên mặt với người. Tu như vậy là trật rồi, đó là bị quá khứ lôi kéo. Cứ lăng xăng hoài với ba tâm, không giải quyết ba tâm mà làm dấy động ba tâm, tu như vậy uổng phí vô cùng. Còn mình hiểu ra để thời gian đó giải quyết ba tâm thì thật là tốt.

    Nên đừng đau buồn với quá khứ và khi nó diễn ra cũng đừng sợ hãi. Hãy nhìn thẳng bằng đôi mắt của Tổ Đạt Ma, như vậy nó sẽ dễ dàng lui thôi và lúc nào đó chúng ta ngộ ra Tâm chân thật, sống bằng Tâm chân thật thì coi như quá khứ được tẩy xóa tận gốc. Khi đó quá khứ trở nên nhẹ nhàng với mình, lý lịch trở thành trắng sạch thì đó là con người hạnh phúc. Tu như vậy mới trẻ hóa con người của mình và nếu chúng ta phải bệnh, phải chết mà với một bộ hồ sơ trắng thì Phật dễ dàng chấp nhận mình. Đó là chỗ mình thoát được địa ngục và nhập cảnh giới Phật một cách an toàn.

    Hiểu được lý này nên có người đã phát biểu: “Sau khi học Thiền, hành Thiền tôi không được gì khác hơn là không còn biết sợ chết”. Đó là người hiểu được Đạo lý, hành được Đạo lý. Còn chúng ta không hiểu Đạo lý này thì chuyện gì mình cũng sợ. Người hiểu thì “Sống chết nhàn thôi vậy”. Người sống không có ba tâm sẽ được như vậy.

  • 18. TỨ TƯỚNG ( Phần 4)

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên để bố thí, người này do nhân duyên như vậy lại được phước đức nhiều chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, đúng thế! Người này do nhân duyên như vậy mà được phước rất nhiều.

    Này Tu Bồ Đề, nếu phước đức thật có thì Như Lai chẳng nói được phước đức nhiều, mà do phước đức không thật, nên Như Lai nói được phước đức nhiều.

     Nếu có người đem bảy báu đầy cả cõi tam thiên đại thiên để bố thí thì dĩ nhiên là được phước rất nhiều. Sở dĩ nói phước đức nhiều vì nó không thật có nên nói bao nhiêu thì nói, nói rất nhiều cũng được.

     

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Có thể do nơi sắc thân cụ túc để thấy Đức Phật chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! không nên do thân cụ túc để thấy Đấng Như Lai.

    Này Ông Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao? có thể do các tướng cụ túc để thấy Đức Như Lai chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, không vậy! không nên do nơi các tướng cụ túc để thấy Như Lai. Vì sao? Đức Như Lai nói các tướng cụ túc tức chẳng phải cụ túc nên gọi là cụ túc.

     

    Sắc thân cụ túc là sắc thân có 32 tướng tốt. Có thể do nơi sắc thân cụ túc để thấy Đức Phật chăng? Không thể từ nơi hình tướng để thấy Đức Như Lai. Dù sắc thân đó rất đẹp cũng không phải là Như Lai. Phải thấy Như Lai ở trên Thể Tánh mà Thể Tánh không phải là thân xác. Như Lai là một thân không già, không bệnh, không chết, còn thân xác thì có già bệnh chết. Đức Phật khi thành Đạo, Ngài tự xưng là Như Lai. Đó là danh xưng rất rõ ràng để xác định là mình. Chính Thể Tánh chân thật đó mới là con người thật của mình. Các tướng cụ túc tức chẳng phải cụ túc nên tạm gọi là cụ túc tức không phải là cái thật nên đừng nhìn Như Lai qua tướng cụ túc.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, ông chớ nói Như Lai nghĩ như thế này “Ta nên có chỗ nói Pháp” ông chớ nghĩ như vậy.

    Vì sao? Nếu có người nói: “Đức Như Lai có chỗ nói Pháp” tức người đó chê bai Đức Phật mà chẳng thể hiểu được chỗ nói của Ta. Này Tu Bồ Đề, nói Pháp mà không Pháp có thể nói, nên gọi là nói Pháp.

     Đức Phật có nói Pháp hay không nói Pháp, với bài kinh Kim Cang này rõ ràng Đức Phật nói tại vườn ông Cấp Cô Độc. Đức Phật nói mà không có gì để nói nên gọi đó là nói Pháp, tức là nói mà không có khởi ý niệm. Từ chỗ rỗng rang không trống mà có ra lời Pháp nên nói rằng không có Pháp để nói. Tức là trước khi nói sau khi nói và đang khi nói tâm của Phật đều vắng lặng hết, cả ba thời đều không có khởi niệm. Thông thường chúng ta nghĩ có khởi niệm mới nói được nhưng không hay mình cũng có nhiều lần không khởi niệm mà vẫn nói. Rõ ràng nhất là tuổi con nít, ứng thinh nói đại không suy nghĩ mà vẫn ư, e, ba ba, ma ma… lớn lên mình lại hay suy nghĩ, trước khi nói phải suy nghĩ 7 lần và cho đó là lời nói cẩn thận đường hoàng nhưng như vậy là trái với Tánh Thể. Do chấp vào tự ngã, chấp vào cái ta đây của mình nhiều quá nên khi nói phải suy nghĩ để bảo vệ cho nó đừng bị tổn thương, đừng để ai nói tới mình, nói để không bị người khi dễ, nói để lấy lòng người… Đó là những lối nói đáng tiếc. Nhất là những nhà làm chính trị, cẩn thận dè dặt trên từng chữ từng lời nói của mình nên rất khó có hạnh phúc. Nói mà không suy nghĩ là nói trong hạnh phúc nên con nít hạnh phúc hơn người lớn. Chúng ta nói mà có động não, có suy nghĩ thì dễ khiến người bị căng thẳng nhức đầu và lời nói đó thuộc về vọng tưởng vọng chấp hết. Đó không phải là lời nói thật, nói mà trầm ngâm suy nghĩ rồi mới nói thì độ chính xác rất ít, còn con nít thấy sao nói vậy nên thành thật chính xác hơn. Người xưa nói: “Ra đường hỏi già về nhà hỏi trẻ” là vậy.

    Đức Phật ở trong trạng thái Tâm rỗng rang không trống mà nói, vô tâm mà nói vì thế nên gọi là không nói. Một con người đạt đến trình độ sống siêu việt rồi thì: “Nói nín động lặng thể an nhiên”. Tất cả đều là an nhiên đều là giải thoát. Nói giải thoát là không có mắc kẹt ở trên lời nói, không có khởi niệm để nói. Chúng ta có khởi niệm là có Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi…có cái chấp Ngã bên trong. Đức Phật không bằng niệm nghĩ mà nói, nên chúng ta nói “Đức Phật có thuyết Pháp” là chê bai Phật là không hiểu được chỗ nói của Phật.

    Các Thiền Sư diễn tả: “Nói cả ngày mà không động lưỡi”. Nói mà không có khởi ý, không có chấp trên lời nói, nói mà như không có nói. Kinh Lăng Già cũng nói rằng: “Từ lúc thành đạo đến lúc nhập Niết Bàn thì Như Lai chưa từng nói một lời” nghĩa là Như Lai chưa từng động tâm.

     

    '' Văn kinh:

     Lúc đó Huệ Mạng Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, trong tương lai nếu có chúng sanh nào nghe nói Pháp này mà sanh lòng tin chăng?

    Ngài Tu Bồ Đề lo ngại người sau khó tin về điều này vì những điều nói này dường như xa thực tế. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng làm ra tiền làm ra của cải mới là thực tế, nhưng đó là thực tế được xây dựng trên tâm ý, dựa vào những cái giả, những cái có thay đổi thì không phải thực tế. Không sống đúng với sự thật ở nơi chính mình đó là đầu óc thiếu thực tế. Còn đầu óc của bậc giác ngộ thì rất là chân thật, cái thấy của họ lúc 30 tuổi và cái thấy lúc 80 tuổi cũng vậy nên đó mới là thật và cái thật đó ở nơi chính mình, người rõ thì nhìn ra cuộc sống này không có gì thật hết. Nên người tu là người sống thực tế không có mơ mộng viễn vông. Họ sống một giờ là trọn vẹn một giờ. Cái thật tế này phải hy sinh rất nhiều về của cải vật chất, mà người đời lại say mê trên của cải vật chất nên không sống được bằng cái thực này. Đó là điều đáng tiếc cho con người. Chúng ta là người tu phải hiểu rõ điều này không nên chạy theo đời sống vật chất mà coi thường cái thật nơi mình.

