Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức :Tập 2

26/12/2017 | Lượt xem:

Danh mục: Kinh - Luật

Lời Phi Lộ

Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni - Sa di - Oai nghi - Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,....Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát. Dung lượng của quyển sách này tuy khiêm tốn nhưng hiệu dụng của nó khi áp dụng hành trì thật lớn lao không ngằn mé. Vì người mới bước chân vào đạo nếu không có sự tỉnh thức thì làm sao đạt đến con đường của Giới - Định - Tuệ. Nếu không nhờ oai nghi phép tắc trợ duyên thì làm sao bước vào con đường vô lậu được? Xét thấy quyển sách này có hiệu dụng như thế, nên sau khi được Thầy chúng tôi cho xuất bản trong dịp đại giới đàn Pháp Loa. Chúng tôi cố gắng ghi lại từ băng giảng trong bốn bộ luật tiểu có tên đề: “Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức”.

Việc làm này chắc chắn không sao tránh khỏi những điều sai sót. Chúng con thành kính các bậc trưởng thượng chỉ điểm thêm, chúng con vô cùng tri ân.

Cuối cùng với việc làm này chúng con hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh đồng phát Bồ-đề tâm, đồng thành Phật đạo.

Viết tại TV. Trúc Lâm Chánh Thiện

Thích Đạt Ma Khế Định

  • 1. 5. Tùy Chúng Thực

    5.

    Tùy Chúng Thực

    “Nghe tiếng kiềm chùy phải sửa sang y phục”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Tùy chúng nghĩa là người xuất gia nên phải mỗi mỗi theo chúng. Cổ Đức nói: Tùy chúng được giải thoát, mà có tám giải thoát.”

    Nếu không ở trong chúng thì không biết việc tùy chúng. Tiếng kiềm chùy tức là tiếng bảng đánh “cốc, cốc”. Phải sửa sang y phục, chuẩn bị lên ăn cơm chứ không phải ngồi ở tăng đường nói chuyện nữa. Tổ nói, nếu theo chúng thì được tám pháp giải thoát. Quý thầy ở thất riêng thì không được tám pháp này, chỉ ở trong tùng lâm lớn mới được.

    1- Nghe tiếng bảng liền đến, chẳng có giải đãi.

    Nghe tiếng bảng quý thầy đi lên liền, tức là tâm mình không giải đãi. Đó là pháp giải thoát thứ nhất.

    Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

    Trong hội của Thiền sư Qui Sơn, buổi trưa nọ khi nghe ba tiếng bảng bỗng có một vị tăng vỗ tay cười lớn. Thiền sư Qui Sơn ngồi trong Pháp đường nghe tiếng vỗ tay ngài nói: “Hôm nay trong chúng có sự việc xảy ra như thế sao?

    Bởi nghe tiếng bảng vỗ tay là biết “nhĩ căn viên thông”, ngộ nhập rồi.

    Ngài mừng lắm, sai thị giả xuống kêu vị tăng vỗ tay lên gặp ngài. Ngài hỏi vị tăng:

    - Hồi nãy vừa nghe tiếng bảng ông vỗ tay liền, ông nghe gì mà ông vỗ tay?

    - Bạch Hòa thượng, sáng con ăn cháo đói quá giờ nghe tiếng bảng con mừng con vỗ tay chứ không có gì hết.

    Ngài Qui Sơn thôi không nói gì.

    Quý thầy thấy thiền ngữ trong đó chưa? Ở đây ngầm cái gì trong này? Quý thầy đừng chấp trên văn tự. Người xưa nghe tiếng bảng hay bất cứ tiếng gì, các ngài đều trở về phản quan lại tự tánh của các ngài, tức là trở về chỗ tri kiến như thật, chỉ trong những chuyện hằng ngày, chuyện bình thường nhất. Ta đừng nghĩ thành Phật, tác Tổ là ở trên trời, trên non, hay dưới biển mà toàn là trong việc ăn cháo, ăn cơm, uống nước, ngoài ra không có gì khác. Sáng ăn cháo, trưa ăn cơm, ngay trong giờ phút thực tại đó mà thấu tột được thì thành Phật, tác Tổ. Cho nên Qui Sơn liền thôi. Nếu ngay đó Tổ Qui Sơn có cái gì để nói nữa là thêm. Các ngài nói là ngay gấm thêm hoa, ngay tuyết thêm sương, ngay đầu mà thêm đầu. Trật! Vị tăng nói vậy, ngay đó là chấm dứt, ngay chỗ đó là thiền.

    Cũng trong Ngũ Đăng Hội Nguyên:

    Tăng hỏi Thiền sư Vân Môn:

    Xin Thầy chỉ cho con một con đường ngộ nhập.

    Thiền sư Vân Môn nói:

    - Ăn cơm, ăn cháo đi.

    Đó là con đường ngộ nhập, là bí yếu của thiền. Các ngài chỉ ra, mình thấy dễ quá rồi bỏ qua chỗ này. Trong lúc ăn cơm, uống nước quý thầy chịu khó nghiền ngẫm thì chính chỗ đó là đạo lý.

    2- Cúng dường hiện thành được tỉnh lực.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Thành tựu ngay trong hiện tại tức chân lý tuyệt đối tự nhiên hiện bày. Tỉnh lực, năng lực của thiền định, năng lực này có công năng đoạn trừ các phiền não.”

    Trong lúc quý thầy lên cùng ăn cơm với đại chúng, thì sự cúng dường nó hiện thành được tỉnh lực, được sức mạnh. Người xưa nói trong lúc ăn cơm quả đường, công phu miên mật hơn ngồi thiền hai tiếng đồng hồ. Bởi vì bữa nào có thức ăn ngon, tự nhiên quý thầy khởi niệm thèm, trong giờ phút thực tại đó, nếu biết cách chuyển cái tâm niệm thèm muốn này, thì chính chỗ đó là công phu đắc lực nhất.

    Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

    Thiền sư Chơn Tịnh ở trong thất hỏi vị tăng:

    - Xong hay chưa?

    Tăng thưa:

    - Chưa xong.

    Thiền sư hỏi tiếp:

    - Ông ăn cháo hay chưa?

    - Bạch Hòa thượng, ăn xong rồi.

    Thì Thiền sư nói:

    - Sao nói chưa xong?

    Trong lúc ăn cháo ông rõ ràng biết. Nếu ông là người chết, sao ông ăn? Ăn cháo, ăn cơm ông rõ biết, sao nói chưa xong?

    Thiền sư lại hỏi:

    - Ngoài cửa có tiếng gì?

    - Tiếng mưa rơi.

    Thiền sư nói:

    - Sao nói chưa xong? Trước mặt là cái gì?

    - Bình phong.

    Thiền sư nói tiếp:

    - Sao nói chưa xong?

    Sư lại hỏi:

    - Hiểu chưa?

    Tăng nói:

    - Chưa hiểu!

    Sư đọc một bài kệ:

    Tùy duyên sự sự liễu,

    Nhật dụng hà khiếm thiểu.

    Nhất thiết đản tầm thường,

    Tự nhiên bất điên đảo.

    Có nghĩa là:

    Theo duyên mọi việc xong,

    Hằng ngày dùng đâu thiếu.

    Tất cả đều tầm thường,

    Tự nhiên dứt điên đảo.

    Tất cả là việc bình thường hằng ngày, ăn cháo, ăn cơm, mặc áo, đi tiểu tiện… mà rõ biết hết, đó là dứt điên đảo.

    3- Tác quán bình đẳng không có nhân, ngã.

    Khi ăn uống chung trong chúng, chẳng hạn người ta cúng dường bốn trái cam thì chia đều bốn người. Lúc đó quý thầy không khởi niệm ai cúng hay ở đâu có. Còn ở thất riêng, người ta đến cúng là quý thầy khởi niệm người này cúng tôi, người khác cúng tôi, có nhân ngã. Pháp giải thoát thứ ba là tác quán bình đẳng không có nhân, ngã.

    4- Dứt các hý luận, luôn giữ chánh niệm.

    Chỉ tùng lâm lớn mới có. Tôi đến chùa khác, chẳng hạn chùa quê tôi, không có mặc áo hậu ăn cơm như mình mà mặc áo ngắn ăn cơm. Rồi nói chuyện thời sự, nói đủ thứ chuyện, không phải như các thiền viện của Hòa thượng, tụng kinh rồi ăn uống im lặng giữ chánh niệm.

    Cho nên Kinh Di Giáo Phật dạy:

    “Tỳ-kheo các ông, các thứ hý luận làm cho tâm mình mờ tối, dù đã xuất gia vẫn chưa được giải thoát. Thế nên Tỳ-kheo phải mau dứt bỏ loạn tâm hý luận.”

    Có câu chuyện:

    Hai vợ chồng ngồi ăn cơm, người chồng luôn im lặng giữ chánh niệm. Bữa nọ người vợ chịu hết nổi:

    - Ông này ăn mà im lặng không biết lo xa nghĩ ngợi gì hết.

    Hôm sau người chồng ngồi ăn cơm vừa nói:

    - Không biết bên Mỹ mưa hay bão gì đó.

    Người vợ nói:

    - Ông có khùng không? Ngồi đây mà nghĩ bên Mỹ làm chi.

    - Bà bảo tôi lo xa thì tôi lo xa chứ sao.

    Câu chuyện đơn giản, nhưng không khéo mình đang ăn cơm mà nghĩ chuyện bên Mỹ, bên Pháp, bên Tàu là trật, là không giữ trong chánh niệm. Cho nên các thiền sư dặn mình trong lúc ăn, uống, làm việc đều luôn giữ trong chánh niệm, đó là pháp giải thoát thứ tư.

    Trong Đại Thừa Huyền Luận quyển Hai có nói:

    “Hý luận là tên giả mượn để thí dụ, đối với đạo không có lợi ích, như đứa bé nói đùa mà thôi.”

    Kinh Tối Thắng Vương quyển Một nói:

    “Tánh thật tế không có hý luận. Chỉ riêng Đức Phật chứng được hý luận hằng dứt gọi là Niết-bàn.”

    Chỉ có Phật mới chứng được chỗ này thôi, mình dứt không được. Chẳng hạn mình lên quả đường ăn thì im lặng chứ ăn giữa buổi thì không im lặng được. Phải nói chuyện gì đó cho vui, chuyện dưới rẫy, chuyện ở đâu, ở đâu… Đức Phật chứng được chỗ này thì hý luận mới dứt được. Chỉ có Đức Phật thôi. Rất là khó.

    Trong Luận Du Già Sư Địa quyển Chín mươi mốt ghi:

    “Những lời nói dẫn đến sự tư duy phân biệt gọi là hý luận. Vì sao? Vì những lời nói ấy không thể làm tăng thêm chút pháp lành nào và cũng không thể làm giảm đi pháp ác.”

    Có nghĩa là điều ác luôn tăng trưởng mà pháp lành thì mất.

    Luận Phật Tánh quyển Ba ghi:

    “Hý luận có ba, một là tham ái, hai là ngã mạn, ba là kiến chấp.”

    Nếu chúng ta hý luận thường xuyên thì sanh ra thứ nhất là tham ái, thứ hai ngã mạn, thứ ba là kiến chấp.

    Kinh Trung Bộ Tập Một Phật dạy:

    “Này các Tỷ-kheo! Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo! Ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”

    Đây là tinh thần của Tứ Niệm Xứ, không phải tinh thần Tổ Sư Thiền. Tuy nhiên quý thầy thực tập cũng có lợi ích. Chẳng hạn đi quý thầy rõ biết, hơi thở ra vào đều rõ biết, ăn uống cũng luôn luôn tỉnh giác chế ngự cái tham, sầu khổ, nóng giận, đều tỉnh giác. Chứ không thôi quý thầy nói bây giờ tôi tu tới giai đoạn trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật. Nhưng chưa được pháp này mà lại đi đến con đường hý luận khác. Còn ở đây Phật đưa xuống một cấp độ là luôn luôn chánh niệm, quán thân trên thân.

    “Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Tỷ-kheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Tăng-già-lê, mang bình bát, mang y biết rõ việc mình đang làm; khi ăn uống, nhai nếm biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện biết rõ việc mình đang làm; khi đi đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ việc mình đang làm. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân.”

    Nghĩa là làm việc gì biết rõ việc đó, mà rõ biết được như thế thì quý thầy vào thất có một sự đột biến lớn trong thân tâm. Quý thầy dở cách mấy mà biết rõ ràng mình có mặt trong giờ phút thực tại này, thì cái tâm lang bang vọng tưởng ngay tức khắc không có mặt nữa, mà luôn luôn an trú trong giờ phút thực tại đó. Như vậy thì những lúc quý thầy vào thất mới gọi là đột biến thân tâm, chứ thiền không phải dễ nhảy vô đâu.

    Người mà giỡn cười suốt ngày, không có chánh niệm tỉnh giác, thu thúc sáu căn mà nói ngộ đạo thì Thiền sư nói, đây là Di-lặc trời sanh, Thích-ca tự nhiên. Quý thầy hiểu chỗ này không? Có ai mà Di-lặc trời sanh không? Xem trong sử, Di-lặc tu bao nhiêu kiếp, bây giờ tới kiếp cuối cùng mới thành Phật. Như vậy là các ngài cũng luôn luôn nhiệt tâm tỉnh giác, cuối cùng mới thành Phật. Rồi có Phật Thích-ca nào mà tự nhiên đâu, ngài cũng phải tu vô lượng kiếp, cũng tỉnh giác, chánh niệm, rồi cuối cùng bốn mươi chín ngày đêm mới thành Phật. Không bao giờ hô biến tự nhiên nói ông này ngộ đạo, mà toàn giỡn cười, đi chơi, ngắm trăng, ngắm sao rồi thành Phật. Không bao giờ có chuyện đó!

    Cho nên Khổng Tử nói:

    “Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị.”

    Nếu tâm không ở trong cảnh giới thực tại này thì nhìn sẽ không thấy, tai nghe mà không rõ, miệng ăn mà không biết mùi vị.

    Ăn mà biết mùi vị thì thiền sư nói đó là phàm phu, không biết thì là gỗ đá. Nghe vậy mình làm sao? Mình phải thực tập công phu chứ. Các ngài dạy, uống ngọt biết ngọt, ngay đây chấm dứt không thêm cái gì nữa hết. Chứ uống ly nước lợt lợt, quý thầy bực trong bụng: Ông này pha ly nước sao kỳ quá, không ngọt bằng hôm qua. Đem quá khứ đến! Trật! Ngọt biết ngọt, ngon biết ngon mà ngay trong giờ phút thực tại này chấm dứt, dừng! Dừng trong giờ phút thực tại này, cái đó mới khó, nhà thiền mình đòi hỏi vậy.

    Muốn được như vậy, quý thầy phải dùng phương pháp nhất tọa nhất thực, tức là một khi ngồi, ăn xong bước xuống thì dừng, không bỏ gì vô miệng nữa, rất là đơn giản, chính chúng tôi làm được và cảm thấy rất an lạc.

    Làm được điều đó thì đối với thức ăn, quý thầy coi như không, chuyện ăn uống không dính dáng gì đến quý thầy nữa, ăn cũng được, nhịn cũng được. Người ta đến cúng dường, chẳng hạn một bịch bánh, quý thầy cũng biết ơn tín thí nhưng không khởi niệm gì hết. Ai đến cúng dường bánh là tôi đem cho, không ăn được, vì ăn là trật cái “nhất tọa nhất thực” rồi. Quý thầy mà sống được chỗ đó một thời gian, thì ăn uống đều nằm trong cảnh giới thực tại, không còn thèm muốn gì nữa. Một lúc nào đó, quý thầy được ở yên nhập thất sẽ có kết quả rất lớn.

    5- Như pháp quán tưởng nên thâm nhập nghĩa lý.

    Quý thầy quán tam đề ngũ quán, thâm nhập rồi thì tự nhiên khế hợp chân lý.

    6- Chẳng ăn mích chúng nên dứt tiệt nghi báng.

    Ăn mích chúng là sao? Chẳng hạn chúng ăn hai cái bánh ít, quý thầy ăn bốn cái! Ăn trên quả đường, tri khố dọn mỗi người một cái, làm sao mích? Quý thầy ăn ở đâu đó, chúng họ nghi, mà nghi thì cái đức mình bị tổn, không được pháp giải thoát.

    7- Cam khổ đồng thọ, không có kén chọn.

    Hôm nào có cúng, có giỗ thì đồng hưởng, mai đây một dĩa rau muống luộc, một chén nước tương thì cùng thọ. Cam khổ đồng thọ thì pháp giải thoát thứ bảy có mặt.

    8- Đi đứng oai nghi nên chẳng phóng dật.

    Nếu chẳng theo chúng thì tám pháp giải thoát, chẳng có thể thành tựu được. Cho nên cần phải ở trong chúng lâu là vậy.

    Mới đây có một thầy chưa học oai nghi phép tắc mà nhất định đi, tôi nói ráng ở năm, ba năm rồi về cất cốc cũng được. Đi rồi bây giờ hối hận, điện thoại lên xin nhập chúng tu lại, chứ về không ai chứa. Đau bệnh hay bất cứ chuyện gì mà còn nằm trong chúng thì ai cũng giúp đỡ, nuôi bệnh, ai cũng muốn tìm cách cúng dường để quý thầy trị bệnh. Nhưng một khi quý thầy ra khỏi đây thì không ai ngó ngàng tới. Mình ở trong chúng lâu năm, tích chứa công đức, thành tựu Phật pháp, trang bị Phật pháp cho nhiều thì đi đến đâu người ta cũng thỉnh, cũng mời. Cho nên, Tổ Tuyên Luật Sư nói ở trong chúng mới được tám pháp giải thoát. Không ở trong chúng thì tám pháp giải thoát này, chẳng có thể thành tựu được. Vì vậy, khuyến khích mình ở trong chúng là có lý do.

    “Nghe tiếng kiềm chùy phải sửa sang y phục.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Đây chính là phương pháp vân tập đại chúng, chẳng đợi nói mà tự đi.”

    Đến giờ ăn cơm, vị hành đường gõ ba tiếng bảng, không mời mà quý thầy cũng tự đi. Nếu gõ bảng mình không đi, hoặc nghe tiếng kiểng chuẩn bị ngồi thiền hay tụng kinh mà cứ ngồi nói chuyện đông, chuyện tây, tức là mình không tùy thuận pháp hạnh trong đại chúng, trong tùng lâm. Nghe tiếng kiểng, tiếng bảng mình tùy thuận đi tọa thiền, tụng kinh hoặc đến trai đường, thì những hạt giống đó đều được ghi trong tàng thức. Có những người lúc ở ngoài đời, nghe tiếng chuông, tiếng trống tự nhiên họ được đánh thức, là biết trong thời quá khứ, họ đã từng có những hạt giống này ghi trong tàng thức.

    Cho nên Kinh Phật nói:

    “Người xuất gia tu học chỉ cần ở trong tùng lâm một ngày, một đêm bằng ở ngoài đời một trăm năm.”

    Ngày xưa, đọc đến đây tôi không hiểu, tôi nghĩ rằng mình ở trong tùng lâm được thời gian tu học nhiều hơn cư sĩ tại gia, nên thời gian được tính dài ra. Nhưng hồi hôm lúc ngồi thiền, tôi thấy có một số cư sĩ đến làm công quả, những vị này đi đạo tràng cũng mười mấy năm rồi và có tu tập pháp môn thiền, nhưng họ khạc, họ nhổ trước chánh điện, họ hỉ mũi, họ làm đủ thứ. Nghĩa là pháp hành chánh niệm oai nghi họ không có, bởi vì họ chưa từng học qua.

    Cho nên bài Oai Nghi này tôi lấy tựa đề: “Oai Nghi - Con Đường Của Sự Tỉnh Thức”. Sở dĩ chúng ta tu một ngày, mà hơn người đời một trăm năm là bởi mình có pháp trợ đạo. Pháp trợ duyên này là Oai Nghi, là mình luôn sống trong tỉnh thức.

    Còn người không có oai nghi phép tắc, sống buông thả phóng túng, hoặc khạc nhổ, hạ phong trong thiền đường, thì người này tuy cũng đầu tròn áo vuông, xuất gia như những người khác nhưng trong luật các vị Tổ nói, họ không khác gì người đời, tức là xuất gia uổng. Bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả vào đây mà mình không có sự oai nghi, phép tắc, không có giới luật để câu thúc tâm của mình lại thì chư Tổ nói người này giống như người thế tục.

    Cho nên học luật, học oai nghi, là hơn người đời chỗ đó. Người đời tuy họ tu tập nhiều pháp môn nhưng họ chưa từng kinh qua con đường oai nghi này. Họ không biết pháp đến chùa phải như thế nào cho nên họ vẫn khạc nhổ, hạ phong... mà không biết tội phước ra sao. Còn ở Tùng lâm, chúng ta học pháp oai nghi này, là pháp duyên trợ đạo thù thắng nhất.

    Ở đây Tổ Tuyên Luật Sư nói: phương pháp vân tập đại chúng chẳng đợi nói mà tự đi, có nghĩa là quý thầy nghe tiếng kiềm chùy, những hạt giống này ghi trong tàng thức nó không mất, mà đợi đủ nhân. Đủ duyên nó tác động, có những lúc chúng ta đột biến thân tâm và con đường ngộ nhập cũng đi từ con đường này.

    Thanh qui Tổ Bách Trượng dạy, nghe tiếng kiềm chùy, mình chắp tay lại thầm tưởng niệm:

    Phật sanh Ca-tỳ-la,

    Thành đạo Ma-kiệt-đà,

    Thuyết pháp Ba-la-nại,

    Nhập diệt Câu-thi-na.

    Phật sanh Ca-tỳ-la… Ngài là một vị Đông cung Thái tử, khi trưởng thành ngài thấy cuộc đời là vô thường, ảo mộng nên buông bỏ hết tất cả để vào rừng tu. Chắp tay tưởng niệm công đức của ngài để tăng trưởng những niệm thù thắng, nhờ năng lực này mà giữ được oai nghi phép tắc. Thành đạo Ma-kiệt-đà, thuyết pháp Ba-la-nại…Mình tưởng niệm giờ phút Phật thuyết pháp cho năm anh em ông Kiều Trần Như. Nhập diệt Câu-thi-na, nghĩa là dù Đức Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp thì cũng đến ngày vô thường, đến ngày hoại diệt, huống chi là cái thân của mình, cho nên thúc đẩy mình nỗ lực tinh tấn tu.

    Luận Kiền Độ nói:

    “Nghe tiếng kiềm chùy liền phải đắp y, mang bát giống như nhạn đi.”

    Chim nhạn bay rất có thứ tự, một con dẫn đầu, rồi con kế tiếp, kế tiếp...

    “Đi đến trai đường theo thứ tự mà ngồi, chớ khiến lộn xộn chẳng đúng như pháp.”

    Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi:

    Thiền sư Thạch Thê một hôm hỏi thị giả:

    - Ông đi đâu?

    Thị giả thưa:

    - Con đi lên trai đường.

    Thiền sư bảo:

    - Ta đâu không biết ông đi lên trai đường.

    Thị giả thưa:

    - Ngoài việc này ra, riêng nói cái gì?

    Thiền sư bảo:

    - Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ông thôi.

    Thị giả thưa:

    - Nếu hỏi việc bổn phận của con thì thật là con đi lên trai đường.

    Sư bảo:

    - Ông quả thật là thị giả của ta.

    Các vị thiền sư một khi khai thị cho đệ tử thì không ngoài việc: “Bổn phận của ông là gì?”

    Hôm trước, có phái đoàn mười nước gồm Lào, Mã Lai, Indonesia, Singapore, Campuchia, Thái Lan… đến thăm thiền viện. Trong đó có một vị người Singapore hỏi Hòa thượng một câu mà ông cho rằng rất trừu tượng: “Mục đích của con người là gì?” Câu này cũng không khác gì câu hỏi: “Việc bổn phận của ông là gì?” Tôi đã từng tiếp một phái đoàn mười giáo sư miền Bắc và hai linh mục nhà thờ cũng hỏi chúng tôi như vậy. Các tôn giáo bạn như Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo cũng luôn luôn tìm hiểu mục đích của con người là gì.

    Thật ra câu hỏi này không trừu tượng, bởi mục đích của con người thì chư Phật, chư Tổ đã làm rồi. Mục đích mà con người muốn hướng đến không phải tài, sắc, danh, thực, thùy mà là chuyển hóa thân tâm. Đời này chưa xong thì đời kế tiếp, hoặc năm này không xong thì năm kế tiếp nữa. Mục đích này không nằm trong trạng thái biện luận hay lý giải trừu tượng, không bằng cách học trung cấp, cao đẳng rồi tiến sĩ. Dầu cho quý thầy có mười cái bằng tiến sĩ, cũng không khám phá mục đích này được.

    Hòa thượng nói, trả lời câu hỏi này phải nói rất dài, ở đây Hòa thượng chỉ nói vắn tắt, mục đích là đi đến con đường của Giới - Định - Tuệ, Giác ngộ và Giải thoát. Hay nói ngắn gọn hơn, mục đích của con người là nhận ra được con người bất tử.

    Sau khi Thái tử Sĩ-đạt-đa nhận chân được mục đích con người là gì, tại sao mình sanh ra cõi đời này, sau khi già chết mình sẽ đi về đâu, mình sống ở đời để làm gì, ngài buông hết tất cả. Năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh; cuối cùng, bốn mươi chín ngày đêm mới khám phá ra được mục đích của con người là gì.

    Một vị Đạt-lai Lạt-ma nói: Người sống mà không có mục đích, không biết chuyển hóa thân tâm thì giống như sống say, chết mộng. Sống say ở đâu? Sống say trong ngũ dục, trong tham ái. Chết thì trong mộng mị. Quý thầy tuy xuất gia vào đây gặp Hòa thượng rồi, được Hòa thượng dạy phương pháp thù thắng mà tu lơ là ngày tháng, không chịu sám hối, tọa thiền, suốt ngày đi chơi, tán dóc… thì đây cũng là người sống không có mục đích.

