Kinh Kim Cang giảng lục

01/05/2017 | Lượt xem: 4

Danh mục: Kinh

KINH KIM CANG

BÁT NHÃ BA LA MẬT

- - - ›vš- - -

LƯỢC DẪN

 

Hôm nay chúng ta học qua bộ kinh Kim Cang Bát nhã Ba La Mật, đây là bộ kinh có tinh thần phá chấp rất cao, rất mạnh, cho nên bộ kinh này rất hợp với nhà Thiền; do vậy từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền pháp cho Tổ Huệ Khả và truyền cho Bốn quyển kinh Lăng già, ngài dạy sau này nương đó để truyền pháp, nhưng đến Ngũ Tổ thì lại truyền dạy Kinh Kim Cang Bát nhã này. Bởi vậy từ kinh Kinh Kim Cang Bát nhã thì Lục Tổ nghe và được tỏ ngộ. Sau này ở Việt Nam vua Trần Thái Tông cũng đọc Kim Cang, rồi ngài cũng được tỏ ngộ. Vì vậy bộ kinh này quý vị nghe kỹ, đọc kỹ sẽ thấy được tinh thần nhà thiền sáng tỏ thêm. Ở đây trước khi vào phần chánh văn, cũng nói sơ lược bộ kinh này cho quý vị hiểu rõ. Nguyên bản bộ Kinh Kim Cang này bằng chữ Phạn, khi truyền qua Trung Quốc các vị dịch ra tiếng Trung Quốc, trong đó có tất cả 6 bản dịch:

- Bản thứ nhất: - Đời Dao Tần có Ngài Cưu Ma La Thập, dịch tại chùa Thảo Đường Trường An vào niên hiệu Hoằng Thủy thứ tư, khoảng năm 401, đây là bản thông dụng thường dùng, chúng ta đang học bản này.

- Bản thứ hai: - Vào đời Ngụy, Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào khoảng 508 và đề tên là Kim Cang Bát nhã Ba La Mật.

- Bản thứ ba: - Vào đời Trần, có ngài Chân Đế dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6.

- Bản thứ tư: - Vào đời Tùy, có Ngài Đạt Ma Cấp Đa, dịch vào đầu thế kỷ thứ 7.

- Bản thứ 5: - Vào đời Đường, Ngài Huyền Trang dịch, nhưng ngài không dịch riêng mà dịch chung trong bộ Đại Bát nhã, mà bộ Đại Bát nhã gồm 600 quyển, trong 600 quyển đó có chia ra làm 16 hội, bộ kinh Kim Cang nằm trong hội thứ 9, quyển 577 chữ Hán.

- Bản thứ 6: - Vào đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh dịch vào khoảng thế kỷ thứ 8, nhưng ngài Nghĩa Tịnh lại đề tên là Phật Thuyết Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Từ tiếng Phạn dịch ra tiếng Trung Quốc có 6 bản như vậy. Về sau, từ các bản dịch này thì các vị mới sớ giải, chú thích, giảng giải ra rất nhiều. Sang Việt nam cũng có nhiều vị dịch và giảng giải, để thấy tầm quan trọng của bộ kinh này được nhiều người chú ý trong nhà Phật. Học kỹ bộ kinh này, sẽ cởi mở được nhiều tình chấp cho mình mà trí Bát nhã cũng sáng lên nữa. Nếu đủ túc duyên thì nghe được bộ kinh Kim Cang này, có khi cũng sáng tỏ như vua Trần Thái Tông thì hay thêm. Đó là nói qua bộ kinh.

  • 1. GIẢI ĐỀ KINH

    GIẢI ĐỀ KINH


    Trước khi vào kinh, giải về tên kinh trước. Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Ba La Mật Đa, Kim Cang Bát nhã Ba La Mật là tên riêng, còn Kinh là tên chung. Bởi vì tất cả kinh Phật đều có tên chung là “kinh”; song trong cái chung đó, có tên riêng là tên bộ kinh, như ở đây gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, còn những bộ kinh khác như là Pháp Hoa, Duy Ma Cật, đó là những tên riêng. Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La Mật là chỉ cho pháp. Như vậy bộ kinh này dùng hai thứ “dụ-pháp” chung nhau để thành đề kinh, vừa có dụ vừa có pháp. Bởi trong các đề kinh của kinh Phật thì có những kinh dùng dụ, dụ riêng thôi để đặt thành tên kinh; có kinh chỉ dùng pháp để đặt thành tên kinh; có kinh dùng người để đặt thành tên kinh, còn có những bộ kinh dùng cả ba vừa dụ vừa pháp vừa người, có kinh dùng dụ và pháp, có kinh dụ với người, có kinh thì người với pháp, bao nhiêu đề kinh chung lại cũng không ngoài những phần này. Kinh lấy dụ đặt tên là kinh gì? Là kinh Phạm Võng. Phạm là Phạm thiên, Võng là cái lưới, dụ cái lưới trời phạm thiên để chỉ cho kinh này.

    Còn kinh lấy người đặt tên là kinh gì? Như kinh Phật thuyết A Di Đà. Lấy pháp đặt tên kinh là kinh Đại Bát Niết bàn, Đại Bát Niết bàn là chỉ cho pháp thôi. Kinh chung cả dụ-người-pháp là kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đại phương Quảng đó là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm là dụ. Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm là đủ vừa người vừa pháp vừa dụ. Kinh dùng người và dụ như kinh Như Lai Sư Tử Hống; Như Lai là người, Sư Tử Hống là dụ. Kinh dùng người và pháp như kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện; Địa Tạng Bồ Tát là người, Bổn Nguyện là pháp, dùng người và pháp làm đề kinh. Kinh dùng pháp và dụ như kinh Pháp Hoa, nói đủ là Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là Pháp, Liên Hoa là dụ; cũng như kinh Kim Cang này, Kim Cang là dụ, Bát nhã Ba La là pháp, vậy kinh này là vừa dùng dụ vừa dùng pháp để làm đề kinh.

    Tại sao kinh này lại lấy Kim Cang làm ví dụ?

    Bởi vì theo cái hiểu của người xưa thì, Kim Cang có tính chất cứng chắc, bén, sáng; sáng, bén, cứng chắc dụ cho trí Bát nhã cứng, bền, chắc, dù cho ở trong chúng sanh, ở trong vô minh nhưng Bát nhã vẫn không mất, không có biến đổi; khi mình tu hành công phu tương ứng liền phát minh ra, trí Bát nhã vẫn sẵn đó chứ không biến đổi đi đâu hết; và chính trí Bát nhã đó, có công năng phá vỡ các tình chấp của mình, soi sáng tất cả vô minh. Bởi tình chấp của chúng ta, nó chắc, nó cứng, khó phá, thành ra những trí thường khó phá nổi, phải dùng trí Kim Cang mới phá nổi; cũng như những món đồ cứng chắc thì những vật thường không phá nổi, phải dùng Kim Cang mới phá nổi. Kim Cang này, như trong các kinh thường nói đến Kim Cang Lực sĩ, các vị hộ pháp hay cầm Kim Cang bảo sử, tức là cái chày báu bằng Kim Cang, nếu không khéo thì các ngài dùng cái chày đó đập là nát hết. Ở đây cũng vậy, phải dùng trí Kim Cang Bát nhã thì mới phá hết tình chấp của chúng sanh, chứ còn trí thường thường khó phá nổi. Tình chấp là gì? Tức là những tình chấp ngã, chấp pháp. Vì cái chấp ngã, chấp pháp đó, mà mình mê lầm luân hồi trong dòng sanh tử này không dừng được; nếu không có trí Bát nhã thì khó phá nổi. Vậy tình chấp ngã là cái gì? Chấp ngã, là chấp trong thân 5 uẩn của ta, có một cái ngã, có một linh hồn trường tồn bất biến mãi mãi để hưởng thọ những cái khổ, những cái vui ở trên thế gian này. Bởi vậy bao nhiêu việc làm, bao nhiêu hành động, tạo tác bao nhiêu thứ nghiệp lành, nghiệp dữ ở trên thế gian này, cũng vì cái ngã này, dồn vào cái ngã này chứ không có gì khác; nếu không có nó thì mình cũng không tạo nghiệp này, nghiệp kia làm chi. Tạo thành nghiệp này, nghiệp kia là vì nó, thí dụ như siêng năng học hành để tạo thành danh tiếng tốt, địa vị cao trong xã hội, là để làm gì? Là để cho cái ngã này nó hưởng, rồi mưu mô tính toán bao nhiêu thứ lấy cái lợi về cho nó, giành giựt đâm chém giết hại cũng vì cái ngã đó. Nói chung bao nhiêu thứ tạo nghiệp cũng vì cái ngã này chứ không gì khác. Sau khi sắp bỏ thân này thì tìm thân khác để cho nó có chỗ nương, sợ nó không có chỗ nương! Nhưng bây giờ hỏi lại, xét cho thật kỹ thì cái ngã đó là gì? Chỉ không ra nổi! Chỉ cái thân là cái ngã cũng không được; còn tâm thì, tâm cũng sanh diệt, thành ra cái ngã mà mình chấp, nghĩ rằng có nó để làm chủ thể trong tất cả mọi việc làm, mọi sự sống của mình, đó chỉ là khái niệm. Khái niệm tưởng tượng có một cái đó để cho mình chấp, mình sống; nếu dùng trí quán cho kỹ thì nó không có thật, không là gì hết. Cho nên nhờ trí Bát nhã mình mới thấy suốt được những tình chấp đó.

    Còn chấp pháp là cái gì? Thường gọi hàng nhị thừa thì phá được cái chấp ngã của 5 uẩn này, không thấy 5 uẩn này có cái ngã thật; nhưng lại còn thấy có pháp 5 uẩn là thật, tức là 5 ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức không có cái ngã thật rồi, song lại thấy năm ấm là có thật. Nghĩa là không có cái ngã thật trong thân 5 ấm mà có pháp sanh tử là thật; không có cái ta thật, nhưng có sanh tử thật; bởi vậy mới sợ sanh tử, mới chán sanh tử mà cầu Niết bàn. Như vậy, thấy có pháp sanh tử thật đáng sợ để cầu Niết bàn thì sao? Tức bị nó trói, bị pháp sanh tử trói. Thấy nó thật tức nhiên bị nó trói. Không nghi ngờ. Vướng mắc như vậy, rồi càng cố bỏ chừng nào thì càng bị nó kéo chừng ấy; vì còn bị dính vào nó nên có cầu Niết bàn, bỏ cái này cầu cái kia cũng còn nằm trong lấy bỏ, thì cũng thuộc về trí sanh tử, còn có sanh diệt. Do đó phải nhờ có trí Kim Cang Bát nhã này, mới có thể phá được hai tình chấp: - chấp ngã và chấp pháp. Bởi nếu trừ chấp ngã mà còn chấp pháp thật thì tất nhiên mình thấy ngoài tâm có cái pháp thật rồi, ngoài tâm có pháp thật thì bị nó che mờ tánh của mình, bản tâm của mình; cho nên không thấy được Phật tánh, không thấy được bản tâm.

    Như vậy ở đây nói, dùng trí Kim Cang dụ cho Bát nhã phải cứng, chắc, bền, sáng để soi phá tình chấp đó, nó mới sạch hết. Đó là nói về Kim Cang. Còn Bát nhã, dịch là trí tuệ, nhưng các Ngài từ xưa không dịch ra suông là trí tuệ, mà các Ngài thường nói là trí tuệ Bát nhã, hoặc là trí Bát nhã, như vậy là sao? Bát nhã dịch là trí tuệ suông thì chưa đủ ý nghĩa, mà các Ngài thường nói chung là trí tuệ Bát nhã hoặc là trí Bát nhã, để người đời không có lầm; vì ở thế gian thì những người thông minh, sáng suốt cũng gọi là trí tuệ, họ cũng chấp là có trí tuệ, nếu mình dịch trí Bát nhã ra là trí tuệ thì người ta lại nghĩ rằng, trí tuệ này người thế gian cũng có, vậy cần học Phật pháp làm gì? Thành ra họ lầm trí Bát nhã với trí tuệ của thế gian; vì vậy các Ngài không dịch suông là trí tuệ, mà nói đủ là trí tuệ Bát nhã. Vậy trí tuệ này là ở đâu? Trí tuệ thế gian, thường mình nói nó ở trong đầu mình, ai có đầu óc thông minh là có trí tuệ, và như vậy trí tuệ thế gian là do học hỏi huân tập mà có, đó là trí sanh diệt; mà có sanh có diệt là trí tuệ vô thường, không có bền bĩ. Trái lại trí Bát nhã này là ở ngay nơi tự tánh sáng suốt của mình, bởi vậy ai ai cũng đều có đủ hết không phải do mình học mới có, hoặc do ai ban cho mình mới được, cũng không phải do ngồi mà sanh. Có vị nói ngồi thiền để mở sáng trí tuệ, khiến có người ngồi tưởng tượng ra Phật hoặc Thánh xuống ban cho mình trí sáng suốt, đó là tưởng tượng không phải. Cho nên ngồi thiền mà tưởng có điện truyền xuống thì đó là nguy rồi, đó không phải là trí Bát nhã thật đâu; mà cái này chính ngay nơi tự tánh mình phải tự ngộ, tự thầm mình nhận thôi, chứ không phải ai ban cho được. Như vậy bao nhiêu cái học hỏi bên ngoài đối với trí Bát nhã này cũng không có dính gì hết, những cái đó thuộc về kiến thức, kiến giải vay mượn, đối với Bát nhã chưa dính. Cho nên Ngài Hoàng Bá nói: “- Bát nhã là Huệ, huệ này là bổn tâm vô tướng”, tức là cái tâm sẵn có nơi mình, không hình không tướng; bởi vậy mình không thể thấy được mà không phải không thấy được, không phải không có gì hết; vì có ngay nơi bản tâm mình nên khéo tu thì sẽ thầm nhận nơi mình nó có đủ, chứ không thể cầu để thấy được nó, nếu mà cầu thấy được nó là thấy được cái gì đó chứ không phải là Bát nhã rồi. Vì vậy ngồi thiền thấy ánh sáng này, ánh sáng kia là nguy, tưởng đâu đó là trí tuệ thì lầm to!

    Quý vị đọc kinh Pháp Bảo Đàn thì thấy Lục Tổ vừa là anh chàng tiều phu quê mùa, vừa là dốt chữ; vừa quê vừa dốt chữ chưa từng học kinh Kim Cang, nhưng khi đi bán củi thoạt nghe người tụng kinh Kim Cang liền tỉnh ngộ, vậy cái đó ai dạy Ngài? Quê dốt chưa từng học kinh Kim Cang lần nào, chưa từng biết nửa chữ mà vừa nghe liền tỉnh ngộ, như vậy cái đó là cái sẵn nơi mình cho nên khi nó gợi lại đúng lúc liền sáng ra. Do đó không phải học hỏi nhiều mà được, thông minh lanh lợi mà được, chưa chắc, nhiều khi thông minh lanh lợi dễ thành chướng nữa. Bởi khi thông minh lanh lợi thì chấp rằng ta thông minh lanh lợi, bám vào thông minh lanh lợi đó thì tăng thêm chấp ngã, càng che khuất Bát nhã thêm, trái lại phải khéo soi lại nơi tự tâm của mình mới là người thông đạt, còn hướng ra ngoài để tìm học thì có lúc càng học càng xa.

    Trong nhà thiền, Ngài Đức Sơn Tuyên Giám trước khi làm vị tổ, Ngài là một vị giảng sư kinh Kim Cang rất giỏi, cho nên thường được gọi là Chu Kim Cang; tức Ngài họ Chu, người ta tôn xưng Ngài, vì Ngài giảng kinh Kim Cang giỏi nên gọi như thế. Ngài nghe ở miền Nam thiền tông hưng thạnh, mà thiền tông lại chỉ dạy là “Kiến tánh thành Phật”; Ngài tức mình, học theo kinh giáo thì tu hành thành Phật phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp, tạo bao nhiêu công đức mới được thành Phật, còn trong nhà thiền nói tức tâm, tức Phật nghe không chịu nỗi, ngài cho là bọn ma, nên mới quảy bộ sớ sao kinh Kim Cang đi về phương Nam, quyết vào tận hang ổ của bọn ma, phá dẹp bọn ma đó!

    Giữa đường, gặp bà già bán bánh, Ngài định hỏi mua bánh điểm tâm, bà thử lại, bà hỏi:

    - Ngài quảy cái gì ở trên vai đó?

    Ngài nói:

    - Đây là bộ Thanh Long sớ sao, tức là bộ sớ giải về kinh Kim Cang, thì bà già này nói:

    - À! Vậy thì tôi xin hỏi thầy một câu, nếu thầy đáp được thì tôi xin cúng dường bánh luôn khỏi lấy tiền, nếu thầy đáp không được thì xin mời thầy đi nơi khác.

    Bà dùng câu trong kinh Kim Cang để hỏi, trong kinh Kim Cang nói là:

    - Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Tức là tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được, như vậy thì thầy điểm tâm là điểm tâm nào?

    Ngài trả lời không được. Đã từng giảng kinh Kim Cang mà bị một bà già bán bánh hỏi trả lời không được thì sao đây? Vậy quý vị thấy, trí Bát nhã nằm ở chỗ nào? Để thấy rằng, học hiểu không phải là Bát nhã thật, nếu ngài khéo ngay khi bà già hỏi như vậy đó thì tâm quá khứ qua rồi, vị lai chưa đến, tâm hiện tại luôn luôn không dừng, tức ba tâm đều là tâm hư vọng, không có thực, như vậy ngay nơi “niệm hiện tiền” nhận ra thì quá hay, quá khéo. Nhưng Ngài nghe hỏi như vậy, Ngài cũng theo câu hỏi đó suy nghĩ về tâm quá khứ, hiện tại và vị lai, đó là chạy theo câu hỏi mà quên mất niệm hiện tiền sáng tỏ ngay đây, do đó đáp không trôi; chứ nếu khéo thì Bát nhã ngay nơi mình sáng tỏ rồi, đâu phải nhọc nhằn quảy gói lên ngài  Sùng Tín. Vì vậy lên tới Long Đàm Sùng Tín, rồi theo hầu ngài, một đêm hầu quá khuya, ngài Sùng Tín bảo:

    - Thôi tối rồi, ông xuống đi!

    Sư bước ra ngoài, rồi bước vào thưa:

    - Bên ngoài trời tối đen.

    Tối đen cũng có hai nghĩa; tối khuya thì ra ngoài tối là một nghĩa, mà “cái tối đó” là con cũng còn đang tối đen nữa. Ngài Sùng Tín nói:

    - Tối thì ta đưa đèn cho!

    Ngài mới đốt cây đèn giấy đưa cho, Đức Sơn mới vừa đưa tay tiếp thì Sùng Tín thổi tắt cái phụt, ngay đó Sư liền sáng tỏ, chính đó mới là Bát nhã hiện. Như vậy Bát nhã đó, là ngay nơi mình chứ không từ nơi ngoài, ông thầy cũng chỉ là phương tiện thôi. Cho nên đưa đèn thì liền tiếp, vừa tiếp thì thổi liền, để thấy Bát nhã tự ngay nơi mình sáng lên đó mới là thật. Vậy Bát nhã đó có hình tượng gì? Không có hình tượng gì cho thấy hết, vì vậy trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy: “- Bát nhã thì không hình không tướng, tức là tâm trí tuệ, nếu khởi hiểu như thế đó là trí Bát nhã”, còn tìm về bên ngoài là thuộc về trí sanh diệt của thế gian. Đây dẫn qua câu chuyện của nhà thiền để quý vị thấm sâu hơn, nếu hiểu ngay thì càng tốt, còn nghiệm kỹ thì càng sâu.

    Có một vị tăng đến hỏi ngài Tào Sơn :

    - Thế nào là cây kiếm không mũi?

    Thường thường kiếm thì có cán, có mũi nhưng ông tăng này lại cắc cớ hỏi thế nào là cây kiếm không mũi.

    Ngài Tào Sơn đáp ngay :

    - Chẳng do rèn luyện mà thành.

    Cây kiếm này chẳng do nung nấu, tôi luyện mà thành được, vậy quý vị thấy cây kiếm đó chưa? cây kiếm đó không phải bằng sắt, bằng thép, bỏ vào lò tôi luyện, mà chính là cây kiếm “không hình không tướng” Lục Tổ muốn nói ở trên. Cây kiếm đó không cán, không mũi; còn cây kiếm có cán, có mũi thuộc về hình tướng, có lúc phải hoại; trái lại cây kiếm này không có hình tướng nên không do tạo tác mà thành, có tạo tác thì mới có sanh diệt, cây kiếm này không do tạo tác thì sanh diệt bám vào đâu.

    Vị tăng hỏi:

    - Tác dụng của nó như thế nào?

    Ngài Tào Sơn liền đáp :

    - Người gặp liền chết.

    Quý vị thấy chỗ đó chưa? Cây kiếm này bất cứ cái gì gặp nó phải tan hết! Bát nhã thì đâu có cái gì đối địch được, phải không? Nó phá sạch hết, nhưng mà ông tăng này hỏi lại:

    - Người gặp đều chết, người chẳng gặp thì sao?

    Ngài đáp:

    - Cũng rơi đầu luôn.

    Chỗ này mới khó hiểu, gặp thì chết phải rồi, không gặp làm sao rơi đầu. Không gặp thì rơi chỗ nào? Bởi vì gặp và không gặp là hai bên đối đãi, mà cây kiếm này nó không nương cho niệm phân biệt đối đãi, có niệm phân biệt đối đãi là đối với Bát nhã này không có chỗ đứng. Vì vậy Bát nhã này phá sạnh hết những niệm phân biệt đối đãi nên người gặp cũng chết, không gặp cũng chết, phá sạch hết.

    Nhưng ông tăng lại hỏi:

    - Người gặp chết là cố nhiên rồi, người chẳng gặp làm sao cũng rơi đầu?

    Tào Sơn bảo:

    - Ông chẳng thấy nói “hay sạch tất cả” sao?

    Tức là cây kiếm này nó hay quét sạch tất cả dù gặp hay chẳng gặp, có đối đãi đều dứt hết, nhưng tới chỗ đó phải là chỗ rốt ráo chưa?

    Ông tăng hỏi thêm:

    - Sau khi sạch hết thì thế nào?

    Tào Sơn đáp:

    - Mới biết có cây kiếm này.

    Đó là câu đáp rất hay, nhiều khi mình cũng dễ bị lầm lẫn, tu phá hết tình chấp, không có chấp ngã chấp pháp, cái gì cũng sạch hết thì thành ra không ngơ sao? Thành ra không biết sao? Cho nên ở đây khi sạch hết tất cả tình chấp, những niệm phân biệt thì, Bát nhã hiện tiền chứ không phải đến đó rồi không còn gì hết, không biết gì hết; mà Bát nhã hiện diện thì sẽ thấy khắp tất cả, biết rõ tất cả, không có thiếu sót cái gì. Vì vậy học Bát nhã, mình khéo học như vậy, mới tin chắc nơi mình đầy đủ “trí sáng suốt rõ biết hằng hữu” không bao giờ mất. Lâu nay có những vị nói rằng: mình tu hoặc học tụng kinh Pháp Hoa thì nó mới mát mẻ, nhà cửa tươi sáng, còn tụng học kinh Kim Cang thì nhà cửa cây cối nóng nảy, khô héo. Nếu như vậy thì học Bát nhã có hại chứ không có lợi, vì nhà cửa nóng nảy, cây cối khô héo hết, đó là hiểu lầm quá lớn! Kinh là lời Phật dạy để cho mình mở sáng trí tuệ, nhưng có những vị sợ Bát nhã nên nghe nói học kinh Kim Cang Bát nhã liền ngăn, bảo học Bát nhã dễ chấp “không” lắm! Nhưng Bát nhã dạy mình chấp không, thì có phải là Bát nhã chưa? Nếu Phật nói kinh Bát nhã khiến cho mình chấp không thì đâu thành kinh Bát nhã! Bát nhã là phá chấp, cho nên như ở trên đã nói “người gặp cũng chết, người không gặp cũng chết”, là sạch hết tất cả tình chấp chứ đâu gọi là chấp không, mà chấp không thì đâu có thể gọi là Bát nhã được. Chỉ do mình hiểu lầm, hiểu sai lệch về Bát nhã, mình mới chấp không, mà chấp không là trái với Bát nhã chứ đâu phải là học Bát nhã. Đó là những cái hiểu lầm, nếu mình không có nghiên cứu kỹ, không tìm hiểu kỹ thì cũng dễ bị nó lung lay, nghe nói rồi không dám tụng Kim Cang Bát nhã, không dám học Bát nhã. Nếu hiểu kỹ, chính học xong Kim Cang Bát nhã thì trí tuệ mình càng tỏ sáng và mới dễ huân tập thêm chủng tử giác ngộ nơi mình. Phải rõ kinh Kim Cang Bát nhã là phá hết những tình chấp có và chấp không, nhớ kỹ như vậy!

    Thông thường Bát nhã có chia ra ba thứ: – Văn tự Bát nhã – Quán chiếu Bát nhã – Thật tướng Bát nhã. Ở đây mình học, nghe giảng rồi đọc trong kinh đó là văn tự Bát nhã. Nhờ nghe đọc, rồi soi sáng lại mình để sống với lý thật, đó là Quán chiếu Bát nhã, chứ nếu chỉ nghe suông, đọc suông thì chưa quán chiếu, chưa sáng được. Ví dụ như ở trong kinh Bát nhã mình sẽ học tới phần có nói về bố thí  mà không trụ tướng, tức không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, buông xả hết không dính vào sáu trần, nếu chỉ học nghe thôi thì Bát nhã chưa sáng. Phải nghe, rồi ứng dụng thường soi sáng lại mình, để đối với các trần mình bớt các niệm dính mắc, bớt các niệm chấp trước đó mới gọi là sức quán chiếu Bát nhã. Khi sức quán chiếu thuần thục, đầy đủ thì chân thật bất sanh bất diệt hiện tiền, chứng ngộ rõ ràng, đó là thật tướng Bát nhã, đến đây mới thật đầy đủ; nếu mà mình chỉ nghiêng về một bên thì chưa thấy tột Bát nhã. Cho nên có thí dụ: cũng như mình đi qua sông thì bước xuống thuyền, nhưng xuống thuyền mà chưa qua bờ kia được, phải chèo, chèo rồi qua bờ bên kia; song cứ đứng đó hoài thì cũng không đi đâu được, cũng mắc kẹt tại đó, chưa có tự tại; phải bước lên bờ bỏ thuyền đó- chứ lên bờ vác thuyền theo thì mệt nữa, cần bước lên bờ bỏ thuyền, mới đi tự do tự tại được. Cũng vậy văn tự Bát nhã giống như bước xuống thuyền, xuống thuyền mà đứng hoài thì cũng không đi tới đâu hết, phải dùng quán chiếu Bát nhã là bơi thuyền, mới qua được bờ bên kia. Nhưng qua bờ bên kia rồi mà đứng đó hoài cũng mắc kẹt, tức là mình quán chiếu mà cứ mắc kẹt trong đó hoài ắt không có sống thực được chân thể bất sanh bất diệt nơi mình. Nếu quán chiếu hoài thì mắc kẹt trong đối tượng quán chiếu thôi; có quán chiếu thì có đối tượng quán chiếu, tức có năng có sở, mà còn mắc kẹt trong năng sở thì chưa tự tại, phải quên năng sở mới sống thể nhập trọn vẹn  trong thể Bát nhã, mới lên bờ đi tự tại. Vậy quý vị thấy học Bát nhã, sống được Bát nhã cũng không dễ, nhưng cũng không khó, quý vị biết sao không khó chăng? Thường người ta nói cái gì khó, là cái gì đó xa xôi ngoài tầm tay với của mình, mình với không tới, cho nên gọi là khó; còn cái này là cái sẵn nơi mình, nơi tự tâm của mình, chứ không phải ở đâu khác hết. Nếu quả ở đâu mà mình với không tới, tìm không ra, và không thể tìm tới được thì mới thật khó, ví dụ mình ở đây mà bắt mình lên trời tìm học Bát nhã thì khó là phải; còn cái này ngay nơi mình, chỉ cần sống trở lại nơi mình thôi là đủ, thì đâu khó, mà khó là tại sao? Tại tập khí mê lầm của mình quen rồi, sống theo cái vọng mãi, khó ở chỗ đó. Bởi quen sống theo cái vọng nên những suy nghĩ phân biệt cũng theo đó khởi hoài, bây giờ ngồi lại bảo nó dừng, nó cũng không dừng; do đó nên phải tu tập nhiều, lâu, công phu mạnh mẽ, vững vàng mới biến khó thành dễ. Bởi vậy các vị tu hành, khi công phu khế hợp, nhận ra Bát nhã rồi, các ngài cười ngất hoặc là khóc ròng, cảm thương cho mình xưa giờ tưởng đâu là khó khăn, ở đâu đâu, như trên trời, trên mây; giờ đây chợt nhận ra, mới hay là mình sống hằng ngày đó mà bỏ quên mất, nên thương xót, tức mình khóc, hoặc là cười ngất, giống như là xưa giờ món đồ bỏ trong túi mà chạy khắp nơi tìm nhọc nhằn kêu trời, kêu khó, chợt nhớ lại móc túi ra, cười ngất! Hiểu như vậy mới thấy Bát nhã chính ngay nơi mình thôi, chỉ khéo soi sáng lại nơi mình, bớt  duyên theo bên ngoài thì có ngày Bát nhã hiện không khó. Đó là nói về Kim Cang Bát nhã.

    Ba La Mật, Trung hoa dịch là đáo bĩ ngạn, hoặc cứu cánh. Đáo bĩ ngạn là đến bờ kia, hoặc là rốt ráo viên mãn. Như vậy cái nào là bờ này? cái nào là bờ kia? Thường gọi bờ này là sanh tử, Niết bàn không sanh không tử là bờ kia; nhưng nếu Bát nhã mà còn thấy có bờ này bờ kia thì phải Bát nhã chưa? Vậy tại sao đây lại nói bờ kia? Thực ra chính ngay nơi mình vừa khởi niệm phân biệt chấp trước là bờ này, niệm ngay đây lặng lẽ là bờ kia, bờ này bờ kia ngay nơi tự tâm mình chứ không đâu khác, chẳng qua tạm chia ra hai bờ theo ngôn ngữ thông thường, chứ thật là ngay nơi tâm niệm của mình: dừng được những niệm phân biệt đối đãi lăng xăng đó thì bờ kia, còn nơi đây động niệm phân biệt là bờ này; mà khi động niệm phân biệt thì Bát nhã bị che khuất, có Bát nhã thì phá được niệm phân biệt đối đãi chấp trước, gọi là đến bờ kia. Chính trí tuệ đó mới là trí tuệ đến bờ kia, còn trí tuệ của thế gian là trí tuệ sanh diệt, cũng thuộc về bờ này, chưa gọi là đáo bĩ ngạn được. Để hiểu rõ, trí tuệ này ngay nơi tự tâm của mình nó đầy đủ, chứ không phải nghe nói có bờ này bờ kia, rồi bỏ đây tìm kia. Chính ngay khi mình mê, ở trong thân chúng sanh này, trong vô minh, cũng đầy đủ Bát nhã chứ không phải bỏ đây tìm đâu khác, cũng không phải ngay lúc vô minh đây mà mình thiếu mất. Lục Tổ nói: - Như mặt trời nó thường luôn luôn sáng không bao giờ tối, nhưng khi bị mây che thì thấy tối, song khi tối, mặt trời có mất không? Cái sáng của mặt trời có mất không? Lúc đó chỉ là cái tối ở dưới này thôi, qua luồng mây này cũng vẫn sáng, quý vị có đi trên máy bay thì thấy rõ ràng. Vậy cái tối, là do những niệm lăng xăng của mình nó che, thấy như mình không có Bát nhã, không trí tuệ, tưởng đâu như mình mất không có. Nhưng sự thật, thể Bát nhã vẫn luôn luôn thầm ẩn trong chỗ mình sống hằng ngày không có thiếu, khi phá dẹp được những niệm phân biệt đó, soi sáng tan vô minh thì rõ Bát nhã vẫn đầy đủ không mất, không bao giờ thiếu vắng. Quý vị khéo ứng dụng trong mọi việc làm, mọi hành động mà luôn luôn có Bát nhã soi sáng, tuy chưa thật tướng Bát nhã hiện tiền, nhưng quán chiếu thường xuyên không vắng mặt thì, việc làm nào cũng hợp đạo, không có chỗ nào là không có Bát nhã hiện; như vậy khi công phu của mình thuần thục thì bất cứ nơi nào, chỗ nào cũng là chỗ quý vị có thể tỏ ngộ được hết. Đọc trong Thiền Sử quý vị thấy các vị tu hành sáng đạo, cư sĩ cũng có chứ không phải chỉ riêng người xuất gia. Có ông quan ngồi trong công đường nghe tiếng sấm nổ thì cũng tỏ ngộ được.([1]) Còn các vị thiền sư, thì ngài Trí Nhàn đang làm vườn cuốc hòn sỏi văng trúng vào bụi tre vang ra thành tiếng cũng ngộ được; có vị đang xách nước, thùng nước đứt dây rớt xuống bể cũng ngộ được.([2]) Như vậy đâu đâu, chỗ nào cũng là Bát nhã, nhưng sở dĩ mình chưa ngộ được, là tại vì tâm mình có nhiều thứ lăng xăng quá. Nếu công phu miên mật, lúc nào cũng thường soi sáng thì, bất cứ đâu cũng là chỗ cơ duyên để mình sáng tỏ. Đó là nói về Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

    Còn kinh là sao? Kinh, tiếng Phạn nói đủ là Tu đa la, tiếng Hán dịch là khế kinh. Khế kinh có nghĩa là vừa khế lý vừa khế cơ. Khế lý, là luôn luôn đúng với lý giác ngộ của chư Phật, tức là dù trải qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu thời gian, vẫn không sai, vẫn đúng với lý của chư Phật, chứ không phải đúng với lúc này mà không đúng với lúc kia, cũng chưa gọi là kinh được. Ví dụ như Bát nhã này, dù là thời đại nào, ở lúc nào cũng vẫn đúng không sai. Thứ hai là khế cơ, là khế hợp căn cơ chúng sanh, tức là mọi người đều có thể theo đó tu hành đạt đến giác ngộ hết, chứ bộ kinh nói ra chỉ để thờ thôi, nghe chơi thì chưa khế cơ, mà ở đây Phật nói ra, là nói cho chúng sanh, nhưng nói ra mình không làm được gì, thì đâu có khế cơ. Nên kinh luôn luôn khế cơ. Kinh Bát nhã này chưa hiểu kỹ thì theo chữ  nghĩa thấy quá xa vời, làm không nỗi, nhưng hiểu cho suốt lý, thì ngay nơi mình thôi ai cũng có thể ngộ được Bát nhã, sáng được Bát nhã, ứng dụng được Bát nhã, chỉ có đủ lòng tin hay không, quyết tâm hay không mà thôi; chứ không phải là dành riêng cho các vị Bồ Tát, còn mình không có phần. Nếu vậy thì kinh này nói cho cõi nào, chứ không phải cõi này. Hiểu đúng như vậy, mới thấy Kim Cang Bát nhã là kinh nói cho mình, ai cũng có phần, không riêng cho ai. Tóm lại, kinh Kim Cang Bát nhã là gì? Là nói về trí tuệ Kim Cang rốt ráo đến bờ kia, nhưng đó là danh tự thôi. Hiểu cho kỹ, cái gì là kinh Kim Cang Bát nhã? Nếu nói kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, là bộ kinh mình tụng hằng ngày, thì đó phải chưa? Bộ kinh này, thời gian cũng cũ, cũng mục, có khi mối ăn, vậy có phải là Kim Cang Bát nhã chưa? Kinh Kim Cang Bát nhã là trí tuệ không hình không tướng, bất sanh bất diệt nơi tâm mình, đó mới là “quyển kinh sống”, còn quyển kinh mình đọc tụng đó chưa phải là kinh sống. Nên trong kinh Kim Cang tán thán là công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu bộ kinh để trên bàn mà nói là không thể nghĩ bàn thì khó hiểu! Cho nên học kinh Kim Cang Bát nhã, là mình sống lại với tự tâm, mở sáng trí tuệ nơi mình, đó mới là khéo học, biết học, còn chỉ học trên chữ nghĩa, hôm nay tụng được mấy bộ, có bao nhiêu chữ trong đó, thì gọi là đếm cát, nhọc nhằn vậy thôi.

    Ngày xưa ngài Trần Tôn Túc, tức Thiền sư Đạo Minh đang xem kinh Kim Cang, ông thượng thư Trần Tháo, giống như bộ trưởng bây giờ, ông cũng từng nghiên cứu thiền, đến thăm gặp và hỏi:

    - Thưa Hòa Thượng xem kinh gì vậy?

    Sư bảo:

    - Xem kinh Kim Cang.

    Ông Trần Tháo mới hỏi:

    - Kinh này là đã có lục triều phiên dịch, đây là triều nào?

    Lục triều là sáu triều phiên dịch (trước đã nói). Nếu hỏi mình thì mình sẽ đáp là triều nhà Đường, triều nhà Tần, ngài Trần Tôn Túc chỉ đưa quyển kinh lên, bảo:

    - Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn, bào ảnh.

    Quý vị thấy có lạc đề không? Hỏi xem kinh gì, đáp kinh Kim Cang; hỏi có sáu triều phiên dịch vậy triều nào… chỉ đưa quyển kinh lên... bởi vì ở đây Sư muốn chỉ quyển kinh sống chứ  không phải quyển kinh bằng giấy, bao nhiêu tờ, bao nhiêu trang đó; quyển kinh này vô thường sanh diệt, nó cũng giống như pháp hữu vi, từng trang, từng tờ giấy, do tạo tác mà thành, có lúc phải hư, phải mục, như mộng huyễn bào ảnh  thôi. Sư muốn đánh thức quyển kinh sống ngay trong tròng mắt của ông, thấy được cái đó mới thấy thật. Khi đưa lên, Sư khai thị quyển kinh sống chính ông đang nhìn đó, ngay trong tròng mắt của ông đó, cái đó phải thấy lại ngay nơi mình, còn cứ bám theo quyển kinh này là quyển kinh chết. Sư không nhọc nhằn giảng nhiều mà đã giảng xong quyển kinh Kim Cang, rất khéo. Quí vị nếu thấy vậy cũng chẳng cần học nhiều. Ngài Thập Đại nói: “- Một quyển kinh này ở trong tự tánh mỗi chúng sanh sẵn có nhưng chẳng tự thấy nên chỉ đọc văn tự, nếu ngộ được tự tâm mới biết kinh này chẳng ở văn tự. Rõ được tự tánh mới tin chư Phật đều từ tâm lưu xuất.” Nói tất cả chư Phật đều từ quyển kinh này lưu xuất, mỗi người đều có quyển kinh Kim Cang Bát nhã hết, làm sao phát minh bộ kinh này, sống với bộ kinh này thì gần chư Phật lắm, có thể đồng nắm tay Chư Tổ cùng đi. Đó là nói về đề kinh Kim Cang Bát nhã. Quý vị mới thấy mình chỉ học đề kinh thôi, mà khéo thì sống cả đời cũng không hết, như vậy cần học hết bộ không? Ở đây, ngay đề kinh thôi nếu mình khéo tin nhận, hiểu sâu thì ứng dụng đủ rồi, nhưng mà có cái tội là mình chưa khéo được vậy, nên phải học nhiều, học kỹ.

  • 2. GIẢI VỀ NGƯỜI DỊCH

    GIẢI VỀ NGƯỜI DỊCH


    Trước khi vào chánh văn, giải thích qua cho quý vị hiểu về người dịch bộ kinh Kim Cang này, bởi vì bộ kinh Kim Cang Bát Nhã mà chúng ta học ở đây là do ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, nói đủ là đời Dao Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch. Gọi Dao Tần là sao? - Đây là phân biệt đời Tần, nhưng không phải là Tần Thủy Hoàng, mà Dao Tần đây thuộc về Nam Bắc triều, nhằm triều Tấn ở Trung Quốc. Ông vua trước hết của triều này là Phù Kiên, nhân đem quân đánh nhà Đông Tấn bị bại, Phù Kiên trở về bị đại thần là Dao Trành giết chết, lên ngôi xưng là Dao Tần. Tam Tạng Pháp Sư là vị pháp sư thông cả Tam Tạng: - Kinh, Luật, Luận; bởi vì nếu người thông suốt về kinh thì gọi là Pháp sư, thông suốt về luật thì gọi là Luật sư, thông về luận gọi là Luận sư, mà ở đây ngài Cưu Ma La Thập thông suốt cả ba tạng nên gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Còn Cưu Ma La Thập là tên âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đồng Thọ, Đồng là nhỏ, còn Thọ là: Lớn tuổi, là người già. Tại sao gọi là Đồng Thọ? Bởi vì ngài là người nhỏ mà có cái đức của người lớn nên gọi là Đồng Thọ. Cha của ngài là Cưu- ma- la- diêm, người xứ Quy Tư, ông có tiết tháo rất cao đẹp, làm tướng mà bỏ ngôi tướng đi xuất gia, nhưng sau khi xuất gia rồi thì vua Quy Tư nghe tiếng tăm của ông lại thỉnh về làm Quốc Sư. Làm Quốc Sư thời gian vua lại đem người em gái gả cho, sau sinh ra ngài Cưu- ma- la- thập. Ngài tuổi nhỏ mà rất thông minh, mỗi ngày học thuộc cả ngàn bài kệ hơn cả vạn lời, 12 tuổi đã tỏ ngộ. Như vậy mình thấy chân lý không hạn ở tuổi tác, không phân biệt già trẻ. Sau khi sanh ngài ra thì bà mẹ đi xuất gia, rồi ngài Cưu-ma-la-thập cũng được bà mang theo vì còn nhỏ. Có một lần ngài theo mẹ đi tham vấn các vị Thiện tri thức ở tại ngôi chùa rất to, trong điện Phật cao lớn thì bên cạnh tượng Phật to, có để một cái bát rất lớn để cúng cơm, Ngài Cưu-ma-la-thập thấy cái bát, sanh lòng vui mừng, để tỏ lòng cung kính, ngài chạy lại ôm cái bát để lên đầu, nhưng khi ôm để lên đầu rồi thì ngài chợt động niệm, nghĩ rằng: “-Ủa! Cái bát to như thế mà làm sao ta đội được?” Tức là cái bát thì to mà ngài lại nhỏ, ngài mới động niệm cái bát to như thế thì làm sao ta đội được, nhưng khi vừa nghĩ như vậy liền cảm giác cái bát nặng đè ngài té ngã luôn. Mọi người và mẹ ngài từ trong điện Phật hoảng hồn chạy tới đỡ ngài dậy, bà hỏi: “- Con làm sao vậy?” Bà cũng không biết trường hợp ra sao, thì ngài nói rằng: “- Con sáng tỏ được đạo lý rồi!” Bà không biết nguyên do vì đâu nên bà bảo: “- Con thuật lại cho mẹ nghe, con nói gì kỳ vậy?” Ngài thuật lại là: “- Thấy cái bát to, để tỏ lòng cung kính nên con đội lên đầu, khi con đội lên, con tưởng nặng thì cái bát liền đè con té ngã luôn, do đó có thể biết nặng hay nhẹ là hoàn toàn do tâm phân biệt của chính mình, đây gọi là tất cả pháp duy tâm.” Ngài còn nhỏ như vậy mà đã tỏ ngộ, cho nên bà mẹ rất vui mừng, bà bảo: “- Thật là không ngờ, đây là đạo lý rất cao sâu của Phật pháp mà nay con đã tỏ ngộ thì con tuy còn nhỏ nhưng có thể đi hoằng dương Phật pháp được rồi đó!” Từ đó ngài bắt đầu đi giảng thuyết mấy xứ ở Tây vực, Tây Vực là mấy xứ ở gần Ấn Độ. Cho nên người ta mới tôn đức của ngài là Đồng Thọ, bởi vì còn bé mà có cái đức lớn của người già. Qua niên hiệu Kiến Nguyên thứ 15 khoảng 379, ở Trung Quốc có các vị Sa môn đi du học qua bên đó như ngài Tăng Thuần, ngài Đàm Xuân… nghe người ta ca ngợi ngài, nên khi trở về Trung Quốc cũng ca ngợi ngài, trong đó ngài Đạo An nghe được tin đó, mới khuyên ông Phù Kiên nên mời Ngài sang Trung Quốc. Qua năm Kiến Nguyên thứ 18 tức khoảng 382, Phù Kiên sai vị đại tướng tên Lã Quang đem 7 vạn quân đánh Quy Tư, nhưng ông dặn đây là đánh để thỉnh ngài Cưu ma la thập thôi, chứ không phải gì khác. Khi đó ngài Cưu ma la thập khuyên ông vua bên kia tức vua Bạch Thuần Vương nên thuận theo điều kiện của Lã Quang để tránhh đổ máu cho nhân dân. Nhưng ông Bạch Thuần Vương không chịu nghe, đem binh chống lại, rồi bị bại, Lã Quang bắt được ngài Cưu ma la thập, song không đưa về nước Tần mà giữ lại ở Cô Tân; bởi vì lúc đó Phù Kiên bị Dao Trành giết rồi, Lã Quang tự lập thành một nước là nước Hậu Lương, rồi tự xưng đế, và ông giữ luôn Ngài Cưu ma la thập. Nhưng ông này không có hâm mộ Phật pháp, nên ông giữ vậy mà ông cũng không tôn trọng gì. Qua năm Hoằng Thủy thứ 3 (401) thì Dao Hưng, con Dao Trành đem quân đánh Hậu Lương, Lã Quang đã chết, con là Lã Long lên ngôi bị thua, đầu hàng, ngài Cưu ma la thập mới được đưa vào Trung Quốc, lúc đó ngài khoảng 58 tuổi. Dao Hưng lại rất mộ Phật pháp, nên ông lễ ngài Cưu ma la Thập theo lễ Quốc Sư, rất kính trọng, cho ở tại vườn Tiêu Dao để dịch kinh giảng pháp. Một hôm Dao Hưng mới dò hỏi: - Pháp sư tài cao học rộng không có ai bằng như vậy, chỉ tiếc là 60 năm qua chưa có con nối dõi, lẽ nào để giống tốt như vậy mà mất đi sao?

    Như vậy cho thấy ông rất kính mộ Phật pháp, mà cũng còn nghĩ theo tình đời, ông nói thêm:- Tôi có hàng trăm cung phi muốn biếu cho thầy 10 vị, như vậy có thể sinh được mấy người con trai để kế tục tài trí của thầy, không biết ý thầy thế nào? Rồi ông ép ngài nhận, ngài cũng tự bảo:

    - Thường mỗi khi ta giảng thuyết thì có hai đứa bé nó leo lên hai vai ngăn cản. Hai đức bé là chỉ cho Lã Quang và Dao Hưng. Từ đó ngài chẳng ở trong tăng phòng mà lập phòng xá ở riêng. Có một số vị tăng cũng, muốn bắt chước, chứa mấy người nữ hầu; ngài Cưu ma la thập thấy vậy xót xa cho Phật pháp, bởi vì họ đâu hiểu trường hợp của ngài, cho nên ngài Cưu ma la thập triệu tập hết lại, ngài hai tay bưng hai cái bát đựng đầy những cây kim trong đó và bảo: “- Nếu các vị ở trong đây, ai có thể nuốt hết bát kim này thì mới bắt chước tôi”. Nói xong ngài đem bát kim nuốt vô bụng hết, mấy người kia thấy hoảng hồn từ đó không dám bắt chước theo. Như vậy để quý vị thấy, nhiều khi thấy người khác làm như vậy, rồi mình cũng bắt chước, nhưng trường hợp mỗi người khác. Ngài cũng đã từng bảo:“- Ví như ở trong bùn nhơ mà sanh hoa sen, thì chỉ nên lấy hoa chớ lấy bùn nhơ”. Nghĩa là mình hiểu Phật pháp thì mình suy ngẫm để rút những tinh hoa Phật pháp chứ đừng có nhìn hình thức đó, bởi vì các vị có khi vì một duyên đặc biệt của các ngài, mà các Ngài làm khác thường. Ngài Cưu ma la thập ở đây dịch kinh luận ghi lại được khoảng hơn 300 quyển, những người theo học với ngài có 8 vị nổi bật như ngài: - Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo Dung, Tăng Duệ..v.v.. Khi ngài Cưu ma la thập mất, ngài nhóm chúng nói: “- Những kinh luật tôi đã dịch từ trước đến nay thì chỉ có bộ Thập Tụng Luận là chưa kịp chỉnh lại cho đàng hoàng, nếu khế hợp với tâm Phật thì khi thiêu, nguyện cho cái lưỡi không cháy tiêu”. Quả vậy khi trà tỳ thì cái lưỡi còn nguyên không hoại. Sau này người ta rất tin tưởng bản dịch của ngài Cưu- ma- la- thập, thường trong những bản dịch kinh, bản dịch của ngài Cưu- ma- la- thập được các vị từ xưa đến nay lấy làm định bản, tức là bản mẫu, bởi vì kinh ngài dịch ý sáng suả, lời văn trôi chảy nên tụng dễ dàng. Như vậy Ngài Cưu-ma-la-thập là người dịch kinh nổi bật nhất trong những vị dịch kinh, ngài có những diểm đặc biệt, còn nhỏ mà đã sáng tỏ được đạo lý, đó cũng là điểm cho mình tin tưởng chân lý là của mọi người và không có hạn cuộc nơi tuổi tác, do đó cho nên mình không có so theo tuổi tác để phê bình hay phân biệt, thấy người nhỏ tuổi cũng không dám chê, biết đâu túc duyên của người ta trong đó, như có những vị tu hành đã lâu ở trong đạo nhưng cũng chưa sáng tỏ được đạo lý, trong khi những vị mới vào đạo chưa lâu mà họ đã sáng tỏ. Đây là nói qua người dịch. Bây giờ bắt đầu vào văn kinh.

  • 3. CHÁNH VĂN: NGUỒN GỐC PHÁP HỘI

    VÀO VĂN KINH


    Ở đây chúng ta học kinh Kim cang Bát nhã cũng nói sơ cho quý vị hiểu: - KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT là bộ kinh có duyên rất lớn với cõi này, cả Trung Quốc và Việt Nam rất nhiều người chú ý, những người dịch cũng nhiều, chú giải cũng nhiều, mình học kinh Kim cang Bát nhã qua cái nhìn của nhà Thiền. Bởi vì kinh Kim Cang Bát Nhã có rất nhiều người giảng, tùy theo trình độ kiến thức, kiến giải của mỗi vị, nhưng ở đây nhấn mạnh qua cái nhìn của nhà thiền, nói để quý vị hiểu kỹ thì khi nghe những vị khác giảng có những điều không giống cũng không lấy làm lạ. Vào văn kinh:

     

    CHÁNH VĂN:

    1. NGUỒN GỐC PHÁP HỘI

    Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ, cùng chúng Đại Tỳ Kheo 1250 người chung hội.

    Bấy giờ Thế Tôn đến giờ ăn, Ngài đấp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực rồi, trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi.

    GIẢNG:

    Ở đây tại sao gọi là phần 1? Kinh Phật thì có chia ra 3 phần: - Tựa, chánh tông và lưu thông, thường kinh Phật chia như vậy, nhưng ở đây chia 32 phần, phần một là nguồn gốc của pháp hội, trong phần này gồm phần tựa ở trong đó. Kinh Phật vốn xuyên suốt từ  đầu đến cuối nhưng ở đây các ngài chia ra để người học dễ nhận, song chia làm 3 phần: Tựa – Chánh tông – Lưu thông là từ đâu mà có? Từ pháp sư Đạo An, ngài phát minh ra. Ngài Đạo An là người đốc Phù Kiên thỉnh ngài Cưu-ma-la-thập. Đặc biệt, kinh Kim Cang chia ra làm 32 phần như vậy, là do thái tử Chiêu Minh, một vị thái tử tại gia nhưng có tâm bồ tát và cũng có nhiều điểm khác thường. Ông sanh năm 499, mất 529, mất sớm, tên là Thống – tự Đức Thi. Khi sanh ra 3 tuổi đã hiểu được Hiếu kinh và Luận ngữ, 5 tuổi đọc khắp được cả ngũ kinh. Khoảng đầu niên hiệu Thiên Giám của vua Lương khoảng 502, ông được lập làm hoàng thái tử. Ông rất tin sâu Phật pháp, đã thọ giới bồ tát, vâng giữ rất là nghiêm cẩn. Ông cũng xem khắp kinh điển và hiểu sâu xa về giáo lý. Ở trong cung của ông, ông lập riêng một điện là điện Tuệ Nghĩa, thường mời các bậc cao tăng đến giảng luận; làm thái tử trong cung mà có tâm hâm mộ Phật pháp như vậy. Có nhiều chuyện lạ, là vào đầu tháng tư năm đầu của niên hiệu Phổ Thông khoảng 520 trong điện Tuệ Nghĩa này có mưa cam lộ. Ông từng soạn giải nhiều sách về Phật pháp và là người hiếu kính, nhân từ. Làm thái tử hơn 20 năm nhưng ông chẳng chứa những cô gái hầu như  những vị thái tử khác, sống rất đạm bạc. Khoảng tháng 4 năm Đại Thông thứ ba ông bị bịnh mất, mới 31 tuổi, khắp nơi mọi người đều thương tiếc. Ông phân kinh Kim Cang này làm 32 phần mà từ trước đến nay các vị giảng sư  cũng theo đó giảng không thấy ai chê trách.

    Phần đầu là nguồn gốc pháp hội: Có hai phần: - Tựa chung và tựa riêng, gọi là thông tự và biệt tự . Tựa chung là:

    CHÁNH VĂN:

    - Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ, cùng chúng Đại Tỳ Kheo 1250 người chung hội.

    Là phần tựa chung. Phần kế là phần tựa riêng cũng gọi là phần phát khởi tự:

    CHÁNH VĂN:

    - Bấy giờ Thế Tôn đến giờ ăn, Ngài đấp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực rồi, trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi.

    GIẢNG:

    Kinh Phật phần tựa chung, là chung hết cho các kinh, thường có đủ phần tựa giống nhau như vậy, chỉ khác chỗ nơi và chúng. Trong phần này gồm có lục chủng thành tựu hay lục chủng chứng tín là sáu điểm chứng thành cho mình đủ niềm tin biết đây là kinh Phật. Ở đây: - Như vầy là chỉ cho tín thành tựu. Tức Phật pháp đúng với chân lý. Tiếng Hán theo thứ tự là Như thị ngã văn: - Như vầy tôi nghe, dịch ra tiếng Việt là: - Tôi nghe như vầy. Tôi nghe: chỉ cho ngài A-nan nghe, gọi là văn thành tựu, là chỉ cho người nghe. Bởi ngài A- nan nghe Phật dạy rồi thuật lại. A- nan là tên tiếng Phạn, Trung quốc gọi là Khánh Hỉ. Ngài là vị thị giả theo sát bên Phật, nên những kinh Phật ngài thường nghe, mà ngài là vị đa văn bậc nhất trong mười vị đại đệ tử  của Phật, ngài nhớ rất giỏi và nhớ dai, cho nên sau này ngài thuật lại. Một thuở nọ: - là chỉ cho thời gian, gọi là thời thành tựu. Bởi thời gian xưa ở Ấn Độ tính khác, Trung quốc tính khác, khó xác định cho nên không ghi rõ mà chỉ nói tổng quát là một thuở nọ. Phật là chỉ cho chủ thành tựu. Phật nói đủ là Phật- đà, Phật đà gia, là người giác ngộ. Chính chữ Phật này là cái tên cũng đủ ý nghĩa cho mình  học, mình tu. Tại sao gọi là người giác ngộ? Như vậy để thấy Phật không chỉ dành riêng cho Thái tử Tất Đạt đa, mà chữ Phật này là để chỉ cho  một con người đã giác ngộ viên mãn đầy đủ gọi là Phật. Vậy chúng ta cũng là một con người, nếu đã giác ngộ đầy đủ viên mãn cũng được thành Phật, không phải cái tên này chỉ dành riêng cho một người nào.

    Vườn Cấp cô độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ

    Có những chỗ gọi là Thành Thất la phiệt, là dịch âm qua tiếng Hán, dịch ra là Phong đức hay là Văn vật, bởi vì xứ này là nước lớn ở Ấn Độ giàu có sản vật mà đạo đức cũng cao, có tiếng tăm ở trong cõi Ấn Độ, là kinh đô phía bắc của nước Kiều tát la, dùng kinh đô để gọi nước nhằm phân biệt với nước nam Kiều tát la. Chính Tinh xá này là nơi đức Phật dừng ở nhiều nhất, sử ghi trước sau Phật ở đây hai mươi lăm mùa an cư, nhiều nhất trong các nơi, thuyết rất nhiều bộ kinh quan trọng. Vườn Cấp cô độc rừng ông Kỳ đà, Kỳ đà là chỉ cho thái tử con của vua Ba-tư-nặc, có nghĩa là Chiến thắng, bởi vì lúc sanh ông ra thì vua Ba-tư-nặc đang chiến thắng ở nước ngoài trở về, nghe tin thái tử sanh nên đặt tên là Chiến thắng. Còn Cấp-cô-độc là chỉ cho ông trưởng giả Cấp-cô-độc, có khi chúng ta nghe gọi âm là Tu-đạt-đa, đây là một ông trưởng giả ủng hộ Phật pháp rất lớn, ông thường hay giúp người nghèo khó, người cô độc. Nhân duyên ông gặp Phật cũng rất đặc biệt, nhân ông đến nhà ông trưởng giả Sa- già- na ở thành Vương xá để hỏi vợ cho đứa con, nhưng khi ông đến nhà ông trưởng giả này gặp lúc ông này đang chuẩn bị thỉnh Phật về cúng dường, nên trong đêm ông thấy nhà họ lăng xăng sửa soạn đồ đạt để làm thức ăn sáng ngày mai đón Phật và chư Tăng. Ông thấy vậy mới hỏi: - Vì sao có việc như vậy? Mới biết rằng, sáng ngày hôm sau là thỉnh Phật. Ông vừa nghe tên Phật thì toàn thân ông lông dựng lên, một cảm xúc mạnh mẽ rồi dẫn ông đến gặp Phật. Sau khi ông quy y Phật rồi, ông trở về nước Xá vệ lập Tinh xá thỉnh Phật. Bởi khi ông được gặp Phật, rồi quy y Phật, thì ông nghĩ rằng mình có duyên tốt với Phật, nhưng những người ở Xá vệ chưa có duyên tốt để gặp Phật, do lúc này Phật chưa có qua nước Xá vệ, vì vậy ông thỉnh Phật về nước, nhưng Phật nói rằng: - Ta đi cũng được, nhưng còn bất tiện vì chưa có chỗ cho chư Tăng nghỉ ngơi. Thường Phật đi thì có cả 1.250 vị Tỳ kheo đi theo, đông quá mà chưa có Tinh xá thì sao? Ông nói: - Việc đó không khó, để về con lo. Ông vội về tìm chỗ mua đất để cất Tinh xá nhưng kiếm hoài chẳng có chỗ nào tiện lợi, chỉ thấy vườn cây của ông Kỳ Đà là ông chịu mà vườn này của ông thái tử làm sao mua đây? Song ông cũng cứ đến hỏi, nài nỉ mua, thái tử Kỳ đà không chịu, ông nói: Ta là thái tử có nghèo đâu mà bán! Nhưng ông vẫn nài nỉ, thái tử không biết sao, ông nói: - Thôi  bây giờ ông đem vàng trải hết ở đó đi!

    Tưởng nói vậy để cho ông trưởng giả hết nài nỉ, không ngờ ông làm thiệt, ông về cho xe chở vàng đến trải gần khắp hết. Thái tử được  người báo, liền tới thấy ông Cấp- cô- độc lúc này đang đứng có vẻ trầm ngâm thì thái tử nói: - Ủa! Ông tiếc hay sao? Ông Cấp- cô- độc nói:- Không phải, tôi đang nghĩ tính coi chở kho nào gần nhất để tới cho sớm, làm kịp Tinh xá rước Phật.

    Thái tử hỏi ra biết là ông Cấp- cô- độc mua vườn này cất Tinh xá để thỉnh Phật về, thấy lòng mộ Phật của trưởng giả như vậy, không có tiếc của cải, còn  ông có gì đâu để tiếc! Thái tử Kỳ đà cảm động, ông nói: - Thôi tôi sẽ hợp tác cất tinh xá thỉnh Phật! Đất trải vàng thì thuộc về ông, còn cây thuộc về tôi.

    Cho nên gọi là rừng Kỳ đà vườn ông Cấp- cô- độc. Chúng Đại Tỳ kheo 1.250, phần trên gọi là xứ sở thành tựu, đây gọi là chúng thành tựu. Chúng đại tỳ kheo là danh từ chuyên môn. Chúng là chỉ cho Tăng, nói đủ là tăng già da, gọi là hòa hợp chúng, một chúng hoà hợp gồm 04 người trở lên. Ở đây chúng đại tỳ kheo là những vị tỳ kheo trưởng lão 1.250 người là ai? Trước là năm anh em ông Kiều Trần Như được Phật độ trước tiên, năm vị. Ba anh em Ca diếp ba, Trong nhà Phật có tới mấy vị Ca diếp. Ca diếp thường gọi là Tổ Ca-diếp, đó là Ma Ha Ca- diếp. Còn Ca diếp ở đây là ba anh em ông Ưu- lâu- tần- loa Ca diếp, Già da Ca diếp, Nan-đề Ca diếp. Ba ông này trước thờ lửa, sau khi được Phật giáo hoá thì mỗi người đều dẫn đệ tử về theo. Ông anh lớn có 500 người đệ tử trở về với Phật, rồi hai ông em cộng lại một vị 300, một vị 200 cộng chung lại 1.000. Ngài Xá- lợi- phất và Ngài Mục- kiền- liên sau khi trở về với Phật, dẫn theo 200 đệ tử nữa là 1.200. Còn ông trưởng giả Da xá khi về với Phật, rồi ông dẫn theo 50 người bạn nữa. Như vậy là 1.250, nhưng nếu cộng chung lại với 5 anh em ông Kiều- trần- như là 1.255, mà nói 1.250 là nói số chung, số chẳn, đúng là 1.255. Nếu cộng thêm ba anh em ông Ca diếp, cộng hai ngài Xá- lợi- phất và Ngài Mục- kiền- liên, cộng con ông trưởng giả Da- xá nữa thì 1.261 vị. Đây nói những vị thường theo gần bên Phật, Phật ở đâu thì thường đi theo. Sự thật trong hội Phật giảng kinh, không phải chỉ có mấy vị này, mà đủ tứ chúng, có khi vua quan, rồi những vị từ các nơi tới nghe, chứ không phải bao nhiêu đây thôi nhưng những vị này thường theo Phật, là căn bản nên thường được nhắc tới. Như vậy, phần lục chủng chứng tín, là tín thành tựu, tức pháp đáng tin, văn thành tựu là A- nan nghe, thời thành tựu là thời gian, chủ thành tựu là Phật, xứ sở thành tựu là chỗ nơi, chúng thành tựu là người nghe, cho thấy rõ giống như biên bản một buổi họp. Biên bản một buổi họp thì phải có chủ toạ, rồi cử toạ là người nghe, rồi thư ký ghi buổi họp đó, thư ký đây là văn thành tựu tức ngài A- nan, rồi họp ở đâu tức là xứ sở, rồi họp vào lúc nào là thời gian, rồi họp nói về vấn đề gì, đây là tín thành tựu. Đó là nói về mở đầu của kinh, theo giáo nghĩa sẽ giải thích thêm cho quý vị rõ: - Tôi nghe như vầy là sao? Đây là lời mở đầu của các kinh: - Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy). Bởi vì khi Thế tôn sắp nhập diệt, ngài A- nan hỏi Phật 04 điều thì điều thứ tư là: Sau này khi kiết tập kinh điển thì đầu kinh để thế nào? Phật dạy phải để: “Như thị ngã văn”, tức “tôi nghe như vầy”. Các vị sau này có giải thích lý do là trừ nghi. Bởi trong sử có ghi rằng, khi ngài A- nan lên toà thuật lại lời Phật trong hội kiết tập đầu tiên, ngài sắp tuyên nói Phật pháp liền cảm thân tướng của ngài tướng hảo quang minh y như Phật sáng rỡ, lúc đó trong chúng khởi lên ba điều nghi:

    - Nghi thứ nhất: Không biết là Phật hiện trở lại để nói pháp chăng? Bởi vì thấy ngài A- nan thân tướng sáng rỡ giống như Phật.

    - Nghi thứ hai là: Nghi Phật từ nơi khác đến?

    - Nghi thứ ba là: Nghi hay là ngài A- nan thành Phật.

    Ba điều nghi như vậy. Khi ngài A-nan tuyên nói ra:  “- Tôi nghe như vầy”, thì dứt hết các điều nghi đó. Nghĩa là ngài nghe những lời Phật nói, ngài nói lại vậy thôi, thành ra dứt các điều nghi kia. Lý do thứ hai là để dừng tranh luận. Dừng tranh luận là sao? Để nói rằng từ Phật ngài nghe chứ không phải ngài chế ra, nếu không nói như vậy thì có người nghi ngài chế ra hay sao? Như vậy họ sẽ có sự tranh luận. Còn đây “tôi nghe như vầy” là nghe những lời Phật dạy rồi thuật lại thôi.

    Điều thứ ba là để phân biệt với kinh sách của ngoại đạo, bởi vì ở Ấn Độ những kinh của ngoại đạo ở ban đầu thì để là “a ưu”, còn ở đây thì “như thị ngã văn” là khác. Đó là phần mở đầu kinh theo giáo nghĩa. Nếu theo nhà thiền, theo thiền sư thì sao? Theo thiền sư thì thế nào là chỗ vào kinh?

    Có vị tọa chủ tham vấn với quốc sư Huệ Trung, quốc sư mới hỏi:

    - Toạ chủ bình thường làm việc gì?

    Ông tọa chủ đáp:

    - Từng giảng kinh Kim Cang.

    Quốc sư Huệ Trung hỏi:

    - Vậy hai chữ đầu tiên đó là gì?

    Tọa chủ đáp:

    - Như thị. (như thị ngã văn).

    Quốc sư hỏi:

    - Là gì?

    Ông đó không trả lời được. Hỏi hai chữ đầu tiên là gì, tọa chủ trả lời “như thị”, ngài Huệ Trung gạn lại “là gì?”, ông trả lời không được. Như vậy quý vị có thấy chỗ mở đầu kinh theo cái nhìn của các vị thiền sư chưa? Nói “như thị” mình hiểu theo chữ nghĩa thì như đã giải ở trên, nhưng thiền sư ngài gạn lại “cái gì là như thị”, thấy “chỗ đó” mới thấy chỗ mở đầu kinh; và muốn thấy được chỗ đó phải hiểu quyển kinh này là gì? Thường thì chúng ta dễ mắc kẹt theo thường tình, hiểu kinh Kim Cang là quyển kinh chia ra bao nhiêu phần, là quyển kinh mình đọc hằng ngày đó, cho nên mở quyển kinh là như thị thôi, nhưng quyển kinh mà thiền sư nói là quyển kinh nào? là quyển kinh vô tướng, quyển kinh sống ngay nơi mình đó, chứ không phải ý ngài chỉ quyển kinh này. Hiểu như vậy mới thấy ý của ngài. Như vậy mở đầu quyển kinh đó bằng cái gì? - Như thị - Như thị là sao? Là chỉ cho nó như vậy là như vậy, không có thêm những niệm phân biệt, những niệm chia chẻ gì ở trong đó, không có động niệm gì ở trong đó; chính chỗ đó mới là chỗ như thị, mới là chỗ mở đầu của quyển kinh đặc biệt này. Vì vậy ngài Vân Môn nói: “- Thấy cây gậy chỉ là cây gậy”, không có thêm gì khác nữa hết, không có thêm niệm hơn thua, phải quấy, tốt xấu, thiệt giả, ngay cái thấy đó là như thị, là chỗ mở đầu kinh, là chỗ mình vào được quyển kinh sống này. Đó là quyển kinh Kim Cang Bát Nhã thực, còn quyển kinh để ở trên bàn đây là quyển kinh tạm phương tiện vậy thôi; phải nhân quyển kinh này thấy lại quyển kinh kia mới là đích thực. Như vậy quý vị thấy thiền sư nhìn thực tế không? Rất thực tế nhìn thẳng tắt, không nói dài dòng nhưng mà rất là chính xác. Mới thấy, mình học quyển kinh văn tự nhưng mình phải thấu qua quyển kinh văn tự để thấy rõ quyển kinh thật nữa, mới khéo học kinh Kinh Kim Cang Bát Nhã.

    Đó là phần tựa chung, bây giờ đến phần tựa riêng là phần phát khởi tự:

    Bấy giờ đức Thế Tôn đến giờ ăn, ngài đắp y mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực, rồi trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải toà mà ngồi.

    Trong đây có mấy điểm:

    - Thứ nhất là đến giờ ăn. Thường Phật chế ra: Phật và các vị tỳ kheo không phải muốn ăn lúc nào thì ăn, như ngoài đời đói bụng thì ăn, mà phải có giờ giấc đàng hoàng. Giờ ăn của Phật cũng như các vị tỳ kheo đi khất thực đó là từ sáng mặt trời mọc lên đến giờ trưa, giờ ngọ là buổi ăn chính. Vì sao Phật dạy mình đi khất thực phải đúng giờ như vậy? Nếu đi sớm cũng không được mà đi trể cũng không được, vì đi sớm người ta chưa nấu nướng gì thì người ta cúng dường không được, sẽ mất lòng tin của họ; còn đi trể người ta ăn rồi, muốn cúng cũng không được, thành ra phải đi đúng giờ. - Điểm thứ hai là đắp y, rồi thứ ba là ôm bát. Bát là tiếng phạn, gọi đủ là bát-đa-la, Trung hoa dịch là ứng lượng khí, nghĩa là món đồ ứng vừa với lượng ăn của mình. Tỳ kheo phải ăn đúng lượng, phải biết tri túc, không phải tham ăn, mình muốn chứa cái bát cho nó to, để cho đồ ăn được nhiều, đó là mình tham rồi. Cho nên Phật chế rất kỹ, ăn vừa đúng lượng của mình thôi. Thứ tư là vào thành khất thực, bởi vì tinh xá này ở ngoài thành, cách thành về phía đông nam năm sáu dặm, nên phải vào thành. Thứ năm theo thứ lớp khất thực, bởi vì sao? Vì  trong phép khất thực theo sử kể , hai ngài Tu Bồ Đề và ngài Ca- Diếp có hai quan niệm riêng: ngài Tu Bồ Đề thì ngài cứ đi tới mấy nhà giàu khất thực, bởi vì ngài nghĩ rằng nhà giàu họ dư dã, mình đến khất thực, họ có cho thì cũng không mất mát gì của họ nhiều, còn tới nhà nghèo thì họ đã nghèo thiếu rồi, mình đến khất thực nữa e họ thiếu ăn. Cho nên ngài chuyên tới nhà giàu. Trái lại, ngài Ca Diếp thì ngài tới nhà nghèo khất thực, bởi vì ngài nghĩ nhà giàu người ta có phước rồi, dư giả rồi, còn những người nghèo là đời trước họ ít bố thí, bây giờ mình đến khất thực, khiến họ gieo duyên lành đó để cho họ đời sau khỏi nghèo. Cả hai đều có tâm tốt hết, nhưng Phật quở, hai ông còn có tâm chưa bình đẳng, còn phân biệt người giàu, người nghèo, do đó Phật dạy phải theo thứ lớp khất thực, đi thứ lớp từ nhà này đến nhà kia, chứ không phân biệt giàu nghèo. Đây là ý nghĩa thứ lớp khất thực. - Điểm thứ sáu là trở về chỗ mình. - Điểm thứ 7, ăn xong thu bát rửa chân, trải toà mà ngồi thiền. Như vậy, Phật cũng còn ngồi thiền nữa, vậy là chấp tướng sao? Ở đây Phật muốn nhắc nhở mọi người, Phật như vậy mà còn ngồi thiền huống nữa là mình, chưa có đáng gì mà dễ duôi thì sẽ ra sao? Đó là lời nhắc nhở chung mãi cho mình về sau này. Trong bản đời Nguỵ có ghi kỹ hơn, nói rõ đoạn này là: “ngài cũng như thường lệ trải tòa ngồi kiết già, thân ngay ngắn, trụ niệm bất động”, còn bản của đời Đường thì nói “thân ngay ngắn chánh nguyện trụ niệm hiện tiền” như vậy nó có ý nghĩa sâu, chỗ này lần lần sẽ nói cho quý vị thấu rõ. Ở đây quý vị thấy, phần phát khởi đức Phật trước khi nói kinh Kim Cang Bát nhã, ngài muốn chỉ ra cái trí tuệ bát nhã là trí tuệ bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn như vậy, tại sao ngài lại hiện tướng tầm thường cũng là đắp y, mang bát, khất thực, thọ thực, rồi xếp y bát, rửa chân, trải toà ngồi bình thường như bao nhiêu người, không có gì đặc biệt hết? Tại sao lại bình thường không có phóng hào quang động địa, hiện những tướng thần biến có vẻ không thể nghĩ bàn? Chẳng hạn như kinh Pháp Hoa, ngài phóng hào quang soi suốt cả bao nhiêu thế giới ở phương đông, hoặc như kinh Hoa nghiêm trước khi vào thì bao nhiêu thần núi, thần sông cũng hiện tới, những cảnh vật chung quanh biến thành ánh sáng, nào mây biến ánh sáng này, mây ánh sáng nọ, cái gì cũng biến thành ánh sáng cả, quá sức tưởng tượng của mình. Còn ở đây rất bình thường, tại sao như vậy? Song nghiệm kỹ, nhất là nhìn theo cái nhìn của nhà thiền thì đây mới chính là điểm đặc biệt, rất ứng hợp với trong nhà thiền: trong cái bình thường như vậy mà rất là thiền vị, đầy đủ ánh sáng vi diệu không thể nghĩ bàn trong đó! Nghĩa là trong chỗ mang bát, đắp y, khất thực, đi tới đi về, rửa chân, thu xếp y bát, những việc tầm thường như vậy đó, nếu nhìn theo con mắt tầm thường thì thấy không có gì lạ, nhưng nhìn với con mắt của thiền sư, của con người hiểu đạo thì mới thấy, chính trong đây đã sáng ngời ánh sáng rực rỡ ở trong đó, không có thiếu sót gì hết, chính ánh sáng Kim Cang Bát Nhã đã tràn đầy ở trong đây rồi! Bởi vì theo cái hiểu thông thường của mình thì, ánh sáng phải màu xanh, màu đỏ, có tướng rõ ràng, nhưng ánh sáng ở đây là ánh sáng bát nhã, mà ánh sáng bát nhã thì có hình tướng gì? Ánh sáng bát nhã thì không có xanh, vàng, đỏ, trắng, lớn nhỏ. Vậy thì, Phật là một bậc Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, tức một vị giác ngộ không có gián đoạn, lúc nào ánh sáng giác ngộ cũng đầy đủ không xen hở, thì mới gọi là Phật; chứ nếu một lúc nào đó mà không có ánh sáng giác ngộ thì có gọi là Phật không? Nó có chỗ  này nhưng vắng mặt ở chỗ khác thì còn gọi là Phật chăng? Đã là Phật thì luôn luôn ánh sáng giác ngộ có mặt, lúc nào cũng có hết, dù ở trong hành động nào, cử chỉ nào, Phật cũng đều có đủ ánh sáng giác ngộ đó, như vậy mới gọi là Phật. Ở đây trong mọi hành động, có cái nào thiếu ánh sáng giác ngộ không? Ánh sáng đó hiện đầy đủ không có thiếu gì đâu! Nếu nhìn theo cái nhìn bên ngoài, cái gọi là tầm thường thì gọi là tầm thường, cái gì phi thường gọi là phi thường, cho nên muốn bỏ những cái tầm thường này để đạt được những cái phi thường khác; nhưng không ngờ cái phi thường chính ngay cái tầm thường, còn làm ra vẻ phi thường lại thành tầm thường; bởi vì cái đó rất giản dị, rất là gần gũi với mình, có thể mình sống hằng ngày ở đây mà không hay, như vậy mới gọi là phi thường.

    Như ngài Triệu Châu có người đến hỏi đạo, ngài hỏi:

    - Ăn cháo xong chưa?

    Vị kia đáp:

    - Ăn cháo xong rồi.

    Ngài bảo:

    - Rửa chén bát đi!

    Liền ngộ. Không có gì lạ hết. Mình tưởng đâu đạo là phải có gì cao siêu, vi diệu lắm, nhưng không ngờ trong chỗ bình thường hằng ngày mình sống, khéo xoay trở lại, không để cho những tư tưởng, những phân biệt lăng xăng nó dấy lên thì ngay đó đạo hiện tiền, ăn cháo, rửa chén đều đầy đủ không thiếu. Còn ngay trong đó mà khởi động niệm tìm một cái khác, thì cái đó nó mất, tức là bỏ cái hiện tiền mà đi tìm cái phi thường trở lại thành tầm thường, đó là đặt biệt. Cho nên quý vị thấy, kinh Kim Cang Bát nhã đã ngầm có cái ý “giáo ngoại biệt truyền” trong đó rồi, tuy là kinh nhưng đã ngầm có ý giáo ngoại. Nếu mình chỉ chấp theo chữ nghĩa thì mình thấy chỉ  là văn tự thôi, còn nếu mình thấy “ý này” thì sẽ thấy ý giáo ngoại trong đó sẵn đầy đủ đâu có thiếu gì!

    Như ngài Sùng Tín tới học đạo với thiền sư Đạo Ngộ, ở thời gian lâu với ngài Đạo Ngộ mà không thấy ngài chỉ dạy gì hết, một hôm lòng tha thiết quá mạnh, không thể chịu nỗi nữa, nên Sư đắp y lên thưa hỏi :

    - Bạch Hòa thượng, từ ngày con vào đây học đạo với Hòa thượng lâu rồi mà chưa thấy Hòa thượng dạy con tâm yếu gì hết!

    Ngài Đạo Ngộ mới nói:

    - Từ ngày ông vào đây ta có lúc nào chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ông đâu!

    Sư ngạc nhiên:

    - Ủa! Hòa thượng đã từng chỉ dạy con lúc nào?

    Ngài Đạo Ngộ bảo:

    - Ông bưng cơm lên ta vì ông nhận, ông bưng trà ta vì ông mà tiếp, ông xá lui thì ta gật đầu, có chỗ nào là không chỉ tâm yếu cho ông đâu!

    Nhưng Sư vẫn chưa ngộ, cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ. Ngài Đạo Ngộ bồi thêm một câu:

    - Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ  liền sai.

    Ngay đó Sư ngộ liền. Như vậy quý vị ngộ chưa? Trong chỗ mọi hành động hằng ngày của mình đó, ánh sáng Kim Cang bát nhã đầy đủ trong đó rồi, thì Phật trong những việc bình thường ứng dụng hằng ngày đã biểu hiện ánh sáng Bát nhã quá nhiều, đâu có chỗ nào thiếu sót! Cho nên Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền:

    - Thế nào là đạo?

    Ngài đáp:

    - Tâm bình thường là đạo.

    Sư hỏi tiếp:

    - Có thể nhằm tiến đến chăng?

    Nam Tuyền đáp:

    - Nếu nghĩ nhằm tiến đến là trái.

    Nghĩ nhằm tiến đến là trái, quý vị thấy chưa? Bởi vì sao? Nếu nghĩ tiến đến thì cái đạo nằm bên ngoài mình. Theo nghĩa thông thường thì tu là để đạt đạo, hướng đến đạo, tìm đến đạo để đạt được cái đó, nhưng nếu đến chỗ chân thật này, mình nghĩ hướng đến để đạt nó thì cái đạo đó ở đâu? Quên mất cái đạo ngay sẵn nơi mình. Nghĩ tức động niệm rồi! Động niệm thì trái với đạo hiện tiền trong mọi cử chỉ hành động của mình. Đáp như vậy mà Triệu Châu còn chưa hiểu nên lại hỏi:

    - Khi chẳng nghĩ đến thì làm sao biết đó là đạo?

    Ngài Nam Tuyền đáp:

    - Đạo chẳng thuộc biết, chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì không có nghi, ví như hư không rỗng rang không có thể gắng nói là phải là quấy.

    Đạo là cái chân thật ngay nơi mình, không thuộc biết hay chẳng biết, chỗ này khó hiểu. Trong kinh Viên Giác nói: - Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác, tức là biết huyễn liền ly, ly huyễn tức giác, mà đây nói: biết là vọng giác thì sao, có trái ngược không? bởi vì sao? Như ngài Vân Môn nói: “- Thấy cây gậy chỉ cây gậy” thì đó là đạo, còn thêm cái biết nữa, là cái biết phân biệt, là cái biết suy nghĩ, hơn thua, cái biết này nọ, như vậy là trên cái  biết thêm cái biết, nên gọi là vọng giác; còn ngay cái biết đó không thêm gì nữa thì ngay đó là đạo. Còn không biết mà mờ mờ không rõ ràng, thì đó là vô ký, hoặc là như cây đá hay sao? Vì vậy biết tất cả rõ ràng nhưng không mê lầm, không có thêm những niệm hơn thua, phải quấy gì hết, ngay đó là phải, còn thêm gì khác là không phải. Cho nên như hư không thênh thang rỗng rang, không có nói phải nói quấy gì. Vậy là bình thường ngay nơi mình đầy đủ, thấy cây gậy, thấy cái ly, cái gì mình cũng thấy hết, đâu phải gỗ đá, nhưng không thêm gì nữa thì hay quá! Vậy thấy Kim Cang Bát nhã nó ở đâu? Hằng ngày mình sống trong thể Kim Cang bát nhã mà không hay! Hiểu được như vậy, sống được trở về như vậy đó liền thấy trong mọi cử chỉ, mọi hành động của mình đều có Kim Cang bát nhã, phát ra ứng dụng gì cũng là thần thông diệu dụng. Còn bây giờ mình làm cái gì cũng không phải thần thông diệu mà là phiền não trần lao hết; nghĩ liền động, đụng cái gì cũng khởi phiền não trần lao đầy đủ ở trong đó. Từ đó mới tin người sống được rồi, làm cái gì, thấy cái gì cũng là thần thông diệu dụng, như câu chuyện ngài Ma Cốc, Nam Tuyền, Quy Tông đi thăm ngài Cảnh Sơn, giữa đường gặp bà già bán trà, mời vào quán ngồi, rồi bà già đem đến ba cái tách cho ba vị, bà nói:

    - Trong đây Hòa thượng nào có thần thông thì uống trà!

    Ba người ngồi ngó nhau không biết làm sao. Bà già nói:

    - Đây, hãy xem già này trình thần thông cho các vị!

    Bà liền cầm bình  trà rót vào tách xong, liền đi. Thần thông diệu dụng đấy! Vì tâm mình mà tịnh rồi thì hành động nào cũng thanh tịnh, cũng sáng suốt hết, nên cũng đều là thần thông diệu dụng, cũng bất khả tư nghì; còn mình làm gì cũng tâm phàm phu khởi trước, làm cái gì cũng có suy nghĩ ở trong đó, mà có suy nghĩ tức có phân biệt, có phải quấy, có hơn thua, làm sao thành thần thông diệu dụng? Người xưa có làm một bài kệ để nói rõ về ý này:

    Nguyên lai Phật pháp vô đa tử

    Chỉ tại bình thường nhật dụng trung

    Xuyên y thực phạn thân nhận đắc

    Thiên sai vạn biệt thể giai đồng.

    ***

    Xưa nay Phật pháp không nhiều thứ

    Chỉ tại hằng ngày việc thường làm

    Mặc áo ăn cơm mình nhận được

    Ngàn sai muôn khác thể đều đồng.

    Phật pháp xưa nay không nhiều thứ, mình tưởng đâu nó mênh mông đủ thứ này, thứ kia, chạy tìm hoài không thấy dừng. Không ngờ trong việc ứng dụng hằng ngày không đâu khác. Mặc áo, ăn cơm, mình tự nhận được (thân nhận đắc) thì bao nhiêu thứ sai biệt, thể đều đồng, không khác gì. Ngay trong mọi việc mặc áo, ăn cơm, nếu tâm mình thanh tịnh sáng suốt thì ngay nơi đó đầy đủ. Chúng ta thấy đức Phật mở đầu kinh Kim Cang, ngài đã nói gì chưa? Chưa nói gì, mà đã nói hết rồi, nói rất là vi diệu, rất là tuyệt vời! Chỉ trong những hành động thôi, chưa phát ra thứ gì nhưng mình khéo thấy thì rõ ngài đã nói hết Bát nhã rất là khéo léo, rất là tài tình. Như vậy hôm nay mình học tới  đây nghỉ, nếu quý vị nào khéo lanh lợi,  nhạy mắt thì thấy Bát nhã trước, còn vị nào chưa lanh lợi lắm thì bắt đầu nghe Phật  thốt lên lời!

     

     

  • 4. THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH

    CHÁNH VĂN:

    2. THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH

    Lúc đó, Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai phải, quỳ gối phải, chấp tay cung kính bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo phó chúc các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, kẻ thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên làm sao trụ? Làm sao hàng phục tâm mình?

    Phật bảo:

    - Lành thay! Lành thay! Này Tu Bồ Đề! Đúng như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo phó chúc các vị Bồ Tát. Nay ông hãy lắng nghe, tôi sẽ vì ông mà nói.

    - Kẻ thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên như vầy mà trụ, như vầy mà hàng phục tâm mình.

    - Vâng, bạch Thế Tôn, con nguyện ưa muốn nghe.

    GIẢNG:

    Tới phần này gọi là chánh tông, phần trước mình học qua gọi là phần tựa. Vào chánh tông, trước tiên Ngài Thiện Hiện khải thỉnh, khải thỉnh là thỉnh pháp, Thiện Hiện là ngài Tu Bồ Đề. Đây là bản dịch của ngài Cưu- ma- la- thập, trong bản dịch đời Đường thay vì lúc đó Trưởng lão Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy thì có thêm: “- Bấy giờ chư tỳ kheo đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, rồi lui về một bên, ngài Huệ mạng Tu Bồ Đề bèn từ chỗ ngồi đứng dậy ..v.v..” Ở đây gọi là Trưởng lão Tu Bồ Đề, còn bản đời Đường gọi là Huệ Mạng Tu Bồ Đề; và câu hỏi: “nên làm sao trụ? làm sao hàng phục tâm mình?” thì bản kia có thêm một câu nữa: “- làm sao trụ? làm sao tu hành? làm sao hàng phục tâm mình?” có ý nghĩa rõ ràng thêm. Đoạn này có mấy điểm để cho mình cần phải rõ.