    Đức Phật và những con người giác ngộ là những người sống trọn vẹn với cái của chính họ. Còn chúng sinh thì không như vậy nên Ngài Tu Bồ Đề sợ người sau khó tin.

     

     '' Văn kinh:

     Đức Phật nói:

    Này Tu Bồ Đề, chúng sanh kia chẳng phải chúng sanh, chẳng phải không phải chúng sanh.

    Vì sao? Này Tu Bồ Đề, chúng sanh tên chúng sanh đó, Đức Như Lai nói chẳng phải chúng sanh nên gọi là chúng sanh.

     

     

     

    Đức Phật nói về chúng sanh rồi Ngài phá về chúng sanh. Thật ra chúng sanh không phải lúc nào cũng là chúng sanh. Như Đức Phật trước khi thành Đạo thì Ngài cũng là chúng sinh, thành Đạo tính chúng sanh mất nhưng Đức Phật cũng còn mang thân tứ đại, thân chúng sanh. Mang thân chúng sanh nhưng không thấy mình thật sự là chúng sanh vì sức sống thật của Ngài là Thể Tánh là Như Lai. Điều quan trọng chúng ta phải thấy chúng sinh không thực là chúng sanh, không phải là cái cố định. Nếu mình khéo thay đổi, khéo đi theo con đường Phật, thay đổi theo chiều hướng Phật thì tính chúng sanh mất chỉ còn lại tính Phật dù vẫn mang hình thù một chúng sanh.

    Như vậy chúng sanh không phải là chúng sanh, chẳng phải không phải chúng sanh. Điều này chúng ta thấy rõ nhất ở nơi con người Phật. Nên mình vẫn có khả năng để thành Phật. Nếu mình chấp hoài vào tính chúng sanh thì không làm sao thành Phật được.

    Như một người cứ chấp vào tính dốt của mình cho rằng tôi dốt rồi thôi không học thì như vậy suốt đời có biết chữ không? Cái dốt không cố định nên mình chịu khó học là chuyển được thôi. Chúng ta đừng chấp mình thuộc thành phần nào ở trong cuộc sống. Hãy thấy chúng sinh không có thực và mình có thể chuyển hóa được, mình vẫn có thể thành Phật được.

     

     '' Văn kinh:

     Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Phật được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là không chỗ được chăng?

    Đức Phật nói: Đúng thế, đúng thế!

    Này Tu Bồ Đề, ta ở nơi pháp Bồ Đề cho đến không có một pháp nhỏ có thể được nên gọi Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, hơn nữa, pháp này bình đẳng không có cao thấp, nên gọi đây là BỒ ĐỀ.

     Tam Miệu Tam Bồ Đề theo kinh Bát Nhã là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Không chỗ được là Vô Sở Đắc là Vô Sở Trụ. Do Vô Sở Đắc nên mới được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cho nên khi được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thì chỗ đó là chỗ Vô Sở Đắc. Ở đây nói chỗ được này là không có chỗ được vì là chỗ vắng lặng tuyệt đối nên đến chỗ này mình đừng có mơ màng cảm thấy thành Phật rồi sướng quá, tự hào, tự đại là hỏng hết.

     

    Chúng ta tu học cho tới trình độ không có gì để được hết, coi như bao hy vọng đều tan biến hết như vậy mới là chỗ tốt. Thông thường nói tu để không được gì hết thì mình không chịu, mình muốn được cái này cái nọ. Như vậy rõ ràng mình còn có lòng tham, mà còn lòng tham thì có thành Phật được không? Phật là một con người không có lòng tham, nên đi theo con đường Phật chúng ta phải nhớ trừ đi cái lòng tham của mình.

    Chúng ta tu là để sạch phiền não thôi chứ không được gì khác. Muốn biết mình có tiến bộ không thì hãy coi phiền não có vơi không? Khổ đau của mình có bớt không? Khi không còn gì để phiền não để khổ đau thì đó là lúc chúng ta thành công. Thành công mà không có một cảm giác nào hết, còn cảm thấy có cảm giác là chưa phải, còn có chỗ được là không được gì hết. Tu như vậy mới chính xác với con đường của Phật và tu như vậy mới triệt tiêu hết tất cả tâm tham vọng. Còn tâm tham vọng thì còn sân hận, còn si mê. Vì chúng ta biết rằng tất cả những danh dự ở cuộc đời này đều là giả tạo mà mình chấp vào thì đó là sự si mê. Nên tu phải không thấy mình được cái chi, tu để không được cái gì hết, đó mới là chỗ thành công thật sự. Như vậy mình mới thênh thang mới hòa nhập được vào hư không, hòa nhập vào bầu trời, hòa nhập vào Thể Tánh. Còn mình tu để được nhà lầu xe hơi, được sự nghiệp to đồ sộ như trái đất, đó là kẹt trong trái đất.

    Tu không thấy gì để được thì lòng tham của mình sẽ diệt đi. Chúng ta tu mà để lòng tham dấy động là hư chuyện. Y cứ vào lòng tham của mình nhiều hay ít, tăng hay giảm để kiểm tra lại mình tu đúng hay không đúng, tu tiến hay không tiến. Đừng y cứ vào chỗ biết quá khứ vị lai, đừng cho rằng biết quá khứ vị lai là thành Đạo rồi. Đó là sai lầm. Thấy quá khứ đau buồn thì mình khổ, thấy quá khứ vui thì mình vui theo như vậy thì chúng ta kẹt vào ba tâm rồi. Mà ở đây dạy phải “tam tâm bất khả đắc”. Cho nên càng tu chúng ta càng phải dững dưng với những tham muốn của thế gian đến những tham muốn trong Đạo cũng phải dứt luôn. Triệt để dứt hết tham muốn, phải Vô Sở Đắc. Không lâm vấp vào những cái được. Có được là có mắc vào Tứ tướng.

    Đức Phật nói: “Cho đến không có một pháp nhỏ có thể được nên gọi là Bồ Đề” nên Bồ Đề cũng chỉ là một danh từ tạm dùng mà thôi. Bồ Đề là cái cao nhất là cái tối thượng còn không có thì những cái lặt vặt trong đời sống này có gì đáng đâu. Trong cõi Bồ Đề không có một pháp nhỏ tức là không có một cái gì có thể được. Nên Lục Tổ nói: “Bồ Đề bổn vô thọ” nghĩa là “Bồ Đề vốn không cây”. Bồ Đề vốn không có gốc không có cội, không phải là một chỗ. Là “Bổn lai vô nhất vật”. Chỗ đó xưa nay không một vật. Từ chỗ này để chúng ta thấy không có cái gì để mình chấp, phải không có một niệm nào trong chân trời Bồ Đề. Như vậy chỉ còn lại một Tâm rỗng rang không trống tuyệt đối. Đó là Tâm Bồ Đề là Tâm Không ở Bát Nhã.

    Pháp Bồ Đề vốn bình đẳng không có cao thấp là chỗ không có mình, không có người, tất cả đều tan biến trong chân trời này. Nên chúng ta tu phải bình đẳng, tu mà tạo giai cấp, đối xử với nhau trong giai cấp đó là một sự sai lầm. Chúng ta cạo tóc cũng là để xóa giai cấp. Tu không khéo tạo thành giai cấp là làm mất phẩm chất của người tu. Tạo thành một thứ đạo quan như là một ông quan ở trong nhà đạo, tạo giai cấp với huynh đệ mình thì đó là điều hết sức đáng tiếc.