    Trong Bảo Cảnh Tam Muội có ghi:

    Như thị chi pháp,

    Phật Tổ mật phó,

    Nhữ kim đẳng chi,

    Như thiện bảo hộ.

    Nghĩa:

    Pháp ấy như thị,

    Phật Tổ thầm trao,

    Nay ông được đó,

    Nên khéo giữ gìn.

    Trong lúc đi lên trai đường, thiền đường, chúng ta luôn tỉnh giác, luôn ý thức để chuyển hóa toàn vẹn thân tâm. Đó chính là mục đích của con người. Chư Phật, chư Tổ đã làm được, các Thiền sư đã làm được, bây giờ đến phiên chúng ta cũng phải làm. Nên mục đích của con người là khám phá ra con người bất tử, ngoài ra không có gì khác hết.

    “Đến khi ăn, chú nguyện đều phải cung kính.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    Trong Đại Luật có ghi lại, vào thời Đức Phật, có một số cư sĩ thỉnh chư Tăng đến thọ trai cúng dường. Các ngài đến im lặng ăn, ăn xong rồi đi cũng im lặng, không có chú nguyện. Các vị cư sĩ cơ hiềm, bạch Phật:

    - Các Thầy Tỳ-kheo ăn chẳng biết tốt xấu, cùng chẳng biết ít nhiều.

    Phật dạy:

    - Từ nay trở đi, lúc ăn nên biểu hiện ý thí. Trước khi ăn là niệm tưởng cúng dường, xướng Tăng bạt rồi sau mới ăn. Tụng kệ, chú nguyện, chỗ pháp hành đều phải khởi tâm cung kính, chẳng được tán tâm phóng túng khinh thường, tổn đức còn chiêu cảm quả khổ.

    Xướng Tăng bạt là nêu lên cái pháp bình đẳng. Trong tích có ghi:

    Ông Thi-lợi-cù-đa nghi Phật không có nhất thiết chủng trí, nên làm cơm độc rồi thỉnh Phật và chư Tăng đến. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, ông thức tỉnh nên đề nghị đổ bỏ hết cơm và thức ăn. Phật nói cơm này muốn ăn mà không độc thì phải xướng Tăng bạt, chú nguyện rồi mới ăn.

    Khi bưng bát cơm lên, mình đừng có khinh thường, phóng túng mà tổn đức, còn chiêu cảm quả khổ. Ở thiền viện nọ, ngày xưa tôi chứng kiến một thầy rất hảo tướng mà mới chừng hai mươi mấy tuổi thôi. Thầy bưng chén cơm lên mà nói chuyện phi pháp, thầy nói để coi có nhân quả hay không! Quả tình bốn năm sau thầy ra đời, hiện giờ rất khổ, chạy cơm, chạy nước, làm đầy tớ cho người ta. Nghe nói thầy lấy vợ, một hai năm sau thì người vợ qua đời.

    Ở trong tùng lâm mình đừng có khinh thường, nói coi thử có nhân quả không là bảo đảm chiêu cảm quả khổ liền. Lúc xướng Tăng bạt rồi, ăn phải cung kính, thành tâm, không khởi một ý niệm khinh thường nào hết thì phước đức tăng trưởng.

    “Cơm xuất sanh chẳng quá bảy hột, bún chẳng quá một tấc, bánh man đầu cỡ chừng một móng tay, không nên nhiều, không nên ít. Vì sao vậy? Nhiều thời là tham, ít thời là sẻn. Ngoài ra các món như là rau, cải, đậu, mè không được xuất sanh.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Phàm đồ ăn những thức bột gạo làm ra mới xuất sanh được, còn như rau cải là những vật quỷ thần không ăn, nếu xuất sanh trở thành vật bỏ. Còn xuất sanh bảy hột rất ít quỷ thần làm sao no đủ? Bởi nhờ sức chú nguyện hay khiến quỷ thần no đủ.”

    Bảy hột làm sao quỷ thần no đủ được, nhưng trong kinh diễn tả: Nhờ sức chú nguyện nên lúc này, bảy hột cơm biến khắp hằng sa cõi nước thì chúng quỷ thần đều no đủ. Muốn sức chú nguyện có năng lực thù thắng, thì quý thầy phải giữ giới luật thanh tịnh.

    Luận Đại Trí Độ ghi:

    “Phàm lúc thọ thực trước phải cúng Tam bảo, kế là đến đại chúng, sau mới thí bốn loài. Để yên nơi tay trái, tay phải hướng trên tịnh vật, mặc niệm kệ chú: ‘Nhữ đẳng quỷ thần chúng, ngã kim thí nhữ chúng.’ Nghĩa là nương sức chú Phật triệu thỉnh tên đó mà thí pháp thực. Thức ăn này biến khắp mười phương, tất cả quỷ thần cùng chung hưởng. Nghĩa là các chúng quỷ thần mỗi mỗi tán ra mười phương mà chú thực này cũng biến khắp mười phương, khiến các quỷ thần kia cùng hưởng pháp vị đều được no đủ, dùng cái tâm Phật mà thấy bình đẳng.”

    Quý thầy đừng ỷ lại. Chẳng hạn, sau này trụ trì một phương nào đó, rồi quý thầy nghi, nói thôi bây giờ mình khỏi cần chú nguyện hay cúng thí thực gì hết. Được không?

    Một thầy ở Vũng Tàu kể lại, hồi còn là Sa-di, thấy các chùa Tịnh Độ thờ vong rất nhiều, thầy nghĩ: “Cúng vậy ai ăn.” Cho nên khi Bổn sư thầy đi vắng, thầy bỏ không cúng ba ngày. Đến ngày thứ tư, sau khi tụng kinh tối, thầy thấy toàn là vong linh, người cụt tay, cụt chân, người đui mắt… Sợ quá thầy lết ra khỏi chánh điện. Thầy trình lại với Thầy Bổn sư, Thầy Bổn sư dạy là có những cõi vô hình họ đến thọ thực. Từ đó về sau, thầy rất cung kính phương pháp chú nguyện này. Kinh Xuất Diệu ghi, nhờ sức chú nguyện của mình, quỷ thần mới được ăn no đủ, trong đó có dòng họ bà con, có khi có cha mẹ mình nhiều đời nhiều kiếp nữa.

    Kinh Xuất Diệu ghi:

    Tôn giả Mãn Nguyện, đến giờ đắp y ôm bát vào thành Ca-la khất thực thì thấy một con quỷ đứng dựa cửa. Quỷ nói:

    - Chồng con vào thành đến giờ vẫn chưa thấy ra, con đứng đây đợi.

    Thầy Tỳ-kheo hỏi:

    - Chồng ngươi vào thành để làm gì?

    Quỷ nói:

    - Trong thành này có một vị trưởng giả mắc bệnh ung thư lâu ngày, bữa nay ung nhọt nó vỡ, mủ máu chảy đầm đìa, chồng con dắt theo hai ngạ quỷ con, đến đó ăn uống máu mủ mà sống.

    Thầy Tỳ-kheo lại hỏi:

    - Chồng ngươi đến thành này bao lâu rồi?

    - Bảy lần xây lên, bảy lần đổ xuống.

    Trong kinh Tạp Bảo Tạng có ghi: Nghiệp quỷ rất là khổ. Chẳng hạn rồng phun nước làm mưa, nước rơi lên chư thiên thì thành bảy báu, rơi lên người thì thành nước mát, còn rơi lên mình ngạ quỷ thì thành lửa đốt cháy rất đau đớn, khổ sở. Loài ngạ quỷ lại chuyên ăn máu mủ của người bệnh. Cảm thương các loài quỷ này, Phật chế ra pháp thù thắng, dạy Thầy Tỳ-kheo ở nơi nào đều phải cúng thí thực, để cho loài ngạ quỷ được thọ hưởng.

    Bộ Căn Bản Bổn Luật có ghi:

    “Mẹ con loài quỷ theo Phật thọ bất sát. Phật dạy trong châu Nam Thiệm Bộ này, chỗ nào có đệ tử Phật, mỗi khi bữa ăn thí cho các loài ăn. Vậy ở sau chỗ chúng Tăng ngồi ăn phải lập một bàn xuất sanh, kêu tên quỷ mẹ và năm trăm quỷ con cho ăn no đủ. Và chúng sanh hiện tại như loài ở suối, ở sông, ở núi, ở biển, tất cả quỷ thần đều đem lòng thương xót và cho ăn no đủ. Phàm cơm xuất sanh để trong lòng bàn tay bên trái, tưởng niệm bài kệ rằng: Các ngươi chúng quỷ thần, ta nay cúng thí cho ngươi cơm này khắp đủ mười phương, tất cả chúng quỷ thần đều chung hưởng.”

    Phàm tới bữa ăn phải tưởng năm phép quán, tức là tam đề ngũ quán. Nếu trong giờ phút thực tại này, phép tưởng tam đề ngũ quán mà thù thắng thì tự nhiên có năng lực lớn. Chính năng lực này hay đi đến con đường thiền định. Vào thời đức Phật, có những thầy Tỳ-kheo lúc thọ thực cúng dường của tín thí mà tưởng mạnh, là chứng đạo luôn.

    Trong Kinh Tạp Thí Dụ có ghi:

    Thuở xưa, trên bờ biển ở Nam Thiên Trúc có một nước tên là Tư-ha-khiết, có một bà lão tên là A Long. Bà rất nghèo, nhưng khi hay tin sáng nay có sáu mươi thầy Tỳ-kheo đến vùng của bà ở để khất thực, bà nghĩ: “Mình sẽ bán thân để có tiền cúng dường.” Bà làm nô lệ được một số tiền, bà đến đảnh lễ và cúng dường các thầy Tỳ-kheo.

    Biết được bà lão này bán thân để cúng dường một bữa trai tăng, chúng tăng nói với nhau: “Chúng ta cũng là thân năm ấm đi khất thực, nhưng bữa thọ trai hôm nay chính là ăn thịt người. Vậy nên phải định ý để đền đáp công đức cúng dường của bà lão này.”

    Để đền đáp công đức cúng dường, các ngài nhất tâm định ý nhập vào thiền định. Nhập tám bối xả, tinh tấn cảm ứng vượt qua định và con đường sắc giới, đắc được siêu hình, thần túc oai linh. Nhờ quán tưởng sâu sắc và định tâm, sáu mươi thầy Tỳ-kheo đều chứng quả vị A-la-hán. Lúc đó cả khu vực của các ngài đều chấn động. Vua đang ngồi trên ngai vàng, ngạc nhiên thấy đất trời rung chuyển. Sau khi tìm hiểu biết được nguyên nhân, nhà vua tôn bà lão làm quốc sư. Kinh nói, bà lão này chính là tiền thân của Đức Phật.

    Có những người bán máu lấy tiền cúng dường. Hoặc có người rất nghèo, cúng dường chỉ nửa ký gạo, nhưng theo tinh thần nhà Phật, nửa ký gạo đó mà họ thành tâm cúng dường, thì cũng bằng một tấn gạo của thí chủ giàu có. Bởi vì nửa ký gạo đó là rút từ máu, thịt của người nghèo khổ. Cho nên Phật dạy, khi ăn phải quán tưởng sâu sắc chớ không được phóng túng. Vì vậy, phương pháp thọ thực là phương pháp thù thắng nhất để kiểm lại tâm của mình.

    Luận Đại Trí Độ nói:

    “Ăn là gốc của sự hành đạo.”

    Hàng A-la-hán, trong giờ phút thực tại, họ làm việc họ tu không được. Cho nên họ phải ẩn vào trong A-lan-nhã, núi sâu, rừng thẳm để tu. Nhưng đặc biệt, hàng Bồ-tát trong lúc làm việc, trong lúc ăn uống, các ngài đều tu tập được, mà tu tập rất có kết quả. Sở dĩ tôi nói quý thầy phải học chữ Hán, vì chữ Hán rất hay. Chẳng hạn chữ hạnh, trong chữ Hán, chữ hạnh có thêm một âm khác là hành, nghĩa là hạnh nguyện chính, là con đường hành đạo của hàng Bồ-tát. Còn những vị, trong thời quá khứ đã từng đi vào con đường A-la-hán, nếu phải làm tri khố, tri khách, làm thư ký, làm trụ trì, phó trụ trì… thì các ngài tu không được. Ngược lại, những người trong thời quá khứ đã từng gieo hạt giống Bồ-tát đạo lớn, thì ngay chỗ hạnh nguyện đó tức là hành đạo.

    Ăn là gốc của sự hành đạo, Luận Đại Trí Độ nói về tinh thần trí tuệ của Bát-nhã. Đại Trí Độ Luận là trí tuệ lớn mà chỉ có hàng Bồ-tát mới đảm nhận được. Tinh thần ở đây muốn nói, chính khi thọ thực phải phát ba lời nguyện lớn, đó là đi trên con đường Bồ-tát đạo, chứ không còn đi trên con đường Thanh Văn đạo nữa. Mà Bồ-tát đạo này là gì?

    “Muỗng thứ nhất nguyện dứt tất cả ác.”

    Trong Sa Di Học Xứ, ngài khẳng định, nguyện dứt tất cả ác là không điều dữ nào mà chẳng dứt, tức là mình buông xả hết. Đây là nguyện thứ nhất. Nguyện này đi trên lộ trình Bồ-tát đạo. Ngài Thiên Thai Trí Giả nói:

    “Có cái ác trong giới, cái ác ngoài giới là các lầm kiến tư, trần sa, vô minh. Khi mới để muỗng thứ nhất xuống, hãy phát nguyện đời này có những ba nghiệp thân, khẩu, ý và tất cả pháp chẳng lành, đều khiến dứt hết.”

    Ở đây ngài nói lầm kiến tức là cái thấy mê lầm, lầm  là cái suy nghĩ mê lầm, rồi trần sa hoặc, vô minh hoặc. Lúc ăn muỗng thứ nhất, mình phải phát nguyện ba nghiệp thân, khẩu, ý và tất cả các pháp chẳng lành đều khiến dứt hết. Mình ráng cố gắng, vậy là đi trên con đường Bồ-tát đạo.

    “Muỗng thứ hai nguyện tu tất cả thiện.”

    “Không điều lành nào chẳng tu. Khi để muỗng xuống, hãy nguyện đời này bao nhiêu pháp lành đều được chăm tu, tức là những pháp do Như Lai nói ra như ba học Giới, Định, Tuệ và ba mươi bảy phẩm trợ đạo, cho đến trăm nghìn tam muội vô lượng diệu nghĩa pháp môn đều tu, đều học hết.”

    Đây là nguyện thứ hai.

    Trong mười tám pháp bất cộng của Đức Phật, có một điều gọi là “dục vô giảm”, là lòng mong muốn làm các điều lành, không bao giờ giảm. Dù đã thành tựu quả vị Phật rồi, nhưng Phật nói, ta trong vô lượng kiếp đều gom góp tất cả các việc thiện pháp. Chẳng hạn việc Phật giúp Ngài A-na-luật xỏ kim. Tôn giả A-na-luật nói, Phật đã thành tựu mười tám pháp bất cộng, tứ vô sở ý, thành tựu trăm ngàn diệu nghĩa pháp môn rồi, bây giờ đâu cần làm công đức nữa. Phật nói, Như Lai thành tựu quả vị Phật nhanh hơn các vị Bồ-tát khác là nhờ Như Lai gom góp tất cả các việc thiện pháp.

    Cho nên quý thầy đừng ỷ lại. Mình nói bây giờ mình chỉ chuyên tu rồi học thôi, không làm gì hết. Ai làm gì mặc kệ, ta cứ tu, ta cứ học. Nghĩ như thế thì phải nhìn lại, trong đời này quý thầy thấy có những người họ không làm, nhưng việc gì cũng thành tựu. Hoặc huynh đệ tu một lượt với mình mà họ thành tựu, còn mình không được gì hết. Quý thầy đừng chấp trước, là vì trong vô lượng kiếp họ đã từng làm, còn mình thì chưa, cho nên bây giờ mình phải gom góp hết tất cả, việc lành nào mình cũng làm, mà việc ác thì buông.

    Lúc mới xuất gia ở Thường Chiếu chúng tôi làm hết tất cả việc, rồi lên Trúc Lâm cũng làm rất nhiều việc. Phải làm thôi chứ mình đừng nói buông xả hết. Nhờ việc làm này, nhờ năng lực này, nhờ thành tựu tri kiến này thì tùy thuận các pháp lành, mà quý thầy tu có kết quả.

    Cho nên “nguyện tu tất cả thiện” là không điều thiện nào mà chẳng tu. Tu tức là hành, hành tức là cái hạnh đi đến, hạnh này chỉ có Bồ-tát đạo mới làm được. Những vị đi trên con đường A-la-hán đạo, sau này ra làm Phật sự không có ai trợ duyên, giúp đỡ, bởi vì vị ấy đã gieo những hạt giống này. Còn những người gieo hạt giống Bồ-tát đạo, họ ra làm Phật sự thì được mọi người ủng hộ.

    Chẳng hạn như Hòa thượng, đời đời kiếp kiếp ngài đã tu lộ trình Bồ-tát đạo này, nên Hòa thượng cần gì là chúng đệ tử làm hết, Hòa thượng chỉ đạo, cố vấn thôi. Quý thầy cứ thui thủi tu một mình cũng tốt, nhưng chỉ nhập diệt vào cảnh giới Niết-bàn thôi, ra làm Phật sự thì không ai trợ duyên giúp đỡ cho mình hết.

    Có vị thầy ngày trước tu ở Chơn Không, Hòa thượng cắt làm tri sự thầy nhất định không làm, thầy xuất chúng về cốc tu. Bây giờ thầy kể thầy ra làm Phật sự không ai trợ duyên cho, chỉ có một mình thui thủi. Các đệ tử mà thầy nhận xuất gia bỏ đi gần hết. Đến nỗi bây giờ lớn tuổi thầy phải tự giặt áo, nấu cơm. Hiện thầy có bốn đệ tử mà sáng thầy phải dậy sớm, nấu cơm cho họ ăn. Chính thầy lên nhà khách kể lại với chúng tôi, nói ngày xưa thầy không chịu làm, ai kêu làm thị giả cũng không chịu. Bây giờ thầy nói đúng là nhân quả, thị giả không có, làm cái gì cũng không suôn sẻ.

    Sở dĩ Thầy Trụ trì ở đây cần cái gì cũng có thị giả, ai cũng muốn làm thị giả cho Thầy vì ngày xưa Thầy làm thị giả cho Hòa thượng rất là tôn trọng và cung kính, việc gì làm ra việc đó nên bây giờ được nhân quả thù thắng. Bồ-tát đạo đi trên con đường Phật quả là phải như thế, phải phát nguyện kết duyên tất cả các việc thiện pháp trong đại chúng, thì đúng là thành tựu. Mình đừng nghĩ tu một đời là xong, có nhiều khi đời này xả thân cho đại chúng thì đời sau người ta giúp mình lại.

    “Muỗng thứ ba thệ độ tất cả chúng sanh.”

    Không một chúng sanh nào mà chẳng độ, như Tôn giả A-nan phát nguyện: “Như một chúng sanh nào chưa thành Phật, trọn chẳng ở đây chứng Niết-bàn.”

    Về sự là phải thệ độ tất cả chúng sanh. Tu một thời gian mà có năng lực lớn, không những quý thầy độ loài hữu hình mà loài vô hình như rồng, hay ma quỷ gì cũng độ hết. Như Hòa thượng Tuyên Hóa, ngài độ rồng, quỷ thần, thần núi, thần cây, thần sông, tà ma, quỷ quái gì đều độ và cho quy y hết. Chẳng những phải có năng lực lớn, mà còn phải có duyên với những cảnh giới đó thì mới độ được. Muốn thành tựu con đường Bồ-tát đạo này, thì sau khi vượt thoát ba cõi rồi, phải quay trở lại chớ không thể bỏ. Mà trở lại ba cõi là lúc đó đã thành tựu, đã tự tại rồi nên không còn ngán ngại, không còn dính mắc nữa.

    “Khi để muỗng xuống, hãy phát nguyện những căn lành tu trong đời này, đều thí cho tất cả chúng sanh cùng nên Phật đạo. Hai muỗng trước là tự lợi, muỗng thứ ba là lợi tha, tức là bốn thệ nguyện lớn vậy.”

    Chỉ cần một bữa ăn thôi, là mình đã thành tựu con đường Bồ-tát đạo. Hai muỗng trước là tự lợi, là dứt các điều ác, làm các việc lành, muỗng thứ ba phát nguyện độ hết chúng sanh là lợi tha.

    Khi ăn, ai cũng đều phát nguyện, đó là con đường tự lợi và lợi tha thành tựu. Thành tựu trong tư tưởng chứ không phải thành tựu về thân, vì mình chưa giáo hóa được ai. Nhưng trong giờ phút thực tại này, mình thành tựu trong tư tưởng, thành tựu được chủng trí Bát-nhã, thấy được đúng như thật rồi, thì tự nhiên các việc đến quý thầy không còn ngăn ngại nữa. Mình làm, xả thân cho đại chúng mình thấy rất vui, rất an ổn. Vừa làm vừa tu được, thì quý thầy đã có nhiều đời nhiều kiếp gieo trồng thiện căn, đi trên con đường Bồ-tát đạo.

    Luận Khởi Tín nói:

    “Một là trực tâm niệm pháp chân như, hai là thanh tâm ưa nhóm các hạnh lành, ba là bi tâm muốn nhổ cái gốc khổ cho chúng sanh, cũng tức là ba phương tiện.”

    Bồ-tát Mã Minh nói, muỗng thứ nhất là trực tâm niệm pháp chân như. Theo tinh thần thiền tông, niệm pháp chân như là trở về pháp chân như, không phóng niệm ra mà trở về, là đoạn tất cả điều ác. Tư tưởng quý thầy có các điều ác tật đố, điều ác ích kỷ nào đến cho huynh đệ là phải phát nguyện nhổ gốc đó liền, tức là trở về pháp chân như, không phóng niệm ra nữa. Quý thầy thấy, thiền tông rất siêu đẳng nhưng làm rất khó, đúng không? Hai là thanh tâm ưa nhóm các hạnh lành, ba là bi tâm muốn nhổ cái gốc khổ cho chúng sanh, cũng tức là ba phương tiện đi vào cuộc đời hành đạo này.

    “Phương tiện hay dứt, dứt tất cả các pháp ác. Phương tiện phát khởi, phát tất cả căn lành. Phương tiện nguyện lớn, nguyện độ tất cả chúng sanh. Cổ đức nói, ba tâm chưa trọn thì giọt nước cũng khó mà tiêu.”

    Cổ đức nói, ba tâm chưa thấu thoát thì giọt nước cũng không tiêu, huống chi sáng quý thầy dùng hủ tíu, trưa cà ri bánh mì. Ở đây nói phương tiện hay dứt, dứt tất cả pháp ác, chẳng hạn một niệm khởi tật đố huynh đệ, quý thầy chuyển hóa liền, thì ngay trong giờ phút thực tại này quý thầy tiêu một ngàn lượng vàng chư Tổ nói cũng xong. Ngay trong giờ phút đó mình phóng niệm, mà cứ theo niệm rồi tạo tác, hành động, thì người này chắc chắn bị đọa ba đường ác. Học luật, học oai nghi, mình thấy phương pháp hành trì tuy khó nhưng thật ra không khó, bởi vì kiểm tâm từng giờ từng phút.

    Tưởng năm phép quán:

    1- Kế công đa thiểu lượng bỉ lai xứXét xem thức ăn này từ đâu đến, công lao của người nhiều hay ít.

    Phép quán thứ nhất, bưng bát cơm ngang ngực, thành kính quán thức ăn này từ đâu đến, công lao người nhiều hay ít. Đúng pháp là bát cơm bưng ngang ngực, không cao mà cũng không thấp. Để thấp xuống dưới, người xưa gọi người này là “mục hạ vô nhơn”tức là biểu hiện tính cống cao ngã mạn, dưới con mắt mình không ai ra gì hết.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Chánh niệm tư duy tức là chiếu tột vào nghĩa lý đó.”

    Trong giờ phút thực tại này, quý thầy phóng niệm chân như vào pháp quán thứ nhất, nghĩa là một tâm niệm chiếu tột năm pháp, khiến chánh niệm thọ thực. Một là quán một bát cơm đầy, đều là mồ hôi, máu và nước mắt của hành nhơn, tức là cư sĩ. Nên nói kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ, có nghĩa là công lao này rất nhiều chớ không phải đơn giản. Bát cơm này mình ăn là mồ hôi, máu và nước mắt của cư sĩ. Phải quán kỹ như vậy.

    Luận Đại Trí Độ nói:

    “Tưởng cơm trong một bát này chẳng phải là dễ. Xét gốc có ra từ gieo cấy, gặt hái. Nhà nông dãi nắng dầm mưa, trời hạn, nước lụt, cuốc, cày, bừa, trục cho đến vo nấu. Người làm mồ hôi như xối, cơm ít mồ hôi nhiều, công nặng như thế.”

    Cổ Đức nói:

    Cuốc ruộng lúc đang ngọ,

    Mồ hôi nhỏ xuống mạ,

    Ai biết cơm trên mâm,

    Mỗi hột đều cay khổ.

    Cuốc ruộng lúc đang ngọ… nghĩa là mười hai giờ trưa, có những nông dân vẫn cuốc, vẫn cày mồ hôi dầm dề. Mồ hôi nhỏ xuống mạ…Từng giọt mồ hôi nhỏ xuống. Bây giờ khoa học chứng minh, chẳng hạn mười giọt mồ hôi là ba, bốn giọt máu kết tụ lại. Ai biết cơm trên mâm, mỗi hột đều cay khổ. Cơm trên mâm sáng mình ăn, trưa mình ăn đều là cay khổ, tủi nhục của chúng sanh.