    Thứ nhất, nêu lên người khải thỉnh kinh, tức người thỉnh pháp là Trưởng lão Tu Bồ Đề. Trưởng lão là để chỉ cho bậc tuổi cao, đức lớn, nhưng tuổi tác cao ở đây, không giống tuổi tác cao ở thế gian, mà chỉ cho tuổi đạo, tức tuổi hạ. Bởi vì các vị tu hành lấy tuổi đạo làm tuổi của mình, nên khi bắt đầu thọ giới tỳ kheo rồi thì mỗi mùa an cư, chư tăng phải tụ lại một nơi để kiết hạ an cư, thúc liễm thân tâm tu hành. Qua mùa an cư rồi, được thêm một tuổi đạo. Nên sau mùa an cư nhằm ngày Tự tứ cũng gọi là ngày Phật hoan hỉ, vì ngày đó là ngày mừng chư tăng đã thêm được một tuổi đạo. Do xưa kia, các vị tỳ kheo đi khất thực, du hoá nơi này, nơi kia tới mùa an cư mới tụ về một chỗ, nhắc nhở cho nhau tiến tu, cũng như trau đổi những kinh nghiệm. Như vậy được thêm một tuổi đạo ở đây, đúng theo ý nghĩa là thêm công phu tu hành chứ không phải an cư ba tháng rồi, chỉ tính thêm một tuổi suông, nếu tính suông như thế thì chưa đầy đủ ý nghĩa lắm. Cho nên ở đây nói trưởng lão tuổi cao, là ngài tuổi đạo nhiều, đạo đức cũng lớn, có bản khác dịch là Huệ mạng – Cụ Thọ. Huệ mạng là lấy trí tuệ làm mạng sống chứ không lấy cái thân này làm mạng sống nữa, nên quý vị thấy trong chùa hay đề “Duy tuệ thị nghiệp”, tức lấy trí tuệ làm sự nghiệp của mình. Cụ Thọ, là tuổi tác cao, đây cũng gần ý nghĩa như trên. Vậy Tu Bồ Đề được gọi là bậc trưởng lão, tức là người có tuổi đạo cao. Tu Bồ Đề là âm tiếng Phạn, Trung hoa dịch là Không Sanh – Thiện Cát hoặc Thiện Hiện, ở đây gọi là Thiện Hiện khải thỉnh là chỉ cho ngài, một vài chỗ còn gọi là Thiện Nghiệp hoặc Thiện Kiến – Thiện Thật, nhưng ba nghĩa chính là Không sanh – Thiện Cát hoặc Thiện Hiện. Do duyên ngài sanh ra trong một gia đình Bà la môn giàu có ở nước Xá vệ, người giữ kho tàng trong gia đình mới báo là hôm nay bỗng dưng trong kho tàng trống trơn, không có gì hết, nên gọi là Không Sanh. Kế trong nhà mời thầy tướng số đến bốc xem coi đứa trẻ này sinh ra là tốt hay xấu, thầy tướng cho biết là đứa bé này sinh ra rất tốt lành, do đó gọi là Thiện Cát, tức tốt lành. Qua bảy ngày sau thì, kho báu hiện lại như cũ, nên gọi là Thiện Hiện. Tính tình ngài rất là nóng dữ, thường bị bạn bè chán ghét nên bỏ đi vào trong núi rừng, được sơn thần hướng dẫn đi đến gặp Phật, Phật dạy cho ngài rõ cái lỗi của nóng giận rất là nguy hại, nên tự ngài ăn năn sám hối, rồi tiến tu đắc qủa A- la- hán, là một trong mười vị đại A- la- hán đệ tử của Phật, gọi là Giải không bậc nhất, tức là  rõ lý không bậc nhất. Mười vị đại đệ tử của Phật tức là vị nào?

    1. Ngài  Xá lợi phất là trí tuệ bậc nhất
    2. Ngài Mục Kiền liên là thần thông bậc nhất
    3. Ngài Đại ca diếp là đầu  đà bậc nhất, tức là ngài chuyên về hạnh đầu đà – khổ hạnh
    4. Ngài Tu Bồ Đề giải lý không bậc  nhất
    5. Ngài Phú lâu na thuyết pháp bậc nhất
    6. Ngài Đại Ca chiên diên luận nghị bậc nhất – luận nghị đối đáp bậc nhất
    7. Ngài A na luật thiên nhãn bậc nhất.
    8. Ngài Ưu ba ly trì luật bậc nhất
    9. Ngài La hầu la mật hạnh bậc nhất

    10. Ngài A nan đa văn bậc nhất .

    Như vậy ngài Tu Bồ Đề rõ được lý Không bậc nhất, cho nên ở đây ngài là  người đứng ra để thỉnh pháp bộ kinh Kim Cang Bát nhã này rất khế hợp, rất tương ưng. Bởi vì Bát nhã nhấn mạnh tánh không. Đó là nói qua về ngài Tu Bồ Đề, người khải thỉnh pháp.

    Thứ hai là phép thưa hỏi: “- Ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải, chấp tay cung kính bạch Phật”. Trịch áo bày vai phải là, ở Ấn độ các vị tăng đắp y khất sĩ, khi ngồi nghe pháp, y quấn trùm cả hai vai luôn, bởi nghe pháp sợ gió nhập vào, nhưng khi ra thưa hỏi phải trịch vai phải, để lộ vai phải ra, rồi quỳ gối phải xuống, theo phép cung kính của Ấn độ là như vậy. Đó là phép thưa hỏi.

    Thứ ba là lời tán thán của ngài Tu Bồ Đề: - Bạch Thế Tôn, thật là ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ tát khéo phó chúc các vị Bồ tát. Trong đây có các danh từ “Thế tôn”, “Như Lai”  là thuộc một trong mười hiệu của Phật. Như lai là từ chân như tự tánh mà đến, nên gọi là Như Lai, Theo trong Trường A hàm – kinh Thanh Tịnh thì nói về Như Lai như sau: “- Như Lai từ đêm đầu chứng đạo Vô thượng cho đến đêm rốt sau nhập niết bàn, ở trong khoảng thời gian đó, Như Lai có nói ra điều gì, trình bày nghĩa lý gì thảy đều hoàn toàn như thật  không dối nên gọi là Như Lai.” Thứ hai “Lại nữa, Như Lai nói ra điều gì, là làm những điều ấy, cho nên gọi là Như Lai”. Ngài nói ra điều gì, là làm điều ấy chớ không nói suông. Bởi vậy những chân lý mà Phật nói ra để chúng học ngày nay, lúc nào cũng đúng như thật, còn những chân lý ở thế gian mình thường đọc về những lý thuyết này, lý thuyết kia, cũng gọi là chân lý nhưng chỉ là những suy đoán của người do suy luận đặt ra cho nên nó chỉ đúng trong một thời gian nào đó thôi. Những thuyết của thế gian, có khi ở trong giai đoạn này nó đúng, nhưng thời gian sau có người đặt lại thuyết khác đả phá thì nó thành lỗi thời, như vậy là chỉ đúng trong giới hạn. Còn ở đây, Phật chứng nghiệm nói ra, nên nói điều gì là làm được điều đó, có chứng nghiệm thực sự. Như bốn chân lý căn bản, là bài pháp đầu tiên mà ngài nói ở vườn Lộc uyển: - Khổ đế - Tập đế - Diệt đế - Đạo đế. Đây gọi là chuyển pháp luân lần đầu tiên, trong lần chuyển pháp luân này, có ba lần chuyển là: - Thị chuyển – khuyến chuyển - chứng chuyển.

    - Thứ nhất là Thị chuyển, chỉ bày, nói rõ cho thấy đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. Tức là chỉ rõ cái khổ –chỉ rõ nguyên nhân đưa đến đau khổ của thế gian. Xác định rõ ràng cho người thấy – rồi chỉ rõ Niết bàn là chỗ dứt hết đau khổ – và chỉ rõ con đường đưa đến chấm dứt đau khổ.

    - Thứ hai Khuyến chuyển, là khuyên, ngài nói rằng đây là khổ các ông cần phải biết, vì đó là đế, tức là chân lý chắc thật không sai, cho nên các ông cần biết rõ để không lầm lẫn. Đây là tập, các ông cần phải đoạn, vì là nguyên nhân đưa đến các khổ, nên các ông cần phải đoạn nguyên nhân đó. Đây là diệt, các ông cần phải chứng, vì là chỗ dứt bặt các khổ. Đây là đạo, các ông cần phải tu, vì đó là con đường dứt khổ. Đây gọi là khuyến chuyển.

    - Thứ ba chứng chuyển, là ngài nói rõ khổ đó ta đã biết, ngài nói khổ là ngài đã biết rõ mà nói ra; tập ta đã đoạn, ngài nói ra là ngài đã đoạn rồi mới nói chứ không phải nói suông; diệt ta đã chứng và đạo ta đã tu. Đây là tam chuyển pháp luân, Phật đã chỉ bày, khuyên mọi người biết ứng dụng tu và chính ngài cũng đã chứng nghiệm rõ ràng ngài nói ra, những điều ngài nói đó là những điều ngài đã làm xong không phải nói suông. Nghĩa Như Lai rõ ràng là như vậy. Còn mười hiệu của Phật:

    1. Như Lai

    2. Ứng cúng: Đáng được thọ nhận sự cúng dường của trời, người.

    3. Chánh biến tri: Là hiểu biết khắp hết, đúng đắn không có thiên lệch.

    4. Minh hạnh túc: Là đầy đủ cả tam minh và hạnh nghiệp được viên mãn, tam minh là thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh.

    5. Thiện thệ: Thiện là khéo, thệ là qua. Thiện thệ là khéo qua sanh tử đến bờ Niết bàn.

    6. Thế gian giải: Là hiểu rành rẽ về thế gian, đối thế gian ngài rõ suốt và biết rõ con đường xuất thế gian.

    7. Vô thượng sĩ: là bậc Vô thượng, bậc không có ai trên, nhưng có người bằng, tức là mình tu công phu viên mãn thì cũng như ngài. Nghĩa rất là hay, ngài hiệu là Vô thượng nhưng không nói độc tôn, chỉ có mình ngài được thành Phật. Cho nên các vị Bồ tát khi tu hành đầy đủ công đức viên mãn thì thành Phật, chúng ta tu công đức viên mãn cũng thành Phật đó là bình đẳng đối với tất cả mọi người.

    8. Điều ngự trượng phu: Phật là người đại từ, đại trí đủ tất cả từ bi, nên dùng đủ phương tiện để điều phục người tu hành khiến cho họ được trụ Niết bàn nên gọi là điều ngự trượng phu.

    9. Thiên nhân sư: - là bậc thầy dẫn đường của trời, của người.

    10. Phật, Thế Tôn gọi chung là bậc Giác ngộ được tôn quý trên thế gian, đó là mười hiệu của Phật. Như vậy ở đây Như Lai –Thế tôn là hai trong mười hiệu của Phật.

    Lời tán thán: “- Thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm, khéo phó chúc các vị Bồ tát”. Khéo hộ niệm – khéo phó chúc là sao? Hộ niệm ở đây là luôn luôn nhớ đến, che chở giữ gìn; hộ là che chở giữ gìn, niệm là nhớ đến – phó chúc là gởi gắm dặn dò cho các vị Bồ tát. Bồ tát tiếng phạn gọi đủ là Bồ đề tát đoả, tức Hữu tình giác hay Giác hữu tình. Tên Bồ tát cũng là một ý nghĩa nhắc nhở mình rất nhiều. Hữu tình giác hay giác hữu tình, là chỉ cho một chúng sanh đã giác ngộ và đem ánh sáng giác ngộ đó soi sáng lại cho tất cả chúng sanh cũng giác ngộ như mình. Như vậy  trong đó đã ngầm nói cho mình thấy điều gì? Bồ tát là một chúng sanh giác ngộ, chứ không phải là một ông trời nào ở đâu xuống giác ngộ, tức ngầm chỉ chúng ta đều có khả năng giác ngộ hết. Bởi vì Bồ tát vốn là một chúng sanh mà được giác ngộ thì, mình là một chúng sanh cũng có thể giác ngộ, rồi đem ánh sáng giác ngộ đó soi sáng cho tất cả mọi chúng sanh đều giác ngộ như mình, vì ai ai cũng đều có khả năng giác ngộ hết. Cần chú ý! Ở đây, đức Phật chưa có nói gì, mà ngài Tu Bồ Đề tán thán “ít có, khéo hộ niệm các vị Bồ tát”, là ít có chỗ nào? hộ niệm chỗ nào? Nếu thấy được chỗ hộ niệm, phó chúc đó thì mới thấy chỗ “ít có” kia. Hộ niệm – phó chúc này không phải như mình hiểu theo nghĩa bình thường là phải lấy tay xoa đầu, cầm tay nhắc nhở trao cho, mới gọi là hộ niệm phó chúc, ở đây có ý nghĩa sâu xa hơn. Chính ngay trong chỗ đức Phật ôm bát đi khất thực, trở về thọ thực xong thu xếp bát, xếp y, rửa chân, trải tòa ngồi, chính chỗ đó là chỗ hộ niệm rất kỹ càng rồi! Tức là trong mọi sinh hoạt hằng ngày đó, đã thầm biểu hiện ánh sáng bát nhã rõ ràng trong đó, vẫn nói luôn không lúc nào vắng mặt, thì không hộ niệm, phó chúc là gì? Đó là đánh thức cho các vị Bồ tát để các ngài phải luôn luôn sống miên mật ở trong đó, chớ có để một phút giây nào gián đoạn, trong mọi hành động, trong mọi việc làm của mình luôn luôn có ánh sáng giác ngộ không thiếu vắng. Hộ niệm, là nhớ không quên, miên mật không xen hở, luôn nhớ như vậy, nhận rõ như vậy, đó là Như Lai phó chúc cho mình rồi! Ngài dặn dò, gởi gắm ở chỗ đó chớ không phải cầm tay trao cho viên ngọc gì. Quý vị thấy ngài phó chúc và hộ niệm tuyệt khéo không? Chính đó là chỗ “ít có”, không dễ gì mắt phàm này mà thấy được, lấy hai mắt này mà nhìn, làm sao thấy được chỗ phó chúc đó! Phải thấy bằng con mắt trí tuệ, mà mắt trí tuệ thì không dễ gì thấy một cách hời hợt. Ngài Tu Bồ Đề nhìn thấy được chỗ đó, nên ngài khen ngợi “ít có”, chỗ đó khéo léo, nhưng người bình thường ít ai thấy được! Trong đây nếu quý vị mà thấy được như vậy cũng phải tán thán thôi. Cho nên các vị thiền sư nhìn thấy chỗ đó rồi, các ngài có người tán thán hết lời, hoặc có người khóc ròng luôn, cảm xúc quá, khóc vì vui sướng một việc sát bên mình mà lâu nay tưởng ở đâu, lâu nay sống trong đó mà bỏ bê đi tìm chỗ nào khác, lang thang vô số kiếp! Thấy rõ ý nghĩa rất sâu xa đó nên ngài Tu Bồ Đề mới tán thán, nếu bình thường thì đâu tán thán. Nếu hiểu chỗ này rồi quý vị mới hiểu qua kinh Pháp Hoa, trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa, ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Kinh Vô Lượng Nghĩa là, nghĩa vô lượng không thể nghĩ bàn, không nghĩ lường, Giáo Bồ tát pháp là pháp chỉ dạy hàng Bồ tát, là chỗ Phật thường hộ niệm, Phật sở hộ niệm. Vậy trước khi nói kinh Pháp Hoa, Phật nói kinh này, rồi ngài nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ, là chỗ vô lượng nghĩa không nghĩ lường được, nhưng kinh Pháp Hoa cũng không nói kinh vô lượng nghĩa này là kinh gì, chỉ nói Phật nói kinh đó thôi. Vậy bộ kinh Vô Lượng Nghĩa đó là bộ kinh ở đâu? Thường chúng ta bị mắc kẹt trên ngôn từ chữ nghĩa, nên cứ nghĩ Vô Lượng Nghĩa là nhiều nghĩa, nghĩa này nọ kể không hết, nhưng dưới con mắt của nhà thiền thì, nghĩa vô lượng chính là nghĩa sống động nơi mình đầy đủ không thiếu gì hết, chính chỗ không nói mà nó hiện bày khắp nơi, khắp chốn, đâu đâu cũng đã hiển bày tri kiến Phật trong đó hết rồi. Nghĩa đó làm sao lường hết, nghĩ cho hết? Mình nói ra thì có khi nói, khi nín, dù cho có người giảng pháp thao thao bất tuyệt đi nữa, cao lắm thì cũng một ngày, ban đêm cũng ngủ chứ không thể nói hoài, còn cái nghĩa này nó nói hoài, đâu đâu cũng có. Nếu tâm mình thanh tịnh sáng suốt rồi thì đâu đâu cũng có nghĩa đó hết, nghe tiếng gió, tiếng mưa, thấy người đi qua, kẻ đi lại, nếu tâm mình sáng suốt, thì cái gì cũng ở trong thanh tịnh sáng suốt hết, nói hoài không hết, đó không phải là vô lượng sao? Cho nên hộ niệm là hộ niệm ngay chỗ đó!

    Có một vị tăng đối với Thiền sư Duy Chánh ở Viện Hàn Châu, là thiền sư mà rất ít nói pháp nên ông thắc mắc, một hôm đến thưa:

    - Bạch thầy, thầy là thiền sư mà sao không thấy nói thiền?

    Ngài Duy Chánh nói:

    - Ngày đêm nhờ vạn tượng nó diễn bày mà thôi. Ngôn ngữ có gián đoạn mà pháp này là vô tận, nên gọi là tạo hoá vô tận tạng.

    Ngài nói rõ, ngày đêm nhờ muôn tượng muôn vật nói hết rồi, nếu người sáng mắt thì thấy đâu đâu cũng thiền, đâu cần phải nói ra, đó mới là nghĩa vô lượng, mới là chỗ Phật hộ niệm. Quý vị thấy nghĩa vô lượng đó chưa? Chắc hiểu thì hiểu chớ thấy cũng khó, nên mới là hy hữu - ít có. Bởi vậy tâm mình thanh tịnh rồi thì, thấy ra đâu đâu cũng thanh tịnh, cũng là pháp, cũng là bát nhã. Ngài Xuyên Công có nói: “- Xét về đạo chỉ là việc đi, đứng, nằm, ngồi trong hằng ngày mà thôi, cốt yếu là dứt được cái bệnh ngủ mê.” Đơn giản, chỉ ngay trong đi đứng nằm ngồi hằng ngày của mình đó, cốt dứt ngủ mê, ngủ mê là sao? Chúng ta cứ nghĩ là ban đêm vô mùng nằm ngủ, rồi ngủ mê, mà có khi đang ngồi trao tráo đó vẫn ngủ mê. Cái ngủ mê đó mà tỉnh dậy được thì hay biết mấy! Ngồi ở đây mà không thấy được cái nghĩa vô lượng này thì không ngủ mê sao? Ngay nơi mình, ánh sáng giác ngộ đầy đủ, ánh sáng bát nhã cũng đầy đủ đó không thiếu vắng lúc nào, giờ nào mà cũng không nhớ không thấy thì không ngủ mê sao? Tỉnh được cái ngủ mê đó thì nơi nơi đầy đủ chưa từng thiếu. Vì vậy các thiền sư khi các ngài chứng ngộ, đều tán thán chỗ này. Như có thiền sư nói: “- Lúc chứng ngộ là lúc thấy ra một lâu đài tráng lệ xây bằng pha lê trên một mảy tơ”. Cả một lâu đài tráng lệ xây bằng pha lê mà chỉ ở trên một mảy lông, “nhưng khi không chứng ngộ thì cái lâu đài ấy cũng khuất lấp sau một mảy tơ mà thôi”. Rất là thấm thía mà cũng thâm trầm sâu xa! Lâu đài đó là lâu  đài gì? Là chỉ cho cái chân thật mà mình bỏ quên đó! Khi chứng ngộ thì thấy nó ngay một bên mình thôi, trên một mảy tơ hay một sợi lông của niệm hiện tiền, còn khi không chứng ngộ thì nó cũng khuất lấp sau một mảy tơ đó chứ không có gì khác. Mình tưởng nó khuất lấp ở đâu, phải chạy lên Cực lạc mới có, không ngờ nó chỉ khuất lấp sau một mảy tơ là mê – tỉnh thôi, đâu có xa! Nhắm mắt, mở mắt là thấy rõ. Vì đó là cái mình sống hằng ngày, bởi mê nên không thấy, tạm gọi là khuất lấp, nhớ lại thì đầy đủ không ở đâu xa hết. Một thiền sư khác nói có vẻ văn hoa hơn: “- Này các thầy! Hãy xem kìa, ánh sáng rực rỡ đang tỏa khắp đại thiên thế giới, cùng lúc nó hiện ra mọi chỗ nơi, hiện tất cả những núi Tu di, những mặt trời, những mặt trăng, những bầu trời và cõi đất, nhiều đến hằng trăm nghìn ức số! Này các thầy, các thầy có thấy ánh sáng ấy chăng?” Các ngài cũng con người như mình, mình cũng như các ngài mà tại sao mình không thấy? Tại vì những cái lăng xăng trong đầu này nhiều quá, nếu những cái lăng xăng trong đầu này nó chịu yên xuống thì thiệt là sung sướng biết mấy! Chứng minh rõ ràng là khi các ngài nhận ra, thấy rõ ra, cảm xúc mạnh như vậy, nó hiện tiền sáng rỡ đầy đủ khắp nơi không có thiếu gì hết, nhưng mình mê nên không thấy. Chính chỗ đó là chỗ Phật hộ niệm, Phật phó chúc! Nhìn thấy được chỗ đó, nên ngài Tu Bồ Đề tán thán “ít có”, khéo léo hộ niệm là như vậy, mắt thường này đâu thể thấy, phải mở mắt trí tuệ mới thấy rõ, quý vị hiểu được nghĩa ít có chưa? Hiểu khéo léo hộ niệm phó chúc chưa?

    Phần câu hỏi chính:

    - Bạch Thế Tôn! Người thiện nam kẻ thiện nữ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên làm sao trụ? Làm sao hàng phục tâm mình?

    Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là phát làm sao? Tâm gì? Nói cho gọn là tâm Phật chứ không gì hết, tức tâm giác ngộ viên mãn luôn luôn không gián đoạn - chánh đẳng chánh giác là đúng đắn, không gián đoạn, không phút giây nào thiếu sót, đó là tâm Phật Vô thượng, không có gì trên nữa, phát là phát cái tâm đó. Như vậy nó ở đâu? phát làm sao? Nếu nghe nói phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, rồi cho là phát tâm của Phật và các vị Bồ tát, nhưng Phật thì ngài đã giác ngộ rồi đâu cần mình phát nữa, Bồ tát thì đã phát tâm đó rồi  mình cũng đâu cần phát tâm đó cho ngài chi nữa, vậy phát tâm đó là phát tâm nào? Cũng chỉ là “cái tâm giác ngộ ngay nơi mình”. Phát là hiển bày ra, tỏa sáng, nếu không có sẵn thì phát ở đâu? Nếu hướng về một cái khác bên ngoài thì lầm mất rồi! Hơn nữa cái tâm bồ đề này có hình tướng ra sao mà mình phát? Cho nên chính cái tâm giác ngộ ngay nơi mình đó mà mình quên, bây giờ tỏa sáng ra, hiện bày ra; khi hiển bày tỏa sáng như vậy thì một chúng sanh giác ngộ, là thành Bồ tát rồi. Chúng ta tưởng Bồ tát là cái gì xa xôi ngoài mình, hiểu rõ thì mình cũng có phần chứ không đến nỗi. Vậy phát là thầm nhận thôi chớ không phải hướng đến cái gì khác để cho mình phát, hướng ra ngoài một cái gì là vọng tưởng rồi. Cho nên ngài Như Như nói: “- Mỗi người đều có Phật, chỉ vì chẳng biết tu; đức Di Đà kề tai chỉ dạy ông, phải soi lại nơi thân mà cầu”. Ngài nói rằng, Phật chính mình đầy đủ không ở đâu xa, chỉ  mình không biết tu thôi. Đức Di Đà ngài kề sát bên tai mình mà nói “chính ngay nơi thân mà cầu chứ dừng chạy ra bên ngoài”. Ngài nói thêm: “- Đức Di Đà hiện nay nói pháp khiến ông ngộ chân tâm chớ không gì khác, một phen ngộ chân tâm rồi thì đồng hiệu  đồng danh, đồng tên với Phật”. Đó là phát tâm, chớ không phải phát tâm bồ đề nơi Phật và Bồ tát, xa xôi quá, có thấy đâu mà phát? Phật Niết bàn lâu rồi, Bồ tát cũng không thấy đâu là Bồ tát, vậy hướng vào đâu mà phát đây? Hiểu được chỗ đó, thì từng chữ từng câu trong kinh đều rất có ý nghĩa sâu xa! Nếu đọc kinh mà đếm câu, đếm chữ hoặc đọc mà tính bộ thì uổng quá, đọc chỉ lo đọc cho nhanh cho mau, để đếm cho nhiều bộ thôi!  Còn ở đây đọc từng chữ, thấm sâu được ý Phật trong đó thì ý rất là hay! Vậy quý vị thấy được nghĩa phát tâm chưa?

    Đến câu hỏi: “nên làm sao trụ? làm sao hàng phục tâm mình”.

    Đây là một ý nghĩa sâu xa nữa. Phát tâm rồi là xong chưa? Phát tâm rồi là thành Phật liền chưa? Phát tâm bồ đề đó rồi, tức đã hiển bày được tâm Phật, song tỏ sáng được cái tâm đó rồi đâu phải vậy là xong. Kinh Hoa Nghiêm đồng tử Thiện Tài khi đến tham học một vị thiện tri thức nào trong năm mươi ba vị thiện tri thức thì ngài cũng đều nói là, “tôi trước đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi nhưng còn chưa biết làm sao học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo”, ngài trước đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi, mà còn chưa biết làm sao học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo là ý nghĩa thế nào? Đã phát tâm rồi, đã tỏ sáng, nhưng còn phải sống, tu để thể nhập, làm sao cho cái tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác luôn luôn không vắng mặt nơi mình; phát tâm rồi, an trụ mãi không gián đoạn, không thiếu sót, không xen hở, mới thực trọn vẹn. Đâu phải phát là xong! Còn những tâm đi lang thang đầu này, đầu nọ thì sao? Mới phát, đâu phải là nó hết liền, mà nó vẫn còn lén lút đi đầu này đầu nọ thì làm sao? Cho nên ngài hỏi làm sao an trụ tâm, làm sao hàng phục tâm là như vậy. Chỗ này rất khế hợp trong nhà thiền. Nhà thiền cũng thường nói, ngộ rồi phải bảo nhậm và giữ gìn chứ không phải ỷ mình ngộ rồi mặc tình sống buông lung không khéo sẽ tạo nghiệp nữa! Vì vậy ngài Sùng Tín khai ngộ rồi, hỏi thiền sư Đạo Ngộ:

    - Làm sao bảo nhậm?

    Ngài Đạo Ngộ đáp:

    - Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm mà không có thánh giải khác.

    Phải thuận theo tánh đó sống tuỳ duyên để cho nghiệp cũ tan hết, sống cho được liên tục ở trong đó; khi tâm phàm hết thì sống trọn vẹn trong đó thôi chứ không có thánh giải nào khác, không có được một cái gì nữa. Nếu muốn tìm một cái gì đó để được, đắc cái gì đó, chứng một cái gì đó, tức còn cái khác nữa thì rơi vào đường tà. Bảo nhậm là vậy đó! Quý vị mới thấy, ở đây hỏi làm sao an trụ và hàng phục tâm mình, đó là đúng theo nghĩa của đại thừa, các vị Bồ tát khai sáng rồi, ứng dụng tu thì mới gọi là chân tu; còn như mình hiểu mà ứng dụng tu thì gọi là tương tợ tu, vì sao? vì mình tin, mình hiểu qua trí tuệ của Phật, của Bồ tát mà tu, chứ chưa phải thật sự khai sáng trí tuệ của chính mình, cho nên đó là tương tợ thôi, chưa phải thật. Nếu khai sáng trí tuệ của chính mình rồi, y theo đó sống, tu thì mới thật là chân tu. Như kinh Lăng Nghiêm Phật dạy tu về pháp phản văn văn tự tánh, là do ngài A- nan ngộ được tánh nghe rồi, mới dạy phản văn đó; trái lại chúng ta chưa có nghiên cứu cho kỹ và sâu, chỉ nghe thấy hay, cũng bắt chước tu mà tu đó không thấu đáo thì thành bịnh. Có những vị nghe nói phản văn, văn tự tánh, là xoay cái nghe nghe trở ngược lại tự tánh, rồi ngày này qua ngày kia cứ xoay lại trong lỗ tai, trong đầu này mà nghe, một thời gian hư lổ tai luôn. Có những vị nghe mãi thành ra máu lỗ tai. Đó là lầm trên chữ nghĩa. Phản văn, văn tự tánh đây, là khi mình ngộ được tánh nghe rồi thì, đối với mọi thanh trần bên ngoài, mọi tiếng bên ngoài đều biết rõ là sanh diệt nên mình nghe tất cả mà không duyên theo những thanh trần đó, cứ luôn luôn nhớ lại tánh nghe mình sẵn có, chứ không phải là xoay nghe lại ở lỗ tai này, đó là lầm lẫn dễ bịnh. Kinh Pháp Hoa cũng dạy, trước đó khai thị tri kiến Phật, mới ngộ nhập. Ở đây tu, sống bát nhã này, thì mở sáng trí tuệ, thấy được “nghĩa Không”, nhưng thường người ta nói, học bát nhã không rồi bác cái gì cũng không hết, không cần tu luôn, đó là lầm! Cái không của Bát nhã, là cái  không của chính trí tuệ bát nhã, cái không trực tiếp ngay đối với bát nhã chớ không phải cái không của con mắt này. Cái không của con mắt này là thấy “Không” đối với cái “”,  thành ra cái không đó là cái không có “tướng” cho mình thấy, mình so sánh phân biệt được; còn cái không này, là “không trực tiếp” của trí tuệ bát nhã, từ trí tuệ bát nhã mình thấy không, đó là “cái không trong cái sáng suốt”, chớ không phải là cái không bác cái này, bác cái kia. Không hiểu kỹ nguy hiểm là như vậy! Chúng ta mới thấy ngài Tu Bồ Đề đã hiểu được ý của Phật, nên đặt câu hỏi rất chính xác: Phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi, làm sao an trụ, sống được với tâm đó? Làm sao hàng phục những tâm đi lang thang kia? Sống an trụ trong tâm này thì những tâm lang thang đó không còn lang thang nữa. Đoạn kế Phật mới khen  ngợi:

    CHÁNH VĂN:

    - Lành thay! Này Tu Bồ Đề! Đúng như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ tát, khéo phó chúc các Bồ tát!

    GIẢNG:

    Ngài xác nhận, cũng giống như nói ấn chứng, là hỏi khế hợp với ý Phật. Như vậy Phật chưa thốt ra lời nào mà ngài Tu Bồ Đề đã dòm thấy hết rồi, nên ngài và Phật thầm hợp với nhau. Trong nhà thiền gọi là truyền tâm ấn. Nghĩa là tâm thầy trò thầm hợp với nhau mà không qua ngôn ngữ, vượt ngoài ngôn ngữ, đó là ấn tâm, truyền tâm. Nếu nghe nói truyền tâm ấn, rồi lầm trên nghĩa truyền, tưởng đâu có cái gì truyền, dễ bị lợi dụng. Như bảo quý vị tu theo pháp của tôi rất hay, tu chừng năm ba tháng sẽ được truyền tâm ấn thì nghe mê là bị gạt liền. Ở đây, thấy rõ ấn tâm là thầy trò khế hợp nhau, thầm cảm với nhau khít khao. Như Phật với ngài Tu Bồ Đề thầm hợp nhau nên Phật khen, ấn chứng:

    CHÁNH VĂN:

    - Nay ông hãy lắng nghe tôi sẽ vì ông mà nói!

    GIẢNG:

    Phật bảo lắng nghe cho kỹ, là một ý nghĩa sâu nữa; bởi vì chỗ này quý vị nghĩ, có phải là chỗ cho mình lý luận không? Nghe mà nghe khơi khơi cho vui thì nghe tới nỗi không? Cho nên ngài nhấn mạnh “lắng nghe cho kỹ”, không phải chỉ nghe một cách hời hợt, nghe lơ là, nghe suông bằng lỗ tai này mà phải nghe lắng sâu, lắng thần nghe sâu tận bên trong, mới thấy được chỗ này. Trước khi nói, Phật nhấn mạnh như vậy để cho mình chú ý cho kỹ, phải toàn tâm mà nghe. Thường chúng ta nghe với cái tâm từng mảng vì suy nghĩ, hoặc cái tâm lang thang, cho nên nghe nó từng mảng từng mảng không chú tâm trở lại, thành nghe rời rạc. Ở đây, ngài nhấn mạnh, nghe phải toàn tâm, nghe cho kỹ, như vậy mới thấu được chỗ kia. Do đó trước khi ngài nói, Phật ngồi thiền nhập định mà nói ra, từ trong định mà nói cũng như đi đứng nằm ngồi đều ở trong định, đang sống ở trong định, rồi trong đó ngài nói ra. Vậy đã từ trong định mà nói ra thì mình nghe, phải nghe thế nào? Cũng phải định tâm mà nghe mới thầm hợp, mới cảm ứng. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “- Các ông còn đem tâm phan duyên mà nghe pháp thì pháp này cũng thuộc về cái duyên chứ chưa phải pháp chân thật”. Bởi vậy nghe phải lắng sâu, chú tâm kỹ mới thấm được chỗ sâu xa vi diệu đó! Nên trước Phật bảo “lắng nghe”.

    Kế Phật răn kỹ: - Đúng như lời ông nói, kẻ thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên như vầy mà trụ, như vầy mà hàng phục tâm mình”.

    Răn kỹ “như vầy” là sao? Như vầy, là như thật đúng như vầy mà an trụ, như vầy mà hàng phục, chứ nếu dấy thêm cái gì khác nữa thì xa. Lại, “như vầy”, là như chỗ ngài hiện bày nảy giờ mà chưa nói đó! Nếu thấy thấu như vậy, an trụ đúng như vậy, hàng phục đúng ý nghĩa đó là sống luôn luôn hằng hữu; y theo đó mà sống là khéo an trụ, khéo hàng phục. Nếu hướng ra bên ngoài mà khởi tâm cầu thêm một cái gì đó để an trụ, để hàng phục thì đi xa rồi. Cầu thêm cái gì đó để an trụ, tức nó dời đổi, đâu còn trụ nữa! Bỏ mình đi cầu cái khác thì mất nghĩa an trụ. Cầu  cái khác là có sở đắc, là quên mình hướng ra bên ngoài, trái với nghĩa Kim Cang bát nhã. Đó là ngài nhấn mạnh ngay trong mọi sinh hoạt hằng ngày đó, chính là chỗ mình hạ thủ công phu chứ không gì khác. An trụ và hàng phục, là chính ngay trong sinh hoạt hằng ngày đó  mà an trụ. Quả thực hai chữ “như vầy” rất đơn giản mà tế nhị.

    CHÁNH VĂN:

    Ngài Tu Bồ Đề thưa:- Vâng bạch Thế tôn, con nguyện ưa muốn nghe.

    GIẢNG:

    Đây cũng là điểm trọng yếu nữa. Một của quý, pháp cao siêu mà đem cho người họ không cần thiết, họ không thiết tha thì sao? Uổng, quá uổng! Nghĩa là, hòn ngọc quý đem cho một đứa con nít thì nó làm gì? Nó đem bắn cu ly chơi thôi. Cũng vậy, pháp cao siêu, cao quý thì phải người thiết tha, khao khát thì đưa ra họ mới sẵn sàng nhận; chứ đâu phải là đồ quảng cáo. Quý vị có đọc kinh Pháp Hoa thì thấy thông với nhau. Kinh Pháp Hoa, trước khi Phật nói, ngài Xá- lợi- phất thỉnh Phật hai, ba phen mà Phật vẫn từ chối, bảo: “- Thôi hãy đừng nói nữa! Việc đó nói ra thì tất cả trời, người đều kinh sợ, nghi ngờ”. Ngài còn nói thêm bài kệ:

    - Thôi thôi chẳng nên nói, Pháp ta diệu khó nghĩ,

    Những kẻ tăng thượng mạn, Nghe ắt không kính tin.

    Ngài ba lần ngăn lại để làm gì? Ngài nói pháp mà phải ngăn lại giống như làm trò đùa hay sao? Đây là đợi cho lòng thiết tha mong cầu mạnh mẽ, khao khát như vậy đó, đúng lúc đưa ra thì họ mới cảm nhận, mới tin, mới quý. Vì vậy trong nhà thiền có những trường hợp khi thiền sinh đến tham học thì các Thiền sư cũng thử thách đủ cách, cho họ khao khát tột mức, rồi mới khơi nhẹ cho họ một cái, họ ngộ liền. Bây giờ nói dễ dàng quá thành chưa ngộ, chưa đủ lòng khao khát, có khi nghe chơi coi thử ông thầy đó nói hay không, nói có lưu loát không, như vậy thì làm sao mà thấm được! Như trường hợp ngài Dương Kỳ Phương Hội, ban đầu ngài theo hầu Thiền sư Từ Minh ở Nam Nguyên; một lúc sau thì ngài Từ Minh dời sang Thạch Sương Đạo Ngô, Sư cũng đi theo và làm giám tự cho ngài Từ Minh. Nhưng mà lâu ngày Sư vẫn chưa tỏ ngộ, mỗi khi đến hỏi, ngài Từ Minh chỉ bảo:

    - Việc ở trong khố ty quá nhiều hãy đi!

    Vậy thôi. Khố ty là việc trong kho, vì ông làm giám tự nên việc trong kho nhiều quá, hãy đi đi! Song việc trong kho này cũng có hai nghĩa! kho ngoài, còn kho ở trong nữa; kho trong này nó chứa nhiều quá, chưa tiếp nhận nỗi, phải không? Cho nên trong nhà thiền, quý vị nghe phải nghe hai ý chứ nghe theo kiểu tầm thường thì không có thấm nỗi đâu. Hôm khác, Dương Kỳ hỏi một lần nữa, thì ngài Từ Minh bảo:

    - Giám tự ngày sau con cháu khắp nơi cần gì vội gấp!

    Một hôm ngài Từ Minh vừa đi ra thì chợt mưa đến, Sư mới rình ở con đường tắt, khi Từ Minh vừa đi đến, Sư liền bước ra, nắm đứng lại, bảo:

    - Ông già này, hôm nay phải vì tôi mà nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông!

    Bởi vì sao như vậy? Vì lòng thiết tha khao khát quá, hết chịu nỗi, bị dồn ép quá! Chính vì vậy, nên ngài Từ Minh chỉ bảo:

    - Giám tự biết là việc quanh co liền thôi.

    Ngay đó, Sư liền đại ngộ, đảnh lễ ngay giữa bùn. Quý vị thấy, một câu nói nhẹ nhàng, mình bây giờ nghe thì sao? Biết là việc quanh co liền thôi, nói tới, nói lui, nói nhiều cũng là việc quanh co mà thôi, cũng là “chỗ này” chứ đâu có gì khác, phải không? Sáng được chỗ này thì xong thôi. Vậy chỉ một câu nói nhẹ thôi, mà ngài đại ngộ, bởi vì tâm đã chín mùi thuần thục, đóng thành khối, lòng khao khát đã mạnh, nên đưa ra đúng lúc. Hiểu vậy mới thấy cái khéo của các thiền sư. Qua đó quý vị sẽ hiểu trường hợp của Tổ Huệ Khả cũng vậy, lúc ngài còn là Thần Quang đến cầu pháp với Tổ Bồ- đề- đạt- ma, trong một đêm mùa đông tuyết lạnh mà Tổ Bồ- đề- đạt- ma cứ ngồi xoay mặt vào vách, để mặc ngài đứng ngoài hiên không ngó ngàng gì tới. Đứng tới sáng tuyết xuống, trong sách ghi là tới đầu gối mà ngài vẫn đứng như vậy. Sáng ra, Tổ mới quay lại hỏi:

    - Ông đến đây cầu việc gì mà chịu khổ như vậy?

    Nếu gặp mình kiểu đó chắc cho ông thầy này lơ là quá, tự ái bỏ đi cho rồi, như vậy có làm Tổ nỗi không? Ở đây đợi lòng thiết tha mạnh, mà cũng để dẹp cái bản ngã xuống, cái bản ngã thấp xuống thì mới quên mình tìm cái thật. Khi đó Tổ chỉ cần khơi một câu nhẹ là thấy được lối vào liền. Nên Thần Quang thưa:

    - Con đến đây chỉ cầu pháp an tâm.

    Tổ bảo:

    - Ông đem tâm ra ta an cho!

    Quang thưa:

    - Con tìm tâm không được.

    Tổ bảo:

    - Ta đã an tâm cho ông rồi!

    Ngay đó Sư thấy được lối vào. Thấy sao dễ dàng quá mà mình đọc hoài mấy năm trời, chưa thấy gì. Như vậy để cho thấy, Phật pháp rất là sâu xa không phải một món đồ quảng cáo, cứ quảng cáo chỗ này chỗ kia om sòm; mà đó là một chân lý sống tuyệt vời, đầy đủ năng lực đưa mình ra khỏi sanh tử, nên đâu thể đưa ra một cách hời hợt mà nhận được, nghe chơi chơi thì đâu dễ gì! Hơn nữa, lâu nay chân lý thật này, mình đã bị nhiều lớp phủ che từ trong sách vở, rồi trong giảng dạy, nó phủ lên mình những lớp màn tưởng tượng quá nhiều, tưởng tượng nó đầy hình ảnh kỳ bí lạ lùng, do đó nếu bảo “ngay đây thôi” thì dễ gì mà nhận. Bởi vậy, phải có những phương tiện đánh thức mình, để cho lòng khao khát, chú tâm thuần thục hướng về một chỗ đó, rồi đưa ra một cái nhẹ, thì mình tin nhận suốt đời. Như trường hợp Tổ Huệ Khả hoặc ngài Dương Kỳ nhận ra như vậy rồi thì suốt đời không quên, còn mình nghe đây, rồi về nhà liền quên. Tóm lại, nếu mình khéo tỏ ngộ thì ngay nơi mọi hành động của mình, trong chỗ ăn cơm, mặc áo, gánh nước, bửa củi, đi chợ, đều đầy đủ “đạo” ở trong đó, đầy đủ “ánh sáng bát nhã” ở trong đó, không thiếu gì hết; khéo nhận thì đâu cũng là chỗ tham thiền, khéo nhận thì đâu đâu cũng là chỗ mình sáng đạo hết. Như ngài Dương Kỳ ngay nơi vũng nước mà ngài cũng sáng đạo được, thì rõ ràng đâu đâu cũng là chỗ Như Lai phó chúc hộ niệm cho mình, chưa từng thiếu sót. Như vậy mới thấy Phật pháp thật là vi  diệu, ít có, đúng như ngài Tu Bồ Đề tán thán. Vậy quý vị có nguyện ưa muốn nghe chưa? Nếu nguyện ưa muốn nghe thì thôi để kỳ sau bắt đầu được nghe, nghe một cách bất ngờ!

  • 5. CHÁNH TÔNG CỦA ĐẠI THỪA

    CHÁNH VĂN:

    3. CHÁNH TÔNG CỦA ĐẠI THỪA

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Các vị Bồ Tát lớn nên như vầy mà hàng phục tâm mình: Có tất cả những loài chúng sanh nào, hoặc sanh từ trứng, hoặc sanh từ bào thai, hoặc sanh từ ẩm ướt, hoặc sanh từ biến hóa, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, ta đều đưa vào Vô dư Niết bàn mà diệt độ cho chúng. Như thế, diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, mà thật không có chúng sanh được diệt độ. Tại sao? Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả, tức chẳng phải Bồ Tát      .

    GIẢNG:

    Đoạn này là tiếp qua của đoạn trước, sau khi Tu Bồ Đề hỏi Phật “người phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên làm sao hàng phục tâm? làm sao an trụ tâm?” đến đây Phật bắt đầu trả lời. Ở đoạn truớc đã nói về “phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác” tức tâm chân thật bất sanh bất diệt, phát được tâm chân thật bất sanh bất diệt, lấy đó làm nhân để tu hành thì tương ứng với cái qủa bất sanh bất diệt, vậy là cái nhân đúng với cái quả, nhân quả tương ứng với nhau, đó là chánh nhân. Được cái chánh nhân đó rồi, nhưng  làm sao sống cho được đầy đủ viên mãn chánh nhân đó? Chính đoạn sau đây Phật dạy cho mình sống, cũng tức là trả lời hai câu hỏi về an trụ và hàng phục; và chính hai câu đáp này là hai câu cốt yếu, từ đó khai triển rộng ra toàn bộ kinh Kim Cang.

    Đây Phật dạy:

    “- Các vị Bồ tát lớn nên như vầy mà hàng phục tâm mình: có tất cả các loài chúng sanh, sanh từ trứng, bào thai, ẩm ướt, biến hoá, gọi là bốn loại sanh; rồi loại có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng đều đưa vào vô dư  y Niết bàn”.

    Đoạn này có mấy điểm: - Điểm thứ nhất Phật nói về câu đáp, đáp hàng phục trước. Ngài dạy đúng như vầy mà hàng phục là sao? Tức là đúng như lý hiện tiền chân thật mà ngài đã thầm hiện ở trước, chính mình đã học qua, đúng như lý đó mà hàng phục, còn ngoài cái đó mà tìm một cách nào khác một phương pháp gì đó, một thần lực gì đó, thì đi xa với cái chân thật. Do đó ngài nhắc là “nên như vầy”. Còn Bồ tát lớn là Bồ tát nào? Sao là Bồ tát nhỏ, Bồ tát lớn? Thường Bồ tát lớn là Bồ tát phát tâm rộng lớn, phát tâm độ tất cả chúng sanh, còn mình phát tâm độ có giới hạn thôi, người nào thân thì mình độ trước, người nào thuộc về thù hay nghịch thì thôi chừa lại bớt, thì có được gọi là Bồ tát lớn không? Nhắc lại, Bồ tát lớn, là Bồ tát phát tâm độ tất cả chúng sanh, không chừa một chúng sanh nào, nghĩa đó là như thế. Đúng ra, câu hỏi là hỏi về an trụ trước, hàng phục sau; nhưng Phật đáp là hàng phục trước, rồi an trụ sau, bởi vì sao? Hàng phục rồi thì an trụ chứ gì! Những tâm lang thang đó mà thả nó đi hoài thì chưa an trụ được. Cổ đức có câu: “- Đản cầu tức vọng, mạc cánh mích chân”, tức là chỉ cầu dừng được cái vọng thôi, chớ có tìm cái chân! Dừng vọng tức là chân rồi, đừng vội tìm cái chân; mình lo tìm chân mà cái vọng không lo dừng, thì tìm cũng là vọng vậy thôi. Dừng vọng tức chân, vì chân và vọng cả hai đều không khác, như sóng và nước, sóng dừng thì nước bằng phẳng, vọng lặng thì chân thật hiện tiền, không cần cầu mà nó cũng đến. Đó là ý nghĩa Phật đáp hàng phục truớc.

    Kế Phật nói về chín loài chúng sanh; sanh từ trứng, từ thai, từ ẩm ướt, hoá sanh gọi là bốn loài sanh: như gà vịt chim chóc là từ trứng mà sanh ra; còn loài sanh từ bào thai như trâu bò; sanh từ ẩm ướt, ví dụ như mình làm dưa cải để có dòi; sanh từ biến hoá như những con lăn quăn nó biến thành con muỗi, những người sanh về địa ngục cũng từ biến hoá sanh. Trong sáu đường luân hồi cũng không ra ngoài bốn loài này, nên bốn loài này thông cả ba cõi. Đó là nói về chỗ sanh.

    Rồi có sắc, không sắc: có sắc là chỉ cho các vị sanh về cõi trời sắc giới, các vị này do chán dục nên tu về các thiền quán, được sanh về trời sắc giới, lên đây y phục tự nhiên, khỏi cần may, và những cõi trời này không có hình tướng nam nữ riêng.

    Không sắc, là thuộc về cõi  trời vô sắc, do các vị chán cõi trời có sắc, nghĩ mình tuy ở cõi sắc nhưng còn có sắc thì còn có những hệ lụy ràng buộc, nên chán sắc và tu về tứ không định, được sanh về cõi vô sắc, cõi này chỉ sống bằng tâm thức.

    Có tưởng, là chỉ cho ở trong cõi trời vô sắc, như hư không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, cũng còn có tưởng. Vô tưởng, là chỉ cho trời vô tưởng, tức các vị tu do dùng sức tưởng mà đè bẹp tư tưởng thì nó tạm dừng, song qua thời gian thì cũng sanh khởi trở lại, cũng bị đọa như thường. Cho nên những vị tu được định này thì sống hàng ngàn kiếp, nhưng hết sức định đó rồi, khởi tâm trở lại, cũng bị luân hồi!

    Chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, là chỉ cho cõi trời phi phi tưởng: Cõi trời này giống như không còn tưởng, nhưng vẫn còn tưởng vi tế, cũng không phải là không tưởng, nên gọi là chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, vẫn chưa ra khỏi ba cõi luân hồi; dù được định này sống hằng tám muôn kiếp, nhưng qua thời gian đó rồi, cũng vẫn bị luân hồi. Bởi vậy trong kinh có kể ông Uất- đầu- lam- phất tu được định phi phi tưởng, vua rất tôn kính, nên thỉnh đến cung hằng ngày dâng thức ăn cúng dường. Mỗi ngày ông dùng thần thông bay đến cung nhận thức ăn, thì vua khom mình xuống đỡ lên toà đàng hoàng, ngày ngày đều như vậy. Một hôm ông vua có việc phải đi, mới dặn người con gái, tức công chúa rằng: - “Đây là vị tiên tu rất có đắc lực, nay cha bận việc nhờ con thay thế, con phải đúng pháp như vậy cúng dường đừng để thiếu sót, khiến bị quở thì nguy hiểm!” Cô con gái nghe lời cha, ông đến cũng đỡ lên tòa đàng hoàng, nhưng khi ông xúc chạm thì ông khởi tâm dục nhiễm, liền mất thần thông. Mất thần thông thì làm sao về? Ông biết dân chúng nghe tin ông là nguời tu được thần thông thì ai cũng quý kính, ai cũng muốn gặp gỡ, do đó ông nói: “- Hôm nay không dùng thần thông đi nữa mà muốn dùng cỗ xe để đi đường bộ cho dân chúng chiêm ngưỡng cung kính”. Về tới núi, ông cũng tu đắc ngũ thần thông trở lại, nhưng khi tu sắp được thần thông thì tiếng chim kêu ríu rít làm loạn tâm, ông mới đến mé nước để tu. Gần sắp được định thì nghe dưới nước cá nhảy lung tung, ông loạn tâm, ông nổi sân ông nguyện sẽ làm chồn bay để bắt ăn các loài trên trời, dưới nước. Sau ông công phu thiết tha nên cũng được trở lại và sanh lên cõi phi phi tưởng. Phật thấy rõ, ông do tâm sân, nguyện ác như vậy nên khi hưởng hết phước rồi, sẽ sanh trở lại làm con chuột bay, con cáo bay để ăn những con kia. Như vậy tu được định phi phi tưởng mà chưa ra khỏi luân hồi. Đây là nói qua về chín loài chúng sanh.

    Còn vô dư y Niết bàn, trước giải thích qua về danh từ, sau giải thích về ý. Vô dư là đối với hữu dư. Nghĩa là các vị A- la- hán chứng Niết bàn, ngay khi các ngài còn có sắc thân này các ngài tu cũng chứng được Niết bàn chớ không phải bỏ thân này rồi mới chứng. Như ngài Xá- lợi- phất, Mục- kiền- liên chẳng hạn, lúc còn sắc thân các ngài cũng chứng được Niết bàn; vì vậy nên gọi là hữu dư y Niết bàn, tức Niết bàn còn có thừa thân này. Còn vô dư là sau khi bỏ thân này mới thật sự là vào vô dư Niết bàn, không còn thừa. Bởi vậy, trong kinh nói các vị A- la- hán khi các ngài chứng hữu dư Niết bàn này, thì các ngài không còn khổ về tâm vì sạch phiền não, nhưng còn có khổ về thân, vì còn mang thân này, còn có khi cảm mạo bịnh hoạn, cũng già cũng chết, đó là dư báo còn sót lại. Khi bỏ hết thân này vào vô dư Niết bàn, không còn bóng dáng gì để thấy. Cho nên có câu chuyện, trong thời Phật có vị bà la môn có tài đọc câu chú rồi gõ vào sọ của người chết nào đó thì biết người đó chết sanh về đâu. Ông sống tại thành Vương xá, nhờ có tài đó mà các vị bà la môn lớn, họ bàn nhau sẽ dùng ông này đi làm tiền được, cho nên họ trang điểm cho ông đàng hoàng, dẫn đi khắp nơi, dân chúng ùa nhau cho tiền. Dần dần họ dẫn ông đi qua nước Xá Vệ, ngụ tạm gần Tinh xá Kỳ Hoàn chỗ của Phật. Hôm đó, thấy hàng Phật tử cầm hoa, hương đi cả đoàn không biết đi đâu, mấy ông bà la môn mới hỏi:

    - Đi đâu mà đông vậy?

    Thì đệ tử Phật nói:

    - Đi nghe Phật thuyết pháp.

    Mấy ông bà la môn nói:

    - Bổn sư gì, thuyết pháp gì, đi làm chi vô ích, đâu bằng vị bà la môn của tôi đây, ông này chỉ cần gõ vào sọ người nào là ông biết sanh về đâu.

    Mấy vị đệ tử Phật mới nói rằng:

    - Đức Bổn Sư chẳng những biết như vậy, mà còn biết nhiều hơn nữa kià!

    Hai bên cãi qua cãi lại, mấy ông này mới thách là, dẫn ông đến đó thử coi ai hơn. Họ bèn cùng nhau dẫn đến Phật, Phật biết trước, nên ngài sai người tìm năm cái sọ, bốn cái của bốn vị: một vị sanh vào địa ngục, vị sanh ngạ quỷ, vị sanh cõi người, vị sanh cõi trời và một sọ của một vị A la hán, đặt sẵn đó. Ông đến, Phật chỉ một cái sọ bảo:

    - Cái sọ này sanh về đâu?

    Ông nói:

    - Ở địa ngục.

    Phật cũng khen, chỉ cái sọ ngạ quỷ ông nói cũng trúng, bốn cái  đều trúng hết, mỗi lần như vậy Phật đều khen ngợi, rồi Phật bảo:

    - Còn cái sọ này sanh về đâu?

    Ông trầm ngâm một hồi, không biết, tìm đâu cũng không thấy. Phật thúc:

    - Sanh về đâu?

    Ông nói:

    - Bạch Thế tôn, chờ tôi chút!

    Ông tìm mãi không ra, cuối cùng ông nói

    - Tôi không biết.

    Phật nói:

    - Như Lai biết.

    Ông hỏi:

    - Ngài làm sao dạy cho tôi câu chú đó.

    Phật bảo:

    - Không được, ông phải xuất gia làm sa môn, mới dạy.

    Ông nghĩ rằng, nếu ông học được câu chú đó thì nhất Ấn Độ, cho nên đồng ý xuất gia. Xuất gia rồi, ông được trao thiền quán về 32 thể trược bất tịnh trong người. Mấy ngày sau, ông chứng quả Alahán. Câu chuyện này, có một điểm cho thấy rằng, khi chứng Alahán thì hết các mầm sanh tử, nên đâu còn có sanh chỗ nào, do đó ông tìm không ra nỗi, không thấy được. Còn có sanh thì còn có chỗ nơi, tức còn thấy được. Đến vô dư y Niết bàn, là không còn bóng dáng gì nữa để tìm. Còn Niết bàn là sao? Chỗ này cũng có nhiều vị hiểu lầm lắm! Niết bàn, Trung hoa dịch ra có nhiều nghĩa: - tịch diệt, diệt độ, viên tịch, vô sanh. Tịch diệt là lặng lẽ, diệt độ là dứt hết những phiền não qua sanh tử; viên tịch là tròn đủ cái đức lặng lẽ; vô sanh là không còn tái sanh nữa. Nhưng nguyên nghĩa của Niết bàn là chỉ cho trạng thái thổi tắt, làm cho nguội vậy thôi. Như là một món đồ đang nóng hoặc lửa đang cháy, thổi cho tắt, làm cho nó nguội, gọi Niết bàn. Nghĩa gốc của nó là như vậy, về sau, dùng để chỉ cho trạng thái của người tu đã tắt hết lửa phiền não nung đốt, đã nguội lạnh, đó là Niết bàn. Nghĩa Niết bàn rất đơn giản, nhưng chúng ta tưởng tượng nhiều quá, nghe nói Niết bàn, tưởng là ở một cõi nào đó mình không bao giờ với tay tới, mà không ngờ nó ngay nơi mình không đâu khác. Tức là tâm không phiền não, dứt được mầm sanh tử thì ngay đó là Niết bàn. Nhưng sau này khi các vị A la hán bỏ thân này, gọi là nhập vô dư y Niết bàn, cũng như đức Phật thị hiện trong cõi  này, rồi ngài bỏ thân này mình cũng gọi là nhập Niết bàn; do đó nhiều người tưởng nhập Niết bàn tức là chết, nên ai tu hành mà bịnh  gần chết thì bảo sắp nhập Niết bàn, đó là đi xa nghĩa Niết bàn quá nhiều. Nếu như vậy, thì ai cũng được Niết bàn dễ lắm! Song thường khi hỏi đến Niết bàn, đức Phật ít có chịu giải thích, là vì sao? Bởi đó là chỗ của người chứng ngộ sống được thì tự biết thôi, người chưa chứng làm sao giải thích cho họ biết đây? Không làm sao giải thích được! Giải thích, còn dễ hiểu lầm nữa! Trong kinh A hàm, có người muốn hỏi đến chỗ đó, Phật chỉ im lặng thôi.  Không thể nói có hay không. Nếu nói có, người ta tưởng đâu như vậy là còn có thân, mà còn có thân là còn sanh tử, tức hiểu lầm Niết bàn. Nếu nói là không, thì tưởng chết nhập Niết bàn là không còn gì hết, thành đoạn diệt, vậy làm sao nói? Do đó khó nói, chỉ để người chứng đến thì liền hiểu rõ. Trong kinh Phương Đẳng Bát Niết bàn, phương tiện nói Niết bàn có tám vị: thứ nhất là thường trụ, nghĩa là không bao giờ mất; thứ hai là tịch diệt, tức vắng bặt lặng lẽ; thứ ba là bất lão, tức không già; thứ tư là bất tử, không có chết; thứ năm là thanh tịnh; thứ sáu là hư không, tức rỗng suốt không ngăn ngại; thứ bảy là bất động; thứ tám là khoái lạc, vui sướng dứt hết mọi cái khổ. Theo trong kinh Đại Bát Niết bàn thì có bốn đức là Thường – Lạc – Ngã – Tịnh. Nói như vậy, là để cho những vị nghe nói Niết bàn đến chỗ đó thì dứt sạch hết phiền não, không còn sanh tử, nhưng không phải không còn gì hết.

    Kế đây nói về câu trả lời của Phật là hàng phục và độ như thế nào? Ngài nói, Bồ tát hàng phục đó, là độ hết tất cả những loài chúng sanh, bao nhiêu loài chúng sanh đó đều độ hết vào vô dư y Niết bàn mà diệt độ cho nó. Tức đưa hết vào chỗ vô sanh. Chính chỗ đó là chỗ dễ nghi ngờ, không biết làm sao mình làm được? Bởi vì, mình là một chúng sanh mới phát tâm Bồ tát, mình chưa độ được mình nữa, thì làm sao độ hết chúng sanh kia! Hiểu như vậy, thì đành chịu không biết làm sao để hàng phục tâm; mà không hàng phục tâm thì làm sao an trụ? Thành ra hiểu cho kỹ thì chúng sanh đây là chúng sanh tâm, chứ nếu phải độ hết tất cả chúng sanh bên ngoài rồi mới thành Phật, vậy Phật Thích Ca thành Phật rồi, sao mình vẫn còn ngồi đây? Cho nên một tâm niệm của mình là một chúng sanh rồi, mỗi một ngày mình sanh đi chết lại không biết bao nhiêu lần, sanh niệm này nó mất, rồi sanh niệm khác, mỗi niệm là một chúng sanh, như vậy cả ngày có vô số chúng sanh, đủ loại hết; có khi là chúng sanh ở cõi người – niệm lành, có khi ở cõi ngạ quỷ – niệm ác hoặc có khi chúng sanh ở cõi địa ngục đau khổ u minh tối tăm, có khi thì ở A tu la, một ngày mình đi vòng hết, có thể sáu đường đều đủ. Nếu nói theo đây, thì một niệm khởi dục tình là vào thai sanh, một niệm mơ tưởng thì vào noãn sanh, bởi vì kinh Lăng Nghiêm gọi là noãn sanh là do tưởng mà đến, một niệm ái luyến là vào thấp sanh – ẩm ướt, một niệm chợt biến đổi là vào hoá sanh, một niệm khởi quán là vào cõi sắc, có sắc, một niệm lờ mờ là vô sắc, một niệm duyên với cảnh là vào có tưởng, một niệm ngu ngơ là vào vô tưởng, một niệm mà thầm thầm phân biệt ở bên trong là phi phi tưởng, thì ngồi thiền nó đủ hết trong đó. Như vậy tự tánh mình vốn vắng lặng thanh tịnh sáng suốt nhưng chợt vừa khởi một niệm động thì mê, mê thì một chúng sanh. Vì mê là che khuất tánh giác, che khuất tánh giác là một chúng sanh chứ gì! Nếu nói theo ngài Thánh Nhất thì vọng tâm của mình chấp phải chấp quấy là có sắc, bác không nhân quả tội phước là vô sắc, còn nói mà chẳng làm là có tưởng, trừ vọng mà chẳng khởi tác dụng là vô tưởng, tức chỉ đè bẹp nó; còn có không đều trừ hết, nói nín đều quên thì đó là chẳng phải có tưởng, nhưng lý lại chưa sáng, còn có tâm cầu lý, đó là chẳng phải không tưởng. Như vậy ngay nơi một vọng tâm của mình cũng đầy đủ các cõi ở trong đó, khi ngồi thiền mình kiểm lại lúc đó thì biết mình đang ở cõi nào. Đã rõ mỗi một tâm niệm của mình là một chúng sanh, vậy thì bây giờ độ cách nào đây? Làm sao đưa vào vô sanh? Niệm thì nó chợt có chợt không, làm sao mình nắm bắt được nó, để độ nó? Điểm đó mới khó! Ở đây, một niệm khởi lên thì phải khéo thấy trở lại “trước khi khởi niệm;” ngay niệm khởi lên, chỉ khéo soi trở lại “trước khi niệm khởi”, thì trước khi khởi niệm có hình tướng gì? Có niệm tức có đối tượng để niệm, có đối tượng mới có hình tướng, mới có thấy được - không có một niệm nào mà không có đối tượng - quý vị thử khởi một niệm mà không có đối tượng gì hết xem? Không có đối tượng làm sao khởi? Bởi niệm là niệm về cái gì? Cho nên có đối tượng, là có tướng ở trong đầu mình, nên  thấy được. Giờ soi trở lại thì nó đâu có hình tướng gì! Như vậy ngay đó tự nó lặng lẽ đâu có bóng dáng gì, là đưa nó vào vô dư y Niết bàn rồi mà không thấy có đưa gì hết. Song cần chú ý! Nếu mình còn thấy cái không tướng thì cũng có đối tượng trước mặt mình, vì “không tướng” thì đối với “có tướng”. Chẳng hạn, mình thấy cái bình bông này là cái có tướng, cái hư không là không tướng, cũng là cái đối tượng, cũng là tướng, tướng không. Trước khi khởi niệm thì không đối tượng nên không có nói là tướng hay không tướng, mà luôn luôn sáng ngời rõ ràng thường biết. Có điều “nói không thể đến”, vì ngôn ngữ không thể diễn tả. Chính đó là tinh thần phản quan! Vì soi trở lại thì đâu có đi theo niệm, không đi theo niệm là hàng phục, là phản quan chứ gì! Tinh thần hàng phục là như vậy! Nên “độ” là “giác” chứ không gì khác. Giác được nó thì nó không còn chỗ để sanh. Sở dĩ  niệm nó sanh được là sao? Là nó luôn theo với cái mê, mê cho nên lấy chỗ tối tối mờ mờ đó mới sanh được;  còn giác thì đâu còn có chỗ nào để nó ẩn trốn nữa, bám vào đâu để sanh? Không sanh là độ. Nếu trường hợp mình không đủ công phu soi trở lại thấy chỗ trước khi khởi niệm, chính ngay khi niệm khởi mình tìm trở lại coi cái gì khởi niệm, tìm một hơi không thấy gì thì nó yên hồi nào không hay, thành độ mà không  thấy độ gì hết. Do đó mới thấy rõ niệm là không thật, nếu thật thì phải có chỗ mình độ, mình đưa nó, như có con thuyền, có con người rồi mình đưa người bên này qua bên kia, đi lên bờ, còn chỗ này soi lại thì yên, yên thì mất bóng dáng, hết chỗ tìm. Nên Lục Tổ nói: “- Niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật”, mình nghe theo danh từ cũng dễ hiểu lầm, thành ra có hai niệm, nhưng sự thật “niệm trước” mê là phàm phu, “niệm sau” ngộ là Phật, tức chỉ cho Phật hay phàm phu chỉ trong một niệm chứ không xa.  Nói gọn lại, mê là phàm phu, ngộ là Phật; nói niệm trước niệm sau là ngầm ý nói chỉ cách nhau một niệm thôi, chứ không phải thật có một niệm trước, thật có một niệm sau. Vì nếu thật có một niệm trước, một niệm sau thì mình cũng khó mà tu hành thành Phật. Niệm trước phàm phu mà thật rồi, thì phải diệt hết cái đó mới được thành Phật. Song nếu nó thiệt thì làm sao diệt? Do đó không có hai niệm thật, chỉ là hai danh từ trên cái giả tướng vậy thôi. Giống như sóng và nước, khi  nước nổi sóng mình thấy như nó có sanh rồi diệt, có lượn sóng lớn, có lượn sóng nhỏ, lượn này trước, lượn kia sau, tiếp nối tiếp nối đuổi nhau một dòng liên tục. Sự thật thì nó có trước sau gì không? Nó cũng chỉ là một mặt nước thôi, đâu có gì trước sau? cũng đâu có gì sanh diệt? Ngay một niệm hiện tiền đây, nó rõ ràng sờ sờ đó, nhưng mê nó thì gọi là vọng, là chúng sanh; giác được nó là chân, đâu có gì khác chen vào! Bởi vậy khi thấy được nó không thật thì mới cảm thông với Phật, cũng như các vị Bồ tát, như Bồ tát Địa Tạng ngài phát nguyện: “- Độ tận hết thảy chúng sanh mới chứng Bồ đề, địa ngục chưa không nguyện không thành Phật”. Nếu thấy chúng sanh thật, thấy niệm thật, thì chắc là không dám phát nguyện như vậy. Vì thấy rõ chúng sanh vốn không thật, vốn đầy đủ Phật tánh; niệm cũng vốn là hư vọng thôi, nguyên thể của nó là thanh tịnh, hiểu như vậy nên các ngài phát nguyện mà không ngại. Hiểu như vậy, thì hết nghi Phật đã thành Phật rồi mà mình vẫn còn ở đây, nếu không thì làm sao Phật thành Phật trước khi mình còn là chúng sanh. Rõ ràng độ chúng sanh là độ tâm chứ không gì khác; bởi vì còn niệm là còn sanh, mà còn sanh thì còn đau khổ, còn phiền não; còn phiền não thì còn địa ngục. Cho nên ngài Lâm Tế nói: “- Phiền não do tâm nên khởi, vô tâm thì phiền não làm sao câu thúc được?” Phiền não bao nhiêu cũng do tâm mà khởi, còn vô tâm thì không gì trói buộc mình được. Tóm lại, đưa vào vô dư Niết bàn, là đưa vào chỗ vô sanh, mà đưa vào chỗ vô sanh thì đâu còn bóng dáng gì nữa để thấy, do đó không có chúng sanh nào để độ. Trái lại, nếu thấy còn có một chúng sanh để độ, tức là chưa đưa vào vô sanh rồi, còn có chỗ để sanh nữa. Để thấy rõ khi vọng lặng tức chân, đó là diệu tâm Niết bàn, Niết bàn chân thật bất sanh bất diệt hiện tiền ngay nơi mình, không đâu xa. Trong nhà thiền có câu: “Tuyệt hậu tái tô” (Chết đi sống lại), phải một phen chết đi thì sống lại, chết đi những cái tâm chúng sanh đó, những tâm vọng tưởng đó một phen chết nó đi thì sống lại; sống lại, mới thấy chưa từng rời Niết bàn, thấy rõ ngay nơi mình là Phật, như vậy thấy rõ Phật luôn luôn có mặt ở mọi nơi, không có nhập Niết bàn. Phật Niết bàn đó, là Phật hình tướng, đó là Phật ứng thân, còn Phật thật chưa từng Niết bàn. Bất cứ ai, nếu khéo nhận thì thấy Phật luôn luôn ra đời với người đó, một niệm mình mê thì Phật Niết bàn, một niệm mình giác là Phật ra đời, vì giác là Phật. Bởi vậy, Phật luôn luôn sẵn sàng lúc nào cũng ra đời, nhưng tại mình không thấy thôi. Từ đó mới cảm thông với Đại sư Trí Giả, ngài tụng kinh Pháp Hoa đến phẩm Dược Vương Dược Thượng, liền nhập định, thấy Phật còn trên hội Linh Sơn thuyết pháp chưa từng tan. Ngài Trí Giả sống ở Trung Quốc cách Phật ra đời cả ngàn năm mà thấy Hội Linh Sơn chưa tan, vậy là sao? Nếu thấy Phật ở trên hình tướng, thì Phật Niết bàn  lâu quá rồi. Như đã nói Phật nhập Niết bàn là Phật hoá thân, Phật ứng thân không phải  Phật thật. Quý vị thấy rõ nghĩa hàng phục tâm chưa? Nhắc lại, là thấy trở lại chỗ chưa khởi niệm, ngay khi nó khởi niệm đưa trở về, soi trở lại chỗ chưa từng khởi niệm, trước khi khởi niệm thì nó không có bóng dáng gì, tự nhiên nó yên, yên đó là đưa vào vô dư y Niết bàn mà không có diệt độ gì hết. Còn nếu thấy có chúng sanh để diệt độ, tất nhiên là còn mắc kẹt bốn tướng, nên ở đây mới nói là lìa bốn tướng. Phật bảo: “- Nếu Bồ tát có tướng ngã, tướng nhân, chúng sanh,thọ giả tức chẳng phải Bồ tát”. Nói về bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả này cũng có thô, có tế. Bốn tướng thô là nói về chấp ngã, thấy thân này là thật có, mình là người độ, có thân tâm này là thật, đó là tướng ngã. Rồi thấy có người thật, có người được mình độ, mình độ người đó thật, đó là tướng nhân. Còn chúng sanh tướng, là thấy thật có nhiều loài sai biệt, loài này loài kia, và chúng sanh thật có nhiều căn cơ, có người ngu người trí đủ hết, đó là tướng chúng sanh, nghĩa là thấy mỗi tướng  sai biệt nó là thật. Tướng thọ giả, tức là chấp chúng sanh ai cũng có mạng sống thật, cho nên ai mà đoạt mạng này thì hận lắm! đó là tướng thọ giả, nói theo tướng thô. Đúng ra nói theo tinh thần Kim Cang thì nó tế hơn: ngay trong tâm niệm của mình vừa khởi một niệm độ là sao? ai khởi niệm? đó là tướng ngã. Khởi niệm độ là nghĩ ta độ chứ gì? Rồi thấy có niệm để đối trị là có tướng nhân; thấy vọng tưởng là vô lượng vô biên là tướng chúng sanh; rồi niệm này liên tục không dứt, đó là tướng thọ mạng. Như vậy dùng trí  xét cho tột nguồn tâm thì vừa khởi niệm là rơi vào bốn tướng rồi, mà còn bốn tướng thì còn có sanh, có sanh thì có diệt, là đi trong sanh tử, chưa phải là Bồ tát. Song nói bốn tướng chia ra như vậy, sự thật xét cho kỹ cũng là một tướng “Ngã” này thôi chứ không gì khác. Từ một cái “ngã” mà chia từ thô tới tế để cho mình thấy rõ. Tướng nhân, là do có cái ngã này mới có cái nhân, chúng sanh cũng vậy cũng do ngã, rồi tướng thọ giả cũng do thấy có ngã, từ cái ngã mà hiện ra. Do đó người tu hành mà không đạt được đạo, không giải thoát được, cũng bởi vì còn “cái ngã”. Chính cái ngã nó che, nó cột hoài không giải thoát được. Còn chân lý luôn sáng ngời, cũng như “ánh sáng bát nhã” luôn hiện tiền trong mọi oai nghi, mọi cử chỉ của mình, ngay khi mình ngồi tại đây nó cũng có đủ ở đây, nhưng bị cái ngã che thành mù. Phật phó chúc rõ ràng là, “ánh sáng bát nhã” luôn có hết trong mọi cử chỉ, oai nghi hành động, nhưng khổ nỗi hầu hết chúng ta chấp “cái ta mấy chục ký lô” này, chấp “cái ta một thước mấy” này, thành ra chỉ có thấy cái ta này, làm sao thấy được “cái kia”! Cái kia nó vẫn hiện tiền nhưng cứ nhớ cái này, vì nó dễ thấy. Song cứ nhớ nó, lỡ có ai mà đụng tới nó…, thì làm sao mà thấy cái kia. Chính vì vậy, mới đáng thương cho cái thật vẫn sát bên, nhưng do mê lầm chấp cái ngã làm thật nên mắc kẹt chỗ đó mà chia cách. Nhìn cái hoa thì liền có cái “ý tôi” trong đó, “ý tôi” thế này, ý tôi thế kia, mà có “ý tôi” thì có “ý người”, có ý tôi, ý người thì bản thân của sự vật bị chia chẻ, cái hoa không còn là cái hoa như nó là nó, mà có cái hoa của tôi tốt, có cái hoa của anh xấu, bởi vì mỗi người nhìn theo một ý riêng. Tôi thấy cái hoa này tốt là bởi vì sao? Vì từ trước, tôi chưa từng thấy cái hoa này. Còn cái hoa của người kia xấu, bởi vì họ từng thấy những cái hoa còn đẹp hơn nữa. Nhưng với chị kia thì sao? cái hoa này hình như ai ăn cắp trong vườn của tôi. Thành ra cái hoa bản thân nó không còn là nó nữa mà nó bị chia chẻ rồi! Chân lý cũng như vậy, chân lý thì luôn sáng ngời chân thật như vậy, nó tinh khôi chưa từng bị chia chẻ, nhưng chính cái ngã xen vào trong đó, chia chẻ, thành ra có chân lý của tôi, chân lý của anh, mà chân lý thì đâu có của tôi, của anh! Nếu có của tôi, của anh thì thành ra khía cạnh thôi, chứ không phải là sự thật như như. Xét xa hơn một chút thì sẽ thấy, mỗi sự khen chê, mỗi sự công kích nhau ở thế gian này, là nhắm vào cái gì? Nhắm vào cái ngã này thôi. Có chưởi mắng là chỉ mắng cái tôi này thôi, chứ cái tôi chân thật kia, cái thể Kim Cang kia, làm sao họ thấy mà họ mắng? làm sao mắng tới cái kia? Bởi vậy mình lầm chấp cái tôi này thành ra bị mắng liền! Như vậy ngay nơi niệm này mình soi sáng trở lại tức lìa bốn tướng, mà lìa bốn tướng thì bát nhã hiện tiền, ý chỉ hàng phục tâm là ngay đó! Nhân đây hiểu qua chỗ ngài Huệ Khả được Sơ Tổ an tâm. Nghĩa là ngài đến cầu Tổ xin pháp an tâm, thì Tổ Đạt Ma bảo:

    - Đem tâm ta an cho.

    Ngài soi tìm trở lại không thấy bóng dáng gì hết, liền thưa:

    - Con tìm tâm không thể được.

    Tổ bảo:

    - Ta an tâm cho người rồi.

    Đó là thấy được cách hàng phục tâm. Cho nên tu, là ngay nơi tâm niệm chứ không gì khác. Tổ Lâm Tế dạy rất rõ ràng: “- Nếu vọng niệm khởi lên chớ cho nó tiếp tục, còn nếu nó chưa khởi lên thì đừng cho nó khởi, như vậy cũng hơn quý vị mười năm đi hành cước”. Đi hành cước chỗ này, chỗ nọ, không bằng ngay nơi một niệm vọng khởi lên, đừng cho nó tiếp tục, hoặc nó chưa khởi, đừng cho nó khởi, vậy ngay đó là đủ, khỏi xách gói chạy đi đầu này đầu kia! Sở dĩ xách gói chạy đi đầu này đầu kia, cũng chỉ để tìm trở lại chỗ đó thôi chứ gì? Ngài Nam Nhạc nói đơn giản hơn:“- Đất tâm nếu không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu”. Nếu ngay nơi đất tâm đã không, không này là không gì? Không những chúng sanh đi lang thang đầu này đầu nọ; đất tâm nếu không những chúng sanh đó, thì mặt trời Kim Cang bát nhã tự chiếu rõ ràng, đơn giản không phải nhọc nhằn xách gói chạy tìm bát nhã ở đâu. Nếu mình luôn luôn chiếu soi trở lại nguồn tâm như vậy đó, công phu thuần thục, cơ duyên đến mình sẽ thành Phật ngay trong đi đứng không phải đâu xa. Đó là yếu chỉ hàng phục rất là sáng sủa! Tóm lại, niệm khởi lên liền thấy, cái gì thấy được niệm? Niệm không thể thấy được niệm,vọng cũng không thấy được vọng, bóng cũng không thấy được bóng, chính thấy được chỗ niệm khởi đó, là bước trở về, là kiểm soát lại, là đi trong ánh sáng, là hàng phục, là chỗ ứng dụng để sống, đó là nói về lý. Nói rộng ra trên sự,  khi mình phát tâm độ tất cả mọi loài chúng sanh, đó là mở tâm rộng lớn, chính tâm rộng lớn đó là để phá ngã. Quên chấp ngã mới phát tâm độ hết mọi loài chúng sanh, không phải độ riêng số này, số kia không hợp với tôi để dành lại một bên, thì chưa phá tột tâm chấp ngã.

    Thứ hai, phát tâm rộng lớn độ vô số vô biên chúng sanh đó là tâm trường viễn; không phải độ một ít thôi rồi nghỉ, mà độ vô số thì không có chừng hạn, như vậy mới trường viễn, kiên cố lâu dài, không có thối chuyển.

    Thứ ba, phát tâm độ vào thẳng vô dư Niết bàn, tức thẳng đưa vào chỗ vô sanh chứ không đâu khác, đó là “tâm chuyên nhất”, không có xen tạp, chỉ hướng đến một con đường vô sanh vậy thôi. Nếu mình phát tâm được như vậy, thấy đến chỗ đó thì sao? Công phu tu hành của mình chắc chắn có kết quả, không nghi ngờ. Trái lại phát tâm độ một số nào thôi, dừng lại đó, là có tâm tự mãn, thiếu tâm trường viễn và dễ sanh bệnh dừng lại giữa đường, đứng chựng lại không có tiến được. Hoặc là đặt cái thời gian tu, mà đặt thời gian thì cũng là cái chướng ngại nữa. Có người phát tâm tu tha thiết, nhất định ba tháng sáu tháng là phải ngộ đạo, qua sáu tháng không ngộ liền thối tâm. Ở đây thì không có thời gian, không có giới hạn, mình làm hết mức của mình, công phu thuần phục đầy đủ thì tự nhiên nó khế hợp thôi, không cầu mà cũng được, còn đặt như  vậy lại là một hình thức khác của tập khí bản ngã kiêu ngạo nữa. Như vậy đoạn hàng phục tâm, chính là sự sống thực của mình đó, sống trở lại, quay trở về, ngay từng tâm niệm của mình khéo soi trở lại, không lăng xăng lộn xộn, chỉ sống với bát nhã, đó là hàng phục. Tới đoạn vô trụ.

     

  • 6. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

    CHÁNH VĂN:

    4. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

    - Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Bồ Tát đối với pháp nên không chỗ trụ mà thực hành bố thí. Nghĩa là, chẳng trụ sắc bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp bố thí. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng.Tại sao? Nếu Bồ Tát chẳng trụ tướng mà bố thí, phước đức đó chẳng thể nghĩ lường.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương Đông có thể nghĩ lường được chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được.

    - Này Tu Bồ Đề! Hư không ở phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn hướng, trên dưới có thể nghĩ lường được chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được.

    - Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát không trụ tướng mà bố thí, phước đức cũng lại chẳng thể nghĩ lường như thế.

    - Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên đúng như điều đã dạy mà trụ.

    GIẢNG:

    Đó là nói về diệu hạnh vô trụ. Diệu, tức là không thể nghĩ bàn, đây cũng chính là chỗ sống của Bát Nhã, chỗ an trụ vi diệu. Trước tiên, Phật nêu ra về bố thí mà vô trụ. Bố thí mà không có trụ tướng thì làm sao bố thí? Cầm đồng bạc cho cũng có tướng rồi, đem nắm cơm cho cũng có tướng rồi, dùng lời an ủi thì cũng là âm thanh, có đủ tướng rồi, vậy bố thí mà không có trụ tướng thì làm sao đây? Đây là bố thí nhắm vào tâm. Bố thí, là buông xả không có nắm bắt, là hai tay xòe ra; còn trụ là sao? Trụ, là dính, là kẹt, là vướng mắc. Chân mình mà đứng trụ một chỗ cũng kẹt vào đó, tay mà bám trụ chỗ nào thì nó dính chỗ đó; buông ra thì tự tại. Vậy bố thí mà không có chỗ trụ là sao? Là buông xả, là không có dính mắc một cái gì hết, cũng không có nắm bắt cái gì hết, cũng như không có chỗ nào để tâm dừng, không có chỗ nào để tâm trụ. Cho nên chỉ một chữ “xả” này mà xét cho sâu thì tu cả đời không xong. Với một chữ “xả” này, tu thấp thì xả cái ác mà làm cái thiện, cái đó cũng khó rồi, nhưng tu lên cao, cao nữa thì xả cả thiện cả ác luôn càng khó hơn; cao hơn nữa, xả cả cái xả, càng rất khó. Xả, là gì? là buông, là không dính vào đâu. Ở đây dạy bố thí mà không có trụ vào sáu trần, đối với pháp nên không có chỗ trụ mà thực hành bố thí, tức không có trụ sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí, nói gọn không trụ vào sáu trần; nghĩa là buông xả sáu trần, không có dính mắc, không có duyên theo một trần nào hết, như vậy là sao? Tức là trả về nguyên thủy, cái thấy là thấy, cái nghe là nghe, cái ngửi là ngửi, cái nếm là nếm, đúng như nó là nó không xen lẫn vào, không dính mắc vào cái sắc thân, “thấy nghe ròng rặc là thấy nghe” thôi. Kinh Lăng Nghiêm có câu này: “- Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến, tư tức Niết bàn”. Nghĩa là cái thấy biết trên đó thêm cái biết, tức lập cái thấy biết nữa, thì đó là gốc vô minh; cũng như ngay cái thấy biết này mà thêm cái tưởng phân biệt vào trong đó nữa, tức là gốc vô minh, là quên chính nó rồi, đó là đi theo cái “trần” kia. Còn ngay đó mà không có thêm cái tưởng phân biệt gì nữa, không có thêm cái thấy biết nào hết, thì nó vắng lặng, là Niết bàn, vẫn nguyên vẹn cái thấy là cái thấy, cái nghe là cái nghe. Chúng ta thì thường là có thêm. Như đã nói thấy cái bông đó, là có thêm cái tôi trong đó, tức sanh chuyẹn. Xuyên qua kinh Pháp Hoa nói là Khai thị tri kiến Phật, thì tri kiến Phật là cái gì? Nếu chỉ hiểu theo danh từ thì không thấy được ý sâu của Phật. Tri kiến Phật, là tri kiến giác ngộ, mà tri kiến là thấy biết, nói đủ là thấy nghe hiểu biết. Tức là ngay cái thấy nghe hiểu biết, đầy đủ giác ngộ trong đó, mình lại quên cái đó, rồi theo những trần bên ngoài. Đã duyên theo trần bên ngoài, đâu còn nhớ được cái thấy biết giác ngộ! Ở đây Phật dạy bố thí các trần, không duyên theo đó, để trả về cái thấy biết chân thật đó, là ngầm chỉ cái gì? Đó là ngầm chỉ con đường trở về quê hương muôn thuở của mình mà mình quên tự đời kiếp nào. Chính đó là con đường trở về chứ không đâu xa hết. Trong nhà thiền có câu chuyện, có vị tăng hỏi Hòa Thượng Càn Phong:

    - Mười phương Bạc già phạm (chỉ chư Phật Thế Tôn) đều đồng một con đường Niết bàn, chưa biết đầu con đường đó ở đâu?

    Ông tăng hỏi cũng cắc cớ phải không? Phật với Phật đạt Niết bàn, cùng một con đường đó, nhưng mà đầu đường đó ở chỗ nào? Ngài Càn Phong cầm cây gậy vạch một vạch trong hư không bảo:

    - Đây!