    Chúng ta tu theo con đường Phật là phải xóa đẳng cấp, không nên tôn vinh đẳng cấp. Phải trở thành con người Vô Sở Đắc, đã Vô Sở Đắc thì làm gì có giai cấp nên Bồ Đề không có cao thấp là vậy. Bồ Đề mang tính bình đẳng tuyệt đối nên người tu thể hiện được tính bình đẳng tuyệt đối này đó là người hiểu được Phật Pháp và hành được Phật Pháp vào ngay trong cuộc sống của mình. Đạo đức của người tu là ở chỗ đó, làm sao tan mình vào trong cuộc sống. Phải  xóa đi giai cấp để có được đời sống bình đẳng. Tu là vậy chứ không phải tu để làm Ngọc Hoàng Thượng Đế để chăn dân trị nước, để quản lý thiên hạ là sai với Đạo lý, sai với Tự Tánh của mình. Rõ ràng Tự Tánh của mình là không một vật mà mình đặt ra thế này thế nọ, để hơn người đó là một chuyện sai lầm. Vì vậy khi tu chúng ta phải cẩn thận điều này. Đừng nghe theo tâm ý đôn đốc xúi dại mình phải làm một cái gì đó, không để cho những tiếng nói rì rầm thúc thôi mình tạo dựng những danh lợi thế này thế nọ, không khéo bị nó lôi cuốn đẩy lên chỗ danh lợi rồi thì rất là phiền phức, tạo thành sự bất bình đẳng trong cuộc sống. Những người tu có mộng làm giáo chủ làm một vị Đạo Sư đó là điều sai lầm với Chánh pháp. Chúng ta tu để làm con người không có việc là một con người vô sự. Tu để đạt tới trình độ Vô Sở Đắc, Vô Sở Trụ chứ không phải tu để trở thành một ông giáo chủ một ông Đạo Sư nào đó. Nếu mình có ý như vậy sẽ dễ trở thành tà ma ngoại đạo, trở thành thiên ma. Tu mà có ý đồ đó là trái với Đạo Phật và tu như vậy mà dẫn dắt tín đồ thì tín đồ cũng đi vào tà ma ngoại đạo. Đừng để mình lâm vấp vào tình trạng này mà xa với Đạo với con đường Phật.

     

    '' Văn kinh:

     Do không Ngã, không Nhơn, không Chúng sanh, không Thọ giả mà tu tất cả pháp lành tức được Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, nói pháp lành đó, Đức Như Lai nói chẳng phải pháp lành nên gọi là pháp lành.

     “Do không Tứ tướng mà tu tất cả pháp lành tức được Bồ Đề”. Không Tứ tướng mà chúng ta Bố thí, chúng ta Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trì giới… thì sẽ được Bồ Đề. Như vậy nguyên tắc này thật rõ ràng và đơn giản phải không? Nhưng để không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả thì thiệt là khó vì nghiệp tập muôn đời của mình, làm cái gì, tu thế nào cũng có cái Ngã đi theo, phải tu gì đó cho ta, làm cái gì đó cho ta, mà hễ cho ta thì có tướng Nhân theo đó. Có Ngã, có Nhân thì có Chúng sanh, có Thọ giả. Nên nguyên tắc này thật

    là đơn giản nhưng không phải dễ thực hiện và cái giá phải tính từ cả đời trở lên, khó lắm. Nhưng phải tu như vậy thì mới thật sự là có Bồ Đề.

    Đức Phật thành được Bồ Đề là do Ngài đã bỏ hết tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả ở nơi mình. Ngài đã xả triệt để từ Tứ tướng thô đến Tứ tướng tinh vi. Ngồi dưới gốc Bồ Đề đó là lúc Ngài xả cái Bản Ngã muôn đời, xả cái chấp Ta, chấp vào những ý niệm lấy đó làm Ta, trong cái Ngã đó có đầy đủ Tham Sân Si. Xả bỏ cái Nhân là những đối tượng của cái Ngã đó, xả Chúng sinh tướng là những vấn đề mà Ngài đã đặt ra đã nêu lên như những vấn đề thuộc về chúng sinh như Sinh, Già, Bệnh, Chết và Ngài xả hết những cảm thọ khổ vui với chúng sinh, giải quyết hết về Tứ tướng tinh vi.

    Chính trong cái chỗ không chấp vào bốn tướng mà hành thiện mà tu các pháp lành nên được Bồ Đề. Chúng ta chưa được Bồ Đề vì với bốn tướng này mình còn mang nặng, còn chấp về Tứ tướng nhiều lắm. Trong Tứ tướng mà làm các việc lành nên không thành tựu được Bồ Đề. Chúng ta làm từ thiện, tụng kinh niệm Phật, hành Thiền… đều ở trong chấp tướng nên tu lâu dụng công nhiều mà không được Bồ Đề là vậy. Từ chỗ dạy này chúng ta muốn mau chứng Bồ Đề thì phải xả đi Tứ tướng.

     

    “Không Tứ tướng” đó là cơ hội để ngộ Bồ Đề. Phải lấy đây làm nguyên tắc, ở trong chỗ không bốn tướng để chúng ta ngộ Bồ Đề, ngộ rồi  thì tu rất lẹ. Đây là đường lối tu cao cấp mà các Thiền Sư đã khai thác triệt để. Tu là phải  không Tứ tướng, phải phát tâm mãnh liệt triệt hạ Tứ tướng. Đường lối tu của mình rõ ràng vậy đó. Thực hiện được điều này thì sẽ thành tựu rất nhanh.

    “Nói pháp lành đó, Đức Như Lai nói chẳng phải pháp lành nên gọi là pháp lành”. Pháp lành cũng là từ ngữ tạm dùng nên đừng bám vào pháp lành cho là thật. Đức Phật nói rồi phủi liền sợ mình dính mắc.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu trong cõi tam thiên đại thiên có bao nhiêu núi chúa Tu di mà có người đem số bảy báu như thế để bố thí, và nếu có người lấy kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho đến chỉ bốn câu kệ thôi mà thọ trì đọc tụng và nói cho người khác nghe thì phước đức này sẽ hơn phước đức người trước gấp trăm, gấp muôn ức lần cho tới không thể tính toán, thí dụ được.

    Đức Phật tuyên dương về kinh Bát Nhã Ba La Mật

    Đa và bốn câu kệ tiêu biểu nhất là bốn câu: Sắc bất dị Không

    Không bất dị Sắc

    Thọ tưởng hành thức

    Diệc phục như thị

     Từ bốn câu đó mà chúng ta triệt ngộ được thì mình sẽ có phước đức lớn hơn người đem của cải đầy trời mà bố thí vì bố thí đó là có sự tướng, mà sự tướng thì tan hoại nên không có gì quan trọng. Còn chúng ta đạt ngộ được ý kinh, đạt được Tâm Không, tiêu dung được Tứ tướng thì ngay đó thành tựu được pháp Bồ Đề.

     '' Văn kinh:

     

    Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? Các ông chớ cho Đức Như Lai có nghĩ như vậy: “Ta phải hóa độ chúng sanh”.

    Này Tu Bồ Đề, ông chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Thật không có chúng sanh nào được Đức Như Lai độ cả. Nếu có chúng sanh nào được Đức Như Lai độ thì Đức Như Lai có Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả.

    Chúng ta thấy Đức Phật đã hóa độ chúng sanh thật nhiều nhưng ở đây Ngài lại phủ nhận. Nếu Như Lai có nghĩ là phải độ một người nào đó là Như Lai kẹt vào bốn tướng. Có thể nói dễ hiểu là Đức Phật Thích Ca thì có độ rất nhiều chúng sinh, cụ thể là trên dưới 2000 người nhưng ở đây nói Đức Như Lai thì không có độ chúng sinh.

    Chúng ta đã bàn qua giữa Đức Phật và Như Lai. Tiếng Phật là tiếng người đời tôn vinh còn Như Lai là tiếng tự xưng của Ngài, vì khi chứng Đạo, Ngài thấy rõ con người chân thật của mình, con người đó không tới không đi, con người đó vẫn là thường tại bất động gọi là Như Lai. Đã là như như bất động thì Ngài có nghĩ là phải hóa độ chúng sinh không? – Không. Sở dĩ gọi là Như Lai vì Năng lực sống này không có bốn tướng. Còn chúng ta sống bằng bốn tướng nên Thể Tánh Như Lai của mình không hiển lộ. Trong Thể Tánh Như Lai không có một khởi ý khởi niệm nào dù là khởi ý lương thiện, việc cứu khổ người, độ người là hết sức lương thiện nhưng nếu có trong Tâm Như Lai thì cũng là một sự ô uế mà thôi. Tâm Như Lai giống như con mắt hoàn toàn trong sáng không một hạt bụi dù đó là bụi vàng cũng không thể được.