    Nên Thiền sư Lợi Am nói:

    Tăng vật mười phương nặng núi non,

    Nghìn đời muôn kiếp khó hoàn toàn,

    Miệng vàng nói rõ người chưa tính,

    Thành sắc ngày kia khó phóng buông.

    Thiền sư Lợi Am cảm khái chỗ này quá, nên ngài nói Tăng vật mười phương nặng núi non… Rất là nặng. Trong Kinh A Hàm, vì muốn thị hiện nên Phật bảo Tôn giả A-nan giặt y. Làm cách gì y cũng không chìm, kể cả bỏ bốn cục đá to lên trên. Tôn giả trình với Phật, Phật bảo lấy bốn hạt cơm bỏ bốn góc, quả thật y chìm xuống. Lúc này Phật nói kệ:

    “Hạt cơm của tín thí,

    Nặng như núi Tu-di,

    Nếu người không liễu hội,

    Mang lông, đội sừng trả.”

    Nghe đến chỗ này, Tôn giả La-hầu-la xin hoàn tục. Tu khó mà còn đọa địa ngục nữa, xin ra đời cho rồi, làm vua, làm chúa sung sướng. Phật quở: “Ông bệnh nặng ông phải cần thuốc. Nếu không thọ hưởng của tín thí làm sao tu đạo được.” Phật nói giống như mình đang đi trên sa mạc, khát nước quá mà tìm nước không có, tính nằm luôn chịu chết, nhưng thấy đằng xa có con cọp chạy tới. Phật hỏi, mình có chạy không, phải chạy thôi! Phật nói mình ăn hạt cơm của tín thí cũng giống như đi trên sa mạc mà bị cọp rượt vậy. Tín thí cúng nhiều chừng nào, mình phải ráng tu nhiều chừng đó, chứ không có nói chuyện, nói nhảm mà thành tựu đạo nghiệp.

    Nghìn đời muôn kiếp khó hoàn toàn, miệng vàng nói rõ người chưa tính, thành sắc ngày kia khó phóng buông. Quý thầy học đạo, thành tựu được tri kiến như thật. Sau này đi giảng pháp độ sanh mà có nhân duyên với tín thí, thì quý thầy cũng trả được phần nào cơm áo ngày xưa mình mượn lúc còn là Sa-di. Bây giờ mình đang mượn, mình phải ráng tu, ráng học mai kia mới trả được nợ. Chẳng hạn như Phật tử ở đâu xa thật xa, họ nghe một, hai cái đĩa của chúng tôi, họ về đây gặp, mình có căn duyên với họ, họ kể cả gia đình họ được chuyển hóa. Hoặc có những người uống rượu, chích xì ke không biết cách gì để chuyển hóa, tự nhiên nghe được đĩa quý thầy giảng, họ lại chuyển hóa hết. Đó là mình đang trả nợ cho tín thí. Có khi đi trên một đoạn xe, một chuyến đò, quý thầy dìu dắt được một, hai người thì cũng là trả ơn cho tín thí. Nhờ năng lực mà lúc còn Sa-di quý thầy học, tu, rồi kết duyên với tất cả việc thiện pháp nữa thì lúc này quý thầy mới trả duyên.

    Kinh Tỳ-Ni Mẫu nói:

    “Nếu không ngồi thiền, tụng kinh, không lo việc của Tam bảo mà nhận vật của người đem đức tín hiến cúng là bị đồ cúng dường ấy làm cho đọa lạc trong ba đường ác.”

    Phải ngồi thiền, tụng kinh, phải lo việc cho đại chúng thì mới tiêu được của cúng dường.

    2- Thỗn kỷ đức hạnh toàn khuyết ứng cúng: Nghĩ kỹ đức hạnh mình đủ hay thiếu mà nhận sự cúng dường này.

    Ngài Trí Khải nói:

    “Không luận của khất thực hay ăn của chúng Tăng, đều phải tưởng phép quán. Nếu không quán tưởng thời mắc quả báo trong đường sanh tử.”

    Có vị Lạt-ma (không phải Đạt-lai Lạt-ma, vì bên đó có rất nhiều chi nhánh) đã chứng thần thông, lúc đang ngồi thiền, tự nhiên ngài chạy xuống núi, gặp cô thiếu nữ đang ngồi giặt đồ, ngài đè xuống hãm hiếp. Cô gái sợ quá, xô ngài té xuống sông. Về nhà cô kể với người mẹ, mẹ cô nghe tả hình dáng thì biết đó là vị Lạt-ma đã tu chứng đạo. Bà nghĩ không có lý nào, chắc phải có nguyên nhân gì đó.

    Bà đến gặp vị Lạt-ma để hỏi sự tình. Ngài kể, trong lúc đang ngồi thiền ngài thấy đệ tử của ngài chết. Thần thức vừa ra khỏi thân thì chuẩn bị gá sanh vào bụng con lừa, vì lúc đó con lừa đang giao hợp. Ngài liền chạy nhanh xuống núi, định hãm hiếp cô gái cho xẹt ra lửa âm dương để thần thức người đệ tử chui vào, nhưng vì nghiệp của người đệ tử nặng quá, nên ngài không thực hiện được ý định.

    Vị Lạt-ma này kể lại, do người đệ tử từ ngày lên làm trụ trì thì buông lung tâm ý, ăn cơm không có tam đề ngũ quán, cho nên thần thức vừa ra khỏi thân là đi thọ thai. Ngài thấy rất là rõ, nên chạy xuống núi liền nhưng không kịp.

    3- Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông: Đề phòng tâm ý, lìa sự lỗi lầm mà tham, sân, si là chủ yếu.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Tất cả phiền não đều tham, sân, si mà khởi. Ta ở trong ấy, chẳng nên sanh tâm nhiễm trước, nên nói: Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông.

    Tức là khi ăn phải đề phòng sự tham đắm, sự lỗi lầm từ miếng ăn này.

    Đại Luật nói:

    “Một hạt gạo, trăm công lao vào miệng liền thành bất tịnh, chốc lát biến thành đại tiện gớm không muốn thấy. Ta nếu tham đắm phải đọa địa ngục nuốt hoàn sắt nóng, ra rồi làm loài súc sanh đền nợ trước cho người. Xét tưởng như vậy, tâm sanh nhàm chán mới nên thọ thực.”

    Chẳng hạn, thấy trên bàn ăn bốn người mà hành đường quên, chỉ dọn hai miếng đậu hủ, hay chỉ có hai hũ sữa chua, mà quý thầy khởi niệm hoặc tham, hoặc sân, hoặc si gì đó thì trong giờ phút thực tại đó mình đọa lạc trong ba đường ác. Còn nếu mình quán tưởng: “A! Huynh đệ quên, thôi thì ăn rồi cũng mất, vào bụng rồi nó cũng thành đồ bất tịnh” thì công đức tăng trưởng và pháp lành hiện khởi. Trong Đại Luật ghi rất rõ.

    4- Chánh sự lương dược, vị liệu hình khô: Chính vì lấy thức ăn làm thuốc tốt để trị liệu cái thân hình gầy yếu này.

    Ăn là để trị bệnh thôi.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nếu chẳng nhờ thức ăn này thì khí lực khô kiệt, nên nói: Chánh sự lương dược, vị liệu hình khô.”

    Nghĩa là, ăn uống đầy đủ chỉ để trị bệnh đói khát để tu đạo.

    Trong Minh Liễu Luận Sớ có nói, ăn có ba trường hợp:

    + Với đồ ăn ngon thì nổi tham, nên lìa bốn việc:

    Chẳng hạn bữa nào đám giỗ, đám cúng, thức ăn nhiều, quý thầy khởi lòng tham thì mắc nhân quả. Cho nên ở đây nói: Với đồ ăn ngon thì nổi tham, nên lìa bốn việc:

    Thứ nhấtLìa lỗi hóa hỷ lạc, tham trước hương vị, thân tâm ưa thích phóng túng theo sở thích của mình.

    Có nghĩa là trong giờ phút thực tại này mình ăn uống, phóng túng theo đồ ăn thôi chớ không có tu tập.

    Thứ hai: Lìa lỗi ăn no say, vì ăn rồi thân tâm có sức mạnh, không thể kể đến người khác.

    Vì ăn uống no say rồi thì thân tâm có sức mạnh, bị kích dục rồi, tự nhiên mình tạo những nhân duyên khác. Cho nên, đây nói ăn uống cầm chừng thôi chứ không được no đủ nhiều. Ăn sung sướng quá, hoặc ăn những chất kích thích thì không tốt, giới luật dạy rất rõ, nghiên cứu kỹ quý thầy sẽ thấy.

    Thứ baLìa lỗi cầu nhan sắc đẹp, ăn rồi vui hơn sự vui trong sáng lúc thường, không nên có tâm này.

    Không ăn thì khuôn mặt sầu khổ, mà ăn rồi thì hớn hở vui cười, nói chuyện tào lao. Như thế không được, phải lìa cái lỗi thứ ba này.

    Thứ tư: Lìa lỗi mong trang sức cho thân vì người ăn thích được sung mãn, béo tròn.

    Ăn vừa đủ thôi không tẩm bổ nhiều.

    + Với đồ ăn dở lại sanh tâm hiềm giận, phần nhiều rơi vào ngạ quỷ vĩnh viễn không thấy thức ăn.

    Chẳng hạn, bữa nay dọn trên bàn ăn quý thầy chỉ thấy rau luộc, nước tương mà khởi niệm sân hận thì rơi vào chốn ngạ quỷ.

    Sư huynh ngài An Thế Cao hôm nào đi khất thực mà đồ ăn dở là ông nổi giận. Ngài An Thế Cao nói: “Sư huynh thuyết pháp rất hay, dịch kinh rất giỏi, biện luận rất cao siêu, nhưng thức ăn dở mà sư huynh nổi sân là chắc chắn đọa vào con đường súc sanh hoặc ngạ quỷ.” Cho nên lỡ hôm nào huynh đệ nấu cơm nhão hoặc cơm sống, cơm khô thì quý thầy ráng, chớ mà khởi niệm giận lên là rớt vào trong loài ngạ quỷ liền, vĩnh viễn không thấy thức ăn.

    + Với đồ ăn vị trung bình thì không muốn ngó tới, phần nhiều nổi si bỏ đi, khi chết đọa trong loài súc sanh, làm những loài trùng thích ăn phân.

    Đối với đồ ăn bình thường, chẳng hạn sáng quý thầy thấy nấu cháo lỏng: “Dở quá mà ăn gì!” rồi bỏ về Tăng đường nằm, chắc chắn kiếp sau rơi vào loài súc sanh thích ăn phân.

    Kinh Đại Bảo Tích, Phật dạy Tỳ-kheo Kiên Lao nói kệ:

    Sinh tử không đoạn tuyệt,

    Vì ham thích tham dục.

    Nuôi oán vào gò trũng,

    Chịu nhiều sự đắng cay.

    Thân thúi như thây chết,

    Chín lỗ chảy đồ dơ,

    Như trùng cầu thích phân,

    Ngu tham thân không khác.

    Nhớ tưởng vọng phân biệt,

    Tức là gốc năm dục,

    Người trí không phân biệt,

    Năm dục thì đoạn diệt.

    Tà niệm sanh tham đắm,

    Tham đắm sanh phiền não,

    Chính niệm không tham đắm,

    Phiền não khác cũng hết.

    Người không lo tu tập, không thu thúc lục căn, không giữ chánh niệm, suốt ngày cứ lo ăn uống thì sẽ bị sanh tử lôi kéo. Tôi thấy, người nào chạy theo thức ăn nhiều thì không bao giờ ở trong tùng lâm lâu, không sớm thì muộn, giỏi lắm được mười năm, dở thì năm bảy năm cũng ra đời hoàn tục. Thứ nhất là hết phước, thứ hai là bị kích dục. Trong sự tu hành, phải thâm nhập đạo lý vô thượng thì mới chán ghét thức ăn. Còn không lo tu tập mà chỉ lo ăn uống, mặc, ngủ nghỉ, bao nhiêu đó thôi thì làm sao hành đạo. Người này nếu không hoàn tục, ở trong đạo thì cũng chạy theo lợi dưỡng. Từ cái danh dự lợi dưỡng nó sanh ra những chuyện khác.

    Còn là Sa-di, mình phải tìm cách chuyển hóa những hạt giống này. Nếu không chuyển hóa được, mai kia không ai ở được với mình hết. Thầy Trụ trì Trúc Lâm ăn uống rất đơn giản, trang nghiêm thanh tịnh, không bao giờ đắm nhiễm vào thức ăn, thức uống. Vì vậy Thầy ở đâu, chúng quy tụ đến đó.

    Vì còn nhỏ, thân quý thầy đòi hỏi thức ăn, điều này đúng, mình không ép nó; nhưng mà phải cẩn thận, vừa chừng thôi không nên quá. Ăn uống có chừng mực, có tiết độ thì đạo mới đến. Còn đắm nhiễm vào thức ăn để nuôi lớn sắc thân, mình nghĩ là tẩm bổ cho khỏe để tu nhưng mà ngược lại, tu không được. Chẳng hạn chiều nay quý thầy ăn một gói rưỡi mì, thêm vài cọng boa rô, quý thầy tu được không? Những hạt giống tham dục tiềm ẩn bắt đầu khởi dậy, làm sao tu? Mà ngồi thiền không bao giờ vô chánh định được.

    Nếu không tham đắm thì phiền não dần dần nó hết. Ăn uống có tiết độ thì tu lại tiến, rất dễ vào thiền định. Chính tôi kinh nghiệm, làm nhà khách bề bộn công việc nhưng tu có kết quả, ngồi thiền yên hơn ngày xưa tôi ăn ngày ba buổi, mà ăn tạp nhạp, tuy ở yên trong chúng nhưng lại tu không được. Nghiệm lại, Phật nói, ăn uống, ngủ nghỉ nên cẩn trọng, vì liên hệ ảnh hưởng rất nhiều đến con đường đạo.

    5- Vị thành đạo nghiệp ưng thọ thử thực: Vì thành tựu đạo nghiệp nên mới nhận thức ăn này.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Vì tu chánh nhân tam thừa mới thọ thức ăn này, nên nói: Vị thành đạo cố phương thọ thử thực.”

    Trong Ma Đắc Lặc Già Luận có nói:

    “Nếu lúc được ăn, mỗi miếng tác niệm. Nếu chẳng như thế ấy gọi là rỗng tiêu của tín thí.”

    Lúc ăn, mình phải quán niệm thật kỹ.

    Sách Hành Sự Sao có nói:

    “Vì trừ bệnh tật, vì sự đói khát không trị thì e phế bỏ đạo nghiệp. Vì không để sinh bệnh mới nên ăn uống có tiết độ và không ăn buổi chiều tối.”

    Kệ Tạp Bảo Tạng có nói:

    Thân này như xe,

    Tốt, xấu không chọn.

    Dầu thơm, mỡ hôi,

    Trơn nhờn như nhau.

    Ngon, dở gì cũng như nhau, chỉ nuôi cái thân ghẻ lở này.

    Sách Hành Sự Sao có nói:

    Quán nghiệp thành đạo có ba loại:

    - Thứ nhất: Vì muốn cho thân trụ lâu ở đời, nên phải mượn đoàn thực là thức ăn của cõi dục, nếu không thì không được trụ lâu ở đời, và đạo duyên không có chỗ nương nhờ.

    Vì muốn dìu dắt chúng sanh nên phải mượn đoàn thực là thức ăn của cõi dục như bún, cơm, cháo,...

    - Thứ hai: Vì thọ mạng tương tục nên mượn thân mệnh này tạm để thành tựu pháp thân huệ mạng.

    Nếu không ăn thì dứt thân, mạng làm sao tu, và đạo nghiệp sẽ không thành tựu cho nên phải mượn thức ăn này.

    - Thứ ba: Vì tu Giới - Định - Tuệ, hàng phục, diệt trừ phiền não nên mượn thức ăn này.

    Nhờ thức ăn này mới tu Giới, tu Định, tu Tuệ được. Chớ nhịn ăn hết thì tu không được, mà cũng không thành tựu được Giới - Định - Tuệ, không thành tựu được huệ mạng pháp thân.

    Kinh Tăng Nhất A Hàm Phật dạy:

    Ăn nhiều sanh bệnh khổ,

    Ăn ít khí lực suy.

    Hãy ăn uống vừa phải,

    Như cân không cao thấp.

    Sách Tư Trì Ký có nói:

    “Cái họa hoạn của miệng, bụng làm hại rất là sâu; thích ý nửa giờ chiêu tai ương nhiều kiếp. Nên biết tam độc tức là tam đồ, nên đối với mọi việc phải đề phòng tâm ý, chẳng phải đến chỗ có vực sâu chân mới đạp nhẹ.”

    Phật dạy cái họa của miệng, bụng làm hại rất là sâu. Học luật, mình phải nghiệm, chẳng hạn trong giới luật nói chiều đừng ăn phi thời. Hoặc canh tối chín, mười giờ là không được ăn, giờ đó là giờ của ngạ quỷ, Phật nói mình ăn vô giống như mình giết bà con dòng họ của mình. Nhưng cái miệng thèm quá chịu không nổi, bỏ hai, ba hột đậu phộng vô nhai, thấy có gì đâu, nhai xuống tới bụng thì sa đọa trong ba đường ác. Chính cái miệng, cái bụng của mình nó hại mình, phải không?

    Rồi thích ý nửa giờ chiêu tai ương nhiều kiếp, chẳng hạn khi Thầy Trụ trì đi vắng, chín, mười giờ tối quý thầy tụm năm, tụm bảy ăn vài cái bánh hay một, hai gói mì, huynh đệ chơi vui nửa giờ thôi chứ đâu có nhiều, nhưng mà chiêu tai ương nhiều kiếp, ra đời rất khó gặp Tam bảo nữa. Phật dạy mình phải tin, quý thầy học giới luật một thời gian, sẽ thấy Phật dạy rất là rõ. Mà Phật dạy là dạy từ Phật nhãn, Phật thấy chứ không phải Phật hý luận, trừu tượng.

    Nên biết tam độc tức là tam đồ, nên đối với mọi việc phải đề phòng tâm ý, chẳng phải đến chỗ có vực sâu chân mới đạp nhẹ. Phật nói, ăn uống như vậy sẽ bị sa đọa, nhưng mình lại nghĩ: Chắc gì sa đọa! Phật dạy mình phải cẩn thận, phải phòng hộ trước.

    Sách Nghiệp Sớ có nói:

    “Bậc đại trượng phu đã không tạo lỗi lớn há vì một miếng ăn mà tự đưa mình vào chỗ chìm đắm ư?”

    Phật dạy rất kỹ. Bậc đại trượng phu, đã không tạo lỗi lớn như không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu,... mà há vì một miếng ăn mà tự đưa mình vào chỗ chìm đắm?

    Sách Tư Trì Ký có nói:

    “Quán khi ăn tuy có năm nhưng gom chung lại là ba: Thứ nhất là quán thức ăn, thứ hai là quán thân, thứ ba là quán tâm.”

    Nói tuy nhiều nhưng chỉ có ba phần.

    “Chớ chê đồ ăn ngon, dở. Chẳng được lấy đồ ăn chung cho riêng, hoặc quăng cho chó.”

    Chẳng hạn, quý thầy đang ngồi ăn thấy con Mến hay con Mực đi ngang ngoe nguẩy đuôi. Quý thầy thấy tội, bẻ miếng bánh đang ăn cho nó. Mình thấy đâu là gì, nhưng trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư nói, mình phạm giới rồi.

    Tổ Tuyên Luật Sư nói:

    “Chê đồ ăn ngon, dở nghĩa là trong lúc thọ thực hiềm hận thô tế. Song khen ngon thì sanh tham, chê dở thì sanh sân, đều thuộc nghiệp si. Nghĩa là ba tâm chưa trọn, giọt nước khó tiêu nên phải ngăn dừng.”

    Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư trích một đoạn trong kinh Tạp Thí Dụ, kể rằng:

    Xưa có một vị Sa-di, trên đường đi khất thực đến một dòng sông, nơi này vị Sa-di hay bị trợt té, thì thấy sóng cuộn lên. Vị Sa-di này về trình lại Thầy, là một vị A-la-hán ở trong núi tu đạo hạnh. Vị Thầy nói không phải sóng cuộn, mà do Long vương mến dung mạo dễ thương của Sa-di nên giỡn vậy thôi. Con rồng tức là Long vương có thần thông nghe được, một hôm rồng biến thành người lên thỉnh vị Thầy về dưới biển để thọ thực cúng dường. Vị La-hán dùng xong, đưa bình bát cho thị giả rửa. Thị giả khi rửa thấy còn dính vài hạt cơm rất là thơm, nên sanh tâm tham đắm.

    Một hôm, Thầy đang ngồi thiền, vị Sa-di biết Thầy ngồi thiền xong sẽ xuống Long cung thọ thực nên đi theo Thầy. Sau khi thọ thực, Thầy dạy vị Sa-di: Đồ ăn trăm vị của loài rồng, khi ăn vào miệng liền hóa thành cóc nhái. Nếu họ khởi ác ý liền mửa ra rồi phải ăn lại, đó là nỗi khổ thứ nhất của con rồng. Nỗi khổ thứ hai, tuy Long Nữ đoan chánh không ai sánh bằng, nhưng khi dục tâm sanh khởi liền phải biến thành hai con rắn giao nhau chứ không có gì đẹp đẽ. Nỗi khổ thứ ba là loài rồng có vảy mọc ngược, cát đá nằm ở trong đó, đau nhức thấu tâm can. Cho nên ông đừng tham đắm.

    Nhưng ông Sa-di nhất định muốn thành rồng ở Long cung để hưởng thụ, bất chấp lời dạy bảo của Thầy, vì ông thấy cung tần mỹ nữ nơi đó đẹp quá. Cuối cùng, không biết ông tu tập pháp gì mà xuống được Long cung, giết Long vương để chiếm ngôi. Sau khi chiếm ngôi, ông sống một thời gian thì đọa vào đường ác.

    Thiền thoại cũng có ghi câu chuyện một vị Sa-di, tâm thường ưa thích váng sữa, sau khi mạng chung đọa làm con trùng trong bình sữa. Thầy của vị Sa-di này đã chứng quả vị A-la-hán, sau khi chú nguyện nói rằng: Con trùng này chính là đệ tử thị giả của tôi, nó thèm váng sữa nên đầu thai vào đây.

    Nên Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

    “Người xưa y xấu che lạnh, ăn gạo xấu đỡ đói vì cần cầu học đạo. Nếu phải lúc đại chúng thọ thực chê đồ ăn ngon, dở thì tổn phước chẳng ít. Hoặc gặp duyên bệnh chẳng có thể ăn gạo thô xấu cũng phải giữ im lặng.”

    Nói hôm nay tôi bệnh, sao mà gạo cứng quá, xấu quá. Nói như thế thì tổn phước của mình.

    “Chẳng được lấy đồ ăn chung cho riêng. Nghĩa là vật thực thuộc Tăng già ăn không có thiên đảng. Nếu thuận tình cho riêng thì cùng đồng với tội trộm.”

    Tức là cho người thân của mình.

    “Hoặc quăng cho chó nghĩa là trong lúc thọ thực phải chánh giới tác quán khiến người cúng dường sanh tâm cung kính. Đại chúng ăn chưa xong mà quăng cho chó ấy là việc làm phi pháp, là mắc tội.”

    Đang ăn mà thấy con Mực, con Phèn hay con Nghiệp… quý thầy bẻ cái bánh liệng xuống là không được.

    Trong Đại Luật có ghi, xưa có một vị đàn việt rất là thành kính, thiết trai cúng dường Phật và chư Tăng. Có một con chó vẫy đuôi, hình dạng rất là đói khát, một thầy Tỳ-kheo thương xót lấy phần ăn của mình cho con chó đói ăn. Vị cư sĩ không vui, đến bạch Phật: “Con cúng dường Phật và chư Tăng rất thành kính, Phật và chúng Tăng đang ăn, thầy Tỳ-kheo này cũng đang ăn mà ông lấy thức ăn đem cho chó.” Cho nên Phật mới chế luật là từ đây trở đi, Tỳ-kheo hoặc Sa-di không được lấy thức ăn đem cho chó lúc đang thọ thực.

    Ngày xưa tôi cũng không biết điều này. Chẳng hạn bữa nay ăn bánh mì, mình thấy con chó vẫy đuôi thương quá. Thức ăn của mình thì mình cho chó chứ có gì đâu, nhưng tín thí họ làm khổ cực, họ đến cúng dường cho mình chớ không phải đem cho con chó ăn. Chừng nào, quý thầy ăn xong dọn xuống còn dư thì cho chó ăn không có lỗi. Đang ăn trên quả đường thì trong Luật dạy không được quăng cho chó.

    “Đem thêm đồ ăn chẳng nên nói không dùng. Như no rồi phải lấy tay nhường xá mà lui.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nói không dùng là mất phép khiêm nhường, thốt lời lại động niệm đại chúng. Khiêm nhường đó thời được cung kính mà đúng pháp.”

    Ở đây mình hay mắc phải. Chẳng hạn quý thầy ăn hết tô canh rồi, huynh đệ bưng tô canh khác đến, quý thầy nói “không cần” là sanh tâm ngã mạn, người ta mất vui. Không ăn mình cũng im lặng xá một cái, ăn không hết thì lát nữa dọn xuống. Cái này rất là hay, mà nằm trong oai nghi phép tắc của Tổ Tuyên Luật Sư dạy. Chớ nói không dùng là mất phép khiêm nhường, động niệm đại chúng, mà làm mất tín tâm của người đem đồ ăn lên, làm cho họ mất vui.