    Ai thấy đầu đường chưa? Cho thấy rõ, mê ngộ ngay trong đường tơ kẻ tóc. Thường thường mình thấy, lấy cây gậy vạch trong hư không thì mình chỉ thấy cây gậy thôi, đó là theo sắc rồi! Theo sắc, cho nên không thấy đầu đường đâu cả. Nếu ngay đó quên cây gậy mà nhớ cái kia thì sao? Thì thấy đầu đường liền! Tức ngay sáu căn này là con đường trở về, rõ ràng đâu có xa! Quên cái này chạy theo sáu trần là đi lang thang. Chính đó là chỗ “thấy dấu” trong mười bức chăn trâu. Đọc tranh chăn trâu, chúng ta nghe nói chỗ thấy dấu, mà không biết dấu ở chỗ nào; bởi vì trâu của mình nó đi hoang lâu rồi, từ lâu vô lượng kiếp rồi bắt không kịp nó, cũng không biết bóng dáng nó chỗ nào nữa. Song nó đi như vậy đó, là từ đâu mà đi? Từ sáu căn này nó đi ra thôi. Chính từ sáu căn này mà nó phóng ra ngoài, rồi nó đuổi bắt với sáu trần, mới lang thang đây đó, đầu này đầu kia, cứ thế lang thang mãi, quên mất đường về, phải không? Cứ theo sáu trần đâu còn nhớ đường về nữa. Do đó, bây giờ tìm đường về thì không biết đâu mà về, không thấy bóng nó nữa thì lấy đâu mà về? Giờ muốn tìm trâu thì phải làm sao? Trâu không thấy được, thì phải tìm cái dấu, mà dấu đó từ đâu? Từ cửa thấy, nghe đó, đó là dấu trâu đi! Còn có thấy, còn có nghe thì biết chắc trâu chưa mất đi đâu. Ngay cái thấy nghe đó, khéo soi trở lại liền thấy con đường về, theo đó sống trở lại thì quê nhà ngay trước mắt, trâu vẫn sờ sờ. Trong nhà thiền có câu chuyện: ngài Ngưỡng Sơn tới phiên chăn trâu dưới núi, vì trong thiền viện ngày xưa cũng có làm ruộng nên cũng nuôi trâu cày, có ông tăng đi lên núi rồi lại xuống sớm, ngài mới hỏi:

    - Sao ông mới lên rồi xuống mau vậy?

    Ông tăng nói:

    - Vì duyên không hợp.

    Ngài hỏi:

    - Có nhân duyên gì không hợp?

    Ông Tăng mới kể:

    - Tôi lên đó, Hòa Thượng hỏi tôi là: “ông tên gì?”. Tôi đáp là: “Qui Chân”. Hòa Thượng hỏi: “Qui Chân ở đâu?” Tôi đáp không được. Thành ra  duyên không hợp nên phải xuống núi.

    Ngưỡng Sơn nói:

    - Ông lên nói lại: “- Thưa Hòa Thượng, con đáp được”. Hòa Thượng hỏi: “- Đáp sao?” Ông nói là: “- Ở trong tai, trong mắt, trong mũi, trong lưỡi, ông cứ nói vậy đi!”

    Ông lên trở lại, thưa:

    - Bạch Hòa Thượng con nói được rồi.

    Qui Sơn hỏi:

    - Ở đâu?

    Ông nói là:

    - Ở trong tai trong mắt trong mũi trong lưỡi.

    Qui Sơn bảo:

    - Kẻ học lóm!  Đây là lời thiện tri thức của năm trăm người.

    Ông mới thưa thiệt:

    - Đó là vị tăng ở dưới núi dạy con nói vậy đó.

    Quý vị thấy sao? Ngưỡng Sơn chỉ nói một câu đó, nhưng Qui Sơn hiểu được đó là lời của vị thiện tri thức đã thấy đạo. Qui Chân, tức trở về chân thật, mà cái đó ở đâu? Chỉ ngay trong sáu căn này thôi. Nhưng ông tăng đó không có chỗ thấy thật, cho nên hỏi bất ngờ đâu thể nói gì được. Đến khi xuống núi học được, trở lên nói thì ngài nhìn vẻ mặt, ngài biết là không phải thứ thiệt. Vậy ai thấy chỗ trở về chân thật của mình chưa?

    Như vậy, phần trên mình học độ chúng sanh, đó là độ ở ngay trong tâm, vừa khởi lên liền đưa vào chỗ vô sanh. Ở đây đối diện với sáu trần luôn luôn hằng sáng hằng tỉnh không có lầm lẫn, không có vướng mắc, thấy nghe hiểu biết trước mọi cảnh vẫn không mê, chính đó là chỗ sống liên tục tỉnh giác. Ai biết chỗ đó là gì chăng? Tức là chỗ công phu bảo nhậm đó, là chỗ đức Phật ngài phó chúc hộ niệm. Nghĩa là luôn luôn sống thấy nghe hiểu biết đối diện với sáu trần, mà hằng tỉnh hằng giác liên tục không có gián đoạn thì đó là chỗ bảo nhậm của mình chứ có gì đâu. Câu “hồi quang phản chiếu” thường nghe cũng chính chỗ này, tức là luôn luôn quay ánh sáng soi ngược trở lại, ánh sáng đó là ánh sáng thấy nghe hiểu biết này, thay vì thấy nghe hiểu biết phóng ra bên ngoài, thì ngay đó soi trở lại là buông xả sáu trần, tức luôn luôn tỉnh  sáng không có lầm bất cứ một trần nào, đó là con đường sống trở về, rất là đơn giản! Cho nên Lục Tổ có dạy: “- Này các vị thiện tri thức! Tự tánh chân như nó khởi niệm, tuy có sáu căn thấy nghe, hiểu biết mà chẳng nhiễm muôn cảnh thì chân tánh thường tự tại. Nên kinh nói: “Hay khéo phân biệt tướng các pháp mà nơi nghĩa đệ nhất vẫn chẳng động”. Nghĩa là, thường thường khởi niệm là cái gì khởi niệm? Vọng tâm khởi niệm. Còn đây, người tu khi mình phát tâm chánh đẳng chánh giác, rõ được tâm bồ đề thì sống bảo nhậm nó, là thuận theo tánh mà khởi dụng, nên từ tự tánh chân như đó mà khởi thấy nghe hiểu biết, thấy nghe hiểu biết luôn luôn mà không rời tự tánh, thì ngay đó chân tánh thường trụ tự tại, đâu có cái gì che đậy, đâu có cái gì ngăn lại! Còn mình không có từ nơi tự tánh khởi dụng, mà vọng tâm nó khởi dụng, nên nó mê lầm chấp vào các trần kia. Giờ đây thường buông xả để thuận trở về với tự tánh mà khởi dụng, thì luôn luôn thấy nghe được sáng ngời. Rồi khéo phân biệt các pháp mà nơi đệ nhất nghĩa chẳng động, là phân biệt tất cả mà không có lầm, không mê, không theo đó mà sanh diệt, tức không rời tự tánh, đó là chỗ sống chân thật. Do đó điểm thứ hai, đức Phật dặn kỹ là: “nên như thế mà bố thí, tức chẳng trụ nơi tướng mà bố thí, thì cái phước đức đó nó vô lượng”. Bảo xả mà không có trụ vào cái gì hết, như vậy xả mà không có gì để xả. Có trụ thì có cái để xả, không trụ thì không có cái gì để xả, câu này mới nghe thấy nó thường, nhưng thật là ý nghĩa rất sâu xa: có chỗ xả thì có chỗ tiếc. Xả mà còn có chỗ để buông, còn chỗ để nhớ, thì lâu lâu tiếc nhớ kiếm lại. Trong Luật có câu chuyện về Tỳ Kheo hoàn tục bảy lần, ông là nông phu phát tâm xuất gia. Khi phát tâm xuất gia thì những đồ cày cuốc ông đem dấu một chỗ kín, xuất gia rồi lâu lâu ông buồn nhớ lại những cái đó, ông hoàn tục trở về làm ruộng lại, tìm cái cuốc cày đó sống trở lại, rồi sống ít lâu thấy chán lại xin xuất gia nữa. Nhưng trong luật Phật cho xuất gia bảy lần, đối với người Tỳ Kheo, chứ bên Ni là không được. Xuất gia được ít lâu cũng nhớ cái đồ đã dấu đó nữa, lại hoàn tục, cứ vậy hoàn tục rồi xuất gia, đến lần thứ bảy, thì ông mới quyết tâm vác cuốc đi lên đứng giữa cầu nhắm mắt quăng mạnh một cái, rớt đâu đó thì rớt, không cho thấy nữa, rồi ông la lên “thắng rồi, thắng rồi”. Ngay lúc đó, ông vua cũng vừa thắng trận trở về, vua nghe tiếng “thắng rồi, thắng rồi” không biết thắng cái gì, vua mới kêu ông lại hỏi: - Ta thắng trận trở về là ta thắng, còn ngươi thắng gì mà ngươi la thắng thắng như vậy? Ông mới kể câu chuyện như trên, vua bèn tán thán. Vậy là sao? Buông mà còn có chỗ nhớ để trở về lại. Ở trong đạo cũng có nhiều vị xuất gia, nhất là mấy cô xuất gia mà có tóc dài đẹp, cắt lại gói kỹ để kỷ niệm. Tiếc! Đó là bố thí cũng còn có chỗ để giữ lại. Còn Phật dạy xả, không có chỗ trụ, nhưng có người lại nghĩ, mình xả như vậy nó đoạn diệt sao? Nghĩa là không trụ một tướng gì hết, thì tách rời các tướng, đoạn diệt các tướng hay sao? Cần nghe kỹ, không trụ mà cho, không trụ một cái gì hết mà cho, đây là điểm đặc biệt! Nếu không phải người thật sống được thì cũng khó nói ra chỗ này, làm sao không trụ vào chỗ nào hết mà cho? Tức là, đối với sắc vẫn cho thấy, đối với tiếng vẫn cho nghe, đối với hương vẫn cho ngửi, đối với vị vẫn cho nếm, nhưng không cho có chỗ trụ, thì nghe, thấy, ngửi, nó như thế nào, vẫn là như thế đó, không đồng hoá nó với các trần; thấy sắc nhưng không đồng hóa cái thấy này với sắc đó, nghe tiếng nhưng không đồng hóa cái nghe với tiếng thì, thấy, nghe vẫn nguyên vẹn là thấy, nghe, không có thêm bớt cái gì trong đó, vậy là an trụ rồi. Bát nhã hiện tiền rồi. Quý vị thấy nó vi diệu không? Mình thấy sắc thì mình đồng hóa với sắc, chỉ biết có sắc. Do đó gọi là quên mình theo vật. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật khai thị cho ngài A Nan: Khi đưa tay lên thì nói có thấy, để tay xuống thì bảo không thấy, bị Phật quở. Giờ đây, cho thấy, cho nghe hết, nhưng không có trụ vào đó, thì thấy, nghe không có dính vào đâu, vậy ngay khi thấy nghe đó, tâm nó có giới hạn gì? Thấy mà dính với sắc thì nó giới hạn nơi sắc, nghe mà dính với tiếng thì nó giới hạn ở tiếng. Có người tới vườn hoa hoặc là đi trên đường ở chỗ đông người, nghe có đám ca nhạc hay, rồi mình lắng tai nghe tiếng đó, thấy nó hay quá rồi say mê đứng đó chú tâm vào nghe, thì tâm mình nó giới hạn ở chỗ đó, có khi bị móc túi không hay, phải không? Đó là nó có chỗ dính, mà có chỗ dính là nó có giới hạn. Còn tâm mình không có dính gì hết thì nó thênh thang, nó sáng suốt, có ai động tịnh gì mình hay liền. Bởi vậy ở đây đức Phật ví dụ: cũng như hư không ở phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc, bốn hướng trên dưới không có giới hạn. Nói hư không ở phương Đông, phương Tây, phương Bắc, phương Nam ..v.v... cũng là nói theo cái nhìn thông thường, chứ sự thật thì hư không không có Đông Tây Nam Bắc mà nó thênh thang không ngằn mé, tâm mình cũng vậy, nếu không dính một vật gì, không có trụ vào đâu, thì nó cũng thênh thang, không ngằn mé; cho nên ngài mới nói phước đức cũng như vậy, không có thể nghĩ được. Phước đức này là phước đức vô tướng. Phước đức sống trở về tâm chân thật trùm khắp, chứ không phải cái phước đức như vua Lương Võ Đế hỏi bố thí, cúng dường, cầu phước, đó là phước đức hữu tướng. Hiểu vậy, mới thấy nghĩa vô trụ mà bố thí, thì phước đức nó là như vậy.

    Điểm kế, Đức Phật dạy: “phải đúng như điều đã dạy đó mà trụ”. Câu này cũng thật sâu xa! Ở trước nói không trụ, ở đây lại nói trụ, đúng như những điều đã dạy đó mà trụ. Tại sao ở trước dạy không trụ mà ở đây lại trụ? Bởi vì, không trụ vào bất cứ một cái gì hết, tức là chân trụ, là an trụ. Quý vị kiểm lại xem, mình không trụ vào một cái gì hết thì tức là nó an trụ rồi, nó chân trụ rồi; còn vừa có một chỗ trụ, dù là một điểm nhỏ, tức nhiên là dời đổi rồi, là động rồi. Vì có chỗ trụ là có tướng rồi, mà có tướng là có chỗ thấy, có chỗ thấy là tâm sanh. Không chỗ trụ là an trụ, là thường trụ. Thấy thấu tột chỗ này, mới thấy đó là trụ xứ của Bồ tát, và mới thấy thể Kim Cang bày biện khắp nơi chưa từng che dấu chỗ nào, khỏi tốn một đồng xu đi tìm.  Dẫn một câu chuyện nhà Thiền:

    Ngài Trần Tôn Túc, có một vị tăng mới đến, Sư hỏi:

    - Ông từ đâu đến?

    Vị Tăng thưa:

    - Bạch Hòa Thượng, con từ Ngưỡng Sơn đến.

    Sư bảo:

    - Ông nói láo!

    Vị tăng mới đến, ngài hỏi “ông từ đâu mới đến” thì vị tăng thật thà nói “từ Ngưỡng Sơn đến” ngài lại bảo “ông nói láo”, như vậy là sao? Chính vô trụ thì mới thấy được chỗ này. Ông đang hiện tiền, đang đứng ở đây này, đang đứng rõ ràng đó, nói năng rõ ràng đó, mà lại quên cứ nhớ Ngưỡng Sơn thôi. Đứng đây mà lại nhớ Ngưỡng Sơn, quên mất cái hiện tiền ngay đây mà bám vào kia, cho nên Sư mới bảo: “Nói láo”, đang ở đây mà nói ở kia, đó là mình tự dối mình.

    Còn ngài Động Sơn Lương Giới thì lại khác. Sư từ giã ngài Vân Nham đi nơi khác. Vân Nham hỏi:

    - Thế ông đi nơi nào?

    Sư đáp:

    - Tuy lìa Hòa Thượng mà chưa xác định chỗ ở.

    Đáp hay! Ngài Vân Nam hỏi:

    - Phải đi Hồ Nam chăng?

    Sư đáp:

    - Không.

    Hỏi:

    - Phải đi về quê chăng?

    Đáp:

    - Không.

    Hỏi:

    - Đi bao lâu thì trở lại?

    Sư thưa:

    - Đợi Hòa Thượng có chỗ ở thì trở lại.

    Đáp hay không? Có chỗ ở thì có chỗ trụ, có chỗ trụ tức nhiên là rớt trở lại. Bởi có chỗ trụ tức là có chỗ dính mắc, có chỗ dính mắc thì có chỗ trở lại luân hồi, có chỗ sanh trở lại.

    Vân Nham bảo:

    - Từ đây một phen đi khó được thấy nhau.

    Sư thưa:

    - Khó được chẳng thấy nhau.

    Khi mà không có một chỗ trụ nào thì lúc nào cũng hiện tiền luôn luôn, có lúc nào rời nhau đâu? Cho nên “khó được chẳng thấy nhau”, lúc nào cũng ở trước mặt thôi, tuy đi xa mà cũng không rời Hòa Thượng, cũng không rời chân thật đó. Trái lại có chỗ trụ, đó mới là cách nhau, tuy ngồi kế bên nhau nhưng có chỗ trụ thì cũng không thấy nhau, còn tuy ở xa nhưng không có chỗ trụ nào hết thì vẫn thấy nhau, lúc nào cũng hiện tiền, thấy nhau là thấy chỗ chân thật đó, đáp rất là hay, rất là khéo!

    Qua ngài Bảo Triệt với ngài Đơn Hà khi đi đến núi Ma Cốc, Bảo Triệt nói:

    - Tôi đến trong đó trụ.

    Tức Ngài Bảo Triệt đi lên núi đó, ngài tính ở chỗ này. Ngài Đơn Hà liền bảo:

    - Trụ tức là trở về, ông có cái này không?

    Ngài đáp:

    - Trân trọng.

    Vậy thôi. Ngài Đơn Hà nói “trụ tức lại trở về”, vừa có chỗ trụ là rớt lại sanh tử, là trở về, là mắc kẹt, cho nên không chỗ trụ đó mới là chỗ sống chân thật. Hiểu như vậy, quý vị mới thấy ý nghĩa rất là sâu xa. Lục Tổ nói: “- Đạo là phải trôi chảy cớ sao lại ngưng trệ? Tâm chẳng trụ nơi pháp thì đạo liền trôi chảy, còn nếu tâm trụ pháp gọi là tự trói”. Đạo thì lúc nào cũng trôi chảy chứ không ngưng trệ, nhưng mình trụ thì nó liền tự trói, tay mình nắm ở đây là tự mình trói vào đó. Mới thấy, ngay nơi sáu căn này là giải thoát, tức sáu căn chuyển thành sáu thần thông, không có đâu xa hết. Tổ Lâm Tế giải thích sáu thần thông là: “- Sáu thần thông của Phật là vào sắc không bị sắc làm mê hoặc, vào âm thanh không bị âm thanh mê hoặc, vào thế giới của mùi hương không bị mùi hương làm mê hoặc, cho đến vào thế giới pháp trần không bị pháp trần mê hoặc, do đó thông suốt sáu loại sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đều là tướng không, không thể cột trói vị đạo nhân không nương tựa này; tuy là mang thân ngũ ấm mà chính là địa hành thần thông”. Tức là mình thấy nghe hiểu biết mà không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp làm mê hoặc, không có lầm trong đó, không có trụ vào trong đó, thì ngay đó là vị đạo nhân chân thật không có tựa, không có trụ, đó là Bát Nhã chân thật; được vậy thì ngay nơi cái thân này là địa hành thần thông, tức là thần thông diệu dụng, mọi thấy nghe hiểu biết đều là diệu dụng hết. Vậy bố thí tức là buông xả hết sáu trần, không có dừng ở bất cứ một tướng nào, tức ngay đó là giải thoát, là an trụ, ngay đó chân thật hiện tiền, là chỗ trở về của mình. Trong bài tụng của Hòa Thượng Long Tế nói rằng:

    Tâm cảnh đốn tiêu dung

    Phương minh sắc dữ không

    Dục thức bản lai thể

    Thanh sơn bạch vân trung.

    ***

    Tâm cảnh chóng tiêu dung

    Mới rõ sắc cùng không.

    Thể xưa nay muốn biết,

    Trong mây trắng núi xanh.

    Tức tâm cảnh chóng quên đi rồi, chóng tiêu dung không còn phân chia, mới rõ sắc cùng không, không còn lầm lẫn, thì muốn biết thể chân thật xưa nay, vốn hiện tiền trước mắt, trong mây trắng núi xanh đó thôi. Song tâm cảnh làm sao tiêu dung được? Cảnh hiện tiền đó, tâm thì đang có đây, làm sao tiêu dung? Tiêu dung bằng cách nào? Tức là lìa niệm phân biệt, dứt bặt niệm kia đây, không còn có đối đãi, không còn có chỗ trụ, thì ngay đó nó lặng lẽ, đâu có phân biệt tâm và cảnh, đó là chóng tiêu dung, ngay đó hết lầm sắc cùng không, nghĩa là không còn lẫn lộn cái sắc, cái không với cái thể Kim Cang này nữa, hay cái chân thật hiện tiền này, thì thể Kim Cang hiện trước mắt, trong mây trắng núi xanh, đối diện chạm mắt luôn luôn cái gì nó cũng hiện tiền, không có thiếu sót. Vậy thì quý vị đừng sợ khi buông hết rồi nó không còn gì hết. Khi buông, không còn một cái gì bám, tức là an trụ, là cái chân thật luôn luôn hiện với mình, ánh sáng Bát Nhã lúc nào cũng có mặt, đó là chỗ sống của mình, chỗ bảo nhậm của mình. Quý vị thử ngay bây giờ khởi một niệm mà đừng trụ vào một chỗ nào hết xem! Thử khởi coi? Ngay đó một niệm hiện tiền chân thật sáng rỡ thôi. Đó là khéo sống an trụ, đường về là đây. Như vậy là qua phần hàng phục và an trụ, đó là chỗ sống đáng kể.

     

  • 7. THẬT THẤY ĐÚNG NHƯ LÝ

    CHÁNH VĂN:

    5. THẬT THẤY ĐÚNG NHƯ LÝ

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy thân tướng mà thấy Như Lai chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng thể do thân tướng mà thấy được Như Lai. Tại sao? Thân tướng mà Như Lai nói đó, tức chẳng phải thân tướng.

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Hễ cái gì có tướng đều là hư dối. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, liền thấy Như Lai.

    GIẢNG:

    Đoạn này là đoạn rất quan trọng. Bởi vì đến đây gọi là Thật thấy đúng như lý, đúng như lý là sao? Nghĩa là đúng như lý thật tướng mà thấy, mà lý thật tướng là gì? Lý thật tướng là vô tướng, cho nên không khéo đúng như lý thật tướng mà thấy là giả thấy, là vọng thấy, phải không? Đây là tiếp với đoạn trên, ở trên nói về bố thí mà vô trụ tướng, đó là mở đường cho “thấy Như  Lai” kế đây. Trên đã dạy độ chúng sanh, bố thí không trụ tướng, coi như đã đáp về hàng phục tâm và an trụ tâm đã xong, và Phật đã dạy “đúng như  lời dạy mà trụ”, thì không còn sợ lạc gì, phải không? Như vậy là nói đủ rồi, còn nói thêm gì nữa? Chính chỗ đó là chỗ có ý vị sâu xa!

    Tuy biết được như vậy, nhưng mà chưa phải là sống được trọn vẹn. Chưa sống được trọn vẹn thì sao? Vẫn còn có những vi tế hoặc, còn có mê lầm chưa thật sạch, nếu mình không khéo giải quyết, mình tự mãn thì có lúc cũng bị cái hoặc đó nó che mờ. Cho nên sau đây dạy tiếp để trừ những nghi hoặc đó. Ai có đọc kinh Lăng Nghiêm thì thấy Ngài A Nan sau khi đã ngộ rồi ngài nói bài kệ:

    Diệu trạm tổng trì bất động tôn,

    .................

    Trong đó có câu:

    Đại hùng đại lực đại từ bi,

    Hy cánh thẩm trừ  vi tế hoặc.

    Thỉnh các bậc đại hùng, đại lực, đại từ bi mong hãy xét trừ cái hoặc vi tế cho mình, như vậy ngộ rồi nhưng phải thỉnh Phật xét trừ cái hoặc vi tế đó, chứ không phải ngộ rồi là xong. Phần sau này là phần giải trừ những nghi hoặc đó. Cho nên Đức Phật hỏi gặn lại để chỉ ra. “Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy thân tướng mà thấy Như Lai chăng?”. Câu hỏi này là tiếp đoạn trước “vô trụ tướng mà trụ”, không trụ bất cứ một tướng nào hết gọi chân trụ, an trụ; nếu vậy không trụ một cái tướng nào hết thì đối với Như Lai làm sao đây? Do đó Phật nói gặn lại “có thể lấy tướng này mà thấy Như Lai chăng?” Trong đây, thân tướng chỉ cho cái sắc thân này, có hình, có tướng, có mập, có ốm, có đen, có trắng, có cao, có thấp đó là cái con mắt thịt này thấy được, còn Như Lai thì sao? Như Lai là muốn chỉ cái gì? Phải chú ý “Như Lai đó” thì mới hiểu được câu hỏi này! Ý câu hỏi là, có thể đem cái xác thân có hình, có tướng, có mập, có ốm mà con mắt thịt có thể thấy đó, mà  thấy đến Như Lai chăng? Như Lai đây, chỉ cho Như Lai tự tánh thanh tịnh hay gọi là pháp thân vô tướng. Như vậy đem cái thân có hình có tướng, con mắt thịt có thể thấy được mà có thể thấy đến tự tánh Như Lai hay là pháp thân thường trụ sao? Thường thường mọi người thấy Như Lai là thấy cái thân tướng này thôi, chứ đâu có gì khác, mà nếu thấy Như Lai đó thì Như Lai đó hiện giờ ở đâu? Như Lai đó sau tám chục năm đã nhập diệt, vậy lìa cái thân tướng này thì lấy cái gì để thấy Như Lai đó? Thành ra câu hỏi rất là khó, không khéo dễ bị lầm, do đó cũng còn có những cái nghi hoặc, cái hoặc vi tế. Ngài Tu Bồ Đề đáp: “- Bạch Thế Tôn! Chẳng được, chẳng thể do thân tướng mà thấy được Như Lai.” Trước tiên ngài ngăn “chẳng được”, câu “chẳng được” này, có ý nghĩa sâu trong đó, nếu mình đọc sơ qua thì không thấy được. Bởi vì sao? Bởi chữ Hán là “phất dã”, chữ “phất dã” vừa có ý phủ định vừa là khẳng định. Vì  vậy “chẳng được” mà cũng là “được” chứ không phủ định dứt khoát. Bởi vì, nếu mình bác bỏ hoàn toàn cái thân tướng này, dứt khoát gạt cái tướng này ra một bên, thì nó sẽ có cái mâu thuẫn, mâu thuẫn gì? Là trái với chỗ Phật hộ niệm và phó chúc ban đầu đó rồi! Ban đầu là Phật chưa nói gì nhưng trong các cử chỉ hành động Phật đã biểu hiện ánh sáng Kim Cang Bát Nhã, tự tánh Như Lai trong đó rồi. Nếu giờ đây bác bỏ thân tướng này, thì trái với chỗ ban đầu phải không? Còn nếu chấp thân tướng này thì cũng không thấy Như Lai luôn. Cho nên câu đáp đó phải chính chắn để hiểu cho rõ. Nếu nhận cái thân có hình, có tướng, có hoại diệt mà cho là Như Lai, là hủy báng Như Lai quá! Vậy Như Lai có hoại sao? Mà lâu nay quý vị có cho thân tướng này là Như Lai chăng? Có phỉ báng Phật không?  Bởi vậy có một số người họ cũng hiểu lầm trên cái này, rồi họ xuyên tạc, mới chỉ trích, nói rằng: Phật tu hành thành đạo, chứng Niết bàn bất sanh bất diệt, nhưng cuối cùng rồi cũng bỏ cái thân, cũng hoại diệt như ai, vậy chứng Niết bàn là sao? Thành đạo gì cho nhọc nhằn uổng! Đó là họ căn cứ theo cái gì? Chỉ thấy trên thân tướng đó thôi, không thấy được nghĩa Như Lai chân thật. Nếu rõ Như Lai là pháp thân vô tướng, thì cái thân tướng này là thân tướng giả hợp, do bốn đại hòa hợp tạm thành, nó còn nó mất có dính dáng gì Như Lai kia? Tin tưởng được như vậy, mới thấy được chỗ sâu đó, mới không lầm lẫn. Ngài Tuyết Phong khi sắp tịch, Ngài tự làm bài minh, mở đầu nói: “-  Tùy duyên mà có thì trước sau thành hoại, còn chẳng tùy duyên mà được thì muôn kiếp thường vững”. Cái gì từ duyên mà có thì trước sau có thành có hoại, cái xác thân này từ duyên cha mẹ mà thành, nên có lúc phải hoại diệt; cái chẳng từ duyên mà được thì muôn kiếp được bền vững, vì đâu có do ai sanh ra, ai tạo ra. Cái đó là gì? Chính là pháp thân. Như vậy rõ ràng xác thân này nó có hoại mất, còn pháp thân thì không bao giờ mất và Phật thành đạo là ngài sống trong tự tánh Như Lai đó. Hiểu như vậy thì không có lầm. Cho nên có câu chuyện bà Tỳ Kheo ni Liên Hoa Sắc bị Phật quở. Tức là, khi Thế Tôn lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho Hoàng hậu Ma Gia, mãn hạn ngài trở về nhân gian thì dưới này bốn chúng và Thiên Long Bát Bộ cùng nhau chuẩn bị qua đón Phật. Lúc đó bà Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc nghĩ mình là thân ni, nếu qua gặp Phật thì phải gặp sau Đại tăng thôi, chi bằng bây giờ mình dùng thần lực biến làm vua Chuyển luân Thánh Vương, có 1000 người con vây quanh, rồi đi đến gặp Phật trước, hay hơn. Chứng A La Hán rồi thì chuyện đó bà làm dễ dàng, khi bà nghĩ như vậy bà liền làm theo, bà biến thành Chuyển Luân vương có 1000 người con đi đến gặp Phật, thì đúng là gặp Phật liền. Trong khi đó Ngài Tu Bồ Đề đang ngồi vá y, ngài cũng muốn đi qua đón Phật, song ngài liền khởi một niệm quán sát lý của các pháp đều là không, quán tất cả các pháp đều tự tánh là không, không có tạo tác, ngay lúc đó ngài liền rõ Phật pháp chân chánh, tức thấy lý thật của Phật pháp, ngài bèn trở lại ngồi vá y như cũ. Khi đó Bà Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc gặp Phật, thì Phật liền quở: “- Này Liên Hoa Sắc! ngươi đâu được vượt Đại Tăng mà đến gặp ta, dù ngươi có thấy xác thân ta, vẫn chẳng thấy pháp thân ta, còn Tu Bồ Đề ngồi yên ở trong núi nhưng lại thấy pháp thân ta. Như vậy tuy bà khéo đến gặp Phật mà bị Phật quở, còn chính ngài Tu Bồ Đề tuy không tới đó, nhưng đã thấy Phật rồi, thấy Phật pháp thân. Hiểu điều đó thì thấy được ý trong này. Nếu chỉ bám theo cái thân tứ đại thì chỉ thấy cái xác thân thôi, đó là chưa phải thấy Phật thật; muốn thấy Như Lai thật, Phật thật thì phải khéo thấy như ngài Tu Bồ Đề đó. Nên ở đây ngài Tu Bồ Đề đáp: “chẳng thể do thân tướng mà thấy được Như Lai.” Nếu cứ một bề bám vào cái thân đó cho là Phật, thì có lúc mình sẽ bị chới với. Nếu một bề nương tựa thân đó, thì khi Phật nhập diệt hết chỗ nương sẽ ra sao? Còn thấy Như Lai này thì không bao giờ mất, đó là chỗ nương vĩnh viễn, đó mới là khéo thấy. Tiếp đến ngài giải thích tại sao? Nghĩa là “tại sao chẳng thể do cái thân tướng mà thấy được Như Lai?”, Bởi vì theo chỗ Như Lai nói “thân tướng đó tức chẳng phải thân tướng”. Đây là chỗ khó hiểu của Bát Nhã. Nói thân tướng đó, nhưng lại “tức chẳng phải thân tướng”, thì đừng có nói, phải không? Sao nói thân tướng, rồi bảo tức chẳng phải thân tướng, lạ vậy? Bởi vậy, Ngài Tu Bồ Đề khéo dẫn lời Phật, chứ ngài không dám tự ý đặt ra để nói, tức bảo: “theo chỗ Như Lai nói”, rồi chính câu đáp đó đã làm sáng tỏ rõ nghĩa đáp vừa phủ định, khẳng định ở trên. Chẳng phải thân tướng, mà nói thân tướng, như vậy để cho mình không có nhầm lẫn cái sắc thân vô thường này là Như Lai, mà cũng không thể rời đây mà đi tìm Như Lai ở đâu khác, không thể kẹt một bên. Bởi vậy Hòa Thượng Chí Công có câu: “Trong thân có tướng là thân vô tướng, trên đường vô minh là đường vô sanh”, tức là ngay cái thân có tướng này có cái thân không tướng, song làm sao thấy được ngay thân có tướng là thân không tướng? Phải hiểu vô trụ tướng ở trên. Ngay thân này, cũng thấy, cũng nghe, cũng hiểu, cũng biết tất cả hết, mà không trụ vào một cái tướng nào, thì cái ấy nó có mắt, tai, mũi, lưỡi gì không? Cũng như ngay thân tướng này chấp theo tướng thì đó là vô minh. Nếu quên tướng mà thấy trở lại thì ngay đó là vô sanh chứ có gì đâu, trên đường vô minh là đường vô sanh không có gì khác. Như có vị tăng hỏi ngài Triệu Châu:

    - Theo lời Hòa Thượng dạy thì khi thế giới này hoại, tánh này chẳng hoại, vậy thì thế nào là tánh này?

    Ngài Triệu Châu đáp:

    - Tứ đại ngũ uẩn.

    Quý vị chịu nổi không? Vậy tứ đại ngũ uẩn không hoại sao? nên ông tăng thưa liền:

    - Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tánh này?

    Ngài Triệu Châu đáp: - “Tứ đại ngũ uẩn.” Làm sao hiểu nổi, nếu hiểu theo thường tình? Bởi ông tăng nghĩ rằng: Ngài nói cái này là hoại, nhưng có một cái tánh gì đó, nó rời ngoài cái thân ngũ uẩn tứ đại này, cho nên muốn ngài Triệu Châu chỉ cho cái tánh đó. Nhưng ngài Triệu Châu nói: “Tứ đại ngũ uẩn” là ngay cái tứ đại ngũ uẩn này mà khéo thấy, không rời cái thân này mà riêng có cái tánh đó, do đó ngài chỉ nói: - Tứ đại ngũ uẩn thôi, mà không chỉ ra một cái gì khác. Mình nói tánh đó nó thế này, thế kia thì làm cho người ta tưởng tượng thêm ngoài cái thân sanh diệt này có một cái bất sanh bất diệt khác, mà hiểu như vậy thì tìm nó ở đâu? Đó là cái lầm! Khéo nhận thì rõ ngay nơi thân này, nếu chấp theo tướng thì thấy nó hoại, cũng ngay thân này mà quên tướng thấy trở lại thì đâu có hoại, quên tướng thì cái gì hoại?

    Câu chuyện khác lại tế nhị hơn, cũng là một thiền sư, có một hôm Sư hỏi trong chúng:

    - Trời mưa dầm dề, có hai người cùng đi trong mưa, vì sao không ướt một người?

    Một vị đáp:

    - Vì có một người không mặc áo mưa, một người mặc áo mưa.

    Một vị khác nói:

    - Có một người đi ngoài mưa, một người đi trong hiên nên không ướt.

    Lại vị khác nói:

    - Vì mưa nó có giới hạn, mưa chỗ này không mưa chỗ khác, cho nên người ở chỗ khác không bị ướt.

    Cuối cùng thiền sư bảo:

    - Các ông đều chấp vào câu “chẳng ướt một người” thành cãi mãi, thật ra nói mưa không ướt một người đó, chẳng phải chính là nói cả hai đều ướt hay sao?

    Vậy người nào là người không ướt? Mỗi người chỉ thấy trên hình tướng thôi, theo ngôn ngữ rồi bị ngôn ngữ gạt. Nghe nói hai người đi trong mưa, chỉ tưởng hai thân tướng đi trong mưa mà người không ướt thì chỉ có mặc áo mưa thôi, trong khi đó Sư muốn chỉ một người vô tướng kia, người đó đâu có ướt bao giờ? Thấy chỗ đó mới là thấy ý của Sư. Học thiền là khó vậy đó, không khéo là bị gạt liền. Có trường hợp các ngài nói như là ngược đời, nhưng có ý tế nhị trong đó. Như câu chuyện Ngài Vân Môn kể lại: Đức Phật Đản Sanh, đi bảy bước rồi một tay chỉ trời một tay chỉ đất, nói: “- Trên trời dưới đất chỉ ta là trên hết”. Sư liền bảo: “- Nếu mà có tôi lúc đó thì tôi đập một gậy chết tốt quăng cho chó ăn, mới mong thiên hạ thái bình!” Mới nghe thì quá là phạm thượng, thô lỗ phải không? Nhưng chính ngài Tuyết Đậu sau này phê bình: “- Như thế mới đền được cái ân lớn”. Bởi đập chết đó là đập chết cái gì? Nếu nghĩ rằng cái thân tay chỉ trời tay chỉ đất đó, là cái độc tôn hơn hết, thì ngài cái ngã quá to rồi. Cho nên đập chết đây, là đập chết cái chấp cứng nơi thân tướng tứ đại giả hợp đó, hay nói cho rõ hơn, là đập chết cái ngã kiến, ngã chấp đó, cái thấy có mập, có ốm, đập chết cái đó thì sao? Thì mới thấy thấu qua Như Lai chân thật. Cho nên câu sau Sư mới nói rằng: “mới mong thiên hạ thái bình”, là không còn có lòng chấp, tranh cãi giành giựt, hơn thua lăng xăng nữa. Bằng chứng hiện giờ có nhiều người cứ tranh cãi, bảo Phật nói pháp 49 năm, có người bảo Phật thuyết pháp 45 năm, rồi cãi qua, cãi lại mãi, mà cãi đó là căn cứ trên cái gì? Căn cứ trên Phật hình tướng, Phật lịch sử. Nếu thấy Phật kia thì hết cãi! Nói 49 năm cũng được, mà 45 năm cũng tốt thôi, cái nào rồi ngài cũng nhập Niết bàn; căn bản là thấy được Phật pháp thân, đó mới là điều quý, mới là thiên hạ thái bình! Hiểu vậy thì mình bình tỉnh không bận tâm, không thì nghe người ta cãi cũng nhảy vào cãi thêm nữa! Như vậy, khi mình lên lễ Phật, cũng thấy Phật hình tướng trên bàn đó thôi. Rồi nghe nhà thiền phá chấp, có khi cũng sinh nghi hoặc, có người nghe phá chấp rồi bỏ không lạy Phật luôn, đúng chưa? Cũng không trúng. Đó là hiểu lầm một bên. Phải khéo ngay thân tướng này, thấy lại Như Lai vô tướng, mới thấy ý Phật muốn chỉ. Nghĩa là “theo chỗ Như Lai nói, thân tướng tức chẳng phải thân tướng”. Nó chẳng phải tướng nhưng muốn chỉ cho mọi người thì sao đây? Phải nói thân tướng, nói thân tướng khiến nhận ra cái vô tướng kia. Chỗ này đúng như trong nhà thiền, nói ở đây nhưng ý ở kia. Nói thân tướng nhưng ý là ở vô tướng, thì thấy là phải thấy cái này suốt qua cái kia. Hiểu như vậy quý vị đọc những kinh Đại Thừa hoặc học trong nhà thiền mới dễ nhận. Như Lục Tổ, một hôm ngài muốn giặt cái y mà được truyền đó, ngài mới đi đến phía sau chùa tìm dòng suối tốt, gặp một chỗ có khí lành ngài dộng tích trượng xuống thì nước dưới đất vọt lên thành một cái hồ, ngài giặt y, trong khi đó, thì có một vị tăng ở xứ Thục tên Phương Biện đi đến gặp Tổ, Tổ hỏi:

    - Thượng nhân thường làm nghề gì?

    Phương Biện đáp:

    - Con thường đắp tượng.

    Ngay lúc đó Tổ nghiêm sắc mặt lại, bảo:

    - Ông thử đắp xem!

    Phương Biện mờ mịt không biết làm sao? Nhưng trở về, ông cũng cố gắng qua mấy ngày đắp xong tượng Tổ cao đến bảy tấc tàu, trông rất đẹp, ông đem đến trình với Tổ. Tổ cười bảo:

    - Ông giỏi tánh đắp mà chẳng giỏi tánh Phật!

    Tổ có bảo ông đắp cái tượng đó không? Nếu khéo lanh mắt thì chính ngay khi Tổ nghiêm sắc mặt lại bảo: “ông hãy đắp xem!”, liền thấy được là xong, khỏi cần mất công tốn mấy ngày. Nhưng ông không thấy được chỗ đó, tưởng Tổ bảo đắp thiệt cho nên ông mới làm thành tượng này. Do đó Tổ bảo:

    - Ông giỏi tánh đắp mà không giỏi tánh Phật”.

    Phải thấy được cái kia mới là khéo, là ý Tổ muốn chỉ. Sau này có ngài Phổ Hóa là đệ tử của Hòa thượng Bàn Sơn, khi Bàn Sơn sắp tịch bảo trong chúng:

    - Trong đây có ai vẽ được hình ta chăng?

    Mọi người vẽ hình đem trình, Sư đều lắc đầu không nhận. Phổ Hóa thưa:

    - Con vẽ được.

    Sư hỏi:

    Ông vẽ thế nào?

    Phổ Hóa liền nhào lộn rồi đi ra. Vậy là vẽ xong. Ngài Bàn Sơn bảo:

    - Kẻ này về sau chụp gió chạy loạn đây này!

    Sư vẽ hay quá, sao Bàn Sơn nói thế? Là khen Sư hay chê? Hiểu chỗ này thì rõ câu đáp: “- Nói thân tướng tức chẳng phải thân tướng”. Nếu chỉ thấy cái tướng nhào lộn thôi, thì khi thân tướng này chết, đầu mặt cứng đơ, sẽ ra sao? Chấp cái đó thì tới khi chết cũng quờ quạng thôi, phải khéo thấy ý sâu trong đó. Như vậy quý vị thấy Ngài Tu Bồ Đề rất khéo, ngài dẫn lời Phật “nói thân tướng này tức chẳng phải thân tướng”. Bởi vì sợ rằng, nếu cho nó là vô tướng, rồi không nói gì hết thì ai biết đây? Cho nên phải nói thân tướng, để mọi người nhằm thân tướng đó mà khéo nhận ra cái vô tướng, nhất là người chưa rõ, chưa biết, đỡ sợ, không thì rơi vào chấp định kiến một bên. Ngài Phó Đại Sĩ có làm bài tụng để giải thích về đoạn này.

    Như Lai cử thân tướng,

    Vị thuận thế gian tình.

    Khủng nhân sanh đoạn kiến,

    Quyền thả lập hư danh.

    Giả ngôn tam thập nhị,

    Bát thập dã không thanh.

    Hữu thân phi giác thể

    Vô tướng nãi chân hình.

    “Như lai cử thân tướng, Vị thuận thế gian tình” là: Như Lai nêu cái thân tướng ra, đó là thuận theo thế gian. Theo tình chấp của thế gian, Ngài tạm ngài nói vậy thôi.

    “Khủng nhân sanh đoạn kiến, Quyền thả lập hư danh”, sợ người sanh đoạn kiến, tức là chấp không có gì hết, cho nên ngài tạm lập cái tên rỗng.

    Giả ngôn tam thập nhị, Bát thập dã không thanh”, tức là giả nói ba mươi tướng tám mươi vẻ đẹp cũng là tiếng suông, chứ không phải thật.

    “Hữu thân phi giác thể, Vô tướng nãi chân hình”, có thân thì chẳng phải là thể giác, không tướng đó mới là thân thật. Tức ngay nơi thân tướng này phải thấy được cái vô tướng kia, đó mới là thấy Như Lai chân thật, mới thấy ý sâu xa mà Phật muốn chỉ. Nên ở trên Ngài Tu Bồ Đề giải thích, tại sao không thể do thân tướng mà thấy được Như Lai, bởi vì thân tướng mà Như Lai nói đó, tức chẳng phải thân tướng, để cho mình sớm thấy ý đó. Nghe đây mình phải thấy được bên kia.

    Phật kết luận: “Hễ cái gì có tướng đều là hư dối”. Ở trên là nói thân tướng, ở đây thì nói rộng ra là tất cả tướng, nếu cái gì có tướng đều là hư dối hết. Quý vị tin nổi không? Như vậy thì có tướng đều là hư dối, là không có gì hết chăng? Nghĩa hư dối không khéo cũng hiểu lầm! Hư dối, là không phải không có gì hết, mà nó không thật có cái thể nguyên vẹn cố định, có tạm bợ, không thể nắm bắt, không thể bám víu vào đó được. Nói chung, có tướng là có động, có tướng là có sanh diệt, có đối đãi và có tướng là có tạo tác, có tạo tác đều thuộc sanh diệt, nên đều là hư dối hết. Hiểu được câu đó thì trong khi mình tu, câu này rất là quan trọng! Khi tu, gặp những cảnh giới gì cao siêu đến đâu, cứ đem câu này làm “cái ấn” để ấn vào, thì không sợ lầm. Ngồi thiền, dù cho thấy Phật hiện cũng đem câu này “ấn vào” là xong! Bởi vì, khi mình ngồi thiền mà Phật hiện tới là có tướng rồi, mà hiện tới rồi thì cũng tan đi, đâu có hiện từ ngày này sang ngày khác, hiện mãi, mà hiện thì có nắm bắt được không? Cho nên lấy câu này “ấn” là không có thật, không lầm theo.

    Bởi vậy Tổ Lâm Tế dạy rằng: “- Gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma”. Vì sao? Phật, ma gì cũng đều là có tướng, thì hư dối hết, “giết” tức là “không chấp nhận”. Dù Phật, dù ma đều không chấp nhận hết, thì không có lầm. Trái lại ngồi thiền mà thấy Phật, tưởng mình gần đạt đạo rồi, đó là nguy! Ngài Hoàng Bá nói rõ hơn: “- Hễ vừa thấy Phật liền bị Phật chướng, vừa thấy chúng sanh liền bị chúng sanh chướng, khởi thấy phàm, thấy thánh, thấy tịnh, thấy uế ..v.v.. thì cái thấy thành những chướng ấy”. Hễ thấy cái gì, bị cái đó thành chướng; bởi vì khi khởi thấy thì có tướng, lo nhớ tướng đó thì quên mất tâm thanh tịnh của mình, bị cái đó chướng không thấy được Như Lai tự tánh. Thí dụ vừa thấy một tướng Phật đó thì tất nhiên động niệm, động niệm tất nhiên có sanh diệt, là trái với Như Lai tự tánh chân thật. Như vậy muốn thấy cái chân thật thì phải làm sao? Phải lìa bỏ chốn này phải không? Cho nên câu kế Phật nói rõ: “Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai”. Trong đây phải chú ý chữ “thấy”! Làm sao thấy các tướng chẳng phải tướng? Rồi làm sao liền thấy Như Lai? “Thấy” ở đây không phải thấy bằng mắt, cũng không phải thấy bằng cái đầu óc này; không phải thấy suông bằng suy luận hoặc nói lý rỗng, mà rõ ràng “thấy” bằng trí tuệ, mở sáng con mắt Bát nhã đàng hoàng, thì liền “thấy Như Lai”. Như vậy, có phải tách rời các tướng mà thấy Như Lai chăng?  Đây nói rõ “nếu thấy các tướng chẳng phải tướng” tức ngay nơi các tướng, cũng thấy hết các tướng đó hiện bày trước mắt rõ ràng, nhưng không trụ nơi tướng thì đâu có động niệm phân biệt, tức ngay đó tâm thánh rồi, Như Lai hiện rõ ràng rồi. Rất đơn giản! Bởi tâm người hễ thấy thì nó chạy bên ngoài liền, cho nên bị che, còn nếu ngay đó dừng được các niệm phân biệt, không trụ cái gì hết thì Như Lai hiện tiền. Như câu chuyện Quốc sư Huệ Trung với Tam Tạng Đại Nhĩ: hai lần đầu Quốc Sư cho tâm nghĩ tới bến đò Tây Xuyên, nghĩ tới ở cầu Thiên Tân, ông Tam Tạng thấy được; tới lần thứ ba Sư không hướng chỗ nào hết, ông Tam Tạng không thấy được, như vậy chính lúc đó Như Lai hiện tiền rồi! Bởi ông Tam Tạng chỉ lo đuổi theo cái bóng của Sư, khi Sư hiện trước mặt lại chẳng thấy. Lúc đó Sư vẫn còn đó đâu phải chết mất, như cây như đá không biết gì, không thấy gì, phải không? Sư cũng thấy hết mà ngài Tam Tạng không thấy được Sư. Đúng như chỗ này, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai, không phải tách rời đi đâu. Thêm ngài Huệ Lăng ở Trường Khánh khi ngộ có trình bày kệ cho Tuyết Phong, nhưng Huyền Sa không chấp nhận, nghi cái đó do ý thức nhớ giỏi làm ra, Tuyết Phong bảo trình lại bài khác là:

    Vạn tượng chi trung độc lộ thân,

    Duy nhơn tự khẳng nãi vi thân.

    Tích thời mậu hướng đồ trung mích,

    Kim nhật khán như hỏa lý băng.

    ***

    Ở trong vạn tượng riêng bày thân,

    (ngay trong muôn tượng muôn vật sum la này mà hiện bày thân)

    Chỉ người tự nhận mới là gần.

    (Nhưng chỉ có người tự thầm nhận đó mới là gần thôi, chứ không phải chỗ suy nghĩ đến được)

    Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm.

    (Tức là lâu nay không thấy chỗ đó, cho nên mới chạy tìm kiếm đầu này, đầu kia)

    Ngày nay xem lại băng trong lò.

    (Ngày nay tỉnh ra rồi, xem lại như băng trong lò, không còn dấu vết gì hết, không còn chỗ nào để bám).

    Khi Sư trình lên bài kệ đó, thì ngài Tuyết Phong nhìn Huyền Sa nói: “- Không thể do ý thức làm ra được”.

    Bài kệ này, không khéo dễ bị kẹt câu: “Ở trong vạn tượng riêng bày thân”, ở giữa muôn tượng sum la mà riêng bày thân, làm sao thấy thân kia? Chính do câu này, lúc Thiệu Tu ở Long Tế, trên đường từ Viện Địa Tạng của ngài Quế Sâm, đi Kiến Dương, trong đó cùng đi có ngài Pháp Nhãn. Đi giữa đường, bàn chuyện, ngài Pháp Nhãn chợt hỏi:

    - Người xưa nói “ở trong vạn tượng riêng bày thân” là vạch vạn tượng hay chẳng vạch?

    Thiệu Tu đáp:

    - Chẳng vạch.

    Pháp Nhãn bảo:

    - Nói cái gì là vạch, chẳng vạch? (cũng là hai đầu)

    Thiệu Tu mờ mịt chẳng hiểu, trở lại Viện Địa Tạng của Ngài Quế Sâm và hỏi Quế Sâm:

    - Cổ nhân nói: “Ở trong vạn tượng riêng bày thân” ý chỉ thế nào?

    Quế Sâm bảo:

    - Ngươi nói người xưa vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?

    Sư thưa:

    - Chẳng vạch.

    Quế Sâm bảo:

    - Hai cái!

    Ngay đó Thiệu Tu liền kinh hãi, lặng thinh. Sau đó Sư hỏi tiếp:

    - Chưa biết cổ nhân vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?

    Quế Sâm bảo:

    - Ngươi nói cái gì là vạn tượng?

    Ngay đó Sư liền đại ngộ. Bởi vì, trước còn thấy tướng muôn tượng sum la là cái sai biệt, còn cái riêng bày thân là cái pháp thân, có hai cái tách rời nhau, cho nên muốn thấy cái pháp thân này, phải vạch cái vạn tượng kia ra để mà thấy. Như vậy nó ở đâu mà thấy? Ở đây Sư cũng có hiểu được chút lý, đáp chẳng vạch là ngay nơi vạn tượng mà thấy, song nói “chẳng vạch” liền bị mắc kẹt: “chẳng vạch” thì đối với “vạch”, là hai bên đối đãi, còn tâm phân biệt, do đó đâu thấy được. Hơn nữa, nói vạch, chẳng vạch là còn thấy vạn tượng thật mới nói vạch hay chẳng vạch. Còn đây, Ngài Quế Sâm nhấn mạnh lại “nói cái gì là vạn tượng”, để thấy rõ vạn tượng đều là hư dối thôi, thì ngay đó rõ ràng thấy liền, bặt cái niệm về vạn tượng thì rõ được pháp thân hiện tiền đâu có bị che mờ, còn gì là vạch, chẳng vạch, lìa được hai bên nên ngay đó Sư liền đại ngộ. Quý vị  thấy rất đơn giản, không cần lý luận nhiều. Thành ra đôi khi người thông minh bén nhạy, lại dễ bị gạt lắm, nói ra thì trong đầu liền nhảy ra lý luận, mà lý luận thì mắc kẹt hai bên, liền rơi vào bẫy hí luận. Để thấy rằng, chấp vạn tượng là thật nên còn mắc kẹt hai bên, là bị vướng; thấy rõ hư dối thì ngay đó dừng được niệm phân biệt mà dừng được niệm phân biệt thì Như Lai hiện tiền, không nói vạch chẳng vạch gì cả. Như vậy thì ngay nơi thân tướng hay các tướng mà chẳng phải tướng” không chấp vào các tướng đó, không dùng niệm phân biệt đó, liền thấy Như Lai chứ không đâu xa hết. Nhưng nói như vậy, đôi khi cũng vẫn bị gạt, thấy tướng thì cũng vẫn bị lầm trên tướng, mà mắc kẹt trên tướng thì bị tướng che. Có câu chuyện của Ngài Phá Táo Đọa đối với lý này rõ ràng. Ngài chỉ rõ ngay thân tướng bốn đại này cái vô sanh, cái thật tướng đó, nó sẵn trong đó không xa đâu hết, nhưng vì tập khí sâu dày quen nhìn trên hình tướng, chấp theo cái phân biệt nên gọi là bỏ quên mình để nhận tướng rất là đáng thương mà đau nữa! Ngài Phá Táo Đọa nối pháp Quốc sư Huệ An ở Tung Nhạc, thường người ta không biết tên gì, chỉ do một câu chuyện mà gọi là Phá Táo Đọa vậy thôi. Tức là ở tại vùng Tung Nhạc có cái miếu, trong miếu có đặt một bếp lửa, mấy cục gạch dồn lại thành cái bếp, dân chúng xa gần đem đồ tế lễ heo, gà, vịt không ngớt, linh lắm! Một hôm, có một nhà sư vô danh dẫn một đám đệ tử đi vào trong đó, nhà sư liền đến cái bếp đó lấy cây gậy gõ vào ba cái, bảo:

    - Bếp ơi! Đây là ngói gạch hợp thành, thánh từ đâu đến, linh từ đâu lại mà ngươi đòi chuộc mạng sinh vật nhiều như thế?

    Nói xong Sư liền gõ vào cái bếp thêm ba cái nữa thì cái bếp liền nghiêng đổ, sau đó Ngài dẫn đám đệ tử đi ra. Trên đường đi, chốc lát gặp một người mặc áo xanh đi đến, cúi đầu sụp lạy, Sư mới hỏi:

    - Ông là ai?

    Người mặc áo xanh nói:

    - Con là thần Táo của cái miếu này, con ở đây đã lâu rồi, do nghiệp báo đời trước của mình, nay nhờ hòa thượng nói pháp vô sanh mà thoát khỏi ràng buộc được sanh lên cõi trời nên đến tạ ơn hòa thượng. Sư bảo:

    - Vô sanh là tánh sẵn của ngươi chẳng phải nhờ ta thuyết pháp.

    Vị ấy lạy rồi biến mất. Như vậy, thấy Sư nói pháp vô sanh gì đâu? Vào thấy cái bếp, thấy mấy cục đá gõ gõ ba cái, nói: “cái này ngói gạch hợp thành, vậy thánh từ đâu đến, linh từ đâu lại mà ngươi đòi người ta cúng tế sinh mạng nhiều như vậy”, chỉ nói bấy nhiêu đó thôi, mà ông  thần liền ngộ được pháp vô sanh, được sanh lên cõi trời. Sau đó, ông tăng thị giả thắc mắc:

    - Chúng con lâu nay theo hầu hòa thượng nhưng chưa hề được nghe Hòa thượng giảng pháp, còn ông thần táo này được nghe pháp gì mà chóng sanh lên cõi trời như vậy?

    Sư bảo:

    - Ta chỉ nói “do ngói gạch hợp thành, linh từ đâu lại, thánh từ đâu đến” không có đạo lý gì khác.

    Thị giả im lặng, Sư hỏi:

    - Hiểu chăng?

    Tăng thị giả thưa:

    - Chúng con chẳng hiểu.

    Sư nói tiếp:

    - Tánh sẵn có tại sao các ông không hiểu. (cái tánh bản hữu).

    Mọi người quỳ lạy, ngay khi vừa quỳ lạy đó, Sư liền bảo:

    - Đổ rồi, đổ rồi! Vỡ rồi, vỡ rồi!

    Thị giả liền đại ngộ. Như vậy ông thần táo ngộ gì? Thị giả ngộ gì? Bởi vì, ông thần táo lâu nay mê mờ tánh linh  giác của mình, mới bám gá vào mấy cục gạch, cho đó là thân mình, nên ai động đến thì bẻ cổ, vặn họng, bắt người ta cúng tế. Nhiều khi cúng tế giết gà, giết vịt, tạo tội sát sanh nhiều nữa, nhơn đó càng bị đọa. Cho nên chúng ta thấy, ở miền quê có những cây đa to rồi gá vào đó cũng bắt người cúng này cúng kia, thì đây cũng vậy, có mấy cục đá cục gạch thôi, mà bắt người cúng tế. Do đó ngài Phá Táo Đọa gõ vào đó để đánh thức ông thần táo, biết đây chỉ là ngói gạch thôi, không gì thật, đó là cái giả dối, tánh linh ở đâu trong đó mà nương vào bắt người cúng tế? Ngay đó, thần Táo liền nhớ lại tánh linh của mình, và liền được giải thoát, không bám vào mấy cục đá đó nữa, khỏi mắc kẹt trong đó. Còn ông thị giả, thì ngay cái thân sụp lạy xuống, là cái thân có tướng, có sụp lạy, có vô thường, có nghiêng đổ; nhưng tánh linh giác đó, có nghiêng đổ, có sụp xuống hay không? Tánh linh giác kia, đâu có sụp xuống đứng lên gì, đâu có lay động? Ngay đó, ông liền ngộ, không bám vào thân tướng vô thường này, mà nhớ rõ được tánh linh giác vô tướng kia, tức rõ được tánh vô sanh. Không chạy đâu xa để tìm cái vô sanh, chỉ ngay cái sụp lạy đó liền ngộ vô sanh. Chính vì vậy, ngay lúc đầu Ngài Tu Bồ Đề dòm thấy đức Phật trong mọi cử chỉ, trong mọi hành động, khi đi khất thực, rửa bát đều là hiển bày Như Lai chân thật, cho nên Ngài khen ngợi “khéo hộ niệm, khéo phó chúc”, chính là Ngài thấy được chỗ đó! Cũng chính công án Phá Táo Đọa này, Ngài Tuyết Đậu có làm bài tụng, trong đó có hai câu:

    “Cây gậy chợt đánh đến

    Mới biết cô phụ ta!”

    Tức là cây gậy vừa đánh đến, mới biết mình cô phụ mình, lâu nay bám vào mấy cục gạch đó cho là mình, rồi nhờ cây gậy đánh đến, mới tỉnh ra bấy lâu mình quá bội bạc mình, phũ phàng mình. Cũng như mình bây giờ, không nhận mấy cục gạch đó, cũng nhận mấy chục ký lô này là mình, mấy đốt xương, mấy sợi gân là mình, nếu phải được cây gậy đánh đến một cái thì hay, để thấy được cái lầm lẫn quên mình nhận cái giả, gánh một gánh mê chạy đầu này đầu kia, giờ ngay nơi đó quên tướng để nhận trở lại tánh liền thấy được Như Lai, chứ không phải đâu xa. Mà cũng chính chỗ đó, có một vị thiền sư khai thị: “- Hễ mà chấp tướng mê chân thì đối diện cách xa ngàn dặm, còn trống lòng mà thể hội vạn vật thì trời đất một nhà”, tâm mình mà trống sạch thì trời đất cùng một nhà. Giống như bà Liên Hoa Sắc tuy đối diện với Phật nhưng bị Phật quở, còn Ngài Tu Bồ Đề ngồi trong núi không đi tới nhưng được Phật khen. Đối diện mà không thấy Phật, cũng như xa, tuy xa mà thấy được Phật cũng như gần. “nếu thấy các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai”, chứ không phải bỏ các tướng này mà tìm Như Lai ở đâu khác, cũng không thể lầm các tướng này cho là Như Lai, đó là chỗ tế nhị. Không thể chấp tướng là Như Lai được, cũng không thể lìa bỏ đó mà tìm chỗ khác, mà phải khéo thấy bằng trí tuệ ngay nơi tướng xoay trở lại tánh thật thì rõ. Để rõ hơn xin dẫn câu chuyện: Ngài Ma Cốc đi đến Hòa thượng Chương Kỉnh, đi nhiễu quanh giường thiền ba vòng rồi dộng tích trượng một cái, đứng ngang nhiên. Ngài Chương Kỉnh bảo:

    - Phải, phải.

    Sau đó Ma Cốc đến Ngài Nam Tuyền, cũng đi nhiễu ba vòng quanh giường thiền, rồi dộng tích trượng một cái đứng ngang nhiên.  Ngài Nam Tuyền liền bảo:

    - Chẳng phải, chẳng phải!

    Ma Cốc liền thưa:

    - Đương thời Chương Kỉnh nói: “phải phải”, do đâu hòa thượng nói: “chẳng phải, chẳng phải?”.

    Ngài Nam Tuyền bảo:

    - Chương Kỉnh tức phải phải, còn ông thì chẳng phải, đây là do sức gió chuyển, cuối cùng cũng thành bại hoại. Chính là ý này vậy.

    Nếu mình là người chưa sáng thì cũng dễ bị lầm ngay cái đi quanh dộng tích trượng. Ngay tướng động đó mà chấp cho là thật thì, tướng đó chỉ do sức gió trong này chuyển động tới lui, đến khi sức gió hết nằm cứng đơ cho vô hòm thì làm sao “phải phải” được? Do đó Ngài Nam Tuyền nói chẳng phải; song bởi Ngài Chương Kỉnh là người đã đạt đạo, nên Ngài nói “phải phải”, vì Ngài đã thấy suốt qua cái “vô tướng kia”, cho nên nói “phải phải, là như vậy đó”. Bởi vậy, ngay cái thân tướng đó mà phải và cũng ngay thân tướng đó mà chẳng phải, “thấy tất cả tướng mà chẳng phải tướng” là vậy đó. Nghĩa là, “thấy tất cả các tướng” thì “chẳng phải chẳng phải”, “liền thấy Như Lai” thì “phải phải”. Khéo thấy như vậy, thì ngay thân tướng giả hợp sai biệt đó, xoay trở lại không theo các tướng, dừng các niệm phân biệt liền thấy Như Lai chân tướng, không phải rời chỗ này mà riêng có Như Lai chỗ nào khác. Thấy như vậy là đúng như lý mà thấy, còn trên các tướng mà thấy thì mê lý, chấp theo tướng thấy thì dễ bị gạt và bị lầm. Nếu chỉ thấy Phật trên hình tướng thì khi ma hiện Phật làm sao phân biệt được?  Giờ đây, mở con mắt tuệ thấy tất cả các tướng đều hư dối, mà thấy trở lại cái vô tướng kia thì bảo đảm không bị ai gạt, bởi vì ma không thể thấy tới được chỗ đó, chỗ đó chính là chỗ nương tựa vững vàng, dù cho có Phật hay không, cái đó cũng hằng không bao giờ mất. Thấy như vậy, là cái thấy của Kim Cang Bát Nhã. Học Bát Nhã là phá những lầm chấp để thấy trở lại cái thật, vậy Bát Nhã có dạy mình chấp không chăng? Đâu có dạy chấp không! Vậy mà nhiều người nghe nói học Bát Nhã thì sợ Bát Nhã chấp không, đó cũng là hiểu lầm chấp trên tướng, khi phá tướng, không chỗ bám thì cho là không; còn đây Phật chỉ rõ ngay nơi tướng khéo thấy trở lại như vậy, không phải rời cái này riêng có cái khác, thì đâu gọi là chấp không. Hiểu như vậy mới hiểu sâu Bát nhã, tin như vậy đó mới gọi là chánh tín.

  • 8. CHÁNH TÍN ÍT CÓ

    CHÁNH VĂN:

    6. CHÁNH TÍN ÍT CÓ

    Tu Bồ Đề bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn! Có chúng sanh nào nghe được những lời lẽ, nghĩa lý rõ ràng như thế, sanh lòng tin chân thật chăng?

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Chớ nói lời ấy! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người trì giới, tu phước, đối với nghĩa lý này hay sanh lòng tin, cho những điều đó là thật; phải biết người ấy chẳng ở một Đức Phật, hai Đức Phật, ba, bốn, năm Đức Phật gieo trồng căn lành, mà đã ở chỗ vô lượng, ngàn vạn Đức Phật gieo trồng các căn lành. Người nghe nghĩa lý này, cho đến chỉ một niệm sanh lòng tin thanh tịnh, Tu Bồ Đề, Như Lai thảy biết hết, thấy hết, những chúng sanh đó được vô lượng phước đức như thế. Tại sao? Vì những chúng sanh ấy không còn tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả, không tướng pháp cũng không tướng phi pháp. Tại sao?

    Những chúng sanh ấy, nếu tâm chấp lấy tướng ắt là dính mắc Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Nếu chấp lấy tướng pháp ắt dính Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả.Tại sao? Nếu chấp lấy tướng phi pháp tức dính Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả. Vì vậy, chẳng nên chấp lấy pháp, chẳng nên chấp lấy phi pháp. Do nghĩa đó nên Như Lai thường nói: Tỳ kheo các ông hãy biết Ta nói pháp như dụ chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống nữa phi pháp.

    GIẢNG:

    Đó là qua một đoạn chương VI, nói về chánh tín ít có là, phần nói đến duyên lành sâu dày của người tin được kinh này. Trong đoạn có mấy điểm: Thứ nhất là Ngài Tu Bồ Đề nghi hỏi, Ngài hỏi: “- Bạch Thế Tôn! Có chúng sanh nào nghe được lời lẽ nghĩa lý rõ ràng như thế, sanh lòng tin chân thật chăng?” Tại sao hỏi như vậy? Bởi đây là lời nghi của Ngài, Ngài không dám nói là không có chúng sanh, mà nói “có chúng sanh nào” là còn ngờ, không dám nói “không dễ gì có chúng sanh tin được như vậy”, nếu nói như thế thì Ngài sợ không ai tin được sao? Cho nên nói “có chúng sanh nào” là còn để phần cho mình. Câu “lời lẽ nghĩa lý”, nguyên văn chữ Hán là “ngôn thuyết chương cú”, có khi dịch là “lời lẽ câu nói”; nếu theo nghĩa đó thì “nghe được những lời lẽ, những câu, đoạn nói trên đó mà sanh được lòng tin chân thật chăng?” Giải như vậy thì có gì chưa ổn không? Nói lời lẽ thì còn rõ được, còn “câu nói, đoạn văn hay câu văn trước”, nếu xét kỹ thì có phần chưa được ổn lắm. Bởi vì, chương cú, là thành ngữ của Trung quốc, chỉ cho những nghĩa lý ở trên. Nếu cho rằng, đó là những câu nói hay đoạn văn nói ở trước thì lúc này là lúc Phật đang thuyết pháp, đang thuyết pháp thì đâu có ghi lại đoạn văn, câu này câu khác. Có ghi lại, nên mới có phân ra đoạn, chương, câu. Sở dĩ ở đây chia thành 32 chương và đây là chương thứ sáu “Chánh tín ít có”, là sau này ghi thành kinh rồi, Thái tử Chiêu Minh viết lại mới chia ra. Còn đây, đang thuyết pháp mà phân ra thành chương thì không ổn, nên đây chỉ cho những lời lẽ, nghĩa lý mà Phật đã nói trước đó thì mới sáng tỏ ý nghĩa. Thành ra, nghiên cứu kỹ kinh Kim Cang mới thấy rõ trong từng câu, ý nghĩa rất vi diệu. Đây hỏi “có chúng sanh nào nghe được những lời lẽ nghĩa lý như thế rồi sanh lòng tin chân thật chăng?” Như vậy lòng tin chân thật đó là lòng tin gì? Đó là chỉ cho “tin chắc mình có trí thể Kim Cang” mà mỗi người đều có, tin chắc có điều này. Đó là niềm tin chân thật, mà niềm tin chân thật không phải là lời nói suông, vốn có thật, chẳng qua công phu chưa tương ứng, nên phát minh chưa rõ ràng, chưa sống được chứ không phải không có. Tin chắc như vậy đó là niềm tin vững, nó gieo vào tâm thức mình một hạt giống Phật. Như vậy đoạn này Ngài Tu Bồ Đề đặt câu hỏi với Phật đó, cũng là nương từ cái ý của những phần trước. Tức ở trên Phật nói độ tất cả chúng sanh mà không có chúng sanh được diệt độ, bố thí mà không trụ vào tướng nào hết, không trụ sáu trần, rồi thấy Như Lai chẳng phải thân tướng, tức là thấy Như Lai mà không phải các tướng, đối với người thường chưa nghiên cứu Phật pháp, có dễ tin chăng? Dễ hiểu chăng? Rất là khó hiểu! Độ chúng sanh mà không có chúng sanh được diệt độ, bố thí tất cả mà không trụ tướng, bấy nhiêu đó, là đã khó hiểu rồi! Nên Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật để xác định rõ ràng “niềm tin” cho tất cả mọi người. Ngài hỏi đây là hỏi cho mình ngày nay đó! Bởi vì, cái chấp ngã, chấp tướng là bệnh chung của mọi người, bây giờ gọi là thấy Như Lai mà không phải các tướng thì thật là trái với ý của mọi người bình thường, rất là khó hiểu. Đây coi như Ngài hỏi để ngừa trước cho mọi người. Sau đó Ngài không dám nói theo ý mình mà dẫn ý Phật, “theo chỗ con hiểu như lời Phật đã nói”, để cho mình có được đầy đủ niềm tin. Như vậy mà ngày nay có người nghe rồi cũng còn chưa tin, có khi nghi nữa! Chẳng hạn cho tụng kinh Kim Cang có ngày cây cối khô héo! Hay học kinh Kim Cang coi chừng chấp không! Đó là chưa tin. Cho nên ở đây Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật, để xác định lại niềm tin nơi mỗi người cho vững vàng. Đây là lời Phật đáp: “chớ nói lời ấy!”, tức là Phật ngăn ông, ông đừng nói vậy. Nếu nói như vậy, thành ra mất niềm tin cho mọi người, hỏi “như vậy không biết có ai tin được không?” Tức bảo mọi người khó tin đến được. Do đó đức Phật ngăn, không được nói như thế. Bởi vì, trí Bát Nhã vốn sẵn có nơi mọi người, nó không dành riêng cho ai hết, mà đã có đủ thì tại sao không thể tin? Ông hỏi như vậy, làm cho người ta mất niềm tin sao? Trong kinh Như Lai Tạng có một đoạn Phật nói: “- Này thiện nam! Ta dùng Phật nhãn mà nhìn thấy, trong các thứ tham dục, phiền não, nóng giận ngu si của tất cả chúng sanh, có Như Lai trí, Như Lai nhãn, Như Lai thân nghiễm nhiên ngồi bất động”. Phật xác định rõ ràng là, trong các thứ phiền não là tham sân si có đủ trí Như Lai, con mắt của Như Lai, có đầy đủ thân Như Lai nghiễm nhiên ngồi bất động. Phật đã xác định như thế thì vì lý do gì mà mình không tin nỗi? Đó là để gieo cho mọi người có đầy đủ niềm tin, nơi mình có hạt giống Phật, có khả năng giác ngộ, ai ai cũng có, chứ không phải người căn cơ bậc thượng mới có, còn những bậc trung hạ thì không có. Không phải vậy, chẳng qua nghiệp tập của mỗi người có sâu có cạn. Người có nghiệp sâu dày thì nó che nhiều, che nhiều thì nghe một lần không dễ tin, nên phải nghe nhiều, huân tập sâu, dần dần chuyển được nghiệp tập đó, phát khởi niềm tin. Bởi cái đó sẵn có nơi mình không đâu khác, phải có niềm tin để mà vươn lên, chứ hỏi “không biết có ai tin được không?” sẽ làm cho người ta do dự mất đi niềm tin chân thật. Cho nên người thuyết pháp phải khéo, bằng không làm cho người mất đi niềm tin sẽ bị tổn phước! Đây chính là lời Phật xác định: “Sau khi Phật diệt độ năm trăm năm sau, có người trì giới tu phước thì đối với những nghĩa lý này hay sanh được niềm tin, phải biết người ấy chẳng phải ở một Đức Phật, hay hai, ba đức Phật, mà đã từng ở vô lượng Đức Phật gieo trồng căn lành”. Phật xác định như vậy còn gì nữa mà không tin! Nói sau khi Phật diệt độ, năm trăm năm sau, như vậy có trùng lặp không? Nói sau khi Phật diệt độ, rồi năm trăm năm sau, theo văn tự thì hơi trùng lập, nhưng ở đây có ý nghĩa rõ ràng. Bởi có chỗ giải thích pháp Phật trụ đời có chia ra thời chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp; trong đó chánh pháp một ngàn năm, tượng pháp một ngàn năm, mạt pháp mười ngàn năm, đó là theo thuyết phổ thông. Trong đó có chia ra: năm trăm năm đầu thuộc thời giải thoát kiên cố, các hàng đệ tử tu hành cũng được giải thoát, dứt được lậu hoặc, giải thoát sinh tử như là thời Đức Phật. Năm trăm năm sau kế đó, gọi là thiền định  kiên cố tức là những người dứt được lậu hoặc cũng hơi ít đi rồi, nhưng còn tu chứng các tam muội thiền định như thời Phật. Đến năm trăm năm sau nữa, tức  là năm trăm năm kế thứ ba gọi là đa văn kiên cố, đến đây người lo tu thiền định, giải thoát ít hơn rồi, bởi xa thời Phật nên sanh giải đãi, vì vậy thường nghiên cứu, sớ giải, chú thích, ngoài ra thực hành giải thoát thì lại ít đi. Rồi năm trăm năm kế nữa, là năm trăm năm thứ tư, thì thuộc về tháp tự kiên cố, đến đây cầu phước báu, lo xây dựng chùa tháp. Đến năm trăm năm kế nữa, là thuộc thời mạt pháp, thời đấu tranh kiên cố. Đấu tranh kiên cố là sao? Là lập tông, lập phái rồi tranh nhau, tông của tôi là hay, tông của anh là dở ..v.v.. Mình bây giờ, chắc cũng thuộc trong thời này, nhưng qua thời này nữa là khác, vì hiện giờ đang thuộc vào năm trăm năm thứ sáu. Vậy năm trăm năm sau, chỉ cho thời thuộc về mạt pháp này. Đây là giải thích theo phổ thông, nhưng khi học kinh phải linh động, nếu chỉ giải thích năm trăm này thuộc về năm trăm năm đầu của thời mạt pháp hay năm trăm năm này thuộc về năm trăm năm thứ năm thì có giới hạn, vậy năm trăm năm thứ sáu, thứ bảy thì sao? Thành ra, năm trăm năm này, chỉ chung cho thời mạt pháp mà còn có người giữ giới, tu phước, đối với kinh này tin được, là đã gieo trồng căn lành chắc sâu rồi. Hiểu vậy nghĩa mới được trùm khắp. Nghĩa là, trong thời mạt pháp mà còn có người tin được như vậy, thì quá hay, đây là cái ý trong đó. Bởi vì trong bản kinh Kim Cang đời Ngụy nói rõ hơn: “- Phật bảo Tu Bồ Đề: Ở thời vị lai thế, mạt thế khi pháp sắp diệt mà có vị Bồ Tát tu phước đức, trí tuệ đối với nghĩa lý kinh này hay sanh lòng tin cho đây là thật..v.v…”.

    Đây giải thích rõ: ở vị lai  thế, là ở đời vị lai; còn ở thời mạt thế, khi pháp sắp diệt là chỉ trong đời mạt pháp. Trong đời mạt pháp mà có người tin được kinh này thì rất là hy hữu, đã trồng sâu căn lành rồi. Ở đây chỉ nói giữ giới tu phước, còn bản khác thì có nói thêm: “trì giới, tu phước đức trí tuệ”, có chỗ nói: “đủ giới, đủ phước, đủ tuệ”, đây rút gọn lại “trì giới tu phước”. Đọan này, Đức Phật xác định lại rõ cho thấy trong thời mạt pháp, có người trì giới tu phước, tin được kinh này là trồng căn lành đã quá sâu rồi! Nhưng tại sao Đức Phật lại chọn người trì giới tu phước? Để thấy rõ, đây là người có sống, có tu tập đàng hoàng chứ không phải hạng người nói suông. Bởi hạng người nói lý suông thì đôi khi phỉ báng Bát nhã. Nghĩa là, nói cái gì cũng hay mà không thực hành.Vì vậy ở đây chọn người trì giới tu phước, vậy bát nhã có rơi vào một bên chấp không chăng? Người trì giới tu phước mà tin được kinh này thì đã trồng căn lành nhiều đời nhiều kiếp, có nói quá không? Không phải gieo trồng căn lành ở một Đức Phật, hai Đức Phật mà trong vô lượng Đức Phật! Nếu xét cho kỹ thì, ở trong thời mạt pháp, xa Phật xa Tổ, ít có người tu chứng giải thoát như thời Đức Phật, mà có người tin được kinh này có phải mình mới tu một đời này không? Nếu mới tu, mới nghe, mới phát tâm ở đời này thì dễ tin vậy không? Không dễ dàng gì, tức đã trồng sâu căn lành nhiều đời. Để xác định cho mình có được sức mạnh vươn lên, chứ không phải nói bây giờ thời mạt pháp rồi, xa Phật rồi, tu hành không mong gì đạt đạo, không mong gì giải thoát, thôi thì tu nhàn nhàn, tu phước là được rồi, để gieo căn lành đời sau! Đó là gieo tâm niệm giải đãi, không có mong cầu thiết tha để tu cho đạt đạo giải thoát; bởi vì có tu cách mấy rồi cũng không giải thoát. Hiểu kiểu ấy thì làm cho mình nhụt chí đi, mất niềm tin vươn lên. Còn ở đây, dù trong thời mạt pháp mình nghe được, tin được là đã trồng sâu căn lành nhiều đời rồi. Đã có trồng sâu căn lành thì phải thực hành, chứ đã có căn lành rồi, lại bỏ qua sao? Đó là niềm tin mạnh để vươn lên. Nhưng có người hỏi “đã trồng sâu căn lành, sao không thành Phật mà giờ còn làm chúng sanh khổ nữa đây?” Theo ngài Đạo Nguyên giải thích, đã trồng sâu căn lành rồi, nhưng tu phước trì giới mà còn chấp tướng. Vì chấp tướng nên bị kẹt trên ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, kẹt phước hữu lậu, không thấu được Bát Nhã vô lậu, nên còn lang thang. Nhưng đã trồng sâu căn lành rồi, nên bây giờ được tin, nghe lại thì mau tin. Như vậy dù sanh trong thời mạt pháp mà có được niềm tin này, thì Phật tánh không mất, ngay trong đời này mình có đủ Phật tánh, vậy có ai không có khả năng tỉnh giác để mà vươn lên? Đó là một sức mạnh, là đủ niềm tin cố gắng tu hành để chuyển những cái xấu cái dữ, cho dù đó là nghiệp chúng sanh đi nữa cũng chuyển được để rồi mỗi ngày một thăng tiến, chứ  không đứng dừng một chỗ.

    Đây, lại thêm một ý nữa:

    “Người nghe được kinh này mà một niệm khởi lòng tin thanh tịnh, (vậy lòng tin thanh tịnh là sao?) thì Như lai thảy biết hết, thấy hết, những chúng sanh đó đều được vô lượng phước đức”.

    Mình tin, sao Như Lai thấy được? Đây là một niềm tin tương ứng với Kim Cang Bát Nhã, tức là niềm tin không hai, không mắc kẹt nghiêng lệch, không dính mắc ở trong bốn tướng, tin được có cái thể Kim Cang Bát Nhã, tin như vậy đó là niềm tin tương ứng với trí Kim Cang, mà tương ứng với trí Kim Cang là tương ứng với trí Phật. Trong sử nhà thiền có câu chuyện: Có một vị giảng sư giảng kinh Kim Cang hay lắm. Nhưng một hôm ông giảng đến đoạn vô ngã vô nhơn, là không ta không người, trong hội đó lại có ông Bàng Uẩn, Bàng Uẩn là ông cư sĩ nhưng ngộ đạo rất sâu, sau này ông chết cũng chết một cách tự tại, ông bèn hỏi:

    - Tọa chủ nói “không ta không người” vậy ai giảng, ai nghe?

    Tọa chủ không trả lời được. Ông Bàng Uẩn mới nói:

    - Tôi tuy người thế tục nhưng cũng tin biết được chút ít thô thiển.

    Tọa chủ nói:

    - Theo ý cư sĩ  thì như thế nào?

    Ông Bàng Uẩn giải thích bằng một bài kệ theo chữ hán là:

    Vô ngã phục vô nhân Không ngã cũng không nhân

    Tác ma hữu sơ thân Làm gì có sơ thân?

    Khuyến quân hưu lịch tọa Khuyên ông thôi ngồi mãi,

    Bất tự trực cầu chân Chẳng bằng thẳng cầu chân.

    Kim Cang Bát Nhã tánh Tánh Kim Cang Bát Nhã,

    Ngoại tuyệt nhất tiêm trần. Chẳng dính một mảy trần.

    Ngã văn tịnh tín thọ. Tôi nghe với tin nhận.

    Tổng thị giả danh trần. Thảy đều giả danh trần.

    Tức là, không ngã cũng không nhân: không ta cũng không người thì làm gì có sơ thân, đâu có gần đâu có xa. Bởi mình còn thấy ta, thấy người, còn có niệm chấp đó nên thấy có người gần gũi, có người xa, có quen, có lạ, mà có kẹt như thế nên hỏi không đáp được. Nếu thật sự không ta không người thì có gì ngăn ngại. Như vậy “Khuyên ông thôi ngồi mãi, chẳng bằng thẳng cầu chân”. Ngồi đó giảng, chấp vào cái tướng này, chẳng bằng thẳng cầu chân, thấy đến cái chân thật vô tướng, chứ đừng mắc kẹt trên tướng này. “Tánh Kim Cang Bát Nhã, chẳng dính một bụi trần”. Tánh Kim Cang Bát Nhã đó, chẳng dính một bụi trần nào hết, vậy thì chỗ nào có ta có người? Sở dĩ có ta có người, vì còn bị mắc kẹt trên thân này, còn Tánh Kim Cang Bát Nhã có hình tướng gì đâu mà có ta có người? Làm sao mà thấy được chỗ này? Phải quên tướng này, mới tin được chỗ kia. Chứ còn mắc kẹt vào tướng này cho nên chưa tin nổi chỗ đó. Ở đây “Tôi nghe với tin nhận, thảy đều giả danh trần”. Nói tôi nghe với tin nhận đó, không phải trong đó có thật cái tôi để tin nhận, mà tùy theo tâm của thế gian, tùy theo ngôn ngữ của thế gian tạm nói tôi nghe, cũng tạm nói tin nhận. Nếu không khéo, theo ngôn ngữ thế gian thì hiểu trong đó có cái “tôi nghe”, nghe nói tin nhận thì có một “cái để tin nhận”, vậy là còn mắc kẹt ở hai đầu, chưa qua khỏi chữ nghĩa. Đây nói nghe, nhận đều là giả danh thôi, đâu mắc kẹt gì cái giả danh. Sở dĩ không mắc kẹt đó là vì sao? Là bởi ông tin được Kinh Cang Bát Nhã là vô tướng đó, mà tin được như vậy thì phước đức vô lượng, đâu có hình tướng gì nói hết. Đó là cái nhân thành Phật, cái nhân của Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cuối cùng sẽ thành Phật quả, thì mỗi công đức không thiếu. Niềm tin đó tương ứng với Như Lai, cho nên Như Lai thảy biết hết, thấy hết. Đó là niềm tin bằng trí tuệ. Bởi vậy phước đức thường không so lường được.

    Đoạn kế ngài giải thích “Vì sao? Vì những chúng sanh ấy không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không tướng pháp hay phi pháp”. Giải thích vì sao mà được vô lượng công đức ở trên, vì tin được như vậy đó thì không còn kẹt trong bốn tướng, những chúng sanh này đang trên đường sống trở về cái chân thật. Đó là con đường trở về giác ngộ, cho nên phước đức không tính được, còn phước đức tu theo tạo tác, hữu lậu là có giới hạn, phước đức đó hưởng hết thì nguy. Còn đây là phước đức sống trở về tự tánh, không giới hạn nên vô lượng. Tại sao nữa? Giải thích, vì những chúng sanh đó không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả..v.v.. Không pháp hay phi pháp. Ở đây hỏi tại sao không có những tướng đó, vì những chúng sanh đó nếu tâm chấp tướng thì bị dính mắc bốn tướng, hễ vừa chấp thân tướng là có ngã tướng, còn chấp về tướng khác là chỉ cho chấp pháp; tức là còn mắc kẹt nơi ngã pháp thì tâm còn giới hạn, trái lại ở đây được phước vô lượng, không mắc kẹt nơi các tướng, đó là tâm vượt ngoài dính mắc ngã pháp.Tại sao nữa? Nếu chấp lấy phi pháp thì cũng bị mắc kẹt trong bốn tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) câu này hơi khó hiểu. Tại sao? Ở trên chấp lấy tướng pháp thì bị mắc trong bốn tướng; Còn đây giải thích thêm, nếu chấp vào phi pháp cũng dính ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp có pháp thật thì tất nhiên có phi pháp thật, bởi pháp đối với phi pháp, nếu chấp có pháp thật thì không bị kẹt nơi pháp cũng bị kẹt nơi phi pháp. Mà kẹt nơi phi pháp thì rất nguy hiểm, thành ra phỉ báng Bát Nhã, chê bai nhân quả; vì vậy có pháp có phi pháp là có được, có mất, cũng mắc kẹt trong bốn tướng chưa phải là “niềm tin thanh tịnh”. Do đó còn kẹt một tướng, dính một bên, còn có một chỗ chấp là còn mắc kẹt, vừa động niệm liền sai, cho nên chấp pháp hay phi pháp đều bị mắc kẹt. Vậy phải tu làm sao đây? Đây là phá chấp chứ không phá pháp, vừa có chấp là có kẹt, chỉ không chấp thì pháp nào cũng tốt hết, đâu có lỗi. Vì vậy nói: chẳng nên “chấp” lấy pháp, chẳng nên “chấp” phi pháp. Pháp thuộc về “có”, phi pháp thuộc về “không”, chấp có chấp không thuộc về hai bên, nên không chấp pháp hay phi pháp, tức bên có bên không thì tự tương ứng với Bát Nhã, đó là thầm hợp với “Như Lai”, do đó “Như Lai” biết hết, thấy hết những chúng sanh đó không sót. Chỗ đó nhà thiền gọi thầm ấn tâm, không cần phải đem vô phòng kín, giăng màn rồi mới ấn tâm, chỉ ngay một niệm thanh tịnh đó, lià các tướng “có không” thì liền được ấn tâm, ngay đó thấy Như Lai rõ ràng.

    Kế đó, Phật tiếp ví dụ:

    “Do nghĩa đó nên Như Lai thường nói: Tỳ kheo các ông hãy biết Ta nói pháp như dụ chiếc bè, pháp còn phải bỏ, huống nữa phi pháp”.