    Tuy Đức Phật có độ chúng sanh nhưng không có một sự dấy niệm khởi ý nào về độ chúng sinh. Làm mà không động tay chân, nói mà không động lưỡi, sinh hoạt cùng với chúng sinh nhưng không có một ý niệm nào hết. Do Đức Phật độ chúng sanh bằng tấm lòng trong sáng như thế mới giúp chúng sinh được giải thoát, được an vui trọn vẹn. Còn mình có khởi ý khởi niệm là còn có sự lợi dụng người, hoặc không lợi dụng người chỉ làm giúp người để cho mình có phước thì đó cũng là một hình thức lợi dụng. Nên phải làm việc thiện thì chớ có vọng tưởng chớ có khởi nghĩ, chớ có tính lợi hại, gặp việc phải làm thì làm, gặp việc phải nói thì nói, gặp việc phải dìu dẫn người thì dìu dẫn người vậy thôi. Làm được như vậy mới thật sự giúp ích cho chúng sinh. Đó là việc làm của Phật, làm bằng một tấm lòng trong sáng không Ngã, không Nhân, không Chúng sanh, không Thọ giả. Từ một cái Tâm  sáng suốt mà dẫn dắt người. Tâm Phật như một ngọn đèn pha soi đường dẫn bước cho chúng sinh đi trong đêm đen được an toàn. Giúp mà không cần chúng sinh hiểu mình là ai, làm mà không mong người đáp trả. Chúng ta đi theo con đường Phật cũng phải học hỏi và thực hiện như vậy. Làm thì cứ làm mà đừng tính hơn tính thiệt.

     

    Người thế gian không hiểu chỗ này. Nên nói rằng: “Ở đời không ai làm giúp cho ai một cách không công”. Người đời sống bằng tâm ý nên không hiểu được Tâm chân thực  của Phật và Bồ Tát. Đó là “Đem lòng dạ tiểu nhân mà đo lòng quân tử” nên các vị hành đạo Bồ Tát phải chấp nhận cho người hiểu lầm, nếu chán nản bỏ cuộc thì không thành tựu được đạo Bồ Tát. Một Bồ Tát thật sự thì không còn sống cho mình, Tứ tướng đã không thì ai nghĩ sao thì nghĩ, lòng Bồ Tát như hư không vậy. Đây là chỗ rất hay trên con đường tu theo Phật.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, Đức Như Lai nói có Ngã tức chẳng phải có Ngã mà người phàm phu cho là có Ngã.

    Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Đức Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu nên gọi là phàm phu.

    Đức Phật đưa ra Tứ tướng, đó là phương tiện để dạy người, dùng cây thước Tứ tướng để ướm người, ướm mình nhưng cuối cùng phải xóa luôn phương tiện, phủi sạch hết không còn dấu vết, không còn gì để dính mắc.

    Ngài phá luôn từ “phàm phu”, đó cũng là danh từ tạm đề ra để trao đổi mà thôi. Nên những danh từ của Đức Phật đề ra giống như chữ được viết trong hư không, vừa viết vừa mất. Đó là một diệu thuật.

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, theo ý ông nghĩ sao? có thể do 32 tướng mà xem Đức Như Lai chăng?

     Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Đúng thế! đúng thế! do 32 tướng mà xem Đức

    Như Lai.

    Đức Phật nói:

    Này Tu Bồ Đề! Nếu do 32 tướng mà xem Đức Như Lai thì vị Chuyển luân thánh vương tức là Đức Như Lai sao?

    Ông Tu Bồ Đề thưa với Đức Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, con đã hiểu nghĩa của Đức

    Phật nói, chẳng nên do 32 tướng mà xem Đức Như Lai.

    Ngài Tu Bồ Đề trả lời theo trí của phàm phu là phải do 32 tướng mà xem Đức Như Lai. Nhưng nếu cho 32 tướng là Phật thì sẽ lầm trên tướng của vị Chuyển Luân Thánh Vương vì một vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng tốt. Nên đừng ở trên hình tướng mà quyết định.

    Chuyện này chúng ta thấy ở Ngài Ưu Ba Cúc Đa. Xưa Tổ thứ tư là Ưu Ba Cúc Đa đã hàng phục được vua Ma, rồi Ngài muốn cho vua Ma hiện lại cảnh Đức Phật đi hành hóa, Ngài nói:

    - Xưa ngươi thường thấy Như Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem.

    Vua ma thưa:

    - Hiện xưa không khó, chỉ xin Tôn Giả trông thấy đừng lễ.

    Vua ma vào rừng ẩn mất. Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra, oai nghi, nghiêm chỉnh, đi sau là đoàn Tỳ Kheo 1250 vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác cúi mình đảnh lễ. Vua ma hoảng kinh biến mất. Nếu không phải Ngài Ưu Ba Cúc Đa thì sẽ bị Ma Vương hớp hồn. Đó là

     

    kinh nghiệm cho mình. Nên không nhìn Như Lai qua 32 tướng vì hình tướng giả trang được. Chúng ta chấp vào hình tướng sẽ mắc hõm Ma vương, mắc hõm bởi vọng tưởng và ảo giác của mình.

    Như ngồi thiền thấy Phật hiện ra rõ ràng, mình vui lên lễ bái mãi và trở nên điên khùng. Chính ảo giác biến mình thành điên khùng. Cho nên người tu nhất định không nên tạo ảo giác, không nên thấy Phật qua hình tướng, qua những hình tượng do nghệ nhân tạo nên. Mình chấp vào đó cho là Phật là điều sai lầm.

    Ngay thân xác thật của Phật còn không phải là Như Lai. Phải hiểu hình tượng chỉ là những biểu tượng chúng ta tôn thờ để mong được học hỏi về Trí Huệ và Từ Bi, học theo nết hạnh, Tâm hạnh của Ngài thôi.

    Còn nếu chúng ta nói hình tượng không phải Như Lai rồi mình dẹp hết những hình tượng thì như vậy không có cái duyên để mình trau dồi về Trí Huệ và Từ Bi. Cho nên xóa đi hay bám vào hình tượng cũng đều bất lợi cho mình. Phải có cái nhìn sáng suốt, hiểu cho thấu đáo thì mới có được lợi ích.

     

     '' Văn kinh:

     Lúc đó Đức Thế Tôn nói kệ: Nếu do sắc thấy Ta Do âm thanh cầu Ta

    Người ấy hành đạo tà Chẳng thấy được Như Lai

     

     Do sắc tức từ hình thù, do âm thanh tức từ tiếng tăm. Từ những ngõ này mà mong vào Đạo, mong thấy được Như Lai, đó là người hành đạo tà. Về điều này người Đạo Phật của mình lầm rất nhiều. Đạo Phật chơn chánh phải không từ nơi sắc, không từ nơi âm thanh mà thấy Phật. Ở đây dạy rất rõ mà mình vẫn bị gạt dài dài. Như gần đây người ta dàn dựng một cảnh nào đó rồi chụp hình Bồ Tát ở trên mây cho là Bồ Tát hiện. Như vây là từ nơi sắc mà thấy, mà tưởng tượng theo, đó là hành đạo tà rồi. Cho nên dựa vào âm thinh sắc tướng mà vào Đạo, cho đó là Đạo thì thật là nguy. Đạo không có trên âm thanh sắc tướng. Phải lìa Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh TÂM Thanh Tịnh. Ở trên sắc tướng sanh tâm thì đó là hành đạo tà, không làm sao thấy được Như Lai.

    Đạo Phật là đạo chánh tín nhưng do mình không học hiểu về Phật lý, không rõ chỗ này nên rất dễ trở thành mê tín. Người ta đem Sắc, đem Thinh gạt là mình vướng liền. Chúng ta học Đạo phải ngày càng chánh tín đừng để lọt vào mê tín, nhất là mình phải giải trừ về Ngã, Nhân, Chúng sinh, Thọ giả thì mới có thể lướt qua được cái mê tín. Nhưng cũng có những điều tuy có vẻ kỳ dị, kỳ lạ mình không hiểu được nhưng không phải là vấn đề mê tín. Phải cẩn thận.

     '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề! ông nếu nghĩ thế này: Đức Như Lai do tướng cụ túc mà được Bồ Đề.