    “Đang ăn chẳng được gãi đầu khiến bay bụi trong bát của người gần.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Ăn một mình còn không được gãi đầu huống nữa ăn cùng với đại chúng. Thứ nhất là động niệm đại chúng, thứ hai là mất oai nghi, thứ ba là nhơ tay, nhơ bát mắc tội.”

    Thứ nhất là động niệm đại chúng: “Ông này chắc không học oai nghi phép tắc gì hết, tôi thấy ông ba, bốn ngày chưa tắm bây giờ gãi, gàu, đất, bụi… bay vào bát tôi.” Người ta khởi niệm gớm không muốn ăn. Thứ hai là mất oai nghi, thứ ba là nhơ tay, nhơ bát.

    “Chẳng được vừa ngậm cơm vừa nói chuyện.”

    Trên quả đường thì không có, nhưng không phải giờ ăn quả đường thì có không? Chẳng hạn đang trị nhật hành đường mà nhai nhai, huynh đệ hỏi: “Sáng nay ông làm gì?” Mình vừa nhai vừa trả lời: “Lặt rau.” Kỳ lắm, mất oai nghi! Quý thầy ở trong chúng không thấy gì, nhưng khi đến chùa khác, thầy ở đó nói: “Trời! ông thầy này chắc không học oai nghi phép tắc gì hết!” Hỏi ra quý thầy mười tuổi hạ, mười lăm, hai mươi tuổi hạ. Chết luôn!

    “Thứ nhất là lời nói chẳng rõ ràng.”

    Ngậm cơm làm sao nói?

    “Thứ hai là phạm phi oai nghi. Dẫu có người hỏi cũng chẳng trả lời, phải nuốt miếng cơm rồi mới đáp.”

    Nuốt cơm rồi đáp thì không mắc lỗi.

    “Như ngậm cơm mà nói ấy là tán tâm. Vả lại nhà nho có lời giáo huấn chẳng trong lăng tẩm mà ăn, huống nữa là Thích tử ư?”

    Nhà Nho còn kỵ chuyện này, huống nữa mình là Thích tử.

    “Chẳng được nói cười bậy bạ.”

    Sa Di Học Xứ ghi Tổ Qui Sơn dạy:

    “Chẳng biết nghĩ của ấy từ đâu đem lại, lại còn bảo phép phải như thế. Ăn rồi dụm đầu bàn phiếm, chỉ nói chuyện tạp thế gian. Nếu tâm giữ năm pháp quán thì không có cái lỗi ấy.”

    Tổ Qui Sơn dạy, vừa ăn vừa cười nói bậy bạ thì không đúng pháp. Trên quả đường thì không có, nhưng ngặt một điểm là quý thầy ăn giữa buổi. Ăn giữa buổi, hoặc ăn dưới trai đường hay bị trường hợp này, vừa ăn vừa nói chuyện Iraq, Afghanistan… Nói một hồi chạy theo mất luôn. Không còn biết mình đang ăn gì, mùi vị ra sao, cũng không biết thức ăn này từ đâu đến. Nếu có người hỏi “Sao ông ăn mà nói chuyện vậy?” Có khi còn trả lời “Ăn mà nói chuyện mới tiêu!”

    Bây giờ học oai nghi phép tắc rồi, các thầy ở nơi khác đến sẽ không ngờ Thiền viện Trúc Lâm cũng học Luật Oai Nghi. Xưa người ta đồn, tu thiền không cần cái này, nhưng con đường của sự tỉnh thức để đi đến giác ngộ giải thoát là cũng nhờ con đường oai nghi phép tắc. Có phước nhiều lắm, quý thầy học kỹ một thời gian sẽ thấy.

    “Chẳng được nhai cơm có tiếng, phàm nhai cơm phải mím môi lại. Bánh trái cũng phải cắt nhỏ mà ăn. Cũng chẳng được húp canh húp cháo có tiếng rột rột.”

    Có thầy Tỳ-kheo mười lăm tuổi hạ rồi mà nhìn thầy ăn, húp rột rột là biết thầy chưa từng học oai nghi. Mỗi lần thầy ăn canh là đại chúng nhìn sững. Tôi nói, “Thầy ơi! Thầy kỹ lại, húp cháo kêu rột rột, Sa-di họ nhìn.” Bánh trái cũng phải cắt nhỏ. Quý thầy ra miền Trung, lên quả đường, chẳng hạn ăn chuối phải bẻ ra làm hai, lấy muỗng xắn từng miếng ăn, chứ không phải lột ra rồi cắn ăn là mấy vị Hòa thượng miền Trung không cho phép.

    “Như muốn xỉa răng lấy tay áo mà che miệng lại.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Theo chúng thọ thực chẳng có thể phô bày cái răng, đợi ăn xong đến chỗ vắng mà phô bày cái răng. Nếu gấp muốn phô bày nên dùng y mà che miệng lại, việc ô uế chẳng hướng đến người. Như chẳng có che lại, một thì tự mất oai nghi, hai thì khiến người khác khởi cái tâm chán ghét. Dẫu ở trước mặt đệ tử mình cũng phải gìn giữ.”

    Ỷ là thầy rồi mình xỉa răng mà không che lại thì kỳ lắm, đệ tử nghĩ thầy kỳ quá, dạy một đường làm một nẻo. Cho nên trước mặt huynh đệ hay đệ tử mình cũng phải giữ gìn.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    Trong cơm hoặc có sâu bọ phải kín che giấu, đừng để người ngồi gần thấy mà sanh lòng nghi ăn không được. Phàm hành nhơn tạo thức ăn uống, thảy đều muốn dùng sự tinh khiết mà cúng phụng. Khoảng giữa đó hoặc có trùng, sâu vào trong thức ăn, người thấy phải kín che giấu, nếu khiến người kia thấy họ sanh tâm nghi ngại đến nỗi mửa, ói không ăn được nữa, thì đàn việt chẳng có thể có phước như ý được.”

    Chẳng hạn, trong đại chúng năm chục hay tám chục người, mà bữa đó một người nhờm gớm ói mửa thì tín thí không tròn phước được. Cho nên phải giấu mấy con đó không cho người kế bên thấy.

    “Phải ngồi một chỗ mà ăn. Chẳng được ăn rồi, khỏi chỗ ngồi lại ngồi ăn nữa.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nghĩa là rửa bát đứng dậy, sợ lúc ăn qua rồi có việc chánh thì khai.”

    Ăn trên quả đường xong, xuống nhà bếp hoặc ra nhà tròn ăn một lần nữa là không được. Tuy nhiên, quý thầy có công việc chẳng hạn như quay phim; hoặc thầy tri sự có việc cần, đang ăn nửa chừng có công việc, ngồi lại ăn lần thứ hai thì được. Ở đây nói có việc chánh thì khai.

    “Chẳng được ăn rồi lấy ngón tay vét trong chén bát mà ăn.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nghĩa là lấy ngón tay vét trong chén bát thì đồng như ngạ quỷ, chẳng phải đạo phẩm của người xuất gia. Cũng chẳng được lấy lưỡi mà liếm.”

    Ăn xong còn chất đường hay chất gì dính trong bát, quý thầy lấy ngón tay vét lên liếm là không được, ở đây nói đồng như ngạ quỷ, chẳng phải đạo phẩm của người xuất gia.

    “Như đổ cơm trên bàn phải lượm bỏ vào bát rồi mới ăn.”

    Hột cơm rớt trên bàn, lượm bỏ vô miệng thì không đúng pháp, phải bỏ vào bát của mình rồi mới tiếp tục ăn.

    “Phàm ăn chẳng được ăn mau lắm, mà cũng chẳng được ăn lâu lắm.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Mau thì lỗi phép tắc, mà lâu thì động chúng.”

    Ăn mau cũng không được mà ăn lâu quá thì động chúng. Nhiều khi chúng ăn hết rồi, còn có một mình mình. Mọi người đều nhìn đồng hồ, rồi nhìn mình, kỳ lắm!

    “Đem đồ ăn chưa đến chẳng được sanh phiền não.”

    Đang ăn, cơm hết hoặc thức ăn hết mà hành đường trị nhật chưa kịp đem đến, mình sanh tâm phiền não là không đúng.

    Sa-Di Học Xứ ghi:

    “Người hành đường tức là luôn luôn làm lợi ích cho người ăn.”

    Quý thầy hành đường làm món gì, cũng luôn luôn mong mỏi đại chúng ăn hết. Bữa nào ăn không hết thì bốn thầy hành đường đều buồn.

    “Nếu tâm giữ đúng năm pháp quán, thường sanh lòng hổ thẹn thì phiền não tự nhiên chẳng sanh. Nếu một người phiền não thì bốn người ngồi chẳng an, trai đường biến thành nhà phiền não.”

    Trong mâm bốn người ngồi, mà có một người phiền não thì ba người kia cũng không an ổn.

    Nên Cổ Đức nói:

    Ngai ngai tứ cố khởi tham sân,

    Niệm thực, thôn tâm, khái thấu tần.

    Lục chúc, xiến canh bao mãn khẩu,

    Khai đơn, chuyển bát, hướng như long.

    Nghĩa:

    Ngó trông bốn phía khởi tham sân,

    Nghĩ ăn, nuốt miếng, ho khạc rần.

    Húp cháo, lua canh đầy tràn miệng,

    Mở đơn, khua bát, tiếng vang rân.

    Chẳng hạn đang ăn, canh hết, đồ xào hết, cơm nhiều khi cũng thiếu. Ngó qua ngó lại, khởi tham sân liền: “Ông hành đường đi đâu mà giờ này chưa đem cơm canh lên cho mình.” Cho nên ở đây nói: Ngó trông bốn phía khởi tham sân. Ngày xưa, chúng tôi đã mắc phải. Ai vào đây tu mà chưa học oai nghi phép tắc đều dính hết.

    Có một thầy nói rằng ngày xưa thầy ở chùa quê, chưa từng học qua giới luật, oai nghi. Bây giờ đủ duyên lên Thiền viện Trúc Lâm, được học oai nghi, thầy mới thấy rằng ngày xưa làm chuyện phi pháp rất nhiều. Có những trường hợp, sanh tâm phiền não mà mình tưởng là đúng, học oai nghi rồi bây giờ mới biết mình sai!

    Trong quyển Sư Tử Tuyết Bờm Xanh có kể chuyện:

    Thầy Geshé Ben cùng đi với một số thầy đến nhà tín thí thọ trai. Khi chủ nhà rót sữa, đến phiên thầy thì sữa hết, nên thầy khởi niệm sân. Khi tín thí tiếp tục đem sữa lên rót cho thầy thì thầy nói đã uống rồi. Tín thí ngạc nhiên thì thầy giải thích: Khi thầy khởi lên ý niệm tham, sân, si thì trong giờ phút đó thầy đã uống sữa rồi!

    Nghĩ ăn, nuốt miếng, ho khạc rần. Rồi mình bắt đầu tằng hắng, cốt ý cho huynh đệ nghe. Tằng hắng mà không ai nghe thì buồn.

    Hồi nãy chúng tôi có tiếp một người Úc theo Thiên Chúa giáo nhưng rất thích Phật giáo và thích tìm hiểu về con đường thiền. Ông nói không những ông mà người nước ngoài như người Mỹ, Pháp, Úc rất thích tìm hiểu và nghiên cứu đạo Phật. Theo ông, đạo Phật hay ở tinh thần quán chiếu. Chẳng hạn, mình đang sống sung sướng nhưng không chấp thủ vào cảnh giới sung sướng đó, mà quán chiếu là có những người khác đang đau khổ. Ông thấy đạo Phật vi diệu, cao siêu nên ông tìm hiểu. Bây giờ, thế giới nói chung và những đạo giáo khác mà có thiện tâm, họ cũng tìm đến con đường thiền. Con đường thiền là con đường quán chiếu. Chẳng hạn, bữa nay mình ăn cơm có canh, có rau đầy đủ, nếu quán chiếu những sự khổ đau của chúng sanh khác, thì có thiếu hụt tự nhiên mình không còn sanh tâm phiền não nữa, bởi vì có tinh thần quán chiếu đó.

    Cho nên Đại sư Ấn Quang dạy:

    Cơm rau đỡ dạ đói,

    Nhà cỏ che gió sương.

    Người đời nếu biết đủ,

    Phiền não chẳng còn vương.

    Bốn câu này, hấy đơn giản mà tu cả đời chưa được. Ví như có dịp, quý thầy đi đâu đó trên một chiếc xe đò, mà người ta cho một ổ bánh mì nguội, quý thầy ăn bình thản thì phiền não không dính. Còn mình khởi nghĩ, ở tùng lâm ăn đầy đủ mà hôm nay sao phải ăn khổ cực thế này, thì phiền não đến.

    Bồ-tát Long Thọ nói, trong giờ phút thực tại đó, nếu chúng ta chánh niệm là tăng trưởng công đức. Nhớ chánh niệm là nhớ sự quán chiếu. Ở đây quý thầy đừng nghĩ, nhớ chánh niệm là đi, đứng, nằm, ngồi, thu thúc lục căn mà phải quán chiếu sự khổ, có những người khổ hơn mình rất nhiều. Sáu tỉnh miền Trung bị bão lụt liên tục, người dân phải ăn mì gói sống, không có nước để uống. Dầu bữa nay ăn dở hơn ngày thường nhưng nếu dùng tâm quán chiếu, ngay trong giờ phút thực tại đó, mình ăn mà biết đủ thì phiền não dứt mà công đức tăng trưởng. Còn mình quên chánh niệm, không thấy được đúng như sự thật thì thêm lớn vô minh.

    Bồ-tát Long Thọ nói, sau khi chết mình không thể nương tựa ai kể cả cha mẹ, Thầy Tổ, bạn bè. Mà trong giờ phút thực tại đó, chỉ một cái duy nhất nương tựa được, đó là con đường thánh thiện, con đường của Giới - Định - Tuệ, con đường của chánh niệm. Con đường này không nhờ ai được hết mà phải tự lực vươn lên. Muốn được như thế thì trong cuộc sống tu tập, quý thầy phải tăng trưởng con đường thiện pháp, con đường thánh thiện.

    Bữa trước có một Phật tử hỏi:

    - Bạch Thầy, con xem Kinh Áo Nghĩa Thư có nói, chơn thường của ngoại đạo, vậy chơn thường của ngoại đạo khác với chơn thường của đức Phật như thế nào?

    Trong Áo Nghĩa Thư họ cũng nói con đường thánh thiện, vĩnh cửu, con đường Niết-bàn. Theo tinh thần kinh Lăng Già, tôi trả lời thế này:

    - Chơn thường của ngoại đạo là có một đấng Thượng đế ở bên ngoài, họ chấp thủ, nghĩ mình là tiểu ngã, còn Thượng đế là đại ngã. Sau khi chết thể nhập vào cái chơn thường đại ngã này.

    - Chơn thường của Đức Phật là tự giác thánh trí, là chuyển từ Như Lai Tàng. Trong Như Lai Tàng chứa thiện ác, phải quấy, những tật xấu ích kỷ, tật đố…, bây giờ một phen chuyển hóa hết. Là một phen phải chuyển hóa nội tâm. Theo tinh thần nhà Phật, đến như hàng Thanh Văn, bậc Duyên Giác cũng chưa thấy được chỗ này, chỉ có những người đi theo đúng lộ trình của Bồ-tát đạo, hoặc nói khác hơn là lộ trình của Thiền tông mới thấy được điểm này. Muốn chuyển hóa, trở về tự tánh Như Lai Tàng, trở về cái tự giác thánh trí của chư Phật là chúng ta đói thì ăn, khát vẫn uống nhưng đều nằm trong bình diện Giới - Định - Tuệ. Bồ-tát Long Thọ nói, chúng ta đi trên con đường hoàn thiện này, thì phải luôn luôn chánh niệm để tăng trưởng công đức. Trong giờ phút thực tại, chúng ta nhớ chánh niệm để tăng trưởng công đức đó, là chuyển hóa trong Như Lai Tàng, là dừng vọng tưởng điên đảo.

    “Hoặc có cần dùng, yên lặng chỉ trao đừng nên cao tiếng nói lớn đại chúng động niệm. Chẳng được khua chén bát thành tiếng.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nếu đầy đủ oai nghi thọ thực, cầm bát tự nhiên không có tiếng. Cầm bát mà có tiếng vì nhân thô tháo. Một người thô tháo đã chẳng chịu nghe, nhiều người lại như vậy mà trai pháp song chẳng chấp hành.”

    Ăn mà khua chén bát thì phước đức của tín thí cúng dường buổi trai phạn ấy không thành tựu được.

    “Chẳng được ăn rồi đứng dậy trước.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Vào trai đường thọ trai cần yếu là từ đầu chí cuối ăn xong đứng dậy. Có đầu mà không đuôi thì trái lời Phật dạy, khinh mạn đại chúng, trừ có công việc thì khai.”

    Đang ăn nửa chừng đứng dậy đi ra ngoài, là khinh mạn đại chúng, coi thường Phật, Tổ, trái lời dạy của Phật Tổ. Trừ có công việc thì khai ra cho phép đi.

    Trong Đại Luật có ghi:

    Vào thời Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo, sau khi thọ thực im lặng mà đi. Các đàn việt nói: “Chẳng biết thầy Tỳ-kheo kia ăn đủ hay chẳng đủ.” Phật dạy: “Từ nay nên vì đàn việt nói một câu kệ rồi mới đi.”

    Chẳng hạn có dịp nào về thành phố, tín thí mời quý thầy đến nhà thọ trai. Sau khi thọ trai xong, quý thầy phải nói một bài pháp ngắn hay một câu kệ ngắn, rồi chúc phúc cho họ thêm lớn công đức này, thì tín thí họ tăng trưởng niềm tin với Tam bảo.

    “Hoặc có lỗi, chúng Tăng nghe tiếng bạch chùy chẳng được kình chống chẳng chịu.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Bạch chùy là gì? Là phép cử tội. Hoặc mình không chịu, sanh sân trái phép lục hòa tức chẳng phải là bậc hảo tăng.”

    Ngày xưa, chốn Tùng lâm rất nghiêm khắc. Chẳng hạn, sáng nay có thầy Tỳ-kheo nào phạm tội thì vị duy-na, hay quản chúng đánh kiềm chùy lớn tiếng, giống như đánh ba hồi trống Bát-nhã, vân tập đại chúng lại để cử tội vị Tỳ-kheo phạm tội. Những vị làm chức tri sự hay quản chúng đều là những người có tài có đức, đa số là tướng trong triều đình, mà võ tướng rất nhiều, như ngài Huệ Minh dưới hội của Ngũ Tổ, là tướng tứ phẩm.

    Một hôm, ngài Tiệm Nguyên đánh ngài Đạo Ngộ, ngài Đạo Ngộ nói: “Thôi ông đi đi, đừng về, ông tri sự hay được thì mệt.” Thiền sư thì không sân nhưng tri sự chưa chứng đạo thì sân, sân thì đánh. Ngày xưa có những chùa, chẳng hạn cử quý thầy làm tri khố mà quý thầy không làm, là tri sự nọc xuống (bắt nằm sấp) đánh vào mông trước đại chúng. Quý thầy coi hành trạng của Thiền sư Hư Vân, được cử chức tri sự mà không làm là bị đánh mấy trăm roi.

    Tri sự ngày xưa có uy lắm, người có tài có đức, được cử làm tri sự là nắm hết, gồm thâu hết cả đại chúng. Một bài báo kể: Bên Tây Tạng, có trường gồm hai ngàn năm trăm sáu chục vị Tăng, có một chú Sa-di phạm lỗi bị tri sự bắt nằm sấp xuống đánh vào mông, máu, da thịt dính liền theo cái roi. Bởi vì đông quá, không nghiêm thì chúng loạn.

    Cho nên, ở đây nói bạch chùy là phép cử tội, nếu mình không chịu ra, mà nổi sân thì không phải là bậc hảo tăng. Người xưa các ngài ra liền.

    “Cổ Đức nghe nói lời thiện thì bái, có chỉ lỗi thì vui, ấy là khí tượng của bậc Hiền Thánh, sao ta không bắt chước?”

    Cổ Đức mà nghe chỉ lỗi thì rất là vui. Thời nay không có bạch kiềm chùy, mà có thỉnh nguyện mỗi tháng. Mình có lỗi gì, quý Thầy lớn hoặc huynh đệ nêu ra, mình bước ra nhận lỗi rồi sám hối. Sám hối rồi, là khí tượng của bậc Hiền Thánh chứ không phải dở. Trên đời này ai cũng có lỗi, biết sám hối, biết cải đổi thì là người tốt. Vậy nói sao ta không bắt chước?

    “Trong cơm có thóc lột vỏ mà ăn.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    Thiền sư Chí Phùng, một hôm ngài ngồi yên trong tịnh thất thì có một vị thần quỳ trước mặt. Sư hỏi ai thì thần đáp:

    - Con là thần hộ giới.

    Thiền sư nói:

    - Ta lo tội phước chưa xong, ngươi có biết ư?

    Thần nói:

    - Sư không có tội gì hết, chỉ có một lỗi nhỏ.

    - Lỗi gì?

    Thần nói:

    - Phàm là nước tráng bát cũng là vật người thí chủ, Sư thường hắt đổ, chẳng phải phép như vậy.

    Nói rồi ẩn mất. Sư từ đó đều uống hết.

    Hồi mới chùa chưa học qua pháp này, ăn xong tôi tráng rồi súc miệng ra ngoài. Thầy tôi đánh tôi một bạt tai chúi nhủi. Các Thầy ở miền Trung rất là khó, đánh chứ không nói chuyện như mình. Đánh xong Thầy chỉ tại chỗ, nói là tráng bát xong nước đó phải uống, không được bỏ.

    Tổ Tuyên Luật Sư nói: “Mạng nhờ ăn uống mà sống, đạo do ăn mà còn, cho nên phải yêu tiếc, chớ nên khinh bỏ.”

    “Chẳng được thấy món ngon sanh lòng tham luôn miệng mà ăn. Chẳng được ăn mích chúng.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Chẳng cùng chúng mà ăn, nghĩa là mười phương tập hợp cơm cháo đồng ăn, hoặc tăng mích chúng định giá thành tội. Ăn mích chúng là người không biết hổ thẹn. Tăng chưa ăn chẳng được hưởng trước, trừ người làm việc ăn không có lỗi.”

    Chẳng hạn quý thầy có công việc phải đi, đáng lẽ mười một giờ rưỡi ăn, mà quý thầy xuống ăn trước thì không có lỗi. Còn đang hành đường, trị nhật, mà xắt cái gì ngon ngon bỏ vô miệng ăn thì định giá thành tội trộm. Ăn như thế gọi là mích chúng, là người không biết hổ thẹn. Tăng chưa ăn chẳng được hưởng trước, đây mình hưởng trước Phật luôn.

  • 2. 6. Phép Lễ Bái

    6.

    Phép Lễ Bái

    Theo Thích Môn Qui Kính có ghi:

    “Đầu mà tiếp xúc với chân Phật là nghi thức chính của lễ bái. ‘Đầu diện lễ túc’ hoặc ‘đảnh lễ Phật túc’ có nghĩa là cái đầu mình lễ dưới chân Phật. Vì chỗ cao nhất trong thân thể ta là đỉnh đầu, chỗ thấp nhất trong thân thể của người là chân, cho nên đem chỗ cao nhất của ta tôn kính chỗ thấp nhất của người để biểu thị sự lễ kính cao tột.”

    Ngày xưa bên Ấn Độ, người ta rất tôn kính Đức Phật. Khi đảnh lễ họ cúi xuống ôm hai chân Phật, rồi họ hôn chân Phật để tỏ lòng cung kính.

    Phép lạy của mình thì úp hai bàn tay xuống. Theo tinh thần nhà thiền, trong giờ phút thực tại đó, quý thầy phải dùng tâm quán chiếu, tưởng như có một vị Phật đang đứng trước mặt mình.

    Theo Đại Đường Tây Vực Ký, ở Ấn Độ có chín cách lễ bái gọi là “Thiên Trúc Cửu Nghi”:

    1- Dùng lời thăm hỏi

    2- Cúi đầu tỏ vẻ cung kính.

    Mình gặp quý thầy lớn hơn chút xíu, mình cúi xuống cũng là lễ bái.

    3- Giơ tay cung kính vái chào.

    4- Chắp tay ngang ngực.

    5- Co đầu gối.

    6- Quỳ thẳng.

    7- Hai tay và hai đầu gối đều sát đất.

    8- Năm luân, hai khuỷu tay, hai ống quyển, trán đều co lại.

    9- Năm vóc như trên gieo sát xuống đất.

    Học Kinh Viên Giác, có đoạn “Hồ quỳ hiệp chưởng” nhiều khi mình dịch là quỳ gối chắp tay. Nhưng tôi tra trong tự điển Huệ Quang, Hồ là người Ấn Độ. “Hồ quỳ hiệp chưởng” nghĩa là: Người Ấn Độ quỳ xuống đảnh lễ Đức Phật.

    Người Tây Tạng lạy không phải như mình, họ lạy toàn thân nằm xuống sát đất. Rồi làm một cái mạn-đà-la lớn bằng cát trong mười ngày, làm xong họ xóa bỏ hết. Hồi còn ở Canada, tôi có hỏi một vị thầy Tây Tạng, tại sao làm mười ngày rất cực mà sau đó lại xóa hết, thầy nói đó là biểu thị cho sự vô thường, khổ, không, vô ngã. Còn lạy nằm sát đất là buông xả toàn thân, hướng về một bậc giác ngộ tối thắng.

    Trong Kinh Hoa Nghiêm, sớ Hai mươi bảy, ngài Trừng Quán nói về Tam lễ:

    “Thứ nhất là Đại bi lễ, thứ hai là Tổng nhiếp lễ, thứ ba là Vô tận lễ.”

    Đại bi lễ là lễ với tâm đại bi thù thắng từ trong chơn tâm ra. Vô tận lễ là lễ vô tận khắp mười phương. Có người nói tu thiền không cần lễ lạy, lễ chỉ cho có lễ thôi, nói vậy quý thầy thấy đúng không?