    Đây là ví dụ, có nói ra cái gì đều là phương tiện, cái gì đã ra lời đều thành hữu hạn. Người khéo thì nhân phương tiện đó thấy được cái thật, nhân hữu hạn mà thấy vô hạn, còn bám trên phương tiện ngôn ngữ, lời nói thì không thể đến lẽ thật. Có câu chuyện trong nhà thiền, Đức Sơn hầu ngài Sùng Tín đến khuya, đi ra ngoài trời tối đen, mới trở vào phòng thưa với ngài Sùng Tín là: Bên ngoài trời tối đen. Ngài Sùng Tín bảo: Ừ! Trời tối thì ta đốt đèn đưa cho! nhưng Đức Sơn vừa đưa tay tiếp thì Ngài liền thổi tắt, Đức Sơn liền ngộ. Nếu một bề cứ nương tựa ông thầy thì sao? Cái đó cũng là bên ngoài, phải tự mở sáng trí thật của mình, nên vừa đưa tay thì ngài liền thổi tắt, để tự  trực nhận cái đó sẵn có nơi mình. Ngay đó, Sư liền đại ngộ, liền tự sáng, đâu cần đèn bên ngoài, đèn bên ngoài là chỉ tự gợi thôi. Đây cũng vậy, Phật Tổ có nói ra bao nhiêu lời, đó cũng là phương tiện, phải khéo nhận lại cái của mình, cái thật nơi mình đó mới là cái chân thật. Nên ở đây Phật ví dụ Như Lai có nói ra pháp gì, thì đó cũng ví như  chiếc bè mà thôi, phải khéo nương đó mà qua sông. Tương tự câu chuyện trong Góp nhặt cát đá. Tựa là “Giáo lý tối thượng”, nhưng trong đó không nói gì về giáo lý, chỉ kể một anh chàng người mù đi đến thăm người bạn, nói chuyện say sưa đến khi tối đi về, anh bạn mới đốt đèn lồng đưa cho. Khi đó anh mù mới cười nói:

    - Anh thiệt làm cái chuyện nó dư, tôi mù rồi thì có đèn cũng như không vậy thôi, đưa chi cho mất công!

    Nhưng anh bạn lại cười nói:

    - Tuy biết vậy, nhưng khi anh cầm đèn này thì anh đi ra, những người đi ngược chiều họ tránh khỏi đâm đầu lủi vào anh.

    Nghe nói cũng có lý, anh cầm đèn đi ra một đoạn đường, gặp một người đâm sầm vào anh, anh la:

    - Anh bạn này, không thấy tôi đang cầm đèn sao?

    Anh kia trả lời:

    - Thưa anh bạn, cây đèn của anh đã tắt từ lâu rồi!

    Tắt từ lâu thì làm sao mà thấy được? Đó là giáo lý tối thượng. Vậy tối thượng ở chỗ nào? Cái đèn của người, dù có đưa cho mình cũng không cứu được mình trong những hoạn nạn, chỉ có mình mở sáng con mắt chính mình thì mới cứu mình. Cũng vậy, chỉ có mở sáng con mắt trí tuệ mới thắng những phiền não, sanh tử. Chứ còn học thuộc bộ kinh Kim Cang này, thì cũng của Phật thôi. Dù cho hiểu được bộ kinh Kim Cang này cũng của Phật, của Thầy Tổ thôi. Phải nhân đây soi sáng lại mình, mở sáng trí tuệ, sống được thì đó chính là bộ kinh sống. Do đó Phật nhắc nhở cho mình thấy rõ, Ngài nói pháp như chiếc bè để nương qua sông. Nhưng dụ chiếc bè còn có ý nghĩa nữa, là khi mình chưa qua sông phải nương bè, chưa qua sông mà bỏ bè là chết, mà bước xuống bè không nhổ neo thì sao? thì cũng ở một chỗ. Còn qua sông rồi vác bè đi nữa thì sao? hoặc qua tới bờ bên kia, đứng đó không bước lên bờ thì sao? cũng không tự tại, cũng còn mắc kẹt đó. Qua tới bờ xong, bước lên bờ đi, đâu phải vác theo chiếc bè. Khi còn mê, còn phiền não thì nương Phật pháp tiến tu. Chứ còn phiền não dẫy đầy mà nghe nói các pháp đều không, rồi không tu hành thì phiền não còn y nguyên. Nói không đó, là để lấy đó soi sáng lại mình, khi những phiền não sạch hết rồi, thì không còn dùng  phương tiện. Bao nhiêu pháp của Phật nói ra là để soi sáng lại tâm mình, khiến trừ những phiền não. Nếu hết phiền não thì những cái kia không còn bận tâm nữa. Nhưng như vậy mình bác bỏ sao? Mình thì qua được rồi, còn người khác họ chưa qua, thành ra đối với mình không cần thiết, nhưng người khác thì cần thiết. Khi mình thấy được, cũng như sạch phiền não, nhưng trong đường giáo hoá mọi người thì cũng phải mượn các pháp để giảng dạy. Cho nên có vị mới hiểu  lý sâu xa một chút, thấy mình đầy đủ rồi không cần thêm gì, nên bác hết tất cả, làm cho những người mới chới với, không biết gì để tiến tu. Nếu mình thực sự sống trọn vẹn, sạch hết phiền não, phương tiện không cần, nhưng đối với người còn mê thì phải nương pháp để tiến tu, đâu thể bác bỏ! Phải khéo ở chỗ đó! Còn mê thì còn có pháp, phi pháp đối trị nhau. Khi hết mê rồi thì đâu đâu cũng là Phật pháp, tâm mình đã sáng, đã thanh tịnh rồi thì đâu đâu cũng thanh tịnh hết. Còn tâm phiền não thì nhìn chỗ này tốt, chỗ kia không tốt, ở chỗ này thích hợp với tôi nên nó tốt, chỗ kia không thích hợp với tôi nên không tốt. Chính đây là mở đường để nói tới pháp “vô đắc” ở sau.

    Tóm lại đoạn này, thứ nhất nói Bát Nhã là cái sẵn có nơi mỗi người, ai cũng có quyền tin nhận hết, chớ không phải người này tin được mà người khác không tin được.

    Thứ hai là, dù ở đời mạt pháp nếu người thực tâm tu hành tin được việc này, là đã trồng sâu căn lành nhiều đời rồi.

    Thứ ba là, mình khởi được một niềm tin thanh tịnh lìa bốn tướng, thì ngay đây tự khế hợp với Như Lai, thấy được Phật pháp thân chứ không đâu xa. Kế nữa là, khéo phương tiện để sống trở lại với chính mình, đó là không mắc kẹt nơi có nơi không, đầy đủ niềm tin như vậy đó là người “thật ít có” ở trong đời mạt pháp, được niềm tin như vậy rất là hy hữu! Vậy chính mình đã biến “mạt” thành “chánh”, đối với ai mạt, nhưng với mình không có mạt. Đó là đoạn nói về chánh tín ít có, để cho mình thấy rõ, ngay trong đời mạt pháp này mình hiểu được tin được Bát Nhã này, tức là chủng tử sâu dày, phải phát triển thêm lên, chứ không tự ty mặc cảm, chúng ta sống xa thời Phật khó tu, thôi thì tu nhàn nhàn thôi. Đó là ý nghĩ yếu đuối! Tới đoạn “Không được không nói”, đây là đoạn rất quan trọng sâu xa!

  • 9. KHÔNG ĐƯỢC, KHÔNG NÓI.

    CHÁNH VĂN:

    7. KHÔNG ĐƯỢC, KHÔNG NÓI.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai có pháp để nói chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Theo con hiểu về nghĩa Phật đã nói thì không có pháp cố định gọi là Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng không có pháp cố định Như Lai có thể nói. Tại sao? Pháp do Như Lai nói đều chẳng thể chấp lấy, chẳng thể nói, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Vì cớ sao? Tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai khác.

    GIẢNG:

    Đoạn này phải nghe cho kỹ mới thấm nỗi, bởi vì thường thường ở thế gian ai có lập ra một thuyết gì, chủ trương gì thì mình bảo vệ tới cùng, ai mà nói ngược lại bài bác hay phá, thì mình phản đối, có khi xả thân. Nhưng ở đây, với Phật pháp thì khác, “không được không nói”. Ở đời làm việc gì mà không có được thì làm chi? Làm gì cũng phải có được, có được thì mới làm, không được thì làm ích gì? Còn đây là muốn phá chấp về ngôn ngữ, phá cái chấp về sở đắc, để ngầm chỉ ra có “một cái ngoài lời”, lời nói không đến được, không nói hết được! Cho nên câu Phật hỏi có hai phần: - “Ý ông nghĩ sao”, là để dò: Như Lai có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Có pháp để nói chăng? Cố định có pháp thật được chăng? Có pháp thật để nói chăng? Như vậy là tiếp nối cái ý ở trước, là không cho mình chấp pháp, không cho mình chấp phi pháp, vậy Như Lai thành cái gì mà gọi là Như Lai? Như Lai nói pháp gì để dạy người? Bởi không cho mình chấp pháp, phi pháp thì cái gì thành Phật đây? Rồi Ngài dạy gì đây? Đây cũng chính là chỗ nghi, rồi mình nương vào đâu để tu hành? Xét kỹ ra, Như Lai đêm mùng tám tháng chạp thành đạo dưới cội Bồ Đề, là thành cái gì? Bốn mươi chín năm thuyết pháp đó, là Ngài thuyết cái gì? mà ở đây Ngài phủ nhận hết, không có cái Vô thượng chánh đẳng chánh giác được, không có gì để nói, đó là điều rất khó hiểu! Vì vậy vào đầu Phật hỏi: - Ý ông nghĩ sao để dò xét lại. Bởi vì mình không khéo dễ bị rơi một bên, mà rơi một bên thì chê bai chánh pháp. Đây Ngài Tu Bồ Đề trả lời: “theo con hiểu về nghĩa Phật đã nói thì, không có pháp cố định gọi là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng không có pháp cố định Như Lai có thể nói”.

    Vậy có ba điểm:

    -  Thứ nhất “theo chỗ con hiểu về nghĩa Phật nói”.

    - Thứ hai là: “không có pháp cố định gọi là Vô thượng Bồ Đề

    - Thứ ba là: “không có pháp cố định để nói”.

    Tại sao Ngài không tự đáp mà chỉ nói “theo chỗ con hiểu” thôi? Phật hỏi Ngài, Ngài không đáp thẳng, mà Ngài chỉ dẫn lại theo chỗ Ngài hiểu về nghĩa mà Phật đã nói đó. Vậy là sao? Chỗ này phải khéo, nhất là những vị giảng dạy, nói chuyện thì phải hiểu cho kỹ, không thì dễ bị mắc kẹt. Phật hỏi: “Như Lai có được pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác chăng? Như Lai có pháp để nói chăng?” Đó là cảnh giới của Phật, của Như Lai. Ngài Tu Bồ Đề biết rõ ý đó, nên Ngài cũng thuận theo trí Phật mà nói chứ không tự ý đoán mò. Đó là kinh nghiệm, nếu hiểu được chút ít, bèn vỗ ngực ăn to nói lớn, tưởng đâu mình như là Phật, đem những lời nói, câu nói của Phật ra nói giống như của mình, mà thật sự mình chưa sống được với nó, cũng chưa phải cảnh giới của mình nữa, thì đâu phải! Do đó ở đây Ngài khéo nói “theo chỗ hiểu của con về nghĩa Phật nói” thì đâu có ai bắt bẻ được, đó là ý rất hay, không khéo mình dễ bị mắc kẹt cái bệnh này. Nghĩa là nói như Phật, tuởng đâu là của mình, nhưng gạn lại thì sao? Chỉ ăn cắp của Phật, của Tổ. Nhất là học thiền, phải cẩn thận chỗ này! Câu kế “không có pháp “cố định” gọi là Vô thượng chánh đẳng cháng giác”, cũng phải chú ý! Vậy ở đây có pháp Vô thượng chánh đẳng cháng giác không? Từng chữ từng câu luôn có ý nghĩa sâu xa trong đó. Nên nhớ không có “pháp cố định” chứ không phải là không có! Tức Phật không có cái cố định Vô thượng chánh đẳng chánh giác đó, là cái pháp thuộc văn tự ngôn ngữ, thuộc về đặt tên cho nó, đây là phá cái chấp trên ngôn ngữ, chữ nghĩa văn tự chứ không phải thật không có nó. Bởi vì nếu có pháp cố định Vô thượng chánh đẳng chánh giác đó, tức có được mất, và có pháp cố định tên Vô thượng chánh đẳng chánh giác đó là có pháp thuộc về văn tự ngôn ngữ, mình có thể nói đến được, mà đã nói đến được thì suy nghĩ đến được, không cần phải tu cho nhọc, chỉ cần bỏ chút suy nghĩ là có nó rồi. Đây rõ ràng là phá chấp về ngôn ngữ, văn tự chứ không phải phá không có cái đó. Song hễ có được là có mất, mà có được mất đã thuộc về cái bên ngoài, nên trong nhà thiền có câu chuyện: Có vị tăng hỏi vị thiền sư Tĩnh Niệm:

    - Có hai con rồng cùng tranh giành một hạt châu vậy thì con nào được?

    Sư trả lời:

    - Con được là mất.

    Đáp hay không? Bởi có mất nên mới được. Ông tăng hỏi tiếp:

    - Vậy con chẳng được thì thế nào?

    Sư đáp:

    - Hạt châu ở chỗ nào?

    Nếu đã thấy được là mất, cái được đó nó thuộc về bên ngoài. Còn nếu chẳng được thì sẵn nơi mình đó, còn hỏi gì chỗ nào? Có chỗ nào đó thì cũng thuộc về cái bên ngoài rồi. Ý rất sâu xa! Hễ mình thấy được là còn có niệm hướng ra bên ngoài rồi, còn đây có sẵn nơi mình thì đâu còn có mất. Lại còn thấy có chỗ nữa thì mắc kẹt luôn. Có chỗ tức có thấy được, cũng thuộc về đối tượng. Giả sử Đức Phật thành đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác mà thật có pháp cho Ngài thành, thì Ngài không còn là Ngài nữa, vì có cái để thành tức Ngài thành cái đó rồi. Cũng như nói tôi thành thì thành ra anh A hoặc tức thành một con người khác.

    Còn ở đây phải hiểu Vô thượng bồ đề là cái gì? Đây chỉ gợi ý thôi, như vua Hiếu Tông nhà Tống nhân ngày lễ Phật thành đạo tức ngày 08/tháng chạp, ông hỏi thiền sư Phật Chiếu:

    - Đức Thích Ca sáu năm ở núi Tuyết là thành được cái gì?

    Sư đáp:

    - Dám bảo Bệ hạ đã quên.

    Sư chỉ đáp vậy thôi mà ông vua hiểu ý vui vẻ. Vậy thành cái gì? Thường mình nghe Phật thành đạo thì cứ nghĩ là lúc sao mai mọc đó, hào quang chiếu sáng rực rỡ, ở đây ngài Phật Nhật đáp đơn giản: “Dám bảo Bệ hạ đã quên?” Cái đó sẵn nơi mình, mình bỏ quên vậy thôi. Cái sẵn mà mê lầm không hay không biết cho nên tạo nghiệp này, nghiệp khác đành lang thang trong luân hồi. Giờ đây thành đạo là sống trở lại cái  này, mà sống trọn vẹn là Phật thôi, sống chưa trọn vẹn thì hoặc là Bồ tát hoặc là thiền sư, chứ đâu có gì khác. Hiểu vậy thì Vô thượng chánh đẳng chánh giác cũng là cái tên thôi, mà cái tên đó phải thấy rõ là chỉ cái thể chân thật, cái thể giác chưa từng thiếu ấy. Nếu có được thì mình quên cái này rồi, là thấy ra cái bên ngoài rồi. Thực ra Vô thượng chánh đẳng chánh giác nó không thuộc một cái gì hết, mình nghe Vô thượng chánh đẳng chánh giác, rồi trong đầu nghĩ là một cái gì đó, mà “cái gì đó” thì thuộc về vật rồi, đã là vật tức thuộc cái bị duyên, mình có thể nghĩ đến được. Vậy trước khi sao mai mọc, cái Vô thượng bồ đề đó ở đâu? Rồi sau khi sao mai mọc nó ở đâu lại mà thành? Đặt câu hỏi lại thì mình thấy rõ nghĩa, chẳng lẽ cái đó nó mới có từ khi ngài chứng ngộ thôi, nếu vậy thì trước đó không có? Nếu khi sao mai chưa mọc nó không có, khi sao mai mọc nó mới có, thì mới gọi là được. Hiểu vậy, mình mới thấy ý nghĩa Vô thượng bồ đề chỉ là danh từ tạm diễn tả, còn cái đó là cái có sẵn nơi mình, chứng ngộ là ngộ cái này thôi, cho nên Sư đáp “dám bảo bệ hạ đã quên”. Dẫn thêm bài kệ truyền pháp của Tổ Đề Đa Ca:

    Thông đạt bổn tâm pháp Thông suốt pháp bổn tâm,

    Vô pháp vô phi pháp. Không pháp không phi pháp.

    Ngộ liễu đồng vị ngộ, Ngộ rồi đồng chưa ngộ,

    Vô tâm diệc vô pháp. Không tâm cũng không pháp.

    “Thông suốt pháp bổn tâm, Không pháp không phi pháp”. Tức là, thấu suốt được pháp bổn tâm, tức thấy suốt được bổn tâm của mình thì cái đó không thuộc về pháp hay phi pháp, không thuộc về có hay là không. Bổn tâm là cái có sẵn nơi mình thì nó đâu thuộc về pháp hay phi pháp, không thuộc về cái gì hết, không mắc kẹt bên có, bên không.

    “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, Không tâm cũng không pháp”. Ngộ, là ngộ cái lúc mình chưa ngộ thôi, ngộ cái lúc mình mê, giờ ngộ là nhớ trở lại. Chỗ này còn có thêm ý nghĩa nữa, ngộ là mình chỉ mới thấy chớ chưa sống được, nên đừng vội mới ngộ đã vỗ ngực, phải sống cho được trọn vẹn nữa. Như vậy ngộ cũng không thấy có cái mình ngộ, nếu ngộ mà còn thấy có cái để ngộ là còn sở đắc, tức là còn có cái được, mà có cái được là mất rồi! Đến đây không tâm cũng không pháp, tâm pháp là danh từ thôi. Chính nó là nó, không thêm tâm pháp chi nữa? Còn thấy có tâm có pháp là bởi vì còn mê do đó nên nói cái này là tâm, cái  kia là pháp để cho mình nhân cái pháp đó nhớ lại tâm mình, thì đó là phương tiện. Ngộ rồi, nó là nó, rõ ràng đâu có cái thứ hai mà nói tâm nói pháp? Đó là nói về không có pháp cố định gọi là Vô thượng bồ đề. Kế không có pháp cố định để nói là sao? Vậy kinh Kim Cang là gì? Ai nói? Chúng ta học là học cái gì? Nên trong đây có ý sâu, thứ nhất nếu có chỗ nói đến được thì thuộc về ngôn ngữ, như vậy mình không cần phải thực hành, phải thí nghiệm, vì nói năng biện luận cũng có thể tới được; thứ hai, nếu nói đến được thì nó thuộc về phân biệt đối đãi, vì nói ra là thuộc về hai bên, thuộc về đối tượng, cái đó tức mình có thể hiểu biết được, mình suy luận được, thì pháp đó thuộc về sanh diệt, còn cái này làm sao nói đến được đây? Câu chuyện Linh Mặc đến yết kiến thiền sư Thạch Đầu, Sư hỏi:

    - Một lời cùng hợp thì ở, chẳng hợp thì liền đi.

    Nhưng ngài Thạch Đầu vẫn ngồi yên, Sư liền ra đi. Ngài Thạch Đầu đi theo ra cổng, chợt gọi:

    - Xà lê!

    Sư liền xoay đầu lại, ngài bảo:

    - Từ sanh đến tử chỉ là thế ấy xoay đầu chuyển não làm gì?

    Ngay đó Sư liền ngộ. Như vậy có pháp gì để nói? Trước khi xoay đầu còn mê, vừa kêu xoay đầu lại liền ngộ, vậy ngộ cái gì? Trước khi xoay đầu nó ở đâu? Sau khi xoay đầu nó ở đâu chạy lại? Chỉ ngay một niệm hiện tiền của mình đây thôi, chỉ vì lúc còn nhiều thứ lăng xăng, còn có những chúng sanh đi lang thang đầu này, đầu kia nhiều quá, cho nên khó nhớ, lúc đó là lúc chưa xoay đầu. Xoay đầu liền nhận cũng là nhận cái sẵn hằng ngày đấy thôi, đâu có gì khác, đâu có gì được, làm sao nói đến cái đó? Bởi vậy, trong sử ghi sau khi Phật thành đạo, ngài  thấy pháp này khó nói cho người hiểu quá, nên ngài định nhập Niết bàn, Trời Phạm Thiên thỉnh ba lần Phật mới hứa khả. Vậy, ngay từ buổi đầu ngài đã nói lên cho chúng ta rõ, pháp này phải thấy ngoài lời nói, từ trước đã có ý đó rồi, mà chúng ta đọc sử sơ qua không thấy được ý Phật đã thầm nhắc. Bởi nó khó hiểu nên ngài không muốn nói. Hiểu như vậy, rồi kiểm lại 49 năm ngài thuyết pháp là nói cái gì đây? Rồi Tam tạng kinh điển nói cái gì? Thực ra, là để đánh thức mình nhớ lại cái này thôi! Ngài chứng ngộ được cái này, rồi từ cái này ngài nói ra, ngài nhắc nhở đánh thức cho mọi người cũng nhớ lại như vậy, chớ đâu có thêm gì khác.

    Trong kinh Lăng Già có thí dụ rất thực tế và sáng tỏ: - “Dụ như có người đi trong đồng vắng thấy có một con đường bằng phẳng dẫn đến cái thành xưa, thì vị này liền theo con đường đi vào thành rồi được cái vui như ý. Phật bảo: - Này Đại Huệ, ý ông nghĩ sao? Người kia làm ra con đường ấy và làm ra các thứ vui trong thành đó chăng?  Ngài Đại Huệ thưa: - Không phải. Phật bảo ngài Đại Huệ: - Ta và chư Phật thời quá khứ pháp giới thường trụ cũng đều như thế, (pháp giới thường trụ là tất cả mọi thứ, thực tướng đều hằng như vậy, tất cả các pháp thường trụ như vậy) thế nên nói rằng ta từ đêm ấy được tối chánh giác cho đến đêm ấy vào Niết bàn ở trong khoảng giữa kia không nói một chữ cũng chẳng đã nói sẽ nói. Rồi Ngài nói bài kệ:

    Ta đêm ấy thành đạo

    Đến đêm ấy Niết bàn,

    Ở trong khoảng giữa này,

    Ta trọn không có nói,

    Duyên tự đắc pháp trụ,

    Nên ta nói thế ấy.”

    Chỗ này hơi khó hiểu “duyên tự đắc pháp trụ” đó là Phật tiết lộ cho chúng ta thấy rõ ràng cái không nói đó là sao? Không nói đó có phải là không có pháp chăng? Không nói đây, bởi vì thật không có pháp gì mới đặt ra, mới tạo thành, chứ không phải là không có cái đó. Tức là cái thành xưa nó sẵn đó rồi, những cái vui trong thành cũng sẵn có đó, nhưng chỉ có người quên không biết được, không thấy đường vào, nên Phật mới chỉ ra con đường vào, vào được trong đó thì nó có sẵn, chứ không phải Phật làm ra, Phật mới đặt ra, cũng không phải Phật ra đời mới có, khi Phật chưa ra đời thì không có. Nếu cho rằng Phật thành đạo rồi đặt ra mới có, Phật chưa ra đời thì không có, hiểu vậy thì cái đó cũng thành sanh diệt, mới tạo tác; còn  cái  này là có sẵn. Duyên tự đắc pháp trụ, là duyên nơi pháp tự đắc mà trụ, tức là chỗ mình tự đắc, tự thầm chứng biết chứ không phải là chỗ diễn tả ra cho người. Bởi chỗ mình thầm chứng thì làm sao nói cho người hiểu được? Đơn giản như chuyện thế gian nghề thợ mộc chẳng hạn, làm nghề khéo tay làm sao đem cái khéo mà truyền cho người khác? Truyền là truyền cách làm, còn cái khéo đó là phải đầu óc nhậy bén của mỗi người, cái đó không truyền được, đó là cái năng khiếu của mỗi người. Cái mình thầm chứng cũng vậy, khó diễn tả cho người hiểu. Ông Tô Đông Pha khi tỏ sáng, có làm bài kệ trong đó có hai câu cuối: - Đêm rồi tám muôn bốn ngàn kệ; Sáng ra không lời nói với người.” Tức là mới trong đêm học tám muôn bốn ngàn pháp môn thuộc hết, sáng ra không thể diễn tả cho người khác biết được, cái pháp không thể nói đó, là pháp phải tự mình thầm chứng, thầm nhận thôi, không thuộc về ngôn ngữ. Nói rõ là không có pháp để nói chứ không phải là không có cái đó,phải hiểu cho kỹ như vậy. Ở đây Phật giải thích: “Pháp mà do Như Lai nói đó đều chẳng thể chấp lấy, chẳng thể nói, chẳng phải  pháp chẳng phải phi pháp.” Ngài giải thích rõ ràng, “pháp mà do Như Lai nói đó”, như vậy ngài xác nhận là “có pháp đó”, nhưng mà nó “không thể chấp lấy”, không thể nói là chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp thôi. Do đó trong nhà thiền thường không dùng những cái tên để đặt tên, mà thường nói “cái ấy”, sợ nghe tên rồi mình chấp vào cái tên đó. Bởi vì không thể chấp, không thể nói, không thuộc có hay không, tạm nói “cái ấy” để mình khéo nhận ra, còn nói có tên rồi lại chấp vào cái tên, ví dụ như nói “chân tâm”, đa số người nghĩ trong đầu là có một “cái chân tâm”, nên luôn luôn tìm kiếm suy nghĩ để đạt đến chân tâm đó, rồi chứng được chân tâm đó. Vậy chân tâm thành ra “một cái”, tức là một vật gì rồi! Nên các ngài khéo, nói là cái ấy thôi, nhưng nói cái ấy cũng còn tưởng nữa. Mới thấy con người tập khí nó quen suy nghĩ rồi, nghe nói là nó bám liền, vì vậy những đoạn sau Phật phá từng lớp, từng lớp chấp tới cùng. Quý vị thấy, thói quen nó nhạy lắm, vừa nói ra là nó chụp lấy liền. Đây dẫn một câu chuyện: Ngài Lục Tổ thử mà mình không hay.

    Một hôm Lục Tổ muốn thử trong chúng, Ngài nói:

    - Ta có một vật không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không ở sau, không ở trước, mọi người có biết chăng?

    Ngài Thần Hội liền ra thưa:

    - Đó là cội nguồn của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.

    Quý vị thấy đáp hay chăng? Tổ liền quở:

    - Ta đã nói với ông là không tên không chữ, mà ông còn gọi là cội nguồn, là Phật tánh, như vậy ông về sau này có ra trụ trì cũng chỉ thành là hạng tông đồ tri giải!

    Tổ đã ngừa trước là không tên không chữ rồi, mà ngài nghe tới đó liền ra nói “bản nguyên, Phật tánh”, đó là cái tập khí của mình nó quen, nó nhạy, cho nên các thiền sư thường ít chịu nói trắng, mà các ngài nói một cách ngược lý, điếc lỗ tai, sợ mình biết rồi chụp liền. Bởi vậy có câu: “pháp vốn không tên ông chớ gượng đặt tên, pháp vốn không có hiểu biết, ông chớ có gượng hiểu biết”, hiểu biết nó thì nó thành ra cái bị hiểu biết rồi, đó là các ngài muốn nhắc cái có sẵn nơi mình. Kinh Lăng Nghiêm có câu: “- Tự tâm mà thủ tự tâm, thì phi huyễn thành pháp huyễn”. Tự tâm thì nó tự chân thật sáng suốt rồi, lại đem chấp lấy nó, thủ lấy nó, biến nó là cái chân thật thành ra pháp huyễn, thành ra bóng dáng thứ hai. Thành ra pháp huyễn, nghĩa là sao? Mình tu dễ bị mắc kẹt, tự tâm thì sáng suốt rõ ràng, tâm là biết, nhưng mình sống với cái thức này quen rồi, nên khi cái thức này nó tạm yên, mình liền khởi quán, khởi chiếu về tự tâm, mà khi khởi quán khởi chiếu về tự tâm đó, là mình sợ cái tự tâm đó nó không hiểu biết, sợ mất những cái thức này, những cái phân biệt này thì nó không biết gì nên luôn cố soi sáng lại nó, phản chiếu lại nó, để cho nó có biết. Vậy khi phản chiếu lại nó, thì mình biến nó thành ra là cái bị biết, đó là điều rất vi tế, rất dễ bị mắc kẹt. Thường mình dùng ngôn ngữ nói là, hãy quên vọng để sống trở về chân tâm, nhưng cái đó chỉ là phương tiện ban đầu thôi. Nói sống trở về với chân tâm, thành ra nó là cái bị sống, vậy cái gì là sống trở về? Tức chân tâm cũng thành bóng dáng rồi. Nên phải hiểu, đó là lời nói phương tiện, chứ chân tâm thì nó là nó thôi, còn sống trở về tức là có cái gì khác trở về với nó, hoặc mình sống trở về với nó thì biến nó thành cái bóng thứ hai bên ngoài. Do vậy trong nhà thiền khi hỏi đến chỗ rốt ráo này, các ngài nói ta chẳng hội, ta chẳng biết. Nếu người học thưa “chẳng hiểu”, các ngài bảo “không hiểu càng tốt”. Bởi vì hiểu là phóng ra ngoài, còn nó đâu phải là cái để cho mình hiểu. Như ngài Ẩn Phong lúc ở chỗ Hòa thượng Thạch Đầu, một hôm ngài hỏi:

    - Làm sao mà được hội đạo?

    Tức là làm sao mà hiểu được đạo. Ngài Thạch Đầu bảo:

    - Ta cũng chẳng hiểu đạo.

    Ẩn Phong mới hỏi:

    - Cứu cánh thế nào?

    Tức rốt ráo thế nào? Ngài Thạch Đầu bảo:

    - Ông bị cái ấy bao vây rồi!

    Tức là chỗ rốt ráo đó mà cố hiểu, tức bị nó bao vây rồi. Cố hiểu, cố để biết nó, là mình bị mất cái hiện tiền ở đây rồi, bị nó khoả lấp, nó bao vây mình rồi. Như vậy, pháp này là pháp không thể nói, không thể dùng ngôn ngữ để đặt ra, để nói ra, để tạo ra, thì muốn nghe được cái này, muốn nghe được bát nhã này, phải nghe thế nào? Phải nghe thấu qua lỗ tai, chứ không phải bằng lỗ tai này, nghe bằng chỗ không nghe đó, thì mới nghe được Bát nhã này, mới nghe được chỗ không lời; trái lại nghe mà chỉ dừng trên lỗ tai này, là chỉ nghe tiếng thôi. Cho nên ngài Tu Bồ Đề ngồi trong núi, mà chư Thiên đến rải hoa tán thán cúng dường, ngài hỏi:

    - Ai rải hoa trên hư không đó?

    Chư Thiên đáp rằng:

    - Con là Phạm thiên.

    Ngài hỏi:

    - Vì sao ông rải hoa tán thán?

    Vị Phạm Thiên đó nói :

    - Con kính trọng Tôn giả nói pháp Bát nhã hay quá nên rải hoa tán thán.

    Ngài mới nói:

    - Ta chưa từng nói Bát nhã  một chữ, ông vì sao rải hoa tán thán?

    Chư Thiên đáp:

    - Tôn giả không nói, con cũng không nghe, không nói không nghe đó là chơn Bát nhã.

    Rồi rải hoa khắp đất. Nghe như vậy mới khéo nghe, ngài không nói thì con cũng không nghe, không nói không nghe thì không ngã không nhân, không ngã không nhân thì ngay đó là bát nhã rồi, đó là rất khéo. Vậy quý vị hiểu rõ lý do tại sao Phật nói là, Như Lai không được pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Như Lai không có pháp để nói chưa? Không được, không có cái pháp thật gọi Vô thượng chánh đẳng chánh giác là vì cái đó có sẵn nơi mình; không có pháp để nói, là không phải cái pháp mới tạo ra, mới đặt ra, không phải là ngôn ngữ có thể nói đến được, có thể suy nghĩ đến được. Đây là nhắc mình phải khéo tự thầm nhận. Trong nhà thiền có câu “như người uống nước lạnh nóng tự biết” diễn tả ra thì nó thành lời, thành lời thì người ta suy nghĩ, suy nghĩ thì thành bóng dáng chứ không phải cái thật. Tiếp lời giải  thích: “- Vì cớ sao? Tất cả hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai khác”. Câu này hơi khó hiểu, tại sao các hiền thánh do pháp vô vi mà có sai khác? Câu này trong bản đời Ngụy: “Tất cả hiền thánh đều do pháp vô vi mà được tên”, bởi vì hiền thánh là chỉ cho các bậc Tam hiền Thập thánh chẳng hạn, như các vị Bồ tát Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng gọi là Tam hiền, Thập địa gọi là Thập thánh, là các bậc hiền thánh thì các vị hiền thánh đó đều do pháp vô vi mà có sai khác. Pháp vô vi là chỉ cho pháp không có tạo tác, không sanh diệt hay nói rõ hơn là Niết bàn, đều do cái chân thật đó mà có sai khác, vậy làm sao hiểu nỗi? Bởi vì, dù cho các vị tam hiền thập thánh, sở dĩ có chia ra như vậy, là do đã chứng ngộ pháp thân trọn vẹn hay chưa trọn vẹn mà tạm đặt ra những tên có sai khác đó thôi. Nếu Tam hiền Thập trụ thì có một pháp thân, Thập hạnh thì có một pháp thân, Thập hồi hướng thì có một pháp thân, Sơ địa có một pháp thân, Nhị địa có một pháp thân, thành nhiều cái quá. Cái nào là thật? Thực ra, chỉ có một pháp thân đó do mình sống trọn vẹn hay chưa trọn vẹn mà tạm đặt ra những tên có sai khác như vậy, chứ không phải có nhiều cái. Thí dụ Sơ địa chứng được pháp thân mà chứng chưa được trọn vẹn, cho nên khi bỏ Sơ địa chứng qua Nhị địa, rồi Tam địa, vậy Sơ địa là ai? Nhị địa là ai? Có phải người nào khác vào đó không? Cũng không ai khác? Cũng đâu có cái pháp thân nào chen vào đó, chẳng qua mình sống được nhiều, được ít, trọn vẹn hay chưa trọn vẹn, nên tạm lập ra có thứ lớp, chứ đâu phải có nhiều cái như vậy. Do đó các hiền thánh có nhiều tên, nhiều bậc sai khác chỉ là những tên vậy thôi, chứ thể thì không hai, cũng do pháp vô vi đó mà có sai khác. Trong nhà thiền có chỗ giải thích: “Trọn ngày ở trong viên giác mà chưa từng viên giác gọi là phàm phu, muốn chứng viên giác mà chưa tột viên giác gọi là Bồ tát”, tức là muốn chứng viên giác mà chứng phần nào đó, chưa tột, gọi đó là Bồ tát, bởi vì Bồ tát là phần giác, tức là giác từng phần, từng phần chưa trọn vẹn; còn “đầy đủ viên giác, an trụ trong viên giác đó là Như Lai”. Cũng là viên giác thôi, nhưng mê là phàm phu, sống được từng phần là Bồ tát, sống trọn vẹn là Như Lai, chứ đâu có gì khác! Cho nên tất cả hiền thánh đều y cứ nơi pháp vô vi mà sai khác, chỉ nhân sai một niệm mà hiện có muôn hình, cái này cái kia, nếu ngay một niệm mà vô niệm thì cùng với chư thánh đồng hành. Một niệm mà vô niệm là vô sanh, chư thánh ngộ cũng từ cái đó, sống cũng sống từ cái đó, mình bây giờ ngay một niệm mà vô niệm thì cũng sống với cái đó, tức chỗ thấy của mình đồng với chỗ thấy của chư thánh. Để thấy cũng một cái đó, mà mê cũng mê cái đó, ngộ cũng ngộ cái đó, rồi sống cũng sống với cái đó thôi. Khiến cho mình không kẹt ở trên cái tên sai khác, cũng không có kẹt trên một pháp sai khác, mà mình nhớ để trở về với cái thể chân thật không hai không khác, thì đó là chỗ Kim Cang Bát nhã hằng ngày mình sống trong đó mà bỏ quên. Cái đó nó có tên gì đâu? Đặt bát nhã cũng là tạm đặt cho nó một cái tên, đặt cho nó pháp thân cũng là tên, đặt cho nó chân tâm cũng là tên, đặt cho nó bao nhiêu cái tên, cũng chỉ một “cái đó” chứ đâu có gì khác! Nếu mình kẹt trên cái sai khác thì nơi mình có nhiều cái sai khác lắm, một cái pháp thân, một cái chân tâm, một cái bát nhã, bản lai diện mục, đủ thứ, vậy khi mình thành Phật thì sao? Cái nào thành Phật? Không có cái thứ hai. Bởi vậy Tổ chứng ngộ rồi thì cái thấy của các ngài thông cảm với nhau, không có hai, dù sống xa nhau nhưng cái thấy cũng đồng; do đó các ngài dù nói đông nói tây đều hợp với nhau. Đọc sử Tổ, chúng ta thấy các ngài nói nhiều câu mình nghe ngược đời, nghịch lý, giống như trái lỗ tai, mà khi thấu suốt hiểu kỹ rồi, cũng là thông suốt được ý trên, cũng không khác lời Phật nói, Kinh – Thiền không hai. Học đây rồi mình thấy rõ, Phật nói Tổ nói không khác, Tổ sống xa thời Phật nhưng mà các ngài  ngộ rồi nói ra khế hợp, bởi vì không rời chỗ chân thật đó. Tóm lại, pháp thể chân thật đó, hay Kim cang Bát nhã đó, là cái ai ai cũng sẵn có, dù Phật ra đời hay chưa ra đời cũng sẵn đủ, chứ không phải Phật ra đời mới có. Đã sẵn đủ, thì ai ngăn cản không cho mình tin đây? Bởi vậy, ai ai cũng có quyền tin, có quyền nhận nó được hết, chỉ có điều phải thiết tha, khéo học hỏi kỹ, vun bồi niềm tin cho vững vàng, hiểu cho đúng đắn, khéo sống như vậy thì những tập khí của mình, những tâm niệm lăng xăng của mình nhẹ bớt, nơi mình liền nhận ra đầy đủ không thiếu. Nhưng điều quan trọng là phải có niềm tin, tin mình có sẵn cái đó, thì  quyết định nhận ra cái đó chứ không có nghi. Như vậy quý vị đã hiểu được, cái chân thật đó, cái Vô thượng chánh đẳng chánh giác đó, là cái chân thật nơi mình không phải là cái tạo ra, không phải là cái nói được, là muốn chỉ nó sẵn nơi mình, không thuộc về cái phân biệt, không thuộc về ngôn ngữ, mà chính mình phải tự thực nghiệm, thể nghiệm, sống đàng hoàng; như trước đã nói phải lựa hạng “người trì giới tu phước”, chứ không phải hạng nói suông, nói bát nhã ngoài miệng. Dù cho mình ngộ được đi nữa, mà còn thấy có chỗ ngộ là còn thấy có chỗ sở đắc, tức nhiên cái ngộ đó vẫn còn một lớp mê, đây là điểm mà ai ai cũng phải để ý cho kỹ, ý thức cho rõ ràng! Trước kia có một ông cư sĩ tên là Triệu Biện, hiệu là Duyệt Đạo, tham thiền với thiền sư Phật Huệ, một hôm đang ngồi trong công đường nghe tiếng sấm nổ, liền khế ngộ, ông có làm bài  kệ:

    Mặc tọa công đường hư ẩn kỷ

    Tâm nguyên bất động trạm như thủy

    Nhất thinh tích lịch đảnh môn khai

    Hoán khởi tùng tiền tự gia để.

    ***

    Ngồi lặng công đường luống tựa ghế

    (ngồi trong công đường trống trơn vắng lặng tựa ghế)

    Nguồn tâm chẳng động trong như nước

    (nguồn tâm lúc đó yên lặng trong sáng như nước lắng trong vậy)

    Một tiếng sấm vang đảnh môn khai

    (vừa nghe tiếng sấm nổ thì ở đây đã mở toang)

    Gọi dậy từ xưa của nhà sẵn.

    (gọi dậy của báu sẵn từ xưa đến nay)

    Khi ông làm bài kệ đó, thiền sư Phật Huệ nghe mới cười, nói: “- Triệu Duyệt Đạo vừa chụp tia sáng”, ngộ làm bài kệ hay quá mà ngài nói chụp tia sáng thì đó là được cái gì? Ngài cảnh tỉnh tuy ông ngộ vậy đó, nhưng đừng có nghĩ là ngộ được, có cái sở đắc là mắc kẹt. Trong nhà thiền, những vị đã tỏ ngộ đến trình, các ngài thường không có khen theo thế gian, nhiều khi các ngài chê nữa, nhưng người thật ngộ, càng chê các ngài càng hiểu sâu hơn, chê mặc tình chê mà mình biết được ý thì đó là cái ngộ thật, còn trình ông thầy chê một tiếng rồi buồn liền đi ra, thì chưa ngộ thật. Nói để cho quý vị thấy ý nghĩa “không được, không nói” ở đây rõ thêm. Cho nên học Kim Cang bát nhã nó mở sáng cho mình rất nhiều việc, và nó phá cái tình chấp của mình rất lớn, do đó học kỹ, nghe kỹ từng chữ, từng câu đều soi sáng lại mình hết.

     

  • 10. Y PHÁP SANH RA

    CHÁNH VĂN:

    8. Y PHÁP SANH RA

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu người đem bảy báu đầy cả thế giới Tam thiên đại thiên dùng để bố thí, thì phước đức người đó được có nhiều chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Tại sao? Phước đức đó, chẳng phải phước đức tánh, thế nên Như Lai nói phước đức nhiều. Nếu có người nào đối trong kinh này thọ trì, cho đến chừng bốn câu kệ…, vì người khác mà nói, phước đức của người này hơn người bố thí kia. Tại sao? - Này Tu Bồ Đề! Tất cả Chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Chư Phật đều từ kinh này phát ra. Tu Bồ Đề! Nói Phật pháp đó, tức chẳng phải Phật pháp.

    GIẢNG:

    Đoạn này nói về y pháp mà sanh ra. Ở đây có mấy điểm so sánh phước đức bố thí bảy báu và phước đức trì kinh. Mới vào đức Phật bảo ngài Tu- bồ- đề: “- Ý ông nghĩ sao?” là hỏi ý của ngài Tu- bồ- đề mà cũng nhấn mạnh đoạn ngài muốn nói. “Nếu người đem bảy báu đầy cả thế giới  tam thiên đại thiên dùng để bố thí thì phước đức của người bố thí này có được nhiều hay không”, Trong lời hỏi của Phật có mấy chỗ cần giải thích: đem bảy báu, vậy bảy báu là cái gì với cái gì? Bảy báu, tức là bảy thứ vật quý báu trong đời là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã mão, bảy báu đó đem đầy cả thế giới tam thiên đại thiên, ở đây cho thấy không phải là một thế giới của mình thôi. Theo trong kinh luận giải thích, trong thế giới này gồm có một núi tu di ở trung tâm, rồi bốn châu là Nam thiệm bộ châu – Bắc cu lô châu -  Tây ngưu hoá châu – Đông thắng thần châu ở chung quanh, ở trên có mặt trời mặt trăng và các vị tứ thiên vương … cộng chung lại là một thế giới; một ngàn thế giới đó mới gọi là tiểu thiên thế giới, rồi một ngàn tiểu thiên thế giới thành ra một trung thiên thế giới, rồi một ngàn trung thiên thế giới đó mới là một đại thiên thế giới. Vậy một đại thiên thế giới này gồm ba cái một ngàn: - một ngàn thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới, rồi một ngàn cái trung thiên, cho nên gọi tam thiên đại thiên, như vậy để chỉ cho thế giới ở trong này nhiều vô số. Quý vị thấy, cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, Phật dùng kính thiên văn nào mà thấy như vậy? Lúc đó chưa có kính thiên văn mà ngài thấy như vậy, là ngài đã mở mắt, gọi là Phật nhãn hay thiên nhãn của ngài mà ngài thấy như vậy, chứ không nhờ cái gì bên ngoài. Cho thấy từ thời cách nay 2.500 ngài đã thấy và nói ra như vậy, bây giờ khoa học tiến bộ chỉ làm sáng tỏ thêm cái ý nghĩa đó; bởi những điều Phật nói ra là những điều chính ngài thể nghiệm, đã thấy, rồi ngài nói chứ không phải suy đoán. Vậy đem của báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới đó mà bố thí, thì phước đức đó nhiều hay không? Ở đây so sánh phước đức hữu vi với phước đức tánh thuộc về phước đức vô vi. Đoạn trên đã phá tri kiến về đức Phật và pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của Phật, gọi là không được không nói. Giờ  đây sống trở về với vô vi thì phước đó như thế nào? Cho nên ở đây Phật gặn lại. Nhưng trước khi nói tới phước vô vi, thì phước vô vi nó không có hình tướng gì nên phải mượn pháp hữu vi có hình tướng để thí dụ, người khéo nhơn đó liền hiểu. Do đó ngài dùng thí dụ đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí, quý vị thấy cỡ chừng bao nhiêu? Cần để ý chữ “nếu” đứng đầu, “nếu” là sao? Nếu, là giả sử chứ không phải hẳn thực như vậy, phải hiểu ý đó. Ngài Tu- bồ- đề đáp: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều, tại sao? vì phước đức đó chẳng phải là phước đức tánh thế nên Như Lai nói phước đức nhiều.” Đoạn này quý vị đọc có nghi không? Phước đức bảy báu mà bố thí như vậy, đó là phước đức hữu vi, phước đức có hình tướng, có tạo tác, ngài Tu- bồ- đề không biết điều đó hay sao mà đáp rất nhiều? Nếu rất nhiều, là thật hay sao? Học kỹ rồi mới thấy rõ, ở đây không có phá hoại tướng thế gian, nếu y trên tướng thì phước đức đó là phước đức do tích tụ bảy báu, tạo tác, mình đem ra mình dùng, cho nên phước đó nhìn theo thế gian là rất nhiều, không phủ nhận, bởi vì sao? Bởi một bề phủ nhận thì phá hoại tướng thế gian sao? Vì phước này do tạo tác nên rất nhiều, còn phước đức thuộc về phước đức tánh là phước đức vô tướng, vô tướng thì nó lìa phân biệt, đâu có nhiều ít! Đây nói nhiều, là bởi vì nó thuộc phước đức tướng, cho nên có nhiều ít. Nếu so với phước đức thuộc về vô tướng thì nó là phước đức có tướng, phước đức hữu lậu hữu vi, nên ngài nói rất nhiều, mà có nhiều có ít là thuộc về cái sinh diệt, còn cái phước đức thuộc về phước đức tánh thì nó không nhiều ít, nó vô tướng, không thấy được. Vậy phước đức tánh là phước đức gì? Tức là phước đức sống trở về với Kim Cang bát nhã. Bởi sống trở về tánh Kim Cang bát nhã đó, thì cái phước đức đó quý vị nghiệm coi hình tướng ra sao? Chỉ sống trở về tánh Kim Cang bát nhã thì có hình tướng gì? Do đó không nói nhiều ít được, nhưng muốn nói để cho người ta hiểu thì sao đây? Phải tạm mượn phước đức có tướng để so sánh, khiến mình khéo thì nhận ra liền. Ở đây Phật cũng khéo như vậy, phước đức bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới như vậy mà bố thí, cũng không bằng phước đức này nữa; để thấy rằng, phước đức này vượt ngoài nhiều - ít, còn phước đức kia tuy là nhiều, mà nhiều là đối với ít, là có sinh diệt, nếu bám vào đó mà hưởng thì đến một lúc nào nó cũng hết. Trái lại phước đức sống trở về tự tánh Kim Cang đó thì hưởng bao giờ mới hết? Sống trở về đó thì, từ khi sống trở về cho đến khi sống trọn vẹn, rồi thành một vị Phật, thành một vị Phật thì đức dụng không biết bao nhiêu mà kể, dùng mãi từ đời này qua đời khác không hết, vậy không phải vô lượng sao? Song vì khó diễn tả, nên người khéo thì nhơn thí dụ mà thầm nhận, thầm biết. Lục Tổ có giải thích: “- Tâm nương theo lời dạy của Phật, hạnh đồng với hạnh của Phật, đó là phước đức tánh”. Lục Tổ dạy đơn giản. Nghĩa là tâm nương theo lời dạy của Phật, hạnh đồng với hạnh của Phật đó là phước đức tánh, đó là phước đức sống trở về với tánh giác. Nhưng đoạn này đáng lẽ có thêm một câu nữa, đây thì có thể do sót nên đọc kỹ sẽ thấy “phước đức đó, chẳng phải phước đức tánh thế nên Như Lai nói phước đức nhiều, nếu có người nào đối trong kinh này thọ trì”, đây đúng là lời của Phật, nên đúng ra trước chữ “nếu” có câu: “ Phật bảo: Này Tu- bồ- đề”. Trong bản đời Ngụy có đầy đủ là: “Phật bảo: - Tu- bồ- đề, nếu có người nào ở trong kinh này thọ trì chừng bốn câu kệ vì người khác mà nói thì, phước đức của người này hơn phước đức của người bố thí kia”. Như vậy ý nghĩa rõ ràng sáng sủa. Ở đây quý vị chú ý “người đối trong kinh này thọ trì chừng bốn câu  kệ thôi thì phước đức của người này hơn phước đức của người bố thí kia” thì dễ tin không? Mỗi ngày chỉ cần đọc bốn câu kệ là tốt rồi, khỏi làm gì hết, phải không? Cho nên học kinh Kim Cang là phải thấy cái ý ngoài văn tự, nếu  bám vào chữ nghĩa thì dễ nghi ngờ. Ở đây trước nhất phải hiểu nghĩa “thọ trì”, nghe nói thọ trì kinh là mỗi đêm tụng bộ này qua bộ kia gọi là trì kinh, nếu hiểu nghĩa như vậy thì hời hợt quá! Thọ, là lãnh nhận; trì, là gìn giữ, lãnh nhận và gìn giữ, vậy chỉ đọc suông thì đã lãnh nhận và gìn giữ chưa? Phải lãnh hội được và sống với chỗ mình lãnh hội đó mới gọi là thọ trì, mới là gìn giữ không mất; chứ đọc suông, xuống là quên mất thì làm sao thọ trì được? Có lãnh nhận gì đâu? Phải hiểu được ý đó! Kế, thọ trì chừng bốn câu kệ thôi, là bốn câu kệ nào? Đó là chỗ khó xác định. Cho nên có nhiều thuyết:

    Hai  bài kệ ở trong kinh Kim Cang:

    1/ Tất cả pháp hữu vi, Như mộng huyễn bào ảnh .…

    2/ Phàm sỡ hữu tướng giai thị hư vọng .… Như Lai.

    Ở đây cần nghe kỹ lại cho rõ: “đối trong kinh này thọ trì cho đến chừng bốn câu kệ”, như vậy Phật đâu có nói quyết xác định là bốn câu kệ nào! Đó là ý sâu của Phật! Nếu nói được thì Phật chỉ thẳng liền hai bài kệ đó, hoặc là ông thọ trì bốn câu kệ đầu hoặc bốn câu kệ sau, mà ở đây Phật không chỉ rõ thì có ý gì trong đó? Đây có hai điểm: thứ nhất là tuỳ theo mỗi người, ngay bất cứ đoạn nào trong kinh này mình khế hợp lãnh hội lấy, tu hành sống chân thật ở trong đó là đều trở về với tánh Kim Cang bát nhã hết chứ không cố định chỗ nào. Vì vậy Phật không xác định câu nào. Cũng như Lục Tổ đâu có tính trước là ngài nhắm thẳng vào câu kinh Kim Cang: “- Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” đó mà ngộ, khi nghe Ngũ Tổ dạy tới đó thì khế hợp liền ngộ, đâu nhất định; cho nên chỉ cố định vào một đoạn nào thì nguy hiểm, vì sẽ chấp vào đoạn đó! Thí dụ chỉ vào bài kệ: - “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã…” Phật chỉ nhất định vào đoạn đó thọ trì thì phước đức vô lượng, nghe vậy khiến ai ai cũng lo học thuộc lòng đọc mãi đoạn đó thôi, vậy là chấp vào văn tự chữ nghĩa rồi! Ở đây Phật nói rất là hay, không chỉ đoạn nào hết, tùy người lãnh hội đoạn nào, đều là chỗ để mình sống trở về, đều mở sáng tánh Kim Cang của mình hết. Điểm thứ hai là, trong đây nói rõ cho đến chừng bốn câu kệ, chú ý hai chữ “cho đến” nghĩa là ít nhất là bốn câu kệ, tức nói ít để mình rõ nhiều, chỉ cần một đoạn ngắn bốn câu kệ thôi, mà mình tu hành cũng mở sáng được trí tuệ của mình rồi, huống nữa là mình lãnh hôi cả bộ kinh! Lấy cái  ít để hiểu cái nhiều, ý đó rõ ràng; nhưng không khéo, xác định bốn câu nào đó, khiến mình mắc kẹt. Chỗ này nói rộng ra một chút, khi mình bắt đầu sống trở về với tánh Kim Cang bát nhã, là đi ngược dòng phàm để trở về; đây chỉ mới bắt đầu thôi; huống nữa là mình sống được trọn vẹn trong tánh Kim Cang bát nhã, tức là mình nắm tay chư Phật, chư Tổ cùng đi. Đây cũng vậy, mình chỉ cần thọ trì bốn câu kệ thôi, còn phước lớn như vậy huống nữa là thọ trì cả toàn bộ kinh, tức là sống trọn vẹn trong đó, ý rất là sâu xa! Bởi vậy, nếu nghe nói bốn câu kệ rồi chấp vào đó, suy đoán bốn câu này, bốn câu kia, đó là bị ngôn ngữ lừa. Nên về sau có vị tăng đem ý này hỏi thiền sư Hối Đường:

    - Thế nào là bốn câu kệ?

    Ngài Hối Đường bảo:

    - Lời rơi rồi, chẳng biết.

    Hỏi như vậy, là lời rơi rồi, mắc kẹt rồi! Nghe nói bốn câu rồi tưởng là bốn câu nào đó, là ông mắc kẹt trong ngôn ngữ rồi, do đó cần thấu qua hai chữ “chẳng biết”. Như vậy để cho thấy nếu chỉ nghe bốn câu kệ rồi cố để phân tích để xác định trên ngôn từ là mình mắc kẹt nơi lời nói, đó là tự mình lầm trên chữ nghĩa. Trái lại, hiểu rõ bất cứ một đoạn nào trong kinh Kim Cang, mình khéo lãnh hội ứng dụng sống đều có công đức vô lượng. Bởi vì lãnh hội cái đó để mình sống trở về với tánh Kim Cang bát nhã của mình, đó là thuộc về phước đức tánh, chứ không thuộc về hữu vi, về tướng, đó là cái nhân để thành Phật, sống viên mãn thì mình là một vị Phật, công đức đó không lường được là như vậy. Chỗ này cũng có điểm nhắc nhở cho mọi người phải phước huệ song tu, phước huệ cho cân bằng. Cái phước bố thí bảy báu tuy nó thuộc về hữu lậu hữu vi, là không thật, nhưng vẫn nói là nhiều chứ không bác bỏ, không phải cho đó là phước hữu lậu rồi không cần. Vì vậy ngài nói “rất nhiều” không có phủ nhận, để ngừa cho mình nghiêng về bên huệ mà thiếu phước. Thứ hai, so sánh phước đức tánh thì nó thù thắng hơn phước đức bố thí bảy báu, để ngừa mình quá say mê về cái phước hữu lậu mà quên tu huệ, bởi say mê trên phước hữu lậu đó cũng dễ mắc kẹt lắm, có phước nhiều thì sao? Có khi phước nhiều thì dễ ngã mạn, tự hào, mà cũng dễ tạo tội nữa. Chúng ta thấy nhiều vị giàu sang thông minh trí tuệ thì đâu không phải là không có phước mà được, vậy mà có nhiều người ỷ giàu khinh khi người này, khinh khi người kia, người ta xin bát cơm cũng nói lời nặng nhẹ nữa, ỷ vào cái phước của mình; đến khi hết phước thì cái họa sẽ tới. Còn huệ mà thiếu phước thì cũng chưa đủ; bởi có câu: – Quy y Phật lưỡng túc tôn – Quy y pháp ly dục tôn – Quy y Tăng chúng trung tôn. Quy y Phật lưỡng túc tôn, là đầy đủ cả hai: Phước – Huệ, gọi là phước huệ trang nghiêm, mới là Phật. Thời Phật, có một vị A la hán đi khất thực thường ôm bát về không; A la hán là giải thoát sanh tử, nhưng đi khất thực ôm bát về không, vì thiếu phước. Cho nên ở đây phải hiểu phước huệ đầy đủ. Vậy quý vị đã hiểu ý nghĩa thọ trì chừng bốn câu kệ vì người khác mà nói thì phước đức của người này hơn người bố thí kia là như vậy đó, phước đức này là phước đức sống trở về với tự tánh của mình.

    Kế Ngài hỏi: “- Tại sao?” Đó là để giải thích lý do. Đáp: “- Này Tu- bồ- đề, tất cả chư Phật và pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của chư Phật đều từ kinh này mà phát ra”, lý do rõ ràng, nhưng chỗ này cũng có một điểm cần lưu ý! Tất cả chư Phật và pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của chư Phật đều từ kinh này mà phát ra, có nghi không? Như vậy khi Phật chưa thành đạo thì kinh này ở đâu? Ai nói ra? Phải hiểu rõ bộ kinh này là kinh gì? Phải bộ kinh để trên bàn đó không? Hoặc những ngôn ngữ, những lời  dạy mà mình đang học đây không? Đây nói bộ kinh này, không phải là bộ kinh bằng giấy bằng mực đó, mà là “bộ kinh đang phóng hào quang nghe pháp”, “quyển kinh đang ngồi nghe pháp đó”. Sở dĩ Phật thành Phật là do ngộ được bộ kinh sống này, rồi ngài sống trọn vẹn trong đó, ngài thành Phật, rồi ngài mới ở trong đó mà ngài nói ra, cho nên pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của chư Phật cũng từ đó mà có ra, hiểu như vậy mới thấy được ý này. Đây cho thấy thêm một điểm nữa, là ý giáo ngoại biệt truyền nằm sẵn trong đó, nói bộ kinh này nhưng không phải bộ kinh bằng chữ nghĩa, mà là bộ kinh sống mỗi người đang sống, cái đang sáng suốt ngồi nghe pháp đó mới là bộ kinh thiệt, còn bộ kinh để trên bàn này là bộ kinh bằng giấy mực, cũng bị mối mọt nó ăn, trái lại bộ kinh kia có bao giờ mất được? Cho nên Hòa thượng Đại Châu tức ngài Huệ Hải có nói: “- Nhằm ở trong thất chồng mấy hòm kinh, xem coi có phóng quang chăng? Chỉ do chính mình một niệm phát tâm tức là công đức”, ngay nơi chính mình mà phát tâm thì chính là công đức sáng toả ra, chứ trong thất mà chất cả một tủ kinh trong đó nó có phóng hào quang được không? Nếu hiểu được ý này, liền rõ chư Tổ có nói đông nói tây, nói ngang nói dọc gì thì cũng đồng một chỗ thấy đó; có khi nói thế này, có khi nói thế khác nhưng chỗ thấy cũng khế hợp nhau. Ngài Huệ Hải sống cách thời đức Phật cả ngàn năm hơn, vào thời Đường, mà ngài nói cũng khế hợp đâu có khác! Khi thấy được chỗ đó rồi, nhận được chỗ đó rồi, thì chỗ thấy như nhau, không có hai, cho nên nói Phật Phật như số cát sông hằng, nhưng chỗ chứng không có hai, nếu có hai thì thành ra cái gì chứ không phải Phật rồi. Trong Chứng đạo ca có câu: “- Hằng sa Như Lai đồng cộng chứng”, tức là các đức Như Lai nhiều như số cát sông hằng đồng chung một chỗ chứng không có khác. Bởi vậy, ngay đây nếu ai khéo hiểu, khéo nhận, tỏ ngộ được lý thật rồi, liền thấy chỗ thấy này giống như chỗ thấy của chư Phật, của Tổ không khác; do đó đọc lại lời Phật, lời Tổ, tự nhiên mình sáng. Vậy ai dạy mà nó sáng? Bởi vì chỗ thấy không hai nên tự nó sáng, còn nếu ai đó tự hào mình đã tỏ ngộ rồi mà thấy khác chư Tổ thì cái đó còn phải kiểm điểm lại, xem cái đó có phải là thứ thiệt chưa hay là thứ giả? Hiểu như vậy, giả sử có ai nói “tôi có một pháp đặc biệt từ trước giờ chư Phật, chư Tổ chưa có” thì biết đó là thứ gì rồi! Nếu mình hiếu kỳ thích cái lạ, vội chạy tới ắt liền bị gạt.

    Tiếp theo “Đức Phật liền bảo: - Này Tu- bồ- đề, nói Phật pháp đó tức chẳng phải Phật pháp.” Quý vị thấy có lạ không? Mới nói “tất cả chư Phật và pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của chư Phật đều từ kinh này mà phát ra”, mới nói xong liền phủ nhận: “nói Phật pháp tức không phải Phật pháp”, hiểu chỗ này mới thấy tinh thần của Kim Cang Bát nhã, là đi qua liền phủi dấu. Bởi vì Phật pháp chân thật đó, nó đâu phải là cái tên, cái chỗ mình suy nghĩ mà hiểu đến được; do đó khi nói “chư Phật”, nói là “pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác của chư Phật đều từ kinh này phát ra” thì e rằng mọi người nghe vậy rồi chấp thật có pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác để cho mình suy nghĩ, rồi bám vào đó cầu để được. Bởi tâm chúng sanh hễ nghe nói đâu liền bám vào đó, nên Phật nói qua liền phủi dấu ngay, lập xong liền phá, không để cho mình có chỗ nào bám. Tinh thần nhà thiền cũng như vậy, nghĩa là quét hết không lập một cái gì cho mình bám nhận, các ngài thường gọi là: “- Ta không có một pháp cho người, chỉ là vì người nhổ đinh tháo chốt vậy thôi.” Nghĩa là gỡ những tình chấp cho mọi người thôi, chính đó là yếu chỉ của bát nhã, phá cái ngã nhưng không lập một cái gì để cho người ta bám, mới lập cũng phá luôn, lập là tạm lập vậy thôi, chứ không có chỗ để cho mình bám, gọi là dồn mọi người đến chân tường, đến vực thẳm - có khi xô ngã nữa, như vậy mới có chết đi rồi sống lại. Nếu còn có chỗ cho mình bám là còn có chỗ để cho cái  ngã này, cái tình thức này nó sống dậy. Tổ Lâm Tế bảo: “Người học thời nay không đạt được bởi vì nhận danh từ làm hiểu, ghi chép những lời lẽ chết của người xưa ở trong một quyển sổ to rất kính trọng, rồi bỏ vào trong túi áo kép - tức hai ba lớp - không cho người thấy nói là huyền chỉ, cần phải bảo trọng. Lầm to rồi! Kẻ đui mù các ông bằng vào cái xương khô mà tìm sao cho ra nước?” Cốt yếu là nhân những lời này, soi sáng lại nơi mình để thấy rõ tâm thể chân thật mình đang sống hằng ngày đó mà bỏ quên, từ đó ứng dụng sống để giải trừ những phiền não, những mê lầm, mới là sống thực. Một đoạn khác ngài lại bảo thêm: “- Chư huynh đệ! Chớ chấp vào lời nói của sơn tăng! Vì sơn tăng có nói ra thì cũng như vẽ hình ở trong hư không, thế mà còn vẽ đủ thứ màu sắc”. Ngài có nói ra cũng như là vẽ hình trong hư không vậy thôi, nhưng khổ nỗi mọi người còn nhân cái đó tô vẽ thêm nhiều màu sắc nữa, tức là nghe ngài nói rồi tưởng tượng thêm, tưởng tượng thế này, tưởng tượng thế kia, thành ra càng xa vời thêm nữa, đó là mắc kẹt trong ngôn từ. Ngài muốn nhắc là phải “đạt ý quên lời”, nhân lời đó mà thấy lại ý ngoài lời, cũng như ở đây chỉ nói bốn câu kệ thôi, mình nghe nói bốn câu kệ rồi lo phân tích đó là bốn câu nào, nhận bốn câu đó rồi chép vào giấy treo trong phòng để trưng bày! Tổ Bách Trượng có nói: “- Đọc kinh xem giáo lý đều phải uyển chuyển xoay lại chính mình” Quý vị thấy, kinh và thiền gặp nhau, ở đây là kinh, ở kia là thiền đều khế hợp nhau. Lâu nay chúng ta nghe nói là thiền, nhất là thiền tông thuộc về giáo ngoại biệt truyền, không cần học kinh điển hoặc là học kinh, học luận sẽ bị che mất, nhưng mình thấy kinh với thiền đâu khác, cái bịnh là nơi mình chứ đâu phải nơi kinh. Mình chấp vào đó thì là bịnh, còn khéo nhân đó thấy lại, soi sáng lại mình, thì càng làm sáng tỏ kinh điển của Phật nữa, tức là mình chuyển lời kinh chết ở trong giấy mực thành ra những lời kinh sống, làm sáng tỏ nghĩa trụ trì Tam Bảo, cho mọi người thấy cái quý báu của Phật pháp, như vậy mới thấy Tam bảo trụ trì ở thế gian hoài. Tóm lại ở đây muốn đánh thức cho mọi nguời phải quên cái công tạo tác của mình để sống trở về với tự tánh, mở sáng kho báu sẵn nơi mình mà mình bỏ quên từ bao nhiêu kiếp khiến lăn lộn trong vòng sanh tử, đó mới là quý, mới là bộ kinh sống thực. Trong Chứng Đạo Ca ngài Huyền Giác bảo:

    - Giác tức liễu bất thi công,

    Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng.

    Giác liền xong chẳng tốn công, không cần tốn công phu gì hết, tất cả pháp hữu vi  thảy đều chẳng đồng, tức là giác nơi mình cái này có sẵn từ bao giờ đến bao giờ, đâu phải là do công phu nhọc nhằn khó khăn mới được cái đó, chỉ tại mình quên thôi, nhớ lại liền xong. Không hiểu được ý đó, khi thấy được cái lý hay hay một chút liền kể công, là thấy cái này do công phu tu hành của mình bao nhiêu năm nay khó nhọc ăn chay, bỏ ngủ, hôm nay mới có được, như vậy dễ ngã mạn, thấy ta được rồi, ta hơn những người khác chưa được. Vì vậy trong đây nói không có được gì hết, không có công phu gì, chỉ thấy ngay nơi mình có sẵn thôi. Chính không chấp vào công phu đó  mới là người thực thấy, còn vừa có niệm chấp là có công phu, chấp là có được, đó là bị một lớp mê mới nó che rồi. Như vậy một bên là công phu có tạo tác như là phước đức bố thí, làm cái này làm cái nọ, mà có tạo tác là có giới hạn, có sanh diệt thuộc về vô thường, còn một bên không có tạo tác, không có vô thường, xài hoài không hết, ai là người sáng suốt thì tự mình chọn cho mình chứ không ai chọn thay cho mình. Đường đã rõ ràng, mình muốn đi đường nào thì đi, nếu muốn bám theo phước thuộc về hữu lậu có tạo tác có sanh diệt đó, không chịu hướng về phước đức tánh để sống trở về với tự tánh của mình, tức đi vào luân hồi, trái lại là vào thể chân thật thường trụ, an vui mãi.

  • 11. MỘT TƯỚNG VÔ TƯỚNG

    9. MỘT TƯỚNG VÔ TƯỚNG

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Tu Đà Hoàn có hay khởi niệm thế này: “Ta được quả Tu Đà Hoàn” chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Tại sao? Tu Đà Hoàn gọi là “vào dòng”, mà thật không có chỗ vào: chẳng vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đó gọi là Tu Đà Hoàn.

    - Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Tư Đà hàm có hay khởi niệm thế này: “Ta được quả Tư Đà Hàm” chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Tại sao? Tư Đà Hàm gọi là “một lần qua lại”, mà thật không có qua lại, đó gọi là Tư Đà Hàm.

    - Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A Na Hàm có hay khởi niệm thế này: “Ta được quả A Na Hàm” chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Tại sao? A Na Hàm gọi là: “chẳng lại”, mà thật không có chẳng lại, thế nên gọi là A Na Hàm.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A La Hán có hay khởi nghĩ thế này: “Ta được đạo A La Hán” chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Tại sao? Thật không có pháp gọi là A La Hán. Thế Tôn! Nếu A La Hán khởi niệm thế này: “Ta được đạo A La Hán”, tức là dính Ngã Nhân Chúng sanh Thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con được Vô tránh tam muội, ở trong người rất là bực nhất, là vị A La Hán Ly dục bậc nhất. Thế Tôn! Con chẳng khởi niệm thế này: “Ta là bậc A La Hán Ly dục”. Thế Tôn! Nếu con khởi niệm “Ta được đạo A La Hán”, Thế Tôn ắt chẳng nói “Tu Bồ Đề là người thích hạnh A lan na”. Do Tu Bồ Đề thật không có chỗ hành, mà gọi là Tu Bồ Đề thích hạnh A lan na

    GIẢNG:

    Đây là đoạn nói về bốn quả thanh văn, tức là Tu đà hoàn – Tư đà hàm – A na hàm – A la hán. Trước đã nói là Vô thượng bồ đề không thật có được, ở đây nói tứ quả thanh văn lìa tướng để cho thấy, không có chỗ cho mình trụ vào trong cái quả, là ngầm đưa về thật tướng vô tướng đó. Nhưng ở đây cũng có ý giải thích cái nghi “Phật pháp chẳng phải Phật pháp”.

    Ở đoạn trên Phật nói Phật pháp chẳng phải Phật pháp thì có cái nghi, “như vậy từ trước Phật nói về Tứ đế, Tứ quả là sao? Nên ở đây giải cái nghi đó.

    Thứ nhất Phật nói về Tu Đà Hoàn, Phật hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “- Ý ông nghĩ sao? Tu Đà Hoàn có hay khởi niệm thế này: “ta đã được quả Tu Đà Hoàn” chăng? Ngài Tu Bồ Đề thưa: - Chẳng được. Vì sao? Bởi vì Tu Đà Hoàn là nhập lưu, nghĩa là vào dòng mà thật không có chỗ vào; không chỗ vào đó là chẳng vào sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp đó gọi là Tu Đà Hoàn.” Mới nghe thật khó hiểu. Bởi Tu Đà Hoàn là quả đầu tiên của tứ quả Thanh Văn, chữ Hán gọi là nhập lưu, hoặc dự lưu, là vào dòng Thánh, hay dự vào dòng thánh. Vị này đã đoạn được kiến hoặc, là kiến chấp sai lầm, tức dứt được cái thấy sai lầm về dục giới, cho nên vị này đoạn được ba kết: một thân kiến, hai là nghi, ba là giới cấm thủ. Tức là không còn có kiến chấp về thân, không thấy có thân này là ngã, là thật; không còn có cái nghi ngờ về pháp, như pháp Tứ Đế, đó là lý chân thật; không còn giữ những giới cấm sai lầm, chẳng hạn như xưa ở bên Ấn Độ có những đạo giữ các giới, như giới chó, là sống như chó, rồi những giới đứng một  chân, họ nói suốt ngày đứng như vậy khiến cái thân khổ hạnh, thì sau đó được giải thoát, đó là những giới cấm thủ. Ở đây những vị này đã dứt được những cái kiến chấp sai lầm, tức không còn có những cái thấy sai lầm nữa. Tóm lại dứt được ba cái kết, tức không chấp về thân, không còn nghi ngờ về pháp như là pháp Tứ Đế, không còn có những cái chấp về các giới cấm sai lầm. Vị này lìa được không còn sanh vào trong các loài thú địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, chỉ còn bảy lần sanh lên trời và vào cõi nhân gian thì qua sanh tử. Ở đây tuy là còn bảy lần sanh tử, nhưng mà đã có hạn mức bảy lần nữa là hết, là qua, nên chứng được Tu Đà Hoàn là ngược dòng phàm vào dòng thánh, không còn thối lui vào các dòng ác nữa. Nhưng ở đây nhiều vị nghe nói Tu Đà Hoàn vào dòng thánh, lại nghĩ có chỗ để vào, hoặc là ngay khi chứng được quả Tu Đà Hoàn có khởi niệm được hay không; do đó để chứng minh, Ngài Tu Bồ Đề đáp: “chẳng được”, tức là không có khởi niệm ta được quả Tu Đà Hoàn. Bởi vì sao? Bởi nếu đã thật được quả Tu Đà Hoàn thì còn khởi niệm được gì nữa? Nếu còn khởi niệm được, tức là chưa sống được trong đó, là không phải Tu Đà Hoàn rồi, nên mới khởi niệm được. Trái lại đã sống thực trong đó thì còn khởi niệm chi nữa. Để thấy rõ, còn có khởi niệm  được là chưa được. Ở đây cho thấy, Tu Đà Hoàn vốn lìa tướng, mà khởi niệm là dính tướng liền, cho nên không khởi niệm.

    Thứ hai là trừ chấp vào dòng thánh, nghe vậy cho là có chỗ vào, cũng là lầm theo chữ nghĩa. Nghe nói vào mà còn thấy “chỗ vào”, tức còn đứng ngoài cửa. Nếu đã vào trong đó rồi thì còn vào gì nữa. Nói vào đây, là ngược dòng sáu trần chứ không gì hết, chẳng dính vào sáu trần thì tạm gọi vào dòng thánh, nên nói không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu vào sáu trần thì trôi theo dòng phàm, còn không vào sáu trần thì ngược dòng phàm vào thánh, đó là tạm gọi danh từ “vào” đấy thôi, chứ đâu có chỗ vào. Như vậy ngay sơ quả Tu Đà Hoàn là đã thấy ánh sáng Bát Nhã trong đó. Tức là đưa sơ quả trở về Bát Nhã, từ sơ quả thuộc tiểu thừa trở về đại thừa. Thứ hai là quả Tư Đà Hàm, nghĩa là nhất lai, còn một lần qua lại, tức một lần sanh lên cõi trời xuống nhân gian. Bước qua quả vị nhất lai này là phần tu đạo, phần đoạn tư hoặc. Tu Đà Hoàn thì đoạn dứt kiến hoặc, tức cái thấy sai lầm đối với lý, mà cái thấy sai lầm thì chuyển một cái là giải quyết được, nhưng cái tư hoặc, hay cái tư dục ở trong nội tâm mình thì rất là khó, không phải thấy là xong, là hết. Bởi vậy trong kinh luận có nói, trong dục giới có chín phẩm tư hoặc, tư hoặc tức mê lầm thuộc về nội tâm, chín phẩm đó gồm có thượng, trung, hạ, rồi trong cái thượng gồm có thượng thượng, thượng trung, thượng hạ. Trung thì có trung thượng, trung trung, trung hạ. Hạ thì có hạ thượng, hạ trung, hạ hạ, đó gọi là chín phẩm, Tư Đà Hàm này đã đoạn được sáu phẩm, còn sót lại ba phẩm chưa đoạn nên phải còn một phen sanh lên trời, xuống nhân gian thì mới đoạn hết. Bởi cái tư hoặc không phải đoạn một lần là xong liền, không phải dễ. Về cái thấy sai lầm thì mình thấy đúng, liền trừ được cái sai lầm, còn cái nghiệp huân tập, cái dục trong nội tâm mình, cái đó rất khó không phải dễ dàng nên gọi là nghiệp tập vi tế. Bởi vậy phải công phu dài, ai có kinh nghiệm công phu thì thấy rõ, mình dù cho hiểu đạo, biết thân này là huyễn không thật có ngã, là giả dối thôi, nói qua là hiểu dễ dàng, song ai nói động đến nó thì sao? Nói qua là hiểu liền, nhưng động đến thì ở trong nó cũng phừng phừng lên. Đọc sử các vị thiền sư, thấy rõ ngộ trong tích tắc nhưng mà sống để cho sạch những tập khí đó không phải một sớm một chiều, một phút hai phút hay một ngày hai ngày. Ở đây qua phần tu đạo này thì có Tư  Đà Hàm, A Na Hàm, qua A Na Hàm tới A La Hán, mới qua hết đoạn này. Còn phần kiến đạo thì có Tư Đà Hoàn thôi. Cho nên thấy được lý phải sống trong đó cho được đầy đủ trọn vẹn thì mình mới làm chủ lấy mình, chủ phiền não, sanh tử, chớ đừng vội thấy liền cho đó là xong thì không phải. Đó là nói về ý nghĩa kiến đạo buớc qua phần tu đạo để dứt sạch những nghiệp tập vi tế còn ở trong nội tâm của mình, thuộc về tư hoặc tức cái mê lầm thuộc về tâm. Tiến lên một bước nữa, Lục Tổ giải Tư Đà Hàm theo tinh thần của đại thừa để hướng về sống với nội tâm mình. Ở trên nói về đoạn trừ những tư hoặc gồm có chín phẩm đó là theo pháp số danh từ, còn Lục Tổ ngài chỉ thẳng ngay nơi tâm niệm mình là: “Mắt xem các cảnh, tâm có một phen sanh diệt mà không có cái sanh diệt thứ hai nên gọi một lần qua lại. Niệm trước khởi vọng, niệm sau liền dừng; niệm trước có dính mắc, niệm sau liền lìa, nên thật không có qua lại.” Nghĩa là niệm trước khởi vọng, niệm sau liền dừng, không có tiếp tục nên nói một phen qua lại mà thật không có qua lại gì hết. Chúng ta nghe nói một phen qua lại, rồi mắc kẹt, tưởng đến một lần qua lại; nếu thấy có tướng một lần qua lại thì bị mắc kẹt trong đó. Ở đây ngài giải thích ngay khi niệm khởi mình liền giác, giác thì dừng đâu có tiếp tục, tức không có niệm sanh diệt thứ hai. Gọi là chỉ có một lần qua lại thôi; lỡ bất giác bây giờ giác thì dừng, đó là sống ngay nơi nội tâm mình, ngay nơi niệm đang hiện tiền đây, chứ không giải thích xa xôi. Đó là không chấp trong tướng sanh diệt, chỉ cho mình trở về nơi nội tâm, nơi niệm hiện tiền đó, lỡ có bất giác thì giác trở lại dừng ngay, lỡ có một phen qua lại liền dừng không tiếp tục nữa, coi như mình đang sống trong Tư Đà Hàm.

    Thứ ba là A na hàm dịch là bất lai, nghĩa là chẳng còn trở lại. Tới A na hàm là đoạn hết chín phẩm tư hoặc, đoạn sạch hết chín phẩm thuộc về dục giới đó nên không còn sanh về dục giới. Vị A na hàm khi bỏ thân này thì sanh lên cõi trời Ngũ na hàm, ở đó vào niết bàn luôn không sanh trở lại nữa, cho nên gọi là bất lai. Ở đây cho thấy, vị này đã đoạn được tư hoặc thì tâm đâu còn động, còn nhiễm về những suy nghĩ sai lầm, mà trong tâm không còn động còn nhiễm thì đâu trở lại; vì còn động còn nhiễm nên mới trở lại; khởi niệm động, khởi niệm nhiễm nên mới quay trở lại, còn không nhiễm thì quay lại đâu? Nên còn thấy một “tướng ngã” để trở lại thì sao? Nghe nói bất lai rồi tưởng có một “cái ngã” không trở lại, tức là trở lại rồi! Vừa thấy có cái ngã chẳng trở lại liền trở lại! Do đó nói bất lai nhưng chẳng có bất lai, tạm gọi danh từ chẳng trở lại là bất lai vậy thôi, đó là danh từ tạm đặt không nên bám vào đó để chấp theo danh từ, nghe nói chẳng trở lại rồi chấp có một cái chẳng trở lại, thì đã trở lại. Nói cho gần hơn là, trong tâm mình không có niệm thứ hai, luôn luôn một niệm hiện tiền sáng suốt đây, không có niệm thứ hai chen vào thì ngay đó chẳng có trở lại đâu hết, tạm cho cái tên A na hàm để mình sống ngay nơi niệm giác đây, thấy nghe biết tất cả nhưng không để có niệm thứ hai chen vào, còn có một niệm thứ hai chen vào là bắt đầu trở lại sáu trần.

    Thứ tư là A La Hán. A La Hán này có nhiều nghĩa: thứ nhất là dứt sạch mọi phiền não; thứ hai nghĩa là ứng cúng, đáng được cho Trời người cúng dường, tức bậc này là bậc đã được giải thoát, được trời người cúng dường; thứ ba là vô sanh, tức dứt mầm sanh tử không còn sanh trở lại, ở đây nhắm nghĩa thứ ba này tức là vô sanh.

    CHÁNH VĂN:

    Đức Phật hỏi Tu Bồ Đề:

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A La Hán có hay khởi nghĩ thế này: “Ta được đạo A La Hán” chăng?

    GIẢNG:

    Nói A La Hán đó mình nghĩ có cái pháp A La Hán, có cái đạo A La Hán để được; khi khởi nghĩ có pháp được, đạo được là sanh rồi, mà sanh thì trái với A La Hán, bởi A La Hán là vô sanh. Nếu thật A La Hán, mà còn khởi nghĩ ta được A La Hán nữa thì sao? Còn khởi nghĩ được là chưa phải thật A La Hán cho nên mới nghĩ được, chỗ đó rất là vi tế, đã A La Hán thì được gì nữa, dư rồi!

    Thứ hai vừa khởi niệm được thì liền có ngã niệm. Có ngã là đối với nhân, tức có ta có người. Ngã nhân đối nhau sanh ra chúng sanh  niệm. Cái niệm ngã, nhân, chúng sanh cứ tiếp nối không dứt là thọ giả niệm, thọ giả là kéo dài tiếp tục. Như vậy vừa khởi niệm liền ở trong bốn tướng, cho nên khởi niệm tức là sanh, thì trái với A La Hán vô sanh. Bởi vậy khi nghe nói chứng A La Hán tưởng có pháp để chứng được thì rõ ràng là người đứng ngoài cửa tưởng tượng. Chính A La Hán là tâm đã dứt sạch hết ngã chấp, lặng những niệm đây kia thì tạm gọi A La Hán, chứ đâu có pháp gì để được trong đó. Vì vậy, ngay nơi mình đây một niệm lặng là một niệm A La Hán, là một niệm niết bàn, mọi niệm đều lặng thì niệm niệm A La Hán, niệm niệm niết bàn tức là niệm niệm vô niệm, biết tất cả mà không sanh, không khởi niệm thì có gì để được. Vậy A La Hán hay niết bàn đều ngay tâm thể mình không đâu xa. Mình nghe nói tu phải chứng A La Hán, phải nhập Niết Bàn, liền nghĩ chắc nhập là phải đến chỗ nào đó, là sanh trở về cõi niết bàn, nhưng khi có một cõi niết bàn để trở về, đó là không phải niết bàn, không phải A La Hán rồi. Bởi có một cõi về thì có chỗ để sanh và chỗ để tử, đó là thuộc về sanh diệt đâu phải A La Hán. Vậy A La Hán là sống trở về tâm thể vô sanh, ngay đây đã đầy đủ. Ngài Tu Bồ Đề bạch Thế Tôn “nếu mà A La Hán khởi niệm thế này: ta được đạo A La Hán tức sẽ dính ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả”, rồi Bạch Thế Tôn nói: “Con được Vô Tránh Tam Muội ở trong người rất là bậc nhất, là vị A La Hán ly dục bậc nhất, nhưng con chẳng khởi niệm ta là bậc A La Hán ly dục, bởi vì sao? nếu con khởi niệm ta được đạo A La Hán thì Thế Tôn ắt chẳng nói Tu Bồ Đề là thích hạnh Alanna”. Ở đây có mấy từ hơi khó hiểu là Vô Tránh Tam Muội, ly dục, Alanna. Vô Tránh Tam Muội, vô tránh là không tranh, không chống trái với mọi vật; còn tam muội là chánh định, hoặc chánh thọ, mình không thọ tất cả mọi thứ tức thuộc về chánh thọ hay chánh định. Bởi khi mình không thọ gì hết thì tâm an; còn thọ này thọ kia, có thọ tức có phiền não, thọ cái nào thích ý thì vui, cái nào không thích ý thì khổ, cho nên có thọ thì có khổ có vui, có động, có sanh diệt, là không có định. Bởi Ngài Tu Bồ Đề giải được lý không bậc nhất nên Ngài quên niệm Ta -  Người, thì còn gì để mà tranh. Sở dĩ có tranh là vì có ta có người, tranh người với ta, còn ở đây không ta thì lấy gì tranh? Tâm vừa có ngã thì mới có cái để tranh, tranh với cái ngã này; ngược lại có tranh, nhất là người hay tranh cãi nặng chừng nào, thường chống trái nhiều chừng nào thì ngã nặng chừng ấy. Bởi vì sao? Vì không chịu đụng đến cái ngã này. Cho nên kiểm điểm lại thì biết mình có ngã nặng hay nhẹ. Ở đây Ngài Tu Bồ Đề quên ta, quên người thì đâu còn gì để tranh, cho nên được vô tránh tam muội, tức được chánh định không còn tranh. Còn ly dục cũng thuộc về vô tránh, bởi vì khi vừa ly dục mà còn khởi niệm ly dục thì sao? Vừa khởi niệm ly dục cũng thuộc về tranh, tranh cái gì? Tranh để mà ly, mà có chỗ để ly tức chưa ly. Còn Ngài rõ không ta không người, không ly mà tự ly, không có niệm ta ly dục, đó mới là thật ly.