    Này Tu Bồ Đề, ông chớ nghĩ như vậy, Đức Như Lai chẳng do tướng cụ túc mà được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

     

     

    Chúng ta đừng nghĩ Như Lai được Bồ Đề là do từ nơi tướng đẹp đẽ. Đừng nhìn dáng người mà quyết định người đó được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Điều đó rất sai lầm. Trong chốn tu hành, rất nhiều vị có vẻ lôi thôi lếch thếch nhưng lại là người tu hành chân chánh là một người giác ngộ thật sự như Ngài Tế Điên, còn có người ra vẻ đường đường Tăng tướng nhưng lại rất gian tà giống như Quảng Lượng vậy. Vì thế không nên nhìn người qua dáng mạo, đành rằng dáng mạo cũng có thể thố lộ ít nhiều về Trí Huệ nhưng mình không chuyên môn thì rất dễ bị lầm. Như mình biết qua sách vỡ là người Giác ngộ thì sáng sủa nơi ấn đường hay trên đỉnh đầu rồi người ta dùng mỹ phẩm trang sức cho giống, mình không có chuyên môn để xác định chỉ thấy vừa mắt thì cho là thiệt, đó là lầm. Tốt hơn hết chúng ta đừng nhìn người trên tướng mạo.

     

    '' Văn kinh:  

    Này Tu Bồ Đề! ông nếu nghĩ như vầy: phát khởi TÂM Bồ Đề mà nói các pháp có đoạn diệt, ông chớ nghĩ như thế. Vì sao? Phát khởi Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề mà ở nơi Pháp chẳng nói tướng đoạn diệt.

    Ở đây Đức Phật nói để chúng ta xác định được thế nào là chánh là tà, chúng ta tu học đừng để vướng vào tà pháp, vướng vào không những phiền cho đời này mà còn phiền cho nhiều kiếp về sau. Phải cẩn thận.

    Một người gọi là phát khởi Tâm Bồ Đề tức là người hướng đến Tâm Bồ Đề hay đã thật sự ngộ về Tâm Bồ Đề, thấy rõ Tâm Bồ Đề vốn là Như Lai, vốn là sừng sững bất động nên ở nơi pháp chẳng nói tướng đoạn diệt, không có chê pháp này là đoạn diệt, pháp kia là đoạn diệt, không có nói về việc còn mất…

     

    '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu có Bồ Tát lấy bảy báu đầy khắp các cõi nước nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Nếu lại có người biết tất cả pháp đều Vô Ngã thì được thành Pháp nhẫn. Vị Bồ Tát này được phước đức nhiều hơn vị trước. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, do các Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức.

     

    Người biết tất cả pháp đều Vô Ngã thì được thành Pháp nhẫn. Người đó là người thấy tất cả pháp không có gì là thật, không có gì là của ta, họ có một sự an nhẫn trong các pháp, bình an đối trước các pháp ở giữa này, tiền bạc vật chất quyền thế danh vị đều trở thành vô nghĩa, không có pháp nào còn có thể hấp dẫn được họ. Họ an nhẫn trên các pháp gọi là được thành Pháp nhẫn và vị Bồ Tát này được phước đức nhiều hơn vị Bồ Tát lấy bảy báu đầy khắp các cõi nước nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Bồ Tát này được phước đức nhiều hơn do vì Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức, Bồ Tát không vướng mắc, không vướng bận vào một thứ nào hết. Điều này đã được Tổ Khánh Anh thể hiện vào hai câu liễn ở cổng chùa Phước Hậu:

     

    “Phước đức người vẫn tham” “Bồ Tát bất thọ”

    Phước đức người đời ai cũng tham nhưng với Bồ Tát không thọ nhận phước đức như vậy, không thọ nhận phước đức trên vật chất, trên cái hữu vi. Dựa vào câu liễn chúng ta có thể biết được con người của Tổ, thấy được tư tưởng, tính cách, tinh thần sống của Tổ. Tổ là một con người đối với danh hư, lợi dưỡng chẳng có giá

    trị gì. Tuy là một vị pháp chủ nhưng đời sống của Ngài rất đơn giản. Ở một câu liễn khác Ngài nói:

     

    Kìa mây ngàn hạc nội

    Vào lòn ra cúi mặc tình ai

     

    Ngài đã xác định lập trường sống của mình, tuy trái đất thênh thang như vậy nhưng mặc tình cho những ai vào lòn ra cúi, còn Ngài chấp nhận một đời sống là “sãi khó ở chùa quê”, sống như một bần tăng không ham danh lợi. Không như Tăng Ni trẻ của mình bây giờ thích bôn chôn về thành phố, rất ít ai chịu an phận ở chùa quê nghèo khó để mà chuyên tu. Còn Ngài được tấn phong lên làm pháp chủ giáo hội Tăng già, đó là ngôi vị lớn nhất của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ, giáo hội Tăng già thỉnh Ngài lên Sài Gòn để tấn phong nhưng Ngài không buồn nhận. Cuối cùng các vị phải xa giá xuống tận chùa Phước Hậu suy tôn Ngài lên tại chỗ, bị ép quá Ngài nhận với lời nói: “Không có chó bắt mèo ăn cứt”. Điều này nói lên cái chí sống của Ngài, không màng gì đến danh vị, không thấy mình là cao cả, là quan trọng gì hết. Đúng là Ngài thể hiện đời sống theo đạo lý này: “Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức”. Người sống được vậy xứng đáng là một vị cao tăng. Như vậy chứng tỏ Hòa Thượng rất chú

     

    ý đến kinh Kim Cang và pháp môn tu của Hòa Thượng là pháp môn kinh Kim Cang.

    Chúng ta phải học hỏi tinh thần này. Tu không có cầu phước đức gì cả, có bao nhiêu phước đức thì nên hồi hướng hết về cho chúng sanh, cho người đời, phải sạch sẽ hết không giữ gì cho riêng mình. Không còn gì là Ta và của Ta, có như vậy chúng ta mới thật sự giải thoát, giải thoát ngay khi sống và giải thoát sau khi chết. Chỗ tu hành đúng đắn là phải vậy.

     

    '' Văn kinh:

     Ông Tu Bồ Đề thưa với Phật:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, vì sao các vị Bồ

    Tát chẳng thọ nhận phước đức?

    Này Tu Bồ Đề! Vị Bồ Tát dù có làm phước đức chẳng nên khởi lòng tham, thế nên nói chẳng thọ nhận phước đức.

    Bồ Tát dù có làm phước đức rất nhiều cho đời nhưng chẳng có khởi lòng tham ở trên việc làm của mình gì hết, thế nên nói chẳng thọ nhận phước đức. Từ chỗ này chúng ta thấy lại lời nói của Tổ Đạt Ma đối với Lương Võ Đế có trái với kinh Kim Cang không? Lương Võ Đế đưa ra bao nhiêu thành tích cho mình, nào cất 72 kiểng chùa, nào độ người làm Tăng, nào in kinh in sách và hỏi Tổ rằng: “Trẫm có công đức không?”

    Tổ phủi liền: “Hoàn toàn không công đức”

    Như vậy lời nói của Tổ rất phù hợp và hoàn toàn đúng với kinh Kim Cang. Lương Võ Đế làm như thế là có lòng tham không? – Có. Và có rất nhiều nên khi nghe Tổ từ Ấn Độ sang liền đem khoe công để cho Ngài chứng minh, nhưng không ngờ gặp Tổ nhìn phước đức kiểu này thì Ngài không chấp nhận được, vì Ngài là một Bồ Tát thực sự cho nên làm mà có lòng tham thì không phải là công đức. Chính chỗ mình chấp vào công đức thì công đức sẽ nhỏ đi.

    Chúng ta làm thì làm nhưng phải biết xóa đi công đức và cái chấp về công đức, làm rồi là xong không có kể công, không có tính tới tính lui, không có lòng tham trong khi mình làm, đừng nói làm cái này để cho có phước có đức, làm để cho người ta ca ngợi mình, làm để cho Phật chứng.