    Thiền thoại có ghi:

    Đời nhà Đường, Hoàng đế Tuyên Tông lúc chưa lên ngôi, vì lánh nạn nên ẩn cư chốn tùng lâm làm thư ký cho Thiền sư Diêm Quang. Bấy giờ có một vị Thiền sư rất nổi tiếng là Thiền sư Hoàng Bá, ngài đảm nhiệm chức thủ tọa trong chùa, sáng nào ngài cũng dậy sớm hơn chúng tăng, đảnh lễ trước Phật rất thành kính và tha thiết. Một hôm Hoàng đế Tuyên Tông thấy Thiền sư Hoàng Bá lễ Phật liền hỏi:

    - Lúc trước Thầy dạy trong chúng không chấp Phật để cầu, không chấp Pháp để cầu, không chấp Tăng để cầu. Bây giờ Thầy lại chí thành lễ bái như thế, vậy Thầy mong cầu cái gì?

    Thiền sư Hoàng Bá khai thị:

    - Không chấp Phật để cầu, không chấp Pháp để cầu, không chấp Tăng để cầu, cần phải như thế mà cầu, ông có hiểu chăng?

    Lễ mà không chấp trước, lễ mà không mong cầu. Chính không có chỗ chấp trước, ngay chỗ tam luân không tịch đó thì mới gọi là lễ Phật chơn chánh. Lễ Phật, lễ Pháp, lễ Tăng là chí thành đảnh lễ, đạt đến chỗ vô tận mà lễ.

    Tuyên Tông nghe xong nói:

    - Đã như thế Thiền sư lễ bái có tác dụng gì?

    Thiền sư Hoàng Bá nghe xong dùng sức tát vô mặt Tuyên Tông thật mạnh. Tuyên Tông nói:

    - Thầy là người tu đạo, sao thô bạo như thế?

    Thiền sư Hoàng Bá nói:

    - Cho ông một tát nữa mới được, ngay chỗ này mà ông nói thô với tế.

    Ngay chỗ này ông nói thô với tế là ông còn mắc kẹt rồi. Về sau vị này lên làm Hoàng đế, cho mời ngài Hoàng Bá đến khen thưởng, rằng ngày xưa nhờ ngài khai thị hai bạt tai mà tôi tỉnh ngộ.

    Một câu chuyện khác ngược lại câu chuyện trên:

    Thiền sư Triệu Châu thấy thị giả là Văn Viễn đang lễ Phật, ngài dùng gậy đánh lên lưng một cái, hỏi:

    - Ông đang làm gì?

    - Đang lễ Phật.

    Triệu Châu quở:

    -Phật cũng cần lễ sao?

    Văn Viễn thưa:

    - Lễ Phật cũng là việc tốt.

    Triệu Châu nói:

    - Việc tốt không bằng vô sự.

    Phật đã giác rồi, chúng ta ngồi thiền mà tìm lại cái giác ngộ nữa, là tìm cái vọng tưởng. Vọng tưởng mà tìm lại thành ra vọng. Ngay trong giờ phút thực tại đó, vọng lên, vọng xuống biết rõ hết, là đang trong cảnh giới vô sự, không thêm, không bớt gì nữa. Ở đây ngầm chỉ cái vi diệu hơn, việc tốt không bằng vô sự, chớ không phải bác sự lễ bái.

    Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển Hai mươi bốn ghi:

    “Người cung kính lễ bái Như Lai do thấy tướng hảo, rồi phát tâm vui mừng sinh lòng khát ngưỡng, xưng niệm danh hiệu, tán hoa, đốt đèn, bố thí, cúng dường thì đời sau được năm thứ công đức thù thắng:

    1- Xinh đẹp

    Thường lễ bái Đức Phật mà quán tưởng sâu sắc thì kiếp sau tướng hảo, ai nhìn thấy cũng phát Bồ-đề tâm.

    2- Giọng nói hay

    Người có giọng nói sang sảng là người rất hào hiệp. Người có giọng ấm, giọng như chuông thì tệ lắm cũng làm quan, làm tướng. Còn nói không ra hơi là cái tâm thức, cái khí của người đó không ổn.

    Kinh Tạp Bảo Tạng có ghi:

    Vua Ba-tư-nặc đi ngang một tinh xá, nghe một vị Tỳ-kheo tụng Kinh giọng du dương trầm bổng nên phát tâm cúng dường. Ông thưa với Phật ông muốn thỉnh vị Tỳ-kheo này ra để ông đảnh lễ và cúng dường mười ngàn lượng vàng. Phật bảo đưa Phật giữ trước rồi Phật mới kêu vị Tỳ-kheo này ra. Vì Phật biết nếu vua gặp mặt thầy Tỳ-kheo thì sẽ không phát tâm nữa. Vua Ba-tư-nặc rất ngạc nhiên nhưng cũng gửi cúng. Sau khi gặp Thầy Tỳ-kheo, vua nghĩ phải chi hồi nãy đừng cúng! Vua hỏi Phật tại sao một thầy Tỳ-kheo có giọng nói hay như thế mà khi thấy mặt thì không phát tâm được.

    Phật kể, vào thời Phật Ca-diếp, vị này là quan đại thần, sau khi Phật Ca-diếp nhập Niết-bàn, thiêu có rất nhiều xá lợi, người ta xây tháp để cúng dường, mọi người đều hoan hỷ, riêng quan đại thần này nổi niệm sân: “Mất rồi mà còn phải bỏ tiền của ra làm chi”. Do nghiệp sân đó nên bây giờ khuôn mặt ông ai nhìn cũng thấy sợ. Tuy nhiên sau khi tháp xây xong, ông thấy trang nghiêm thanh tịnh nên phát khởi tín tâm, đến trước tháp sám hối, rồi treo lên tháp một cái linh cúng dường. Nhờ cúng dường linh nên bây giờ ông có giọng nói hay, và nhờ thành tâm sám hối nên gặp Phật tu chứng đạo, nhưng gương mặt xấu xí vì khởi niệm sân với một bậc toàn giác. Cho nên phải khiêm cung đầy đủ hết. Quý thầy siêng lễ Phật, siêng tụng kinh mà đụng một chút nổi sân, nổi phiền não lên thì trật hết.

    3- Nhiều của báu

    4- Sinh vào nhà quý tộc

    5- Sinh về cảnh giới an lành.”

    Kinh Bản Duyên nói:

    Nếu với tâm tin sâu,

    Kính lễ dưới chân Phật,

    Người này đối sinh tử,

    Chẳng còn vướng lâu nữa.

    Cúng dường tạo nhân duyên,

    Ắt được quả báo lớn.

    Với tâm kính tin dù

    Cúng đất vào bát Phật,

    Cũng được có quả báo.

    Vào thời Đức Phật, có một chú bé, tiền thân của vua A Dục, cúng dường một chút cát thôi mà Phật thọ ký sau này sẽ là vị Chuyển Luân Thánh Vương.

    “Lễ bái chẳng được đứng chính giữa chùa, ấy là để nhường cho vị trụ trì vậy.”

    Trước tượng Phật, quý thầy đứng một bên lễ, chính giữa để nhường cho vị trụ trì.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Sao gọi là trụ trì? Nghĩa là động tịnh chẳng dời gọi là trụ, xưa nay chẳng trái gọi là trì, chính là người hoằng dương chánh pháp, tức là thiện tri thức vậy. Song Phật pháp phương Đông thấm nhuần bốn trăm năm có hơn, mà Đạt-ma Tổ sư mới đến lại truyền tám đời mới đến Thiền sư Bách Trượng. Ở trước chỉ lấy tướng đạo giáo thọ, chỗ ở núi non, hang cốc, chưa có tên trụ trì. Thiền sư Bách Trượng nhân người tu xưa nay xếp hàng vân tập hỏi đạo, chẳng phải vị trí tôn kính thì Pháp sư chẳng tôn, mà tên trụ trì từ đây mới bắt đầu.”

    Trụ trì là do thanh qui Thiền sư Bách Trượng đưa ra chớ xưa thì không có.

    “Lại nữa, trụ trì là tu Giới, Định, Tuệ. Vì dùng tư chất trì pháp nắm giữ đức hạnh chúng Tăng, là vì đầy đủ trì pháp, tư chất đầy đủ điều thiện, khả dĩ trì mà trụ.”

    Thiền sư Mật Am nói:

    “Trụ trì có ba cái không:

    - Thứ nhất là việc rắc rối đến chẳng có kinh sợ.

    Quý thầy sau này muốn ra làm trụ trì phải nhớ câu này. Việc rắc rối đến, người ta quậy, phá, phải bình thản, không được kinh sợ. Hoặc trong chúng có chuyện gì cũng không động tâm thì mới làm trụ trì được. Cho nên làm trụ trì rất khó, không phải dễ.

    - Thứ hai là vô sự không tìm.

    - Thứ ba là thị phi không biện.”

    Đạt ba không này mới có thể gọi là trụ trì được.

    Thiền Lâm Bảo Huấn ghi:

    Đời nhà Tống, Thiền sư Phật Quả sắp đi trụ trì chùa Thái Bình. Thiền sư Pháp Diễn, Sư phụ của ngài tặng cho ngài bốn câu răn nhắc, gọi là Pháp Diễn tứ giới:

    1- Có thế lực không nên sử dụng hết.

    Làm trụ trì, làm người lớn là mình có thế lực ở trên rồi, không nên sử dụng hết. Mười phần, sử dụng năm hoặc ba thôi chớ xài hết thì tổn âm đức của mình. Trong chúng có những người làm trái thanh qui, nhiều khi chúng phụ tá Thầy Trụ trì không chịu được, mà tại sao có những lúc Thầy Trụ trì bỏ qua, là có thế lực không nên sử dụng hết, dụng một nửa thôi, dụng hết thì chúng ở không được.

    2- Có phước không nên hưởng hết.

    Làm trụ trì, người ta cúng dường nhiều mà bỏ túi đi chơi, ăn uống hay làm chuyện gì đó thì tổn phước. Người ta cúng dường mình phải chia đều cho đại chúng.

    3- Qui củ không nên hành hết.

    4- Lời nói hay không nên nói hết.

    “Có người lễ Phật ta chẳng được đứng gần và đi ngang qua trước đầu người lạy. Thứ nhất là mất vẻ tôn kính, thứ hai là loạn phép quán của người. Đụng đầu mặt người khiến kia sanh tâm phiền não, mắc tội thật không phải là nhẹ.”

    Có người đang lễ Phật thì không được đi ngang qua, đụng đầu mặt người ta, lại mất vẻ tôn kính.

    “Phàm chắp tay chẳng được mười ngón so le, chẳng được bọng chính giữa, chẳng được nhét ngón tay trong mũi. Phải bằng ngực, cao thấp vừa chừng.”

    Chắp tay ngang ngực là đúng. Tôi thấy có những vị chắp tay không bằng ngực, hoặc bọng chính giữa, hoặc đụng vô lỗ mũi, thậm chí cạy mũi! Có người còn nhịp theo tiếng tụng Bát-nhã nữa. Các vị thầy ở miền Trung khó lắm, thường khi tụng kinh, các thầy cầm cây thước đi ngang, ai làm sai là bị gõ thẳng vô mười ngón tay luôn. Người ta nhìn quý thầy tụng kinh là biết có học oai nghi phép tắc hay không.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Chắp tay là biểu thị một về tất cả, tất cả về một, chứ không có hai.”

    “Chẳng được lễ bái phi thời, bằng muốn lễ phi thời thì phải chờ khi người vắng. Thầy lạy Phật chẳng được cùng Thầy đồng lạy, phải theo sau xa Thầy mà lạy. Thầy xá người, không phép đồng Thầy cùng xá. Ở trước Thầy chẳng được cùng người đồng bậc lạy nhau. Ở trước Thầy chẳng được chịu cho người lạy mình. Tay cầm kinh, tượng chẳng được vì người mà xá.”

    Chẳng được lễ bái phi thời. Ở Chánh điện mình lễ phi thời không được. Chẳng hạn chín giờ mà quý thầy đắp y, hậu ra chánh điện lễ là sai. Trên thiền đường, lễ lúc chín, mười giờ thì cho phép, vì chỉ có một mình mình, không có Phật tử, cũng không có chúng lễ.

    Thầy lạy Phật chẳng được cùng Thầy đồng lạy. Khi đi với Thầy Trụ trì hoặc quý Thầy lớn, Thầy lễ Phật trước rồi quý thầy lễ sau, chứ không phải Thầy lễ rồi cùng lễ theo là không đúng pháp.

    Ở trước Thầy chẳng được chịu cho người lạy mình. Quý thầy thị giả phải kinh nghiệm chuyện này. Người ta đến lạy Hòa thượng, quý thầy đang đứng kế bên Hòa thượng thì phải tránh qua một bên, mình đâu được hưởng cái lạy đó, tổn phước mình.

    Tay cầm kinh, tượng chẳng được vì người mà xá. Cầm kinh, tượng mà xá là trật pháp. Dầu cho là Hòa thượng hay Thầy Trụ trì, mình cũng không cầm kinh tượng mà xá các ngài. Bởi vì sao?

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh, tượng chính người, trời còn phải tôn kính. Tay cầm kinh, tượng tức là Phật ở trong tay. Phàm gặp tôn trưởng, lão túc đều chẳng có lễ bái, chỉ nói kinh, tượng ở trên tay chẳng dám lễ bái. Nếu cầm mà lễ bái, ấy là người điên đảo.”

    Quý thầy đang đi trên đường, tay cầm quyển kinh hoặc tượng Đức Phật, gặp Hòa thượng thì cũng không lễ, mà phải nói: “Bạch Hòa thượng, trên tay con cầm kinh, cầm tượng không lễ bái được.” Hoặc quý thầy gật đầu một cái thôi chứ cầm cuốn kinh xá xuống là trật. Kinh, tượng trời, người đều phải tôn kính. Tay cầm kinh, tượng tức là Phật ở trong tay. Nhiều người không biết phép cầm kinh nên có khi kẹp nách, làm trái oai nghi, tổn phước.

    Thiền thoại có ghi:

    Mẹ của vua Tuyên Tông sau khi mất về báo mộng muốn thỉnh Thánh tăng độ cho bà siêu thoát, còn mách bảo muốn chọn Thánh tăng thì chôn quyển Kinh Kim Cang dưới cổng chùa. Vua đến một ngôi chùa có gần một ngàn chúng Tỳ-kheo, gần hết các vị tăng trong chùa ai cũng bước qua cổng chùa mà không biết dưới cổng chùa có chôn quyển kinh. Chỉ có vị Tăng mà trong chùa ai cũng coi thường, bắt phải gánh đồ làm thị giả cho đại chúng là không dám bước qua mà lộn nhào lên hư không, nói: “Không dám giẫm đạp lên Đức Như Lai”. Vua biết đây là Thánh tăng.

    “Phàm kính lễ phải tin thành quán tưởng. Kinh có dạy bảy phép lạy, chẳng khá chẳng biết.”

    Chú: Bảy phép lạy là gì? Sa Di Học Xứ ghi:

    “Thứ nhất là lạy ngã mạn, thứ hai là lạy cầu danh, thứ ba là thân tâm cung kính mà lễ.”

    Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt nói:

    “Nếu có người vì lạy Phật một lạy thì từ đầu gối xuống đến lớp kim cương, một hạt bụi là một ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương, được mười loại công đức:

    Chỉ cần lạy một lạy, kiếp sau quý thầy làm một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Mà một ngày quý thầy lạy bao nhiêu lạy? Có những vị vào thất chuyên sám hối, lạy Phật, rất là tốt. Ngày xưa chúng tôi vào thất, ở Thường Chiếu rất nóng mà sám hối một ngày bốn lần, chuyên lạy Phật, lạy Tổ.

    1- Được sắc thân vi diệu.

    2- Lời nói được người tin tưởng.

    3- Ở trong đại chúng không có sợ sệt.

    Nghĩa là đứng trước đại chúng, đứng trước số đông mà tâm rất bình tĩnh, không run sợ. Ai hỏi gì, quý thầy rõ hết người đó muốn nói. Phải lễ Phật thành kính mới được cái pháp thù thắng này. Có những người kể rằng, họ học pháp giảng sư nhưng đứng trước Phật tử số đông họ rất sợ. Vì sao? Vì họ không thực tập phương pháp này.

    Ở Phú Khánh có một thầy viết văn rất hay, nhưng mỗi lần lên giảng thầy run lắm. Một vị Hòa thượng nói, thầy run thì cầm xâu chuỗi vừa lần vừa giảng. Bữa nọ thầy đang lần thì xâu chuỗi đứt dây xà xuống. Thầy nói, thôi từ đây viết sách chứ không bao giờ giảng nữa.

    Được cái pháp thù thắng, đứng trước đại chúng không sợ sệt là do mình thành tâm lễ Phật. Năng lực thù thắng này phát xuất từ bên trong chứ không phải ở đâu hết.

    4- Được chư Phật bảo hộ ghi nhớ.

    5- Đầy đủ oai nghi lớn.

    6- Mọi người thân cận và nương tựa.

    Quý thầy lễ Phật một thời gian sẽ thấy. Nhờ phép lễ Phật này, tự nhiên người ta thích gần gũi với mình, nói gì họ cũng nghe. Sau ra làm Phật sự, nhiều người muốn nương tựa. Nương tựa đây là họ đến học pháp, mình chia sẻ đường đi nước bước, hoặc san sẻ những nghịch cảnh trong cuộc đời, để họ chiêm nghiệm thực hành thì quý thầy được phước, mà người ta cũng bớt khổ. Còn nương tựa về chuyện khác là trật.

    7- Được chư thiên kính mến.

    8- Đầy đủ phước báu lớn.

    9- Lúc mạng chung sanh về cõi Phật.

    10- Mau chóng chứng đắc Niết-bàn.”

     

     

  • 3. 7. Thính Pháp

    7.

    Thính Pháp

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Pháp có năng lực trợ đạo nên cần phải nghe. Tâm tông của chư Phật đầy khắp trong Pháp tạng, dù tự tánh vốn thông ắt cần phải nhờ thầy truyền dạy. Cho nên lúc giảng pháp, giảng Tỳ-ni ắt cần phải lắng nghe và tư duy nghĩa lý mới có thể khai phát tâm địa được.”

    Trong bài Thính Pháp này, Tổ Tuyên Luật Sư dạy: Pháp có năng lực trợ đạo nên cần phải nghe. Nếu nghĩ mình thông minh, trí huệ đầy đủ rồi không cần nghe pháp nữa thì trật.

    Có những người đọc kinh, nghe pháp tự nhiên xúc động họ khóc. Hòa thượng Trúc Lâm khi coi đến chỗ “thất xứ chơn tâm”, bảy lần Phật gạn tâm cho tôn giả A-nan thì ngài xúc động khóc. Như vậy biểu thị điều gì? Giống như người xa nhà đã lâu, một hôm về quê gặp lại cha mẹ thì rất xúc động. Người đọc kinh Phật xúc động mà khóc, là chủng duyên người này rất sâu. Nhớ lại ngày xưa mình đã xem qua đoạn này, bây giờ nó tác động lại những hạt giống từ vô lượng kiếp làm cho nẩy mầm và trưởng thành. Nhờ năng lực này, quý thầy ở trong đạo không bao giờ khởi niệm ra đời. Cho nên nói, Pháp có năng lực trợ đạo, nên cần phải nghe pháp, học hỏi Phật pháp.

    Tâm tông của chư Phật đầy khắp trong pháp tạng. Có những lúc, tu mà tự nhiên thấy buồn buồn, thấy thiếu thiếu cái gì đó, quý thầy lật quyển kinh ra xem thì bớt phiền não. Hoặc có người gặp phiền não, khổ đau, vượt qua không được, nhưng khi đem kinh Phật ra xem, thì họ lại vượt qua được những nghịch cảnh khốn khổ đó.

    “Dù tự tánh vốn thông ắt cần yếu phải nhờ thầy truyền dạy. Cho nên lúc giảng pháp, giảng Tỳ-ni ắt cần phải lắng nghe và tư duy nghĩa lý mới có thể khai phát tâm địa được.”

    Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:

    “Thí như ám trung bảo,

    Vô đăng bất khả kiến,

    Phật pháp vô nhân thuyết,

    Tuy huệ mạt năng liễu.”

    Nghĩa:

    “Như viên ngọc quý giữa đêm dày,

    Không đèn soi sáng có ai hay,

    Cũng vậy, Phật pháp không người nói,

    Thông minh cũng khó hiểu nghĩa này”

    Hồi còn ở ngoài đời đâu biết vô thường, khổ, vô ngã, Thập nhị nhân duyên là gì. Vào đây nhờ Hòa thượng, nhờ Thầy Trụ trì giảng, mình hiểu phải tu thế nào, phải giữ giới, thực hành ra sao, đều nhờ người Thầy truyền lại.

    Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ-tát Văn Thù chọn nhĩ căn viên thông, ngài nói kệ:

    Tôi nay bạch Thế Tôn,

    Phật xuất cõi Ta-bà,

    Phương này, chơn giáo thể,

    Thanh tịnh tại nghe thanh.

    Muốn vào Tam-ma-đề,

    Thật do cái nghe nhập.

    Nhiều khi quý thầy nghe, tư duy nghĩa lý tự nhiên thâm nhập vào cảnh giới thiền định. Thâm nhập vào cảnh giới thực tại đó là nhờ nghe pháp. Bồ-tát Long Thọ nói, có mười tám điều kiện thuận lợi, cần thiết cho việc thực hành nghe pháp, mà chỉ có loài người mới có đầy đủ các điều kiện thù thắng này. Mười tám pháp đó là gì, mà ngài dạy phải luôn quán chiếu thật sâu sắc, thì nghe pháp không có nhàm chán?

    1- Thoát khỏi cõi địa ngục.

    Đời này, mình may mắn thoát khỏi cõi địa ngục. Cảnh giới địa ngục rất đau khổ, nghe pháp không được, không bao giờ hiểu được nghĩa lý của một câu kinh.

    2- Thoát khỏi cõi quỷ đói.

    Trong kinh diễn tả quỷ đói nhìn đâu cũng đều thấy khô cạn hoặc lửa cháy. Chẳng hạn cây hồng, cây bơ đầy trái, nhưng quỷ nhìn không thấy có trái nào hết, nhìn xuống dòng nước thì cạn khô, rất đói khát. Kêu niệm Phật cũng niệm không được huống gì nghe kinh. Bồ-tát Long Thọ dạy, phải nương Giới - Định - Tuệ của mình. Dầu cho có tu, mà còn tâm niệm keo kiệt, ích kỷ và tật đố, khi chết cũng đọa làm quỷ đói rất khổ.

    Quý thầy được trị nhật, hành đường, nghe pháp, tụng kinh, sám hối, phải nói là có cái duyên thù thắng. Quý thầy vào thiền viện thấy có đầy đủ Phật pháp, thấy ai cũng tu nên nghĩ rằng bây giờ tu nhiều, học chánh pháp nhiều, nhưng thật ra người hiểu và thực hành thánh pháp được rất ít. Thực hành pháp ở đây là gì? Là quán chiếu sâu sắc mình được thoát khỏi cõi quỷ đói. Mình nghe pháp nhiều quá thấy nhàm, chứ Phật tử khao khát giống như đất khô hạn mà gặp mưa vậy.

    3- Thoát khỏi cõi thú vật.

    May mắn thoát khỏi cảnh giới súc sinh, không bị làm thân trâu, bò, heo, chó…

    4- Thoát khỏi cõi chư thiên sống lâu.

    Trong kinh diễn tả, chư thiên khi sắp mất thì họ thấy năm tướng suy:

    - Hoa trên đầu héo.

    - Mồ hôi chảy nách.

    - Không thích ngồi chỗ ngồi của chính họ nữa.

    - Quần áo dính bụi.

    - Hào quang tắc hết.

    Khi thấy những tướng suy này, họ quán chiếu để biết sanh về đâu. Nếu thấy rớt vào cõi địa ngục thì họ đau khổ gấp nghìn lần so với người ở cảnh giới Ta-bà chết vào địa ngục. Đang ở cảnh giới sung sướng mà rơi vào cảnh giới xấu nên rất khủng hoảng, lo sợ.

    Mình may mắn thoát khỏi cõi chư thiên sống lâu, được làm người, được nghe Phật pháp. Trong kinh diễn tả, vào đời mạt pháp người nào được nghe, tin tưởng vào pháp Thiền tông, thì chủng tử người đó rất sâu dày, nên bây giờ mới biết con đường này tu tập, hành pháp. Nếu không có căn duyên về thiền nhiều, khi nghe rồi không tin mà còn phỉ báng.

    Quý thầy nghe Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì giảng mà cảm thấy rung động, có một cái gì đó tác động vào là biết mình có căn duyên nhiều kiếp về thiền, con đường thiền này mình phải đi.

    5- Thoát khỏi làm một người tà đạo.

    Các vị thiền sư nói, thà ngàn năm không ngộ còn hơn một ngày đi lệch đường. Những người tà đạo không có chánh kiến. Họ chấp thường, chấp đoạn, chấp vào những chỗ thấy. Như những người hiện bây giờ chết vì đạo mà niệm si, niệm sân, niệm tham có đủ hết, thì làm sao tái sanh vào cảnh giới an lành được. Chỉ có con đường từ bi, hỉ xả, tình thương, và hiểu biết, thì mới tái sanh vào cảnh giới lành. Quý thầy được phúc duyên thoát khỏi làm một người tà đạo, biết Phật pháp, biết tu pháp môn thiền.

    6- Thoát khỏi làm một người hoang dã.

    Là người sống nơi biên địa. Có những người sống trong rừng, không mặc quần áo, họ cầm gậy, mác đi săn. Những người này làm sao biết Phật pháp, biết chuyển hóa? Rớt vào cảnh giới này rất là khổ, không có cuộc cách mạng nào chuyển hóa nội tâm họ được. Không có thiện tri thức gần bên làm sao chuyển hóa?