    Điểm thứ ba nữa là Ngài thích hạnh Alanna, Alanna là âm tiếng phạn, Trung Quốc dịch là lìa huyên náo, tịch tĩnh tức là tên khác của vô tránh, nếu có tranh là có ồn ào, huyên náo. Ở đây do Tu Bồ Đề thích hạnh Alanna nhưng thực Tu Bồ Đề không có chỗ hành. Ngài thích hạnh đó nhưng không chỗ hành nên gọi Ngài là thích hạnh Alanna. Nếu mà có chỗ hành tức là sao? Tức là có tranh nữa, tranh với động để về tĩnh, là chưa phải hạnh Alanna, ý nghĩa rất sâu xa! Nếu thật sự đã sống được với tâm tịch tĩnh rồi thì còn có chỗ gì để hành nữa. Nên còn thấy có chỗ để hành thì chưa phải sống được trong tịch tĩnh, chưa phải hạnh Alanna. Tóm lại Vô tránh Tam muội là tâm tịch tĩnh của mình chứ không gì khác, còn A La Hán là tâm vô sanh, chứ không có đạo gì riêng. Vậy ngay trong bốn quả Tu Đà hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán đều đưa tất cả về thực tướng vô tướng. Nói bốn quả nhưng thật sự không có quả gì để được, cũng không có khởi niệm ta được, còn khởi niệm tức còn tướng, khởi niệm ta được Tu Đà Hoàn tức trụ vào quả Tu Đà Hoàn để được, là có chỗ được, chỗ trụ. Đây là nói sáng rõ nghĩa ly trụ vô tướng ở trước. Bởi vì khởi niệm là dính tướng, thấy có chỗ được là có chỗ trụ, ở đây lìa tướng quả chứng, không trụ chỗ nào để được là trở về chỗ chân thật, sống với tự tánh Kim Cang Bát Nhã thì có tướng gì để mình khởi niệm. Nên học Bát Nhã là để phá tình chấp, chấp những tướng bên ngoài, để sống trở về với tự tánh, do đó Bát Nhã không lập một cái gì. Đó là ý nghĩa phần “một tướng vô tướng”, đưa bốn quả Thanh Văn trở về với thực tướng vô tướng nơi tự tánh chính mình, từ tiểu thừa đưa về đại thừa, mới hiểu tất cả hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt, nói sai biệt đó là ở trên danh từ, trên cái tâm lượng tạm thời chứ đều là hướng về sống với tự tánh vô tướng chứ không gì khác. Nếu được một phần nào đó thì tạm đặt tên Tu Đà Hoàn, vì sống chưa được trọn vẹn, mới dứt được kiến hoặc thôi. Nếu dứt được thêm sáu phần tư hoặc dục giới, còn ba phần kia thì tạm đặt tên Tư Đà Hàm. Dứt thêm ba phẩm kia nữa thì đặt tên A Na Hàm, dứt sạch hết thì đặt tên A La Hán. Sống trở về tự tánh giác ngộ đầy đủ nơi mình, thấy rõ mình có đầy đủ tính Bát Nhã đó, mọi người cũng đều có đủ thì bước qua đại thừa. Sống trọn vẹn không gì sai sót, công đức đầy đủ thì thành Phật không gì khác, ngoài mình đi tìm gì khác sẽ bị gạt.

  • 12. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ.

    CHÁNH VĂN:

    10. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ.

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Ý ông nghĩ sao? Trước kia Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp có chỗ được chăng?

    GIẢNG:

    Trang nghiêm tịnh độ tức nói về Bồ tát trên đường đến Phật quả, các Ngài thường trang nghiêm Phật độ để khi thành Phật được cõi nước tương ứng. Ở đây có mấy đoạn, đoạn đầu Phật nói về thọ ký mà không có chỗ được, tức Phật nhắc lại trước kia Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng đối với pháp có chỗ được chăng? Tu Bồ Đề đáp: “Không thể được”. Ở đây phá cái nghi về thọ ký, vì ở trước nói không có quả Phật thật để thành, không có quả Vô Thượng chánh đẳng chánh giác. Vậy Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng được thọ ký cái gì? Nên có chỗ nghi, mà cũng có chỗ liên hệ đặc biệt với thiền tông. Thiền tông cũng có ấn chứng, còn ở đây gọi là thọ ký. Trước khi vào đoạn này, xin nhắc lại đoạn nhân duyên về Đức Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng được thọ ký, là lúc Đức Phật Thích Ca còn trong hàng Bồ tát, thuộc về Bồ tát Bát Địa, Ngài đã vượt qua hai A tăng kỳ kiếp, mãn A tăng kỳ kiếp thứ hai. Bởi trong giáo lý nói thành Phật phải trải  qua  ba vô số kiếp. Thứ  nhất  từ phàm phu phát tâm rồi trải qua Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, tới Tứ gia hạnh là qua một A tăng kỳ kiếp; rồi từ sơ địa đến Bát địa là một A tăng kỳ kiếp nữa. Ở đây Ngài tới Bát Địa là sắp mãn hết A tăng kỳ kiếp thứ hai, lúc này Ngài sanh ra trong thế gian, thời đó có một vị tiên nhơn đạo hạnh rất cao, nổi tiếng trong nước, còn Ngài là Đồng tử Thiện Huệ, vị đồng tử Thiện Huệ này tìm đến vị tiên nhân học đạo, nhưng do chủng duyên sâu dày là Bồ tát Bát địa, mới học thời gian ngắn là học xong hết, thầy không còn gì để dạy, nên Ngài từ giã thầy xuống núi. Vị tiên nhân mới bảo: “- Hiện nay bao nhiêu pháp gì cần dạy ta đã dạy cho ông hết rồi, bây giờ phải dùng năm trăm đồng tiền vàng để đền ơn trở lại, đây là thông lệ chung”. Tức học xong phải đóng năm trăm tiền vàng. Đồng tử Thiện Huệ mới thưa: “- Nay con không có tiền, xin thầy đợi cho con thời gian, con xuống núi đi hóa duyên rồi trở lại đền đáp thầy”. Ngài đi xuống núi, gặp trong nước ông vua này cũng mến mộ Phật pháp, đang mở hội bố  thí vô già, vô già là không có ngăn, ai tới xin gì thì cho hết, cho thoải mái. Đồng Tử Thiện Huệ này đến đó xin năm trăm tiền vàng, ông vua hỏi lý do, ngài cũng nói rõ là xin để về đền đáp Thầy, ông vua thấy được tấm lòng tốt vì đạo nên cũng cho liền. Nhưng khi lấy ra rồi thì Đồng tử Thiện Huệ nghe nói hiện nay có Đức Phật ra đời hiệu là Nhiên Đăng đang ở trong nước, do có túc duyên lâu đời nên khi nghe đến Phật thì bên trong có một cái gì thúc đẩy, thay vì đem năm trăm tiền vàng trở về núi để dâng lên thầy, Ngài liền đổi ý đến gặp Phật. Trước khi đến gặp Phật, ngài bèn nghĩ mua hoa đến dâng Phật cúng đường, nhưng lại gặp ngày này ông vua ra lệnh ở trong thành có bao nhiêu hoa thì ông mua hết không cho bán ra ngoài, ông cũng mua đem cúng Phật. Kiếm hoài không có hoa, ngài bèn gặp một cô cung nữ tên là Thủ Ý cầm bảy cành hoa sen xanh rất là quí, ngài nói tôi muốn mua đem về cúng Phật để tỏ lòng thành kính của tôi dâng lên Phật nhưng kiếm hoài mà không được, cô có bảy cành hoa đây, tôi có năm trăm tiền vàng này xin đưa cô hết, nhưng tôi chỉ lấy năm cành thôi. Cô cung nữ nói: đây là những cành hoa của hoàng cung không thể bán, song thấy tâm thành của anh tôi cũng cảm xúc, thôi tôi biếu anh năm cành đem dâng lên Phật, còn hai cành tôi gởi lên cúng dường dùm tôi. Vì theo lệ thì cung nữ đâu được đi đến gặp Phật. Đồng Tử Thiện Huệ bèn cầm bảy cành hoa đó đi đến dâng Phật, từ xa thấy Phật ngài dùng những cành hoa đó tung lên trời gọi là tán hoa cúng dường. Khi ngài tung lên, ngài phát nguyện: “làm sao cho những cánh hoa này tỏa ra thành cái lộng che theo Phật đi trên đường”. Do túc duyên của ngài là Bồ tát bát địa nên nguyện lực được như ý, khi tung lên hoa biến thành cái lộng, che Phật đi trên đường. Khi Phật sắp đi tới ngài liền quỳ xuống đảnh lễ thì thấy trước chỗ Phật đi tới, có một khoảng đất còn bùn dơ, Ngài cởi áo ra che hết khoảng đất đó để Phật đi qua cho sạch, nhưng che rồi vẫn còn một chỗ sót lại che không hết, mà Phật thì sắp đi tới rồi, làm sao đây? Cho nên ngài mới xõa tóc phủ hết chỗ đất dơ đó để Phật đi qua. Nếu mình đã làm được chưa? Cho thấy người xưa quên mình vì đạo, không còn nhớ tới cái ngã này chút nào hết, chúng ta thì cái đầu này là quý dễ gì làm được như vậy! Ở đây ngài sẵn sàng làm không suy nghĩ gì, lúc đó mà còn suy nghĩ thì không thực tâm, tức là suy nghĩ nên hay không nên thì cái đó cũng còn vướng, với ngài thấy là làm liền không có một chút suy nghĩ gì trong lòng hết, thực sự quên ngã. Trong tâm Ngài nguyện thỉnh Phật đi qua để cho sạch chân Phật, và nguyện cho nghiệp chướng mình được sớm tiêu trừ. Đức Phật cũng biết được tâm nguyện của Ngài nên Phật bước đi qua trên tóc đó. Khi Phật đi qua rồi thì Ngài thấy lòng nhẹ nhàng sung sướng, coi như nguyện mình đã thành tựu. Sau đó, Phật thọ ký là: Ông sau này, trải qua 91 kiếp thì sẽ thành Phật ở tại cõi Ta Bà này, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.  có chỗ khác ghi Thích Ca Văn -  đó là câu chuyện mà Phật Thích Ca được thọ ký. Như vậy thọ ký là thọ ký cái gì? Câu chuyện khai triển ra còn nhiều ý nghĩa, trong kinh chỉ nhắm thẳng vào thọ ký. Ở đây nói thêm những ý nghĩa sâu xa trong câu chuyện: Thứ nhất, thường thì đầu là quý nhất của con người, quỳ xuống lạy ai là đã thấp mình cúi đầu, còn mấy vị hơi cao mạn, dễ cúi đầu trước người khác không? Nhất là bên trong có một sự nghiệp gì, gặp người khác thì khó mà cúi đầu, “ổng cũng như mình vậy thôi cũng là người có gì mà cúi đầu”. Như Ngài Pháp Đạt tụng ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, trong này đã dấy một bụng sự nghiệp rồi nên khó mà cúi đầu sát đất, còn ngài Thiện Huệ trải tóc cho người khác đi qua thì thấy quên ngã đến mức nào, cho thấy tinh thần quên mình vì đạo không nhớ tới cái ngã. Điểm thứ hai là, mãn vô số kiếp thứ hai, còn một vô số kiếp nữa mới thành Phật hoàn toàn, nhưng ở đây do quá tinh tấn nên Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký qua 91 kiếp, vậy là rút ngắn thời gian lại. Đáng lẽ một vô số kiếp, đây rút ngắn thời gian lại còn 91 kiếp. Cho thấy, tâm thanh tịnh rồi thì thời gian không còn làm vướng bận, thời gian không còn là vấn đề nữa; nhất là ai có kinh  nghiệm tu thiền thì thấy rõ, lúc mới tập ngồi thiền thì một tiếng đồng hồ thấy bằng mấy tiếng, như sức mình ngồi nửa tiếng thì mười lăm phút sau là đau chân, ngồi mà cứ trông cho hết giờ để xả, nên mười lăm phút đó bằng cả ngày. Trái lại, trường hợp ngồi đã thuần, tâm yên thì ngồi hai tiếng đồng hồ mà thấy như mới ngồi chút xíu vậy thôi. Vậy tâm yên lặng thanh tịnh rồi thì thời gian không còn cố định, thấy thời gian không thật, do tâm tưởng của con người thôi. Hiểu như vậy, khi tâm thanh tịnh rồi thì vượt qua thời gian không còn bị chi phối nữa, mới thấy rõ thời gian do khái niệm con người đặt ra để làm việc với nhau, không cố định. Chúng ta ở trong thế giới này thì tạm đặt ra một ngày có mấy giờ, để ứng dụng sống với nhau, chứ lúc khai thiên lập địa có tính hai mươi bốn giờ gì đâu, chỉ sau này người ta đặt ra. Như ở quả địa cầu này, nó quay khoảng một vòng của nó thì tính một ngày; nhưng qua mộc tinh, thổ tinh thì tính khác, thành ra thời gian không cố định, khi tâm này thanh tịnh thì vượt qua thời gian. Trong nhà thiền thường nói một niệm muôn năm, một niệm mà vượt qua cả muôn năm. Bởi vậy trong kinh Pháp Hoa phẩm Thọ ký, vị nào cũng được thọ ký bao nhiêu tiểu kiếp mới thành Phật mà các vị vẫn vui mừng, vì các Ngài thấy được cái thật nơi mình, chỉ còn sống được trọn vẹn vậy thôi, nên thời gian thọ ký thành Phật bao nhiêu, thì các Ngài thấy không thành vấn đề. Nếu chúng ta dù cho được thọ ký như vậy chắc cũng không vui lắm, thọ ký hai ba đời thành Phật chắc còn vui mừng, thọ ký bao nhiêu tiểu kiếp, tính thời gian chắc chúng ta tưởng tượng không ra nổi, vậy biết bao giờ mới thành Phật? Nhưng các Ngài ai được thọ ký cũng đều vui mừng hớn hở, bởi vì các vị đã thấy rõ được cái thật nơi mình, mà cái đó vượt ngoài thời gian chỉ còn sống được trọn vẹn với nó thôi, thời gian không bận lòng. Đó là nói xa một chút, bây giờ nói thẳng vào kinh. Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Đức Phật Thích Ca, lúc đó Ngài còn là đồng tử Thiện Huệ, sau này sẽ thành Phật; vậy thọ ký đó là Phật Thích Ca được gì? Phật Nhiên Đăng đem cái gì để thọ ký? Chỗ này nhiều người nghe tới, chắc tưởng tượng Phật Nhiên Đăng trao cho cái gì đó, nên sau này mới thành Phật! Có một pháp gì đó đặc biệt mà Ngài không nói được! Chỗ đó dễ bị lầm! Sau này, trong nhà thiền cũng nói là ấn tâm, hoặc ấn chứng, thầy ấn chứng cho trò khi trò có những cảm ngộ trình lên thầy, với người ngoài không ở trong cảm ngộ đó cũng nghi ngờ, không biết thầy trò ấn chứng cái gì trong đó? Đôi khi còn vẽ vời thêm cho kỳ lạ, nhưng sự thật hai chỗ thấy của thầy trò tương ứng nhau thì gọi là ấn chứng thôi. Tức là chỗ thấy của trò tương ứng với chỗ thấy của thầy thì được thầy chứng nhận “cái thấy của ông là đúng”, vậy là ấn chứng. Ở đây cũng vậy, chỗ thấy được của Ngài tương ứng chỗ thấy của Phật Nhiên Đăng, thì thọ ký sau thành Phật, chứ không phải đem một cái gì cho, rồi được một cái gì đó. Cũng như Tổ Huệ Khả sau khi nghe được pháp an tâm, một thời gian sau, một hôm Ngài thưa với Sơ Tổ:

    - Hiện giờ con dứt hết các duyên.

    Sơ Tổ gạn lại:

    - Có rơi vào đoạn diệt chăng?

    (Ông nói dứt hết các duyên coi chừng rơi vào đoạn diệt ) Tổ Huệ Khả thưa:

    - Chẳng rơi vào đoạn diệt.

    Sơ Tổ bảo:

    - Làm sao biết không rơi vào đoạn diệt?

    Ngài nói:

    - Rõ ràng thường biết, nói không thể đến.

    Sơ Tổ bảo:

    - Đây chính là tâm thể của chư Phật đã truyền, ông trọn chớ có hồ nghi!

    Đó gọi là ấn chứng, vậy thôi. Trong Hàn Sơn Thi có bài kệ nói về chỗ thọ ký này, bài kệ như vầy:

    Thường văn Thích Ca Phật

    Tiên thọ Nhiên Đăng ký

    Nhiên Đăng dữ Thích Ca

    Kỳ luận tiền hậu trí

    Tiền hậu thể phi thù

    Dị trung vô nhất dị

    Nhất Phật nhất thiết Phật

    Tâm thị Như Lai địa

    Tức là “Đã từng nghe Đức Phật Thích Ca, trước kia được Phật Nhiên Đăng thọ ký”. “Nhiên Đăng với Thích Ca, chỉ luận trí trước sau” Phật Nhiên Đăng, Phật Thích Ca tuy là hai, chỉ luận trí phát trước, trí phát sau vậy thôi, “Thể trước sau chẳng khác, trong khác không một khác” về trí phát thì có trước sau, nhưng cái thể trước sau không khác, cái thể không trước sau, vậy trong cái khác đó không có một có khác gì hết; tức Đức Phật trước Đức Phật sau dường như có khác, nhưng trong cái khác đó, cái thể Giác kia không hai. “Một Phật tất cả Phật, tâm là đất Như Lai”. Không ngoài tâm. Ngài Hàn Sơn nói rất là rõ nghĩa, từng nghe Phật Thích Ca trước kia được thọ ký ở Phật Nhiên Đăng, vậy thọ ký đó là cái gì? Chúng ta tưởng đâu như có cái gì đó được thọ ký thì như vậy có Phật Thích Ca được thọ ký, có Phật Nhiên Đăng đem cái thọ ký. Nhưng ở đây Hàn Sơn nói rõ Nhiên Đăng với Phật Thích Ca đó chỉ luận trí trước trí sau, tức Đức Phật Nhiên Đăng Ngài giác ngộ trước, trí tuệ mở sáng trước; Đức Phật Thích Ca, giác sau thì trí tuệ mở sau, thì trí dường như có trước có sau, nhưng cái thể nó không có khác. Tức luận trí thì có trước sau, nhưng luận thể thì không trước sau, không hai, chỗ thấy như như. Phật Nhiên Đăng giác ngộ cái tâm thể này, Phật Thích Ca giác ngộ cũng cái tâm thể đó, cái thể không có hai, nhưng có người giác ngộ trước, người giác ngộ sau, cho nên người này thọ ký cho người kia vậy thôi, chứ không phải có hai cái sai khác. Vì vậy trong khác mà không có khác gì hết, tức là Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Nhiên Đăng có khác, trong cái tướng khác nhưng cái thể kia không khác, chỉ một thể giác thôi. Giác ngộ cái đó, sống trọn vẹn thì thành Phật. Nên nói “một Phật là tất cả Phật”, một Đức Phật như vậy thì tất cả Phật đều như vậy, nếu có gì khác thì không phải. “Chính tâm là đất Như Lai”, ngộ được tâm, sáng được tâm là đất Như Lai, là chỗ thành Phật. Hiểu như vậy thì thấy thọ ký là thọ ký cái gì? Chỉ là ấn chứng chỗ thấy vậy thôi, rất là sáng tỏ rõ ràng không có gì mờ ám.

    Như câu chuyện của Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng đến tham vấn Lục Tổ, Lục Tổ hỏi:

    - Ở đâu đến.

    Ngài thưa :

    - Ở Tung Sơn đến.

    Tổ hỏi:

    - Đem vật gì đến?

    Nếu hỏi mình thì đáp sao? Nếu nói đem cái này, đem cái kia đến liền bị gạt. Ngài bị câu hỏi đó, đáp không được, ôm ấp đến tám năm. Qua tám năm đó, ngài đến thưa:

    - Hôm nay con đáp được rồi.

    Tổ hỏi:

    - Ông đáp sao?

    Ngài thưa:

    - Nói giống một vật thì không trúng.

    Tổ hỏi:

    - Có tu chứng chăng?

    Ngài thưa:

    - Tu chứng chẳng phải không mà nhiễm ô chẳng thể được.

    Tổ bảo:

    - Chỉ cái chẳng nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ông đã như thế, ta cũng như thế.

    Chỗ đó là chỗ đặc biệt! Nó vốn không một vật, vậy tu chứng là chứng cái gì? Thường chúng ta nghe nói không một vật, thì có gì tu chứng? Nếu nói như vậy thì dễ bị lầm, sẽ rơi vào đoạn diệt, không có gì hết. Nhưng ở đây ngài nói: Tu chứng thì không phải không, là mình có thể chứng nghiệm được, chứ không phải nói rỗng, nói suông, song nhiễm ô không thể được, trong đó không gì nhiễm ô được. Nếu cứ nói một bề tu chứng thì người ta dễ mắt kẹt là có tu, có chứng; mà tu chứng trong đây là có thể thực chứng nghiệm được, chứ không phải nói suông trên môi thôi, có điều ở trong đó không cái gì có thể làm nhiễm ô được. Khi nói đến đó, Tổ bảo: - Chỉ cái chẳng nhiễm ô này là chỗ chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, ta cũng như thế! Đó là ấn chứng. Chính chỗ “chẳng nhiễm ô” đó, là chỗ chư Phật thường hộ niệm, mà ông như thế, ta cũng như thế, ông cũng như ta, đó là ấn chứng. Hiểu rõ ấn chứng, không phải đem một cái gì cho, mà chính là chỗ thấy không hai, “ông đã như thế ta cũng như thế”, vậy ông như ta, là xong. Trong đây, ngài Tu Bồ Đề cũng cảm thông được chỗ đó, cho nên ngài đáp.

    CHÁNH VĂN:

    - Bạch Thế Tôn, không thể. Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp thật không chỗ được.

    GIẢNG:

    Ngài Tu Bồ Đề đáp: “Như Lai ở chỗ  Phật Nhiên Đăng thật không chỗ được”. Bởi vì sao? Nếu mà Đức Phật Thích Ca có chỗ được thì Ngài không phải là Ngài nữa, Ngài thành chỗ được đó rồi, tức Ngài không phải Ngài mà Ngài thành một cái khác, đó là chỗ tế nhị. Nhiều người tu cầu cho được cái này, cái khác, mà được cái đó là đã qua cái khác rồi, không còn là mình nữa. Hiểu chỗ đó, mới thấy rõ thọ ký hay truyền tâm là không có gì khác để được, mà để nói lên chỗ ấn chứng là chỗ thấy rõ ràng của mình, xác định chỗ thấy của mình đúng với chỗ thấy của Phật của Tổ, gọi là ấn chứng. Như vậy, khi ấn chứng đó là mình thật ngộ mới được ấn chứng, người ngoài không thể biết, ông thầy mà không khéo cũng dễ tạo cho mình lớp mê mới, tới trình mà khen ngợi quá: Ông được cái này là đặc biệt, xưa chưa từng có, làm cho  người ta  tưởng  được cái gì trong đó, làm tăng thêm sở đắc là mắc kẹt. Bởi vậy trong nhà thiền khi ngộ rồi đến trình, thầy không khen kiểu đó, đôi khi chê, nếu mình thực ngộ rồi, thì khen chê không thành vấn đề. Như ngài Vô Nghiệp đến hỏi Mã Tổ:

    - Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ  Ấn độ sang?

    Ý tổ sư từ Ấn độ sang, tức trong đó có cái gì bí mật mà truyền, gọi là mật truyền? Nhiều người cứ tưởng Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung quốc, ngài đem một cái gì bí mật để truyền qua cho các vị bên này, bên đây nhận được cái gì đó làm Tổ. Cho nên các vị thiền tăng đi tham thiền thường đặt câu hỏi: - Thế nào là ý Tổ sư từ  Ấn độ sang? Ở đây ngài Vô Nghiệp hỏi:

    - Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ  Ấn độ sang?

    Mã Tổ bảo:

    - Đại đức chính đang ồn, thôi hãy đi đi, khi khác lại đến!

    Nghĩa là ông còn đang ồn lắm, khi khác đến. Cái gì ồn? Có phải trong đầu này đang ồn không? Nó đang ồn nên không thấy được chỗ này! Bởi vậy khi ông hỏi chỗ đó thì trong tâm ông đang nghĩ cái gì đó rồi, nghĩ Tổ Bồ Đề Đạt Ma có một cái gì đó đem đi truyền; khi có nghĩ là tâm mình đang loạn, nên ngài bảo như vậy đó. Vô Nghiệp bước ra, ngay khi bước ra đó, Mã Tổ gọi lại:

    - Đại đức!

    Bất thần bị gọi, Sư xoay đầu lại. Tổ bảo:

    - Là cái gì?

    Sư liền tỏ ngộ. Vậy có cái gì là mật truyền trong đó? Mới bước ra đó, gọi, xoay lại thì ngộ, mật truyền đó! Do đó, có vị quan hỏi thiền sư Đạo Ưng:

    - Thế Tôn có mật ngữ, Ca Diếp chẳng che giấu, thế nào là mật ngữ của Thế Tôn.

    Sư gọi:

    - Thượng thơ!

    Vị quan ứng:

    - Dạ!

    Sư hỏi:

    - Hội chăng?

    Vị quan thưa:

    - Chẳng hội.

    Sư bảo:

    - Nếu ông chẳng hội thì Thế Tôn liền có mật ngữ, nếu ông hội thì Ca Diếp chẳng che giấu.

    Nghĩa là khi chưa hiểu thì thấy đức Phật giống như có mật ngữ, có gì bí mật ngài không nói ra để cho người ta nghi. Như đọc các thiền sư, thấy các Ngài sao cứ nói đâu đâu, khó hiểu, nếu nói được thì cứ nói thẳng ra, có gì mà nói mí mí chi vậy, giống như có gì bí mật; nhưng khi ngộ rồi thì sao? Không có gì bí mật, sự thật là ngay nơi mình thôi chứ không có gì khác. Cho nên khi ngộ, ngài Vô Nghiệp liền lễ bái, thì Tổ bảo: “- Cái gã độn, lễ bái làm gì?” Độn là chậm lụt. Tại sao không khen? Đó là không cho mình sanh có tâm sở đắc. Khi được nói như vậy là đã hài lòng rồi, còn đợi khen thì chưa phải. Ngài Hoàng Bá có câu: “- Chỉ một tâm này, trọn không có pháp bằng một hạt bụi nhỏ có thể được. Tức tâm là Phật” Chỉ có một tâm này thôi chứ ngoài ra không có gì khác, dù là một hạt bụi nhỏ có thể được, tức tâm là Phật, khéo soi sáng lại tâm mình, chỗ đó là chỗ bí mật chứ không gì lạ. Hiểu rõ như vậy để sau không bị lầm, hoặc nghe ai nói “tôi có cái pháp cao siêu, vi diệu, ông theo tôi, tôi sẽ trao cho ông, pháp đó tu hành mau đắc đạo”, nghe nói như vậy là không phải thật rồi! Đó là đoạn nói về thọ ký không chỗ được.

    CHÁNH VĂN:

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát trang nghiêm Phật độ chăng?

    - Bạch Thế Tôn, không được. Tại sao? Trang nghiêm Phật độ, tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm.

    GIẢNG:

    Phật hỏi Bồ tát có trang nghiêm Phật độ chăng? Ngài Tu Bồ Đề nói: Không được, tại sao? vì trang nghiêm Phật độ tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm. Tức là Bồ tát trên đường tu hành Bồ tát đạo, để tiến đến quả Phật thì, phải làm bao nhiêu công hạnh lành hồi hướng về cõi Phật, để khi thành Phật rồi, có một cõi nước tương ứng. Cũng như đức Phật A Di Đà có 48 nguyện, khi thành Phật rồi có cõi nước tương ứng với nguyện đó. Nhưng ở đây, trước đã nói không trụ nơi quả chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không thật có quả đó để được, nghĩa là không cho mình trụ nơi quả chứng; kế không có pháp thật để thọ ký, như vậy cái trang nghiêm này thì sao? Quả chứng không cho chấp, cho đến không thực có chỗ để thọ ký, vậy trang nghiêm để làm gì? Vì vậy phải hiểu rõ thế nào là trang nghiêm? Và trang nghiêm bằng cách nào? Các cõi nước mình đang sống đây, đầy dãy những hang, hầm, gò, nổng, lồi lõm núi cao, biển sâu làm sao san bằng cho hết? Còn tâm của chúng sanh thì mỗi người một nghiệp riêng, cũng làm sao trang nghiêm cho hết, để khi thành Phật, cõi nước đó đều được trang nghiêm tốt đẹp, đất đai đều thành lưu ly xa cừ, cây cối thành vàng bạc hết cả? Làm sao trang nghiêm được như vậy? Đây là chỗ phải chú ý! Đức Phật đã thành Phật, vậy còn ham muốn gì tốt đẹp nữa? Nếu đã thành Phật rồi, còn ham muốn vàng bạc châu báu gì nữa mà trang nghiêm cõi nước cho tốt đẹp để ở? Vậy phải hiểu trang nghiêm thế nào? Chính trang nghiêm đó, là trang nghiêm tự tâm, tâm thanh tịnh tức là trang nghiêm. Khi tâm thanh tịnh thì thấy cái gì cũng thanh tịnh, đó là trang nghiêm chân thật; còn mình cứ lo trang nghiêm bên ngoài mà không trang nghiêm tự tâm thì khó thành tựu được, cũng không thể sạch sẽ thanh tịnh như ý mình muốn. Bố thí, cúng dường, cất chùa, xây tháp thường gọi đó là trang nghiêm, nhưng chấp vào đó tức là trước tướng trang nghiêm, trang nghiêm mà chấp tướng. Bố thí mà chấp vào bố thí cúng dường, chấp vào cất chùa thì sao? Tâm mình không thanh tịnh mà làm những việc đó thì có trang nghiêm không? Nhiều khi làm những việc đó còn phiền não nữa. Bố thí, tâm không thanh tịnh thì sao? Bố thí mà còn hậu ý! ví dụ cho người đó mà hậu ý muốn nhờ người đó cái gì, hay cho người là muốn người phải biết ơn mình, hoặc bố thí như vậy để tỏ ra mình là con người hào hiệp, con người rộng rãi, khi có tâm đó là đã không thanh tịnh rồi, cho nên lỡ người kia không biết ơn trở lại thì phiền não liền, như vậy là có trang nghiêm chưa? Rõ ràng trang nghiêm là trang nghiêm tự tâm thì mọi việc làm gì cũng thanh tịnh hết. Kinh Duy Ma có câu:

    Dục tịnh Phật độ,                    Đương tịnh kỳ tâm,

    Tùy kỳ tâm tịnh,                      Tắc Phật độ tịnh

    Tức là, muốn cho thanh tịnh cõi Phật thì phải thanh tịnh tâm mình, tuỳ nơi tâm mình thanh tịnh thì các cõi Phật thanh tịnh. Rõ ràng muốn cho cõi Phật thanh tịnh, trước phải thanh tịnh tâm mình, nếu tâm mình thanh tịnh thì cõi Phật tương ứng. Tâm mình mà còn chứa nhiều hang hố, gai góc hiểm hóc trong đó thì sao? Thì làm hang ổ cho rắn rít, cọp beo nó ở, rõ ràng vậy thôi. Vậy tìm tịnh độ ở chỗ nào? Nên có câu: “- Tâm bình thì thế giới bình”, còn tâm mình chưa bình thì thế giới đừng mong bình. Lục Tổ cũng nói: “Tâm bình đâu cần giữ giới, hạnh thẳng nào phải tu thiền”, rõ ràng như vậy, tâm mình mà được an bình thì có tội lỗi gì đâu? Tâm bình thì làm ra cái gì cũng đâu có tội lỗi, khỏi cần giữ giới mà nó đã thành giới rồi. Còn các hạnh mình chân thật ngay thẳng thì lúc đó đâu có loạn gì, ngay đó là thiền rồi, còn tìm thiền nữa thì dư. Hiểu vậy thì căn bản là thanh tịnh tự tâm đó là gốc, tâm thanh tịnh thì thấy gì cũng trang nghiêm cho nên đây kinh nói“trang nghiêm tức chẳng phải trang nghiêm” bởi trang nghiêm đây không phải thật thấy có tướng trang nghiêm, thật có cõi nước trang nghiêm. Người xưa có câu: “Do tâm chúng sanh cấu nên phương Đông hiện ra cõi Ta bà”, nghĩa là do tâm chúng sanh nhơ nhớp nên phương Đông mới hiện ra cõi ta bà, nhơ nhớp đủ thứ và “do tâm chúng sinh tịnh nên mới có cõi Cực lạc ở phương Tây.” Như vậy tâm mình cấu thì hiện ra cõi Ta bà, còn tâm mình tịnh thì hiện ra cõi cực lạc ngay nơi mình, khỏi tìm đâu xa. Đem tâm nhơ cấu này về bên Cực lạc sống thì có thanh tịnh không? Ở bên đó đất bằng lưu ly, còn chim chóc đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, mà mình đem tâm nhơ cấu này qua đó thì nó có niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng nỗi không, hay là tâm mình chứa những nhơ cấu buồn bực trong lòng thì dù nghe những tiếng bên ngoài như tiếng ca lăng tần già, tiếng ca hát hay cũng cảm thấy một nỗi sầu ảm đạm! Bởi tâm mình đang buồn bực nên thấy gì cũng u tối hết, rõ ràng là vậy. Còn tâm thanh tịnh dù thấy cảnh buồn bực gì đó nhưng thấy đều thanh tịnh sáng ngời. Hiểu như vậy đó, mới thấy trang nghiêm tịnh độ, căn bản là ở tự tâm, còn cứ lo trang nghiêm bên ngoài thì không thấy được. Vậy mọi người làm sao cho tâm thanh tịnh? Đây mới nói:

    CHÁNH VĂN:

    Vì vậy, Tu Bồ Đề! Các vị Bồ Tát Lớn nên như vầy mà sanh tâm thanh tịnh: chẳng nên trụ sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ thanh hương vị xúc pháp mà sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm ấy.

    GIẢNG:

    Sanh tâm thanh tịnh là như vậy đó. Chữ “vì vậy”, để kết lại vì sao trang nghiêm mà chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm. Bởi Bồ tát phải sanh tâm thanh tịnh như vậy mới thật là trang nghiêm, tức là không trụ sắc, thanh, hương,vị, xúc, pháp, nơi sáu trần không trụ vào một chỗ nào hết mà sanh tâm ấy, là tâm thanh tịnh. Ý nghĩa trang nghiêm hiện rõ trong này. Vậy thế nào là tâm thanh tịnh? Tâm thanh tịnh là “tâm không trụ” chứ không gì khác. Tâm không trụ vào một cái gì hết, nghĩa là không trụ vào một trần nào, đó là tâm thanh tịnh. Bởi tâm có trụ tức còn dính tướng, trụ vào trần nào thì dính vào tướng đó, mà tâm có dính tướng là có chỗ để duyên theo, tức có chỗ để khởi vọng sanh phiền não; còn tâm không trụ vào một cái gì hết, tức đâu có chỗ để bám, thì đâu còn chỗ để duyên, vậy vọng bám vào đâu để khởi? Khi vọng tưởng có khởi, là khởi về cái gì đó, nghĩa là nó có đối tượng, tức có chỗ để khởi; còn ở đây không có chỗ nào để bám thì bám vào đâu để khởi? Như vậy vọng không khởi thì phiền não từ đâu sanh? Ngay đó tức tâm thanh tịnh. Vì vậy tâm không trụ vào một chỗ nào hết, đó là tâm thanh tịnh, thanh tịnh là như vậy, thanh tịnh là không chỗ trụ. Song cần chú ý: “sanh tâm thanh tịnh”, là tâm thanh tịnh sao phải sanh? Đó mới là chỗ khó hiểu. Nếu sanh thì đâu thanh tịnh? Vì có sanh là có diệt rồi, mà ở đây nói sanh tâm là sao? Đó là một ý nghĩa sâu xa, nếu không có thể nghiệm rõ ràng cũng khó thấu được “sanh”, quý vị đọc kỹ trong văn kinh: “sanh” mà không có chỗ gì để trụ hết, không trụ sắc sanh tâm, không trụ thanh, hương vị, xúc, pháp mà sanh tâm. Sanh mà không có chỗ trụ, sanh mà không có chỗ nào để sanh hết, vậy thì làm sao sanh? Đó là ý, để ngừa rơi vào đoạn kiến chấp không, e người nghe nói không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không trụ vào một chỗ nào hết, người ta dễ mắc kẹt vào cái không tưởng, tưởng như vậy là không còn gì hết, vì không còn chỗ nào để bám, sẽ sanh ra cái lo sợ, chới với. Do đó Phật nói không trụ gì hết mà sanh tâm thanh tịnh. Khi không trụ vào cái gì, không phải là không còn gì, mà chính ngay đó tâm thanh tịnh hiện bày rõ ràng. Vì vậy “sanh” là một lối nói, để hiểu rõ khi tâm không trụ vào một cái gì thì ngay đó tâm thanh tịnh hiện bày, không mắc kẹt vào có hoặc không. Bởi không trụ vào một cái gì, là không kẹt có, sanh tâm thanh tịnh là không kẹt không; qua được cả hai, không mắc kẹt nơi “có” nơi “không”, ngay đó “rõ ràng thường biết”. Có một điều đặc biệt là “nói không thể đến”, đó mới là chỗ khó hiểu, bởi vì sao? Vì đây là chỗ mình phải thể nghiệm chứ không phải chỗ để nói năng; nếu nói đến tức là có chỗ trụ, mà có chỗ trụ tức là có tướng, là nó không còn thanh tịnh. Đây là chỗ chính mình khi sống được, thể nghiệm được thì thầm biết. Cho nên trong nhà thiền có câu “nóng lạnh tự  biết”, làm sao diễn tả được chỗ đó cho người hiểu, nếu người khác chưa sống được chỗ đó? Nên Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng đến chỗ này, ngài liền đại ngộ la lên: “Đâu ngờ tự tánh vốn thanh tịnh, đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt v..v.” năm cái đâu ngờ; còn chúng ta bây giờ nghe thì la được gì? Bởi vì sao? Là vì còn có chỗ trụ, cho nên chưa la lên được, chứ ngay đây mà không trụ vào bất cứ chỗ nào hết thì tỏ ngộ ngay! Không còn chỗ nào để bám, tức tâm thanh tịnh hiện bày, thì tỏ ngộ liền, chứ hiện giờ còn có chỗ bám chưa dám buông làm sao tỏ ngộ được? Đơn giản vậy thôi. Để thấy rõ, tâm mình trụ vào sáu trần là tâm vọng; còn tâm mình không trụ vào tất cả, đó là tâm chơn, ngay đó chơn vọng phân minh. Bởi vậy trong kinh Lăng Nghiêm có một đoạn rất hay: “Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay mọi thứ điên đảo, còn những người tu hành thì chẳng thành Vô Thượng Bồ đề, riêng thành Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo đều do chẳng biết hai thứ căn bản mà tu tập lẫn lộn.

    Một là căn bản sanh tử từ vô thỉ: chính là ông cùng mọi chúng sanh hiện nay dùng tâm phan duyên mà làm tự tánh (tâm phan duyên là tâm trụ sáu trần, dùng tâm đó làm tự tánh) đó là căn bản sanh tử từ vô thỉ, (trụ vào cái này, trụ vào cái kia cho nên nó dẫn mình đi luân hồi, quên mình nhận cái đó làm tự tánh nên nó dẫn mình đi, đi khắp cả sáu trần, đi vòng vòng không hết.)

    Thứ hai là thể Bồ đề Niết bàn vốn sẵn thanh tịnh từ vô thỉ: tức cái thức tinh nguyên minh của các ông, (thức tinh nguyên minh tức là cái biết sáng ngời trong sáng thuần nhất chưa xen tạp gì) nó hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót nó”. Chính vì các duyên bỏ sót mà đi vào luân hồi, còn rõ biết được nó thì chính nó là căn bản, là thể của Bồ đề Niết bàn sẵn thanh tịnh từ vô thỉ; “cái biết trong sáng đó” thuần nhất chưa có xen tạp, nó luôn luôn hiện hữu ngay nơi mình, nhưng nó hay sanh ra các duyên, biết cái này, biết cái nọ, biết cái kia, cái gì cũng biết hết, chỉ tiếc vì theo các duyên mà bỏ sót nó, chỉ nhớ cái này cái nọ thôi nên đi vào luân hồi, trái lại biết tất cả duyên mà luôn có mặt nó không quên, chính đó là cái thể Bồ Đề Niết Bàn không gì khác. Tóm lại, căn bản sanh tử là nhận cái tâm phan duyên, nhận cái tâm duyên nơi sáu trần làm tự tánh; còn cái tâm biết tất cả mà mình không bỏ sót nó thì đó là thể Bồ Đề luôn luôn hiện hữu nơi mình, nhớ cái đó là mình sống trở về Bồ Đề Niết Bàn, rõ được cái đó thì mình biết được cái nhân tu hành của mình rõ ràng không còn sai lầm nữa, đó là cái nhân chân thật, cái nhân đó là cái nhân không sanh diệt, hợp với cái quả không sanh diệt, đó là nhân với quả không còn sai lạc. Như vậy, ngay đây khéo soi trở lại cái biết nó đang sáng rõ nơi mình đó, để luôn luôn sống vững ở trong đó, không để quên nó mà theo các trần hoặc là đồng hóa nó với các thứ trần. Thường chúng ta hay đồng hóa nó với các trần, như thấy cái hoa này liền đồng hóa nó với cái hoa, nên chỉ còn biết nó là cái hoa thôi, đâu có nhớ tới nó! Nghe tiếng thì chỉ nhớ tiếng thôi, không hề nhớ cái đang nghe rõ ràng sáng suốt đây, nên có tiếng thì có nghe, hết tiếng thì không nghe, tức đồng hóa nó với cái tiếng; còn luôn luôn nghe tất cả nhưng không quên nó, không bỏ sót nó, chính đó là đang sống trở về với thể Bồ Đề Niết Bàn. Mê ngộ cũng ngay nơi đây. Ý nghĩa trang nghiêm cũng ngay đó thôi. Trang nghiêm là trang nghiêm tự tâm mình như vậy đó, còn chỉ lo trang nghiêm bên ngoài, không lo cái gốc này thì trái xa lý thật. Cho nên Ngài Phó Đại Sĩ, là hiện thân của Bồ Tát Di Lặc, Ngài có bài tụng về  đoạn này:

    Tảo trừ tâm ý địa,                             Danh vi tịnh độ nhân.

    Vô luận phước dữ trí,                      Tiên thả ly tham sân.

    Trang nghiêm tuyệt năng sở,         Vô ngã diệc vô nhân,

    Đoạn thường câu bất nhiễm,       Dĩnh thoát xuất hiêu trần.

    “Quét sạch đất tâm ý, Đó là nhân Tịnh độ” chớ lo tìm tịnh độ ở chỗ khác, nếu tâm ý mình không có sạch.

    “Chẳng kể phước cùng trí, Trước hãy lìa tham sân”, bất kể nói phước hay nói trí thế nào, nhưng trước phải lìa tham sân mới được. Nếu chưa lìa tham sân mà có phước có trí thì sao? Có phước, có trí cũng dễ mang họa nữa; có phước mà chưa lìa tham sân thì dễ tham đắm vào cái phước đó tạo tội không chừng. Thực tế cho thấy, mấy người có phước nhiều quá, rồi tham đắm vào cái phước đó cũng dễ tạo lỗi; có trí cũng vậy, trí mà chưa lìa tham sân thì trí đó là trí gì? Nó nguy hiểm vô cùng phải không? Trí đó mà nó nổi tham sân lên thì sao? Tức sẽ dùng trí đó lập thành cái mưu này, kế kia mà hại người ta thật rất nguy hại!. Cho nên không kể phước hay trí, trước tiên phải lìa tham sân là chính.

    “Trang nghiêm bặt năng sở, Không ngã cũng không nhân”, Trang nghiêm vốn bặt cả năng cả sở, là không thấy có mình, có người trang nghiêm; năng là ở nơi mình, sở là cái đối tượng.

    “Đoạn thường đều chẳng nhiễm. Vượt hẳn ra cõi trần”, nghĩa là không dính nơi đoạn, nơi thường hai bên có không, vượt ra ngoài sáu trần này, chính là thanh tịnh đó! Gốc là phải quyét sạch nơi tâm, đó là nhân Tịnh độ. Trang nghiêm tịnh độ là phải trang nghiêm tự tâm là như thế. Đoạn kế:

    CHÁNH VĂN:

    - Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân như núi chúa Tu Di, ý ông nghĩ sao? Thân đó to lớn chăng?

    - Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, rất to lớn. Tại sao? Phật nói chẳng phải thân, đó gọi là thân to lớn.

    GIẢNG:

    Bởi vì ở trước nói Bồ Tát tu lục độ, trang nghiêm cõi nước mà không thấy có cõi nước trang nghiêm, như vậy Phật có báo thân, báo thân đó có nhiều công đức, khi tu đầy đủ mọi công đức đó thì báo thân này sao đây? Ở đâu? Trang nghiêm cõi nước mà không hề có cõi nước trang nghiêm thì báo thân của Phật sẽ ở đâu? Cho nên ở đây Phật mới thí dụ, có người thân to lớn như núi chúa Tu di. Núi chúa Tu di đây, là theo Kinh nói rằng, giữa bốn châu thiên hạ có núi Tu Di, Trung Quốc gọi là núi Diệu Cao, nghĩa là nó vừa cao khỏi mặt nước (84 ngàn do tuần) nó vừa diệu do bốn thứ báu lưu ly, kim, ngân, pha lê hợp thành. Ai thử nghĩ một người có thân to lớn như núi chúa 84 ngàn do tuần, bằng mấy chục ngàn cây số thì như vậy người đó là người gì? Làm sao nhìn thấy cho hết? Phật hỏi Tu Bồ Đề thân như vậy có to không? Ngài Tu Bồ Đề đáp: “- Rất là to lớn.” Ngài đáp như vậy là sao? Ngài hiểu ý Phật không? Thân dù cho to lớn đến đâu nhưng đã có tướng thì sao? Có tướng tức là có đối đãi mà có đối đãi, tức là có vô thường, cái thân to lớn như núi Tu Di, cao cả 84 ngàn do tuần nếu mà có cái thân to lớn tới 90 ngàn do tuần thì sao? Thân này thành nhỏ rồi! Cho nên có tướng là có đối đãi thì chưa phải thật, vậy Ngài Tu Bồ Đề Ngài không biết ý đó sao, Ngài lại trả lời rất to lớn? Đó là ý gì? Ngầm ý nói là Ngài không phá hoại tướng của thế gian, đứng về thân tướng mà nói thì thân rất là to lớn, nhưng Ngài cũng hiểu được ý Phật hỏi như vậy là không phải nhắm vào cái thân tướng đó, mà nhắm vào pháp thân vô tướng kia, cho nên Ngài nói tiếp: “Phật nói chẳng phải thân đó mới gọi là thân to lớn”, tức là nói cái thân đó, nó to lớn như vậy, nhưng nó còn có tướng lớn tướng nhỏ, tương đối với nhau thì chưa phải là thật lớn, chính không còn có một tướng lớn nhỏ đối đãi, vượt qua mọi tướng, đó mới là thân to lớn, thân đó là thân gì? là pháp thân to lớn của chính mình. Thấy như vậy, là tâm thanh tịnh; còn tâm mà thấy tướng thì sao? Nghe nói tướng lớn đó, tưởng là tướng lớn, tức dính nơi tướng, là mất thanh tịnh, bị cái tướng nó che rồi. Chấp vào cái tướng thấy nghe đó, nghe nói tướng lớn, tưởng có một cái tướng to lớn gì đó bằng cả núi Tu di, thì pháp thân của mình nó bị cái tướng đó che, bị cái tưởng đó khuất lấp, đâu thanh tịnh? Ngài Phó Đại Sĩ có câu: “Có hình trọn chẳng lớn, không tướng mới là chân.” Có hình tức là thân tướng mà có hình thấy được là nó chẳng lớn, vì còn đối đãi bị thấy; cái không tướng đó mới là thật, mới là lớn. Do đó chúng ta nghe nói Phật có ba thân, pháp thân, báo thân, hóa thân, cũng dễ mắc kẹt. Tổ Lâm Tế có đoạn nói về ba thân như sau: “Trên tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là ngôi nhà Phật pháp thân của ông. Trên tâm niệm vô phân biệt sáng suốt đó là ngôi nhà Phật báo thân của ông. Trên tâm niệm vô sai biệt sáng suốt đó là ngôi nhà Phật hóa thân của ông. Ba thân này là người hiện nay đang ở trước mặt nghe pháp của ông đây.” Chúng ta nghe nói Phật có ba thân, tưởng là có ba cái thân, một cái thân là pháp thân, một cái thân là báo thân, một cái thân là hóa thân. Nếu hiểu kiểu đó thành ra một người có ba ông Phật, hoặc một ông Phật mà có ba cái thân thật, không biết thân nào là ông Phật đó? Đây là mắc kẹt trên ngôn ngữ. Ngài Lâm Tế nói rõ, ba thân này là người đang nghe pháp trước mặt của ông ở đây chứ không đâu khác, người đó có hình tướng gì? Ngộ được người đang nghe pháp đây, và sống được với con người đó, đầy đủ tất cả công đức là thành tựu báo thân; khi thành tựu được công đức đó thì, tùy duyên mà mình ứng dụng ra, đó là hóa thân, Đây là phá cái chấp ba thân ở trên danh tướng, để cho người soi trở lại tự tâm chính mình, thấy như vậy là tâm thanh tịnh, chấp tướng thì không thanh tịnh. Đến đây là thân, cõi đều phá hết, cõi nước trang nghiêm cũng không có thật để trang nghiêm, thân cũng không có thật thân lớn, mới gọi là thân lớn, tức hiển bày pháp thân vô trụ chính mình rõ ràng rồi còn gì nữa! Thân cõi đều bặt, ngay đó pháp thân vô trụ hiện sờ sờ. Trái lại nếu ngay đây có một niệm phân biệt thì sao? Nếu nghe nói pháp thân thanh tịnh và nghe nói trang nghiêm cõi nước, liền khởi cái ý niệm dơ sạch, chính ngay đó hết trang nghiêm rồi. Còn dứt niệm dơ sạch thì ngay tâm đó là tâm thanh tịnh, đó là cõi Phật trang nghiêm. Như vậy để kết lại phần này, xin nhắc lại bài kệ của Sơ Tổ cho nhớ.

    Chân như việt tam giới,                  Cấu tịnh bổn lai vô.

    Năng nhân khởi phương tiện,    Thuyết tế cập thuyết thô.

    Không giới vô hữu pháp,                Thị hiện nhất luân cơ.

    Bổn lai vô nhất vật,                         Khởi hữu lưỡng ban hồ.

    Tức là “Chân như ngoài ba cõi. Nhơ sạch xưa nay không” cái chân đó vượt ngoài ba cõi, Xưa nay không có dơ không có sạch, đừng có mắc kẹt niệm dơ sạch.

    “Năng Nhân khởi phương tiện, Nói tế và nói thô.” Năng Nhân chỉ cho Phật. Phật gọi là Năng Nhân Ngài khởi phương tiện nói tế nói thô, sở dĩ nói thân này đẹp, thân kia xấu là dùng phương tiện để dẫn dắt chúng sanh thôi. Bởi vì chúng sanh ưa đẹp, ghét xấu, Ngài phải nói có cái thân tốt đẹp, sáng ngời phóng hào quang họ mới lo tu, mới chán bỏ thân này. Như Phật nói cái báo thân của Phật cao cả ngàn thước, đầy đủ muôn công đức trang nghiêm tốt đẹp, người nghe liền thích; đó là phương tiện để dẫn dắt người thôi.

    “Cõi không không có pháp, Thị hiện một vòng tròn.” Trong cõi không nó không có một pháp thật nào hết, nhưng tạm thị hiện một vòng tròn, là chỉ cho một vầng trăng sáng, cũng là tạm bày thôi, chứ trong đó nó không có tướng, cái chân thật này nó có hình tướng gì?

    “Xưa nay không một vật, Há có hai thứ sao?”, trong đó xưa nay vốn không có một vật gì, thì có báo thân, có hóa thân gì nữa?  Đó là cái phương tiện, chúng ta phải khéo thấy trở lại pháp thân vô tướng, đó mới là chỗ chân thật. Chính pháp thân chân thật đó, nó không có hình tướng, không có một vật gì, thì nó có chỗ nơi gì để ở? Trang nghiêm cõi nước tốt đẹp để cho ai ở? Trong kinh Duy Ma Cật có nói: “- Sở dĩ Bồ Tát nhận lấy cõi nước trang nghiêm tốt đẹp là vì chúng sanh”, vì để độ những chúng sanh theo căn cơ, sở thích của họ, nếu muốn tốt đẹp thì hiện ra cõi Cực lạc, nhận cõi Cực lạc, ai thích cõi tốt đẹp trang nghiêm thì tự nguyện sanh về cõi Cực lạc, người trí phải thấy lại chỗ chân thật vô tướng, chỗ đó mới là chỗ chân thật, chứ đừng mắc kẹt trong tướng, mới là mở sáng con mắt Bát Nhã của mình. Để thấy ý nghĩa trang nghiêm tịnh độ là như vậy đó.

     

  • 13. PHƯỚC VÔ VI THÙ THẮNG

    CHÁNH VĂN:

    11. PHƯỚC VÔ VI  THÙ THẮNG

    - Này Tu Bồ Đề! Như số cát có trong sông Hằng, rồi số sông Hằng bằng với số cát như thế, ý ông nghĩ sao? Số cát của những sông Hằng đó có phải nhiều chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Chỉ những sông Hằng thôi, còn vô số, huống nữa số cát của những sông Hằng đó.

    - Này Tu Bồ Đề! Nay ta nói thực cho ông rõ, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ, đem bảy báu đầy cả thế giới Tam thiên đại thiên bằng số cát của những sông Hằng đó, dùng để bố thí, được phước nhiều chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ, đối trong kinh này, cho đến thọ trì bốn câu kệ…, vì người khác mà nói, thì phước đức của người này hơn cả phước đức của người bố thí trước.

    GIẢNG

    Đây nói về phước vô vi, phước này thuộc về phước sống trở về với chính mình. Gọi là phước vô vi, là không có tạo tác, phước này nó thù thắng là sao? Trước là Phật gạn về cái phước bố thí bên ngoài, sau mới so sánh với cái phước vô vi vô tướng ở trong. Phật thí dụ như số cát có trong sông Hằng đó, rồi số sông Hằng bằng với số cát đó, Ngài hỏi Tu Bồ Đề nghĩ làm sao, số cát của những sông Hằng đó có phải nhiều chăng? Trước là giải về sông Hằng cho quý vị hiểu qua. Sông Hằng nói đủ là Hằng Hà, Hằng Ca, Trung Quốc dịch là “Thiên đường lai”, tức là sông này từ ở trên thiên đường mà xuống, bởi vì sao? bởi vì đây là một trong ba con sông lớn tại Ấn Độ. Do nó phát nguyên từ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn chảy xuống, tức từ trên cao chảy xuống, vốn là một con sông được dân chúng ở Ấn Độ coi rất là linh thiêng. Theo truyền thuyết của Ấn Độ, sông này trước kia vào thời xa xưa do có một vị tiên cầu nguyện với một vị ở trên trời, thì từ ở trên đầu bàn chân của vị thần Tỳ Thấp Noa, Thần Tỳ Thấp Noa này là vị thần Ấn Độ thờ, từ đó mới chảy ra, là từ trên trời chảy xuống, cho nên gọi là Thiên Đường Lai, đó là truyền thuyết. Bởi vậy, sông này người Ấn Độ cũng gọi là Phước thủy, hoặc Phước Đức Cát Hà, là con sông có những điềm lành tốt. Một số đông người cho nước sông Hằng này rất linh thiêng, dùng nước sông này để tắm thì có thể trừ được các tội cấu. Vì vậy có phong tục người ta đua nhau đến đây tắm để rửa sạch tội. Ai có làm tội gì không biết, tới đây tắm thì rửa sạch tội hết! Hiện giờ ở bên Ấn Độ vẫn còn cái tục đó. Sông này là một sông lớn của Ấn Độ, nên cát ở sông này rất nhiều và rất mịn, lại là con sông phổ thông mọi người đều biết, Phật thường thuyết pháp gần bờ sông Hằng này, do đó mỗi khi nói đến con số nhiều, Phật thường lấy cát của sông Hằng này ví dụ, người nghe biết liền. Sau này thành thói quen và các người học Phật cũng ảnh hưởng quen, nên khi nói về số nhiều chúng ta thường nói “Hằng hà sa số”. Hằng hà sa số là số cát của sông Hằng chứ gì, thành ra một từ chỉ số lượng luôn. Trong đoạn thí dụ này có mấy lớp:

    Thứ nhất là số cát có trong một sông Hằng, lớp thứ hai là số sông Hằng bằng với số cát đó, lớp thứ ba, là tất cả số cát của bao nhiêu sông Hằng đó, thì quý vị tính thử coi chừng bao nhiêu? Phật mới hỏi:“Có nhiều không?” Ngài Tu Bồ Đề đáp: “Rất nhiều”, tính không hết rồi. Tức là, đứng trên tướng mà tính thì rất là nhiều, không thể tính hết. Phật mới so sánh, nhưng trước khi so sánh, quý vị chú ý! Phật nói: “Nay ta nói thực cho ông rõ”. Vì đây là điều không dễ tin, nên Ngài nhấn mạnh, xác định rõ ràng chứ không có dối. Phật thí dụ có người thiện nam thiện nữ đem bảy báu đầy cả thế giới tam thiên đại thiên mà bằng những số cát của những sông Hằng đó, thì quý vị hết tưởng tượng nổi, một thế giới tam thiên đại thiên tính bao nhiêu, rồi thế giới tam thiên đó bằng với tất cả số cát của tất cả các sông Hằng đó! Như vậy phước đức bố thí rất là nhiều phải không? Cho nên Ngài Tu Bồ Đề đáp:“Rất nhiều”. Song nếu chúng ta làm phước mà nghĩ rằng mình chỉ dừng ngang đó để hưởng thì sướng không? Hưởng chừng bao nhiêu đời mới hết? Phật nói: “- Nếu có người thiện nam, người thiện nữ đối với trong kinh này cho đến thọ trì bốn câu kệ, vì người khác mà nói thì cái phước này còn hơn cả phước đức của người bố thí trước nữa.” Vậy quý vị  thấy dễ tin chưa? Cho nên Phật biết trước, Ngài xác định kỹ, bởi phước trì kinh, phước diễn nói cho người nghe, đó là cái phước sống trở về với chính mình, phước đó gọi là phước vô vi, phước này mới thật lớn. Đây là lần thứ hai hiển bày phước thù thắng đó. Lần thứ nhất là bố thí bảy báu bằng cả thế giới tam thiên đại thiên, lần này thì tiến lên một từng nữa là đầy cả vô số thế giới tam thiên đại thiên, như vậy nó có ý nghĩa gì? Thấy dường như trùng lặp nhưng không phải, nó có ý nghĩa rất sâu; bởi vì ở trước là phá cái nghi chấp về thân tướng, tức là Như Lai nói: “Thân tướng mà chẳng phải thân tướng”, nên Phật mới thí dụ đó, để thấy công đức sống trở về pháp thân vô tướng nó cao quí hơn, khiến cho chúng ta quên cái thân tướng mà sống trở về với pháp thân vô tướng. Dùng ví dụ đó để cho chúng ta không chấp trên cái hữu tướng mà sống trở về với cái vô tướng, nên ví dụ một thế giới tam thiên đại thiên. Ở đây lên một từng nữa là phá cái nghi chấp về báo thân và cõi nước trang nghiêm, như đoạn trước vừa nói. Cái thân tướng mà bằng cả núi Tu Di, rồi cõi Phật trang nghiêm tốt đẹp, chỗ chấp này khó phá hơn ở trên. Thân tướng phá nó khó nhưng còn dễ; cái chấp về báo thân và cõi nước trang nghiêm mới là khó, bởi vì báo thân là từ bao nhiêu công đức tu hành mà được, về cõi nước trang nghiêm cũng vậy, mà bây giờ phá chấp vào nó thì không dễ gì, nhất là thấy mình tu hành được phước tướng công đức, công đức này do công phu tu hành nhọc nhằn của mình từ lâu. Vì vậy, đây ví dụ tiến lên một từng nữa, bố thí bảy báu cả vô số tam thiên đại thiên cũng không bằng người trì tụng và diễn nói bốn câu kệ kinh Kim Cang này, cho thấy cái phước vô vi sống trở về với chính mình nó rất sâu, khiến mọi người đầy đủ niềm tin sâu hơn, vững hơn. Nghe kỹ, chúng ta mới nhận ra có một ý nghĩa rất là vi diệu, đem bảy báu bằng vô số thế giới như vậy bố thí, mà chúng ta chỉ dừng ngang trên đó để hưởng, thì quý vị thấy nó sung sướng đến cỡ nào? Nếu dừng ngang đó hưởng thì quý vị thấy chúng ta hưởng cỡ chừng bao nhiêu kiếp mới hết? Tức sống dài dài trong vòng luân hồi này để mà hưởng cái phước đó, không biết bao nhiêu kiếp mới hết. Thấy được ý đó thì mới thấy ý sâu Phật ví dụ. Dù có phước mà ở trong vòng luân hồi thì có khổ, có vui trong đó, dù có sanh lên cõi trời vui hơn, nhưng khi vô thường đến, phước hết cũng khổ. Kinh nói khi các vị trời hết tuổi thọ thì nó hiện ra tướng ngũ suy, là hoa trên đầu héo, mồ hôi nách ra, áo quần nhơ, thân mất ánh sáng và tiết ra mùi hôi, chẳng thích ngồi tòa cũ, khi thấy hiện ra các tướng đó, thì các vị trời đó khổ lắm. Chúng ta ở đây thấy chết thường thường mà khi chết còn rất khổ, còn ở trên trời họ sống lâu, ít nghĩ tới cái chết, nên khi nó đến thì khổ vô cùng. Như vậy cái phước quá nhiều như trên, thì cứ sanh rồi chết, chết rồi sanh để hưởng cho hết cái phước này thì quý vị thấy khổ biết bao nhiêu! Giờ đây chúng ta sống trở về với pháp thân vô tướng, pháp thân vô trụ đó, là thường trụ bất sanh bất diệt, cho nên Phật nói là người trì, diễn kinh này thì phước hơn cái phước trước là vậy. Bởi vì sống trở về pháp thân chân thật của mình, là con đường tiến lên giải thoát giác ngộ, trái lại còn sanh, còn diệt, còn ở trong vòng luân hồi, thì cái nào hơn là quá rõ. Nó hơn là như vậy đó.

    Phần này, Hòa Thượng có dẫn một câu chuyện rất hay, tức một cô công chúa nhân một hôm thấy trời mưa, nước mưa nhỏ xuống dưới thềm, rồi nó nổi lên những cái bong bóng nước, cô thấy đẹp quá, cô đòi phải xâu cho cô một xâu chuỗi đó cho cô đeo. Ai làm cho được? Không được cô về phòng đóng cửa khóc, rồi không ăn không uống. Vì thương con nên ông vua ra lệnh ai xâu được xâu chuỗi cho cô công chúa đó, ông sẽ thưởng tiền rất hậu. Có một ông già đến nhận xâu được xâu chuỗi đó. Ông vua nghe rất mừng gọi vào, ông đợi trời mưa xuống, rồi ông kêu cô công chúa ra, ông nói: Cô ra đây! Những cái bong bóng nước nổi lên rồi đó, tôi thì già rồi, mắt cũng mờ, thôi cô muốn cái nào vừa ý thì cô vớt lên đưa tôi, tôi xâu cho! Cô công chúa thật thà vớt lên thì nó tan, cô làm một lúc mệt mỏi, bèn chán thôi không thèm nữa. Đến chừng đó trình ông vua, vua mới lấy một xâu chuỗi thiệt đem cho. Để hợp lại ý trong này, giả sử đem chừng một tỷ các hạt ngọc bằng bong bóng nước so với hạt ngọc thiệt bằng hạt gạo thôi, thì cái nào quý hơn? Cũng vậy, bao nhiêu cái phước đức hữu vi thì cũng là phước vô thường sanh diệt? So với phước vô vi sống trở về chính mình là cái bất sanh bất diệt, tuy là diễn nói chừng bốn câu kệ thôi tức là bắt đầu sống trở về với chính mình, thì khi sống viên mãn giải thoát tức thành Phật, cái nào quý hơn? Dùng trí tuệ xét kỹ, mới thấy đầy đủ niềm tin, nếu không, chỉ bám vào cái phước hữu vi đó mà thiếu trí tuệ sống trở về với cái chân thật của mình, thì hưởng hết phước lăn lộn trong vòng luân hồi, rồi cũng tạo nghiệp nữa. Kinh nói, dù cho cái khổ đói khát, khổ bị đánh, bị đập, bị tù, bị tội, nó cũng không bằng cái khổ trong vòng luân hồi này, bởi vì tất cả cái khổ khác cũng từ cái khổ này mà ra, do luân hồi trong vòng này nên ở trong đó mới sanh ra các khổ khác, vì vậy cái khổ này gọi là “cái khổ truyền kiếp” từ đời này sang đời khác. Ở đây sống trở về pháp thân chân thật, là bắt đầu sống giải thoát cái khổ đó. Trong sử có câu chuyện:

    Thiền sư Vô Trước khi chưa đạt đạo, nghe nói Ngũ Đài Sơn có Bồ tát Văn Thù thị hiện ở trong đó, nên Ngài đi lên tìm. Nhưng lên đó, chưa thấy Ngài Văn Thù ở đâu, lại gặp ông già dắt trâu, Ngài hỏi thăm: Ở đây là ở đâu? Ông biết hang Kim Cang ở đâu không? Ông già mời vào trong nhà nghỉ, uống nước, đối đáp qua lại, sau đó được ông già cho đồng tử tiễn Sư về và nói cho Sư một bài kệ, rồi ông biến mất, Ngài Vô Trước thấy hiện ở trên mây hình Bồ Tát Văn Thù cỡi sư tử lông vàng thì mới biết mình gặp Bồ tát Văn Thù. Bài kệ như sau:

    Nhất niệm tịnh tâm thị Bồ Đề,

    Thắng tạo hằng sa thất bảo tháp,

    Bảo tháp cứu tận toái vi trần,

    Nhất niệm tịnh tâm thành chánh giác.

    ***

    Một niệm tịnh tâm ấy Bồ Đề,

    Hơn tạo hằng sa tháp bảy báu,

    Tháp báu cuối cùng nát thành bụi,

    Một niệm tịnh tâm thành chánh giác.

    Nghĩa là, một niệm mà tâm thanh tịnh chính là Bồ Đề, còn hơn tạo hằng sa cái tháp bảy báu; chúng ta tạo bao nhiêu cái tháp bảy báu đó, cũng thuộc về cái tạo tác hữu vi, nó là vô thường. Cho nên “tháp báu cuối cùng nát thành bụi”, dù nó trải qua thời gian dài, sau đó nó cũng vô thường, cũng sẽ nát thành bụi. Nhưng “Một niệm tịnh tâm sẽ thành chánh giác”. Nếu một niệm tâm thanh tịnh, đó là cái nhân Bồ Đề, cái nhân thành Phật. Vì vậy cái phước báu bên ngoài nó không làm cho chúng ta dứt hết lòng tham sân phiền não; còn một niệm tịnh tâm, nó có năng lực khiến mình dứt được phiền não, để giải thoát giác ngộ, cái đó mới là con đường chân thật, là chỗ nương tựa vĩnh viễn của mình. Bởi vậy có câu chuyện: vua Đảnh Sanh là một ông vua Chuyển luân thánh vương có phước đức rất lớn. Chuyển luân thánh vương có bốn hạng là: Thiết luân vương, Ngân luân vương, Đồng luân vương, Kim luân vương. Vị Chuyển luân thánh vương thuộc về Kim luân vương thì phước thật lớn, làm chủ bốn châu thiên hạ, khi ông vua này lên ngôi có những đội quân báu, ngựa báu, hiện đến, có ngọc nữ báu cũng hiện đến, đi đâu các nước đều quy phục, khi quy phục cả bốn châu thiên hạ rồi, ông thấy chưa đủ nữa, ông nghĩ rằng làm sao lên được cõi trời cho biết. Khi ông nghĩ như vậy, do phước báu ông cũng được lên cõi trời. Đế Thích mời ngồi cùng Ngài, khi được ngồi chung với trời Đế Thích, thì ông lại khởi niệm “sao mình không xô ông xuống mình chiếm cái tòa này luôn”. Khi ông vừa khởi niệm đó, ông mất phước rớt trở lại nhân gian, lâm bệnh, đến khi sắp chết ông gọi hết quần thần lại rồi dặn dò: “các người hãy nhớ theo cái gương của ta đây, do lòng tham không biết đủ cho nên hôm nay mới bị cái nạn khổ này, các người thấy đó để mà răn mình.” Như vậy quý vị thấy sao? Cái phước mà không có trí tuệ này, thì nó có dứt được lòng tham chăng? Có khi còn tạo nghiệp nữa. Bởi vì không có trí tuệ thấy rõ lẽ thật, lòng tham đâu có dứt được. Hiểu như vậy đó, quý vị thấy xây chùa, xây tháp bên ngoài, cái đó có phước không có chối cãi, nhưng cũng phải xây ngôi chùa, ngôi tháp ở nơi tự tâm của mình, thêm ngôi chùa đó mới là chỗ mình nương tựa lâu dài vững vàng. Bởi vì cái kia nó hết, mà ngôi chùa tự tâm còn, từ đó mình sẽ tạo phước thêm nữa, còn thiếu cái này thì những cái phước kia hết rồi, nó tuột xuống luôn. Để cho thấy, cái phước vô vi nó thù thắng, mỗi người ý thức được cái gốc quan trọng, để sống trở về với pháp thân chân thật, không phải bảo mình bác bỏ cái phước bên ngoài.

     

  • 14. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

    CHÁNH VĂN:

    12. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

    - Lại nữa, Tu Bồ Đề! Tùy nói kinh này, cho đến bốn câu kệ…, phải biết chỗ đó, tất cả trời, người, a tu la ở thế gian đều nên cúng dường như tháp miếu của Phật. Huống nữa có người hay hết lòng thọ trì, đọc tụng. Tu Bồ Đề! Phải biết người đó thành tựu pháp ít có bậc nhất trên hết. Nếu kinh điển này ở chỗ nào, tức là có Phật, hoặc hàng đệ tử tôn quý.

    GIẢNG:

    Đây là một đoạn ngắn, nhưng rất quan trọng! Nói về tôn trọng như thế nào mới đúng ý nghĩa là tôn trọng chánh giáo của Phật. Còn chúng ta thường nói tôn trọng chánh giáo, nhưng chưa đúng ý nghĩa, cho lời Phật dạy là lời vàng, nhưng cứ đem nó đọc tới đọc lui hoài, là chưa hết ý nghĩa đó. Ở đây trước nhất Phật nói tùy theo chỗ nói kinh thì nên cúng dường, coi như chỗ đó là thờ Xá Lợi, hay hình tượng Phật, tức là “ở chỗ nào mà nói kinh này thì phải biết chỗ đó tất cả hàng trời người Atula đều nên cúng dường cũng như tháp miếu của Phật.” Trước giải thích “tháp miếu” nói đủ là “tốt đổ ba”, dịch ra là cái chỗ cao, nổi bật lên, nên Trung Hoa gọi là Cao Hiển Xứ. Thường thường tháp là để tôn trí Xá lợi của Phật hoặc là các vị Alahán Thanh văn. Còn miếu là chỗ để thờ tượng Phật, mà ở đây Phật nói: khi người diễn nói kinh này cho đến bốn câu kệ thôi, thì chỗ đó tất cả mọi người phải cúng dường cũng như là tháp miếu của Phật, tức là sao? Diễn nói kinh này, tức là khơi dậy ánh sáng Bát Nhã cho người, là đem ánh sáng Bát Nhã này mồi đến cho mọi người, khiến cho hạt giống Phật không có đoạn dứt ở thế gian. Chính đó là chuyển những bộ kinh bằng những chữ nghĩa chết thành ra những bộ kinh sống, như vậy nó mới có năng lực đưa mọi người đến giác ngộ giải thoát. Chỗ đó như là chỗ tháp miếu của Phật, là như vậy. Nghĩa là chỗ nào có người diễn nói, tức là có hạt giống Phật gieo trong đó, mọi người cũng nên cúng dường. Cúng dường ở đây là sao? Cúng dường, là hướng về những bộ kinh sống nơi mình đó, để chiếu sáng trở lại nơi mình. Như vậy chúng ta thấy rõ, ngay nơi thân này nó có đầy đủ “chân thân xá lợi của Phật”, tức xá lợi thật chứ không phải xá lợi bằng xương, bằng cốt thôi; xá lợi này là xá lợi pháp thân, không phải nhọc nhằn đi cầu tìm xá lợi bên ngoài. Đây là Phật muốn nhắc mọi người, phải nghe trở lại những lời kinh sống ngoài ngôn ngữ văn tự. Cho nên ở chỗ nào nói kinh này cũng như là có tháp miếu ở chỗ đó, như vậy nói kinh không phải là nói hời hợt được, nói kinh phải soi thấu qua ý nghĩa chân thật, không thể phớt qua trên chữ nghĩa suông. Nếu hời hợt trên chữ nghĩa suông thì nó có đầy đủ ý nghĩa Như Lai nói chưa? Thấu được như vậy, người nói người nghe mới thật sự cảm thông nhau bất khả tư nghị. Người nói cũng phải soi thấu qua danh từ chữ nghĩa, đạt tới ý nghĩa chân thật. Người nghe cũng vậy, phải nghe lại những lời kinh sống nơi chính mình, đó mới là chỗ trời Đế Thích nói với Tôn Giả Tu Bồ Đề, “không nói, không nghe tức là chơn Bát Nhã” Nghe, không phải nghe trên cái âm thanh thôi, mà nghe thấu tới chân thật của mình, đó mới là khéo nói Bát Nhã và khéo nghe Bát Nhã. Chỉ một điểm diễn nói thôi, quý vị thấy ý nghĩa đã sâu xa rồi. Thêm một từng nữa, Phật nói người hay thọ trì đọc tụng thì phải biết người đó thành tựu pháp ít có bậc nhất, trên hết, nghĩa là chỉ khơi dậy đánh thức cái sức sống Bát Nhã nơi con người còn quý trọng như vậy, huống nữa bây giờ sống thật sự ở trong đó thì sao? Tức toàn thể pháp thân lộ bày, thật sự chứng nghiệm rõ ràng thì cái công đức năng lực đó còn đến chừng nào nữa! Cho nên nói thọ trì đọc tụng, nhưng thường thường đọc tụng, học thuộc lòng theo kiểu chữ nghĩa thì làm sao quý như vậy được, mà học thuộc lòng ở đây, là luôn luôn sống miên mật không có xen hở, thọ trì, đọc tụng thuộc lòng như vậy thì người đó thành tựu “pháp ít có bậc nhất trên hết”, tại sao nó ít có? Nói là ít có thì có người có, người không hay sao? Như đã nói ở trước, bởi vì ở trên thế gian này không có gì so sánh được với nó, bao nhiêu cái ở trên thế gian này có tạo tác ra đều là vô thường sanh diệt hết, còn cái này là bất sanh bất diệt, cho nên không có cái gì sánh được, ít có là như vậy đó. Hiểu được như vậy thì, chính mình đọc tụng học thuộc lòng đó, là sống trở về đó đào lấy kho báu sẵn có xài hoài không hết, không như những cái bên ngoài, xài một lúc là hết. Trong Hàn Sơn Thi có bài kệ:

    Tích nhật cực bần khổ, Dạ dạ sổ tha bảo.

    Kim nhật thẩm tư  lương,         Tự gia tu doanh tạo.

    Quật đắc nhất bảo tạng,           Thuần thị  thủy tinh châu.

    Đại hữu bích nhãn hồ, Mật nghĩ mãi tương khứ,

    Dư tức báo cừ ngôn,                 Thử châu vô giá số.

    “Ngày xưa quá nghèo khổ, Đêm đêm đếm báu người”, nghĩa là ngày xưa quá nghèo khổ lang thang, rồi cứ đi đếm của báu của người ta. Đếm của báu người ta thì sao? mà đó là chỉ cho ai? Tức lấy những lời Phật, lời Tổ đọc tới đọc lui, lấy đó làm của mình, thì không phải là lấy của báu của người ta mà đếm, rốt cuộc buông ra thì mình không có gì hết, cho nên vẫn nghèo khổ mãi.

    “Hôm nay nghĩ xét kỹ, Phải gầy dựng nhà mình”, bây giờ xét kỹ lại, lo xây dựng cho nhà mình, tạo dựng cho nhà mình. “Đào được một kho báu, Toàn là ngọc thủy tinh”, bây giờ lo xây dựng cho nhà mình, mới đào được một cái kho báu ngọc thủy tinh, nó trong suốt rất là sáng sủa.

    “Thường có lão mắt biếc, Thầm định mua đem đi”, lão mắt biếc, chỉ cho ai? Chỉ cho Tổ Bồ Đề Đạt Ma đó, ngài thầm định mua đem đi mất, Nhưng “Tôi thường báo y rõ, Ngọc này thật vô giá”, ngọc này không có giá thì làm sao mua? Đây là muốn nhắc, lâu nay mình chỉ lo đếm của báu người, lo bám theo lời lẽ của Phật, của Tổ, rồi lấy đó làm hài lòng, làm kiến giải, cho là của mình, mà thật sự là vay mượn cả. Bây giờ biết lại, mình phải khai thác, tìm lại cái sẵn có nơi mình, là cái “trí tuệ vô sư”, tức “trí sẵn có nơi mình” đó, cái đó mới là cái quý. Chính Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền là truyền chỗ đó, đó là cái không có giá, bởi vì nó vượt ngoài cái đối đãi của thế gian. Ngọc của thế gian là có thể trả giá được, vì nó có mắc có rẻ, còn ngọc này không có mắc rẻ, nên không ai trả giá được; cũng không phải cái bên ngoài nên cũng không ai đem đi được, đào được là mình sử dụng đời đời không bao giờ hết. Ngài Câu Chi ngộ được ở thiền sư Thiên Long, Ngài Thiên Long Ngài chỉ dơ ngón tay lên Ngài ngộ, sau đó Ngài ra giáo hóa, thường thường ai hỏi đến thiền thì Ngài chỉ dơ ngón tay lên thôi. Khi sắp tịch Ngài bảo chúng: “- Ta từ khi nhận được một ngón tay thiền của Hòa thượng Thiên Long tới bây giờ xài hoài không hết”. Chỉ được có ngón tay thiền thôi mà xài hoài không hết, trong khi đó chúng ta học bao nhiêu kinh điển, đầy cả một đầu nhưng vẫn còn thấy chưa đủ? Nó có lúc được có lúc không, lúc nhớ thì được lúc quên thì không, còn cái này thì xài hoài không hết, vì nó có sẵn rồi. Bởi vậy nói của báu sẵn đó mà không biết lấy ra xài, cứ đếm của báu của người, thì thật đáng thương! Xưa ông vua Chân Tông đời Đường trong lúc đi Hà Bắc đến hành cung, ông mời Thiền sư Hưng Hóa ở Tồn Tương tới hỏi:

    - Trẩm thâu Trung Nguyên gồm thâu được một hạt ngọc quý chưa từng có ai trả giá.

    Ngài Hưng Hóa nói:

    - Xin bệ hạ cho xem!

    Ông liền lấy tay vuốt từ đầu đến chân, Ngài Hưng Hóa nói:

    - Ngọc quý của đấng quân vương ai mà dám trả giá.

    Ai thấy hòn ngọc đó nó ở chỗ nào? Thường thường chúng ta nghe nói ngọc quý, tưởng đâu là hòn ngọc to nhỏ, tròn méo bằng đá qúy, nhưng ở đây ông vua vuốt từ đầu đến chân, đó là hòn ngọc quý, nó quý chỗ nào? Vuốt tới đâu thì ta cảm nhận tới đó, có thiếu chỗ nào đâu? Chính cái tánh giác sẵn có này, đó là hòn ngọc quý sẵn nơi mình mà không hay, hòn ngọc đó mới thực là hòn ngọc quý không ai trả giá được, không có mắc rẻ. Mình sống là phải sống trở về tánh giác đó. Cho nên mình thọ trì là sống trở về với  cuốn kinh chân thật đó, đọc tụng học thuộc lòng là luôn luôn sống miên mật không có gián đoạn, thì thành tựu được, chứng nghiệm được rõ ràng, đó là cái pháp ít có bậc nhất trên hết, đâu có gì hơn nó nữa! Nên có câu: “- Nếu có một pháp nào vượt hơn pháp này thì ta cũng nói như mộng như huyễn”. Có cái nào hơn nó nữa, nếu có cái nào vượt hơn nó là thuộc về tạo tác, thuộc về cái bên ngoài không thật rồi, nên có cái gì mà hơn nó thì ta nói cũng như mộng như huyễn thôi. Như vậy từ nay quý vị nghe ai nói có pháp gì cao quý hơn thì có chạy theo không? Hiểu như vậy, thì ngay đoạn này đã đầy đủ ba môn Bát Nhã, đó là Văn tự Bát Nhã - Quán chiếu Bát Nhã - Thật tướng Bát Nhã. Diễn nói là văn tự Bát Nhã; thọ trì đọc tụng là quán chiếu Bát Nhã; thành tựu ít có bậc nhất, đó là thật tướng Bát Nhã, như vậy đó là ta biết chuyển kinh, mới thật sự gọi là biết tôn trọng chánh giáo của Phật. Tôn trọng chánh giáo là như vậy đó, nghĩa là tôn trọng những lời chân thật của Phật, những lời sống của Phật. Ở đây cần chú ý thêm: có người thọ trì đọc tụng nhưng phải “hết lòng”. Hết lòng là tận tâm, chứ không phải hời hợt. Thường thường người cũng thọ trì, cũng đọc tụng, nhưng chưa hết lòng. Bởi vì sao? Tức là thọ trì nhưng cũng còn để cái khác chen vào, trái lại làm trọn vẹn trong đó thì bảo đảm thành tựu các pháp hy hữu không có nghi ngờ.

    Thêm điểm kế nữa, Phật nói rằng: “ Nếu kinh điển này ở chỗ nào tức là có Phật và có hàng đệ tử tôn quý ở đó”. Đây là điểm cần chú ý, đệ tử tôn quý tức là những vị Hiền Thánh Tăng có chỗ đó, song “ở chỗ nào” có kinh này đây? Nếu hiểu ngược lại, “chỗ nào không có” kinh này? Có chỗ nào không có kinh này chăng? Chúng ta ở đây thì có kinh này không? Quả thật có đó nhưng chưa chịu khai thác, ở đây phải hiểu cả hai mặt. Bởi vậy Lục Tổ có dạy: “Tự tâm mình tụng kinh này, tự tâm hiểu được kinh này, tự tâm mình thể nhận được cái lý vô trước, vô tướng thì ở chỗ nào cũng thường tu hạnh Phật, niệm niệm tâm không gián đoạn tức tự tâm là Phật” Tức ở chỗ nào cũng là Phật, ở chỗ nào cũng là giác, niệm niệm không gián đoạn thì chỗ nào không có? Bởi chính tự tâm mình là Phật, chỗ nào có nó ắt là có Phật, chỗ nào có tánh giác thì Phật hiện chỗ đó. Vậy ngay nơi mình ngồi đây cũng có Phật đủ hết, không chỗ nào thiếu. Đó là muốn nhắc nhở cho mình luôn luôn tỉnh giác, không để hời hợt bỏ qua chỗ nào hết, thì chỗ nào cũng có Phật, cũng là chỗ cho mình tỉnh giác. Như vậy luôn luôn soi sáng nơi chính mình thì, sẽ phát minh ra ngay ngôi nhà năm uẩn này hay là ngay nơi tháp thất đại này, nó có sẵn bộ kinh Bát Nhã sống trong đó, nó luôn luôn phóng hào quang sẵn nơi sáu cửa. Chính chỗ đó là có Phật, có đệ tử tôn quý của Phật ở đó. Phật ra đời cũng để chỉ cho người nhớ trở lại, sống trở lại với bộ kinh sống đó chứ gì! Bao nhiêu năm thuyết pháp, nói khô cổ cũng để đánh thức người nhớ bộ kinh sống đó thôi, và sau này các vị tổ, tổ cũng truyền với nhau bộ kinh sống đó. Vậy mình cung kính cúng dường lễ bái, cũng để bái bộ kinh đó, thọ trì cũng là thọ trì bộ kinh sống đó. Ngài Phó Đại Sĩ có bài kệ: “Trì kinh bốn câu kệ, Phải nên chẳng lìa thân”, không phải trì trong mấy chữ đó. “Rõ tâm, tâm là Phật, Mới thật thọ trì kinh”, thọ trì kinh là như vậy đó, luôn luôn kinh không có rời nơi thân tâm này, rõ được ngay nơi thân tâm này chính là tâm Phật; nghĩa là thọ trì bao nhiêu kinh điển gì, là luôn luôn soi sáng chính nơi tâm mình, thấy rõ chính tâm mình là Phật, đạt được cái tâm sáng suốt đó, mới thật là người biết trì kinh. Trì kinh như vậy mới thật là người có công đức bất khả tư nghì. Nếu chỉ đọc suông qua vậy thôi thì công đức hơn người kia, làm sao mà tin nổi, phải không? Tóm lại, nếu mình không mở sáng được con mắt Bát Nhã ở nơi mình, thì tu hành cũng quờ quạng trong đêm tối. Quờ quạng trong đêm tối, có khi cũng sụp hầm luôn. Còn mở sáng Bát Nhã thì ngay nơi gót chân mình đây, là mình bước từng bước đạp trên đất Phật, vậy thì mỗi bước đi của mình là mỗi hoa sen nở! Không chỉ có bảy hoa sen nở như Phật đản sanh thôi. Vậy bất khả tư nghì chính là như vậy, vì khi chúng ta mở sáng mắt Bát Nhã rồi thì, từng cử chỉ, từng hành động của mình đều từ trong ánh sáng Bát Nhã tỏa ra, không phải mỗi bước, mỗi bước hoa sen nở hay sao! Hiểu như vậy, giả sử có người đem một cái hộp xá lợi, rồi bộ kinh Bát Nhã đến, mọi người sẽ lấy phần nào? Trong kinh Đại Bát Nhã có một đoạn, Phật bảo trời Đế Thích:

    - Trong thế giới tam thiên đại thiên này đựng đầy xá lợi làm một phần, rồi một bộ kinh Bát Nhã làm một phần, thì đối với hai phần này ông lấy phần nào?

    Trời Đế Thích thưa:

    - Con thà lấy kinh Bát Nhã này, song chẳng phải con chẳng kính xá lợi Như Lai, mà do vì Bát Nhã mới có xá lợi, cũng do Bát Nhã huân tu nên xá lợi mới được cúng dường, vì vậy con lấy kinh mà chẳng lấy xá lợi.