    Một Bồ Tát không có lòng tham nào cả trước khi làm, đang khi làm và sau khi làm. Đây là điều hết sức tốt đẹp nhưng chúng ta lại làm khác đi, hay đem lòng tham để kích thích người, kêu gọi người làm từ thiện làm công quả đi cho có phước và cụ thể là phát cho người một bằng khen. Như vậy theo Đạo lý này là mình đã hại người ta, làm cho người sinh tâm thích ý sanh cái danh với kẻ khác.

    Chúng ta phải cẩn thận đừng kích thích lòng tham của người, đối với Đạo Phật chân chính thì không dùng thủ thuật tâm lý, không dùng những mánh khóe mánh lới, không phát triển lòng tham của người. Bậc chân tu, người tu đúng đạo lý phải loại sạch lòng tham ngay từ buổi ban đầu.

     Này Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Đức Như Lai có đi, có đến, có nằm, có ngồi thì người này chẳng hiểu nghĩa ta nói.

    Vì sao? Đức Như Lai không có chỗ đến cũng không có chỗ đi, nên gọi là Như Lai.

     “Như Lai không từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu”. (Như Lai vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Đây là một định nghĩa chính xác về Như Lai. Giống như hư không không từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu. Đó là Thể Tánh trùm khắp không tới không lui vì là đầy ắp. Thể Tánh Như Lai không chỉ có ở Đức Phật thôi mà ở nơi mọi người đều có, nếu chúng ta nhận ra thì sẽ thấy giống như chỗ Phật nói. Khi nào chúng ta sống mà không thấy mình có đến có đi thì chính lúc đó mình là Như Lai. Vì không đến không đi nên không có sự máy động, không có sự máy động thì không có Tham Sân Si xảy ra, có động tức là có sự suy nghĩ vẫn vơ nên mới có Tham Sân Si xảy ra. Người hay có Tham Sân Si là người sống rất xa với Thể Tánh Như Lai. Có đến là có sinh ra, có đi là có diệt đi. Ở đây không đến không đi nên gọi là Như Lai.

     

     

     

     

    Này Tu Bồ Đề! Nếu người thiện nam kẻ

    thiện nữ nào lấy cõi tam thiên đại thiên tán ra thành bụi, theo ông nghĩ sao? Những bụi này có nhiều chăng?

    Ông Tu Bồ Đề thưa:

    - Thưa Đấng Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Nếu những bụi này là thật có thì Đức Phật chẳng nói đây là bụi. Vì sao? Đức Phật nói bụi tức chẳng phải bụi.

    - Thưa Đấng Thế Tôn, Đức Như Lai nói cõi tam thiên đại thiên, tức chẳng phải cõi nên gọi là cõi. Vì sao? Nếu cõi thật có thì đó là một hợp tướng. Đức Như Lai nói một hợp tướng tức chẳng phải một hợp tướng nên gọi là một hợp tướng.

    Này Tu Bồ Đề, một hợp tướng tức là chẳng thể nói mà chỉ người phàm phu tham trước việc ấy.

    Ngài Tu Bồ Đề đã nói theo cách nói của Phật, nói ra một danh từ là phải xóa liền danh từ. Chúng ta phải có câu rốt sau như vậy, đó là biết học. Phải phủi hết danh tướng như trong Lăng Già đã nói danh tướng là đầu mối của tâm vô minh, là tâm dấy lên những vọng tưởng điên đảo nên đừng bám chấp vào những danh tướng. Như mình được đặt tên gì đó, nghe kêu mình lên tiếng đó là chấp về danh tướng.

    Những người tu tốt họ tu đến chỗ quên tên quên tuổi, họ không cho tên tuổi là họ nên gọi họ mà họ tưởng chừng gọi ai. Tên còn quên thì những tên khác, từ ngữ khác đâu còn nhớ. Nên ai nói gì thì nói dù có trật về tên gọi họ cũng không có chấp, không có cãi gì với người.

     

     '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu có người nói: Đức Phật nói Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến, này Tu Bồ Đề, ông nghĩ thế nào? Người này hiểu nghĩa ta nói chăng?

    - Thưa Đấng Thế Tôn, người này chẳng hiểu nghĩa của Đức Như Lai nói. Vì sao? Đấng Thế Tôn nói Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến tức chẳng phải Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến nên gọi là Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến.

     

     

     Đây là lối nói không kẹt văn tự, ở trên văn tự mà phá văn tự. Tuy là văn nhưng vẫn là bất lập văn tự, dùng văn để mà phủi văn. Đó là thuật rất hay rất khéo. Những Pháp thế này dù rất hay nhưng cuối cùng cũng phải phủi hết, phải xả hết, lau hết thì đối với những từ ngữ những cái lặt vặt trong cuộc sống này chúng ta có cần phải để bụng không? - Không cần.

    Do không hiểu chỗ này nên mình ham học đủ thứ nhưng càng học đủ thứ càng làm rối tâm mình thêm như tấm bảng vốn sạch mà mình làm quằn quện đi. Vì vậy chuyện gì cần học thì chúng ta học để dùng xài một chút, dùng xài rồi thì bỏ chớ không nhớ hoài. Học để mà quên chớ không phải học để nhớ.

    Chúng ta đừng sợ cô đơn nhất là với người lớn tuổi không có chuyện gì làm rồi kiếm cái này học cái kia học trong khi ở đây người ta loại hết để cho đầu óc rỗng rang không trống. Khi mình không có chuyện gì làm thì cứ nằm ngó hư không nằm ngó trần nhà cũng được, mắc gì phải bắt đầu óc hoạt động. Hiểu được chuyện này thì chúng ta không cần sử dụng đầu óc để học hành cái gì nữa khi nó không là chuyện cần thiết cho chính mình thì mình thông qua hết.

    Câu nói: “Học, học nữa, học mãi” thật ra chỉ có giá trị với thế gian mà thôi, với hạnh phúc chân thật thì không có giá trị gì, càng học càng rối cái đầu mà thôi. Học nhiều quá cũng khiến mình lên “tăng xông” làm nhồi máu cơ tim, bị tai biến…

    Chúng ta biết rồi phải xả hết, thả lỏng cái đầu bay với mây với trời vậy mà tốt hơn, chẳng phải nhớ gì đến con đến cháu, không nhớ đứa này tên gì, đứa kia tên chi.

    Những cái tên mình đặt cũng là tạm thời thôi nên không cần phải nhớ, thả lỏng hết đó là chúng ta biết cách tạo hạnh phúc cho chính mình. Người đời không hiểu chỗ này nên sợ cô đơn cô độc, phải tìm cái này cái nọ nhét vô đầu, không có chuyện làm cho có chuyện. Chúng ta tu tỉnh táo rồi thì những điều đó không còn cần thiết nữa.

    Phải thấy rõ tinh thần Đạo lý ở đây cuối cùng là phải xóa hết. Đây là Phật pháp mà mình còn xóa thì huống nữa là với pháp thế gian mình lại để sao?

    Chúng ta dùng Phật pháp để xóa pháp thế gian rồi sau đó xóa luôn Phật pháp, phải sạch sẽ hết. Được vậy mình sống sẽ an hơn và khi chết sẽ chết ổn hơn.

    '' Văn kinh:

    Này Tu Bồ Đề, phát khởi Tâm Bồ Đề thì ở nơi tất cả pháp nên biết như vậy, thấy như vậy, tin hiểu như vậy mà chẳng sanh tướng pháp.

    Này Tu Bồ Đề, nói tướng pháp thì Đức Như Lai nói chẳng phải tướng pháp nên gọi là tướng pháp.

    Đây là chỗ rất hay. Khi mình phát khởi Tâm Bồ Đề, khi mình sống bằng Tâm Bồ Đề thì ở nơi tất cả pháp nên biết như vậy, thấy như vậy, tin hiểu như vậy mà chẳng sanh tướng pháp. Nói theo Việt Nam là “thấy sao để vậy” không có đá động gì đến, đừng có sanh vọng niệm, đừng có sanh nên tướng pháp làm gì.