    7- Thoát khỏi làm một người ngu đần.

    Tôi thấy quý thầy, ai cũng mặt mũi sáng láng, thông minh, trí tuệ là có phúc duyên rồi.

    8- Ở nơi không có giáo pháp của một Đức Phật.

    Quý thầy ở đây là đã có giáo pháp của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni để lại, có lịch sử, có chứng tích, có bài bản rõ ràng, thì mình rất có phước.

    9- Tái sanh làm người.

    10- Tái sanh ở vùng trung tâm, nơi có Tăng chúng ở.

    Quý thầy sanh ra trong cuộc đời này gặp chư Tăng, tuy nhiên có nhiều nơi không có chư Tăng.

    11- Có những cơ quan lành lặn.

    Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều lành lặn.

    12- Thoát khỏi những hành động xung đột về pháp.

    Vào thiền viện Trúc Lâm, tin tưởng pháp của Hòa thượng dạy, con đường này là con đường chuyển hóa nội tâm mình phải đi, tin tưởng thì tu mới có kết quả và không có xung đột về pháp. Nghĩa là quý thầy đã có túc duyên sâu mới tin tưởng vào Thầy của mình.

    Thiền sư Đại An, ba mươi năm ở núi Qui, ăn cơm núi Qui, uống nước núi Qui, làm cái gì cũng núi Qui, mà chỉ chăn con trâu. Còn quý thầy vào đây, ăn cơm Trúc Lâm, uống nước Trúc Lâm mà hành pháp khác, không tin tưởng pháp này mà vào chốn này, thì xung đột về pháp. Vào đây mà đi theo con đường khác là không đúng, kiếp sau không gặp được pháp này nữa.

    13- Có lòng tin vào thánh pháp.

    14- Có sự đản sanh của một Đức Phật trong thế giới.

    15- Có giáo pháp của một tôn giáo thanh tịnh.

    16- Có sự tồn tại và vững chắc của một tôn giáo thanh tịnh.

    17- Là người tin và theo lời dạy của Đức Phật.

    Mình tin lời Phật dạy là đúng, là thù thắng.

    18- Có lòng từ bi với những người khác.

    Có lòng thương đến người khác là biết mình được mười tám pháp mà Bồ-tát Long Thọ chỉ.

    Kinh Phó Pháp Tạng Phật dạy:

    “Tất cả chúng sanh muốn ra khỏi biển khổ sanh tử ắt phải mượn con thuyền thánh pháp mới được độ thoát. Pháp là nước mát trừ lửa dục phiền não. Pháp là thuốc hay có năng lực trừ các thứ bệnh.”

    Nghe pháp, học pháp, tu pháp thì vượt thoát sanh tử. Mượn con thuyền thánh pháp này thì mới được độ thoát. Pháp là nước mát trừ lửa dục phiền não. Bữa nào quý thầy phiền não, về lật quyển kinh ra xem, Phật nói phiền não bị gì, sân hận bị gì, thì nhờ pháp mà chuyển hóa được. Pháp là thuốc hay có năng lực trừ các thứ bệnh. Chẳng hạn bệnh tham thì dùng thuốc bố thí, sân dùng thuốc từ bi. Bệnh hay khởi niệm dục, thèm muốn đủ thứ chuyện thì dùng thuốc bất tịnh.

    Trong kinh Tăng Chi Bộ quyển 2, chương 4, phẩm Các Căn Phòng Bệnh, trang 86, Phật dạy:

    Một thời Thế Tôn trú ở Sa-va-thi tại vườn ông cấp Cô Độc, gọi các Tỷ-kheo:

    Này các Tỷ-kheo! Có hai loại bệnh. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm. Này các Tỷ-kheo! Chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình không có bệnh về thân được một năm, được năm năm, được mười năm, được năm chục năm cho đến một trăm năm. Nhưng này các Tỷ-kheo! Rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình không có bệnh về tâm dù chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những bậc Thánh đã đoạn trừ các lậu hoặc.”

    Chiều ngồi thiền, quý thầy nghiệm đi. Có khoảnh khắc nào, mình không phiền não - khổ đau - phiền muộn - tật đố - ích kỷ, không có một niệm nào khởi lên, chỉ trong một tích tắc thôi, có không? Thiền sư Đạo Nguyên nói, một người chỉ cần trong tích tắc, không có những thứ bệnh trên, thì người này là đệ nhất tối thượng giữa loài người. Dẫu có người bố thí, cúng dường đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới,thì công đức cũng không bằng. Phật khẳng định, có một kho báu vô giá, mà chỉ có người tu thiền mới chiêm nghiệm được chỗ này.

    Có một Thiền sư nói, sáng sớm ngài bước từ cái ghế này qua cái ghế kia ngài thấy hai mươi bảy niệm, tức là từ cái khoảnh khắc này qua cái khoảnh khắc kia ngài thấy hai mươi bảy cái niệm nhỏ vi tế. Mình thì cho đi luôn, không thấy gì hết. Bởi vậy mới nói dứt trừ lậu hoặc không phải chuyện dễ, đến mức độ Phật nói chừng nào chứng quả vị A-la-hán rồi thì mới tin tâm mình. Ở đây nói rất rõ là bệnh về tâm ai cũng có, muốn dứt bệnh này phải uống thuốc nghe pháp.

    “Pháp là chơn thiện tri thức của chúng sanh, làm lợi ích lớn cứu giúp các khổ não. Vì sao vậy? Vì tất cả chúng sanh trí tánh không có cố định, theo chỗ tập nhiễm, gần thiện thì thiện, gần ác thì ác. Nếu gần bạn ác liền tạo nghiệp ác, lưu chuyển trong sanh tử không có bờ mé. Nếu gần bạn lành khởi tâm cung kính, nghe nhận diệu pháp ắt có năng lực khiến xa lìa tam đồ khổ não. Do đó công đức thọ cái vui tối thắng thù diệu trong cuộc đời này tức là nghe pháp.”

    Quý thầy vào thiền viện Trúc Lâm, ai cũng mang tâm niệm thiện, phát tâm tu, nhưng mà trí tánh chưa ổn định, nếu gặp bạn ác thì bị dẫn dắt theo chỗ tập nhiễm. Những chủng tử ác chuẩn bị ngủ rồi, nhưng có người rủ tối đi chơi, nhớlại ngày xưa tối thường đi ngắm trăng, ngắm sao nên đồng ý đi liền. Ở đây Phật dạy, nếu gần bạn ác thì liền tạo nghiệp ác lưu chuyển trong sanh tử không có bờ mé. Còn gần thiện thì tự nhiên thiện, gần bạn lành là khởi tâm cung kính. Nhờ thầy tốt, bạn lành nhắc nhở, mình bỏ lần những tập nhiễm, biết bố thí, cúng dường, sám hối, ngồi thiền, tụng kinh, từ đó phước đức tăng trưởng. Mai kia có chết, công đức thiện pháp này cứu mình, nhờ năng lực thiện pháp này đưa đến cảnh giới lành.

    Như câu chuyện, mẹ Mạnh Tử ba lần chuyển nhà dạy con. Lần đầu ở gần nhà giết heo, bà thấy con về cũng chơi trò thọc huyết, làm heo. Bà sợ quá dọn nhà đến gần nghĩa địa, thì thấy con chơi làm đám ma, cúng kiến, thổi kèn. Lần thứ ba bà dọn nhà đến gần trường học, thấy con bắt chước khuôn mẫu lễ giáo, học hành chăm chỉ. Bà nói đây mới là chỗ ở cho con ta.

    “Nghe nhận diệu pháp ắt có năng lực khiến xa lìa tam đồ khổ não.”

    Nghe diệu pháp thôi là có thể chuyển được trong kiếp này. Pháp Hòa thượng Trúc Lâm dạy là pháp thù thắng tối thượng, quý thầy nghe, tin nhận là không phải chuyện đơn giản.

    Thành Phạm nói:

    “Phàm tâm học đạo của Sa-di phải như đất hạn ao hồ cạn hết, chẳng nhàm chán nghe nhiều.”

    Tâm học đạo của Sa-di phải như đất hạn, nghe nhiều cũng không nhàm chán, như ao hồ khô cạn, rót bao nhiêu cũng được.

    “Chẳng để thì giờ trôi suông. Nếu gặp pháp sư trên pháp tòa giảng nói kinh luận, Thánh pháp liễu nghĩa, phải để tâm rỗng không mà lắng nghe. Đối với người nói pháp tưởng như cha mẹ, thầy, tổ. Đối với chỗ nghe pháp như đói mà được nhận thức ăn, tưởng như chết khát mà gặp được nước.”

    Gặp người giảng nói kinh luận, Thánh pháp liễu nghĩa thì phải để tâm rỗng không lắng nghe đón nhận những lời pháp, không suy nghĩ một niệm nào hết, thì được tăng trưởng công đức. Đến pháp đường cung kính pháp, thì sau này quý thầy ra làm Phật sự hướng dẫn người sẽ được lại quả báo. Còn nghe mà có tâm khinh nhờn thì bị nhân quả.

    Khổng Tử nói: “Sáng nghe đạo lý, chiều chết cũng cam.” Sáng quý thầy nghe pháp rồi chiều trúng gió chết hoặc đi ngang bụi cây, bụi cỏ bị con rắn nhảy ra cắn chết thì đừng sợ. Nghe diệu pháp rót vào chủng tử tàng thức rồi, thì chết sanh về cõi lành liền. Bởi vì trong giờ phút thực tại đó không có niệm thứ hai.

    Chư Phật, chư Tổ nói cho chúng ta biết muốn đạt đến chỗ giác ngộ giải thoát, đến quả vị cuối cùng (quả vị Phật), thì trước chúng ta phải tạo phước. Kế đến là tu huệ. Cổ đức nói: “Phước huệ lưỡng toàn phương tác Phật.” Nghĩa là phước huệ song toàn thì mới thành Phật, tác Tổ được. Để có phước thường mình nghĩ là phải bố thí cúng dường, nhưng những người không có tiền thì làm sao bố thí cúng dường? Như vậy có tạo phước được không? Hoặc những người bị bệnh về thân, không làm trị nhật, hành đường hay công tác cho chúng được, thì có tạo phước được không?

    Theo tinh thần của thiền, Bồ-tát Long Thọ dạy, nghe pháp mà lắng thần nghe với tâm lành thì được phước đức. Nghe xong về chúng ta hành, đó gọi là công đức.

    Có một vị Tăng hỏi một Thiền sư:

    - Bạch Hòa thượng, trong kinh thường diễn tả chúng ta tu hành như thế nào để giống như chim đại bàng. Nhưng con chim đại bàng sải cánh một ngày bay ngàn dặm, mà mình không có khả năng như thế.

    Thiền sư nói:

    - Nhưng con chim không bay qua được bến bờ sanh tử, chỉ có những người nghe pháp, hành pháp, thì mới bay qua được bến bờ sanh tử.

    Chúng tôi làm nhà khách, có lần tiếp bốn cô sinh viên Đại học Đà Lạt. Họ thưa rằng, trước đây rất tin vào đạo Phật, nhưng một thời gian thì những người trong gia đình thường hay xung đột, sống không hòa thuận. Mỗi lần xung đột, đến chùa xin Phật cứu khổ, cứu nạn nhưng xung đột trong gia đình vẫn không chấm dứt, từ đó họ không tin đạo Phật nữa.

    Bây giờ mình phải trả lời thế nào để những người này có niềm tin với chánh pháp? Tôi nói, ví dụ mấy cô có cây viết, dùng hai tay bẻ gãy không? Bẻ gãy. Nếu dùng một tay bẻ gãy không? Họ nói không thể nào bẻ gãy được. Tôi nói, cũng vậy, ở đây pháp Phật chỉ rất rõ, chẳng hạn chị cô chửi cô, cô chửi lại thì có xung đột. Còn chị cô chửi hay nói nặng lời mà cô im lặng không trả lời thì không còn xung đột, như vậy rõ ràng là Phật cứu khổ. Sau đó, họ về thực hành, rồi công nhận đạo Phật thật là vi diệu.

    Quý thầy ở đây là đệ tử của Hòa thượng Tôn sư, hoặc Hòa thượng Thường Chiếu hay là đệ tử của Thầy Trụ trì Trúc Lâm, nhưng thật ra đều là đệ tử Phật. Phật đã nhập Niết-bàn, giáo lý truyền đạt lại cho chư tăng là đại diện. Phật tử đến thưa hỏi, mình nói pháp cho họ nghe thì trong giờ phút thực tại đó họ tăng trưởng được phước đức thù thắng. Về nhà, trong cuộc sống giữa đời thường, họ thực hành có kết quả là họ được công đức.

    Trong kinh diễn tả, Tôn giả A-nan nhờ chuyên huân tập những hạt giống về pháp, được Phật thọ ký: “Tôn giả A-nan giáo hóa hai mươi ngàn vạn ức hằng hà sa Bồ-tát mà chỉ dùng đại pháp nhiếp hóa thuần nhất không có pha tạp.”Nghĩa là sau này tôn giả A-nan thành Phật không dùng pháp nào khác, chỉ thuần nhất truyền tải pháp âm vi diệu của Phật.

    “Quốc Độ tên là Thường Lập Thắng Phan thường dùng chánh pháp phá bỏ tà kiến, kiếp tên là Diệu Âm Biến Mãn. Pháp âm cảm xúc lòng người, thọ mạng không thể tính đếm. Chánh pháp ở đời còn lâu hơn thọ mạng, tức là phù hợp với pháp tánh thường trụ.”

    Phật thọ ký tôn giả A-nan là đệ nhất đa văn, chỉ nghe ròng về pháp thôi. Cho nên sau này Tôn giả A-nan thành Phật rồi nói pháp thì cảm xúc lòng người, tác động đến người nghe rất mạnh. Nhờ vô lượng kiếp nghe pháp, thực hành về pháp nên người nào phiền não, sầu khổ chỉ cần nghe ngài nói một câu thì bớt sầu khổ. Tỳ-kheo hoặc các vị Sa-di mới xuất gia mà buồn bực không muốn tu hành nữa, một khi nghe pháp âm của Tôn giả A-nan thì tự nhiên phấn chấn trên đường tu. Mà vào thời Đức Phật, Tôn giả A-nan chỉ mới kiến đạo thôi, chưa chứng Thánh. Phật nói trong vô lượng kiếp, Tôn giả A-nan rất thích thú về pháp và rất thích thú đi nghe pháp.

    Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ Phật dạy:

    “Nếu người có thể dùng tâm lành nghe pháp, đây là phước đức đệ nhất.”

    Đến Pháp đường, lắng tâm nghe với tâm thiện chứ không phải tâm ác, thì đây là phúc đức đệ nhất.

    “Vì mục đích đi nghe pháp, dù chỉ bước một bước, phước báu có thể sanh lên cõi trời Phạm Thiên.”

    Vào thời Đức Phật, những vị tu mà muốn đạt đến tầng trời Phạm Thiên thì tu Tứ Vô Lượng Tâm, là đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả.

    “Người nghe pháp do thân, khẩu, ý đều tạo nghiệp lành nên sanh trong cõi trời, cõi người được hưởng phước báu hạnh phúc bậc nhất, mạng sống lâu dài, cuối cùng được Niết-bàn. Tất cả những công đức lớn này đều chỉ nhờ nghe pháp mới có được. Cho nên nghe pháp là an ổn bậc nhất.”

    Nghe pháp là thân làm lành, không tạo nghiệp sát sanh, trộm cướp, dâm dục. Miệng không nói lời ác, ý luôn được thanh tịnh, cho nên trong giờ phút thực tại đó, chúng ta đều tạo nghiệp lành. Kinh Chánh Pháp Xứ Phật dạy rất rõ, nghe pháp rồi thực hành pháp là phước đức bậc nhất. Nhờ năng lực phước đức này, nhờ những hạt giống này, cuộc sống rất an ổn.

    Theo tinh thần Duy Thức, trong vô lượng kiếp chúng ta tạo ác rất nhiều, mà những nghiệp ác này không mất. Theo lý, nó như bóng, như huyễn, nhưng về sự thì nó hình thành trong tàng thức rất nhiều. Bình thường mình không sân, mà đụng chuyện tự nhiên sân xuất hiện. Nghĩa là những hạt giống sân hay tham đã nằm trong tàng thức rồi, đụng chuyện thì nó nẩy mầm, phát tác lên. Nhờ nghe pháp, những lời pháp tác động đến, từ từ những hạt giống ác không còn nẩy mầm được nữa, và chết lần lần. Duy thức diễn tả giống như xe không đổ xăng, thì xe không chạy được. Hạt giống pháp đánh bạt những hạt giống phiền não, xấu ác. Chúng ta có túc duyên sâu, nên mới chịu lắng tâm nghe pháp. Có những người không chịu nghe pháp, hoặc chỉ ngồi ngủ gục không nghe được gì.

    Trong kinh Bản Duyên, quyển thứ Năm có kể câu chuyện:

    Vào thời Đức Phật còn tại thế, một hôm có bốn thương gia giàu có đến thưa với Ngài A-nan rằng, muốn nghe, học hiểu và thực hành về pháp. Tôn giả A-nan bạch Phật, Phật gọi bốn vị thương gia vào thuyết pháp cho họ nghe. Sau khi Phật thuyết pháp xong, Tôn giả A-nan thưa với Phật:

    - Bạch Đức Thế Tôn, bài pháp Thế Tôn nói hôm nay thật là mầu nhiệm, vi diệu. Nếu hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Sa-di, Sa-di Ni hoặc Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di được nghe bài pháp này, con chắc rằng trong pháp hội sẽ có người chứng quả. Vậy mà trong lúc Thế Tôn nói pháp, con nhìn thấy một người ngó lên trời không nghe pháp, một người thì ngồi gõ ngón tay, người thứ ba thì ngủ gục. Chỉ có một người chăm chú nghe bài pháp.

    Phật nói:

    - Trí của ông thì không thấy tột được. Với Phật trí của ta, ta thấy người mà ngó lên trời, năm trăm kiếp quá khứ làm nhà chiêm tinh chuyên nhìn trời, nhìn sao. Hạt giống đó bây giờ vẫn còn, nên ta nói pháp mà người đó cứ nhìn lên trời. Người thứ hai, ta nói pháp mà gõ ngón tay, năm trăm kiếp trong thời quá khứ làm con chim gõ kiến. Người ngủ gục thì thời quá khứ đã làm rắn năm trăm kiếp. Còn người chăm chú nghe pháp thì năm trăm kiếp họ làm chú thuật, chuyên đọc những bài chú nên bây giờ có tâm thành kính về pháp, mới lắng thần nghe pháp được.

    Phật nói pháp mà người nghe còn như thế, huống chi mình. Khi nào quý thấy có đủ túc duyên ra hướng dẫn Phật tử, mà thấy người ta ngủ lên ngủ xuống, hoặc khi quý thầy đang giảng, có người cười rồi đứng dậy bỏ đi không chịu nghe thì cũng đừng buồn.

    Cho nên Thiền sư Vĩnh Minh nói:

    “Chẳng cần của báu đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, chỉ nguyện ưa nghe một câu Phật pháp chưa từng được nghe.”

    Bây giờ quý thầy nghe nhiều quá, thấy thường. Nhưng vào thời Đức Phật, Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ nghe hai câu kệ mà chứng quả, kiến đạo, pháp nhãn thanh tịnh liền được mở.

    “Các pháp từ duyên sanh,

    Cũng từ duyên mà diệt.”

    Tôn giả Xá-lợi-phất theo đạo Bà-la-môn, chấp có một tự ngã. Nhưng với Phật trí, Phật thấy được các pháp do duyên sanh, cũng từ duyên mà diệt. Một câu Phật pháp ngài chưa từng nghe, nhưng nghe hai câu này, ngay tức khắc ngài chứng được quả vị Tu-đà-hoàn, tức là bước vào dòng Thánh.

    Đối với thiền sư, mình đến hỏi Phật pháp các ngài không nói nhiều, chỉ giải thích ngắn gọn.

    Thiền sư Thiện Hội ở với thầy ba năm, mà thầy không dạy gì. Một hôm ngài đến thưa với thầy:

    - Bạch Hòa thượng, con ở với Hòa thượng lâu mà Hòa thượng không chỉ dạy gì hết, suốt ngày bắt con nấu cơm, chẻ củi. Thôi bây giờ con xin đi hành cước, học Phật pháp chỗ khác.

    Vị thầy nói:

    - Trước khi ông lên đường tôi cũng có một câu Phật pháp tặng ông. Ông lại gần đây tôi nói nhỏ.

    Thiền sư Thiện Hội đến gần, vị thầy nói:

    - Trời lạnh! Ông đi đường vui vẻ.

    Ngay tức khắc Thiện Hội ngộ đạo.

    Một câu Phật pháp chưa từng được nghe, “Trời lạnh! Ông đi đường vui vẻ” thì liền ngộ đạo. Thấy không có gì, nhưng ở đây ngầm ý rất sâu, tự quý thầy về chiêm nghiệm chỗ này, thiền mà giải thích mất hay. Mình đừng tưởng ngộ đạo dễ, trong ba năm đó ngài luôn chánh niệm, thu thúc sáu căn, thì trong giờ phút thực tại này, pháp mầu nhiệm của vị Thầy có năng lực lớn nó tác động đến.

    Quý thầy nghe Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì giảng pháp dễ thâm nhập hơn, còn người tuổi đạo nhỏ, không có năng lực thù thắng thì không tác động mạnh bằng những người có năng lực lớn. Các ngài có năng lực lớn, các ngài phổ vào mình, tự nhiên mình rung động.

    Cho nên kinh Pháp Cú, Phật dạy:

    Ai sống một trăm năm

    Không thấy pháp tối thượng,

    Tốt hơn, sống một ngày

    Thấy được pháp tối thượng.

    Ở Thiền viện, mình được học hỏi Phật pháp nhiều, nên thấy dư. Ngày xưa, nghe được một câu Phật pháp rất quý. Vì vậy, người xưa học Phật pháp là luôn luôn chăm chú về pháp, thực hành về pháp nên mới thành tựu đạo quả được. Do đó Bàng Long Uẩn nói:

    Người đời quý trân bảo,

    Ta quý sát-na tịnh.

    Báu nhiều loạn lòng người,

    Tịnh nhiều thấy Phật tánh.

    Với cặp mắt thiền, ông Bàng Long Uẩn thấy người đời thích tiền, của, thích làm cho có tiền. Còn đối với ông, một khoảng sát-na thanh tịnh thì quý báu hơn. Của báu nhiều làm tâm thức con người bị loạn, ví như câu chuyện trong thiền thoại:

    Có anh nông dân ra ruộng cuốc cỏ tình cờ đào lên được một tượng A-la-hán. Về nhà, anh buồn khổ mất ăn, mất ngủ. Bà vợ ngạc nhiên nói:

    - Ngày xưa ông nghèo cho nên ông buồn khổ không ngủ được đã đành, bây giờ ông được tượng A-la-hán rất quý, bán được rất nhiều tiền mà sao ông lại buồn?

    Anh nông dân nói:

    - Không biết mười bảy tượng La-hán kia bây giờ nằm ở đâu?!

    Hòa thượng, quý Thầy lớn không cho mình giữ tiền là có lý. Nếu trong túi có mười triệu, thế nào cũng suy nghĩ: Không biết mình mua gì, hay là cúng dường đại chúng cái gì. Suy nghĩ nhiều làm loạn tâm. Cho nên trong thiền viện, Hòa thượng không cho giữ tiền, ai đau bệnh hay cần gì, thì lên xin tiền Thầy Trụ trì.

    Luận Khởi Tín nói:

    “Phật pháp có nhân, có duyên, nhân duyên đầy đủ mới được thành tựu. Như tánh lửa ở trong cây là chánh nhân của lửa, nếu không có người biết chẳng nhờ phương tiện mà có thể tự thiêu đốt cây thì thật không có điều đó. Chúng sanh cũng thế, tuy có sức huân tập của chánh nhân nhưng nếu chẳng gặp chư Phật, Bồ-tát, thiện tri thức để làm duyên mà có thể tự mình đoạn dứt phiền não, vào nơi Niết-bàn thì thật không có điều đó.”

    Thiền sử hay kinh Pháp Hoa nói, tất cả chúng sanh đều có tri kiến Phật, ai cũng có Phật tánh. Nhưng ở đây, nếu không nhờ sức huân tập của pháp, không nhờ chánh nhân của pháp, hay nói khác hơn, nếu không gặp Phật, Bồ-tát, thiện tri thức giáo hóa thì không bao giờ mình dứt được phiền não.

    Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

    “Nghe một câu kinh ngấm vào lòng, trải qua nhiều kiếp vẫn không tiêu mất. Một điều lành nhập tâm, muôn đời cũng chẳng quên.”

    Như Lục Tổ Huệ Năng, Ngài đã từng học về pháp, tu về pháp, hành về pháp, cho nên một hôm chỉ cần nghe đoạn kinh: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm” thì chứng đạo. Ở Tây Tạng có nhiều vị tái sanh, mới hai tuổi mà cầm quyển kinh đọc.Chứng tỏ quá khứ đã từng biết, từng đọc.

    Cho nên nghe một câu Kinh ngấm vào lòng, trải qua nhiều kiếp vẫn không mất, vẫn còn nằm trong tiềm thức. Trong lúc nghe kinh, học pháp, đủ nhân đủ duyên tác động, tự nhiên ngộ đạo. Những hạt giống pháp nằm trong tàng thức rồi, muốn làm ác cũng không làm được.