    Ý nghĩa rất rõ ràng, xá lợi Phật không phải chẳng tôn kính mà muốn nhấn mạnh, cần biết cái nào là gốc. Phật cũng từ nơi ngộ được, sáng được Bát Nhã đó, rồi sống được ở trong đó trọn vẹn mới thành tựu quả Phật, mới có xá lợi ngày nay để cho người trời cung kính cúng dường. Biết như vậy, chúng ta khéo xoay trở lại ánh sáng Bát Nhã đó, để sống dần dần trọn vẹn, đầy đủ thì cũng sẽ là một vị Phật, cái quý trọng là chỗ đó. Cho nên ở đây mới nói, kinh này ở chỗ nào, là ở đó có Phật và hàng đệ tử tôn quý của Phật. Nói rộng ra, chúng ta phải làm thế nào để làm sống dậy những lời của Phật Tổ, để khiến cho chánh pháp được truyền mãi. Muốn vậy, phải khéo thực hành, nghe rồi soi sáng lại mình để mở sáng trí Bát Nhã nơi mình, đó là làm cho hạt giống Phật được tiếp nối trên thế gian, không bao giờ mất, như vậy mới đúng theo lời dặn dò của Phật là: “Các ông phải khéo hộ trì, đừng để chánh pháp đoạn dứt!” Mà sự thật cái này là cái sẵn có nơi mình, không có hình tướng gì, cũng không do ai tạo tác, thì có bao giờ nó mất đâu? Sở dĩ Phật nói đoạn dứt đó là sao? là bỏ quên nó, mê nó thôi. Hiểu như vậy, chúng ta có đầy đủ niềm tin, tất cả mọi người, ai ai cũng đều có đủ hết, cho dù khi Phật pháp mất bóng trên thế gian này, nó cũng không mất đi đâu. Chỉ do lúc đó cái mê nó quá dày, không có ai khơi dậy, nếu trong đó có ai được thức tỉnh trở lại, rồi nhắc nhở đến những người khác thì nó cũng có đầy đủ. Phật nói khi Phật pháp bị diệt mất hết trên thế gian này, qua thời đức Phật khác ra đời, thì Ngài cũng nhắc lại, rồi cũng đánh thức cái sẵn có của con người vậy thôi, chứ có lúc nào mất thiệt đâu? Do đó, chúng ta không sợ thiếu, không sợ mất, chỉ sợ mình không chịu nhớ, chịu giác đó thôi; chịu nhớ chịu giác lại thì lúc nào, ở nơi nào cũng đều có đủ khỏi phải chạy đi đâu tìm. Tóm lại, tôn trọng chánh giáo là phải biết làm sống dậy lời của Phật bằng sức sống chân thật nơi chính mình, vì có đánh thức khơi dậy cho mọi người nhớ việc ấy thì mới thực sự biết sống ý nghĩa, biết Phật pháp là tột quý. Chỉ chấp theo trên hình tướng, nhiều khi nói tôn trọng mà thành ra phỉ báng lúc nào không hay. Vì hiểu sai đi thành ra phỉ báng. Từ những chữ nghĩa chết, từ các bộ kinh bằng giấy bằng mực đó, chúng ta sống lại được ngay nơi chính mình, thì mới có sức sống sáng tạo; còn nếu mình chỉ học được bao nhiêu chữ nghĩa đó, thì mình nói lại bao nhiêu đó thôi; có sức sống chân thật, thì tuỳ hoàn cảnh, tuỳ nhân duyên mình ứng dụng ra nó linh động chứ không mắc kẹt khuôn mẫu chết.

    Trong nhà thiền có câu chuyện: hai chú tiểu sa di ở hai thiền viện gần bên nhau, thường thường buổi sáng chú tiểu bên Thiền viện A đi ra ngoài thì chú tiểu bên Thiền viện B cũng đi ra, hai chú gặp nhau để lý luận thiền. Một hôm chú tiểu bên thiền viện A đi ra gặp chú tiểu bên thiền viện B hỏi:

    - Nay huynh đi đâu?

    Chú tiểu bên thiền viện A đáp:

    - Chân tôi bước đâu thì tôi đi đó.

    Chú tiểu bên thiền viện B không biết làm sao trả lời. Bí. Trở về thưa với ông thầy, ông nói:

    - Sao con dỡ quá vậy, sao không hỏi lại là “nếu không có chân thì sao?”

    Chú tiểu đó hớn hở rình, bửa sau thấy chú tiểu bên thiền viện A đi ra, chú liền hỏi:

    - Bửa nay huynh đi đâu?

    Chú tiểu bên thiền viện A đáp:

    - Gió thổi đâu tôi đi đó.

    Chú kia cũng bí luôn, học được có câu kia thôi, nên không trả lời được, về thưa lại với thầy.

    Ông thầy nói:

    - Nữa, con cũng dỡ nữa rồi, hãy hỏi lại: “nếu không có gió thì sao?”

    Chú hớn hở bửa nay nắm chắc, rình bữa sau chú kia đi ra chú  hỏi:

    - Bửa nay huynh đi đâu?

    Chú kia nói:

    - Tôi đi chợ mua rau.

    Vậy thua luôn lần nữa!!!

    Đó là nói lên ý nghĩa, người thật sống, có sức sáng tạo từ bên trong ứng dụng ra, còn người học lại thôi, cho nên học được câu nào nói câu đó, hết câu đó thì không biết gì để nói nữa. Chỗ này cũng vậy, chúng ta học trong kinh điển thì đó là lời chữ của Phật Tổ nói, chúng ta phải soi sáng lại nơi mình để thấy được cái chân thật đó ngoài chữ nghĩa, ngay nơi mình, sống trong đó rồi tuỳ chỗ ứng dụng ra linh động, nhưng không sai với ý Phật Tổ. Dụ như ban đầu Phật ở trên hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên khai thị, ngài Ca diếp ngộ mỉm cười; sau các thiền sư cũng ngộ được chỗ đó, nhưng các ngài lại không bắt chước đưa cành hoa sen lên, mà có khi các ngài giơ cây phất tử lên, hoặc ngài Câu Chi đưa ngón tay lên, như vậy cũng không sai với ý đó. Chúng ta không có cái sức sống này, nghe đâu bám vào đó, có được một số kiến thức, hiểu biết được một số lời của Thế Tôn, lời của Tổ, có bấy nhiêu dùng hết thì thôi, có khi dùng bắt chước không đúng chỗ nữa. Nghe lời Phật Tổ nói lý thiền hay, mình học được tưởng đâu như của mình, rồi đem ra lý luận, gặp ai cũng lý luận, đâu biết Phật Tổ rõ được người đối cơ, biết trình độ căn cơ đến mức độ nào, các ngài khơi dậy khế hợp thì người kia thấy liền, ngộ liền; còn  chúng ta bắt chước đem ra để mà khoe kiến thức hơn thua, cãi lý nhau, cãi một hồi không hơn thì đổ quạu, đó là tâm đấu tranh không phải chân thật. Nói để mọi người hiểu rõ ý nghĩa, biết khai thác kho báu chân thật nơi mình, mở quyển kinh sống nơi chính mình, cái đó mới là chân thật, mới ứng dụng linh động, và mới có năng lực giúp mình thắng được phiền não, cũng như thắng được những lúc cuối cùng, thắng được sanh tử, chứ tới lúc mình chết thì không có thời giờ cho mình lý luận, lúc đó không còn nhớ để mà nói đâu, mà phải có sức sống chân thật này thì mới có đủ sức thắng được chỗ đó!

     

  • 15. ĐÚNG NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

    CHÁNH VĂN:

    13. ĐÚNG NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

    Bấy giờ Tu Bồ Đề bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn! Phải gọi kinh này tên gì? Chúng con làm sao phụng trì?

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Kinh này tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Do tên gọi đó, ông nên phụng trì. Vì cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, (đó gọi là Bát Nhã Ba La Mật).

    (Trong bản xưa thì không có câu sau, bản phổ thông  thông thường thì sau này bổ túc thêm vào, còn ý nghĩa thì sau này sẽ giải thích rõ, không có câu đó thì ý sâu hơn).

    - Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có pháp để nói chăng?

    Tu Bồ Đề bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn, Như Lai không có gì để nói.

    - Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Thế giới Tam thiên đại thiên có những hạt bụi, bụi đó nhiều chăng?

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

    - Này Tu Bồ Đề! Những hạt bụi, Như Lai nói chẳng phải hạt bụi, đó gọi là hạt bụi. Như Lai nói thế giới, chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng thể lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Tại sao? Như Lai nói ba mươi hai tướng, tức chẳng phải tướng, đó gọi là ba mươi hai tướng.

    - Này Tu Bồ Đề! Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ đem thân mạng như số cát sông Hằng… ra bố thí; nếu lại có người đối trong kinh này, cho đến thọ trì bốn câu kệ…, vì người khác mà nói, phước đó rất nhiều.

    GIẢNG:

    Trong đây có mấy điểm, thứ  nhất là hỏi đáp về tên kinh và phụng trì. Phụng trì là vâng giữ, y theo đó mà làm, mà gìn giữ. Trước tiên ngài Tu Bồ Đề bạch Phật thưa hỏi về tên kinh, ngài nói: “- Bạch Thế tôn, phải gọi kinh này tên là gì? Chúng con làm sao mà gìn giữ?” Phật nói tên là “Kinh Kim Cang bát nhã ba la mật, do tên gọi đó ông phải phụng trì”. Kế đó Phật nói: “- Cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật đa, tức chẳng phải bát nhã ba la mật đa”. Đoạn này có hai ý:

    Một là, tiếp ở phần trên, Phật đã khen ngợi kinh này rất là sâu xa, rất là quý trọng, cho nên kinh này ở đâu thì có đức Phật và các đệ tử lớn tôn quý của Phật ở đó, nhưng cũng chưa nói kinh này là gì, chỉ nói ở đâu có kinh này thì có Phật và các đệ tử lớn ở đó, như vậy kinh gì vẫn chưa biết tên. Nếu với người lanh lợi trực nhận thì dễ rồi khỏi nói, nghe nói kinh này thì biết là “kinh gì” rồi, nhưng bây giờ muốn giữ gìn nó để lưu thông, để dạy cho người thì sao? Nói kinh này mà không biết là kinh gì làm sao chỉ dạy cho người đây? Làm sao để lưu thông? Chẳng lẽ nhận được rồi im lặng hoài sao? Nên ở đây ngài Tu Bồ Đề mới hỏi tên kinh, để cho thấy, tuy chỗ kinh chân thật đó không có tên, mà phương tiện mở bày cái tên để dẫn dắt cho người, nhân cái tên đó đạt được lý ngoài tên, vì vậy “không hoại giả danh mà bày thật tướng”, mình không phá hoại hết những cái giả danh đó, nhưng không kẹt trên cái giả danh, thấu suốt qua cái giả danh đó thấy được cái lý thật thì đó là người khéo léo, chứ còn gạt bỏ hết nó thì mình không biết lấy gì để học.

    Hai là, từ trước đến đây đã lý giải ý nghĩa hàng phục và an trụ rõ ràng, tức là trước đã phá bên ngoài không có cõi nước để mình bám lấy trang nghiêm, mà trang nghiêm tự tâm, tức không có pháp để được; cho đến trong thân mình cũng không có cái thân tướng thật để nương tựa; ngoài không có gì bám, trong không có chỗ nương, tất cả không có chỗ nào để mình khởi niệm được hết, vậy thì ý nghĩa hàng phục tâm và an trụ tâm quá rõ! Cho nên đến đây hỏi tên kinh để tổng kết lại, và khiến cho mình nhảy qua một cái nhảy nữa, đi sâu thêm để vâng giữ phụng trì, sống liên tục không gián đoạn, mình thể nghiệm ngay thật nơi chính mình. Đây cũng là một ý, mình sạch hết những cái nghi chấp thì bát nhã  hiện ra cụ thể. Cho nên sau phần này, ngài Tu Bồ Đề mới cảm ngộ sâu, ngài rơi lệ khóc lóc, tán thán là hy hữu. Ở đây Phật đáp tên kinh là Kim Cang Bát nhã ba la mật đa, quý vị nghe tên kinh rồi có cảm được điều gì không? Đúng ra, sau khi nghe tên kinh đó, nếu hiểu sâu thì giống như một lưỡi dao nó cắt đứt tất cả mọi cái dây dưa của mình. Kim Cang Bát nhã ba la mật đa, là trí tuệ rốt ráo tột cùng, trí tuệ đó nó đã rốt ráo tột cùng, mà còn bén chắc như kim cương nữa, thì có gì đụng đến nó được? Ngay một tên kinh là nó cắt dứt tất cả mọi thứ để mình rủ sạch hết, không có chỗ nào để bám vào. Trước có dẫn câu chuyện của ngài Tào Sơn nói về cây kiếm không mũi đó, ngài nói rằng, đối với cây kiếm này người gặp cũng đứt đầu mà người không gặp cũng chết, không có chỗ nào để đụng được. Để chỉ trí tuệ này là trí tuệ Kim Cang bén sắc, không có chỗ để cho mình suy nghĩ, mình duyên đến được. Khi sạch hết những tình chấp đó, mới thật là bát nhã hiện tiền. Nhưng ở đây Phật lại bảo: “do tên đó mà phụng trì gìn giữ”. “Tên đó” có ý nghĩa gì? Giữ gìn cái tên Bát nhã ba la mật là sao? Nó có ý nghĩa rất là sâu xa, bởi vậy Phật nói tên đó rồi, ngài sợ mọi người sẽ kẹt trên cái tên đó, cho nên ngài nói ngay: “Bát nhã ba la mật, tức chẳng phải Bát nhã ba la mật”, vừa nói tên xong là ngài phủ nhận ngay. Muốn chỉ cảnh giới của chư Phật là cảnh giới tự chứng của mỗi người, không phải là chỗ để cho tình thức chen vào đến được, mà muốn đến được cảnh giới này phải đến bằng trực giác, không phải bằng suy nghĩ phân biệt. Đó là ngài muốn đánh thức mọi người phải đạt được ý ngoài lời, cho nên nói bát nhã ba la mật, ngài liền nói “bát nhã ba la mật tức chẳng phải bát nhã ba la mật” Nếu nghe cái tên đó, rồi bám vào tên đó thì quả tang là “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan”. Nghe nói bát nhã ba la mật rồi bám vào tên đó, đọc tới đọc lui hoài, nói “tôi phụng trì đó!”, oan cho Phật quá! Phương tiện mà ngài lập tên này thôi, chứ ý của ngài là muốn cho mình nhận được, đạt được cái gì ngoài tên đó, chứ không phải nằm ở cái tên, “ý sâu” là đó. Hiểu được chỗ đó, mới thấy chỗ mình phụng trì, là phụng trì chỗ đó, chứ không phải nắm cái tên rồi đọc tới đọc lui, mà chính “chỗ đó” mới là chỗ sống của bát nhã; nếu nói phụng trì bát nhã là đọc tên bát nhã ba la mật đa gọi là phụng trì, thì đó là bát nhã chết. Nếu ai cũng nói tôi đọc Bát nhã là tôi phụng trì, thì làm sao thấy được Bát nhã chân thật này? Nhảy qua được chỗ đó, mới thấy được chỗ Bát nhã chân thật và chính chỗ đó mới là Bát nhã sống. Bởi quyển kinh Bát nhã này, đến một thời gọi là đại tam tai, là kiếp hoả, thì kiếp hỏa đó cháy tiêu hết cả thế giới này, lúc đó quyển kinh này còn không? Lấy chỗ nào phụng trì? Rõ ràng chỗ phụng trì là chỗ chơn thật nhảy ngoài tên đó, hiểu như vậy mới hiểu được chỗ sống của Bát nhã, dù cho thế giới này tan hoại, bao nhiêu bộ kinh bằng giấy bằng mực này cháy tiêu hết, nhưng “cái kia” vẫn còn, mình sống chỗ này rồi, mình đi chỗ khác vẫn ứng dụng ra, thì Bát nhã luôn luôn không gián đoạn, phụng trì như vậy đó, mới thật phụng trì Kim Cang Bát nhã. Hiểu rõ chỗ này mới cảm thông trong nhà thiền, có lúc các ngài nói, mình mới nghe qua thấy rất nghịch lý, như nói rằng: “Trương Công uống rượu mà Lý Công say”, tức là ông Trương uống rượu mà ông Lý say, hay “trâu đất Hoài ăn cỏ mà trâu đất Ích no bụng”, nếu nghe với tâm hồn luận lý lô gích thì không thể nào chấp nhận được. Ông Trương uống rượu mà ông Lý say, cũng như giờ “tôi ăn cơm mà quý vị no” chịu nỗi không? hay như bây giờ “trâu Đức Trọng ăn cỏ mà trâu Đồng Nai no” nói như vậy là ý sao? Với thế gian theo nếp suy tư quen, thì luận lý đâu đó rõ ràng, một nói một, hai nói hai, có lô gích đàng hoàng, nói kiểu này không thể chấp nhận được; nhưng với người hiểu đạo, với người tu thiền thấu suốt càng cảm sâu ý nghĩa vi diệu trong đó: nói đây mà ý kia, nói Bát nhã mà chẳng phải Bát nhã, phải thấy ngoài lời, như vậy mới thật sự là hiểu sâu và khi cảm sâu được lẽ thật đó rồi, mới thấy rõ mọi ngôn ngữ ở thế gian, mọi văn tự đều không thực, không có gì cố định. Có vậy chúng ta không có chết trên chữ nghĩa, trên ngôn ngữ, mà từ trong chữ nghĩa ngôn ngữ đó mình sống dậy vươn lên; còn nói gì mà chấp chặt vào đó, là tự đóng khung mình trên chữ nghĩa. Ở đây phá không cho bám chặc trên chữ nghĩa. Lục Tổ có một đoạn ngài nói rằng: “- Hoặc người đại thừa, hoặc người Tối thượng thừa nghe nói kinh Kim Cang, vì tâm tỏ ngộ nên biết bản tánh tự có trí Bát nhã; vì tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên chẳng nhờ nơi văn tự”, tức là người đại thừa hoặc người tối thượng thừa nghe nói kinh Kim Cang tâm liền tỏ sáng, biết được, nhận được rõ ràng trí Bát nhã này có sẵn nơi bản tánh của mình, vì tự có trí Bát nhã từ nơi bản tánh của mình đó, cho nên từ đó mình ứng dụng ra, thường quán chiếu luôn luôn thì đâu có nhờ bên ngoài, đó là vượt qua văn tự, sống ngay với Bát nhã của tự tánh mình. Một đoạn khác ngài nói rằng: “- Tôi ở chỗ Hòa thượng Nhẫn một phen nghe liền ngay lời nói  mà tỏ ngộ, chóng thấy bản tánh chân như.” Một phen nghe Ngũ Tổ nói, liền tỏ ngộ thấy được tự tánh chân như của mình, chứ không dính trên chữ nghĩa. Quý vị nghe có nhảy qua được chữ nghĩa chưa? Hiểu được như vậy, mới thấy được “Bát nhã tức chẳng phải Bát nhã” nghĩa là khiến cho mình ngay nơi đó nhảy qua, để sống thẳng nơi chính mình, không dính trên chữ nghĩa. Bởi vậy, Bát nhã bỏ lại đằng sau mọi lý luận, bất chấp mọi lý luận, mặc cho người ta nói lý luận phải chặt chẽ thế này, thế kia, nhưng các ngài sống được cái này rồi, các ngài bất chấp. Thiền sư Ba Tiêu có lần thượng đường nói rằng: “- Các ông có cây gậy ta cho các ông cây gậy, còn các ông không có cây gậy thì ta đoạt cây gậy của các ông”. Nói vậy nghe có lý luận như thế gian không? Có gậy rồi còn cho chi nữa? Còn không có gậy thì  giựt cái gì? Nhưng ngài nói được như vậy, mà chính người thấm sâu được thiền thì thấy ý nghĩa thật là sâu xa. Có cây gậy thì cho ông nhận được liền, nếu hoàn toàn không có thì cho ông cũng không có xài gì được, chính ông có mới cho; còn không có thì lấy; bởi vì sao? Nếu không có, mà lấy thì ông không có gì để cầu nữa, nếu còn có chỗ để cầu bên ngoài được nữa thì dư, khiến người quên ý niệm Được – Mất, cho nên nói là phi lý mà hợp lý, còn mình quen theo suy nghĩ hợp lý thường tình thì nó là phi lý. Bởi vậy trong nhà thiền có câu chuyện: Có một vị hoạ sĩ người Nhật bản, ông này có tài vẽ trúc rất là xuất thần, rất tuyệt kỹ; một hôm có một người đặt ông vẽ một tấm bình phong bằng rừng trúc, ông đem hết tuyệt kỹ của mình vẽ một bức tranh rừng trúc tuyệt vời, nhưng ông vẽ toàn màu đỏ. Khi khách hàng tới nhận, trầm trồ khen ngợi hết lời cám ơn, nhưng sau đó vị ấy cũng thắc mắc hỏi: Xin lỗi ngài, trúc mà sao nó lại màu đỏ như vậy? Ông hoạ sĩ hỏi: - Vậy chứ theo ông thì màu gì? Ông khách nói: Hẳn là màu đen. Ông hoạ sĩ nói bâng quơ: Có ai thấy lá trúc màu đen bao giờ không ạ? Đây là câu chuyện có ý đánh phá cái nhìn theo nếp cố hữu của mình lâu nay, lâu nay mình theo thế gian là vẽ trúc màu đen, ai vẽ màu đỏ bao giờ? Cho nên hợp lý là phải vẽ màu đen, nhưng sự thật lá trúc có bao giờ màu đen đâu? Ở Đà Lạt thì thấy trúc huyền, thân cây màu đen nhưng lá trúc vẫn màu xanh, đâu có đen? Nhưng do nếp suy nghĩ quen của mỗi người, vẽ bằng mực đen thì màu đen nó hợp lý, còn vẽ lá trúc đỏ thì thấy nó lạ đời, không hợp lý; Ở đây đánh tan tư tưởng bám chặt theo suy nghĩ thường tình đó, thì mới thấy được cái lẽ thật lá trúc nó không phải đen hay đỏ, như vậy chính cái nghịch lý đó mà mình thấu qua được thì nó hợp lý; còn mình cho là hợp lý theo thường tình thì nó lại là nghịch lý, cho thấy nó không cố định, mà tuỳ theo cái chấp, cái quan niệm thành kiến của mình mà nó thành, lâu nay mọi người đều nhìn như vậy, rồi mình cũng nhìn theo đó, cho nên thấy ai nói khác đi thì mình cãi, tưởng đâu như là đúng mà sự thật có đúng đâu? Do đó Phật đánh thức cho mình phải vượt qua những chữ nghĩa đó, mới thấy được lẽ thật, sống được lẽ thật, mới thấy được Bát nhã chẳng phải là Bát nhã. Đó là một đọan.

    Qua đoạn thứ hai, gạn hỏi về pháp để nói, Phật bảo là:“Tu Bồ Đề! Như Lai có pháp để nói chăng? Ngài Tu Bồ Đề thưa: “- Bạch Thế tôn! Như Lai không có gì để nói.” Như vậy là sao? Vừa nói tên kinh xong, Phật cũng sợ mình chấp, hỏi tên kinh, Phật bảo là “Kinh Bát nhã ba la mật”, vậy đã có tên, tức mọi người liền đinh ninh là Phật có pháp để nói, nên mới đặt tên, tức chấp “có pháp để nói”, nên ngay đây ngài gạn lại liền: “- Như Lai có pháp để nói chăng?” để phá chỗ đó, hoặc có người lại chấp chính đây là cảnh giới riêng của chư Phật, Bát nhã là thuộc về Phật, chỉ một mình Ngài được thôi, cho nên khó nói. Do đó Phật gạn lại để cho thấy đây chính là chỗ chung chứng của tất cả mười phương chư Phật, chứ không phải của riêng Ngài, cũng là chỗ sẵn có của chúng sanh chứ không phải của riêng ai, hoặc của chư  Phật còn mình chẳng có, mà ai cũng có đầy đủ vậy thì có gì để nói? Ở trước đã dẫn rõ, tất cả mười phương chư Phật cũng như pháp Vô Thượng bồ đề của chư Phật cũng từ kinh này mà ra, vậy kinh này không riêng của ai, nên Ngài không có pháp gì riêng để nói. Bởi vậy trong kinh Pháp Hoa có câu: “- Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng”, nghĩa là các pháp từ xưa đến nay, thường ở nơi tướng của nó là tịch diệt lặng lẽ, mọi pháp xưa nay vốn là lặng lẽ thường trụ, không sanh diệt, sở dĩ nó có sanh diệt, có sai biệt là do “cái đầu này” mà thành ra sai biệt, chứ bản tánh của nó vốn là lặng lẽ! Ở đây cũng để nói lên, pháp này vốn lìa ngoài ngôn ngữ, ngôn ngữ không thể nói đến được; lìa ngoài tướng tâm duyên, không suy nghĩ đến được, nó xưa nay lặng lẽ như vậy thôi, không có gì để nói, chứ không phải hoàn toàn không có. Chính đây là pháp mỗi người phải tự thể nghiệm lấy, tự thầm nhận thôi, chứ không suy nghĩ đến được, cũng không phải dùng ngôn ngữ mà diễn tả được. Đó là ngài đưa vào “nghĩa phụng trì” cho mình rồi, phụng trì là như vậy đó, tức là phải vượt thấu qua dấu vết của ngôn ngữ, chữ nghĩa, cũng như phải vượt qua dấu vết của chư Tổ. Nghĩa là, đức Phật muốn đưa mình vượt qua dấu vết của các Ngài, để cho mình tự sống dậy, không bị trói buộc bởi những khuôn khổ ngôn ngữ chết. Ngài đã không có gì để nói, thì mình bám vào đâu mà chấp? Đó là Phật đã trãi hết lòng với mình không còn giấu diếm gì nữa! Nói như vậy là hết tình rồi, còn chúng ta chỉ “phụng trì” nữa thôi! Đây dẫn thêm đoạn nhân duyên của ngài Huệ Minh sau khi đuổi theo Lục Tổ, được Lục Tổ ra khai thị câu:

    - Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?

    Ông liền tỏ ngộ, sau khi tỏ ngộ, ông hỏi thêm:

    - Ngoài mật ý mật nghĩa từ trước đến nay, còn có mật ý gì nữa chăng?

    Ông ngộ rồi, nhưng vẫn còn nghi từ trước đến giờ Phật, Tổ nói, ngoài cái mật đó, còn có mật gì nữa không? Lục Tổ bảo:

    - Khi đã nói cho ông rồi thì không phải mật. Bây giờ ông hãy chiếu soi trở lại thì mật ở bên ông.

    Rõ ràng như vậy, đã nói hết, có giấu diếm gì nữa mà nói là mật? Nhưng “mật” đó, chính ông phải soi trở lại, ông sẽ thấy cái mật ở ngay nơi ông! Ý nghĩa rất là thực tế, mọi người tưởng Phật Tổ có gì đó bí mật không nói hết, nên cứ nghi hoài, có khi hiểu được rồi mà vẫn còn nghi: “còn có cái gì nữa”, Ở đây Tổ nói rõ ràng, không có cái gì mật hết, mật là chính ở nơi mình, chính mình chưa có sáng được, chưa có tỏ ngộ, còn tưởng tượng nhiều, cho nên thành ra mật, nếu sáng tỏ rồi thì không có gì là mật, chính sẵn nơi mình đầy đủ hết. Hiểu như vậy, còn cái gì cho mình nghĩ, mình tưởng đến nữa? Có một cái gì để mình nghĩ, mình tưởng đến, thì còn có chỗ để cho mình duyên; mà còn có chỗ để duyên là trái với cái lý thật rồi. Vì vậy nói “không có gì để được”, để phá sạch hết, sống ngay với cái thật của mình thôi. Trong nhà thiền có dẫn một câu chuyện: Khi Thế tôn sắp nhập Niết bàn, ngài Văn Thù mới thỉnh Phật tái chuyển pháp luân, Phật liền quở: “- Ta trụ thế 49 năm chưa từng nói một chữ, mà bây giờ ông thỉnh ta tái chuyển pháp luân, thành ra ta đã từng chuyển pháp luân hay sao?”. Vậy Phật có chuyển hay không? Đây là đánh thức cho tất cả, phải thấu suốt qua ngôn ngữ, chữ nghĩa đó; Phật nói bao nhiêu năm đó, cũng cốt đánh thức cho người sống trở về với cái thực đó chứ không có gì thật bên ngoài để ngài nói hết. Ngài xác định rõ để chúng ta không có chấp cái gì bên ngoài, mà nhân những cái đó để thấy lại nơi mình thì mới thấy được bản ý của Phật, thấy được cái ý sống đó. Người khéo léo thì ngay đó nhận ra “cái ngoài chữ nghĩa”, khi nhận như vậy rồi thì nó không thuộc về chữ nghĩa gì hết, nên gọi nó là cái gì cũng được, muốn gọi nó là “Bát nhã” cũng được, “pháp thân” cũng được, gọi là “bản lai diện mục” cũng được. Bởi vì, Bát nhã không phải là Bát nhã thì đâu có cố định nơi một danh từ, nhưng cốt là thấy được “cái thật” đó, chứ đừng có bám trên cái tên, đừng có kẹt trên cái tên. Do đó mà ngài Phó Đại Sĩ có bài kệ nói lên ý này:

    Danh trung vô hữu nghĩa,

    Nghĩa thượng phục vô danh,

    Trí nhân tâm tự giác

    Ngu giả ngoại cầu thanh.

     

    Tức là, “Trong tên không có nghĩa, Trên nghĩa lại không tên”, tên là tiếng gọi, như ngón tay chỉ trăng, không phải nghĩa, còn cái nghĩa vượt ngoài tên, phải thấy được cái nghĩa ở bên ngoài đó. “Người trí tâm tự giác, Kẻ ngu đuổi theo tiếng”, người trí thì ngay nơi tâm mình tự giác, tự biết tâm mình đầy đủ, còn người ngu mê thì cứ đuổi theo tiếng bên ngoài đó, rồi phân biệt, suy tư thế này thế nọ, mà không thấy được nghĩa chân thật. Như Lai không có pháp để nói là như vậy, vừa nói xong liền phá ngay.

     

    CHÁNH VĂN:

    Phật bảo Tu Bồ Đề: - Ý ông nghĩ sao, thế giới tam thiên đại thiên có những hạt bụi, thì bụi đó có nhiều chăng? Ngài Tu Bồ Đề đáp: Rất là nhiều. Phật bảo: Những hạt bụi đó Như Lai nói chẳng phải hạt bụi, đó gọi là hạt bụi; Như Lai nói thế giới, chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới.

    GIẢNG:

    Như vậy là sao? Ở trước đã nêu rõ về giáo nghĩa không thể chấp thủ, không có pháp để nói; ở đây nói thẳng cảnh giới cũng không luôn. Trước Ngài gạn hỏi về vi trần, tức là “trong thế giới tam thiên đó, có những hạt bụi, những hạt bụi đó có nhiều chăng?” Trên tướng, theo cái hiểu thông thường thì rất là nhiều, không thể phủ nhận! Như vậy, thế giới mà lâu nay chúng ta cho là có đó, là từ đâu mà có? cái gì là thế giới? làm sao chỉ ra đây? chỉ bầu trời là thế giới được không? Thế giới có chút vậy thôi sao? Cho nên nói thế giới, đâu có gì khác, chính là do những hạt bụi nhỏ nó tụ lại thành thôi. Đây nói trong thế giới có những hạt bụi, bụi đó tụ lại thành có một tướng lớn, là một thế giới. Theo khoa học bây giờ thì do những đám mây kết tụ lại thành, những quả núi to cũng do những hạt bụi kết tụ lại, chứ không có quả núi nguyên vẹn. Như vậy, thế giới là những hạt bụi kết tụ lại thì nó đâu có thật tướng cố định của nó, đâu có sẵn tự bao giờ! Ngay đây nhìn những hạt bụi dưới con mắt Bát nhã thì những hạt bụi đó cũng không thật luôn; thế giới từ những hạt bụi kết hợp lại không thật, ngay hạt bụi cũng không thật, cũng là tướng duyên hợp thôi, do những điện tử xoắn quanh, rồi chuyển động không dừng, vậy thì cũng đâu có tự tánh cố định. Từ cái nhỏ là hạt bụi, cái lớn là thế giới cũng không có thật tánh gì hết. Nếu nhìn trên tướng thì tất cả đều hiện bày đầy đủ, cho nên hạt bụi vô số; nhưng trên tánh mà thấy thì không một tướng thật gì, đó là phá ý niệm chấp trên cảnh giới, trên tướng. Nhìn trên tướng thì tất cả hiện bày đầy đủ, nhưng trên tánh thì không một tướng thật, vậy còn cái gì để cho mình chấp là có, là không? Bởi vậy ngài Từ Đạo Hạnh của Việt Nam có bài kệ nói về có, không:

    Tác hữu trần sa hữu, Là có, bụi bụi có,

    Vi không nhất thiết không. Là không, tất cả không.

    Hữu không như thủy nguyệt, Có không trăng đáy nước,

    Vật trước hữu không không. Chớ dính Có Không, Không.

    Tức là, nói có thì tất cả đều có, bụi bụi đều có hết, mỗi hạt bụi đều có đủ, còn nói không thì tất cả đều không; cho nên “có không” như trăng đáy nước, chớ có mắc kẹt chớ có dính mắc có và không, cũng như cái “không không” cũng qua luôn, như vậy mới thật sự mở con mắt Bát nhã, dứt bặt được cái thấy về có không, không có dính vào cái niệm phân biệt là có là không, thì đâu đâu cũng là đạo, đâu đâu cũng là Bát nhã hiện tiền, chỗ nào cũng là chỗ mình sáng ngời đâu có mê! Vừa mắc kẹt có không liền có mê. Cổ đức có câu: “Thanh thanh thuý trúc tổng thị chân như, uất uất hoàng hoa vô phi Bát nhã”, nghĩa là trúc biếc xanh xanh thảy là chân như, hoa vàng rỡ rỡ đều là Bát nhã, như vậy có chỗ nào để cho mình mê? Thành ra cảnh giới bên ngoài không phải là cái cảnh để cho mình mê, mà chính tại trong cái “đầu này”, nếu mình thấy cái hoa vàng mà không có khởi niệm phân biệt có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu gì hết, thì ngay đó là Bát nhã hiện tiền, đâu có mê. Chính vì cái niệm phân biệt trong đầu mà nó che mờ, thành mê, rồi mình đổ thừa cảnh này, cảnh kia nó làm chướng ngại tu không được, làm mình mê. Đó là một lối để mình trốn trách nhiệm, cứ đổ lỗi cái này cái kia, mà quên đổ lỗi mình! Nếu thấy lại mình thì hết đổ lỗi. Như vậy, khi chúng ta quên được tướng có không, bặt ý niệm có không, thì thấy cái gì cũng là Bát nhã thấy, không có gì ngoài ánh sáng Bát nhã, vậy có chỗ nào không phải là chỗ để cho mình ngộ đạo? Cho nên thấy hoa đào ngộ đạo, thấy bầy le le sáng được việc lớn, chuyện đó dĩ nhiên thôi, có gì phải nghi ngờ! Đó là một điểm, điểm thứ hai nữa, đoạn này còn phá cái “thấy về lớn nhỏ”, tức là tiến lên thêm một bước, cả thế giới to tát cũng không thật, rồi hạt bụi nhỏ cũng không thật, là dứt bặt niệm lớn nhỏ, lớn nhỏ không còn chỗ cho mình phân biệt nữa. Thấu suốt được chỗ này, khi dọc sách thiền hết nghi ngờ những chỗ nói quá sức tưởng tượng của mình bây giờ. Như nói “Tu di nhét trong hạt cải”, núi Tu di to tát như vậy mà ở trong hạt cải thì làm sao hiểu nỗi? Nhưng chúng ta tin không nỗi là tại sao? Tại trong đầu mình còn có tướng lớn nhỏ nó rõ ràng, làm sao chấp nhận được? Còn bây giờ dứt bặt được niệm lớn nhỏ rồi, thì núi Tu di lớn cũng không thật, hạt bụi nhỏ cũng không thật, hai cái cũng không thật hết, thì nhét vào nhau có gì ngại đâu. Hoặc trong kinh nói “ngồi trong hạt bụi mà chuyển đại pháp luân”, nếu hiểu như vậy thì chỗ nào chẳng chuyển pháp luân, đâu phải ngồi pháp toà cao mới chuyển pháp luân, mỗi một hạt bụi cũng để cho mình sáng tỏ việc đó. Nói theo thế gian, hồi xưa thì hơi khó hiểu, chứ bây giờ cũng không khó hiểu, cả một đại tạng kinh mà gom vào cái dĩa nhỏ, trong một cái mạch nhỏ mà chứa bao nhiêu dữ kiện trong đó, thì lớn nhỏ đâu còn cố định gì nữa, nhưng cố định là do cái chấp của mình. Hiểu vậy thì thấy trên thế gian người ta cãi nhau mình chỉ cười, có gì cố định đâu! Trong Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán có một đoạn cũng nói về lớn nhỏ này: “Cực tiểu đồng đại, Ngôn tuyệt cảnh giới, Cực đại đồng tiểu, Bất kiến biên biểu”, tức là, “Rất nhỏ đồng lớn, quên bặt cảnh giới”, cái nhỏ mà đồng với lớn thì nó mất cái tướng nhỏ, không còn cảnh giới cho mình nghĩ. “Rất lớn đồng nhỏ, Chẳng thấy mé bờ”, nó lớn mà đồng nhỏ thì mất tướng lớn luôn, đâu còn thấy mé bờ gì nữa! Như vậy quên được niệm lớn nhỏ, qua được kiến chấp về cái lớn, cái nhỏ đó, thì mới thấy rõ tâm mình nó thênh thang rộng lớn, không còn mé bờ. Cho nên không còn có cảnh giới cho mình tưởng tượng phân biệt, không còn có bờ mé gì để cho mình suy nghĩ, để cho mình duyên theo, ngay đó tâm mình thênh thang hết ranh giới gì nữa. Như vậy mới gọi là “Bát nhã vô tri mà vô sở bất tri”, Bát nhã không biết mà không có gì chẳng biết; mới nghe thì thấy không sao hiểu nỗi, không biết thì không biết thôi, mà đây không biết nhưng không có gì chẳng biết, thì có nghịch đời không? Nhưng khi hiểu được chỗ này thì nó đâu còn cảnh giới, đâu còn bờ mé gì nữa, cho nên không biết là vì không còn một tướng gì để biết nữa, song nó lại biết khắp hết tất cả, không có chỗ nào thiếu sót, chính cái không biết tất cả đó, mình mới biết tất cả; còn bây giờ biết nhiều quá, cho nên bị che, bị ngăn. Như vậy, nó không chỗ nào chẳng biết thì không có chỗ nào còn mê. Ở đây quý vị soi trở lại, khi mình còn thấy có một hạt bụi thật tức là còn một niệm mê, một niệm mê nên mới thấy hạt bụi thật, chính ngay chỗ đó là chỗ mình mê; còn nếu không thấy có hạt bụi nào thật thì còn có chỗ nào để mình mê, chỗ chỗ đều là giác hết. Khi chúng ta mê là thấy nó thật, thì chính một điểm thật đó là một điểm mê nó che mình; khi có một cái điểm thật rồi thì cái nhỏ, cái lớn nó che liền. Bởi khi thấy một hạt bụi thật thì nó có tướng nhỏ rồi, có tướng nhỏ thì nó đối với tướng lớn, hai tướng lớn nhỏ sanh thì đó là mê. Đây dẫn thêm một đoạn của Lục Tổ để quý vị hiểu rõ thêm, ngài nói: “- Tâm lượng rộng lớn giống như hư không, không có bờ mé, cũng không có vuông tròn, lớn nhỏ, không xanh vàng đỏ trắng, diệu tánh của người đời nó vốn là không, không có một pháp gì để được”. Cái diệu tánh đó nó vốn rỗng rang không có một pháp gì để được, nhưng chúng ta còn kiếm nhiều cái được quá, nên không thấy được nó; nếu cam đảm buông sạch hết thì ngay nơi mình đầy đủ không thiếu gì. Chính vì vậy, khi Lục Tổ được Ngũ Tổ kêu vào trong thất để giảng kinh Kim Cang cho ngài, ngài tỏ ngộ la lên: “- Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, Đâu ngờ tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh, Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt …” Thấy được như vậy, mới thấy suốt qua tất cả những tướng, cảnh giới, không bị cảnh giới nó che, nếu mình không thấy tướng lớn nhỏ, đó là mình đứng trên cái gì mà thấy? Đó là mình đứng trên tâm thể mà thấy, chứ không phải nói như vậy, là phá hết tất cả các tướng, không phải nói vậy là không còn tướng lớn nhỏ gì, sự thật thì vi trần cũng là vi trần, thế giới nó cũng là thế giới, cái nào đứng vững nguyên ở vị trí của nó, nhưng người sống trở về với tự tánh, ở trên tự tánh mình, trên tâm thể đó thì mình quên bặt những tướng phân biệt bên ngoài, nên không khởi niệm lớn nhỏ, chứ không phải nói như vậy rồi san bằng hết tất cả tướng. Bởi vậy, Thiền sư Huệ Minh gạn hỏi Thượng tọa Minh Nhan:

    - Nói nhiều cách đạo càng xa, nay có việc xin hỏi: Từ trước các bậc Tiên đức có ngộ hay không?

    Minh Nhan đáp:

    - Đã là các bậc Hiền Thánh Tiên đức thì ai không ngộ!

    Sư gạn lại:

    - “Một người trở về nguồn chơn thì mười phương thế giới thảy đều tiêu mất”, nay ngọn núi Thiên Thai trước mắt hãy còn nguyên sao nói tiêu mất được?

    Xưa giờ biết bao nhiêu Tổ, bao vị thiền sư đã ngộ đạo, sống trở về nguồn, vậy thì ngọn núi trước mặt mình sao cũng còn nguyên đó? Đây nói tiêu mất không phải là phá hoại các tuớng đó, mà là dứt bặt những niệm chấp trước, không còn thấy có một tướng gì thật, nghĩa là sống được trở về nguồn rồi thì trước mắt không còn một tướng gì thật che đậy, gọi là tiêu mất, là tiêu mất với nguời giác ngộ, chứ không phải tiêu mất là tiêu diệt hết các tướng ở bên ngoài. Hiểu như vậy thì không có phá hoại tuớng thế gian, rõ ngay nơi tướng sanh diệt tức phi sanh diệt, ngay sanh diệt tức vô sanh. Trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ:

    “Nhất thiết pháp bất sanh,

    Nhất thiết pháp bất diệt,

    Nhược nhơn như thị giải,

    Chư Phật thường hiện tiền.”

     

    Tức là, “Tất cả pháp chẳng sanh, Tất cả pháp chẳng diệt, Nếu người hiểu như thế, Chư Phật thường hiện tiền.” Hiện chúng ta thấy tất cả pháp nó sanh diệt rõ ràng đây, làm sao nói tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt được? Tức ngay nơi mọi tướng này bặt được niệm sanh diệt, thì thấy các pháp như nó là nó, không sanh diệt gì trong đó, đó là cái thấy giác ngộ, chính cái thấy giác ngộ là Phật tâm của mình, Phật hiện tiền là như vậy. Đây là một đoạn phá về vi trần thế giới, một đoạn nữa là phá về 32 tướng. Phật gạn thêm một lần nữa:

    CHÁNH VĂN:

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng.

    Ngài Tu Bồ Đề thưa: - Bạch Thế Tôn chẳng được, chẳng thể lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai. Tại sao? Vì Như Lai nói ba mươi hai tướng, tức chẳng phải tướng, đó gọi là 32 tướng.

    GIẢNG:

    Ở đây là tiếp qua đoạn trên, đoạn trên là khiến chúng ta quên bặt cảnh giới bên ngoài, đến đây khiến mình quên bặt ngay thân tướng hiển hiện đây mà sống trở về với pháp thân vô tướng, vô trụ. Bởi ở trước nói tướng vi trần, tướng thế giới đều là không thật, dứt bặt hết không cho mình bám; bây giờ ngay đây nhìn ngược trở lại, ngay nơi thân ba mươi hai tướng của Phật có phải là Phật thật chưa? Nếu chỉ dừng ở đó thì cũng bị tướng nó che mờ! Ở phần trước thì nói chung chung là thân tướng thôi, ở đây nói thẳng “ba mươi hai tướng”, nghĩa là ngay nơi thân ba mươi hai tướng tốt đẹp của Phật đó, cũng không phải là thân tướng thật, chính thân tướng tốt đẹp đó cũng từ nơi pháp thân mà hiện ra; nếu chúng ta chỉ bám vào trong đó thì cũng mắc kẹt trên tướng, nếu khởi niệm duyên theo ba mươi hai tướng đó là tự mình che mờ pháp thân. Song ba mươi hai tướng cũng từ pháp thân mà ra, vậy muốn thấy được pháp thân cũng phải nhơn cái đó mà thấy suốt qua, thấu qua cái vô tướng, chứ bám vào 32 tướng thì cũng che mờ đi thân chân thật, như vậy làm sao phụng trì được Bát nhã? Hiểu như vậy, mới thấy được nghĩa phụng trì là cũng phải vượt ngoài thân tướng đó. Trong kinh Tiểu phẩm Bát nhã, đức Phật có dạy một đoạn rằng: “- Này thiện nam tử, ta thường trụ trong pháp vô niệm nên được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thường phóng hào quang sáng lớn soi khắp cả hư không vô lượng thế giới, công đức khó có thể nghĩ bàn được.” Bao nhiêu công đức khó nghĩ bàn cũng từ trong “pháp vô niệm” đó mà ra; mà pháp vô niệm đó có hình tướng gì? Cho nên ngay nơi tâm thể vô niệm của mình đó, khéo nhận trở lại thì mới thấy được Phật thật, còn chỉ nhìn trên thân tướng, dù ba mươi hai tướng tốt đó, cũng không thấy được Phật thật. Song nói như vậy, Phật sợ người nghe liền chấp vào đoạn diệt, bác bỏ ba mươi hai tướng không thật thì không có gì thật hết, vậy ba mươi hai tướng đó hiện ra để làm gì? Nên Phật nói tiếp: “ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, đó gọi là 32 tướng.” Lẽ thật thì pháp thân là không có hình tướng rồi, cho nên không thể nhìn bằng ba mươi hai tướng là không chối cãi, nhưng không thể rời ba mươi hai tướng này mà có pháp thân. Bởi pháp thân không có hình tướng, vì muốn hoá độ chúng sanh nên Phật phải hiện ra ba mươi hai tướng, khi hiện ra ba mươi hai tướng đó nhưng bản ý của Phật là muốn cho mọi người nhơn cái tướng đó, mà phát tâm trở về thấy suốt được pháp thân thật kia, chớ không phải để cho mình dừng ở trên ba mươi hai tướng đó. Như vậy, nói ba mươi hai tướng tức chẳng phải ba mươi hai tướng, nhưng phương tiện thì Phật cũng hiện ra ba mươi hai tướng chứ không phải nói như vậy rồi bác bỏ hoàn toàn. Trong nhà thiền, Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ tham thiền, hôm đó ngài nghe người làm rơi bó củi liền ngộ đạo, ngài làm bài kệ:

    Phóc lạc phi tha vật,

    Tung hoành bất thị trần.

    Sơn hà cập đại địa,

    Toàn lộ pháp vương thân.

    ***

    Đánh rơi không vật khác,

    Dọc ngang chẳng phải trần.

    Núi sông cùng quả đất,

    Toàn lộ pháp vương thân.

    Khi tỏ ngộ được pháp thân rồi, liền thấy rõ nó hiện khắp nơi không có chỗ nào thiếu, nhưng nó không thuộc một tướng nào, một trần nào, không là một vật gì cả. Cho nên khi đánh rơi cũng chỉ là nó, nhận ra thì không vật gì khác, chính là nó thôi, dù dọc dù ngang cũng không phải là trần gì, cũng không có tướng gì, nó vẫn là nó thôi. Nhưng không phải như vậy là rời thế giới này riêng có nó, mà khắp nơi đâu đâu cũng riêng bày đủ hết, chỉ có một điều là nó không phải tất cả những tướng đó; vì vậy núi sông cùng quả đất đều lộ bày thân pháp vương. Khi mình sống được cái này rồi, thì thấy đâu đâu cũng đều có pháp thân hiện bày, đâu đâu cũng là ánh sáng Bát nhã, thấy cái gì cũng từ ánh sáng Bát nhã này phát ra, thì cái gì cũng hiển bày rõ ràng trong cái gương đó, đó là một điểm.

    Điểm thứ hai, đoạn này đánh thức cho chúng ta phải dứt bặt niệm về nhiễm và tịnh. Ở trước, phá về tướng vi trần tức là phá về nhiễm, trần là bụi, bụi là nhiễm; ở đây quên luôn cả ba mươi hai tướng tốt, tức là quên cả tướng tịnh, cái nhiễm cái tịnh đều quên, thì lòng mình mới thật  thanh tịnh; còn niệm nhiễm, niệm tịnh tức là còn chỗ chưa ổn. Đến đây thì trong lòng mình không còn lưu lại một tướng gì, tướng nhiễm tướng tịnh cũng không để dấu, cũng không để dành một chữ gì, “Bát nhã, chẳng phải là Bát nhã” thì có gì giữ lại trong này nữa? Không lưu một tướng gì, một chữ gì, tức lòng mình nó thênh thang, không phải phụng trì Kim Cang Bát nhã là gì? Phụng trì Kim Cang Bát nhã là như vậy đó, chứ không phải đọc tên đó mỗi ngày, hoặc tụng tới tụng lui mỗi ngày nói là phụng trì. Phụng trì như vậy mới đích thực là Phật tử, tức con Phật, Phật nói sao làm đúng vậy. Đó là ý nghĩa về phá ba mươi hai tướng tốt.

    Thêm một đoạn nữa, nói về bố thí thân mạng và trì kinh. Tức là, Phật bảo: “Nếu người thiện nam, thiện nữ đem thân mạng như số cát sông Hằng ra bố thí, rồi có người đối trong kinh này cho đến bốn câu kệ vì người khác mà nói thì phước này cũng rất nhiều”. Đến đoạn này lại lên một tầng khó hơn. Hãy xét kỹ, ở trước bao nhiêu lần so sánh về phước bố thí với phước trì kinh rồi, nhưng đến đây có gì đặc biệt? Ở trước chỉ nói về bố thí ngoại tài thôi, bố thí bảy báu mà đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, vô số tam thiên đại thiên thế giới cũng là bố thí bảy báu ở bên ngoài, đây là ngay thân mạng mình, tức ngay nơi nội tài này mới khó. Vì vậy nói là lên từng sâu hơn, ngay thân mạng mình cũng đem ra bố thí nữa, đó là chuyện khó làm; nhưng không phải chỉ một thân thôi mà là nhiều thân nữa, nhiều thân mạng như số cát sông hằng mà bố thí, quý vị dám nghĩ tới đó không? Một thân mạng bố thí còn khó, huống nữa nhiều thân mạng, vậy còn chỗ nào để cho chúng ta bám vào? Song Phật nói như vậy mà cũng không bằng người trì kinh này, như vậy là muốn nói lên ý gì? Đây là ngầm chỉ, người muốn vào kinh này, sống được với kinh này, thì phải dám buông xả quên cái thân này, dám buông bỏ cái thân này thì mới sống trọn vẹn với kinh này, hay tánh Kim Cang Bát nhã, nếu còn hơi luyến cái thân này, dù có sống cũng chỉ được một phần nhỏ vậy thôi, chứ chưa sống được thực sự trong tánh Kim Cang này; tức phải quên cái ngã yêu quý này thì mới sống được với kinh này, chứ còn chưa dám buông thì làm sao mà vào sâu được? Cho nên trong Chứng đạo ca ngài Huyền Giác có dạy rằng:

    Phóng tứ đại mạc bả tróc

    Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác

    Chư hạnh vô thường nhất thiết không

    Tức thị Như Lai đại viên giác.

    ***

    Buông bốn đại đừng nắm bắt

    Trong tánh lặng lẽ tuỳ ăn uống

    Các hạnh vô thường hết thảy không,

    (tất cả những cái tạo tác vô thường, những pháp hữu vi trên thế gian này là rỗng không, không có thật gì hết)

    Đấy tức Như Lai đại viên giác.

    Nghĩa là, chúng ta dám buông bốn đại này, buông thân xác này thì mới có thể sống tự tại trong tánh Niết bàn, ở trong tánh tịch diệt đó mà tuỳ duyên khởi dụng, tuỳ ăn uống, không mắc kẹt nữa. Bao nhiêu pháp hữu vi vô thường này, không đắm mắc vào đó, tất cả đều là rỗng không thôi, không có gì thật, ngay đó tự mình khế hợp với tánh viên giác. Ở đây nói chúng ta bố thí thân mạng nhiều như số cát sông Hằng đó cũng là những cái thân sanh diệt thôi, bố thí những cái thân sanh diệt này thì có phước, sống lâu, sanh về cõi trời sống cả ngàn kiếp, nhưng có thật vui chưa? Sống lâu trong sanh tử cũng có vui gì? Còn sống trở về với tánh Kim Cang này, đó là sống trở về với cái không sanh không diệt thì, bao nhiêu cái thân sanh diệt kia sánh với cái không sanh không diệt này làm sao bì kịp! Tuy nhiên trước khi nói như vậy, Phật rất là khéo, quý vị thấy khéo ở chỗ nào? Ngài đem thân ba mươi hai tướng của ngài ra nói trước, thật khéo không? Nếu nói ngay thân mình thì mình chưa chịu đâu, ngài đem ngay thân ba mươi hai tướng tốt đẹp, do tu hành nhiều kiếp đó, mà còn nói rằng thân ba mươi hai tướng chẳng phải tướng, cũng không thật nữa, huống là thân mình đây, thân nghiệp báo xấu xa này, có gì đáng để cho mình bám, mình luyến? Quá khéo phải không? Để rõ thêm về ý này, tức là chúng ta bố thí những thân mạng này tuy khó, nhưng cũng là thân sanh diệt, thì được cái phước là được sanh cõi trời sống lâu; song đem so với cái sống trở về với thân chân thật thì cũng không bằng. Ngài Phó Đại Sĩ có bài kệ nêu rõ về ý này:

    Thí mạng như sa số,

    Nhân thiên nghiệp chuyển thâm,

    Ký yểm bồ đề tướng,

    Năng chướng Niết bàn tâm .

    ***

    Thí mạng như số cát,

    Nghiệp trời người sâu thêm,

    Đã che tướng bồ đề,

    Tâm Niết bàn bị lấp.

    Thí mạng như số cát sông Hằng, đó là mình được phước sanh về cõi trời, sống lâu, tức càng sâu nghiệp trời người hơn nữa, chứ không sướng gì; vì ở trong sanh tử làm sao vui sướng? Được thân tướng trời người sống lâu, thân tốt đẹp thì chấp ngã càng cao, cho nên che tướng bồ đề; đã che tướng bồ đề thì tâm Niết bàn cũng bị lấp luôn, vì mắc kẹt trong thân tướng này! Như vậy có thật vui sướng chưa? Vì vậy câu chuyện Bồ tát Thường Đề trong kinh Đại Bát Nhã, ngài đi cầu học Bát nhã ba la mật, dám bán thân, chẻ tuỷ để mua đồ cúng dường vị pháp sư mà học kinh Bát nhã. Người nghe giống như làm chuyện vô lý, đã nói móc tim, chẻ tủy thì còn đâu để học? Đây là ngầm nói lên tâm thiết tha cầu pháp, là phải quên thân này, sẵn sàng buông bỏ nó thì mới thấm sâu, học sâu được Bát nhã. Do đó, trong Chứng đạo ca, ở đoạn cuối ngài Huyền Giác có hai câu:

    Phấn cốt toái thân vị túc thù,

    Nhất cú liễu nhiên siêu bách ức.

    Nghĩa là, “Tan xương nát thịt chưa đủ đền, Một câu rõ suốt vượt trăm ức.” Khi người thực sự chứng ngộ, sống được trong đó rồi, mới thấy cái quý của Bát nhã, Nếu chỉ nghe tán thán suông thôi mà chưa sống được thì có khi còn nghi. Sống được rồi, mới thấy từ vô lượng kiếp đến giờ, chúng ta lăn lộn trong dòng sanh tử này biết bao nhiêu lâu, đức Phật có thí dụ là, ở trong cõi này bất cứ mình đứng ở chỗ nào, mình lấy cái cây cắm xuống cũng là chỗ mình đã bỏ thân! Mới thấy dòng luân hồi của chúng ta dài không tính kể mà hôm nay nhận ra được, thấy được, sống được với cái bất sanh bất diệt này, còn gì quý hơn. Cho nên nói, dù có nát thân nát xương cũng chưa đủ đền được cái ân chỉ cho mình thấy được, sống được với lẽ thật này; ngay nơi một câu mình thấu suốt được cái lý thật đó, thì mình vượt xa được biết bao nhiêu đời mê lầm! Như vậy còn có cái gì để cho chúng ta quý tiếc, chúng ta bám víu, vấn vương vào cái thân tạm bợ này? Thấy như vậy đó, thì mới dám quên thân; dám quên thân như vậy thì mới sống được trong pháp thân thật đó. Đây dẫn câu chuyện cô cung nữ của vua A Dục cho mọi người thấm sâu thêm:

    Ông vua A- dục thường mời các vị cao tăng vào cung để thuyết pháp, ông là một ông vua ban đầu rất hung ác, sau khi tỏ ngộ Phật pháp rồi, ông rất quý mến hộ trì Tam Bảo, thường mời các vị cao tăng vào cung giảng. Có một lần ông mời vị cao tăng vào triều giảng, giữa giảng đường ông cho che một tấm màn, pháp sư thì ngồi giảng ở ngoài, còn những cung nữ thì ngồi ở bên trong tấm màn che ngang; giảng thì người giảng ngó tấm màn thôi, ở trong kia hiểu hay không hiểu cũng không biết. Hôm đó vị pháp sư giảng về bố thí trì giới. Khi bố thí trì giới thì được quả báo sanh cõi trời tốt đẹp. Trong đó có một cung nữ, khi nghe như vậy, cô không hiểu, mà thời gian nghe pháp sắp hết, không biết làm sao, cô mới tung cái rèm chạy ra quỳ sụp xuống trước pháp sư, đây là luật cấm của ông vua rất nghiêm nghặt, cung nữ không được phép đi ra trực tiếp như vậy, phạm luật đó là bị chém đầu chứ không phải thường, nhưng cô cung nữ này bất kể, cô hỏi:

    - Bạch thầy, trước đây Phật ngồi tại gốc Bồ Đề Ngài giác ngộ thành đạo, cái mà Ngài giác ngộ đó đâu hẳn là pháp bố thí trì giới, vậy còn cái gì nữa phải không?

    Vị pháp sư trả lời:

    - Phật còn nhận thức được lý Tứ đế, tức Ngài thấy rõ bản tánh của tất cả muôn loài vật trên thế gian đều khổ, mà cội nguồn của cái khổ đó là do nghiệp tập, gọi là tập đế, do tu Bát chánh đạo trừ được cái nghiệp khổ đó thì liền được giải thoát khỏi sanh tử…”

    Ngài giải đơn giản, qua những lời giải đó, cô cung nữ này sáng tỏ được đạo lý Tứ đế chứng được quả Tu Đà Hoàn. Ngay đó, cô biết mình phạm vào lệnh cấm của vua cho nên cô liền cầm thanh kiếm để trước cổ, đến quỳ trước ông vua, rồi cô thưa:

    - Muôn tâu bệ hạ, thiếp đã phạm cái tội lớn là không tuân lệnh cấm của bệ hạ, thiếp xin chịu tội.

    Vua hỏi lại:

    - Phạm tội gì?

    Cô cung nữ thưa:

    - Hôm nay nghe pháp sư giảng, thiếp không nhớ gì hết, liều chạy ra trước mặt pháp sư, cũng như con trâu khát nước thì nó cứ nhảy xuống ao nó uống, chứ không kể đến nguy hiểm. Thiếp cũng vậy, điều mà thần thiếp khao khát lúc đó, là Phật pháp, cho nên thần thiếp quên cả lệnh của bệ hạ.

    Vua mới gạn hỏi:

    - Vậy chứ  nàng đã nhận được cái gì?

    Lúc đó, cô mới trình bày cái hiểu của cô, vua A Dục không bắt tội mà còn vui mừng vì trong cung có được một cung nữ đã thấu hiểu được Phật pháp như vậy; sau đó ông bỏ lệnh cấm, cho cung nữ  tự do nghe pháp. Đây cho thấy, với cái tâm vì pháp, thấy được pháp thì không nhớ cả thân mạng. Nếu lúc đó vừa vén rèm mà nhớ tới lệnh cấm của vua, thụt đầu lại thì sao? Có chứng được Tu Đà Hoàn chưa? Hiểu được điều đó thì hiểu được ý nghĩa phụng trì kinh Kim Cang.

  • 16. HAY SẠCH NGHIỆP CHƯỚNG

    CHÁNH VĂN:

    16. HAY SẠCH NGHIỆP CHƯỚNG

    Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Hoặc người thiện nam, kẻ thiện nữ thọ trì, đọc tụng kinh này, nếu bị người khinh tiện, thì người ấy vì tội nghiệp đời trước lẽ ra đọa vào ác đạo, do đời nay bị người khinh tiện nên tội nghiệp đời trước ắt là tiêu diệt, sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Ta nhớ vô lượng, vô số kiếp về quá khứ, trước Phật Nhiên Đăng đã gặp được tám trăm bốn ngàn muôn ức na do tha chư Phật, thảy đều cúng dường, kính thờ không lơi lỏng; nếu lại có người ở đời sau hay thọ trì, đọc tụng kinh này, thì công đức có được, đối với công đức do ta cúng dường chư Phật, nhiều gấp trăm phần, ngàn muôn ức phần, cho đến tính đếm, thí dụ đều chẳng thể kịp. Tu Bồ Đề! Nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ ở đời sau, có ai thọ trì, đọc tụng kinh này thì công đức có được, nếu ta nói đầy đủ, hoặc sẽ có người nghe đến, tâm liền cuồng loạn, nghi ngờ chẳng tin. Tu Bồ Đề! Phải biết nghĩa kinh này chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn.

    GIẢNG:

    Đoạn này rất quan trọng, học đoạn này chúng ta mới không nghi ngờ, chứ nhiều khi tụng kinh Kim Cang mà cũng còn sợ. Trong đây có mấy điểm cần lưu ý.

    Thứ nhất, Phật nói từ trước tới giờ là, người thọ trì kinh này thì công đức không thể nghĩ bàn, không thể tán thán hết; Người trì kinh đã được công đức như vậy đó, thì hẳn là được người cung kính chứ, sao lại bị người khinh tiện? Đó là điểm lưu ý! Khinh tiện ở đây là gồm có ganh ghét, chê bai, đánh mắng, đủ thứ, tức những nghịch cảnh lẽ ra không có, vì công đức đã vô lượng rồi, tại sao lại còn có những cái đó? Cho nên mọi người sợ tụng kinh Kim Cang đổ nghiệp! Nhưng ở đây, là chỉ rõ đầu mối của những nghiệp nặng nó lộ ra cho mình thấy. Vì tuy rằng đời nay chúng ta biết đạo, tu hành, được những chủng duyên gặp kinh đại thừa Bát Nhã cao quý; nhưng vô lượng kiếp lăn lộn trong cõi này tạo ra biết bao nghiệp, nghiệp ác có, nghiệp lành có, đủ thứ hết; hôm nay sống trở về chân thật, những nghiệp dữ, lành bao đời trước có, đến lúc chín tới thì nó càng lộ ra chừng nào là càng nhẹ chừng ấy, có gì phải sợ! Ở đây phải thấy rõ những đầu mối nghiệp nặng đó, nhờ chúng ta tụng kinh này, nhờ thấy được, sống được trong ánh sáng Bát nhã, cho nên dùng trí Bát nhã đó mình mới thấy rõ nơi đây, có đủ lòng tin thanh tịnh, thì bao nhiêu những tội nghiệp đó cũng từ tâm mà sanh thôi. Những tội nghiệp, ác chướng nếu tâm không chỗ sanh thì sao? Thì tội nghiệp bám vào đâu mà khởi được? Nên dùng trí Bát nhã mới thấy rõ được, tội nghiệp từ nhiều đời, nhiều kiếp, hôm nay nó có lộ ra, nhưng mình vẫn thấy rõ bao nhiêu tội chướng đó đều tự tâm hiện, nghĩa là, do tâm mê mà tạo ra chứ  những nghiệp này đâu phải sẵn có. Do mê tâm vọng tạo, giờ đây sống với Bát nhã thì được lòng tin thanh tịnh ắt sanh thật tướng, tâm thanh tịnh là tâm không sanh, vậy bao tội chướng trụ ở chỗ nào? Đó tức là vô sanh sám hối! Bởi nếu không nhờ Bát nhã khiến dừng vọng niệm sanh khởi, thì nghiệp này tạo thêm nghiệp nữa đâu có hết. Ví như những tội chướng đến, mà không có trí Bát nhã để vọng niệm khởi, chúng ta lại sanh buồn khổ, chán nản, có lúc còn chửi trời đất, nghĩa là tôi tụng kinh tu hành sao lại có những cái này? Rồi sanh những phiền não, tạo thêm nghiệp, nghiệp cũ không hết lại còn tạo thêm nghiệp mới nữa. Còn ở đây, nhờ Bát nhã mới thấy được những tội chướng đó nó không thật, từ tâm mê hiện ra; tuy thấy nó nhưng vẫn sống trong ánh sáng Bát nhã, sẽ không buồn, không khổ, không kêu ca chưởi bới thì nó mới tan, mới hết. Vậy nhờ sống trong Bát nhã, tội chướng mới hết; như vậy nó đâu có chướng! Sở dĩ thấy nó chướng, là bởi do mê lầm, thấy theo vọng niệm nên thấy nó thật, thật mới chướng; bởi chướng nên có thối tâm, sợ tụng kinh đổ nghiệp nên không tụng nữa, vậy là nó chướng mình. Đã sống trong Bát nhã luôn luôn sáng ngời, thì nó hiện ra rồi nó sẽ hết, mình sẽ nhẹ nhàng tức sớm thành Vô Thượng chánh đẳng chánh giác, đó là điểm thứ nhất.

    Điểm thứ hai nữa, người mà nghiệp nặng, mê mờ, nghe đến công đức kinh này nghĩa lý thù thắng khó nghĩ bàn thì khó tin. Còn đây chúng ta nghe được, tin nhận, đó là đã gieo trồng căn lành Bát nhã sâu, đã biết như vậy và tin chắc thì không lý do gì chút nghiệp chướng làm trở ngại, thối tâm, đó là điểm làm mình càng vững tâm thêm, không thối chuyển.

    Điểm thứ ba nữa, là chúng ta trì kinh này, tức sống trong ánh sáng Bát nhã, là rõ suốt bốn tướng không thật, thì phiền não không sanh, ngay đó phiền não dứt là qua được phiền não chướng. Đây nói nghiệp ác tiêu diệt, là nghiệp chướng tiêu trừ; rồi chẳng đọa đường ác, tức báo chướng tiêu trừ; ba chướng: nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng được trừ thì đầy đủ ba đức, đó là đức Bát nhã, đức pháp thân, đức giải thoát. Như vậy trong đây nói: “sẽ được Vô Thượng chánh đẳng chánh giác”, đó là chuyện dễ tin. Kinh nói rõ, người thọ trì kinh này bị người khinh tiện là do đời trước lẽ ra bị đọa ác đạo, cho nên bây giờ bị khinh tiện ắt được tiêu diệt hết, sẽ đặng Vô Thượng chánh đẳng chánh giác. Đây phải hiểu thêm, không phải tu hành rồi gặp gì cũng tốt hết, người ta nghĩ tu hành là làm việc lành, việc tốt, thì phải gặp việc tốt, nếu gặp việc xấu liền chán nản, liền nghĩ nhân quả không đúng. Nhưng đây không phải vậy, tuy rằng làm lành, nhưng trong nhiều đời trước mình có gieo những việc không lành, ngay trong đời này cũng không phải làm lành hoàn toàn, từ nhỏ đến giờ cũng chưa trọn lành hết, trong đó có lành có dữ; biết vậy nên lâu lâu cũng có cảnh nghịch để đáp lại việc làm không lành trước, đó là công bằng. Chứ không phải nói tôi tu hành rồi, những việc kia dẹp qua hết, đó là trốn nợ, phải hiểu như vậy. Thứ hai nữa, khi gặp những chướng duyên nghịch cảnh thì, đừng nghĩ đó là chướng duyên nghịch cảnh, mà chính những cái đó làm thành tựu công phu sâu dày, công lực mạnh thêm cho mình. Có những nghịch cảnh đó thử thách như vậy, mới biết đạo lực mình tới đâu! Cho nên, càng có những nghịch cảnh đó, thay vì thấy đó là nghịch cảnh, thì mình phải chuyển lại lấy những cái đó làm “sức bật” để mình nhảy lên, vươn lên. Mỗi một lần gặp nghịch cảnh, là mỗi lần lớn mạnh lên thêm, thì không có gì chướng cho mình hết, còn nghĩ đó là cái chướng của mình, thì dễ thối tâm. Hãy xem, ngay đức Phật Ngài thành Phật rồi, mà có được hoàn toàn như ý không? Đã thành Phật rồi, mà gặp Đề Bà Đạt Đa đi theo, phá đủ thứ chuyện. Ngài còn kể, trong những đời làm Bồ Tát hạnh, cũng luôn gặp Đề Bà Đạt Đa đi theo, mà luôn luôn làm những cái nghịch, chính những cái nghịch đó đưa Ngài đi lên, chứ không phải những cái nghịch đưa Ngài đi xuống. Bởi vậy trong kinh Pháp Hoa, Phật thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa sau này cũng sẽ thành Phật. Như vậy Đề Bà Đạt Đa thuộc hạng người nào? Không phải là hạng thường. Thường, người phá Phật, phá Bồ Tát, thì nghiệp rất nặng, phải đọa địa ngục không biết bao nhiêu kiếp. Nếu chỉ phá một lần thôi, là đã bị đọa lâu dài rồi, vậy vì sao Đề Bà Đạt Đa cứ theo Phật hoài, thời gian đâu mà theo hoài vậy? Đó là một vị đặc biệt theo để thử thách, để đưa Ngài đi lên thôi. Hiểu được như vậy đó, khi tu hành cũng có những thử thách, gặp những cái nghịch đến là để luyện ý chí mạnh lên thêm, đạo lực càng vững để càng ngày càng tiến lên, chứ không phải nghĩ đó là những cái chướng, nghĩ chướng thì dễ thối tâm. Như câu chuyện Luận Sư Giới Hiền, lúc Ngài Huyền Trang qua Ấn Độ, Ngài đến chùa Na Lan Đà gặp Luận Sư Giới Hiền lúc đó đã trên trăm tuổi. Khi gặp Luận Sư Giới Hiền, Luận Sư bảo trong chúng sắp tòa cao mời Huyền Trang ngồi, rồi hợp chúng lại, hỏi thăm Ngài Huyền Trang từ đâu tới? Ngài Huyền Trang thưa: Từ xứ China tức Trung Quốc đi đến đây, muốn nương theo thầy để học về bộ luận Du Già Sư Địa. Vừa nghe xong như vậy, Ngài Giới Hiền liền khóc, và gọi vị đệ tử tên Giác Hiền cũng trên bảy mươi tuổi đến bảo bây giờ ông thuật lại cho trong chúng này nghe về nhân duyên bệnh khổ của ta. Giác Hiền cũng vừa khóc, vừa thuật lại: “Trước kia Hòa thượng bị bệnh phong thấp rất nặng, cứ lâu lâu bị phát bệnh không chịu được, chân tay như bị ngàn dao đâm, gần hơn hai mươi năm. Cách đây ba năm, Hòa Thượng chịu hết nổi, chán ghét cái thân này quá, cho nên Ngài muốn nhịn ăn cho chết đi. Trong đêm, Hòa thượng mộng thấy có ba vị trời, ăn mặc rất đẹp đẽ, một vị sắc vàng chói, một vị sắc như lưu ly, một vị như màu bạc, đến bảo: “- Ông muốn bỏ thân này ư? Trong kinh nói, có mang thân này là khổ, nhưng không nói nhàm chán lìa bỏ nó, phải mượn nó để tu hành. Ông ở quá khứ từng làm vị quốc vương, giết không biết bao nhiêu sinh mạng, đáng lý phải bị đọa, nhưng hôm nay nhờ tu hành đạo cao đức trọng, cho nên bị chút bệnh này thì nó chuyển nghiệp. Ông phải rán, không nên vì chút nghiệp đó mà phải buồn, chết, hãy rán sám hối, siêng năng tu hành, giảng dạy chánh pháp, khiến bệnh khổ tiêu hết. Còn bây giờ ông có chán bỏ thân này đi nữa, thì cái khổ này cũng không hết, chán bỏ nó mà nghiệp chưa hết đời sau còn chịu nữa.” Hòa Thượng nghe xong liền lễ bái. Vị có mang màu sắc vàng chói mới chỉ vị có màu sắc lưu ly mà nói với Hòa Thượng: - Ông biết vị này chăng? Đây là Bồ Tát Quán Tự Tại. Rồi chỉ vị có màu sắc bạc nói: - Đây là Bồ Tát Từ Thị (tức là Bồ Tát Di Lặc) Ngay đó Hòa thượng lễ bái Bồ Tát Từ Thị, và hỏi: - Giới Hiền con thường nguyện sanh lên chỗ của Ngài, chẳng biết có được chăng? Bồ Tát Từ Thị bảo: - Ông hãy lo rộng truyền chánh pháp đi, rồi sẽ được sanh lên đó! Sau đó vị trời có màu sắc vàng chói mới nói: Ta là Bồ Tát Mạn Thù Thất Lợi (tức Bồ tát Văn Thù) Chúng ta thấy ông luống bỏ thân này chẳng có lợi ích gì, nên đến đây để răn ông, ông hãy theo lời ta mà tuyên bày giảng dạy chánh pháp để cho khắp đến mọi người, những người chưa nghe sẽ được nghe, dần dần bệnh ông sẽ lành. Rồi đây sẽ có một vị tăng ở Chi Na đến, vị này thông suốt về pháp đại thừa đến đây để học ông, ông hãy đợi vị ấy!  Hòa thượng nghe xong lễ bái vâng nhận, bỏ niệm tự vẫn, từ đó về sau bệnh hòa thuợng giảm dần, nên hôm nay gặp thầy Huyền Trang đây, Ngài mới cảm động rơi nước mắt!” Luận sư Giới Hiền này, là một bậc tu hành nổi tiếng bậc nhất trong thời đó, đáng lẽ không có những bệnh khổ như vậy, nhưng có những bệnh khổ đó, là do nghiệp từ trước mà có. Như vậy không phải lấy đó làm thối tâm, mà biết đó do nghiệp cũ hiện ra, an nhẫn mà chịu, rồi mượn những chướng duyên đó để tiến lên, nhờ những bệnh khổ mới thấy rõ thân này giả dối không thật, không bám vào nó, cái thân này bệnh lên bệnh xuống nên chán, ít quý mến nó, còn thân khỏe mạnh tốt thì hay quý mến, ai đụng tới thì khó chịu. Mượn cái nghịch làm cái thuận để vươn lên, còn không khéo buồn khổ chán nản, tu hành ngày càng thối. Bởi tu hành không có thuận hoàn toàn, có nhiều vị ở ngoài khỏe mạnh lắm, nhưng vào tu rồi bệnh tới bệnh lui hoài, thấy chán; có vị bệnh như vậy đó nhưng về nhà lại hết bệnh. Như vậy để thấy rõ, những cái nghịch, cái chướng đó, không phải là cái chướng; khéo chuyển đổi, đó là những bước tiến tu. Nhớ như vậy và xem đó cũng là cái duyên để bào mòn bớt bản ngã, nếu tu hành lúc nào cũng êm suông, dễ dàng, dễ sanh kiêu. Đại khái, nếu tụng kinh Kim Cang Bát Nhã gặp những chướng như vậy, đó là triệu chứng tốt, chứ đừng nghĩ đổ nghiệp, bỏ tụng, đó là rất uổng phí vô cùng! Ngài Bạch Ẩn là một vị thiền sư đạt đạo rồi, vậy mà một hôm có chuyện oan ức, là cô gái có tư tình với anh nọ bị cha gạn hỏi, đổ cho Ngài, rồi sanh con đem giao cho Ngài, Ngài chỉ bảo: “- Thế à!”. Sau thấy trong tâm ray rứt chịu không nổi, cuối cùng cô thú thiệt với người cha không phải là con Ngài mà là con của anh chàng ngoài chợ. Cha cô hoảng hốt vội đến tạ lỗi và xin lãnh đứa bé về, lúc đó Ngài cũng: “- Thế à!” vậy thôi. Là thiền sư nổi tiếng mà cũng bị như vậy, chúng ta lâu lâu bị một hai cái nghịch cũng là thường. Hiểu như vậy thì luôn luôn tiến, chứ không lùi, đó là nói qua để mọi người có niềm tin thêm.

    Ở đây Phật lại tự so sánh cái phước mà Ngài thờ phụng Chư Phật từ vô lượng vô số kiếp về quá khứ, ở trước Phật Nhiên Đăng, “Ngài đã gặp tám trăm bốn ngàn muôn ức na do tha chư Phật thảy đều cúng dường, kính thờ không lơi lỏng, nhưng nếu có người ở đời sau hay thọ trì, đọc tụng kinh này thì công đức có được, đối với công đức ta đã cúng dường Chư Phật là nhiều gấp trăm phần ngàn phần.” Đoạn này để củng cố niềm tin mạnh thêm, Phật dẫn ngay việc của Ngài. Từ trước Ngài đã dẫn phải bố thí thân mạng mình, bố thí của cải, đây Ngài dẫn chính Ngài từ xưa đã phụng thờ bao nhiêu đức Phật, công đức này so với công đức sống với Bát nhã đây vẫn không bằng. Theo như trong kinh luận ghi, thì lúc Đức Thích Ca còn trong nhân địa tu hành, Ngài phải trãi qua ba vô số kiếp. Khi tu hành mãn vô số kiếp thứ nhất, Ngài gặp Đức Phật Bảo Kế Như Lai, rồi qua mãn vô số kiếp thứ hai Ngài gặp Phật Nhiên Đăng Như Lai, mãn vô số kiếp thứ ba Ngài gặp Đức Thắng Quán Như Lai. Ở đây Ngài nhắc lại trước Phật Nhiên Đăng, là ở vô số kiếp thứ hai, trước vô số kiếp thứ hai là vô số kiếp thứ nhất, vậy có hai cái vô số kiếp, mà đây Ngài nói vô lượng vô số kiếp về quá khứ là sao? Cái số gọi vô số ở đây là số rất lớn, vô số rồi vô số trong cái vô số đó, tức là vô lượng. Đây nói vô lượng cái vô số nữa, như vậy làm sao hiểu nổi, có mâu thuẫn không? Để cho thấy nghĩa vô số đó tức không phải là một con số nhất định, cố định mà chỉ cho thời gian không cố định. Chúng ta tu hành có khi nhanh, có khi chậm, có khi lùi, có lúc tiến, tiến thì đi nhanh, giải đãi thì chậm lại, như vậy đâu tính thời gian nhất định được. Bởi vậy tu hành một vô số kiếp đó để chỉ trong thời gian này tùy theo người, tùy theo căn cơ trình độ, nếu tinh tiến thì đi nhanh, nếu không tinh tiến thì đi chậm, thời gian không cố định, nên nói vô số đó là khiến mình quên niệm thời gian. Gặp Phật cũng quá nhiều, tám trăm bốn ngàn Na Do Tha Đức Phật, Ngài nói như vậy làm sao mà biết được? Như vậy Ngài nói chỉ Ngài biết thôi, chứ mình cũng không biết, đó là để chỉ cái gì? Ở trong kinh Pháp Hoa có đoạn Phật nói rằng: Ta nói về Phật Nhiên Đăng.v.v... lại nói vào Niết Bàn, như thế đó là phương tiện phân biệt, phải khéo thấy ý của Phật. Đây muốn nhắc chúng ta phải xoay về tự tâm, chứ không mắc kẹt trên thời gian, không mắc kẹt trên những Phật bên ngoài. Phải sống trở về với Phật nơi chính mình là trên hết, còn hướng ra ngoài thì không hiểu nổi, càng hướng ra ngoài càng rắc rối thêm, còn hướng trở về mình thì rất đơn giản. Dù cho Phật có cúng dường bao nhiêu Đức Phật bên ngoài đi nữa, mà Ngài không trở về với Phật chính Ngài, thì Ngài có thành tựu viên mãn quả Phật của mình không? Cúng dường bao nhiêu Phật bên ngoài, nhưng cuối cùng phải trở về với ông Phật chính Ngài, mới thành tựu quả Phật viên mãn. Cho nên công đức sống trở về tự tâm mình, đó là không thể nói bằng lời, nên diễn tả những cái ngoài sức tưởng tượng, chỉ có một điều tâm chứng. Đó là thêm một lần nữa, cho mọi người thấy lý Bát nhã rất là sâu xa, ngoài sức tưởng tượng, nhưng cái sâu xa đó ở đâu? Ngay chính mình thôi, đó mới là điều an ủi; chớ nó sâu xa quá ở đâu đâu thì coi như mình vô phần, học cũng không để làm gì. Đây là điều an ủi bậc nhất! Khéo thấy như vậy đó, mới thấy hết được ý sâu xa kinh muốn nói, chứ cứ suy theo cái bên ngoài thì không sao hiểu nổi.

    Phật tổng kết lại: “Nếu người thiện nam, người thiện nữ ở đời sau ai mà thọ trì đọc tụng kinh này, nếu ta nói đầy đủ công đức đó, người nghe phải cuồng loạn nghi ngờ, không tin nổi, bởi nghĩa của kinh này không thể nghĩ bàn.” Đó là muốn nhắn gởi cho người nghe không thể nghe theo lời, hiểu theo lời; nếu nghe, hiểu theo lời thì dễ sanh nghi ngờ, dễ sanh cuồng loạn, mà chỉ nghe nơi mình, thấy được ý ngoài lời tức mới thấy được chỗ sâu xa kia. Cho nên theo nghĩa: gặp chư Phật bên ngoài đó, bây giờ xoay lại nơi mình thì, một niệm giác là một vị Phật, trăm ngàn niệm giác là trăm ngàn Đức Phật, vậy chúng ta gặp được nhiều Phật rồi, nhưng chỗ đó cũng chưa hay. Nếu chỉ nhớ trăm ngàn niệm giác đó, sao bằng mình ngộ ngay cái thể giác hiện tiền đây, cứ lo nhớ trăm ngàn niệm giác đó, thì trăm ngàn niệm giác đó đã qua rồi, chỉ ngộ thẳng ngay một niệm giác hiện tiền đây không hay hơn sao? Cho nên cúng dường trăm ngàn muôn Đức Phật đó, không bằng người thọ trì kinh này. Như vậy là chúng ta xoay trở về, không chạy theo Phật bên ngoài, hiểu như vậy là rất đơn giản, mà chúng ta có thể làm được; còn hiểu theo kia thì không biết bao giờ chúng ta mới thấy được bao nhiêu Đức Phật đó. Chính thấy được như vậy, đó là nhân địa thành Phật, ngộ được thể giác rồi thì sẽ đạt được quả báo cứu cánh, nên Phật nhấn mạnh kinh này nghĩa lý chẳng thể nghĩ bàn, quả báo chẳng thể nghĩ bàn, không thể nói được. Ngài Phó Đại Sĩ có bài tụng nói lên ý nghĩa này:

    Tiên thân hữu báo chướng,

    Kim nhật thọ trì kinh,

    Tạm bị nhân khinh tiện,

    Chuyển trọng phục hoàn khinh,

    Nhược liễu y tha khởi,

    Năng trừ biến kế tình,

    Thường y Bát nhã quán,

    Hà lự bất viên thành.

    ***

    Thân trước có báo chướng,

    Ngày nay thọ trì kinh,

    Tạm bị người khinh tiện,

    Chuyển nặng nhẹ cho mình,

    Nếu rõ y tha khởi,

    Biến kế chẳng còn sinh,

    Thường y Bát nhã quán,

    Lo gì chẳng viên thành?

    Đây có nhiều từ hơi khó hiểu, trong Duy thức học có nói đến biến kế chấp, rồi y tha khởi, viên thành thật. Biến kế chấp là cái lầm chấp của mình, do vô minh nên lầm chấp ngã này thật, thế giới thật, tức ngã thật, pháp thật, tất cả đều thật, đó là biến kế chấp. Y tha khởi, là nhờ Phật, Bồ tát, những vị thiện tri thức chỉ cho mới rõ được cái chấp đó là mê chấp lầm lẫn, không thật nên không còn những chấp đó mà sống trở về lẽ thật, dần dần hết những lầm chấp, tâm an ổn thành tựu được viên thành.

    Người xưa có ví dụ giống như sợi dây luộc bỏ giữa đường, ban đêm mình đi thấy mập mờ tưởng như rắn, chấp là con rắn thì sợ hãi run rẩy; có ai đó đốt đèn lên thấy rõ là sợi dây, thì sợi dây mà thấy là con rắn, đó là biến kế chấp, tức thấy không thật do lầm lẫn thôi. Bây giờ nhờ đèn sáng, thấy rõ, đó là y tha khởi; rồi nhìn kỹ lại thấy sợi dây cũng không thật, do những sợi gai nhỏ bện lại thành tướng sợi dây thôi, liền đó thì tâm sáng suốt an ổn, bình tỉnh, đó là viên thành thật. Ở đây nghiệm rõ lại cũng vậy, bao nhiêu những tội chướng cũng từ vọng niệm vô minh mà khởi thôi, do vọng niệm lầm chấp mà nó khởi, từ vọng niệm lầm chấp đó rồi tạo nghiệp, mới thành chướng. Giờ đây thấy rõ, dùng trí tuệ Bát nhã mà nhìn thì thấy nó cũng không thật, không có tự tánh, chợt có chợt không, vọng niệm là cái sanh diệt chập chờn vậy thôi; khi giác nó, nhìn vào bản chất thật của nó thì nó liền yên, tâm lặng lẽ thanh tịnh; tâm thanh tịnh lặng lẽ thì tội chướng nương vào đâu? Thành ra tội chướng hết chỗ bám. Chướng là do vọng niệm nên thấy chướng, không vọng niệm thì không thấy chướng, chướng không thành thì Bát nhã hiện tiền, là viên thành thật. Ngộ được như thế là qua được chướng, qua hết khổ, hết phiền não. Như vậy ở đây nói chướng, là do người vọng tưởng chấp thôi, nếu giác ngộ rõ ràng thì dù có những nạn chướng đó, nhưng với người giác thì đâu thành chướng? Như câu chuyện ngài Tăng Triệu, ngài bị tội tử hình nhốt trong ngục, ngài xin cho hoãn lại bảy ngày để ngài viết xong bộ “Luận Bảo Tạng”. Quý vị thấy, bị tội tử hình rồi thì còn tâm tưởng đâu mà viết luận? Nhưng với Ngài thấy chuyện chết như trò chơi thôi, không thành vấn đề. Viết xong bộ luận, trước khi chết ngài còn đọc lên bài kệ:

    Ngũ ấm nguyên phi hữu,

    Tứ đại bổn lai không.