    Người già mà không yên thân, con cháu bực bội không thương là do họ gặp gì cũng sanh tướng pháp, thấy cái gì không vừa mắt là la rầy, trong khi đời sống già thì cứ lo phận già, thấy như thế nào thì để yên như thế nấy. Cứ sống cho chính mình đừng ở trên đó mà sanh niệm mà khởi ý này nọ sinh rắc rối phiền phức cho con cháu. Chính cái chấp làm hại cho hạnh phúc của mình, tự mình làm khổ mình. Nên già rồi thì thấy sao để vậy, nghe sao thì hay vậy, biết sao thì cứ để vậy thôi đừng đặt thành vấn đề. Nếu còn trẻ mà chúng ta sống được như vậy thì cuộc sống của mình sẽ tốt hơn, hạnh phúc hơn, đừng gây rối chuyện làm gì vì cuộc đời này tất cả đều là giả mà mình dính líu vào cái giả thì phiền phức lắm. Người ta đang tranh nhau cái giả mà mình nhảy vào can thiệp như vậy là mình ngu theo, xúm nhau vì cái giả mà mất hết hạnh phúc thì thật không đáng.

     

     '' Văn kinh:

     Này Tu Bồ Đề, nếu có người đem bảy báu đầy khắp vô lượng vô số thế giới để bố thí và nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ phát khởi Tâm Bồ Đề trì kinh này cho tới bốn câu kệ mà thọ trì đọc tụng và giảng nói cho người khác thì phước đức người này hơn người trước.

    Giảng nói cho người nghe như thế nào? Chẳng chấp ở tướng như như bất động.

     Đức Phật tuyên dương về “kinh này”, nhắc lại giá trị kinh, khuyên người nên thọ trì và vì người giảng nói thì phước đức thật lớn.

    “Giảng nói cho người nghe như thế nào? Chẳng chấp ở tướng như như bất động”. Chỗ này rất nhiều người đã hiểu sai. “Như như bất động” ở đây không phải là Như Lai. Chấp ở tướng như như bất động là chấp một cách cứng nhắc, một cách cố định. Tức là nói mà không biết linh hoạt, không linh hoạt trong sự trình bày, trong sự diễn nói. Chấp khư khư vào văn kinh vào quyển sách này là thiệt, đó là chấp vào tướng “như như bất động”. Ở đây dạy rất kỹ, dạy xong rồi là gỡ tay mình luôn không để mình kẹt vào trang kinh trang sách nào hết, rứt đi cái phương tiện. Đó là lối dạy rất giải thoát giúp người giải thoát thực sự, chứ không phải dạy rồi nói sách này, kinh này hay lắm phải nắm trong tay hoài, phải lẩm nhẩm hoài về kinh này.

    Chúng ta thấy rõ ở các Thiền Sư, các Ngài nói về kinh Kim Cang nhưng không kẹt một lời văn nào trong kinh Kim Cang hết. Như Lục Tổ Huệ Năng nói: “Bổn lai vô nhất vật”. Câu nói đó rất là Kim Cang nhưng không có từ ngữ nào của Kim Cang.

    Ngài Đức Sơn cũng ngộ Kim Cang nhưng khi khai đường không có nói lời nào của Kim Cang, đó là các Ngài đã linh động vận dụng mà không mắc kẹt vào kinh văn. Đừng tưởng mở miệng ra là phải thuộc làu một câu kinh, dùng câu kinh để chứng minh thế này thế nọ cho đó là nói hay nói giỏi. Đó là còn mắc kẹt trên kinh văn, còn chấp tướng như như bất động. Chúng ta thấy tài vận dụng của các Thiền Sư rất tuyệt diệu, các Ngài chuyển tải ý kinh đến người một cách kỳ diệu, nói rất Kim Cang, rất Lăng Nghiêm nhưng không có từ ngữ nào là Kim cang, là Lăng Nghiêm. Đó là chỗ vận dụng tài tình và nói như vậy là không chấp tướng

    “như như bất động”.

    Tự mình phải có sáng tạo tùy cơ nghi mà nói thì mới tốt. Nên học Đạo là học cái sáng tạo để mình có sáng tạo chứ không phải nói cứng nhắc y chang theo kinh là mất tính linh hoạt diệu dụng.

    Như người không biết chữ Hán mà mình dẫn kinh chữ Hán thì người nghe không hiểu gì hết. Còn mình nắm được ý kinh rồi, mình diễn dịch bằng tiếng Việt, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thì mọi người đều hiểu được.

    Sở dĩ người ta nói Thiền khó đáp ứng cho các trình độ của Phật tử, nói vậy là do mình không biết vận dụng Thiền. Thiền là Tâm mà kẻ trí thức, người bình dân gì cũng có Tâm hết.

    Nếu mình đạt được Nguồn Tâm rồi mình nói bằng cách vận dụng thì kẻ trí thức, người dốt nát gì cũng nhận ra hết. Đó là sự khéo vận dụng của người nói, nói mà không có chấp tướng như như bất động.

     

     '' Văn kinh:

     

    Vì sao?

    Tất cả các pháp hữu vi

    Đều như mộng huyễn bọt bóng

    Và như sương như điện chớp

    Phải nên thường quán như thế ấy.

     

    Không chấp tướng như như bất động vì các pháp ở giữa này đều thuộc về hình tướng là pháp hữu vi mà pháp hữu vi thì đều như mộng huyễn bọt bóng và như sương, như điện chớp là những cái thấy như có nhưng không thật có. Lời nói này chỉ cho các pháp hữu vi đều không thật. Có người cho rằng bốn câu kệ trong kinh Kim Cang nói là bốn câu này, rồi lại ghi chép bốn câu này lên tường lên vách để nói lên bốn câu này là quan trọng, là sâu sắc. Điều này là rất sai lầm. Bốn câu này chỉ nói lên nghĩa vô thường của các pháp hữu vi mà thôi. Như quyển kinh này là pháp hữu vi nên quyển kinh này là không thật nên đừng chấp vào kinh văn này. Và bốn câu này như một que diêm, một mồi lửa dùng để đốt quyển kinh này, đốt rồi thì không còn chấp nữa.

     

    Đây là chỗ giải quyết sau cùng của người giảng dạy trong Phật pháp, phải đạt được trình độ này mới là siêu chứ không phải dạy rồi là bắt người đem kinh về đóng lại mạ vàng, cất kỹ  một cách trân trọng…Dạy như vậy là làm nặng nề cho người, làm cho người chấp về kinh mà không thấy rằng kinh này dù rất hay thì vẫn là pháp hữu vi, là giả mà thôi. Đa phần không hiểu được vậy lại trân trọng bốn câu này để thay cho quyển kinh Kim Cang thì thật là lầm. Thay vì que lửa dùng để đốt kinh này, mình lại đem que lửa dán lên, chưng lên vách nhà làm cháy luôn cái nhà. Như vậy cái điều mình phải ngộ lại không ngộ được, muôn đời không ngộ được. Đã nói tìm Như Lai không nên tìm ở trên sắc, trên thinh mà kinh này thuộc sắc mình lại mò ở trên nó thì không mò được. Kinh chỉ là phương tiện tạm thời để phá đi những cái chấp bấy lâu nay của mình thôi, chứ nó không phải là Đạo, không phải là Bồ Đề, không phải là cái giác ngộ. Tìm cái giác ngộ ở trên kinh là không có.

    Bởi vậy Nguyễn Du đã đọc kinh này hàng ngàn lượt nhưng không hiểu được chỗ thâm áo của kinh, mãi đến khi đứng trước đài đá chia kinh, không còn quyển kinh nào trên đó. Người cũng không, kinh cũng không chỉ còn một bàn đá rêu phong cùng tuế nguyệt thì Nguyễn Du lại bừng ngộ về kinh Kim Cang. Nên chính kinh vô tự mới là chân kinh còn kinh có chữ này chưa phải là chân kinh. Chúng ta nương kinh có chữ để sáng ra kinh không chữ và kinh không chữ phải tìm ở ngay trong lòng mình chứ không thể tìm nơi nào khác, đó mới thiệt là Chân kinh. Còn kinh có chữ là giả nên lỡ có mất thì chẳng có gì phải tiếc, mất là duyên nó hết vì là pháp hữu vi thì như bọt như bóng, phải mất phải hư thôi. Biết vậy con đường học Đạo của mình mới thật sự tốt, với quyển kinh này mình có thể truyền rộng cho bất cứ ai mà không giữ kè kè làm của riêng, làm mất đi sự lợi ích cho người. Phải rõ tinh thần học là vậy, khéo nhận để không vướng vào văn kinh. Nhà Thiền gọi kinh là rừng sắn bìm, vướng vào không biết đường ra. Học kinh mà để kinh trói gọi là “nhiều kinh rinh không nổi”.