    Nhà tôi có năm anh em trai, một người anh hay làm việc bất thiện. Ngược lại, một người em cũng xuất gia như tôi. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, người em này không bao giờ làm việc ác, mà biết bố thí, cúng dường, biết tạo những việc phước điền, tuy lúc đó chưa biết Phật pháp gì hết. Bây giờ mình mới hiểu rằng, người có chủng duyên về Phật pháp, từng biết, từng tu Phật pháp thì bây giờ tuy chưa biết Phật pháp, nhưng chủng duyên đó đã sống dậy trong tiềm thức của mình. Cho nên nghe Phật pháp rất lợi ích.

    Kinh Pháp Cú Phật dạy rất rõ:

    Ai sống một trăm năm

    Ác giới không thiền định,

    Tốt hơn, sống một ngày

    Trì giới tu thiền định.

    Phật nói, người cúng dường bảy báu đầy khắp tam thiên, đại thiên thế giới không bằng người giữ giới thanh tịnh chỉ một ngày. Huống chi quý thầy vào đây phát nguyện giữ giới thanh tịnh trọn đời, mà thực hành về pháp nữa thì phước đức rất thù thắng. Cho nên năng lực đại chúng rất sung mãn. Trong Kinh Phật dạy, những bậc căn cao đức lớn cũng không được khinh dễ đại chúng.

    Có chú bé mỗi ngày gia đình cho năm ngàn ăn sáng, chú ăn ba ngàn thôi, còn hai ngàn chú bỏ ống heo. Khi con heo đầy tiền, chú đem cúng dường Hòa thượng ở Thường Chiếu. Hòa thượng nói, tôi không gánh nổi, đem xuống đại chúng chứng minh. Như vậy chúng ta thấy phước chúng như hải, chính là nhờ quý thầy chẳng những học về pháp, hành về pháp, mà còn giữ giới luật thanh tịnh. Phật nói kể cả năng lực của Phật cũng không cứu được mẹ ngài Mục-kiền-liên (bà Thanh-đề), mà phải thỉnh các vị A-la-hán. Đại chúng huân tập, năng lực huân tập này tác động đến làm bà thức tỉnh.

    “Phàm gặp bảng treo trên nhà giảng đường phải sớm lên nhà giảng đường, chớ đợi trống pháp đánh reo mới đến.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Trên giảng dường nói pháp chính là việc pháp môn tối tôn tối thắng. Nghe pháp, người cũng sanh cái duyên cực đại.”

    Ở thiền viện gõ ba tiếng kiểng, còn ngày xưa trong Thanh qui Bách Trượng có ghi, chư Tổ các ngài đánh trống pháp rất lớn để vân tập đại chúng lên pháp đường. Trên giảng đường nói pháp chính là việc pháp môn tối tôn tối thắng,chứ không phải chuyện đơn giản. Người nghe pháp cũng sanh cái duyên cực đại, có duyên lắm mới được nghe pháp. Có một lúc nào đó, hai lỗ tai mình không nghe được, hai con mắt không còn nhìn thấy, khi đó hết học pháp luôn!

    Kinh Nhật Ma Ni Bảo có nói:

    “Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp: Ta quán sát chúng sanh, tuy họ trải qua mấy ngàn muôn ức kiếp vẫn ở trong ái dục, bị tội ác che đậy. Nếu nghe kinh Phật vừa xoay đầu lại phát khởi niệm lành, thì tất cả tội ác đều tiêu diệt.”

    Luận Đại Trí Độ nói:

    “Khi Như Lai thành đạo, có mười cách mỉm cười mà quán sát thế gian. Có nhân nhỏ quả lớn, duyên nhỏ báo lớn như cầu Phật đạo, tán thán một bài kệ, xưng một câu Nam-mô Phật, dâng một nén hương ắt đều thành Phật.”

    Phật đến pháp hội, thường không cười, nhưng khi Phật mỉm cười là do có nhân duyên gì đó.

    Một hôm, thấy Phật mỉm cười, A-nan đến hỏi:

    - Bạch Đức Thế Tôn, nguyên nhân nào mà hôm nay Thế Tôn cười?

    Phật nói:

    - Hôm nay trong pháp hội này có một người nghe Thế Tôn giảng pháp tán thán bài kệ, Như Lai biết chắc chắn người này sẽ thành Phật.

    “Huống gì nghe biết thật tướng của các pháp không sanh không diệt, chẳng phải không sanh, chẳng phải không diệt, mà nhân duyên hạnh nghiệp cũng không thiếu, vì thế nên Đức Phật mỉm cười.”

    Chỉ cần tán thán một bài kệ, xưng một câu Nam-mô Phật, hoặc dâng một nén hương lên Đức Phật, Phật cũng thọ ký cho thành Phật. Huống nữa có những người nghe, biết thật tướng của các pháp, mà thật tướng của các pháp là từ nơi tự tâm. Như tôi đã nói, quý thầy nghe pháp thì được phước đức, rồi thực hành pháp thì được công đức, huống nữa quý thầy biết thật tướng của các pháp không sanh không diệt thì thành Phật rất mau.

    Tổ Tuyên Luật Sư nói:

    “Bảng treo ấy là thanh qui lệnh bảo đại chúng, người học phải biết, phải sanh tâm vui mừng, quán tưởng nhân duyên khó gặp.”

    Chẳng hạn, sáng nay đi hành đường, trị nhật, nhìn lên bảng thấy ghi chiều nay học kinh Viên Giác do Thầy Trụ trì giảng, quý thầy cảm thấy chiều nay giống như mình được ăn một bữa rất ngon. Nói khác hơn như đang đói gặp thức ăn, đang khát được uống nước, thì ngay trong giờ phút đó, lỡ quý thầy chết sanh về cõi trời liền. Chứ còn nhiều khi đi qua nhìn thấy bình thường, chiều lên ngồi cũng vậy thôi, thì không sanh tâm gì hết.

    Vào năm 1998, nửa tháng Hòa thượng dạy một lần. Tới ngày Hòa thượng giảng pháp chúng tôi rất háo hức, chẳng hạn sáng mai Hòa thượng giảng, thì tối hôm trước có nhiều thầy vui ngủ không được luôn. Hoặc khi Thầy Trụ trì, hồi xưa là Thầy Quản chúng, giảng pháp chúng tôi rất vui mừng. Ở đây nói, người học phải nên sanh tâm vui mừng, quán tưởng nhân duyên này rất thù thắng, rất khó gặp.

    Trong kinh Tuyển Tạp Thí Dụ kể câu chuyện:

    Vua A Dục nhờ cúng dường Phật cát nhuyễn nên được phước đức thù thắng làm Chuyển Luân Thánh Vương. Ông cho xây một cung điện lớn rất đẹp, sai các quan cận thần đi khắp Ấn Độ tuyển họa sĩ về vẽ cảnh thật để trang trí cung điện. Có một vị họa sĩ từ Nam Ấn Độ đến, trên đường đi, ngang qua một hồ sen, ông thấy một cô thiếu nữ rất đẹp đang hái sen, nên ông vẽ hình cô gái hái sen này trang trí cung điện. Nhìn cô thiếu nữ đẹp như tiên giáng trần, vua A Dục sửng sốt, hỏi họa sĩ người và cảnh này có thật hay tưởng tượng. Biết là người thật, vua sai quần thần đi tìm về để đưa lên làm chánh cung hoàng hậu.

    Gặp cha cô gái, biết là cô đã có chồng, quân lính tìm đến nhà người chồng. Chồng cô là một vị Ưu-bà-tắc, biết Phật pháp, đã quy y Tam bảo, ông quán tưởng thế gian vô thường, thân mình còn không thật huống chi vợ mình, nên ông nhường vợ mình cho vua A Dục.

    Trong cung vua, một hôm, người vợ đang cắm một lọ hoa rất thơm thì lọ hoa rớt bể, mùi hương bay lên sực nức. Cô ôm mặt khóc, vua hỏi tại sao, cô nói mùi thơm làm cô nhớ đến chồng, chồng cô ngày xưa thân thể lúc nào cũng tỏa mùi hương trầm rất thơm. Vua nghe vậy rất bực tức, nói, nếu sự thật chồng cũ cô không có mùi thơm như vậy thì hai người sẽ bị giết. Vua sai người tìm người chồng đem về cung điện.

    Sau khi nhường vợ cho vua A Dục, vị cư sĩ này chán ngán cuộc đời phát tâm xuất gia. Trải qua nghịch cảnh cuộc đời nên ông cố gắng tu tập, sau ba tháng chứng quả vị A-la-hán. Chứng quả rồi thì mùi thơm còn nhiều hơn ngày xưa. Bị bắt về đến cung điện, vua bắt ông phải tắm nước nóng để tẩy cho hết mùi thơm, nhưng càng tắm mùi thơm càng xông khắp cung điện. Vua thắc mắc về hiện tượng này, vị A-la-hán nói bây giờ ông có thể nhìn xa tám mươi bốn vạn kiếp về trước. Trong một kiếp nọ, khi đi ngang qua một cái thành, ông nghe một thầy Tỳ-kheo giảng pháp với tâm kính tín sung mãn nên ông muốn cúng dường. Ông ra chợ mua một miếng trầm đốt lên cúng dường vị pháp sư. Do nhân duyên đó mà trải qua chín mươi mốt kiếp, kiếp nào cũng được mùi hương thanh tịnh.

    “Sửa sang y phục, nhìn ngay, thẳng tới. Ngồi phải đoan nghiêm chẳng được nói bậy.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Khẩu nghiệp không có sai lầm, huống nữa trong Pháp đường chính là trời, người tụ tập, phàm thánh qua lại tham kiến thời chẳng phải là chỗ nói bậy.”

    Quý thầy đừng nghĩ ngồi nghe pháp trong giảng đường chỉ có ba, bốn chục người, mà còn có Long thần, Hộ pháp.

    Trong Cao Tăng Dị Truyện kể:

    Có vị Tăng một hôm đi trên núi lạc vào một ngôi chùa, thấy trong chánh điện chư Tăng ngồi hội họp rất đông. Một lát lại thấy một vị đến sau cùng, các vị đến trước trách là hẹn sáng nay chín giờ họp mà sao bây giờ mới đến. Vị Tăng đến sau nói, ngài đi ngang một ngôi chùa, nghe vẳng bên tai một bài pháp nên đến Pháp đường đó để nghe, thì thấy một Tỳ-kheo rất trẻ nhưng biện (tức là giản trạch) về chỗ tánh không Bát-nhã nên lắng tai nghe vị phàm nhân này giảng pháp, vì thế quên đường về.

    Lúc này vị Tăng đi lạc mới biết đây là chư vị Bồ-tát. Ông nghỉ ở chùa một lát rồi xuống núi. Ba ngày sau lên núi tìm lại ngôi chùa đó thì không thấy. Hỏi thăm thì dân làng nói người nào có duyên lắm thì ngôi chùa mới xuất hiện, chùa đó toàn là những bậc Thánh lui tới.

    Quý thầy thấy không? Đã là Bồ-tát mà nghe có người nói về tướng không của Bát-nhã liền dừng lại để lắng thần nghe.

    Ngoài ra còn những cõi vô hình, chẳng hạn loài ngạ quỷ, súc sanh chết nhưng có duyên về pháp cũng đến nghe. Cho nên, pháp đường chính là trời, người tụ tập, phàm thánh qua lại tham kiến, chẳng phải là chỗ nói bậy. Lên pháp đường mà nói bậy là tổn phước. Thiền viện mình không có, nhưng quý thầy khác kể lại, có những chỗ khác đến dạy rất nản, vì chúng tăng ngồi ở dưới nói chuyện gì đâu đâu không, nói xe, nói cộ, nói hồi hôm đi đâu…

    “Chẳng được ho khan lớn tiếng. Thứ nhất là động chúng, thứ hai là nhơ đất, thứ ba là mắc tội không phải nhỏ.”

    “Phàm nghe pháp, phải nghe mà nhớ, nhớ mà tu.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nếu nghe mà không nhớ như cày ruộng không xuống hạt giống. Nhớ mà không tu như có giống nhưng không tưới nước và làm cỏ.”

    Trong kinh Tương Ưng Bộ, Phật nói, có ba thứ trí huệ:

    1- Trí huệ lộn ngược:

    Phật nói có những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Sa-di, Sa-di Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đến nghe Phật nói pháp, vừa ra khỏi pháp đường là quên hết, không biết hồi nãy Thế Tôn nói gì.

    2- Trí huệ bắp vế:

    Phật nói, có những người đến nghe Phật nói pháp, về nửa đoạn đường thì quên. Phật ví như người ăn bánh để trên bắp vế, đứng dậy là rớt hết.

    Có vị Sa-di đọc bài kệ như thế này:

    Ai sống một trăm năm

    Mà không thấy con cò,

    Tốt hơn, sống một ngày

    Mà được thấy con cò!

    Tôn giả A-nan đi ngang qua nghe được, ngài nói vị Sa-di đọc sai rồi. Vị Sa-di cãi lại nói, thầy tôi dạy như vậy. Về bạch lại với thầy, hồi nãy con đọc bài kệ thầy dạy, Tôn giả A-nan đi ngang qua nói con đọc sai. Thầy của vị Sa-di nói, ngày xưa tôi nghe rất là rõ, Phật dạy rõ ràng!

    Nhớ lời pháp không phải để biện luận, lý thuyết, nhưng cần phải nhớ. Bữa nào mà quý thầy nghe như thế, Phật tử đến hỏi mình giải thích như thế, là trí huệ lộn ngược, trí huệ bắp vế. Còn ở đây Phật dạy mình sao?

    3- Trí huệ của hàng Sa-môn, hàng Tỳ-kheo:

    Là trí huệ rộng lớn, nghe đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối về suy nghiệm, tu tập thì có công đức lớn.

    Kinh Tạp Bảo Tạng, quyển 3 có ghi:

    Có một vị trời đến đảnh lễ Đức Phật, Phật hỏi:

    - Ngươi thọ thân trời được vui vẻ, an lạc chăng?

    Vị trời bạch Phật:

    - Bạch Đức Thế Tôn, tuy con sanh ở trời nhưng trong tâm thường sầu não.

    - Vì sao vậy?

    - Con nhớ vào thời quá khứ, tuy con đối với cha mẹ, sư trưởng, sa-môn, bà-la-môn có tâm trung hiếu, cung kính lễ bái, cũng có cúng dường tọa cụ, thức ăn uống đầy đủ nhưng mà con không chịu đi nghe pháp. Bây giờ lên cõi trời nhưng phước không bằng các vị trời khác.

    Không phải vị trời nào cũng giống nhau. Những vị trời có cúng dường, chịu nghe pháp thì phước đức thù thắng hơn những vị trời khác.

    Vị trời thứ hai có nhan sắc thù diệu hơn, Phật hỏi:

    - Ngươi thọ thân trời được vui vẻ, an lạc chăng?

    - Bạch Đức Thế Tôn, tuy con sanh ở trời nhưng trong tâm thường sầu não. Con nhớ trong thời quá khứ, tuy con cúng dường cha mẹ, sư trưởng, sa-môn, bà-la-môn cung kính lễ bái, nhưng nghe pháp mà không hiểu nghĩa Phật pháp, cho nên lên đây nhưng con rất buồn khổ, bởi vì cái phước không được thù thắng như các vị trời khác.

    Phật hỏi vị trời thứ ba:

    - Ngươi thọ thân trời được vui thích, an lạc chăng?

    - Bạch Đức Thế Tôn, ngày hôm nay con sanh lên cõi trời được cái vui thù tột, được cái vui sung mãn, tự vui sướng với ngũ dục, cần vật gì nghĩ đến liền có, hết sức khoái lạc, không có các khổ não.

    - Vì sao vậy?

    - Vì đời trước lúc tu nhân, con cúng dường đầy đủ, nghe pháp hiểu nghĩa, y lời dạy mà tu hành, cho nên bây giờ rất là đầy đủ, sung mãn.

    Tuy chưa giải thoát, mà sanh về cõi nào cũng được nhân duyên thù thắng.

    “Chẳng được chuyên nhớ lời hay để giúp câu văn lý luận.”

    Có nghĩa là học kinh cho nhiều, rồi chuyên nhớ lời hay, để lý luận, hoặc là đem ra biện bác.

    Vào thời Đức Phật, có hai thầy Tỳ-kheo, thầy Tỳ-kheo lớn tuổi đã đắc quả vị A-la-hán, cho nên không cần học nhiều. Thầy Tỳ-kheo trẻ học rất nhiều nhưng chưa đắc quả vị. Một hôm có một cư sĩ đến hỏi vị Tỳ-kheo già:

    - Thế nào là muối?

    Thầy trả lời:

    - Muối.

    Ông cư sĩ không hài lòng, đem câu hỏi đó đến hỏi thầy Tỳ-kheo trẻ. Vị thầy này giải thích, lý luận rất nhiều. Ông cư sĩ khen hay, đến thưa với Phật thầy trẻ chắc chứng đạo, còn thầy Tỳ-kheo già chưa chứng đạo. Phật nói:

    - Tuy nhiên vị Tỳ-kheo già đắc quả vị A-la-hán rồi.

    Hễ mà nói muối là muối thôi, chứ còn dài dòng chi nữa. Tinh thần thiền nằm trong này rõ ràng, nhưng thầy Tỳ-kheo trẻ chưa đắc quả thì nói trên trời dưới biển đủ thứ. Trong đại chúng có những vị nói pháp rất hay, biện bác rất giỏi, chia chẻ đủ hết, nhưng nghe xong mình không biết tu pháp gì, thực hành pháp gì. Còn như Hòa thượng hay quý Thầy lớn trong Tông môn nói ra là người ta biết tu ra sao, phải tránh con đường nào, phải đi con đường nào.

    Cho nên Phật dạy:

    Không phải vì nói nhiều,

    Mới xứng danh trì pháp.

    Những ai tuy nghe ít,

    Nhưng thân hành đúng pháp,

    Không phóng túng chánh pháp.

    Kinh Pháp Luật Tam Muội nói, người học Phật có bốn việc phải đọa lạc:

    1- Học không biết quyền hay chước khéo, khinh dễ thầy bạn, không có nhứt tâm, ý hay dời đổi.

    Tức là bị sa đọa. Nghĩa là ỷ mình học giỏi rồi khinh dễ thầy bạn, không có nhứt tâm.

    2- Học chỗ hầu thầy không chịu khổ, vừa được kha khá, bươn bả cống cao.

    Học với thầy, thấy mình hiểu, tưởng giỏi hơn thầy nên bươn bả, cống cao ngã mạn, không chịu khó, chịu khổ.

    3- Học văn chải chuốt, không có thực hành, chỉ ham danh dự, trông người kính trọng.

    Ham nói để người ta kính trọng, thì cũng bị đọa lạc.

    4- Ưa học sách ngoại đạo, lại đem nghề lạ sánh với kinh cao của Phật, nói ngoại đạo đồng bậc. Những ác kiến như đây lấm hơn thuốc độc, có hại cho pháp thân huệ mạng.

    “Chẳng được chưa tỏ ngộ nói mình tỏ ngộ, vào tai ra miệng. Ông Sa-di tuổi nhỏ giữ giới chưa chắc lại phải học luật, chớ nên sớm tới trường giảng kinh luận.”

    Tổ dạy rất rõ, chưa ngộ đạo mà vỗ ngực xưng là: Tôi ngộ đạo rồi thì không đúng.

  • 4. 8. Tập Học Kinh Điển

    8.

    Tập Học Kinh Điển

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Thời gìn giữ chẳng mất gọi là tập. Thọ pháp chuyên tinh gọi là học.”

    Nghe, hiểu, nhớ gọi là tập. Thọ pháp chuyên tinh gọi là học.

    Trong Truy Môn Cảnh Huấn ghi bài văn của Từ Học Lão khuyên tiểu siêng học:

    “Ngọc chẳng mài giũa chẳng thành khí cụ, người chẳng học chẳng biết đạo lý.”

    Những vị Phật tử nghiên cứu và thực hành pháp của Hòa thượng, họ rất quý kính quý thầy tu theo pháp môn của Hòa thượng, nhất là quý thầy đã được học giới luật, oai nghi phép tắc. Con mắt cư sĩ bây giờ tinh lắm, nhìn là biết mình có học Phật pháp, có nghiên cứu và thực hành về pháp hay không. Người mô phạm về giới luật, oai nghi phép tắc, họ rất kính tín, quý thầy ngồi yên tu mười năm, hai chục năm họ cũng sẵn sàng hộ trì để quý thầy tu. Cho nên phải học, phải tu.

    “Người xuất gia may được thân lìa lưới trần, ở chốn cửa cao nhà rộng chớ có nên vì ấm no mà tự coi là đã thỏa chí mình.”

    Người xuất gia được túc duyên thân lìa lưới trần, có nghĩa là xa cha mẹ, anh chị em, xa hết tất cả. Rồi vào thiền viện nhờ công đức Hòa thượng, nên bây giờ mình ở chốn cửa cao nhà rộng. Lại được ấm no thì chớ nên vì ấm no mà đã tự coi là đã thỏa chí mình.

    “Lúc còn trẻ trung khỏe mạnh nếu chẳng siêng học hỏi, chẳng suy nghĩa lý, chẳng hấp thụ đúng thì trước Thánh làm sao mà có thể tiên bạch được.”

    Tức là bắt buộc mình phải học. Nghiên cứu kỹ những bộ Kinh lớn, quý thầy thấy kinh Hoa Nghiêm chỉ về Pháp giới Hoa tạng, Kinh Pháp Hoa chỉ về Tri kiến Phật, Kinh Niết-bàn chỉ về Phật tánh. Những bộ kinh Phật đều chỉ về chỗ đó hết, thành ra mình nghĩ xem đi xem lại cũng bấy nhiêu thôi, thì coi chi nữa, đúng không?

    Trong thiền Sư Trung Hoa Tập Một có ghi:

    Thiền sư Mã Tổ một hôm hỏi Thiền sư Trí Tạng:

    - Sao con chẳng xem Kinh?

    Sư thưa:

    - Kinh đâu có khác.

    - Tuy nhiên như thế song con về sau vì người mà cần phải xem.

    Chẳng hạn như đậu hủ, chiên cũng vậy, xào cũng vậy, bây giờ trộn lên mỗi người một chén, ăn vô trong bụng cũng vậy thôi, quý thầy chịu được không? Sao mà ăn được. Mai kia quý thầy đủ duyên đứng trước Phật tử nói pháp, người ta nói bạch Thầy, con khổ đau quá! Quý thầy bảo: Buông vọng tưởng! Không biết buông cái gì, ai mà buông cho được. Quý thầy phải dùng phương tiện trong kinh điển mà giáo hóa người.

    Một vị giáo sư ở miền Bắc, nghiên cứu Phật pháp rất nhiều nói với tôi rằng, ông xem lịch sử thấy cùng thời Đức Phật Thích-ca nhưng trước ngài đã có hai vị Phật. Ông nói hai vị Phật này chỉ dạy pháp tu cho Phật. Tôi giải thích rõ, đúng là hai vị này chỉ dạy pháp tu cho Phật, nhưng đó là hai vị tiên, vị tiên thứ nhất là Ca-ma-la, vị tiên thứ hai là Uất-đầu-lam-phất. Học với hai vị này Phật không thỏa mãn, nên Ngài đến ngồi dưới gốc cây Bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm thành tựu quả vị Phật.

    Nếu mình chỉ lo tu, mà không xem lịch sử thì vị này nói hai vị Phật mình cũng gật đầu. Rồi câu chuyện đồn ra người ta nói mình không học, không tu gì hết. Cho nên ở đây nói: Tuy nhiên như thế song con về sau vì người mà cần phải xem.

    Mình học không phải để biện luận. Nhưng có những lúc, như lúc tôi còn ở Canada, một hôm trong buổi giảng có một Phật tử viết giấy hỏi: “Bạch Thầy, thiền sử có ghi Lục Hoàn Công bỏ con mèo trong cái bình, đúng không?” May là tôi có xem đoạn này. Tôi nói con ngỗng, không phải con mèo. Lục Hoàn Công bỏ con ngỗng trong cái bình đến hỏi Thiền sư Nam Tuyền: “Con nuôi con ngỗng trong bình, bây giờ nó lớn rồi làm sao đem nó ra mà cái bình không bể?”Con ngỗng mà họ nói con mèo, quý thầy nghe vậy kêu meo meo cho nó ra là thua rồi! Cho nên phải học.

    Thiền sư Trí Tạng nói:

    - Con bệnh, cần phải trị dưỡng, đâu dám vì người.

    Mã Tổ nói:

    - Con lúc lớn tuổi sẽ làm hưng thịnh Phật pháp ở đời hơn ta.

    Quả tình Thiền sư Trí Tạng sau này làm Quốc sư. Quốc sư là người không những thông về Kinh, Luật, Luận mà phải có công phu tu chứng. Cho nên Tổ thấy trước, Tổ dạy ngài phải ráng học, ráng tu, mai này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh.

    Mai kia đâu biết, có những vị thầy nhiều khi còn hơn những vị lớn đi trước. Tới chừng người ta thỉnh đi làm trụ trì mới học thì học không vô. Có những vị thầy đến tâm sự với tôi, hỏi tôi mượn tài liệu, tôi nói thôi trễ rồi, hồi đó ở chung với tôi, tôi nói ráng học, ráng tu mà không chịu. Bây giờ Phật tử thỉnh lên để cúng dường, xin thầy tác bạch, thầy nói thôi Phật tử lạy ba lạy đứng lên. Làm mất niềm tin hết! Mà có nhiều thầy như vậy. Rồi giảng mà không soạn bài, chẳng hạn bài pháp phải nói một tiếng rưỡi, mới nửa tiếng đã nói hết, không biết nói chuyện gì nữa.

    Các Thiền sư nói mưa lâu ngày mới thấm đất, quý thầy đọc thấy như không nhớ gì, nhưng mà thấm dần, thấm dần. Rồi mình tu nữa, đủ nhân đủ duyên quý thầy ra hướng dẫn thì Phật tử có niềm tin. Quý thầy đâu có ở đây suốt đời, có lúc quý thầy phải ra đi. Ra đi mà không biết Phật pháp, nhiều khi mình chỉ sai cho người ta, rất là tai hại.