    Tương đầu lâm bạch nhẫn,

    Nhứt tự trảm xuân phong.

    Nghĩa là “Năm ấm chẳng phải có; Bốn đại xưa nay không. Đem đầu đến dao bén; Giống như chém gió xuân” Với Ngài thấy trong đây không có ai bị chém cả thì có gì mà chướng? Sở dĩ chúng ta thấy có chướng là vì còn thấy thân này thật, thấy thân này thật nên có cái ta bị chém, chém chết cái Ta này thì khổ, khổ là chướng. Nay đây thấy rõ thân này không thật thì không có gì chướng hết; vậy là ngay khi gặp nạn, gặp nghịch cảnh, nghịch duyên đó mà không thấy chướng, thì trí Bát nhã vẫn sáng ngời. Trái lại, đối với chúng ta ngay khi đó là hoảng hốt, khổ sở, thì nó thành chướng. Để cho thấy rõ lẽ thật đó, khi cái khổ đến mà vẫn giữ được sáng suốt, không mất trí tuệ thì có gì chướng. Ở đây, với tinh thần Bát nhã, thọ trì Bát nhã và sống với Bát nhã, là luôn dùng trí tuệ Bát nhã soi thấy tất cả chướng duyên nghịch cảnh đều là cái không thật, không phải là sẵn có tự bao giờ, do những vô minh vọng niệm lầm chấp rồi tạo tác, tạo tác rồi theo đó chịu khổ; khi giác rồi thì những cái đó không thành vấn đề. Nói như vậy để cho chúng ta quán sâu, quán kỹ, chứ đến được chỗ đó không phải dễ! Nhưng nói để cho thấy lẽ thật phải đến được như vậy, mới đến được chỗ tột, chưa đạt được đến chỗ tột thì phải cố gắng thêm lên, chứ không phải hiểu được chút ít là ngang đó tự đủ rồi!

  • 17. RỐT RÁO VÔ NGÃ

    CHÁNH VĂN:

    17. RỐT RÁO VÔ NGÃ:

    Bấy giờ Tu Bồ Đề bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, kẻ thiện nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, làm sao nên trụ? Làm sao hàng phục tâm mình?

    Phật bảo Tu Bồ Đề:

    - Người thiện nam, kẻ thiện nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải sanh tâm như vầy: “Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi, mà không có một chúng sanh thật diệt độ”. Tại sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả ắt chẳng phải Bồ Tát. Vì cớ sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có pháp được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng?

    - Bạch Thế Tôn, không được. Theo chỗ con hiểu về nghĩa Phật đã nói, thì Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có pháp được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Phật bảo:

    - Đúng thế! Đúng thế! Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật Nhiên Đăng ắt chẳng thọ ký cho ta: “Ông ở đời sau sẽ làm Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni.” Do thật không có pháp được Vô Thượng Chánh Đẳng Cháng Giác, vì vậy Phật Nhiên Đăng thọ ký cho ta, nói lời thế này: “Ông về sau sẽ làm Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni”. Tạo sao? Như Lai, tức nghĩa Như của các pháp. Nếu có người nói, Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề, thật không có pháp Phật được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh. Tu Bồ Đề! Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh mà Như Lai đã được, trong đó không thật không hư. Vì vậy, Như Lai nói: tất cả pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề! Nói tất cả pháp đó, tức chẳng phải tất cả pháp, thế nên gọi tất cả pháp. Tu Bồ Đề! Ví như thân người cao lớn.

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn! Như Lai nói thân người cao lớn, tức chẳng phải thân lớn, đó gọi là thân lớn.

    - Này Tu Bồ Đề! Bồ tát cũng như thế, nếu nói lời thế này: “Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh”, ắt chẳng gọi là Bồ Tát. Tại sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói tất cả pháp không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả.

    - Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói lời thế này. “Ta sẽ trang nghiêm cõi Phật”, chẳng gọi đó là Bồ Tát. Tại sao? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, gọi đó là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã, Như Lai nói đó, thật là Bồ Tát.

    GIẢNG:

    Từ trước đến đây Phật đã lần lượt phá hai chấp NGÃ – PHÁP, không bốn tướng, pháp còn nên bỏ huống nữa phi pháp… Đó là phá chấp ngã pháp về phần thô, thuộc tâm duyên cảnh sanh khởi phân biệt, nên nói là “lìa tất cả tướng”, trừ cảnh giới phân biệt bên ngoài.

    Đến đây là phá NGÃ PHÁP vi tế trong tâm niệm. Bởi Chấp Ngã pháp có 2: một là phân biệt ngã pháp, hai là câu sanh ngã pháp, tức chủng tử sâu dày, vừa động niệm đã có nó cùng theo.

    Trong phần này có mấy điểm:

    1. Phá cái thấy có ta an trụ, ta hàng phục.
    2. Phá cái thấy thật có Bồ tát ở chỗ Phật Nhiên Đăng hành Bồ Tát hạnh được thọ ký.
    3. Phá cái thấy về Phật pháp.
    4. Phá cái thấy về người độ sanh và trang nghiêm tịnh độ.

    Trước tiên Tu Bồ Đề hỏi lại hai câu hỏi trước:

    “Bấy giờ Tu Bồ Đề bạch Phật: …làm sao nên trụ? Làm sao hàng phục tâm mình?”.

    Như vậy có trùng lặp hay không? Lời tuy đồng mà ý sâu hơn. Trước là hỏi cho người chưa phát tâm, đây là hỏi cho người đã phát tâm. Trước là để dứt sạch các cảnh duyên, đây là sạch luôn trí quán. Do đó, ở trước đả phá tình chấp phân biệt nơi các tướng để hiển bày chân trí. Đến đây, khiến chân trí cũng quên, thầm hợp lý thể mà bặt cả Lý và Trí, chỉ còn thật tướng hiện tiền.

    Chú ý lời hỏi! Câu hỏi này, ở trước nói theo bản xưa là: “Nên làm sao trụ? Làm sao hàng phục tâm mình?”.

    Bản đời Tùy là: “Bạch Thế Tôn! Thế nào Bồ Tát ở trong đại thừa phát tâm Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên làm sao trụ? Làm sao tu hành? Làm sao hàng phục tâm mình?”.

    Đến đoạn này, bản đời Tùy: “Thế nào Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác (không có câu “ở trong đại thừa”) làm sao trụ? Làm sao tu hành? Làm sao hàng phục tâm mình?”. Có thêm câu “Làm sao tu hành”

    Trước hỏi “Nên làm sao trụ?”, đây thì: “Làm sao nên trụ?”, đó là điểm cần chú ý! Ý ở trước là muốn hỏi: Nên làm thế nào để cho tâm được an trụ trở lại, vì lâu nay nó lang thang. Ý ở đây là, làm thế nào nên khiến nó luôn an trụ như vậy, không còn chạy đi nữa? Rõ ràng ý đã sâu hơn rồi!.

    Kế, chú ý lời đáp! Ở trước chỉ đáp: “Nên như vầy trụ, như vầy hàng phục tâm đó”. Đây thì đáp quả quyết: “Phải sanh tâm như vầy…”. Tức là phải thực sống như vậy, thì mới luôn được an trụ, không còn chạy lang thang nữa.

    Và lời đáp tiếp: “Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi, mà không có một chúng sanh thật diệt độ”.

    Độ tất cả rồi, tức là đã đi vào thực hành, thể nghiệm chứ không phải chỉ trên hiểu ngộ thôi. Kế đến, “không có một chúng sanh nào thật diệt độ”, là thấy đến tột cùng không có đến “chỉ một bóng dáng” thật được diệt độ. Vì sao? Bởi chúng sanh xưa nay vốn tự thể là Phật rồi, có gì để độ? Thứ hai, niệm niệm, tự thể vốn tịch diệt, niết bàn, đâu còn vào niết bàn nữa. Sơ Tổ đã bảo Nhị Tổ: - Đem tâm ra ta an cho! Nhị Tổ tìm tâm không thể được, thưa: - Con tìm tâm không thể được. Sơ Tổ bảo: - Ta đã an tâm cho ông rồi! An mà không có cái gì để an, vốn tự an rồi! Nếu còn thấy có một chúng sanh thật được diệt độ, tức thấy có một niệm thật, đó là vi tế ngã kiến vẫn còn. Cho đến, còn thấy có Ngã độ Ngã, vẫn chưa hết dấu vết Ngã chấp. Phải thật sạch hết không còn thấy có một niệm thật sanh, thật diệt, mới thật sự độ tận! Do đó, còn thấy có một NIỆM thật diệt, hay một chúng sanh diệt độ, tức chưa ngộ suốt tự tánh, là Bát nhã chưa tột, nên nói: “chẳng phải Bồ Tát”. Bởi vì đó là còn có niệm sanh diệt chưa quên.

    Xuyên Công có nói:

    Trước mắt chỉ ra muôn việc có.

    Ta nói trong ấy một cũng không.

    Đến trong ấy thì,

    Sanh từ vật khác mà sanh,

    Già cũng từ vật khác mà già.

    Bệnh cũng từ vật khác mà bệnh,

    Chết cũng từ vật khác mà chết.

    Nếu người đã về đến nhà,

    Thì không có sanh và tử.

    Nghĩa là đã triệt ngộ tự tánh, thì quên niệm sanh diệt, sanh diệt chỉ là giả tướng. Đã không có niệm hay chúng sanh được diệt độ, thì cái gì hay diệt độ? Cho nên ngay đó TRÍ CHIẾU SOI liền quên, bặt cả trí và niệm, thì thật tướng luôn hiện tiền. Yếu chỉ Kim Cang Bát Nhã là đó!.

    Song, đã không thật có chúng sanh diệt độ, vậy phát tâm bồ đề để làm gì? Do đó giải thích: “Vì cớ sao?”. Bởi, tìm lại thật kỹ, quả thực không có pháp phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì sao? Vì y cứ nghĩa Bồ Tát, tức Hữu tình giác. Nghĩa là một hữu tình có tính giác ngộ rồi, thì còn có một pháp THẬT gì nữa để phát tâm giác ngộ thêm? Có cái gì nữa để phát tâm, tức thuộc bên ngoài rồi! Những cái đó đều là phương tiện đánh thức người trở lại thôi. Dù là pháp lục độ của Bồ Tát, song Bồ Tát cũng đâu phải do tu lục độ mà có được bồ đề! Thể bồ đề là vốn sẵn nơi tự tâm chúng sanh, phương tiện mà nói phát tâm, phát bồ đề vậy thôi. Do đó, đã phát tâm rồi, liền quên pháp phát tâm. Đó là phá cái niệm về bồ đề của Bồ Tát. Ngài Hoàng Bá có dạy: “- Biết rõ tất cả chúng sanh vốn là bồ đề, không lẽ lại được bồ đề. Nay ông nghe nói phát tâm bồ đề, bèn cho là có một tâm học làm Phật, chỉ nghĩ làm Phật, dù ông tu ba a tăng kỳ kiếp cũng chỉ là Phật báo thân, hoá thân, cùng Phật chân tánh bản nguyên của ông có gì dính dáng?”

    Như vậy, là đã rõ, không thật riêng có pháp để phát tâm. Bồ đề cũng chính ngay tự tâm.

    Kế là Phật phá cái chấp về bồ đề của Phật: “Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có pháp được Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”

    - Bạch Thế Tôn, không được. Theo chỗ con hiểu về nghĩa Phật đã nói, thì Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có pháp được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Bởi ở trên đã nói, không thật có pháp phát tâm Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác, vậy Thế Tôn ở chỗ Phật Nhiên Đăng phát tâm cúng dường, trải tóc lót bùn, được thọ ký, là có được bồ đề chăng? Vì phát tâm là nhân, được bồ đề là quả, nhân đã không, quả làm sao có?

    Phần trước là trừ tướng phân biệt bồ đề. Đây là gạn lại để trừ sạch dấu vết còn đọng lại trong tâm niệm. Phật không trả lời thẳng, mà Ngài gạn hỏi để Tu Bồ Đề trả lời. Tức là khiến người tự cảm nhận, thầm thông với Phật. Tu Bồ Đề đáp xác quyết không nghi “không thể”, và đáp khéo “Theo chỗ con hiểu về nghĩa Phật đã nói”, ý chỉ đây là chỗ tự chứng, không phải người ngoài hiểu được. Đó là ngừa người dùng tâm suy luận mà xuyên tạc.

    Phật xác nhận “Đúng thế! Đúng thế!”. Tức là đã hợp với ý Phật, chỗ thấy đó với Phật không hai. Chính tự Phật xác nhận rõ “Thật không có pháp Như Lai được Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Do đó Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ngài về sau sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Bởi Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác vốn không thuộc nhân quả sanh diệt, mà chính là Trí giác sẵn có của mỗi chúng sanh. Mê thì tạm mất, Ngộ chẳng phải mới có. Cho nên quả là không thật có một cái gì khác để được. Thấy được “chỗ không được” đó, mới gọi thọ ký.

    Nhưng, tại sao Phật Nhiên Đăng không ngay đó trao cho đi, lại huyền ký lâu xa về sau này mới thành, và thành với một cái hiệu? Đó là ngầm ý gì? Để rõ, THÍCH CA MÂU NI cũng là một cái tên, nếu chấp cái tên đó cho là Phật, là lầm! Bởi thành đó, là thành cái sẵn có đây thôi, không có gì thật được để trao cho. Nếu quả có thật được, tức ngay đây đem trao cho rồi. Do đó, thọ ký về sau cũng là một ý sâu, ngầm chỉ đây là lời phương tiện. Người chứng nghiệm thì tự cảm nhận rõ, nên dù Phật Nhiên Đăng không thọ ký ngay đó, Phật Thích Ca vẫn hoan hỷ. Bởi thấy rõ mình sẵn có, công tròn quả đầy thì hiển bày trọn vẹn vậy thôi. Ngay đó đã nhận có đủ rồi! Ngài Hoàng Bá từng nói: “- Giả sử người tinh tấn tu hành trải qua ba vô số kiếp, qua các địa vị, cùng với người do một niệm chứng được, chỉ là chứng cái SẴN CÓ, kỳ thật trên Phật của mình không có thêm được một cái gì. Xem lại công dụng nhiều kiếp thảy đều là việc làm trong mộng”. Cho thấy rõ ràng, Phật, Tổ đều thấy như nhau, người thật tỏ ngộ phải thấy đến như thế, mới hợp cùng Phật Tổ.

    Tiếp theo, Phật gạn lại để hiển bày rõ thêm: “Tại sao? Như Lai tức nghĩa NHƯ của các pháp” vì Như Lai là nghĩa Như của các pháp. Đây là dứt niệm hai bên có không. Nếu nghe nói không được, liền chấp cho là hoàn toàn không có pháp thọ ký, cũng lầm! Như vậy tức cũng không được thọ ký. Cần rõ, sở dĩ nói không được đó, vì “Như Lai là nghĩa NHƯ của các pháp”, NHƯ thì làm sao được mất? Có được mất là hết “Như” rồi!  Song, làm sao rõ được nghĩa Như? Tức ngay các pháp hiện tiền đây, thấy biết tất cả, mà không khởi niệm phân biệt, không thêm bớt trong đó, thì ngay đó là gì? Tức Như Lai hiện tiền thôi, có gì được mất!

    Bởi vậy, vừa có niệm khởi, tức có sanh diệt, có lăng xăng lấy bỏ, dời đổi, trái Như. Lìa niệm phân biệt thì pháp pháp đều như, không phải một bề không còn gì. Trái lại, đến đây thì: Núi sông là núi sông!

    Như Thiền sư Duy Tín từng nói: “Sãi tôi trước 30 năm thấy núi là núi, nước là nước. Sau khi được thiện tri thức chỉ dạy, thấy núi chẳng phải núi, nước chẳng phải nước. Sau khi được chỗ an ổn, thấy núi là núi, nước là nước”.

    Nghĩa là còn mê thì thấy gì cũng thật, nên dính mắc đủ thứ, mang đầy phiền não. Hiểu đạo thì lìa bỏ những chấp trước đó, nên thấy ngược lại lúc xưa. Khi sạch hết tình chấp rồi, thì mặc tình thấy, biết tất cả như xưa, nhưng không lầm như xưa, mới thật tự tại.

    Ông Tô Đông Pha cũng có bài tụng:

    Lô sơn yên toả Chiết giang triều,

    Vị đáo bình sanh hận bất tiêu.

    Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,

    Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều.

    * * *

    Khói phủ non Lô sóng Chiết giang,

    Ngày nào chưa đến hận còn mang.

    Đến rồi hoá lại không gì khác,

    Khói phủ non Lô sóng Chiết giang.

    Khi chưa ngộ, tưởng tượng đủ thứ về cái ấy. Ngộ rồi, chính cái hàng ngày đang sống mà tự bỏ quên, không thêm bớt gì khác. Vậy muốn thấy Như Lai đâu có khó? Chỉ cần trả lại các pháp trở về nguyên vị của nó, như nó là nó, đừng thêm bớt gì trong đó, đừng xen cái “Tôi” vào. Chính ngay đó “Toàn thể Như Lai sờ sờ đấy”!

    Đó là phá cái thấy lầm về bồ tát được thọ ký.

    Kế đây, là phá cái thấy về Phật pháp. Đã là Bồ Tát không có pháp phát tâm bồ đề, Phật không có pháp thật được, vậy Phật pháp có hay không? Nên Phât bảo: “- Nếu có người nói, Như Lai được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề, thật không có pháp Phật được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh. Tu Bồ Đề! Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh mà Như Lai đã được, trong đó không thật không hư. Vì vậy, Như Lai nói: tất cả pháp đều là Phật pháp.”

    Cần chú ý: Phật mà được Vô Thượng bồ đề sao? Phật có từng mê chăng? Nếu có mê, sao gọi là Phật? Đã chưa từng mê, còn được  bồ đề gì nữa? Cho nên một hôm Quốc sư Huệ Trung hỏi quan cung phụng Tử Lân:

    - Phật nghĩa là gì?

    Ông đáp: - Là nghĩa giác.

    Hỏi:  - Phật từng mê chăng?

    Đáp: - Chẳng từng mê.

    Hỏi:  - Dùng Giác để làm gì?

    Ông không đáp được.

    Bởi hiểu Phật theo danh từ chữ nghĩa, mắc kẹt giữa mê giác, nên không suốt được nghĩa thật. Đã là Phật rồi, còn giác gì nữa? Phật mà giác Phật nữa, là đầu thêm đầu rồi!

    Nhưng ở đây, Phật nói rõ thêm: “Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Như Lai đã được, trong đó không thật không hư”.

    Ở đoạn trước chỉ nói là “pháp Như Lai đã được”, đây nói thẳng: “Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác Như Lai đã được”, như vậy không phải phủ nhận hoàn toàn. Nếu lầm theo ngôn ngữ, nghe nói chẳng được, liền cho là không có, đó là kẹt một bên. Đây Phật nói rõ “trong đó” không thật không hư. Trong đó là trong đâu? Đó là chỗ không thể chỉ. Chính người đã thực sống trong đây, liền rõ nó là không thật không hư, tức không kẹt Có Không, không cho tình thức bám vào! Đây là trừ tâm lấy bỏ hai bên, ngay đó thẳng vào thôi!.

    Phật kết lại: “Vì vậy Như Lai nói, tất cả pháp đều là Phật pháp”

    Tất cả pháp đều là Phật pháp, vậy lấy cái gì? Bỏ cái gì? Thường mọi người cứ tưởng Phật pháp là cái gì kỳ đặc, cao vòi vọi ngoài tầm tay mình, không ngờ là cái rất đơn giản, bình thường ngay sát bên chúng ta. Bởi cứ cầu được một cái gì khác thường nên khó thấy.

    Như Thị giả của thiền sư Điểu Khòa tên Hội Thông, ở với thầy thời gian, một hôm từ giã đi, Sư hỏi: - Ông định đi đâu?

    Thị giả thưa: - Hội Thông vì pháp xuất gia, Hòa thượng chẳng từ bi chỉ dạy, nay đi các nơi khác học Phật pháp.

    Sư bảo: - Nếu là Phật pháp, ta trong đây cũng có chút ít.

    Thị giả thưa: - Thế nào là Phật pháp của Hòa thượng?

    Sư liền bứt sợi lông vải trên người đưa lên thổi, Hội Thông liền tỉnh ngộ.

    Vậy Phật pháp ở đâu? Ngay khi đưa sợi lông lên thổi, cái gì thổi? Cái gì thấy? Nếu không có ánh sáng tự tâm, cái gì làm được chuyện đó? Cho nên ngay chỗ sống hàng ngày đầy đủ tất cả, chỉ người tự mê thôi. Bởi mê, cứ lo đi tìm cái khác.

    Có vị tăng hỏi Ngài Mục Châu:

    - Suốt ngày mặc áo ăn cơm, làm sao khỏi mặc áo ăn cơm ?

    Mục Châu đáp:

    - Ăn cơm mặc áo.

    Tăng thưa:

    - Con chẳng lãnh hội.

    Mục Châu bảo:

    - Chẳng hội thì mặc áo ăn cơm.

    Đơn giản, ngay trước mắt đây, không khởi cái thấy điên đảo có không, đoạn thường, đây kia, thì tất cả pháp đều là Phật pháp, còn gì mà nói được mất?.

    Như vậy, nghĩa không pháp Bồ Tát phát tâm, không pháp Phật được bồ đề đã rất rõ ràng sáng tỏ.

    “Vì vậy, Như Lai nói, tất cả pháp đều là Phật pháp”, chính câu này thấy cho tột, tức dứt bặt mọi thứ điên đảo tưởng. Đều là Phật pháp hết, thì cái gì lấy, cái gì bỏ, cái gì chân, cái gì vọng, cái gì phải, cái gì quấy?

    Rõ ràng đâu đâu chẳng có ánh sáng giác ngộ? Còn chạy tìm cái gì? Cho nên nói: trước mắt lầm qua, rất tự đáng thương!

    Có người hỏi Ngài Hoàng Bá:

    - Nay chính khi ngộ, Phật ở chỗ nào?

    Sư đáp:

    - Hỏi từ đâu đến? Biết từ đâu khởi?

    Nói nín, động tịnh, tất cả thinh sắc đều là Phật sự, chỗ nào lại tìm Phật? Không thể trên đầu lại thêm đầu, trên mỏ lại thêm mỏ. Chỉ chớ sanh kiến chấp khác, thì núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục, núi sông quả đất, mặt trời mặt trăng, ngôi sao, thảy đều không ngoài tâm ông. Ba ngàn thế giới trọn là tự thể của ông, chỗ nào có nhiều thứ? Ngoài tâm không pháp, khắp thấy núi xanh, hư không, thế giới rõ ràng mà không có bằng mảy tơ sợi tóc cho ông sanh hiểu biết. Nên nói: “Tất cả thinh sắc là mắt tuệ của Phật”.

    Nhà Thiền gọi: “Chạm mắt là bồ đề”. Tâm đã bặt niệm phân biệt điên đảo thì thấy cái gì cũng từ ánh sáng giác ngộ mà thấy, nên cái gì cũng sáng ngời không mê, vậy cái gì không phải Phật pháp?

    Do đó, Thiền sư Thiền Lão nói:

    Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,

    Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

    * * *

    Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,

    Trăng trong mây bạc lộ toàn chân.

    Tâm thanh tịnh sáng ngời thì thấy cái gì cũng sáng ngời, đâu đâu cũng hiển bày thể chân thật đó! Thấy đến đây thì không lúc nào vắng mặt ông chủ!

    Cho nên, cuối cùng không phải là phá hoại hết tất cả pháp. Song muốn qua chỗ này, phải thấu qua ở trước là: “Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật”, chính lìa tất cả các tướng đó, mới thấy tất cả đều là Phật pháp, đều sáng ngời không mê. Nếu còn trụ một tướng, tướng đó tức là tướng chúng sanh rồi!

    Vì vậy tiếp theo, Phật liền phá: “Tu Bồ Đề! Nói tất cả pháp đó, tức chẳng phải tất cả pháp, thế nên gọi tất cả pháp”.

    Vừa nói đến “tất cả pháp” đều là Phật pháp, Phật liền sợ người chấp vào tất cả pháp, nên phá ngay, không cho bám lấy. Bởi Phật pháp không có tướng cố định, dừng lại ở một tướng gì thì trái Phật pháp!

    CHÁNH VĂN:

    - Này Tu Bồ Đề! Ví như thân người cao lớn.

    Tu Bồ Đề thưa:

    - Bạch Thế Tôn! Như Lai nói thân người cao lớn, tức chẳng phải thân lớn, đó gọi là thân lớn.

    - Này Tu Bồ Đề! Bồ tát cũng như thế, nếu nói lời thế này: “Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh”, ắt chẳng gọi là Bồ Tát. Tại sao? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Thế nên Phật nói tất cả pháp không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả.

    - Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói lời thế này. “Ta sẽ trang nghiêm cõi Phật, chẳng gọi đó là Bồ Tát. Tại sao? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, gọi đó là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã, Như Lai nói đó, thật là Bồ Tát.

    GIẢNG:

    - Này Tu Bồ Đề ví như thân người cao lớn. Ngài Tu Bồ Đề thưa: - Bạch Thế Tôn, thân người cao lớn tức chẳng phải thân lớn gọi là thân lớn.

    Đây là đức Phật nói với ngài Tu Bồ Đề giống như thân người cao lớn, ngài Tu Bồ Đề nghe nói như vậy liền bạch Phật: “Như Lai nói thân người cao lớn đó, tức chẳng phải thân lớn, đó mới là thân lớn.” Như vậy là sao? Ở trên vừa mới nói “tất cả pháp đều là Phật pháp”, sau đó lại nói ngay “tất cả pháp đó tức chẳng phải pháp thế nên mới gọi là tất cả pháp”, nói tất cả pháp rồi, là phá liền không cho người bám vào tất cả pháp. Qua đó, Ngài ví dụ, ví như là thân người cao lớn, nghe nói thân người cao lớn, ngài Tu Bồ Đề hiểu ngay, ngài không đợi hỏi  lại, liền nói “thân lớn đó tức chẳng phải thân lớn”, đây là đoạn nói lên ý gì? Bởi vì ở trên nói tất cả pháp đều là Phật pháp, nghĩa là  đâu đâu cũng là Phật pháp, đây ngài nói qua về thân lớn tức là thân to lớn trùm khắp, mà thân cao lớn trùm khắp như vậy làm sao tưởng tượng nỗi ra thân đó? Cho nên nói tới đó, ngài Tu Bồ Đề hiểu ngay liền nói: “thân lớn tức chẳng phải thân lớn” đó mới gọi là thân lớn; tức ở đây muốn cho chúng ta thầm nhận ra pháp thân vô tướng nhưng đầy đủ công đức, tuy không tướng không hình nhưng tùy duyên hiện khắp tất cả chỗ, nên gọi là thân lớn, chứ không phải nói vô tướng là không có gì hết. Bởi vậy đoạn này trong bản dịch Kim Cang đời Nguỵ dịch là “thân diệu đại”, là thân lớn mà nhiệm mầu; còn bản dịch đời Lương gọi là “biến thân đại thân”, là thân lớn mà trùm khắp; vậy qua đó người nhạy bén liền hiểu thân đó là thân gì rồi! Vừa lớn, vừa nhiệm mầu, vừa trùm khắp, như vậy nếu có một tướng gì đó thì chúng ta tưởng tượng chắc nó giống cái kỳ quái gì đó; nhưng ở đây ngầm chỉ nó trùm khắp tất cả, nó có vô lượng công đức trong đó, nó vượt ngoài thân tướng tầm thường này, cho nên không diễn tả thế nào được hết, tạm dụ nó là thân to lớn nhiệm mầu. Song khi nói tới thân lớn như vậy, sợ người kẹt vào tướng lớn, thành ra ngài nói ngay thân lớn tức chẳng phải thân lớn, nghĩa là không để cho mình khởi ra một cái thấy về tướng lớn. Như vậy, khi rõ được, sống được ở trong đây thì mới cảm nhận rõ ràng tánh tướng không hai, ngay nơi tướng, chúng ta thấu suốt được tánh nó trùm khắp tất cả. Bởi vì, nếu chúng ta hiểu theo tướng thì dù cho thân lớn tới đâu đi nữa, mà có tướng lớn thì có tướng nhỏ. Như trước đã nói, nếu nó lớn bằng núi Tu di chẳng hạn, thì gọi là thân lớn; nếu có thân khác lớn hơn núi Tu di thì nó thành nhỏ rồi. Thành ra nói lớn là đối với thân nhỏ khác, nhưng đối với thân lớn hơn nó thì nó thành thân nhỏ, mà có lớn có nhỏ thì cái đó chưa thật lớn, chỉ là lớn trong đối đãi thôi. Thêm nữa, đã có tướng lớn như vậy, tức nó thuộc về duyên hợp mà thành, dù nó có lớn cách mấy đi nữa thì cũng là duyên hợp, từ những cái nhỏ nó hợp lại thành cái tướng lớn, chứ không bỗng dưng có cái tướng lớn. Bởi vậy ở trước có nói là: “Phàm sở hữu tướng giai hư vọng”, nghĩa là cái gì có tướng đều là hư vọng thôi. Hiểu vậy mới thấy được ý nghĩa sâu ở trong đó. Do đó ở đây chúng ta phải khéo ngay nơi tướng mà mình thấy được vô tướng kia thì mới là chân thật. Quả là pháp thân cũng không lìa pháp nhân duyên mà riêng có; pháp thân là vô tướng, pháp nhân duyên là có tướng, như vậy để chứng nghiệm rõ ràng là “tất cả pháp đều là Phật pháp”, Phật pháp không rời tất cả pháp, Phật pháp cũng tức thế gian pháp thành ra. Chữ “tức” là nó không rời nhau, người sáng tỏ được nghĩa này sẽ hiểu thêm nghĩa “tất cả pháp vô ngã” ở phía sau Phật sẽ nói. Phật pháp tức là thế gian pháp, đó là nó không có ngã thật, tới phần sau sẽ thấy rõ. Như vậy rõ ràng nói thân lớn, đó là một thí dụ chứ không nhơn đó khởi tưởng thấy có tướng thân lớn; nếu thấy có tướng thân lớn thì cũng bị trên cái tướng nó làm lầm, không thấy được ý của Phật muốn chỉ. Qua đó ngài mới nói tiếp: “- Bồ tát cũng như thế, nếu Bồ tát nói lời như thế này: ta sẽ diệt độ chúng sanh ắt cũng chẳng gọi là Bồ tát”. Ở trên cái thân người to lớn đó cũng không thấy có thân lớn nữa, Bồ tát cũng vậy, nếu Bồ tát mà khởi niệm ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh thì chẳng gọi là Bồ tát, bởi vì sao? Bởi vì “thật không có pháp để gọi là Bồ tát”, chỗ đó khó hiểu! Nói Bồ tát mà thật không có pháp để gọi là Bồ tát, vậy sao là Bồ tát? Tới phần này là phá cái “thấy hay độ sanh”“trang nghiêm tịnh độ”, để làm thành nghĩa tất cả pháp đều là vô ngã. Ở trước là phá từ ngã tướng, nhân tướng độ, ở đây thì phá về tri kiến, tri kiến tức là phá về cái chấp, cái thấy, cái niệm về độ sanh ngay trong tâm niệm của mình; ở trước là phá trên tướng, ở đây là phá ngay trên tâm niệm, cho nên nếu còn có tri kiến độ sanh, tri kiến trang nghiêm tịnh độ đó, thì cũng chưa thật là Bồ tát. Đây dẫn: “nếu Bồ tát mà nói lời thế này: “ta sẽ diệt độ chúng sanh”, đó là có cái tự phụ trong đó, còn có tri kiến về ngã. Cho nên ở trước phá không có chúng sanh thật độ, để mình trở về tự tánh bất sanh, rõ chúng sanh tự tánh vốn là vô sanh. Đến đây thì cái thấy biết về độ sanh cũng khiến quên luôn, bởi Bồ tát là hữu tình giác, tức một hữu tình hay là một chúng sanh giác ngộ, một chúng sanh giác ngộ, tức là chúng sanh đó có đầy đủ giác ngộ rồi, thì chúng sanh kia cũng có tánh giác vậy. Mình cũng là chúng sanh, mình giác ngộ được, thì những chúng sanh kia cũng có tánh giác, vậy thì ai độ ai? Do đó chưa quên cái thấy độ sanh, là còn có cái thấy sanh diệt: Mình phải độ người kia, tức là thấy có chúng sanh thật, có chúng sanh thật nên mới độ chúng sanh kia, độ chúng sanh kia để diệt chúng sanh đó mới là thành Phật, thành Bồ tát; vậy là cái thấy sanh diệt nó vẫn còn ở trong này, đó là cái vi tế ở trong nội tâm. Cho nên đây phá cái vi tế đó. Tức là chưa tỏ suốt được chúng sanh và Phật bình đẳng cho nên mới thấy độ. Đến đây là dứt cái niệm hai bên, còn có hai bên tức còn có thấy Bồ tát khác, chúng sanh khác; Bồ tát khác chúng sanh cho nên mới độ chúng sanh. Phải rõ suốt ngay trong tự tánh vốn là không hai, cũng đồng một thể tánh vậy thôi, như vậy thì dứt niệm hai bên, mới thấu suốt được vô ngã, chứ còn thấy chúng sanh thật, Bồ tát thật tức còn thấy có ngã. Tiếp sau Phật mới nói: “Nếu Bồ tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó mới thật Bồ tát” Chỗ này, cái nhân vô ngã thì dễ thấy, còn pháp vô ngã làm sao hiểu đây? Nhân là người, người mà không có ngã, không có ta thì còn dễ hiểu, còn pháp mà không có tôi thì làm sao? Thí dụ cái bàn mà không có cái tôi thì hiểu sao? Ngã ở đây chỉ cho không có cái “thể cố định”, bởi vì ngã là cố định, là thường như vậy, người vốn không thật có cái tôi, tức có cái cố định ở trong này, cái thường nhất bất biến, thì pháp cũng vậy, nó không có cái thể cố định, cho nên nói vô ngã. Như chúng sanh cũng không cố định là chúng sanh, Bồ tát cũng không cố định là Bồ tát, Phật cũng không cố định là Phật, quý vị dám thấy như vậy không? Đây là điểm đặc biệt trong Phật pháp, nếu mà không nhờ Kim Cang Bát nhã thì khó thấu nỗi chỗ này, bởi vì sao? Nếu chúng sanh mà cố định là chúng sanh thì không thể tu hành gì được, phải không? Chúng sanh mà cố định chúng sanh thì không thể chuyển chúng sanh thành Bồ tát, bởi nó cố định như vậy rồi; cũng như Bồ tát mà cố định là Bồ tát thì không thể chuyển thành Phật; hoặc không thể có chúng sanh chuyển lên thành Bồ tát được, bởi vì Bồ tát là cố định sẵn rồi. Thành ra mình là chúng sanh thì vẫn là chúng sanh mãi, không mong gì là Bồ tát được, rồi Bồ tát cũng không mong gì thành Phật được. Hiểu như vậy rất là nguy hiểm! Nếu mà sẵn như vậy rồi thì không còn cách gì để tu hành nữa, có tu cách mấy cũng vậy thôi, như vậy là chận đứng con đường chuyển hoá của người; Ví dụ như nói định mệnh, là con người có định mệnh đó rồi thì hết chuyển phải không? Đó cũng là cái thấy về chấp ngã. Trái lại, ở đây chúng ta phải hiểu rõ mọi pháp đều do nhân duyên, cho nên chúng sanh sở dĩ là chúng sanh, là do mê tánh giác, là do nhân duyên mê tánh giác tức làm chúng sanh, nếu mà ngộ tánh giác thì chuyển chúng sanh thành Bồ tát, thành Phật. Như vậy mới có tu, mới có chuyển hoá, mới có tiến lên, không ai có mặc cảm hết. Đó là nói theo danh từ chuyên môn, nếu nói theo lý, thì chúng sanh là chỉ cho “niệm mê”, Bồ tát là “niệm giác”; khi còn mê thì thấy có cái giác để giác cái mê, còn khi đã giác rồi, mê hết thì đồng một thể chân thật đó, vậy giác là giác cái gì? Nếu như còn thấy có cái giác để giác cái mê thì sao? Tức là còn “có cái mê” để giác, vậy thì rõ ràng chưa hết mê! Cho nên còn thấy có mình giác, vậy giác là giác cái gì? Đâu thể giác khơi khơi, giác tức là giác cái mê, có mê để giác, thì còn dấu vết cái mê chưa hết, đó là chỗ vi tế phải thấy! Bởi vậy, một niệm “mê- giác” này mà chưa thấu triệt, thì chạy đầu này, đầu kia mãi, không vướng đầu này cũng mắc đầu kia, luôn luôn mắc kẹt hai đầu thôi. Do đó phải quên cái niệm mê giác này, vượt qua hai đầu, thì mới gọi là tự tại thấu suốt được. Trong nhà thiền có vị tăng hỏi quốc sư Huệ Trung:

    - Làm sao được thành Phật?

    Ngài Huệ Trung đáp:

    - Phật và chúng sanh đồng thời dẹp đi, thì ngay đó giải thoát.

    Tức là cái niệm về Phật, cái niệm về chúng sanh đó dứt bặt đi, thì ngay đó là giải thoát, ngay đó là cái thể niệm chân thật. Lục Tổ cũng nói: “Chẳng ngộ thì Phật là chúng sanh; còn khi ngộ thì chúng sanh là Phật.” Chúng sanh và Phật chỉ là hai danh từ chuyển đổi mà thôi, cái thể vẫn không hai, để nêu rõ không có pháp nào ngoài tâm, không có một pháp cố định nào, gọi là pháp vô ngã. Như vậy chúng sanh cũng là tâm thôi, tức là tâm mê; Phật cũng là tâm, tâm giác; còn Bồ tát cũng là tâm, tâm phần giác, tức là giác được từng phần thôi, chưa có giác được viên mãn. Tóm lại, cũng là tâm, tâm mê là chúng sanh, tâm giác trọn vẹn là Phật, tâm giác từng phần là Bồ tát, không có một pháp nào riêng gọi là Bồ tát, cho nên ở đây nói: “ - Nếu Bồ tát nói: ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh đó, thì chẳng gọi là Bồ tát” tức là thấy có pháp thật rồi! Kế ngài giải thích tại sao? Nghĩa là thật không có pháp gọi là Bồ tát, thế nên Phật nói tất cả pháp không ngã không nhân không chúng sanh không thọ giả. Không có pháp nào cố định hết. Thứ hai là phá về cái thấy biết trang nghiêm tịnh độ. Ngài nói thêm: “- Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ tát nói lời thế này: ta sẽ trang nghiêm cõi Phật, cũng chẳng gọi là Bồ tát”. Ở trên là nói “ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh”, ở đây nói là “ta sẽ trang nghiêm cõi Phật”. Giải thích tại sao? Bởi “Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật đó, tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm”. Quý vị tụng Bát nhã hằng ngày, còn nhớ câu gì hợp với chỗ này? Nghĩa là, trong ánh sáng Bát nhã thì bất cấu, bất tịnh, không nhơ không sạch, còn thấy có trang nghiêm cõi Phật, tức là còn thấy có nhơ, có nhơ nên mới trang nghiêm cho nó thanh tịnh, chứ không có nhơ thì trang nghiêm làm gì nữa? Vì vậy, thấy ta phải trang nghiêm tịnh độ, tức còn thấy có chỗ nhơ, mà có nhơ có sạch tức là còn cái thấy sanh diệt, cái thấy hai bên. Do đó ở đây phá cái “thấy biết” về trang nghiêm đó. Chính chỗ này, khi Lục Tổ đại ngộ, ngài mới la lên câu: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh!” Thấy tự tánh vốn tự thanh tịnh rồi thì còn trang nghiêm cái gì nữa? Khi thấy có trang nghiêm đó, là thấy có pháp thật để trang nghiêm, thì cũng rơi vào cái ngã nữa, gọi là pháp ngã. Còn ở đây dứt cái niệm trang nghiêm đó, tức dứt cái niệm nhơ sạch, nếu cái niệm nhơ sạch đó mà chưa quên thì khó thông đạt được pháp vô ngã. Chỗ này làm sáng tỏ thêm ý nghĩa ở trước đã nói: “tất cả pháp đều là Phật pháp”, như vậy còn trang nghiêm cái gì nữa? Tức đều thanh tịnh, đều sáng suốt rồi, còn khởi thêm một cái trang nghiêm nữa là sao? là chưa thanh tịnh! Trong nhà thiền gọi là trên đầu thêm một cái đầu nữa. Vậy cuối cùng là quên cái thấy biết về trang nghiêm luôn mới thật là trang nghiêm, mới tự tại đối với các pháp. Chỗ đó mới gọi là quên công phu, đạt đến chỗ vô công dụng. Thường người tu hay nhớ công của mình, do mình tu lâu nay nên giờ mới được thanh tịnh, như vậy nếu tu nhọc nhằn một chút thì khi được yên thanh tịnh rồi, mình hơi có cái ngã, nhờ mình tu lâu nên nay mới được thanh tịnh, vậy ta hôm nay được thanh tịnh rồi, còn các ngươi chưa thanh tịnh, đó là cái ngã nó hiện! chỗ công phu sâu rồi mới thấy từng chút từng chút nó vi tế. Như vậy muốn đạt được đến đó, phải thông đạt pháp vô ngã mới thấy suốt không ngại, còn thấy có một pháp thật tức là có ngại; bởi vì còn thấy có pháp thật thì còn thấy có bên đây bên kia, hoặc là bên tịnh hoặc là bên nhơ, tức là vướng trong cái thấy cố định. Ở đây thông suốt pháp vô ngã rồi, thì tuỳ duyên ứng đối, vì nó đâu có cố định gì! Bởi vậy phiền não tức bồ đề, phiền não đâu có cố định là phiền não nên tức bồ đề là dễ hiểu; rồi sanh tử tức Niết bàn, ba độc tức giải thoát, rất dễ hiểu, không có gì cố định. Nếu sanh tử cố định rồi làm sao tức Niết bàn được? Ngược lại Niết bàn cũng không thể tức sanh tử; ba độc tham, sân, si cố định rồi cũng không tức giải thoát được, mà tức giải thoát là nó không có cái thể cố định ở trong đó, như vậy là mình chuyển được hết. Hiểu được nghĩa “tức” là như vậy, chứ lâu nay nghe tức mà không biết “tức” là sao? Tiến thêm một bước nữa, vọng tưởng cũng không cố định luôn, vậy còn sợ vọng tưởng nữa không? Trong kinh Lăng Già nói: “Các thánh truyền nhau, vọng tưởng là không tánh”, tức không có tánh cố định, không có cái thể thật, như vậy có gì để sợ nữa? Chỉ sợ một điều, sợ mê thôi! Nhưng mà mê cũng không sợ, vì mê cũng không cố định luôn, không cố định là mê hoài; nếu giác cái mê thì mê hết. Vậy còn có cái gì để mình sợ, có chỗ nào để mình bám nữa đây? Đây là chỗ khiến cho người có đủ lòng tin để vươn lên, chuyển hoá tất cả, chứ không có mặc cảm “tôi mê rồi không còn cách gì tu nữa”. Như vậy không có nằm ỳ một chỗ, dù hiện tại nghiệp chướng đầy dẫy cũng vẫn không có mặc cảm thối tâm để tự khi mình, cũng không có đổ thừa nghiệp chướng luôn, vì nghiệp chướng cũng không cố định. Nghiệp cũng đâu phải là cái sẵn có, do mê mà huân tập thôi, cái huân tập là cái sau này, chúng ta tu thì mình chuyển được hết. Trong bài kệ sám hối vô tướng có câu: Tánh tội vốn không do tâm tạo, Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong, Tội không tâm diệt cả hai không, Thế ấy mới là chơn sám hối”. Thấy như vậy mới thật là sám hối, nghĩa là tánh tội vốn là không, không đây nghĩa là cái tội nó không phải sẵn có đó, mà do tâm mình mới tạo tác, dù cho mình tạo tội lớn đi nữa, nếu ngay đây mà dừng được cái tâm niệm của mình, tức những cái tâm niệm lăng xăng phân biệt đây kia phải quấy đó, nếu tâm đó thanh tịnh, lặng rồi thì trong tâm thanh tịnh đó, tội đứng ở chỗ nào? Sở dĩ nó còn, là tâm còn lăng xăng, còn phân biệt; như vậy do tâm mới tạo thôi, tâm yên rồi dù cho những tội mình tạo hồi xưa nó lớn đi nữa, nó có quả báo sót lại đi nữa, mà tâm mình thanh tịnh rồi thì quả báo đến nó có khổ sở không? Tâm yên, thanh tịnh rồi thì có đến cũng như không thôi. Thấy được như vậy thì mới thật sự là sám hối, tâm mới thật sự thanh tịnh, mới giải thoát. Như vậy rõ ràng dù cho nghiệp chướng của mình đây có dẫy đầy cũng có thể tu được, cũng có thể tiến lên được. Chính chỗ thấy đó là chỗ thấy rất quý để cho mọi người tiến hóa lên.

    Song nói như vậy, có người cho là cái gì cũng vô ngã hết, Bồ tát cũng không có pháp thật gọi là Bồ tát nữa, vậy có Bồ tát hay không? Ở đây là phá cái kiến chấp, tức cái thấy biết mắc kẹt vào cái cố định, đó là phá cái chấp chứ không phải là phá pháp; cho nên kinh nói rõ: “Nếu Bồ tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai nói đó thật là Bồ tát”. Như vậy, đâu phải là phá dẹp hết trơn mà là phá những lầm chấp của mình, khi sạch hết những cố chấp đó thì mới thật Bồ tát; trái lại, nếu còn có những cố chấp đó thì chưa phải đúng nghĩa Bồ tát, chứ không phải một bề phủ định hoàn toàn. Như vậy phủ định tất cả, để làm thành tất cả, suốt được tất cả pháp vô ngã thì chân ngã hiện, đến đó mới là rốt ráo vô ngã.

     

  • 18. ĐỒNG QUÁN MỘT THỂ

    CHÁNH VĂN:

    18. ĐỒNG QUÁN MỘT THỂ

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao Như Lai có nhục nhãn chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai có nhục nhãn.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhãn chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai có thiên nhãn.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có huệ nhãn chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai có huệ nhãn.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có pháp nhãn chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai có pháp nhãn.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai có Phật nhãn.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như số cát có trong sông Hằng, Phật nói là cát chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Như Lai nói là  cát.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như số cát có trong một sông Hằng,  có những sông Hằng bằng với số cát như thế, rồi số cát có trong mọi sông Hằng đó, cõi Phật cũng như thế, phải là nhiều chăng?

    - Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

    Phật bảo: Tu Bồ Đề:

    - Chúng sanh ở trong những cõi nước nhiều như thế, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết. Tại sao? Như lai nói các tâm là chẳng phải tâm, đó gọi là tâm. Vì cớ sao? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể được, tâm  hiện tại chẳng  thể được, tâm vị lai chẳng thể được.

    GIẢNG:

    Đoạn này rất vi tế, đồng quán một thể, nghĩa là năm mắt đồng một thể thôi, rồi các tâm cũng đồng một thể, đây là phần hiển bày tri kiến Phật lìa tướng, không có một, không có khác, để thấy rõ ngay đó là như như. Trước hết là chỉ bày ra Phật đủ năm mắt. Năm mắt là: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn. Nhục nhãn là con mắt thịt do cha mẹ sinh ra này; nhưng trong con mắt thịt đó, có ngầm ẩn cái gì đó nó mới có thấy? Tức ngầm ẩn tánh thấy ở trong đó! Nhưng do nó dính chặt vào các căn nên nó thấy rất là giới hạn. Nghĩa là thấy trước mặt chứ không thấy sau lưng, cách một tấm giấy mỏng thôi cũng không thấy được, song trong đó vẫn ngầm có tánh thấy. Thứ hai thiên nhãn, là con mắt của cõi trời, con mắt này một do phước nghiệp mà được, ví như các cõi trời dục giới, do phước sanh lên đây thì họ có thiên nhãn; một do định lực mà được, như ở thế gian này, nếu có tu đắc những cái định cõi trời đó thì cũng có được thiên nhãn, là thấy suốt qua tường vách. Huệ nhãn, là mắt của các hàng Thanh văn, Duyên giác, thấy suốt được năm uẩn đều vô ngã, tức ở đây là quán về lý Không. Pháp nhãn, là mắt của Bồ tát, nghĩa là thấy các pháp vô ngã, từ vô ngã rõ sự sai biệt của các pháp; huệ thì thấy về lý, đây là thấy về sự, biết mọi căn cơ sai biệt để mà thuyết pháp khế hợp. Phật nhãn, thì trùm hết năm mắt, thấy tột tất cả. Nhưng năm mắt của Phật thì nhục nhãn của Phật vừa thanh tịnh, vừa thấy suốt các trần không ngăn ngại.  Thường nhục nhãn của chúng ta thì thấy đâu là dính đó, đừng nghĩ là Phật có nhục nhãn rồi Phật cũng dính như mình; tức là ngài cũng có nhục nhãn như mình, cũng thấy sắc này, sắc nọ, thấy đủ nhưng mà thấy không có chút gì ngăn ngại, thấy tất cả nhưng tánh giác vẫn hiện trọn vẹn, không dính vào các trần. Thiên nhãn của Phật thì thấy hằng sa cõi Phật, hằng sa thế giới; thiên nhãn của các vị Thanh văn hoặc của các cõi trời thì chỉ thấy một đại thiên thế giới, hoặc là vài đại thiên thôi. Huệ nhãn của Phật thì thấy suốt tột ngã không và pháp không, và thấy luôn cả lý không không nữa, chứ không phải thấy ngã không như các vị Thanh văn. Pháp nhãn của Phật thì thấy suốt tột mọi điều sở tri, tức mọi pháp sai biệt thấy suốt hết không còn có chút dấu vết ngăn ngại. Tuy nói Phật có năm mắt, nhưng đồng một thể thôi, do mê, giác mà có sai biệt. Nghĩa là chỉ có một thể đó thôi, nhưng chúng sanh mê thì chỉ thấy có con mắt thịt này thôi nên thấy ngăn ngại; nếu giác chút nữa, có một chút định thì thấy có được thiên nhãn, thấy suốt qua những chướng ngại; thêm chút nữa được huệ nhãn thì thấy suốt được lý vô ngã, suốt qua thân năm uẩn này, tiến lên nữa được pháp nhãn, thấy suốt những pháp sai biệt; như vậy chỉ một thể chân thật này mà tùy theo mức độ mê giác cạn sâu mà nó sai biệt chứ không phải nó thành ra có tướng năm con mắt, là lầm! Nghe nói Phật có năm mắt, rồi tưởng Phật vừa có hai cặp mắt thịt này, rồi thêm hai cặp mắt thiên nhãn nữa, thêm hai cặp mắt huệ nhãn, rồi hai cặp mắt pháp nhãn, hai cặp mắt của Phật. Hiểu kiểu đó là sai lầm, là mắc kẹt trên tướng. Đây muốn chỉ cho mê giác có cạn, có sâu nên cái thấy có cạn có sâu như vậy. Ngài Phó Đại Sĩ có bài tụng về năm mắt này:

    Thiên nhãn thông phi ngại,

    Nhục nhãn ngại phi thông.

    Pháp nhãn duy quán tục,

    Huệ nhãn trực duyên không

    Phật nhãn như thiên nhật,

    Chiếu dị, thể hoàn đồng.

    Tức là “Thiên nhãn thông chẳng ngại, Nhục nhãn ngại chẳng thông”, thiên nhãn thì thấy suốt qua tường vách chẳng ngăn ngại, nhục nhãn thì cách một tờ giấy mỏng là không thấy được rồi. “Pháp nhãn chỉ quán tục”, tức pháp nhãn thì quán tục đế, quán các tướng sai biệt, nghĩa là mọi pháp sai biệt pháp nhãn quán rõ hết không có lầm; “Huệ nhãn thẳng duyên không”, huệ nhãn thấy về lý, pháp nhãn thấy về sự; “Phật nhãn như ngàn mặt trời; Soi khác, thể lại đồng”, nghĩa là trên cái dụng chiếu soi thì tạm chia ra có sai khác, tức là có Phật nhãn, huệ nhãn… nhưng nếu nhìn tột trong bản thể thì vốn không có hai, cũng là một mắt tâm này thôi, bởi vì đoạn này là tiếp đoạn trên đã nói rõ là không có cái thấy về độ sanh, cái thấy về trang nghiêm tịnh độ, không có cái thấy pháp thật là Bồ tát, tất cả pháp đều là vô ngã; khi nói như vậy rồi, e có người sẽ nghi “như vậy thành Phật rồi cuối cùng sẽ thế nào?” Cuối cùng không thấy biết gì hết hay sao? Cho nên tới đoạn này mới chỉ ra, Phật có đủ năm mắt, chứ không phải thành Phật rồi là mù hết, mà chính chỗ này người mới tu chưa có kinh nghiệm nhiều cũng dễ mắc kẹt, dễ sanh sợ. Tu thì bảo phải lặng hết vọng tưởng, tức những niệm lăng xăng, những niệm lao xao này phải lặng hết, lìa những cái tâm phân biệt kia đây, như vậy đến lúc đó thì sao? Có vọng tưởng thì có tướng này, tướng nọ, rồi phân biệt, cũng giống xem màn hình vidéo có tướng này tướng kia còn vui vui, tắt đi rồi thì đâu có tướng gì phải không? Như vậy, khi có vọng tưởng thì có tướng này tướng kia, từng đợt từng đợt  mình thấy rõ ràng cho nên mình thấy vui, còn không có những tướng đó thì thấy gì đây? Thành ra, giống tê liệt, giống như cây đá hay sao? Người mới tu nghe tới chỗ này rất là sợ! Nhưng đâu có ngờ, những cái thấy, những cái biết trong vọng tưởng đó là cái biết từng phần thôi, nó bị chia chẻ có giới hạn; bởi chia chẻ có giới hạn nên mình thấy nó có từng đợt, nó nghĩ cái này, nó nghĩ cái kia, nó biết tướng này, nó biết tướng nọ, chia từng khoảng mình dễ thấy, còn hết vọng tưởng rồi thì một màu trong lặng; nghĩa là toàn thể nó biết hết, chứ đâu có từng phần, đâu có giới hạn gì! Tuy không khởi mà vẫn biết, không khởi biết mà vẫn tự biết luôn, bởi vì nó trùm khắp rồi đâu cần phải khởi nữa; còn cái kia có khởi tức có từng phần từng đợt; đây thì nó luôn luôn vẫn sáng ngời như vậy, có một chút gì thoáng qua thì nó hiện rõ trong đó liền, đâu cần khởi phân biệt nữa! Đó mới là cái biết tròn đầy trọn vẹn. Chúng ta sống quen cái biết từng chặp rồi, cho nên khi lặng cái đó thì thấy chới với không có chỗ bám. Bởi vậy sống trở về chính mình thì hơi cô đơn, mình đối diện với chính mình thì đâu có bạn bè gì; còn sống với bạn bè nhiều thì phân biệt cái này phân biệt cái kia thấy vui vui! Vì vậy, những người thường thì khi ngồi không chơi ít chịu nỗi, thấy buồn bã cô đơn, thành ra phải kiếm cái gì đó để đọc, kiếm tờ báo, hay quyển sách xem cho vui hoặc là mở ti vi cho đỡ buồn, hay tìm vài ba người nói chuyện chứ ngồi không thì buồn! Đó là chúng ta luôn luôn trốn tránh mình, không chịu đối diện với mình. Trái lại ở đây là dạy chúng ta sống thẳng trở về với chính mình thì mới rõ suốt được cái thể biết trọn vẹn, chính cái đó mới là cái biết chân thật. Bởi vậy ngài Huyền Giác từng nói “biết mà không có phân biệt”, tuy không phân biệt mà nó luôn luôn hằng sáng, cho nên cái gì có hiện ra thì nó biết ngay cần gì thêm chi nữa? Như vậy cho thấy, khi đã sạch hết tình chấp rồi  thì cái thấy nó viên mãn trọn vẹn, suốt tất cả không có gì ngăn ngại, chứ không phải đến đó rồi không còn thấy biết gì. Do đó đến đây mới chỉ ra, Phật có đủ năm mắt, nhưng mình cần chú ý, mỗi câu hỏi về một con mắt thì ngài Tu Bồ Đề đáp sao? Hỏi Phật có nhục nhãn không? Ngài đáp: Đúng thế, có. Hỏi: Có thiên nhãn không? Ngài đáp: Đúng thế, có. Mỗi câu đều đáp có hết, tức là muốn chỉ Phật không chấp chỉ có một cái thấy của Phật thôi. Người bình thường dễ lầm Phật chỉ có Phật nhãn thôi, còn mấy cái kia không có; vì cho rằng Phật mà có nhục nhãn nữa sao? Có cái thấy giống chúng sanh nữa sao? Nếu chấp chỉ có một Phật nhãn thôi thì thêm một cái lầm nữa! Ở đây nói Phật có đủ hết, Phật nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn cũng có đầy đủ, tức là không bỏ sót một cái nào, như vậy mới trùm hết, mới phá cái ngã kiến, tức cái thấy của riêng mình, đó mới là thông đạt pháp vô ngã. Nếu chỉ thấy có Phật nhãn thôi thì có thông đạt pháp vô ngã không? Vậy là Phật nhãn cố định là Phật nhãn, thì cái thấy đó chưa phải là viên mãn. Đây thì đủ năm mắt hết mà không có tướng của năm mắt, đó mới thật cái thấy lìa tướng. Như vậy chúng sanh có đủ năm mắt đó không? Chúng sanh vẫn có đủ năm mắt đó, chứ đừng nghĩ là riêng Phật mới có thôi; nếu chỉ riêng Phật có thôi thì chúng ta cũng hết tu luôn. Chính chúng sanh vẫn có đủ năm mắt đó, nhưng vì mê vọng chấp trước cho nên bị che lấp đi. Bởi mê vọng nó lăng xăng gắn chặt những cái lầm lẫn nên không hiện được, khi mê vọng hết thì cũng đồng như chư Phật thôi, chứ không phải khi mê vọng hết thì ở đâu bên ngoài chạy tới. Để rõ năm mắt đó là ngay nơi mình cũng đồng với Phật, nghĩa là cái thể thì không hai, mà cái dụng thì chưa được, bị còn mê. Song đây là nói về năm mắt theo cái nhìn thông thường, nếu đứng trên lý tánh mà nói về năm mắt thì, nhục nhãn là cái thấy tất cả sắc mà tự tánh luôn luôn nó ngầm hiện trong đó, nó không có ngại; còn thiên nhãn là tự tâm thấy rõ suốt qua mọi vật, rõ luôn cả tự tâm mình nó hiện trong đó, gọi là “kiến sắc minh tâm”, thấy sắc sáng được tâm, chứ không bị sắc đó nó ngăn thì đó gọi là thiên nhãn; còn huệ nhãn là thấy tột năm uẩn này, tâm thể hiện tiền ở trong đó chứ không mắc kẹt trên năm uẩn; pháp nhãn thì thấy suốt tất cả pháp sai biệt, tức tất cả mọi pháp sai biệt đều thấy hết mà không rời tự tánh của mình, nghĩa là tự tánh luôn hiện bày khắp tất cả hết; Phật nhãn thì thấy tất cả mà không chỗ thấy, nghĩa là bặt hết tất cả mọi đối đãi, đồng một thể không hai, thì có ai thiếu không? Ai ai cũng đều đủ mắt đó hết đâu có thiếu, nhưng chỗ này ai biết được? Trong Chứng đạo ca, ngài Huyền Giác có nói về năm mắt này như sau:

    Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực

    Duy chứng nãi tri nan khả trắc.

    Kính lý khán hình kiến bất nan,

    Thuỷ trung tróc nguyệt tranh niêm đắc.

    ***

    Tịnh năm mắt, được năm lực,

    Chỉ chứng mới hay khó lường được,

    Trong gương xem bóng dễ thấy hình,

    Đáy nước mò trăng nhọc công chắc.

    Nghĩa là, khi mình tịnh được năm mắt, tức là năm mắt này mà được thanh tịnh rồi thì được năm lực, tức là năm sức mạnh: Tín, tấn, niệm, định, huệ, năm sức mạnh đó khiến cho mình vươn lên, mà những điều đó ai biết được đây? Chỉ chứng mới biết được, mới rõ được, chứ chỗ này không phải là chỗ lý luận, dù cho nói cách mấy đi nữa thì năm mắt đó cũng giống như là của ai, chứ mình chưa mò tới, phải kinh nghiệm sống được trong đó mới cảm nhận. “Trong gương xem bóng dễ thấy hình”, là soi trở lại mới dễ thấy; còn “Đáy nước mò trăng nhọc công chắc”, tức chạy đuổi theo bên ngoài, theo bắt bóng thì không bao giờ nắm được. Vậy năm mắt đó, nơi mình đầy đủ hết, song phải soi lại nơi mình chứ còn theo cái tướng bên ngoài, rồi cứ cầu tìm, dù lên cõi trời cũng không kiếm được năm mắt ở trên đó. Đó là nói về năm mắt của Phật, mà cũng để nói lên cái thấy của Phật nó trùm hết, nó trọn vẹn.

    Kế là nói “cái biết cũng suốt tất cả.” Ở đoạn trên nói về năm mắt, tới đây thì nói về cái biết, trước hỏi về “như số cát sông Hằng đó, vậy Phật có nói là cát chăng?” Nếu mới học Bát nhã sơ sơ thì nói Phật không nói cát, bởi vì Bát nhã thấy tất cả đều không; nhưng đến đây là qua một lớp đó rồi, cát Phật nói là cát, tức là cát vẫn là cát, không thêm không bớt, không có niệm gì riêng khác trong đó, trả về cái thấy như thật. Nghĩa là không có cái niệm khác, không có thấy khác, tức Như Lai cũng không có cái thấy biết khác; chúng sanh gọi là cát, Phật cũng gọi là cát,  nhưng chúng sanh thấy là cát mà chấp cát thật, còn Phật cũng nói là cát mà không có lầm chấp như chúng sanh. Chúng sanh thấy cát lầm chấp cát là thật, rồi theo đó phân biệt quên mất chính mình; còn ngài nói là cát mà ngài biết rõ chính mình tỏ suốt chứ không mê lầm. Như thấy con trâu, Phật cũng nói con trâu, nhưng không có lầm trong đó, đó mới chính là cái thấy như thị, nó như vậy là như vậy, không có thêm bớt. Đây ngài nói thêm: “như số cát trong sông Hằng đó, rồi bao nhiêu sông Hằng đồng với số cát đó..v.v..” trong đây lớp thứ nhất là số cát có trong sông Hằng, lớp thứ hai là số sông Hằng bằng số cát đó, lớp thứ ba là số cát có trong tất cả mọi sông Hằng,vậy là chừng bao nhiêu? Số cát trong một sông Hằng đã nhiều rồi, lại bao nhiêu sông Hằng đồng với số cát của một sông Hằng đó, rồi cộng tất cả số cát của hết thảy sông Hằng, ngài nói cõi Phật cũng nhiều như số cát đó, như vậy là bất khả thuyết, hết chỗ nói, không thể tính kể. Phật nói: có tất cả bao nhiêu chúng sanh trong đó, có bao nhiêu thứ tâm, một chúng sanh mình từ sáng đến chiều có bao nhiêu tâm cũng tính không hết rồi, mà chúng sanh ở trong mọi thế giới cả đời, rồi cộng hết bao nhiêu chúng sanh đó nữa thì ngoài sức tưởng tượng, ngoài sức nghĩ bàn của mình! Song nếu người nhạy bén một chút thì ngay đó đủ rồi, khỏi nói thêm. Nhưng chúng ta thì phải nói nhiều một chút, đó là muốn nói cái gì? nghĩa là bao nhiêu chúng sanh, bao nhiêu thứ tâm của chúng sanh có trong tất cả mọi cõi Phật như vậy đó, mà Như Lai thảy đều biết hết, đây là muốn nói: thứ nhất là tâm chúng sanh vô lượng vô biên không thể tính kể được, nhưng mà mọi thứ tâm đó Như Lai biết hết không có sót gì, làm sao tin nỗi? Mình với tâm mình thôi chứ không nói đến tâm người khác, có lúc tỉnh thì còn biết, lúc mê chạy mất cũng không biết nỗi, mà bao nhiêu tâm đó Như Lai đều biết hết, thì làm sao tin nỗi? Bởi vậy, đây nói, “Phật bảo” một cách trịnh trọng, cho mọi người chú ý. Ngài thố lộ rõ ràng: “Như Lai nói các tâm là không phải tâm”, bao nhiêu đó là đủ hiểu rồi, dù có hàng tỷ tỷ thứ tâm đi nữa nhưng điều là tâm hư vọng, “chẳng phải tâm”, đều chẳng phải bản tâm; tức là bao nhiêu thứ sai biệt đó, biết tất cả đều chẳng phải bản tâm thì có cái nào bỏ sót? Dù cho khởi lên cái gì nữa, cũng biết chẳng phải bản tâm rồi; bởi vì bản tâm thì đâu có nhiều thứ, mà có nhiều thứ thì không phải nó rồi! Trong đây hai cái còn không có, huống nữa là nhiều; vừa thấy có hai là không phải rồi, huống nữa hàng tỷ tỷ thì không phải chính bản tâm. Do đó, dù cho chúng sanh có bao thứ tâm đi nữa, thì Như Lai đều biết hết không có sót. Phật mới giải thích thêm, vì sao mà các thứ tâm đó chẳng phải tâm? Bởi “tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được”, chẳng thể được là sao? là không thật có, không thật có là không thể nắm bắt. Như vậy chính câu này hiểu qua thì hiểu ý của Phật rồi! Tại sao các tâm chẳng phải tâm? Vì tâm ba thời chẳng thể được, chính câu này ngài Đức Sơn bị bà già bán bánh hỏi trả lời không được. Sư là một vị giảng kinh Kim Cang nổi tiếng, mà khi nghe tới thiền, Sư cũng không hiểu nổi, cho nên muốn quảy gói đi về phương nam để phá dẹp. Giữa đường gặp bà già bán bánh hỏi mua bánh điểm tâm; bà già thấy Sư mang một cái túi lớn bà mới hỏi: - Thầy mang cái gì đó? Sư nói là: - Bộ Thanh long sớ sao. Tức là bộ sớ giải về kinh Kim Cang. Bà hỏi: - Vậy chắc thầy giảng kinh Kim Cang rồi. Sư nói: - Phải. Bà nói: - Thầy cho tôi hỏi một câu, nếu thầy đáp được thì tôi cúng dường luôn không lấy tiền, nếu đáp không được thì xin đi chỗ khác. Sư là giảng sư kinh Kim Cang, bà già bán bánh hỏi thì có gì đâu đáng kể, bèn nói: - Bà cứ hỏi đi! Bà dẫn trong kinh Kim Cang: Trong kinh nói là: “Tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được”, như vậy thầy điểm tâm là điểm tâm nào? Tâm ba thời không có chỗ nào được hết, thì lấy cái gì điểm đây? Ngay đó Sư bí không trả lời được. Như vậy rõ ràng Sư giảng cũng là học hiểu thôi, của người khác, mình học hiểu rồi nói lại thôi, chứ chưa thật của mình phát ra. Chính chỗ đó bị bà già bà gạt mà không hay! Khi hỏi điểm tâm nào, là cái bẩy rồi, mình lo tìm cái tâm nào đó để điểm, thì tâm nào đó là tìm tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai, tức quên mất cái nghĩa “không thể được”. Đó là đuổi theo cái bóng để tìm, mà quên mất cái “biết đang trong sáng hiện tiền đây”. Bởi vì bất cứ cái tâm nào, hễ vừa khởi lên là rơi vào ba thời; vừa khởi lên thì hoặc là nghĩ về quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, không thế nào chạy khỏi hết. Nhưng quá khứ qua rồi làm sao tìm, vị lai thì chưa đến, còn hiện tại thì nó luôn luôn trôi chảy không dừng, mình vừa nghĩ hiện tại thì nó thành quá khứ rồi, vậy là ba thời cũng không thể bám, làm sao nắm bắt được. Bởi vậy, tâm mà vừa khởi lên là có tướng là có bị biết, nó thuộc về đối tượng, đó là tâm hư vọng, thì có ngàn muôn sai khác đi nữa cũng biết rõ ràng là đồng một thể thôi, tức “thể không”, rất đơn giản không cần suy nghĩ cũng biết, có suy nghĩ là có thêm một cái tướng nữa rồi, còn cái này rõ ràng như vậy. Nhưng trong đây có thêm một điểm nữa, tâm có trăm ngàn muôn thứ lăng xăng rối rắm không cùng thì đâu có dễ gì nhận biết rõ ràng hết, vậy ở đây đức Phật y nơi đâu mà ngài nói, ngài biết rõ hết? Phải thấy được chỗ đó thì mới nhận được chỗ biết hết, chứ không phải đơn giản. Hãy chú ý! Ngài nói: “Như Lai” đều biết hết, chính chỗ đó là thố lộ rồi! Trước đã nói “Như Lai là nghĩa như của các pháp”, thì ở đây cứ y theo “nghĩa như” đó mà biết thôi, chứ có gì khác! Nghĩa là, vừa khởi lên động niệm là trái với nghĩa như rồi, thì biết là không phải, y theo nghĩa như đó thì rõ biết tất cả không có lầm, vừa động niệm là biết trái với nghĩa như rồi. Nếu dùng cái thấy biết sai biệt để biết cái sai biệt, thì  làm sao biết được? Ngài Lâm Tế có nói: “- Hiện tại đây như có Văn Thù, Phổ Hiền xuất hiện ngay trước mắt, mỗi vị hiện một thân để nói pháp, vừa nói: “- Thưa Hòa thượng!”thì tôi biết rồi. Lão tăng ngồi yên, lại có hàng đạo lưu nào đến gặp nhau, tôi cũng trọn hiểu rành. Chỉ vì chỗ thấy của tôi khác, ngoài chẳng nhận phàm thánh, trong chẳng trụ căn bản, thấy suốt chẳng còn nghi lầm!” Ngài nói rằng Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền đồng một thời xuất hiện hỏi pháp, mà vừa mở miệng “thưa Hòa thượng”, là ngài biết rõ, là sao? Mở miệng là có niệm rồi! Có niệm là biết không phải. Thành ra, nghe nói chúng ta tưởng ngài có thần thông gì ghê gớm, mà thực chỉ y nghĩa Như đó thôi. Ông vừa mở miệng là có niệm rồi, tức biết trái Nó. “Lão tăng ngồi yên, lại có hàng đạo lưu nào đến gặp nhau thì tôi cũng trọn hiểu rành”, là hiểu sao? Nếu không có việc gì, đến đây làm gì? Vừa đến, là trong lòng có việc gì rồi, mà có việc tức là bỏ mất cái hiện tiền, đang đi tìm cái gì khác, đó là quên mất chính ông, cho nên vừa đến là biết rồi! Bởi vậy Đức Sơn có một buổi tham thiền tối, Sư bảo:

    - Tối hôm nay chẳng được thưa hỏi, ai thưa hỏi sẽ ăn ba mươi gậy.

    Có ông tăng ra lễ bái, Sư liền đánh cho một gậy, ông tăng thưa:

    - Bạch Hòa thượng, con chưa hỏi gì hết sao ngài đánh?

    Sư hỏi:

    - Ông quê ở đâu?

    - Con quê ở Tân La.

    (Tân La là ở bên Triều Tiên, còn ngài Đức Sơn ở Trung Hoa)

    Sư bảo:

    - Ông chưa bước chân xuống thuyền là đáng ăn gậy rồi!

    Tức là đi tìm, là bỏ chính mình chạy đi chỗ khác, cho nên vừa xuống thuyền là đáng gậy rồi. Đây cũng vậy, ông vừa đến là tôi hiểu rồi! Làm sao ngài biết được chỗ đó? Đây ngài nói: “- Bởi vì tôi ngoài chẳng nhận phàm thánh, trong chẳng trụ căn bản”, chính chỗ đó là chỗ mà ngài biết hết. Nghĩa là không kẹt trong ngoài, tức y theo nghĩa “Như” như vậy, thì cái gì đến là biết ngay thôi, ngay đó thấy suốt tất cả không có nghi lầm, không có gì gạt được. Tóm lại, trong con mắt của Phật thì không nhận bất cứ cái gì, cho nên vừa có cái gì ngài liền biết, không có một niệm nào qua mắt được Phật. Đó là chỗ, vừa động niệm tức là chẳng phải bản tâm rồi, mình nhớ rõ như vậy là biết hết. Song trước giờ chỉ nói là thấy biết tất cả hết, giờ đây ngược lại, cái mà “tất cả chẳng thể thấy biết” là sao? là cái gì? Thấy biết tất cả, là thấy biết cái bên ngoài thôi, còn “cái” tất cả chẳng thể thấy biết nó, đó là cái mà mình phải sống trở lại chỗ đó, chứ không phải nghe nói như vậy rồi cứ theo đó mà phân biệt, cứ phải hiểu biết hết tất cả, đó cũng là theo ngôn ngữ. Đây là, nhơn cái đó, phải thấy trở lại chỗ mà tất cả không thể thấy biết, sống được cái đó là mình trở về gặp Phật! Như ngài Thạch Sương đến hỏi ngài Thạch Đầu: - Khi khởi tâm động niệm chẳng dừng thì sao? (đó là chỗ mà ai  cũng thắc mắc), ngài Thạch Đầu chỉ bảo: - Dốt, là ai khởi tâm động niệm? Ngay đó Thạch Sương ngộ liền. Bởi vì mình cứ theo động niệm, rồi cứ chấp cái đó là thật, mà bám theo cái tướng đó phân biệt, cho nên không biết làm sao dừng, mà càng cố ngăn cho nó dừng thì càng động thêm nữa; bởi vì chấp nó là thật rồi. Trái lại thấy rõ nó không tự thể thì tự yên. Cho nên nhận cái tâm động niệm đó, tức nhận tướng sanh diệt, mà nhận tướng sanh diệt tức là rơi vào trong ba thời; còn đây là phải khéo thấy lại nguồn tâm trước khi động niệm thì đâu có tướng gì? có thời nào? Trước khi động niệm thì nó đâu có quá khứ hay vị lai? Ý Tổ nằm ngay trong đó, đó là chỗ mình phải sống trở về. Vì vậy trong đoạn này, Phật muốn nói đến năm con mắt này là đồng trở về một con mắt thôi, cũng như là bao nhiêu thứ tâm cũng về một tâm thôi; một con mắt đó là con mắt tâm thấy suốt cả năm mắt, năm mắt cũng đồng một mắt tâm chứ đâu có gì khác; rồi bao nhiêu cái tâm đó cũng đồng một tâm thể thôi, một tâm thể gồm suốt mỗi tâm chứ có gì đâu! Vậy thấu suốt được tâm thể thì chúng ta suốt được mọi thứ tâm, cũng như mở sáng được mắt tâm thì rõ sáng được năm mắt kia, chứ không phải chạy tìm theo tướng phân biệt thì không bao giờ thấy được. Đoạn này hiểu như vậy, mới thấy khi chúng ta tu hết vọng tưởng rồi thì năm mắt đầy đủ, biết khắp tất cả không có thiếu thốn gì hết.

  • 19. HÓA THÔNG CẢ PHÁP GIỚI

    CHÁNH VĂN:

    19. HÓA  THÔNG CẢ PHÁP GIỚI

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông  nghĩ sao? Nếu có người đem  bảy báu đầy cả thế giới tam thiên đại thiên dùng bố thí, người ấy do nhân duyên đó, được phước nhiều chăng?

    - Bạch Thế Tôn, đúng thế! Người này do nhân duyên đó được phước rất nhiều.

    - Này Tu Bồ Đề! Nếu phước đức có thật, Như  Lai  chẳng nói được phước đức nhiều. Do phước đức không nên Như  Lai nói được phước đức nhiều.

    GIẢNG:

    Đây là phần hóa thông cả pháp giới, tức là biến thông, là trùm khắp tất cả các cảnh giới không có bờ mé, không có giới hạn, hay tan biến mọi cảnh giới, là chỗ giới hạn, ngăn che. Qua đoạn này, chúng ta thấy nó có trùng lập với phần so sánh phước đức ở trước chăng? Đây nói có người đem bảy báu đầy cả thế giới tam thiên đại thiên dùng bố thí, người do nhân duyên đó được phước nhiều chăng? Như vậy có phải là lập lại để so sánh phước bố thí  với phước trì kinh một lần nữa hay không? Cho nên phần này phải đọc kỹ, chứ không thì thấy sao cứ so sánh hoài vậy?

    Vì ở phần thứ tư, Phật so sánh, nói rằng: “- Như hư không ở phương đông, phương tây, phương nam, phương bắc, ở trên, dưới không có thể lường được, Bồ Tát không có trụ tướng mà bố thí thì phước cũng như thế.” Rồi tới phần thứ 11, Phật so sánh: “Đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên bằng số cát của những sông Hằng bố thí, cũng không bằng  phước của người đối trong kinh này thọ trì cho đến bốn câu kệ thôi, phước thọ trì bốn câu kệ còn hơn cả phước đem bảy báu đầy thế giới tam thiên đại thiên nhiều vô số.” Rồi phần thứ 13, cũng so sánh nữa, so sánh “người thiện nam, thiện nữ đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, so với người thọ trì bốn câu kệ kinh này, vì người khác mà nói, phước này cũng nhiều hơn.”

    Tới phần thứ 15, cũng so sánh nữa, so sánh lên thêm một từng nữa là, “đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng bố thí buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, trải qua thời gian dài, cũng không bằng người nghe kinh này, lòng tin chẳng nghịch, rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng nữa thì phước này còn hơn phước kia.” Đó so sánh từng lớp từng lớp tiến lên, nhưng đến đây lại có ý gì khác? Ở đây không phải là so sánh phước bố thí với phước trì kinh nhắc ở trên nữa, mà chính là nói đến cái diệu dụng không thể nghĩ bàn của người thông đạt được các pháp vô ngã, làm được việc trên đây. Cho nên phải chú ý, trong đây không có nói là phước bố thí của những người đó đối với người thọ trì kinh này nhiều hơn, mà Phật nói rõ: người ấy “do nhân duyên” đó được phước nhiều không? Ngài Tu Bồ Đề đáp: “- Đúng vậy, người này “do nhân duyên” đó được phước rất nhiều.” Nhân duyên đó, là nhân duyên gì? Đó là chỗ đặc biệt phải chú ý! Không so sánh trì kinh, mà nói là do nhân duyên đó, thì đây chữ “nhân duyên” là trọng điểm, chúng ta phải thấu triệt chỗ đó. Nhân duyên, là chỉ cho tất cả những pháp có hiện ra ở trên thế gian này đều không ngoài nhân duyên, không có gì là ngẫu nhiên. Nhân duyên có khi nói gồm chung, như nói nhân, cũng gồm duyên ở trong đó; bởi vì nhân là chỉ cho cái nhân gần, nhân gốc, còn duyên chỉ cho cái nhân phụ, cái nhân xa. Thí dụ như hạt cam gọi là nhân, con người, phân, nước, ánh sáng mặt trời, là cái duyên để tạo cho hạt cam đó nảy mầm nó sanh trưởng, thì đó gọi là duyên. Thành ra nói nhân duyên thì gồm cả nhân chính và nhân phụ trong đó, như vậy chúng ta phải xét kỹ mọi vật ở trên thế gian có gì vượt ngoài nhân duyên? Đều nằm trong nhân duyên hết. Mình sanh ra đây cũng là nhân duyên, tức do nghiệp thức đã huân tập từ đời trước mê lầm, rồi tạo những cái nghiệp mà dẫn đi sanh, gặp duyên cha mẹ mà ra đời, thì cũng là nhân duyên. Ngay cả những hoạt động trong tâm mình đó, tuy là nó không có rõ ràng nhưng nó không ngoài nhân duyên: một tâm mà sanh ra thì nó không thể ngẩu nhiên mà sanh, tức có cái nhân, là tâm bất giác; lấy tâm bất giác làm nhân, rồi duyên căn duyên trần nó được khởi phát chứ không có cái nào tự nhiên mà sanh hết. Mọi người xét cho kỹ, có cái tâm nào không duyên mà khởi chăng? Có nhân, có duyên tức là nó không có tự tánh, không có tánh cố định sẵn có; phải đợi nhân, đợi duyên tức là nó tạm bợ không thật. Như vậy đoạn này là nương theo từ đoạn trước mà nói ra, đoạn trước đã nói về tam tâm chẳng thể được; tức là tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai cũng chẳng thể được, ba tâm đều không thể được hết, e rằng có người sẽ nghi ngờ, như vậy có tu hành, có làm phước hay không? Vì vậy có người sẽ nhận lầm, thành rơi vào càn tuệ, càn tuệ tức là trí tuệ khô khan. Nghĩa là ba tâm đều không được, thì cần phải làm gì nữa? không có tâm nào thật hết thì lấy tâm gì để làm? Chấp vào cái lý đó rồi buông xuôi không làm gì cả. Do đó, ở đây Phật nói, chính do cái nhân duyên đó mà làm, thì mới được cái phước đức rất là nhiều, nhân duyên đó là gì? Tức do cái “tâm rõ thấu ba tâm không thể được” đó, nhân tâm đó mà làm việc bố thí, thì cái bố thí đó không thể nghĩ bàn! Nếu đem cái tâm có thể được đó mà làm bố thí thì nó có giới hạn, bố thí đó còn có trụ tướng, còn có chấp trước, hay nói rõ hơn là còn có cái ngã trong đó, tức còn có nghĩ bàn. Cho nên đây muốn nói lên, ở trong pháp vô ngã đó mà thông suốt được lý vi diệu, được mà không chỗ được, phước mà không có tướng phước thì mới là cái được rộng lớn, mới là cái phước vô cùng. Nghĩa là từ trong pháp vô ngã đó thông suốt được lý vi diệu gọi là được mà không được, phước mà không có tướng phước, chính ngay tâm thông suốt đó, mà làm tất cả, vượt qua mọi cảnh giới, gọi là hoá thông cả pháp giới không có giới hạn, thì việc làm mới là rộng lớn không có ngằn mé. Do đó Phật hỏi như vậy, thì Ngài Tu Bồ Đề hiểu ý ngay nên Ngài đáp liền: “Đúng thế”. Đúng thế, là đúng như cái lý thật đó, do nhân duyên đó mà được phước nhiều. Nhân duyên là gì? Nhân là cái tâm thể nhận ba tâm không thể được đó. Duyên là đem  bảy báu bố thí đó, chính nhân duyên như vậy mới được phước nhiều vô lượng. Bố thí như vậy là bố thí thế nào? Đó là muốn nói lên bố thí mà xả các tâm ba thời, không có trụ vào một cái nào hết, bố thí với một cái tâm buông xả hết. Bởi vậy Ngài Hoàng Bá có nói: “- Bồ Tát tâm cũng như hư không, tất cả đều xả, tâm quá khứ không thể được, thì xả quá khứ, tâm hiện tại không thể được thì xả hiện tại, tâm vị lai không thể được thì xả vị lai, cho nên nói ba thời đều xả.” Nghĩa là xả hết ba tâm không có chỗ nào để bám, không có chỗ nào để trụ trước vào, tâm mới thênh thang như hư không, dùng cái tâm thênh thang đó mà làm việc phước lành thì công đức mới được vô lượng. Cho nên chúng ta phải xả tất cả không còn chỗ nào để bám hết, như vậy đó là đạt đến cái tâm thể thênh thang, nó rộng lớn, không có ngằn mé, cũng không có cái ngã tướng trong đó, đây mới gọi là hóa thông tất cả mọi cảnh giới, nghĩa là không có một cảnh giới nào ngăn ngại hết. Do đó mới nói là được phước rất nhiều, phước rất nhiều là như vậy. Ở đây nói phước nhiều đó, là để thấy rằng không phải việc làm đó là rỗng suông vô ích, không phải nói rằng ba tâm không được rồi mọi việc làm đều rỗng thôi, không có được gì. Nhưng nói nhân duyên, để thấy rằng đó là nhân duyên thì không thể chấp là thật có được, cũng không chấp vào thật không, không thể đem tâm bám chặt vào trong tướng bố thí đó hay là tướng phước đức đó, thì không có mắc kẹt có và không. Như vậy chính cái nhân duyên đó, mới tương xứng với cái tâm rộng lớn, thì cái phước nó mới được rộng lớn. Do đó Ngài Tu Bồ Đề đáp: “Đúng thế người này do nhân duyên đó được phước rất nhiều”. Kế Phật dạy thêm: “Nếu phước đức mà có thật đó thì Như Lai chẳng nói là phước đức nhiều, do phước đức không, nên Như Lai mới nói phước đức nhiều”. Nếu thấy có phước đức thật thì sao? Thật, tức là nó cố định rồi, thật có tướng rồi, tức là có chỗ để tâm chấp trước, là có chỗ bám, mà có chỗ bám tức có giới hạn, có nhiều, có ít, có đối đãi nhau, thì chưa phải là chỗ thật nhiều. Ở đây nói phước đức không, tức là không có chỗ để bám víu, không có chỗ chấp trước, không có chỗ thật để được, đó là nói lên cái phước đức mình sống trở về tự tánh, mà phước đức sống về tự tánh thì đâu có giới hạn, đâu còn có được, mất mới thật là nhiều; trái lại có thật thì có số lượng, cái phước đức có thật thì dù nhiều như núi nhưng nó có số lượng, là có tướng bám trụ, tức nó bị bó buộc trong một giới hạn nào đó, không có thể rộng lớn thênh thang được, và như vậy nó còn mang cái ngã tướng trong đó. Cho nên ở đây nói phước đức mà có thật đó, thì Như Lai nói không có nhiều. Thêm nữa, vì nó có thật thì có tham cầu, thấy phước đức thật thì dễ sanh tâm tham cầu, mà sanh tâm tham cầu thì trái với nghĩa Như rồi, trái với tự tánh rồi, cho nên ở đây, Ngài muốn đưa chúng ta sống về với tâm rộng lớn thênh thang, vượt ngoài có, không, vượt ngoài số lượng, giới hạn, đó mới thật là phước đức không thể nghĩ bàn. Tóm lại, đoạn này là để nhấn mạnh cho người hiểu thấu suốt, phải lấy tâm vô sở đắc đó mà làm tất cả, làm tất cả với cái tâm vô sở đắc, không có thấy chỗ được nào hết, thì cái quả mới không thể lường được; làm mà còn mong muốn có chỗ để được, thì làm đó còn mang một cái ngã tướng trong này, ắt cái quả cũng hạn hẹp.Vì vậy phần này nó sâu hơn một từng là vậy. Ở phần trước là nói lên cái bố thí mà không trụ nơi sáu trần, tức bố thí mà không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đó là khiến cho chúng ta không trụ vào cảnh giới bên ngoài; ở đây bố thí chẳng có trụ nơi tướng của nội tâm nữa. Nghĩa là ba tâm đều xả hết, không có trụ nơi tướng nội tâm của mình nữa, như vậy trong, ngoài đều không có trụ, không có dính hết, đó mới là thông suốt trùm khắp cả pháp giới, đó mới là thênh thang rộng lớn! Hiểu như vậy, thì quý vị mới thấy ý nghĩa nó sâu xa của từng đoạn, từng đoạn, chứ nếu đọc sơ qua thì thấy Phật sao cứ so sánh tới so sánh lui hoài. Như vậy là thấy rõ từng lớp từng lớp đi sâu hơn.