    Tuổi trẻ cho học nhiều kinh là hay là giỏi, nhưng không biết học thì kinh là một sự ràng buộc. Nên có những người hiểu chưa đúng thì tối kỵ đọc kinh như Thiền công án không chấp nhận học kinh. Rồi có người quá khích đem kinh ra đốt hết thì cũng không hay. Kinh không có lỗi, chúng ta biết học, biết đọc thì kinh rất hay. Nhiều khi do chúng ta không biết dạy kinh khiến người dính mắc vào kinh, người nặng về sách vở, đó là điều đáng trách. Còn cho kinh là một sự ràng buộc, không chịu học cũng là điều đáng tiếc. Như với kinh này mà chúng ta không học thì có biết bao chuyện mình không biết.Nhờ học kinh mà sáng ra việc tu của mình và từ tu chúng ta sáng ra kinh.

    Đến một lúc chúng ta tu tốt thì nhìn lại kinh mình thấy rõ mồn một hết, chỗ nào đúng với Phật, chỗ nào chưa đúng còn thiếu sót mình biết, coi như chúng ta đọc kinh là duyệt lại sách chứ không phải là học nữa. Kinh sách nhà Phật cũng rất mông lung có nhiều kinh điển không phải Phật nói mà do người sau biên chép, có những chỗ do lỗi của người chép kinh chưa được thông suốt. Nhưng phải nói rằng  kho tàng kinh sách của nhà Phật là một kho tàng văn hóa của nhân loại cho nên kinh sách phải được trân trọng chứ không phải là đồ bỏ.

    Muốn viết được một quyển kinh như thế này đâu phải là dễ nên nó là một thứ văn hóa của nhân loại, giúp chúng ta thấy ra được tâm hồn sâu thẳm của con người.

    Những bản văn diễn ra được tâm hồn con người thì đó là những bản văn rất hay. Về thủ thuật diễn đạt rất tốt, từ chỗ vô hình không ai thấy biết mà diễn lại cho người thấy được thì phải nói đó là một môn học rất là

     

    tuyệt vời nên phải trân trọng đừng có coi thường. Có điều cũng phải theo kinh này để mà hiểu là chớ chấp vào văn tự.

    Cho nên người xưa nói rằng :

    - Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết.

    Kinh nói sao mình theo đó mà hiểu y chang là “oan cho chư Phật ba đời”, là mình không hiểu được ý kinh. Rồi cho kinh là sai, sửa lại theo ý mình thì là: “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Một chữ kinh mà mình sửa lại không khéo trở thành ma nói, không phải là kinh văn nữa. Bởi vì cõi Tâm không phải là một thứ vật chất mà mình lại bằng ý nghĩ vật chất để diễn tả về cõi Tâm thì trật hết. Biết sử dụng kinh văn sẽ có lợi cho mình và có lợi cho người còn không biết sử dụng, cố chấp về một mặt nào đó thì sẽ có hại cho mình, có hại cho người. Vì vậy kinh văn cũng là một con dao hai luỡi, không biết dùng xài thì sẽ đứt tay, còn biết dùng xài thì sẽ có lợi vô cùng.

    Như với kinh Kim Cang nổi tiếng là kinh phá chấp nên có những vị học kinh này rồi đụng đâu phá đó mà không hiểu được chỗ cần phải đập phá là như thế nào. Chỉ hiểu sự đập phá trên hình tướng, trên những cái gọi là âm thanh sắc tướng rồi đến chùa phá các vị trụ trì là tu mà còn chấp tướng, chấp âm thanh thì đó là chuyện không phải. Ở đây là phá những cái chấp ở nơi ta chứ không phải phá những cái chấp ở nơi người. Chúng ta có giỏi thì phá những cái chấp ở mình. Đem những cái chấp nơi mình ra mà phá chứ đừng phá người ta.

    Chúng ta biết nghĩa Kim Cang là phá, là năng đoạn về những vô minh si ám, năng đoạn những khổ đau ở nơi mình chứ không phải năng đoạn ở người, ở bên ngoài. Đừng nhầm lẫn như vậy.

    Nên người hiểu kinh Kim Cang rồi thì năng đoạn những si ám nơi mình, năng đoạn cái Ta đây ở nơi mình. Người càng hiểu kinh Kim Cang chừng nào thì càng dễ thương, càng dễ chịu chừng nấy vì cái Bản Ngã, cái Ta đây không còn.

    Còn mình nói ra mà bị người ghét, dùng kinh này để phá người khiến người không có cảm tình là vì mình vươn cái Ta đây cái Bản Ngã mình ra. Đó là cái sai lầm của người học về kinh Kim Cang, hiểu không đúng về kinh Kim Cang.

    Người thật sự hiểu về kinh Kim Cang là người phải mất tiêu về Bản Ngã về cái Ta đây. Còn phình trướng cái

     

    Bản ngã, phình trướng cái Ngũ uẩn của mình ra, người vậy là không thông suốt về Bát Nhã cũng không thông suốt về Kim Cang. Không hiểu về Tâm Bồ Đề, không biết rằng ở trong Tâm Bồ Đề vốn không một vật, không mình, không người thì đâu có đập phá ai. Nên phải cẩn thận về điều này.

     

    '' Văn kinh:

     Đức Phật nói kinh này rồi, trưởng lão Tu Bồ Đề và các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, tất cả Trời, Người, A tu la… trong  thế  gian  nghe  những  lời  giảng  dạy của Đức Phật, đều lấy làm hoan hỉ, tin nhận vâng theo tu hành.

     Đức Phật nói kinh này rồi, các hàng thính chúng đều tin nhận vâng theo tu hành.

    Buổi học hôm nay đến đây là viên mãn, mong rằng các vị nhận thức được TÂM Như Lai ở nơi chính mình để gọi là phát Tâm Bồ Đề.

    Những kinh văn này thỉnh thoảng chúng ta cũng nên đọc lại để có thể thấy rõ hơn. Kinh đọc một lần chưa thấm đâu, phải đọc nhiều lần và vừa đọc vừa công phu như Nguyễn Du đã ra công đọc cả ngàn lượt. Chúng ta mới đọc qua có lần này thì cũng nên chịu khó thỉnh thoảng đọc lại, mình sẽ thấy có sự mới lạ hơn và khi có sự giác ngộ nào đó thì nhìn vào văn kinh chúng ta sẽ rõ ràng hết, không còn gì là khó hiểu nữa. Vì kinh là diễn tả cái Tâm mà cái Tâm mình đã nhận ra rồi thì dòm lại kinh mình sẽ hiểu rất là rõ ràng.

     

     

    Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

     Nguyện đem công đức này

     Hướng về khắp tất cả

     Đệ tử và chúng sinh

     Đều trọn thành Phật đạo.

     

Mục lục

Kinh Kim Cang giảng giải
  • 1. DẪN KHỞI KINH KIM CANG
  • 2. XUẤT XỨ
  • 3. II. GIÁ TRỊ KINH
  • 4. III. CÁC BẢN DỊCH KIM CANG TỪ PHẠN SANG HÁN :
  • 5. CÁC BẢN CHÚ GIẢI KINH KIM CANG Ở TRUNG HOA :
  • 6. KINH KIM CANG VÀ 32 TIÊU ĐỀ CỦA THẾ TỬ CHIÊU MINH CON VUA LUƠNG VÕ ĐẾ SOẠN
  • 7. CÁC BẢN KINH KIM CANG DỊCH VÀ GIẢNG CHÚ Ở VIỆT NAM :
  • 8. TỰA KINH
  • 9. ĐẠI Ý KINH KIM CANG
  • 10. BỐ CỤC
  • 11. TIỂU SỬ DỊCH GIẢ PHẠN– HÁN:
  • 12. KINH KIM CANG
  • 13. KINH KIM CANG giảng giải
  • 14. 9 LOẠI CHÚNG SANH
  • 15. TỨ TƯỚNG ( Phần 1)
  • 16. TỨ TƯỚNG ( Phần 2)
  • 17. TỨ TƯỚNG ( Phần 3)
  • 18. TỨ TƯỚNG ( Phần 4)

Tìm kiếm

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 98710
  • Online: 36