  • 20. LIA SẮC LÌA TƯỚNG

    CHÁNH VĂN:

    20. LIA SẮC LÌA TƯỚNG

    Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy sắc thân đầy đủ mà thấy Phật chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên lấy sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai. Tại sao? Như Lai nói sắc thân đầy đủ, tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, đó gọi là sắc thân đầy  đủ.

    - Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao?  Có thể lấy sắc tướng đầy đủ mà thấy Như  Lai chăng?

    - Bạch Thế Tôn, chẳng được, chẳng nên lấy các tướng đầy đủ mà thấy Như Lai. Tại  sao? Như Lai nói các tướng đầy đủ, tức chẳng phải đầy đủ, đó gọi là các tướng  đầy đủ.

    GIẢNG:

    Đoạn này: Nói về lìa sắc lìa tướng, ở đây Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: Bây giờ ý ông nghĩ sao? có thể lấy cái sắc thân đầy đủ mà thấy Như Lai chăng? thì Ngài Tu Bồ Đề thưa: Chẳng được, chẳng nên lấy cái sắc thân đầy đủ  mà thấy Như Lai. Bởi vì tại sao? Như Lai nói sắc thân đầy đủ, tức chẳng phải sắc thân đầy đủ. Câu này trong bản của đời Đường chỉ nói sắc thân thôi, mà không nói chữ đầy đủ.  Nghĩa là: “Tại sao? Như Lai nói sắc thân, tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, đó gọi là sắc thân đầy đủ. Vậy sắc thân đầy đủ đó là gì? Ở những đoạn trước thì nói là “có thể lấy thân tướng mà thấy Như Lai chăng?” rồi “có thể lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng?” Nói thân tướng là nói chung các tướng, cho nên nói nếu thấy các tướng mà chẳng phải tướng tức thấy Như Lai; nói đến ba mươi hai tướng là chỉ cho ứng thân của Phật; ở đây nói sắc thân đầy đủ, các tướng đầy đủ là chỉ cho báo thân của Phật đầy đủ mọi tướng  tốt, mọi vẻ đẹp trang nghiêm, do những công đức tu hành nhiều đời nhiều kiếp mà cảm nên. Vì vậy chữ “đầy đủ” đó, là đầy đủ mọi tướng tốt vi diệu, báo thân đầy đủ mọi tướng tốt đó, cũng do những nhân duyên tu hành mà cảm được, như vậy có thể cho là pháp thân sao? Nếu nhận cái đó cho là pháp thân, thành ra pháp thân cũng là cái bị thấy rồi! Đến đây là muốn đưa người lên thêm một lớp nữa, ở phần trước là muốn phá tướng khiến cho người không trụ vào các tướng, cho nên không trụ vào các thân tướng, không trụ vào ba mươi tướng, đây là khiến cho mình quên cái công của mình luôn, bởi vì báo thân của Phật do công phu tu hành nhiều đời nhiều kiếp mà cảm nên được quả báo tốt lành này, như vậy nếu không có trí kim cang này thì cũng dễ chấp vào cái công đó, do cái công mình tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mới được cái này, thấy chấp vào trong đó thì cũng chưa thể nhập được pháp thân. Cho nên ở đây khiến người quên cái công đó, để thể nhập sống vào trong pháp thân, vì pháp thân đâu phải là những tướng vi diệu, dù là những tướng tốt đẹp vi diệu thế nào nếu chấp đó là pháp thân, thì pháp thân cũng là cái tướng bị thấy rồi. Song pháp thân cũng không rời những cái này, tuy không phải nó nhưng mà tùy duyên thì pháp thân cũng hiển hiện nơi các tướng vi diệu đó, mà pháp thân không phải là tướng vi diệu. Nghĩa là không phải lìa nơi những tướng đó mà riêng có pháp thân. Chỉ có một điều là, người không khéo mà nhận nơi sắc tướng đó cho là pháp thân, thì có lúc mình phải bị chới với. Nhận sắc tướng cho là pháp thân, mà sắc tướng thì có tốt, có xấu phải không? Có tốt, có xấu rồi có khi thấy, có khi không thấy. Dù là tướng Phật tốt đẹp trang nghiêm mấy đi nữa, nhưng nếu có tướng như vậy đó, thì có phải lúc nào cũng ở trước mặt mình không? Dù là có tướng tốt đẹp cách mấy đi nữa, cũng có khi hiện, khi không hiện, có khi thấy, khi không thấy, tức là khi đối diện thì mình thấy, khi không đối diện thì mình không thấy, chứ đâu phải luôn luôn lúc nào cũng hiện trước mặt, Phật đó không phải là Phật thường xuyên, dù cho gần gũi kế cận như  Ngài A Nan là thị giả đi nữa, nhưng không phải thấy luôn? cũng có lúc thấy, có lúc không thấy, lúc làm thị giả thì thấy, lúc nghỉ thì đâu có thấy. Do đó, đây không phải là Phật thường trụ. Phật thường trụ là Phật pháp thân vô tướng, đó mới là cái luôn luôn hiện hữu nơi mình, không bao giờ mất, không có vắng mặt, dù ngay cả lúc mình mê như hiện giờ, nó cũng không thiếu vắng. Sống với pháp thân đó, mới gọi là sống với cái luôn luôn hiện hữu không bao giờ mất, còn bám vào cái tuớng gì đi nữa, dù là tướng trang nghiêm tốt đẹp cũng có khi vắng mặt, mà điểm đặc biệt là pháp thân luôn luôn hiện hữu nơi mình, nhưng nó lại không phải là cái bị thấy. Bởi vậy khi mình vừa thấy nó, hay vừa khởi niệm tìm nó, tức là nó không hiện tiền. Cho nên, ai mà nói tôi thấy pháp thân thế này, thế nọ, thì biết rõ đó không phải là thứ thiệt rồi! Vì pháp thân đâu phải là hình tướng gì, đâu phải bị thấy mà nói thế này thế nọ? Hoặc có người nghe nói như vậy, rồi cho rằng muốn thấy pháp thân đó, phải bịt mắt, bịt tai lại, ngó thẳng vào trong đầu trong ngực gì đó thì cũng là lầm luôn! Bởi pháp thân chân thật đó, nó không có hình sắc gì, nhưng mà nó luôn luôn hiện hữu giữa mọi hình sắc, tức là ngay chỗ thấy nghe hiện tại của mình đây nó đầy đủ không thiếu, chỉ khéo nhận thôi, song như vậy thì phải thấy sao đây? thấy thế nào? Đây hãy nghe một thiền sư chỉ cho mình thấy, ngài chỉ rất khéo: Thiền Sư Minh Biện Chánh Đường khi sắp tịch, Sư đăng tòa cầm cây gậy lia bên trái một cái, nói: “- Ba mươi hai tướng không có tướng này”. Rồi lia bên phải một cái nói: “-  Tám mươi vẻ đẹp cũng không cái đẹp này” Sư nói thêm: “- Cây viết Tăng Dao vẽ chẳng thành, Chí Công bày ra bản nháp”, rồi Sư lia một cái nữa nhìn đại chúng nói: “- Chớ áo não, thẳng đây thừa kế, thôi tìm xét!” Đơn giản vậy thôi, đã chỉ bày pháp thân rõ ràng. Cầm cây gậy Sư lia qua bên trái một cái, nói “Ba mươi hai tướng không có tướng này”, rồi lia bên phải một cái, “Tám mươi vẻ đẹp cũng không có vẻ đẹp này, cây viết của Tăng Dao vẽ chẳng được, Chí Công cũng bày ra bản nháp thôi”. Như vậy đó thì thấy sao? Cái này phải khéo lanh mắt chứ không bám theo hình tướng, theo cây gậy đó mà thấy thì bị gạt. Chính khi Sư lia cây gậy bên trái, lia cây gậy bên phải đó, phải lanh mắt rõ ngay cái gì đang hiện hữu nơi mình đó, chứ đừng theo cây gậy mà thấy. Chính cái hiện hữu đây, là cái Sư muốn chỉ, còn cây gậy không phải chỗ chỉ, theo cây gậy để hiểu là lầm theo vật rồi, lia bên trái lia bên phải cũng là cái tướng thôi, còn cái gì đang sáng ngời nơi mình đây, cái đó mới là chỗ Sư muốn nhắm. Nhưng khi mình vừa chớp mắt, tức bị cây gậy nó che mờ, nó làm mù đi. Bởi vậy chỗ này phải tâm thật là lặng lẽ không có lao xao, thấy là thấy thẳng liền không có chớp mắt, không để cho cái suy nghĩ nó phóng ra kịp, vừa suy nghĩ là rơi vào các tướng rồi! Chính cái đang sờ sờ nơi mình đó, cái đó nó có hình tướng gì? cho nên gọi là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng không thể theo kịp nó được; bởi vì bao nhiêu tướng tốt, bao nhiêu vẻ đẹp đó cũng có tướng trạng, mà có tướng trạng tức là nó cũng không thường. Sư nói thêm cây viết Tăng Dao là chỉ cho người vẽ giỏi, vẽ đẹp đó, cũng vẽ không ra được cái đó; rồi Ngài Chí Công dù khéo tả bày, khéo chỉ cũng không chỉ bày ra được, cũng chỉ bày ra bản nháp thôi, bản nháp là sao chép lại cái bản chính đó, như vậy còn bản chính của nó là ở đâu? Bây giờ dù cho có chỉ khéo léo cách mấy cũng là bản nháp, là bản sao thôi, chưa phải là bản chính; bản chính đó là chính nơi mình vậy. Mình thể nhận nơi mình đó, mới chính là bản chính, thấy bên ngoài dù cho phương tiện hay khéo của các vị Tổ cũng là bản nháp. Đây là muốn đánh thức chúng ta, phải tự mình thể nhận lấy ngay nơi chính mình, chớ có tìm bên ngoài! Đó là đưa mình sống thẳng trở về với chính mình để dừng những chỗ thấy biết đuổi theo các tướng bên ngoài. Do đó Sư nhấn mạnh: “Thôi tìm xét!” Vừa khởi tâm tìm xét nó thì xa nó rồi! Đó là Sư khéo léo chỉ, mà mình cũng phải khéo nhận. Để rõ thêm hơn, đây gợi ý thêm một đoạn nữa: Là Ngài Kỉnh Huyền cũng có lần hỏi Thiền sư Duyên Quán:

    - Thế nào là đạo tràng vô tướng?

    Ngài Duyên Quán chỉ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở đằng trước đó, và nói:

    - Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.

    Ngô Xử Sĩ là một tay vẽ tuyệt vời hồi xưa. Kỉnh Huyền nghe nói như vậy liền suy nghĩ để thưa, thì Ngài Duyên Quán nhanh nhẹn nói thêm:

    - Cái này có tướng, cái kia không tướng.

    Chính ngay đó Sư liền tỉnh ngộ, vậy đạo tràng vô tướng ở chỗ nào? Ngài Duyên Quán rất khéo, vừa có suy nghĩ là có tướng liền, cho nên vừa trầm ngâm suy nghĩ thì liền nói, “Cái này có tướng, cái kia không tướng”, thì ngay đó Kỉnh Huyền nhận ra liền, thấy cũng phải thấy khéo vậy đó! Bởi vì vừa khởi nghĩ, là nghĩ cái gì phải không? Thí dụ nghe nói đạo tràng vô tướng, thì mình liền khởi nghĩ có cái đạo tràng vô tướng gì đó. Thành ra cũng có tướng! Cho nên ở đây Ngài Duyên Quán rất khéo léo, đợi cho Sư vừa trầm ngâm suy nghĩ thì Ngài nói ngay: “Cái này có tướng, cái kia không có tướng”, ngay đó đúng lúc Kỉnh Huyền cũng nhận ra. Như vậy để thấy rằng, có tướng thì có bị thấy, mà có chỗ bị thấy tức là vẫn còn đứng ngoài cửa, dù là thấy đó là thấy cái gì vi diệu đi nữa, cũng chưa phải. Cho nên nếu ai nói rằng “Tôi thấy pháp thân, hoặc là tôi thấy chơn tâm thế này thế nọ đó” tức biết ngay là còn đứng ngoài cửa rồi. Như vậy để cho thấy rõ, ở đây là muốn khiến người ngay nơi sắc tướng, mà lìa sắc tướng, để nhập pháp thân chân thật đó thì mới là người khéo, khéo ngay sắc tướng mà đạt được vô sắc. Tóm lại, bám vào sắc tướng đó, nhận đó thế này thế nọ thì bị cái sắc đó che, và như vậy là chưa thể nhập chân thật vào trong pháp thân. Cũng nói về pháp thân, có một vị tăng hỏi thiền sư Vân Môn:

    - Thế nào là pháp thân thanh tịnh?

    Ngài Vân Môn đáp:

    - Hoa Thược Lan.

    Vị tăng hỏi:

    - Khi ấy thì thế nào?

    Sư đáp:

    - Sư tử lông vàng.

    Sư nói đơn giản, nhưng với người tham cứu thiền thì thấy thật là sâu sắc. Hỏi thế nào là pháp thân thanh tịnh? Pháp thân thanh tịnh, tức là pháp thân vô tướng mà thanh tịnh thì người ta cứ  nghĩ pháp thân đó nó rời ngoài sắc tướng này. Sư nói: Hoa Thược Lan, ngầm chỉ ngay nơi sắc là vô sắc, ngay nơi sắc tướng đó khéo nhận mà thôi, chứ vừa khởi niệm kia đây tức là đã rời mất pháp thân rồi. Cho nên khi Sư đáp “Hoa Thược Lan”, thì ông tăng hỏi: Vậy chính khi ấy thì thế nào? Sư đáp: “Sư tử lông vàng”, Chính ngay nơi sắc tướng đó khéo nhận ra, thì đầy đủ hết, sư tử lông vàng là thể hiện cho trí tuệ, vì Bồ Tát Văn Thù cởi sư tử lông vàng đó! Nghĩa là trực nhận ngay đây, bặt đi niệm phân biệt đây kia là khéo, chứ nghe nói pháp thân vô tướng liền nghĩ bỏ cái này mà hướng về cái khác, có niệm kia đây, tức là bỏ mất nó rồi! Như vậy ngay đây mình khéo nhận thì toàn thể hiện bày không sót gì hết. Do đó Phật nói rằng: “- Như Lai nói sắc thân đầy đủ, tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, đó gọi là sắc thân đầy đủ. Như Lai nói các tướng đầy đủ, tức chẳng phải các tướng đầy đủ, đó gọi là các tướng đầy đủ.” Nghĩa là ngay nơi sắc thân đầy đủ đó, chẳng phải sắc thân đầy đủ, thì đó là sắc thân đầy đủ, chứ không phải rời cái sắc tướng này mà có riêng cái pháp thân nào khác, mà chính ngay nơi sắc tướng này khéo nhận thôi. Vì vậy khi thấy đến chỗ này, tức khắp nơi mọi sắc tướng đều hiển bày pháp thân sờ sờ không có thiếu vắng, cần thấy là thấy! Còn mê thì gọi là trước mắt lầm qua, ngay trước mắt, rõ ràng đó mà mình bỏ đi vậy thôi, chứ có gì khác. Đây là Phật muốn khiến người ngay nơi các sắc tướng này, mà lìa sắc tướng để thể nhập pháp thân chân thật thanh tịnh đó; đồng thời chính mình quên cái công để thể nhập vào chỗ chân thật, chứ không chấp vào cái công phu của mình. Nếu chấp vào công phu của mình, do công phu mà được cái quả báo tốt lành đó, tức mắc kẹt vào trong những cái sở đắc nữa. Do đó, hai phần này, phần trước là nói đến cái phước do mình đạt được chỗ vô ngã, từ trong chỗ thông suốt pháp thân vô ngã đó mà làm tất cả các việc, tâm buông xả thênh thang rộng lớn thì mới được quả phước nó cũng rộng lớn không thể nghĩ bàn. Kế ngay nơi báo thân Phật đầy đủ mọi công đức vi diệu, nhưng mình cũng không chấp vào những sắc tướng vi diệu đó, mà phải khéo ngay đó mà sống trở lại với pháp thân chân thật hằng hữu có sẵn nơi mình, như vậy mới gọi là thể nhập, mới sống trực tiếp được trong pháp thân. Trái lại còn có một chút gì để mình thấy, có một chút gì để mình bám được đó, thì cái đó cũng gọi là cái bên ngoài, còn đứng ngoài cửa. Bởi vậy đọc qua hai đoạn này, là đưa mình tiến sâu thêm một lớp nữa, là quên công phu sở đắc. Nói rộng ra, tu thiền để khai mở những cái thần thông, cái huyền bí, để sống lâu thì nó trái với mục đích mà Phật dạy. Thứ nhất, luyện để bảo vệ sức khỏe lâu dài, sức khỏe cho nhiều, thì trong kinh Kim Cang gọi là cái gì? Đó là tham về tướng thọ giả. Còn cầu khai mở những cái huyền bí, những thần thông, thì cái đó cũng là hướng về cái bên ngoài thôi, thần thông nếu do mình luyện được thì thần thông đó cũng thuộc về cái tạo tác, có lúc nó cũng hết thôi. Phật dạy là chính mình sống trở về với chính mình, lặng hết những vọng tưởng, sanh diệt, để mình phát hiện ra nơi mình cái gì là chân thật bất sanh bất diệt. Để sống với cái chân thật đó, đây là cái gốc tất cả mọi thứ. Chúng ta thường học, Phật có ba thân: Hóa thân, báo thân, ứng thân. Báo thân thì đầy đủ các tướng tốt trang nghiêm, ứng thân, hóa thân thì đầy đủ diệu dụng biến hóa không lường, như vậy sống trở về với pháp thân rồi thì diệu dụng từ đó mà phát ra, cái đó mới là cái thật không có mất; còn cái kia là do tạo tác mà được, nhưng được rồi cũng mất, như vậy là chúng ta lấy cái sanh tử  để làm chỗ mình hướng đến, tức trái với con đường Phật dạy là giải thoát sống về với cái bất sanh bất diệt. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật khai thị cho Ngài A Nan về tánh thấy, tánh nghe, giơ tay lên Phật nói là tay ta nắm hay tay ta xòe? Cái tay có nắm có xòe, nhưng tánh thấy của ông có nắm có xòe hay không? rồi khiến cho Ngài A Nan ở đây thấy thẳng lên các cung trời, Ngài mới bảo cái thấy đến cung trời xa xôi đó, như vậy cái thấy của ông nó có rút ngắn, kéo dài hay không? Để chỉ cho Ngài A Nan cũng như mình nhận ra tánh thấy, nó luôn luôn có mặt hiện hữu nơi mình. Thứ hai nữa là đánh thức tánh nghe, Phật bảo La Hầu La đánh chuông, thì tiếng chuông có khi có, có khi không, mà Phật muốn chỉ tánh nghe nó luôn luôn hiện hữu. Song người chỉ nhận ra được tánh thấy, tánh nghe mà cho đó đủ rồi, chân thật rồi, đó là chưa phải. Phật nói nó cũng như mặt trăng thứ hai, chưa phải là mặt trăng chính. Để cho thấy rõ, nếu chúng ta nhận được chút gì đó, rồi tự mãn thì cũng dễ lầm, mặc dù nhận được tánh thấy, nhận được tánh nghe nơi mình sẵn có, nhưng còn có tánh thấy, còn có tánh nghe tức là sao? tức là trong đó còn có sáu cái, tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm..v.v.., là còn một lớp cách biệt. Cho nên Ngài mới nói “quên sáu mất một kìa” thì mới đến được vào trong nhà chân thật; bởi vậy cuối cùng Phật nói, tánh thấy, tánh nghe đó, cũng còn là mặt trăng thứ hai, chưa phải là mặt trăng thật; phải  qua một lớp nữa, quên cả sáu cái đó để sống trọn vẹn trong cái chân thật thôi, không còn phân biệt cái thấy nghe gì nữa, tức còn đi sâu thêm một lớp. Bởi vậy, đừng vội vàng khi thấy được chút gì đó, rồi mình bám vào cho như vậy là đủ, thì không phải! Nhận được tánh thấy đó, là một lớp hay rồi, nhưng còn tánh thấy đối với tánh nghe, còn có tánh thấy, tánh nghe, là còn giới hạn, nên cuối cùng Phật dạy phải quên sáu mất một, lúc đó mới là thấy nghe không còn có hai, mới nói dùng tai vẫn thấy, dùng mắt vẫn nghe, diệu dụng trọn vẹn, đó mới là thể nhập vào chỗ chân thật. Tóm lại ở đây khiến cho chúng ta quên công phu sở đắc để thể nhập trọn vẹn pháp thân, phá cái thấy có báo thân ngoài pháp thân.

  • 21. CHẲNG PHẢI THUYẾT, SỞ THUYẾT

    CHÁNH VĂN:

    21. CHẲNG PHẢI THUYẾT, SỞ THUYẾT

    - Này Tu Bồ Đề! Ông chớ cho là Như Lai khởi niệm như thế này: “Ta  sẽ  có pháp để nói”. Chớ khởi  niệm ấy. Tại sao? Nếu người nói Như Lai có pháp để nói, tức là chê bai Phật, vì chẳng hiểu được pháp của ta nói. Này Tu Bồ Đề! Nói pháp là không  pháp có thể nói, đó gọi là nói pháp.

    Bấy  giờ  Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn! Có chúng sanh nào ở đời vị lai  nghe nói pháp  như thế sanh lòng tin chăng  ?

    Phật bảo:

    - Này Tu Bồ Đề! Họ chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chẳng chúng sanh. Tại sao? Tu Bồ Đề! Chúng sanh chúng sanh đó, Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó gọi là chúng sanh.

    GIẢNG:

    Phần này muốn cho mình lìa niệm năng thuyết sở thuyết để hiển bày pháp thể đó lìa ngôn thuyết, chỉ tự chứng. Nghĩa là, khiến cho chúng ta bặt hết cái niệm năng sở, để thể nhập vào pháp thể chân thật. Ở phần trên đã phá cái thấy về báo thân riêng ngoài pháp thân, tức là báo thân và pháp thân vốn không hai thể, không cho trụ trên cái quả báo trang nghiêm do công phu tu hành mà cảm được, tức là không thể lấy cái sắc tướng đầy đủ mà thấy Như Lai, thì như vậy Phật thành Phật Ngài có nói pháp hay không? Nếu không có nói pháp thì sao gọi là Phật? Nếu Phật không nói pháp như vậy phải hiểu sao đây? Cho nên ở đây Phật liền ngăn, “ông chớ cho là Như Lai, khởi niệm như thế này”. Bởi vì khởi niệm là sao? Khởi niệm tức là sanh tâm động niệm rồi! Sanh tâm động niệm tức trái với pháp thể bất sanh bất diệt. Như mình đã học ở trước, Như Lai nghĩa là gì? Như Lai là nghĩa “Như” của các pháp, phải không? Đã là Như của các pháp, thì Như Lai là bản thể của pháp chứ gì? Mà bản thể của các pháp rồi, còn khởi niệm nói cái gì nữa. Vì vậy “chớ cho Như Lai khởi niệm như thế này”, nghĩa là khởi niệm nói rằng: “Ta có các pháp để nói”. Khởi niệm là động niệm, là trái rồi, mà còn khởi niệm ta có cái pháp thể để nói nữa là thêm một lớp mê thứ hai. Tức là thấy ngoài tâm có pháp, mà ngoài tâm có pháp tức sẽ có thiếu, có đủ. Bởi ngoài cái này mà có thêm cái nữa, tức hoặc là thiếu, hoặc là dư, nó nằm trong hai trường hợp đó. Nghĩa là, như vậy sẽ thấy là người thiếu, người thiếu cho nên mới cần mình nói cho người ta nghe, trái lại mình thì dư, dư mới nói cho người, ngay đó cái niệm dư  thiếu sẽ sanh! Trong khi đó, Tam Tổ Tăng Xán có nói trong Tín  Tâm Minh là: “Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư”. Pháp thể nó vốn đã tròn đủ khắp thái hư, không thiếu không dư như vậy rồi, thì còn cái gì trong đó nữa để mà nói? Vừa khởi lên tức là sanh diệt, mà dùng tâm sanh diệt thì làm sao có thể nói đến được pháp không sanh diệt? Cho nên ở đây Phật ngăn liền, “Ông chớ có cho Như Lai khởi cái niệm này: Ta sẽ có pháp để nói!”. Kế Ngài mới giải thích tại sao? “Nếu người nói Như Lai có pháp để nói, tức là chê bai Phật”, chỗ này mình phải nghiệm kỹ! Nếu vậy, chúng ta ngày nay có ai không chê bai Phật chăng? Phật bảo rằng: “- Nếu có người nói Như Lai có pháp để nói đó, tức là chê bai Phật, chẳng hiểu được pháp của ta nói.” Chúng ta ngày nay ai mà không có cho rằng giáo pháp còn lại hiện nay mà mình học đây thì ai nói? Phật nói chứ ai nói nữa, vậy có chê bai Phật chưa? Rồi Phật 49 năm nói pháp, vậy nói cái gì đó? Chỗ này không khéo lại mắc kẹt! Nếu hiểu theo kiểu đó, tức là mình đem tâm phàm để hiểu Phật, mà đem tâm phàm hiểu Phật thì Phật cũng thành phàm như mình. Bởi sao? Bởi vì tâm phàm của mình là luôn luôn muốn cầu được, học thì cũng cầu học để được cái gì, hiểu cái gì, học Phật cũng phải để kiếm cái gì chứ, không có kiếm cái gì thì học làm chi nữa? Như vậy, học là kiếm cái gì đó để được, phải không? Còn lẽ thật Phật ra đời là gì? Phật ra đời chỉ là phá cái tình chấp mê lầm của chúng sanh thôi. Nghĩa là, do chúng sanh mê lầm chấp trước, cho nên Phật ra đời để phá những cái tình chấp đó, đánh thức họ để cho họ nhớ lại cái gì sẵn có nơi mình, mà mình bỏ quên, chớ có nói cái gì khác nữa đâu! Song cái đó nó đâu có nằm trong ngôn ngữ nói năng. Vì vậy ở trong phẩm Đệ Tử của kinh Duy Ma Cật Ngài Mục Kiền Liên thuật lại: Có lần gặp ông gặp Duy Ma Cật ông nói với Ngài rằng: “Pháp vượt khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp không có cao thấp, pháp thường trụ vắng lặng, pháp lìa khỏi tất cả mọi sự tu luyện và hành đạo, Thưa Đại Mục Kiền Liên! Tướng pháp như thế đó thì há thuyết diễn được sao?” Nghĩa là, pháp đó nó vượt khỏi mắt tai mũi lưỡi thân ý, không thể dùng mắt thấy nó, không thể dùng tai nghe được, mũi lưỡi cũng không thể ngửi nếm đến đó được, pháp như vậy làm sao diễn nói? Đó là ông muốn nói pháp gì? Chính là pháp thể chân thật nơi mình đó, chứ không phải pháp ghi trong giấy trong mực này. Thường thường chúng ta cứ nghĩ, pháp là những cái ghi ở trong giấy, trong mực, đó là cái học hiểu được, nhưng ở đây ông Duy Ma Cật muốn chỉ ngay pháp thể chân thật nơi mình đó, khiến mình quay trở lại không mắc kẹt trong danh tự chữ nghĩa. Cho nên pháp đó nó không có cao thấp, mà cũng lìa khỏi mọi sự tu luyện và hành đạo, cái đó không phải do tu luyện mà thành, vì nó không thuộc về pháp sinh diệt. Nói như vậy, không có nghĩa là cứ để tự  nhiên mà được. Nhờ những phương tiện tu hành để đánh thức mình  nhớ trở lại thôi, cho nên, nếu bảo Như Lai có một pháp thật để nói cho người, thì có lỗi: Ngài có pháp để nói cho người, thì người có nhận được cái gì đó của Phật, như vậy là có cho, có được, tức pháp đó thuộc về nói năng rồi! Vậy pháp đó là pháp dựng lập, pháp tạo tác, chưa phải là pháp thể chân thật. Như vậy không phải chê bai Phật là gì? Cho rằng Như Lai là thuộc về sanh diệt hay sao? Vì vậy nói Như Lai có pháp để nói, tức là chê bai Phật là như thế, đó là cái thấy còn trong sanh diệt. Do đó trong kinh Lăng Già có một đoạn Phật bảo Bồ Tát Đại Huệ rằng: “- Này Đại Huệ! Nếu có người nói rằng Như Lai nói pháp rơi vào văn tự thì người này ắt là vọng ngữ, bởi vì pháp lìa văn tự. Thế nên, này Đại Huệ! Chư Phật chúng ta và các vị Bồ Tát không nói một chữ, cũng không có đáp một chữ”. Ngài nói rõ: “- Nếu bảo Như Lai có pháp nói rơi vào văn tự, đó là hư vọng, và chê bai Phật rồi”. Thành ra những điều mà Phật nói ra chỉ là phá tình chấp, gợi ý thôi, phải thấy cái ý ở ngoài lời đó, mới thấy được ý Phật muốn chỉ. Phật nói thêm: “Vì hy vọng phiền não của chúng sanh chẳng phải một, cho nên ta và chư Phật tùy các thứ hiểu biết sai khác của chúng sanh mà nói các pháp, khiến cho họ lìa tâm, ý, ý thức, chẳng phải là vì được chỗ tự giác thánh trí đó”. Ngài nói rõ ràng, bởi vì chúng sanh có những điều mong mỏi, phiền não sai khác quá nhiều, do đó Phật phải tùy theo sự hiểu biết sai khác của chúng sanh đó, mà phương tiện Ngài nói các pháp; nhưng mà phương tiện nói các pháp đó là vốn để cho mọi người lìa tâm ý, ý thức, tức là những tâm phân biệt chứ chẳng phải là vì được chỗ tự giác thánh trí. Nghĩa là, sở dĩ Ngài nói pháp đó, là vì phương tiện trừ bệnh cho chúng sanh thôi, chứ không phải là vì chỗ tự giác thánh trí, tự giác thánh trí là gì? Tức là chỗ trí thể chân thật, mà trí thể chân thật đó thì chỉ người tự giác, tự chứng biết thôi, không phải là chỗ ngôn ngữ nói đến được, không phải do những lời nói của Phật đó mà mình biết đến, do lời mà hiểu là chưa phải. Do đó có một vị tăng hỏi thiền sư Quế Sâm:

    - Thế nào là một câu của La Hán?

    Sư đáp:

    - Ta nói với ông đó liền thành hai câu.

    La Hán là gì? La Hán tức là vô sanh, đã vô sanh mà mình nói ra là sanh rồi, đó là thành hai câu rồi! Ngài trả lời đơn giản mà lại sát nghĩa. Nếu cứ giải La Hán là vô sanh, vô sanh là không sanh không diệt, giải một hồi là sanh quá rồi! Một vị tăng khác hỏi Thiền sư  Hưu Phục rằng: “- Chỗ tĩnh yếu xin thầy một lời!” Tĩnh yếu là chỗ tóm tắt ngắn gọn nhất, xin một lời, thì nói sao đây? Sư đáp: “- Kính chào!”. Hỏi chỗ tóm gọn mà ngắn nhất thì Sư nói “Kính chào” vậy thôi, thì chỗ đó còn nói gì nữa? Chính mình tự nhận là xong, nói ra thì nó thành ngôn ngữ, là có nhiều rồi! Như vậy để thấy chỗ chân thật đó là phải chính mình tự cảm nhận lấy, chứ không thể tìm nơi ngôn ngữ, ngôn ngữ văn tự chẳng qua là những phương tiện của Chư  Phật, Chư  Tổ để phá tình chấp mê lầm của mình vậy thôi. Song nói như vậy cũng không phải một bề im lặng. Nhiều người nghe vậy, liền nghĩ: “không thể nói gì hết thì im lặng”, nhưng im lặng cũng mắc kẹt luôn. Một bên thì mắc kẹt nói năng, một bên thì chấp về im lặng, cũng nằm trong đối đãi. Bởi im lặng thì gặp mấy vị không hiểu rõ, cũng im lặng luôn, làm sao phân biệt được thiệt giả? Cho nên người thật thông suốt thì nói mà không kẹt lời, kẹt văn tự, mới là thứ thiệt, như các vị thiền sư cũng nói vậy, nhưng mà không kẹt trong ngôn ngữ đó mới là khéo nói; và như vậy người nghe phải nghe thế nào? Cũng phải khéo nghe, tức là nghe chỗ ngoài lời, thì mới thông cảm nhau. Bởi vậy thường trong nhà thiền hay tán thán câu sống, nếu nói ra một lời mà làm dễ hiểu thì trong nhà thiền gọi là “tử ngữ”, là câu chết, vì hiểu rồi cứ tưởng là đủ, nhưng sự thật cái đó là mình mới hiểu cái hiểu của người khác thôi, chứ không phải là cái hiểu của chính mình; còn ở đây là các Ngài muốn khiến cho mình chết đi cái tâm phân biệt đó, để sống dậy tâm vô phân biệt của mình, chỗ đó mới là sống thực. Do đó Ngài Động Sơn một hôm thiết trai cúng dường Ngài Vân Nham, thì có vị tăng hỏi:

    - Hòa thượng trước kia gặp Ngài Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao bây giờ lại thiết trai cúng Ngài Vân Nham?

    Động Sơn bảo:

    - Ta chẳng trọng tiên sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp, chỉ trọng chẳng vì ta nói phá”.

    Chẳng vì Sư nói phá là sao? Là những chỗ mà Sư không hiểu, Sư thắc mắc, Sư thưa hỏi đó, nhưng Ngài Vân Nham không có nói phá để cho Sư  hiểu, mà dành cho Sư tự phát minh ra, thì như vậy mới chính thực cái của Sư, cho nên Sư trọng là trọng chỗ đó! Chính đó mới là chỗ sống thực. Vì vậy ở đây khi nói đến chỗ này, Phật nói rõ: “Nếu bảo Như Lai có pháp để nói, tức là chê bai Phật chẳng hiểu được pháp của ta nói”, phải hiểu được, thấy được cái “ý ngoài lời” kia, chứ cho Như Lai có pháp để nói như vậy, thành ra là pháp sanh diệt rồi, nên gọi chê bai Phật. Phật lại nhấn mạnh: “nói pháp đó, là không có pháp để nói” chính chỗ này trong Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận, Thiền Sư Huệ Hải có dẫn đoạn Kinh Kim Cang nói: “Không pháp có thể nói ấy gọi là nói pháp”, nghĩa đó thế nào? Vì thể của Bát nhã là cứu cánh thanh tịnh, đó là “Không pháp có thể nói”. Ngay trong cái thể không tịch của Bát nhã đó, nó đầy đủ mọi diệu dụng như hằng sa, không có việc gì mà chẳng biết, “Đó gọi là nói pháp”. Cho nên nói: “Không pháp có thể nói, đó là nói  pháp”. Nghĩa là chỗ không pháp để nói đó, là chỉ cho thể của Bát nhã, thể Bát nhã đó là cứu cánh thanh tịnh, cho nên không thể dùng ngôn ngữ để nói đến chỗ đó. Nhưng ở trong cái thể đó, nó đầy đủ diệu dụng như hằng sa, tức là ứng dụng ra thì không có gì chẳng biết, cho nên nói hết, nói đủ mà không rời tự tánh, đó mới thật là nói pháp. Đây cũng là một kinh nghiệm cảnh tỉnh, đánh thức cho người, nhất là những người nói pháp! Nói pháp là như vậy đó, phải từ trong thể Bát nhã cứu cánh thanh tịnh ứng dụng ra tất cả thì mới là chân thật nói pháp. Thường người nói pháp hay mắc kẹt cái bệnh gì? nghĩ rằng “Mình nói pháp là phải nói cho người ta nghe”, Do đó nếu nói pháp hay hay một chút, được một số người nghe, liền sanh tâm nói pháp, phải không? Ở đây là không cho “sanh tâm nói pháp”, bởi nói hay hay, được một số người nghe, liền thấy ta là một pháp sư, ta nói pháp cho người đó, tức cái kiêu khí nổi lên, thành ra rơi vào tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả rồi! Kẹt bốn tướng rồi! Như vậy đoạn này là một đoạn phá cái niệm vi tế nơi mình, ở phần trước cũng nói phá về tướng nói pháp, như nói “Như Lai nói pháp là không pháp có thể nói, không pháp có thể được”, tức là phá trên cái tướng pháp, nhưng đến đây là phá cái “kiến chấp” về nói pháp, tức là cái niệm nói pháp đó, nó còn đọng lại nơi nội tâm của mình, thành ra nó vi tế hơn. Được vậy mới là sạch trọi trơn, rỗng rang tự tại. Song đây là phần rất vi tế, phải là người thật sự có công phu tu hành đàng hoàng mới có thể thấy được, và phá được, chứ không thể nói suông. Do đó từ phần này về sau gọi là phần tu chứng, còn phần trước gọi là khai giải, khai ngộ, để chỉ ra cái lý thật cho mình. Vậy là đoạn này phá cái niệm vi tế về nói pháp đã xong.

    Tiếp theo phá đến người nghe. Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật:“- Bạch đức Thế Tôn! Có chúng sanh nào ở đời vị lai nghe nói pháp như thế mà sanh lòng tin chăng?” Đọc tới chỗ này thì chúng ta thấy có cái gì lạ không? Chú ý hai chữ “Huệ Mạng”! Từ trước thường gọi là trưởng lão, đến đây bất ngờ gọi là Huệ Mạng Tu Bồ Đề, thì có gì đặc biệt ở trong đó? Bởi vì đoạn này là một đoạn trong bản Đời Tần Ngài Cưu Ma La Thập dịch thì không có, nhưng sau này qua đời Đường mới bổ túc vào, do lấy từ bản khác bổ túc nên cũng là nghĩa Trưởng Lão, nhưng có chỗ dịch là Huệ Mạng, có chỗ dịch là Cụ Thọ. Trưởng Lão hoặc là Huệ Mạng, hoặc là Cụ Thọ đều chỉ cho các bậc tuổi cao đức trọng, được tôn kính ở trong chúng. Gọi Huệ mạng cũng là nghĩa lấy trí tuệ làm mạng sống, chứ không phải như thế gian, lấy cái thân này làm mạng sống. Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề hỏi: “- Bạch Thế Tôn, có chúng sanh nào ở đời vị lai nghe nói pháp như thế mà sanh lòng tin chăng?” Qua câu hỏi này, chúng ta thấy Ngài đã mắc kẹt gì chưa? Đây cho thấy, Ngài còn có cái thấy vi tế sanh diệt chưa quên! Ở trước đã ngộ pháp thân nó vượt ngoài ngôn thuyết, không thể nói năng đến được, mà bây giờ còn thấy thật có chúng sanh đời sau nữa, như vậy chỗ ngộ của mình nó chưa có tròn, chưa triệt phải không? Đó là lý do cho thấy, còn phải thêm một bước nữa! Tức là tu chứng cho nó rốt ráo, nó sâu xa hơn nữa, chứ không phải thấy như vậy là ổn, là xong.

    Do đó hãy chú ý!

    “Phật bảo:

    - Này Tu Bồ Đề! Họ chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chẳng chúng sanh. Tại sao? Tu Bồ Đề! Chúng sanh chúng sanh đó, Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó gọi là chúng sanh”.

    Tuy chúng sanh, nhưng vốn tự tánh là tịch diệt niết bàn, chúng sanh cũng vốn đầy đủ Phật tánh đầy đủ thường trụ không mất, thì sao gọi là chúng sanh nữa? Gọi chúng sanh là chưa thấy được tự tánh chúng sanh vốn lặng lẽ. Tuy nhiên như vậy, tự tánh chúng sanh vốn là tịch diệt niết bàn, vốn là bất sanh bất diệt, nhưng do điên đảo vọng tưởng mà quên mình theo vật, mới trôi lăn trong sinh tử, nên “Chẳng phải chẳng chúng sanh.” Do đó Phật nói rõ, “họ chẳng phải chúng sanh, cũng chẳng phải chẳng chúng sanh.” Chẳng phải chúng sanh là bởi vì sao? Vì họ vốn tự tánh là niết bàn rồi, vốn là lặng lẽ đầy đủ Phật tánh thường trụ không thiếu; nhưng bây giờ do điên đảo vọng tưởng còn nguyên, nên cũng không thể không gọi là chúng sanh. Chỉ người nào thấu suốt được lẽ thật, thì dù ở ngay trong sanh tử mà chưa từng rời tự tánh bất sanh, chưa từng rời một niệm hiện tiền thì không mắc kẹt trên danh từ chúng sanh. Như vậy xét cho cùng tột chúng sanh là sao? Có thật không? Tướng chúng sanh là một giả tướng, chúng sanh cũng là giả chúng sanh thôi, tạm lập trong một thời điểm còn mê, song không có một cái thể chúng sanh cố định thật là chúng sanh, vậy bảo ai là người tin hay chẳng tin? Nên ở đây nói rằng “chúng sanh ở đời sau nghe nói pháp này mà sanh lòng tin chăng?”, thì hỏi câu đó còn mắc kẹt, thấy chỗ lầm của câu hỏi chưa? Bởi thấy như vậy là còn thấy có chúng sanh thật rồi, là “ở đời sau!” Cũng ý nghĩa này, Thiên Hoàng Đạo Ngộ có lần hỏi Tổ Thạch Đầu:

    - Lìa định huệ thì lấy pháp gì để dạy người?

    Ngài Thạch Đầu đáp:

    - Ta trong ấy không có nô tỳ thì lìa cái gì?

    Tức là trong chỗ đó, không có tôi tớ gì hết còn bảo lìa cái gì nữa. Đạo Ngộ hỏi:

    - Thế nào rõ thấu được?

    Ngài Thạch Đầu bảo:

    - Ông chụp được hư không chăng?

    Còn muốn hiểu nữa! Trong chỗ đó không có nô tỳ, không có tôi tớ, mà còn muốn hiểu chỗ đó nữa, nên Ngài Thạch Đầu hỏi “ngươi chụp được hư không chăng?” Đạo Ngộ thưa:

    - Thế ấy ắt là chẳng từ ngày nay đi.

    Ngài Thạch Đầu bảo:

    - Chưa biết ông bao giờ từ bên này đến?

    Đó là ngài gạn lại chỗ đi đến, thấy có đi đến là mắc kẹt nữa. Đạo Ngộ thưa:

    - Đạo Ngộ chẳng phải người bên này.

    Ngài Thạch Đầu bảo:

    - Ta cũng biết chỗ ông đến.

    Đạo Ngộ thưa:

    - Sao ngài lại lấy tang vật để vu khống cho người?

    Ngài Thạch Đầu nói:

    - Chính thân ông hiện tại đây này!

    Có thân người tức là có chỗ đến chứ gì? Đạo Ngộ mới thưa:

    - Tuy nhiên như thế, cứu cánh làm sao chỉ dạy người sau?

    Nếu không có cái này, làm sao chỉ dạy người sau đây? Thấy mắc kẹt chưa? Cho nên ngài Thạch Đầu bảo:

    - Ông nói, ai là người sau?

    Ngay đó Sư đại ngộ. Hiểu được chỗ này, liền thấy ý trên. Còn thấy có người sau để chỉ dạy, tức còn có chỗ bám, còn thấy người bên này, người bên kia, là còn thấy hai bên, phải không? Rồi thấy người nay, người sau nữa cũng mắc kẹt trong thời gian. Đây là dấu vết của tâm sở đắc vẫn còn nguyên chưa quên, tức là thấy có mình được, có người sau chưa được, cho nên mình mới dạy người sau. Vậy là cái thấy sanh diệt vi tế nó còn đọng lại trong này. Do đó đã lầm nghĩa: tất cả chúng sanh vốn đầy đủ Phật tánh, Phật từng nói rõ, mà còn hỏi là “Chúng sanh đời vị lai có ai tin được chăng?” hỏi như vậy là còn thầm nghi ngờ, họ không có đủ Phật tánh hay sao? Ai cũng có đầy đủ Phật tánh hết, thì sao lại không có thể tin, mà ngờ là có thể tin hay không? Đây còn có cái niệm nghi ngờ là họ chưa đủ Phật tánh! Vậy là cái thấy chưa thấu suốt, điểm này rất tinh tế. Trong đây tiến thêm một bước nữa, nếu mình tỏ suốt được ba thời: quá khứ - hiện tại - vị lai, ngay trong một niệm thôi, thì còn chỗ nào mà có nay, có sau? Còn thấy có nay, có sau, là còn mắc kẹt trong thời gian; nếu rõ được ba thời ngay trong một niệm, liền quên bặt ý niệm về thời gian “nay sau”, tức thấy chính nơi đây là chân thật. Như vậy, còn thấy có người sau là còn kẹt không gian, thấy có nay sau là mắc kẹt thời gian; tức còn nằm trong hai bên không gian- thời gian. Tiếp Phật bảo: “Tại sao? Chúng sanh, chúng sanh đó, Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó gọi là chúng sanh”. Vừa nói đến tên chúng sanh, Phật phá liền. Bởi vì, chúng sanh chỉ là cái tên gọi, tạm thời trong lúc mê, nếu giác ngộ thì đâu còn gọi là chúng sanh nữa. Bởi chúng sanh vốn không có thực thể cố định là chúng sanh; nếu mình thấy còn có cái thực thể cố định là chúng sanh, có một cái đối lại chúng sanh là Phật, có cái Phật đối với chúng sanh, như vậy là hai cái riêng, đó là còn cái thấy đối đãi, vẫn chưa rời thức phân biệt. Do đó trong kinh Duy Ma Cật Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật, Bồ Tát mới hỏi: “Bồ Tát quán chúng sanh, phải quán như thế nào?” Ông đáp: “Cũng ví như một nhà ảo thuật nhìn thấy người ảo hóa do mình hóa ra, Bồ tát quán chúng sanh cũng như vậy”. Nghĩa là, không có một cái thực thể của chúng sanh, chẳng qua là: Một cái bóng dáng, một cái ảo hóa vậy thôi, còn cái thực thể thì vốn không có chúng sanh hay là Phật. Phật hay chúng sanh là hai cái tên, còn thực thể chân thật đó vốn là không hai. Nếu thấy có cái thực thể chúng sanh thiệt, thì muốn thành Phật phải làm sao? Phải bỏ cái này, nhưng làm sao bỏ? Cho nên thấy như vậy, đó là cái chướng ngại. Kinh Niết bàn phẩm Sư tử rống, Phật cũng dạy “hễ ai có tâm thì nhất định sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác, do vì nghĩa này ta thường nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Như vậy thì có ai không thể thành Phật? Ai không có tâm? mà có tâm tức là có Phật tánh, có Phật tánh thì đều có thể thành Phật, chỉ là mình chưa chịu làm thôi. Bởi vì Phật tánh là gì? Phật tánh tức là tánh giác chứ gì, mà ai có tâm cũng đều có biết, có biết tức là có giác; nhưng vì mình hiện biết là biết theo mê, nếu biết chuyển lại thì “biết” thành “giác”. Đơn giản, cũng một cái biết này mà biết theo phân biệt phải quấy hơn thua là “biết mê”, biết theo duyên, theo cảnh. Thay vì biết như vậy, chuyển lại, biết tất cả mà không mắc kẹt trên những duyên, trên những cảnh, tức là “biết giác”, đâu rời cái biết hiện tiền đây! Do đó ai cũng có thể giác, ai cũng có thể làm Phật hết. Vậy chúng sanh nằm ở chỗ nào? Rõ ràng chúng sanh - Phật là hai danh từ tạm lập chứ không phải có thực thể. Đây là phá cái niệm về nói pháp, và cái niệm về người nghe pháp, là chúng sanh, khiến trong lòng rỗng rang không còn mắc kẹt trên thuyết sở thuyết.

  • 22. KHÔNG PHÁP CÓ THỂ ĐƯỢC

    CHÁNH VĂN:

    22. KHÔNG PHÁP CÓ THỂ ĐƯỢC

    Tu Bồ Đề bạch Phật :

    - Bạch Thế Tôn! Phật được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là không chỗ  được chăng?

    Phật bảo:

    - Đúng thế ! Đúng  thế ! Tu Bồ Đề ! Ta đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho đến không có một chút pháp có thể được, đó gọi  là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    GIẢNG:

    Ở đoạn này có gì khác với đoạn trước không? Ở trước Phật cũng nhiều lần nói về “không được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” này, nhưng có gì khác? Đến đây để hiển bày chỗ tự chứng vượt ngoài mọi cái sở đắc, chúng ta đọc kỹ câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề mới thấy có ý sâu xa trong đó. Ngài hỏi là: “- Bạch Thế Tôn, Phật được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là không chỗ được chăng?” Câu này mới nhìn qua thì giống như câu ngài nghi mà hỏi, nhưng có phải thật là ngài nghi mà hỏi không? Hãy nhớ lại ở những đoạn trước, về phần này thì Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề, Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được thọ ký, có được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác không? Đó là Phật hỏi để gạn lại chỗ thấy của ngài; ở đây là ngài hỏi thẳng lại Phật, chính là một điểm đặc biệt! Mới nhìn qua như là ngài nghi mà hỏi nhưng mà sự thật không phải. Ở đây chú ý câu hỏi “Phật được Vô thượng chánh đẳng chánh giác đó”, ngài nhấn mạnh chỗ “được”, nhưng mà được đó, “là không chỗ được chăng?” Như vậy, để thấy, ngài cũng thấy chỗ Phật có “được”, nhưng mà được đó là không chỗ được chứ gì, ngài muốn nhấn mạnh lại, để cho Phật ấn chứng. Đây là ngài muốn trình bày chỗ thấy của ngài, chỗ sống của ngài; nhưng ngài trình bày khéo léo không cho người ngoài nhìn thấy được, chỉ có người trong cảnh mới tự thầm hiểu với nhau thôi. Bởi chỗ đó không phải chỗ của tình thức đến được. Do đó ý ngài nhấn mạnh giống như nghi hỏi mà không phải, đó là thầm trình bày cái chỗ thấy của ngài để cho Phật ấn chứng. Vì vậy tiếp theo là Phật ấn chứng liền “Đúng thế, đúng thế!” Và một điểm nữa mà mình phải chú ý là, Phật mà lại được bồ đề nữa sao, nên câu hỏi “Phật được” là một ngầm ý, nếu Phật mà lại được bồ đề nữa thì Phật chưa hẳn là Phật rồi! Ý rất là sâu xa! Trong câu hỏi đã ngầm có ý trả lời trong đó rồi, do đó mà Phật liền ấn khả “đúng thế, đúng thế!” tức là chỗ thấy, chỗ nhận đó khế hợp với tâm Phật rồi. Xác thực đó là chỗ ngài trình bày để Phật ấn chứng chớ không phải là lời nghi hỏi, quá rõ ràng! Rồi Phật nói rõ: “Ta đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho đến không có một chút pháp có thể được, đó gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác”, như vậy ở trước ngài chỉ nói là Phật “không có chỗ được”, không thật có pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác để mà được, ở đây ngài nhấn mạnh rõ ràng, không có “một chút pháp” có thể được, thì đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy đến đây trong lòng thật là rỗng rang, không tồn đọng một chút dấu vết của một pháp thật gì nữa, thì chỗ thấy mới thật là triệt. Cho nên ngài Hoàng Bá có lần bảo: “- Nếu mà thấy có thật đắc thì không phải là người khách ở trong Tông môn của ta, vả lại cùng bản thể của ông có gì liên hệ”. Đó là phá sạch không còn có “ý niệm” được gì ở trong này, thì mới thật rỗng rang, mới thể nhập được pháp thân. Trong kinh Duy Ma Cật có đoạn ngài Xá Lợi Phất đối đáp với bà Thiên nữ rất là hay, ngài hỏi:

    - Bà còn bao lâu nữa thì sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

    Bà đáp:

    - Nếu như Ngài Xá lợi Phất trở lại làm phàm phu thì tôi được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Ngài Xá Lợi Phất nói:

    - Tôi mà làm phàm phu thì chuyện đó không có rồi.

    Vì ngài Xá Lợi Phất chứng Alahán rồi thì không còn sinh tử, vậy sao làm phàm phu được. Bà Thiên nữ lại nói:

    - Tôi mà được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì cũng không có lẽ đó. Tại sao? Bởi vì bồ đề là không có chỗ trụ, cho nên không có chỗ được.

    Ngài Xá Lợi Phất nói:

    - Hiện nay chư Phật được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Phật cũng đã được, và chư Phật sẽ được nhiều như số cát sông Hằng, thì những việc như thế đó sẽ nói thế nào?

    Bà Thiên nữ nói:

    - Đó thảy đều là do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba thời, chứ chẳng phải là bồ đề có đời quá khứ, có đời vị lai và đời hiện tại.

    Bồ đề không có đã được, đang được và sẽ được. Rõ ràng, nói là đã được, đang được và sẽ được đó là tùy theo văn tự thế tục ghi chép tạm nói vậy thôi, tức là đối với người mê tạm nói để dẫn dắt trở lại, sống trở lại. Trong chỗ chân thật thì bồ đề là cái sẵn nơi mình nên không có đã được, đang được và sẽ được. Vậy hỏi “Bà chừng nào được?” vừa thấy có được là không phải rồi! Đến đây là trừ cái “niệm được mất”, bởi vì còn niệm được mất là cũng còn chưa hết mê, thấy mình có chút được, là còn trong niệm được mất, mà đã còn có cái niệm được mất thì làm sao gọi là Phật. Cho nên ở đây Ngài nói rõ “Ta trong đây cho đến không có một chút pháp có thể được, đó mới gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Ngài Động Sơn Lương Giới, có lần ngài hỏi Hòa thượng Long Sơn:

    - Hòa Thượng được đạo lý gì bèn về ở núi này?

    Ngài Long Sơn đáp:

    - Ta thấy hai con trâu đất nó báng nhau, rồi nhào xuống biển, thẳng đến ngày nay, bặt hết tin tức.

    Vậy được cái gì? Tức là chủ - khách đều bặt hết, thể - dụng cũng đều mất, không còn cái gì để phân biệt, để bám lấy, như vậy mới sạch hết dấu vết được mất; mà sạch hết dấu vết được mất thì người ngoài không suy tìm đến được, chỗ đó là chỗ tự chứng thôi. Cũng như ngài Nam Tuyền khi sắp tịch có một vị đệ nhất tòa đến hỏi:

    - Sau khi Hòa thượng trăm tuổi ngài đi về đâu?

    Ngài bảo:

    - Ta sẽ làm con trâu ở dưới núi.

    Tu hành như ngài, giáo hóa hàng trăm chúng mà bảo khi trăm tuổi hóa thành con trâu dưới núi, nếu theo tâm phàm phu mà hiểu thì không thể nào chịu nổi. Ông tăng mới hỏi:

    - Con theo được chăng?

    Ngài bảo:

    - Nếu ông muốn theo ta thì miệng phải ngậm theo bó cỏ nữa.

    Chỗ này để nói lên người thật đã chứng ngộ, đã sống được trong đó rồi cho nên quên cái niệm được mất, không còn có chút sở đắc nào hết, không còn thấy có tâm niệm là phàm là thánh, trong lòng rỗng rang sạch trơn mới nói được như vậy. Ngài nói làm trâu, nhưng đâu phải ngài thành con trâu, đó là để thấy ngài không còn niệm phàm thánh, niệm được mất, mới ra đi tự tại; trái lại chúng ta còn niệm phàm thánh nên nghe nói làm trâu là thấy phàm rồi, là thú vật rồi, tức liền chướng ngại. Cũng với ý này, ngài Hoàng Bá dạy: “- Người học Bát nhã không thấy một pháp có thể được, dứt ý nơi tam thừa, chỉ một chân thật thôi, không thể chứng được; còn bảo là ta hay chứng hay đắc đều là tăng thượng mạn, trên hội Pháp Hoa phủi áo ra đi là nhóm người này”. Bởi vì thấy ta hay chứng hay đắc nên ra đi, học Bát nhã là phải quên chứng đắc, không thấy có một pháp để được, chỉ sống trở về chân thật chính mình vậy thôi thì có gì để được trong đó. Do đó đoạn này để rũ sạch hết mọi sở đắc trong lòng, cho nó rỗng rang, tự tại. Đó là qua đoạn “Không Pháp có thể được.”

  • 23. TỊNH TÂM HÀNH THIỆN.

    CHÁNH VĂN:

    23. TỊNH TÂM HÀNH  THIỆN.

    Lại nữa, Tu Bồ Đề ! Pháp ấy bình đẳng, không có cao thấp, đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả mà tu tất cả pháp lành, liền được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề ! Nói pháp lành đó, Như Lai nói chẳng phải pháp lành, đó gọi là  pháp lành.

    GIẢNG:

    Tịnh Tâm Hành Thiện là dùng tâm thanh tịnh làm việc lành.

    Trên nói không có một chút pháp gì để được, ở đây Phật liền nói: “bởi vì pháp ấy là bình đẳng không có cao thấp, nên mới gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.” Đây là hướng cho người, làm tất cả các việc lành mà không có chấp vào chỗ làm của mình, đó mới gọi là thật làm; nghĩa là mình đi qua hết mà không để lại dấu vết, như vậy mới là sống thật, cũng như tránh không để cho mình mắc kẹt vào chỗ không làm. Bởi nghe ở trên “không có một chút pháp gì để được”, rồi thôi không cần làm gì hết, là rơi vào đoạn diệt. Trong đây Phật nói rõ, ở trước nói không có chút pháp gì để được đó, là bởi vì sao? Bởi vì pháp ấy bình đẳng không có cao thấp. Chúng ta phải chú ý, vì sao mà không có pháp để được? Bởi vì “pháp ấy bình đẳng không có cao thấp”, vậy lấy gì để được, để mất? Nhưng nói như vậy, mọi người có nghi không? chúng ta ngồi đây, mỗi người có tâm tư khác, trình độ khác thì sao nói không cao thấp được? Rồi Phật cũng nói có ba thừa sai biệt: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát Phật thừa, vậy sao nói không cao thấp? Nếu nhìn theo kiểu đó, là nhìn theo thức tình của mình, nghĩa là theo thức tình thì thấy Phật nói có cao có thấp, có ba thừa sai biệt. Sở dĩ Phật nói có cao có thấp, có các thừa sai biệt là Phật nào nói? Hiểu được đó thì mới thấy được ý nghĩa này. Phải biết rõ đó là Phật hóa thân nói, Phật báo thân nói, chứ không phải là Phật pháp thân, Phật pháp thân thì không nói như vậy. Vậy đó là phương tiện nói, chưa phải là chỗ chân thật. Nhưng muốn thông suốt được chỗ này thì phải hiểu cái gì là pháp ấy? Thường thường người nghe nói vậy, chỉ tìm hiểu cái bình đẳng không cao thấp thôi, mà quên nghĩa “pháp ấy” là cái gì? Do đó chúng ta thường chạy trên chữ nghĩa để hiểu, nghe nói không cao thấp, nghe nói bình đẳng thì theo đó mà hiểu thôi, chứ không xét cho kỹ cái mấu chốt là ở chỗ “pháp ấy”, thấy được cái pháp ấy thì mới biết được là không cao thấp. Như vậy, hiện nay sum la vạn tượng dẫy đầy trước mắt đây, sao bảo là không cao thấp được? Làm sao thấy được chỗ này? Chính chỗ này làm người học kinh Kim Cang thắc mắc, khó vượt qua. Ngày xưa ngài Đại Huệ Tông Cảo một hôm xem kinh Kim Cang, thì ngài Văn Chuẩn hiệu Trạm Đường là bạn, thấy bèn hỏi:

    - Trong kinh Kim Cang nói “pháp ấy là bình đẳng không cao thấp”, vậy vì sao núi Vân Cư cao, núi Bảo Phong thấp?

    Ngài Đại Huệ đáp:

    - Pháp ấy bình đẳng không cao thấp.

    Ngài đáp bằng cách lặp lại, không đáp thêm gì hết, vậy làm sao thấy được ý đó, có gì lạ? Thấy cái “pháp ấy” là cái gì chưa? Chỗ này cũng giống như trong hang trống, mình la to lên thì nó dội lại, ở đây nó cũng dội lại như vậy đó! Ngay “cái đang hỏi”, thì cái đó có cao thấp gì không? Cao thấp là ở niệm phân biệt, do tình thức nó phân chia, còn ngay cái đang hỏi nó có hình tướng gì? cho nên ngài nhấn mạnh: “Pháp ấy là không có cao thấp!” chúng ta vừa thấy cao thấp là đi theo niệm phân biệt rồi, đi theo tướng trạng của sáu trần rồi! Cho nên chỗ này phải thấy nhanh, trong thiền gọi là thấy chớp nhoáng, không để cho cái suy nghĩ chen vào, vừa có suy nghĩ là có cao thấp ngay. Ở đây, ngay khi mình thấy tất cả sum la vạn tượng đầy dẫy trước mắt, mà chưa có niệm thứ hai chen vào thì cao thấp bám vào chỗ nào? Vừa có niệm thứ hai mới có phân biệt, có cao thấp, cho nên phải khéo thấy trước khi mở miệng; chứ đợi người ta mở miệng rồi theo đó để thấy thì có cao, có thấp liền. Chính ngài Hoàng Bá cũng từng bảo: “- Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp, đó gọi là bồ đề. Tức là tâm bản nguyên thanh tịnh này, chúng sanh chư Phật, núi sông, thế giới, có tướng không tướng, khắp cả mười phương thế giới đều bình đẳng, không có tướng ta và người. Tâm bản nguyên thanh tịnh này thường tự tròn sáng, soi khắp mà người đời lại không ngộ, chỉ nhìn cái thấy, nghe, hiểu, biết làm tâm, rồi bị cái thấy, nghe, hiểu, biết che đậy, do đó không thấy được bản thể tinh minh.” Nghĩa là, tâm bản nguyên thanh tịnh vốn không cao thấp, không tướng trạng gì, nhưng bị cái thấy, nghe, hiểu, biết che đậy, thành quên mất cái bản thể sáng suốt của nó đi, do đó mà cứ sống theo cái cao cái thấp, cho nên có yêu có ghét, quên mất cái thật nơi mình. Giờ ngay đó mà quên cái niệm phân biệt đi, nhớ trở lại cái biết luôn luôn hiện hữu nơi mình đây, thì sống trở lại cái bình đẳng, thấy mình với Phật không có hai. Bởi vậy thấy được đạo lý đó, mới rõ thực sự núi có tự cao? sông có tự sâu không? Hay là tại cái gì? Núi không tự nó cao, sông không tự nó sâu, mà do tâm động niệm phân biệt này, nó mới thành có cao, có sâu. Nếu ngay đó lìa được niệm phân biệt thì thể bình đẳng hiện tiền, khỏi phải tìm đâu xa. Đó mới gọi là thật tướng Kim Cang Bát Nhã. Nên chúng ta nghe nói thật tướng, tưởng nó ở đâu đâu mà không ngờ là chính ngay nơi mình thôi, khéo ngay đây lìa những niệm phân biệt thì thật tướng hiện tiền. Đó là điểm Phật nói, pháp ấy bình đẳng không có cao thấp, đó mới là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Tới đoạn kế Phật mới nói thêm: “- Do không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả mà tu tất cả pháp lành, liền được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Thêm một ý nghĩa nữa. Ở trước là nói không được, ở đây là nói được. Nhưng mọi người chú ý, ngài nói được, mà trước khi nói được ngài đã chặn đầu trước rồi là “do không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả, mà tu tất cả các pháp lành”, tức là một lần nữa khiến người qua cái niệm được và không được. Pháp đó nó có sẵn như vậy rồi không cần phải do tạo tác, cũng không có cao thấp sai biệt gì, nhưng không phải nói như vậy là cứ để tự nhiên nó có, mà phải nhờ phương tiện tu các pháp lành, giúp tiêu trừ các tình chấp mê lầm thì nó mới hiện ra. Do đó nói tu tất cả các pháp lành, nhưng tu tất cả các pháp lành với không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả. Tức là tu mà không kẹt trong bốn tướng thì mới được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nghĩa là mình làm tất cả mà không có tâm chấp trước, không có dính trong bốn tướng, không có tâm ô nhiễm trong việc làm của mình, làm vậy mới thật làm. Đúng như là chỗ ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng đáp với Lục Tổ, sau khi Lục Tổ hỏi:

    - Vật gì đến?

    Ngài không đáp được, ngài trở về tám năm trời, sau đó ngài ngộ được, mới đến thưa với Tổ:

    - Con đáp được rồi.

    Lục Tổ hỏi:

    - Sao?

    Ngài đáp:

    - Nói giống một vật tức không trúng.

    Chỗ đó bình đẳng, không có sai biệt, không có tướng trạng gì thì đâu có thể nói giống vật gì được. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là không làm gì hết, nên Lục Tổ mới gạn lại:

    - Như vậy có tu chứng hay không?

    Ngài thưa:

    - Tu chứng tức chẳng không, mà nhiễm ô chẳng thể được.

    Nói không một vật thì sao tu chứng được? Nhưng không phải nói như vậy, đó là nói suông, ngôn ngữ suông mà chỗ này mình phải thể nghiệm chân thật, chứng nghiệm rõ ràng trong đó. Cho nên tu chứng thì không phải không, mà không nên chấp vào chỗ tu chứng, chấp cái chỗ được trong đó, thấy có sở đắc trong đó thành ra ô nhiễm rồi. Cho nên gọi ô nhiễm không thể được, đó là chỗ đặc biệt; mà cũng là ý, nó vốn không một vật, thì không có gì có thể ô nhiễm được nó. Do đó, pháp ấy bình đẳng, bình đẳng là thể, thể thì không tất cả mọi tướng trạng, không làm, không có tạo tác gì; nhưng mà phải tu tất cả các pháp lành. Tu tất cả pháp lành, là thuộc về dụng, dụng thì hiện bày khắp nơi không thiếu thứ gì. Như vậy thể dụng mới tròn đầy, nếu chấp một bên là bình đẳng không cao thấp thì chỉ mới một bên thể, thể mà không có dụng là thể chết; còn cái dụng không có thể là cái dụng rỗng. Bởi vậy thể dụng phải tròn đủ thì mới đầy đủ ý nghĩa. Ngài Quy Sơn có câu nói:“Thực tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”. Tức là trên chỗ lý chân thật thì không chấp nhận một mảy trần nào, trong đó không có chỗ nhận, không có dính một mảy bụi. Nhưng trong cửa muôn hạnh thì không bỏ pháp nào. Thấy như vậy mới là thấy tột, nhiều khi học hiểu lý suông thì mắc kẹt bên lý, chỉ thấy chỗ lý thật không dính một mảy trần nào, rồi dừng ngang đó thì cái thấy thiên lệch, thấy một bên. Có người hiểu được lý thiền một chút thì nghĩ rằng lý thiền sẵn đó rồi, không cần phải làm gì, như vậy là thành cái thấy càn tuệ (huệ khô), thiếu sức diệu dụng. Ở đây phải thấy cho đủ, nên Phật mới nói rõ tuy pháp đó là bình đẳng, không cao thấp, song do tu tất cả các pháp lành với không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả, liền được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trước nói không được, nhưng đây nói được, song được đó không theo nghĩa “được mất” bình thường, đó là để ngừa cái niệm rơi vào đoạn diệt của mình, nghe nói không có chút pháp gì có thể được hết thì Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng không có luôn! Nên điểm này là điểm rất quan trọng, người tu thiền phải hiểu cho kỹ để không mắc kẹt một bên. Tuy nhiên vừa nói tới pháp lành, Phật liền phá ngay: “- Nói pháp lành đó, Như Lai nói chẳng pháp lành, đó gọi là pháp lành”. Nói tới là phá liền không để cho mình chấp. Bởi vì nghe nói tu tất cả pháp lành liền được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, như vậy là thật có pháp lành nữa rồi! Nên Phật liền phá ngay. Bởi lành là gì? Lành là đối với dữ, mà có lành có dữ là có đối đãi rồi; đã đối đãi là không bình đẳng. Song nếu không nhờ phương tiện là các pháp lành đó để trợ duyên thì mình đâu dứt sạch được cái tình mê, để sống trọn vẹn trong thể giác được? Cho nên cũng phương tiện mà gọi là các pháp lành, chỉ là chúng ta không nên chấp vào trong đó. Đây cũng là một kinh nghiệm để cho thấy rõ, ai mà thường nói rằng tự tánh của mình nó là sẵn như thế, cứ để tự nhiên nó khế hợp thôi, khỏi cần phải tu hành gì hết, nói như vậy là biết thuộc về hạng người nào rồi! Thuộc về hạng nói lý suông, hiểu lý suông, hoặc là thuộc về cuồng giải, hiểu mê cuồng rất là nguy hiểm! Trước hết làm lầm mình, rồi làm lầm người khác nữa. Ở đây cần dùng tâm vô phân biệt để làm tất cả, làm mà không trụ trước, không dính mắc thì liền đó tự khế hợp, đó là làm tất cả mà mình luôn luôn khế hợp với tâm thanh tịnh. Như vậy một lần sáng lên là sáng mãi, sáng mãi không cùng tận. Sáng được rồi mà làm tất cả pháp lành, làm không bỏ pháp gì hết, nhưng không dính mắc vào một việc làm gì, như vậy chỗ thấy của mình mới sáng liên tục, sáng luôn luôn không dứt. Nếu mới sáng lên một chút mà thấy như vậy là đủ rồi, đã khế hợp rồi, thì như vậy chỉ gián đoạn ngang đó thôi, chứ không kéo dài liên tục được. Như vậy chỗ này phải hiểu cho kỹ chứ không khéo sẽ mắc kẹt.

    Qua đó ta thấy chỗ này là đưa người đi vào tu chứng, đi vào thể nhập, do đó rất là vi tế. Vì vậy học thì phải nghiền ngẫm cho kỹ rất có lợi ích cho mình.

     

  • 24. PHƯỚC TRÍ KHÔNG SÁNH

    CHÁNH VĂN:

    24. PHƯỚC TRÍ KHÔNG SÁNH

    Này Tu Bồ Đề ! Giả  sử trong thế giới tam thiên  đại thiên có những núi chúa Tu Di, có người đem các đống bảy báu bằng như thế, dùng để bố thí, nếu người thọ trì, đọc tụng, vì người khác mà nói Kinh Bát Nhã Ba La Mật này, cho đến bốn câu kệ..., so với phước đức bố thí trước, hơn cả trăm phần, trăm ngàn muôn ức phần, cho đến tính đếm, thí dụ chẳng thể kịp.

    GIẢNG:

    Ở đây, Phật nói với ngài Tu Bồ Đề, giả sử có người đem bảy báu bằng những núi chúa Tu Di, nhưng không phải bằng một núi thôi mà bằng tất cả những núi có trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí; so với người đọc tụng, theo bản xưa thì không có chữ “đọc tụng”, thọ trì, hoặc vì người khác mà nói Kinh Kim Cang Bát Nhã này thì phước trí của người này hơn người bố thí không thể tính đếm hay thí dụ có thể bì kịp được. Phần này là tiếp ở trên, không cho mình chấp pháp lành, mà Như Lai nói “tức không phải pháp lành”. Nói như vậy e rằng có người sẽ lầm, vậy rốt ráo là như thế nào đây? Nói pháp lành, rồi không phải là pháp lành, không cho mình chấp vào, vậy mình khỏi làm lành luôn hay sao? Thế thì tu đến cuối cùng rồi sẽ ra sao? Đó là để ngừa những cái bệnh hoặc chấp sai lầm. Cho nên ở đây nhấn mạnh phước trí mà phước trí Bát nhã, tức là phước trí do người tu đạt được vô ngã, đó mới là phước trí không thể so sánh được, đó mới là phước trí không thể nghĩ bàn; bởi vì còn so sánh được thì còn nằm trong đối đãi, đó là thuộc hữu lậu, chưa phải là chỗ siêu tột. Song phần này so sánh có khác gì với ở phần trước không? Trước cũng có so sánh rồi, là người đem kho báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí, người xả bỏ thân mạng bố thí, cũng không bằng. Ở phần trước nói phước bố thí tuy nhiều nhưng cũng không bằng phước trì kinh, rồi vì người khác mà diễn nói. Ở đây Phật nói rõ thêm, phước này so với phước của người bố thí hơn cả “Trăm phần, trăm ngàn muôn ức phần, cho đến tính đếm thí dụ cũng không thể kịp”, chỗ này là chỗ mình phải chú ý! So sánh trăm ngàn phần cũng không thể kịp, cho đến tính đếm thí dụ cũng không kịp nữa, như vậy là sao? là muốn nhấn mạnh đến điểm gì? Đây là nhấn mạnh công đức của Bát nhã vượt ngoài mọi sự so sánh; vì còn tính đếm được, còn thí dụ được là còn so sánh, thí dụ là thí dụ cái này với cái kia, tính đếm cũng vậy; bởi nếu còn so sánh được, sao gọi là Bát nhã? Còn so sánh được thì còn trong tình thức, thức mới phân biệt, mới có so sánh; trái lại Bát nhã thì vượt ngoài sự phân biệt đối đãi của tình thức. Vậy, ở đây Phật nhấn mạnh “Cho đến tính đếm, thí dụ cũng không bì kịp”, đó là ý sâu mà thông thường chúng ta đọc suông thì không thấy được. Tuy nhiên đọc đoạn này, ai thấy có gì lạ nữa? Ở phần trước Phật đã từng nói pháp ấy là bình đẳng không có cao thấp, mà tới đây lại nói phước này hơn phước kia, có thấy lạ không? Đó là chỗ phải nhìn cho kỹ! Bởi vì chính Bát nhã, nhờ Bát nhã mới thấy tột được chỗ không cao thấp kia, chứ nếu tình thức thì không thấy được chỗ đó. Nếu còn y theo tướng mà bố thí, là còn thấy có cao có thấp, có nhiều có ít, thì được phước cũng có hạn lượng, có thể so sánh được. Trái lại phước trí sống trong Bát nhã, từ trong Bát nhã phát ra mà làm thì phước trí đó không cùng tận, đến chỗ đó mới dứt khỏi ý niệm cao thấp, chính phước trí này mới siêu xuất hơn những phước trí khác. Chính phước trí này mới thấu tột được cái không cao thấp kia. Chúng ta phải thấy được ý sâu đó, chứ không phải nói như vậy để so sánh sự cao thấp. Bởi chính nó bình đẳng không cao thấp, nên mới thù thắng hơn không có gì bì kịp nó, phải thấy được ý ngoài lời đó, mới thấy được tột trong này, không thì mình thấy có sự mâu thuẫn. Như vậy, núi báu Tu Di tuy nhiều vô số như núi báu có trong tam thiên đại thiên thế giới, nhưng đó cũng là núi báu hữu hình, nên cũng có cùng tận, do đó đem bố thí cũng có hạn. Còn đây, phước trí của tự tánh là phước trí Bát nhã, thì đó là núi báu vô hình nên không có gì so sánh được, không có gì bì kịp, cho nên dùng mãi không hết. Cái kia có hình nên nó hữu hạn, nhiều cách mấy mà dùng rồi cũng hết. Còn cái này là phước trí của tự tánh, là núi báu vô hình, nên đem núi báu này dùng thì dùng mãi không hết, báu đó mới thật là báu, còn báu kia cũng là giả tạm thôi. Vì vậy Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi còn Thái tử có lần luận về báu; khi đó Tổ Bát Nhã Đa La được vua cha là vua Hương Chí cúng cho một hạt châu báu, Tổ Bát Nhã Đa La muốn thử ba vị vương tử là hai người anh và ngài Bồ Đề Đạt Ma để xem trí tuệ của ba vị này như thế nào? Tổ Bát Nhã Đa La đưa hạt châu báu lên hỏi: “- Hạt châu này tròn sáng như thế, vậy có thứ châu nào sáng hơn nó không?”. Hai vị vương tử anh đều trả lời là: - Hạt châu này so với bảy báu thì không có thứ nào sánh bằng, nó là quý nhất rồi! Ngài Bồ Đề Đạt Ma, lúc này tên Bồ Đề Đa La đáp: “- Hạt châu này chỉ là báu của thế gian thôi, chưa có thể cho là tột được, trong các thứ báu chỉ có pháp bảo mới là tột. Ánh sáng của hạt châu này cũng chỉ là ánh sáng của thế gian, nên cũng chưa cho là tột, trong các thứ ánh sáng chỉ có trí sáng mới là tột. Sự trong sáng của hạt châu này cũng chỉ là sự trong sáng của thế gian nên cũng chưa tột, mà trong các thứ trong sáng chỉ có tâm trong sáng là quý hơn hết. Hạt châu này chiếu sáng được, nhưng chẳng thể tự chiếu mà cần phải nhờ ánh sáng của trí tuệ; để tỏ rõ được cái báu của nó, phải nhờ ánh sáng trí tuệ này để biện biệt. Trí tuệ đã biện biệt rồi, tức biết nó là châu. Đã biết là châu rồi thì mới rõ nó là báu. Như vậy nó châu mà chẳng tự biết là châu, cần phải có trí châu để biện biệt được, mới biết nó là châu của thế gian. Cũng thế, nó báu mà nó chẳng tự biết là báu, mà phải nhờ cái trí báu để soi sáng mới rõ nó là một vật báu. Song nếu thầy có đạo thì báu kia liền hiện, còn chúng sanh có đạo thì tâm báu tự bày”. Như vậy hạt châu báu này là thứ quý ở thế gian, nhưng nó không tự biết nó là báu mà phải nhờ trí báu để biện biệt, vậy nó báu mà không tự biết là báu thì không thật là báu, còn chính “trí báu” nơi chính mình mới thiệt là báu. Nên Ngài nói “thầy có đạo”, tức là có chỗ sống được thì tâm báu liền hiện, đây là trí báu nơi mình; chúng sanh có chỗ sống thì tâm báu tự bày, mỗi người đều có đủ, cái đó mới là báu chân thật. Nói như vậy thì có người cũng chưa tin lắm, song hãy kiểm lại xem, một hòn ngọc nó thật quý, đối với người thế gian đeo có khi bị giật, nhưng hòn ngọc đó cho một đứa bé thì nó làm hòn bi bắn chơi, như vậy nó báu thiệt chưa? Sở dĩ nó báu là do tâm phân biệt này, do phân biệt mới thấy cái này nó khác cái kia, nó hiếm, nên thấy báu. Tức tùy theo niệm phân biệt mà thấy báu, chứ chưa thật báu. Chính cái trí báu chân thật nơi mình mới gọi là thật báu, và cái đó thì bao nhiêu thứ kia làm sao so sánh được, những thứ kia nó chỉ gây cái mầm tham lam cho người khác thôi, gây cái mầm đấu tranh thôi, như vậy có thật báu đâu? Chính trí báu mới dứt hết các mầm tham lam, dứt mọi mầm đấu tranh, đưa mình ra khỏi phiền não, đó mới thật báu, dùng mãi không hết. Ngài Phó Đại Sĩ có bài tụng nói về việc này:

    Thí báu như số cát,

    Chỉ thành hữu lậu nhân.

    Đâu bằng quán vô ngã,

    Suốt vọng mới là chân.

    Muốn chứng vô sanh nhẫn,

    Cốt nhờ lìa tham sân.

    Người pháp rõ vô ngã,

    Thong dong khỏi sáu trần.

    Nghĩa là bố thí bảy báu nhiều như số cát sông Hằng đi nữa, nhưng cái đó chỉ là nhân hữu lậu, rồi cũng có lúc hết. Còn quán vô ngã để thấu suốt được mọi tạo tác nó là hư vọng, không còn chỗ nào để mình bám, mình chấp nữa, đó mới là chỗ chân thật. Và muốn chứng được vô sanh nhẫn, tức là bình an trước các pháp, thì phải lìa tham sân. Muốn lìa tham sân thì phải lìa si, vì do si mê mới tham, mới sân. Như vậy si mê là gốc, nhưng lìa si mê phải làm sao? Lìa si mê phải dùng trí Bát nhã, si là đối lại trí tuệ, dùng trí Bát nhã quán rõ nhân pháp vô ngã, không còn chấp trước nữa, thì mới thong dong tự tại, thảnh thơi không còn bị sáu trần chi phối. Đến đây mới là chỗ quý tột, còn có cái gì ở thế gian này so sánh kịp? Ngài Phó Đại Sĩ nói, đó mới chính là cái quý báu chân thật, còn những việc làm về cái nhân hữu lậu, việc làm hữu vi, còn có sự tạo tác, làm thì mình có phước và được hưởng phước, nhưng hưởng hết rồi thì nó rơi xuống, có khi hưởng phước mà không có trí tuệ hoặc là thiếu trí tuệ cũng nguy hiểm lắm! Bởi có phước nhiều mà không trí thì dễ tham, mà tham rồi thì đắm nhiễm trong đó, sanh nhiều phiền não. Mình có phước giàu sang, phú quý, quan quyền mà thiếu trí tuệ chân thật, dễ sinh ra kiêu mạn, khinh khi người khác, tạo tội ngược trở lại nữa, nên khi mình hưởng hết cái đó rồi thì đi xuống; vì vậy, gọi là cái nhân hữu lậu, chưa phải là chỗ chân thật. Còn ở đây là mở sáng trí tuệ này mới vượt thoát được những phiền não, những đắm nhiễm, đó mới là chỗ chân thật không gì sánh kịp, đó mới là chỗ dùng mãi không hết. Đây chính là lẽ thật muôn đời, nhưng nó không ở đâu xa, mở mắt Bát nhã là thấy ngay thôi. Ở đoạn trước Phật nói pháp lành chẳng phải pháp lành đó là ngài phá, không cho mình chấp vào pháp lành, muốn đưa mình sống thẳng vào tự tánh, từ đó phát triển mọi công đức nơi tự tánh của mình ứng dụng ra, thì việc đó không thể lường được. Như vậy phá pháp lành kia không phải là không làm gì hết, tới đó là không còn gì, mà để đánh thức mình khai triển sống trở lại cái công đức của tự tánh, phát triển cái công đức đó ra, đó mới là cái chân thật dùng mãi không hết. Hòa thượng Câu Chi từng bảo trong chúng: “- Ta từ khi được một ngón tay thiền của Hòa Thượng Thiên Long, đến nay  dùng mãi không hết”. Đó là chỗ chân thật ngài sống được, từ nơi tự tánh phát ra, cho nên đâu có lúc nào mà hết được. Phước trí không có gì so sánh, bì kịp được là vậy. Ta thấy hai điểm: Phước bố thí còn nhân hữu lậu và phước trí thuộc về tự tánh, hai bên đã rõ; nhưng nói như vậy không phải bảo mình bỏ không làm gì hết, chỉ một bề tu về trí tuệ thôi, thì cũng nghiêng một bên. Đây là mở sáng trí tuệ rồi thì làm tất cả mọi công đức lành, nhưng làm không còn chấp trước nữa. Có người nói, thôi mình tu cao rồi không cần làm các pháp lành nữa, như vậy là mắc kẹt, mà đến đây thì làm tất cả một cách hồn nhiên vô tâm. Thí dụ khi mình còn sống trong tâm phân biệt đối đãi, đi ra đường thấy đứa trẻ nó té mình muốn đở nó dậy thì nghĩ: “đở nó dậy cho có phước, đó là một việc làm lành, làm tốt.” Còn đối với người sống được với tâm trí tuệ chân thật từ trong này phát ra thì, thấy đứa bé té mình đở dậy tự nhiên thôi, tự phát ra không cần nghĩ có phước hay không phước gì hết, nhưng chính như vậy phước nó đầy đủ hơn; còn nghĩ làm như vậy cho có phước thì hơi ích kỷ trong này rồi, nó có cái ta trong này, phước cũng hạn hẹp. Đây cũng vậy, khi sống được với tự tánh thì làm tất cả các việc lành nhưng làm tự nhiên, chứ không nghĩ làm như vậy để được phước, nó khác với người còn trong chấp trước.

     

  • 25. GIÁO HÓA KHÔNG CHỖ GIÁO HÓA.

    CHÁNH VĂN:

    25. GIÁO HÓA KHÔNG CHỖ GIÁO HÓA.

    Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Các ông cho rằng, Như Lai khởi niệm thế này: “Ta phải độ chúng sanh”. Tu Bồ Đề ! Chớ khởi niệm ấy. Tại sao? Thật không có chúng sanh Như Lai độ cho. Nếu có chúng sanh Như Lai độ cho, Như lai liền có ngã, nhân, chúng sanh, thọ  giả. Tu Bồ Đề! Như lai nói có ngã tức chẳng phải có ngã, mà người phàm phu cho là có ngã. Tu Bồ Đề! Phàm phu, Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, đó là phàm phu.

    GIẢNG:

    Đây là phá sạch cái niệm độ sanh, khiến cho mình vượt qua mọi phương tiện, mê giác cũng sạch. Bởi vì, nếu còn có cái thấy cố định “Có Phật hóa độ chúng sanh”, thì vẫn còn y nguyên như cũ là cái thấy Phật và chúng sanh sai khác, như vậy là còn chia có mê, có giác, có thánh, có phàm, còn cái niệm đó thì thật sống với Bát nhã chưa? Cho nên ở đây là khiến sạch cái niệm đó, mà trước đã nói “Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp” thì còn chia gì nữa? Nếu còn niệm này thì còn thấy Phật là giác, nghĩa là trên cao; chúng sanh là mê, là ở dưới, tức là còn thấy có cao có thấp, có trên có dưới như vậy là c&ograv