    Thiền Lâm Bảo Huấn ghi, Thiền sư Minh Giáo nói:

    “Cái học của thánh hiền cố nhiên chẳng phải một ngày mà đủ. Ngày chẳng đủ thì kế học đêm, rồi chứa góp hằng tháng, hằng năm thì tự nhiên sẽ thành tựu.”

    Phải chứa góp hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, chứ không phải hô biến cái gì cũng biết.

    “Nên nói: Học để tu tập, hỏi để biện minh. Câu nói này có nghĩa là học mà không biện vấn thì không do đâu mà phát minh. Đời nay ít có những người học thường nêu ra câu hỏi để vấn biện với người như vậy, không biết đem cái gì để giúp ích cho tính biện trở thành cái lợi ích để đổi mới ngày càng sâu vậy.”

    Học là để tu tập, mà hỏi tức là để biện minh. Quý thầy tu, học thắc mắc gì phải hỏi Thầy Trụ trì liền. Nhiều khi không hiểu nhưng cho qua luôn, mà cho qua thì trí của mình không sáng. Quý thầy có điều gì chiêm nghiệm hoặc thắc mắc đem ra hỏi, mai kia quý thầy ra làm việc không có hối hận.

    Khi Hòa thượng qua Mỹ giảng pháp, có vị thầy ngày xưa ở Thường Chiếu đến hỏi Hòa thượng: “Bạch Hòa thượng, có một số Phật tử đến hỏi con Thiền Lâm Tế và Thiền Tào Động khác nhau như thế nào? Nhờ Hòa thượng chỉ lại.” Hòa thượng nói: “Giờ này mà chỉ gì nữa!”

    Bữa nọ có một thầy ở nước ngoài, Phật tử thắc mắc đến hỏi nhiều câu mà trả lời không được, điện về xin Thầy Trụ trì giải đáp những câu hỏi này. Quý thầy thấy hối hận không?

    Thiền thoại có ghi:

    Một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Vân Cư:

    - Đệ tử mỗi khi làm việc gì xong đều rất hối hận, xin hỏi Thầy vì sao con hối hận nhiều như vậy?

    Thiền sư Vân Cư nói:

    - Trước hết ông hãy nghe ta nói mười điều hối hận của ông như sau:

    1- Gặp Thầy không học.

    2- Gặp người hiền không kết giao.

    3- Thờ cha mẹ không hiếu.

    4- Đối với chủ không trung thành.

    5- Thấy việc nghĩa không làm.

    6- Thấy nguy hiểm không cứu.

    7- Có của cải không bố thí.

    8- Ái quốc không trinh sạch.

    9- Nhân quả không tin.

    10- Phật đạo không tu.

    Vị Tăng nghe xong thưa:

    - Mười điều Thầy nêu ra đúng là bệnh của con.

    Thiền sư nói:

    - Trong mười điều hối hận trên, ông đổi chữ “không” thành chữ “phải”:

    1- Gặp Thầy phải học.

    Quý thầy đến đây được gặp Hòa thượng, gặp Thầy Trụ trì, phải siêng tu, siêng học. Hòa thượng nuôi dưỡng quý thầy chừng mười, mười lăm năm, có đủ duyên thì đưa quý thầy đến trụ xứ một chỗ khác. Hiện nay rất nhiều nơi họ cúng dường đất, thiền viện xây dựng khắp nơi mà không đủ người. Hòa thượng, Thầy Trụ trì ráng đào tạo quý thầy có năng lực, có chỗ sống rồi thì đưa quý thầy ra làm việc chứ đâu phải ở đây hoài. Cho nên ở đây nói gặp Thầy thì phải học.

    2- Gặp người hiền phải kết giao.

    Mình gặp người hiền, người mà có pháp thì phải kết giao làm bạn. Mai kia khi ra trụ xứ một nơi nào đó phải cần những người này hỗ trợ cho mình.

    3- Thờ cha mẹ thì phải hiếu.

    4- Đối với chủ phải trung thành.

    Nghĩa là đối với Hòa thượng, đối với Thầy Tổ mình phải trung thành. Trung thành với pháp của Thầy mình dạy. Mình học pháp Hòa thượng, ở với Hòa thượng, ăn cơm Hòa thượng thì phải trung thành với pháp này. Chứ không phải mình học, mình nghe rồi mình tu pháp khác thì không đúng, người như vậy là không trung thành. Mình thấy đơn giản nhưng đều nằm trong nhân quả hết.

    5- Thấy việc nghĩa phải làm.

    Việc nghĩa đây là việc gì? Thấy người nào làm việc trung nghĩa hay nói khác hơn thấy người nào lo lắng cho đại chúng, mình phải bắt chước làm theo, chứ không được phỉ báng: “Ông đó làm vậy chứ ổng mà tu hành gì.”

    6- Thấy nguy hiểm phải cứu.

    7- Có của cải phải bố thí.

    8- Ái quốc phải trinh sạch.

    9- Nhân quả phải tin.

    Người tu mà không tin nhân quả đa số làm bậy hết. Không tin nhân quả, mình nói tôi trộm một trái cam, trái chuối, trái ổi gì đó thử xem có nhân quả không thì người này không phải là người tu.

    10- Phật đạo phải tu.

    Mười điều trên đây mình học rồi mình áp dụng thì không còn hối hận nữa.

    “Trước phải học Luật, sau học các bộ Kinh, chớ nên vượt bậc.”

    Trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận có kể:

    Vào thời Đức Phật, có một đoàn lái buôn, trong đó có một số thầy Tỳ-kheo quá giang, đi qua một khúc biển lớn, đến giữa biển thì sóng đánh thuyền vỡ tan rồi chìm xuống. Trên thuyền có một sa-di và một vị thượng tọa lớn. Sa-di nắm được miếng ván thuyền. Vị Thượng tọa kế bên, quá đuối sức vì không có gì để bám, quay sang hỏi sa-di:

    - Ông học luật chưa?

    - Dạ con đã học bốn bộ luật rất kỹ.

    - Ông học luật trong phần 24 oai nghi ông nhớ gì không?

    - Dạ con nhớ, vật gì ngon hay phần sung sướng thì phải nhường cho thượng tọa, sa-di thì nhận món dở hơn hoặc những việc cực khổ hơn.

    - Vậy ông phải nhường miếng ván cho tôi mới đúng.

    Vị Sa-di suy nghĩ: “Mình mới vào đạo, mới học bốn bộ Luật, chưa biết đạo gì hết, lỡ chết chắc chắn bị đọa. Còn vị Thượng tọa này dù sao cũng tu lâu năm hơn mình.”

    Rồi thầy suy nghĩ lại: “Giáo pháp của Phật thì quá cao siêu vi diệu, lời Phật dạy chắc chắn đúng, cái gì cũng phải nhường cho thượng tọa. Thôi thà mình chịu chết cái thân mạng này còn hơn là trái lời Phật dạy.”

    Sau khi nhường tấm ván, tự nhiên cung điện Long vương rung động. Thần biển quán sát biết được vị Sa-di sẵn sàng bỏ thân mạng để nhường tấm ván cho vị Thượng tọa nên dùng năng lực đưa vị Sa-di vô bờ. Sau đó thần biển sụp xuống lạy vị Sa-di:

    - Từ xưa đến nay con chưa từng thấy một vị thánh giả nào thà bỏ thân mạng mà giữ giới luật, thà chết chứ không trái lời Phật dạy. Con xin quỳ xuống đảnh lễ thầy, và xin thầy cho con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

    Cũng may là vị thượng tọa hỏi vị sa-di có học luật chưa. Nếu chưa học luật thì đâu biết mà nhường, ông chết mặc ông, tôi chỉ biết thế nào là thiền, thực tại là thiền thôi!

    Quý thầy thấy năng lực giữ giới không phải là chuyện đơn giản. Chẳng hạn trong gia đình có người mất, mình cung thỉnh những vị giữ giới thanh tịnh, có năng lực tu hành về khai thị hay chú nguyện thì năng lực thanh tịnh này tác động đến làm cho tâm thức người mất chuyển đổi.

    Cho nên trên đường tu dù gặp nghịch cảnh, thà chết chứ không bao giờ phạm giới của Phật thì mới đúng. Ví dụ như có người nữ nào nói, thầy mà không ra đời với em thì em tự tử chết. Quý thầy nói thôi tôi hành Bồ-tát đạo, thấy thương quá, là chết quý thầy liền. Thà mình chịu chết cái thân mạng này một kiếp còn hơn chết vì chuyện đó.

    Quý thầy đâu phải là đại Bồ-tát, mà thương chúng sanh kiểu như vậy. Mình chưa phải Bồ-tát, trước tiên phải học về giới, thực hành về giới. Mà thực hành về giới thì quý thầy là thánh giả về giới luật.

    Tuy mình xuất gia nhưng nhiều khi ít chú trọng về luật. Cư sĩ cũng vậy, nhiều người hiểu thiền rất sâu nhưng nói về giới họ lại lơ là. Bữa trước ở nhà khách tôi có tiếp một sư cô, tu đã mười bảy năm. Cô nói tình cờ nghe bộ Tỳ Nichúng tôi dạy ở đây, cô giật mình vì lâu nay cô chỉ chú trọng về Kinh, Luận của các vị Tổ mà không nghiên cứu về Luật. Sau khi nghe bộ Tỳ Ni, cô nói mười mấy năm trời tu coi như bỏ không, vì phạm vào những điều giới rất là nhiều. Sau khi nghiền ngẫm kỹ bộ Tỳ Ni, cô phát tâm chỉ ăn ngày hai bữa, sáng và trưa, như vậy cô cảm thấy ngày hôm nay mới gọi là thật tu.

    Ở đây nói trước phải học luật, sau học các bộ kinh, chớ nên vượt bậc. Đố quý thầy Tổ nói hay Phật nói? Mình tưởng Tổ nói chứ thật ra bậc đẳng giác cũng không có quyền nói về luật, chỉ có Phật nói.

    Người đời họ luôn sống trong ảo giác. Các thiền sư nói nếu chúng ta không chịu chuyển hóa tâm thức của mình, chưa một lần phát minh được tâm địa thì chúng ta luôn sống trong ảo giác.

    Tổ Tuyên Luật Sư dạy, giới luật là pháp điều phục thân và tâm. Các ngài nói mình xuất gia mà không nghiên cứu kỹ về giới luật thì giống như một con trâu hoang đi vào cuộc đời này mà không có dây ngoàm móc vào để kéo lại.

    Trong kinh Cựu Tạp Thí Dụ quyển Thượng có nói về công đức của người giữ giới.

    Vào thời Đức Phật, có bốn dòng tộc rất giàu có thường thỉnh Phật và các thầy Tỳ-kheo đến thọ trai cúng dường. Lúc bấy giờ, có anh nông dân chuyên bán sữa bò đi ngang qua khu nhà của bốn dòng tộc đó, những người này mời anh vào nhà cùng tu tập một ngày, tức là thọ Bát Quan Trai giới được Phật và chư Tỳ-kheo chứng minh. Thời Đức Phật, những người thọ Bát Quan Trai giới chỉ được ăn một bữa ngọ duy nhất. Chiều anh nông dân có duyên sự về nhà, người vợ buộc anh phải ăn buổi chiều, nói mãi anh buộc lòng chiều ý vợ, phá mất ý muốn giữ trai giới trong một ngày. Tuy vậy anh cũng được bảy lần sanh cõi trời, bảy lần trở lại nhân gian mà được phước rất thù thắng.

    Phật dạy:

    “Một ngày giữ gìn trai giới, tức là không ăn phi thời sẽ được sáu mươi vạn năm thường no đủ, được năm thứ phước đức thù thắng.”

    Nếu mình có túc duyên được vào thất hai mươi mốt ngày, sáng uống ly bột, trưa ăn một buổi nữa là đủ, chiều không ăn thì hai mươi mốt ngày đó phước đức rất thù thắng. Mình để ý người nào vào thất mà giữ gìn ngọ trai giới, khi ra thất nhìn khuôn mặt khác hơn người ăn ba buổi. Ăn ba buổi thì con mắt nó sưng, khuôn mặt nặng nặng không sáng bằng người chỉ ăn một bữa. Một ngày giữ gìn trai giới sẽ được sáu mươi vạn năm thường no đủ, được năm thứ phước đức thù thắng:

    1- Ít bệnh tật:

    Có những người bệnh rất nhiều, nhưng từ khi chịu khó chiêm nghiệm về giới luật, ăn uống có chừng mực thì bệnh càng ngày càng giảm.

    2- Thân được an ổn:

    Buổi chiều không ăn uống nhiều thì bảo đảm quý thầy ngồi thiền có chánh định hiện tiền, bởi vì cơ thể không còn nặng nề nữa. Những cuốn sách nói về sức khỏe gia đình cũng khuyên chỉ nên ăn ngày hai bữa. Người đời hiện nay họ thực tập rất nhiều, họ nói chỉ ăn nhẹ buổi chiều thì thân rất được an ổn và được sung mãn về con đường thiền định.

    3- Ít nghĩ về dâm dục:

    Dâm dục giảm rất là nhiều. Một phóng viên nhà báo viết về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, họ đến thiền viện nêu thắc mắc là những tu sĩ trẻ vào thiền viện tu làm thế nào vượt qua những cảnh giới tham ái, tham dục? Tôi nói, sở dĩ các thầy Tỳ-kheo hoặc các Sa-di vượt qua được cảnh giới tham dục này là do ít ăn uống, ít ngủ nghỉ và có giới luật câu thúc. Ngoài ra còn có pháp hành, tức là con đường thiền. Nhờ con đường thiền, mà những hạt giống xấu ác được chuyển hóa rất nhiều. Hạt giống xấu ác được chuyển hóa thì tự nhiên dục giảm.

    4- Ít ngủ nghỉ:

    Chiều ăn no, tối ngồi thiền dễ hôn trầm.

    5- Được sanh lên cõi trời, biết được việc làm của mình trong đời trước.

    Người này sau khi tắt hơi thở mà chưa được giải thoát, chưa được sanh về những cảnh giới cao hơn thì tệ lắm cũng sanh về cung trời Đao Lợi hoặc cung trời Đâu Suất. Do bản nguyện lúc thực hành về pháp, được phước thù thắng sanh về cõi trời.

    Bộ Hành Tông chép:

    “Trong cõi Đại thiên, Phật là bậc Pháp vương. Luật là lời dạy của Phật chứ không phải của Tổ.”

    Những bài chúng ta học, chẳng hạn Tỳ Ni, Mười Giới, Hai Mươi Bốn Oai Nghi là rút tỉa từ những bộ Kinh lớn, chẳng hạn bộ Sa Di Thập Giới.

    “Chỉ Phật mới được chế lập, từ Bồ-tát trở xuống chỉ nên làm theo. Bởi do Đức Như Lai hạnh quả tròn đầy, thấu suốt hết nghiệp tánh khinh trọng của chúng sanh.”

    Từ Bồ-tát trở xuống chỉ nên làm theo, thực hành thôi chứ không được quyền chế ra giới luật. Chư Tổ vị nào có đức hạnh cao thì chỉ lập thanh qui thôi chứ không được chế giới luật. Bởi do Đức Như Lai hạnh quả tròn đầy, thấu suốt hết nghiệp tánh khinh trọng của chúng sanh. Phật biết giữ được giới đó thì được phước thù thắng như thế nào, nên Phật nói ra. Không phải Phật ức thuyết mà bằng kinh nghiệm thực chứng của Ngài, cho nên Phật nói ra rất chính xác.

    “Từ bậc Đẳng Giác trở xuống cũng không kham nổi việc ấy huống là các tiểu thánh khác lại toan dám nghĩ bàn ư? Trước học luật như xuống hạt giống để vun bồi gốc ấy. Xong sau học kinh như tưới nước vào mạ làm cho cội gốc sung mãn, cành nhánh tốt tươi thì thánh quả có kỳ hạn.”

    Chúng ta học giới rồi chúng ta học kinh để hướng đến con đường thánh quả.

    Như Kinh Hoa Nghiêm nói:

    “Như người học bắn, trước chân phải đứng yên, sau mới tập pháp bắn. Cũng như có nền nhà nương cậy mà có nguồn cấp nước. Nếu trước học kinh như không có hạt giống mà tưới nước, hạt giống đã không thời chỗ nào mà thật cầu. Cho nên cần phải thứ lớp biết chỗ trước sau thì gần đạo vậy.”

    Nghĩa là trước chúng ta không lo học giới, giữ giới mà học những bộ kinh cao thì trong này Phật nói giống như mình không gieo hạt giống nào hết. Mà không gieo hạt giống thì tưới nước bao giờ nó nẩy mầm? Cho nên người chịu khó nghiên cứu về giới rồi học kinh nữa thì tự nhiên họ có năng lực riêng. Quý thầy mà giữ giới luật thanh tịnh, nếu có dịp người ta thỉnh đến khai thị cho người mất hoặc chia sẻ tâm hạnh tu hành của mình thì người nghe họ thâm nhập và nắm bắt được.

    Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

    “Giới luật hay khai phát tâm Bồ-đề, tu học là yếu tố trưởng dưỡng công đức. Nếu thường trì giới và tu học ắt được tất cả Như Lai khen ngợi.”

    Mới vào tu mà nói ngộ thiền, ngộ đạo thì rất hiếm. Những bậc thượng căn, chẳng hạn như Lục Tổ Huệ Năng hoặc các bậc thiền sư khác, nghe là ngộ liền thì đời này rất hiếm. Chư Phật, chư Tổ thương xót hàng hậu học nên nói về giới rất nhiều. Giới luật hay khai phát tâm Bồ-đề, có nghĩa là nếu chúng ta giữ giới luật được thanh tịnh, trang nghiêm, thu thúc được ba nghiệp thì tự nhiên hạt giống Bồ-đề càng tăng trưởng. Từ đó lúc nào mình cũng thích tu về đạo chứ không bao giờ có ý tưởng hoàn tục. Tu học là yếu tố trưởng dưỡng công đức, nghĩa là chúng ta chỉ trì giới mà không tu học cũng không được. Trì giới rồi phải tu, tu theo con đường Bát-nhã.

    Thiền sư U Pandita nói:

    “Không món trang sức nào quý báu hơn giới đức, không chỗ ẩn trú nào an toàn hơn giới đức, không một nơi nào thuận lợi hơn để cho trí huệ nở hoa bằng khu đất giới đức. Giới đức không phải là sự đẹp đẽ tô trát bên ngoài, như lớp tường vôi bao phủ những viên gạch tàng ẩn bên trong, nhưng những đức tính cao quý phát xuất từ phần sâu kín trong tâm hồn, chiếu sáng toàn thể con người đều là do giới đức hết.”

    Chúng ta trang sức dù sang, đẹp cách mấy mà không giữ gìn giới đức thì cũng không bằng một người nghèo khổ, áo quần bình thường nhưng giữ giới được thanh tịnh. Không chỗ ẩn trú nào an toàn hơn giới đức, không một nơi nào thuận lợi hơn để cho trí huệ nở hoa bằng khu đất giới đức,  nghĩa là chúng ta phát minh được tâm địa, thấy được như thật con người mình thì cũng nhờ giữ giới. Giữ giới một thời gian tự nhiên vào chánh định.

    “Tuy thế, dù cho giới luật thể hiện qua hành động và lời nói có được tốt đẹp đến đâu nữa cũng không đủ khả năng để đào luyện tâm. Phương cách cần thiết để giúp cho tâm trưởng thành, thấy rõ bản chất thật sự của cuộc sống, và đưa tâm đến một mức tri kiến thâm sâu chẳng có gì khác hơn là sự hành thiền.”

    Chúng ta giữ giới mà không thiền định, không tọa thiền thì cũng không được. Giữ giới được thanh tịnh rồi, thì phải thiền tập. Ở đây nói giới luật thể hiện qua hành động thân, khẩu, ý nhưng để đào sâu về tri kiến Bát-nhã thì không gì bằng con đường tọa thiền.

    Cho nên quốc sư Thánh Nhất nói:

    “Tọa thiền tông môn là đại giải thoát. Các pháp đều nương đây mà lưu xuất, muôn hạnh đều nương đây mà thông đạt, trí huệ thần thông diệu dụng đều nương đây mà sanh, tánh mạng trời đất cũng đều nương đây mà phát.”

    Một người đạt đến chỗ thiền định thâm sâu, thì các pháp từ đây lưu xuất. Chẳng hạn trong Lục Độ Ba-la-mật gồm bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ. Chỉ cần chúng ta thiền định sâu, phát minh được tri kiến thì tự nhiên thực hành bố thí rất đơn giản. Có những người tâm sự với tôi, mỗi khi phát tâm bố thí họ cắn rứt khó chịu lắm, phải suy nghĩ hai, ba ngày mới thực hiện được. Đừng nghĩ có tiền thì dễ phát tâm cúng dường, bố thí. Không phải dễ. Phải đạt đến chỗ tri kiến thâm sâu xuất phát từ nơi tự tâm. Để được như vậy là nhờ phương pháp tọa thiền, muôn hạnh đều nương đây mà thông đạt.

    Những người giữ giới luật một thời gian tự nhiên cử chỉ, oai nghi, phép tắc có mức độ dừng lại. Hồi xưa, họ bước chân đi rất nôn nóng như có cái gì phía trước họ muốn đi đến, bây giờ thì đi bình thường thôi, đi mà không cầu muốn đến. Nhiều khi muốn giỡn cũng không được, muốn vừa đi vừa chạy cũng không được.

    Trí huệ thần thông diệu dụng đều nương đây mà sanh… Chẳng hạn có người hỏi một câu gì đó, tự nhiên quý thầy biết được tiếp theo họ muốn nói gì, biết được cái niệm tiếp tục sanh khởi như thế nào. Biết được như thế thì mình hóa giải rất dễ. Tu thiền định một thời gian thì có diệu dụng đặc biệt. Nhà thiền nói đại cơ phải có đại dụng, tu một thời gian quý thầy sẽ thấy rất rõ.

    Trong Bạt Đội Giả Danh Pháp Ngữ có ghi:

    “Nếu muốn khỏi cái khổ sanh tử luân hồi thì phải sạch tình thức. Muốn sạch tình thức thì phải tỏ ngộ tâm. Muốn tỏ ngộ tâm thì phải tọa thiền.”

    Tuy giữ giới luật được phước nhưng công đức thù thắng chưa có, cho nên chúng ta giữ giới luật mà phải tọa thiền nữa.

    Chúng tôi làm nhà khách thường tiếp những người thuộc tôn giáo bạn. Có lần, tôi có tiếp một người gốc đạo Thiên Chúa ở Canada về, đến tìm hiểu về con đường thiền. Anh nói giới trẻ bây giờ tìm hiểu về thiền rất nhiều. Sau một ngày làm việc căng thẳng, họ ngồi lại nửa tiếng, mười lăm phút cảm thấy rất an ổn, nhẹ nhàng. Ngày xưa qua Canada, chúng tôi thấy bên đó rất thiếu người hướng dẫn về con đường thiền tập. Chúng ta được túc duyên rất sâu, được giữ giới, được tu tập thiền định. Người nào tu tập thiền định một thời gian mới thấy được lòng khát ngưỡng của nhân loại, ngày hôm nay họ luôn hướng đến con đường thiền tập. Chỉ có con đường thiền tập này mới hướng đến tâm linh, chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa những hạt giống tật đố, ích kỷ, tham sân.

    Chúng ta nếu không chịu thực tập về con đường thiền định này, nhiều khi ngồi thiền mình không biết cách chuyển hóa thì cũng vô ích. Chúng ta phải học hiểu pháp cho kỹ nữa. Chẳng hạn lên ngồi thiền, tự nhiên một vọng tưởng tật đố huynh đệ nào đó hiện lên, tồn tại, hoại diệt. Nhưng cái gì thấy được chỗ tri kiến, cái gì thấy được những hạt giống đó, thì chúng ta biết cách chuyển hóa.

    Cho nên Tổ Lâm Tế nói:

    “Người ngồi thiền mà trơ trơ không biết gì, giống như người đó bị chìm sâu trong định mà không phát khởi được chỗ tri kiến thì cũng vô ích.”

    Tổ Lâm Tế nói rất rõ. Chúng ta làm cách nào để chuyển hóa những hạt giống này. Quý thầy tu phương pháp thiền thì thấy rất rõ những hạt giống đó. Ví dụ chiều nay mình muốn đi dạo bờ hồ, vọng niệm khởi lên là thấy liền. Nhưng vừa khởi lên mình nói thôi không được, dù Thầy đi vắng mình cũng phải ở nhà tu học. Khởi như vậy, tự nhiên cái niệm đi chơi bạt mất. Lâu ngày chầy tháng thì những hạt giống xấu ác đó tự nhiên thưa dần rồi hết. Giống như cái kho luôn bỏ đồ vào thì càng ngày càng đầy, bây giờ rút ra hết không chất chứa những hạt giống xấu ác nữa, thì một thời gian nó trở thành Không Như Lai Tàng. Thành Không Như Lai Tàng rồi thì sạch tình thức, sạch tình thức thì tâm tự nhiên thấu suốt được hết. Phương pháp này đã có những người thực tập có kết quả.

    Tại sao có lúc mình toàn nghĩ thiện, có lúc toàn nghĩ ác? Có lúc chúng ta rất thương, thông cảm và muốn giúp đỡ huynh đệ. Nhưng cũng có những lúc chúng ta luôn khởi niệm tật đố, ích kỷ, xan tham, thấy huynh đệ nào làm được việc mình cũng không thích.

    Chư Phật nói, mình mang thân này gọi là tổng báo, còn chư Phật mang ứng hóa thân vào cuộc đời này. Trong thời quá khứ, có lúc chúng ta gieo những hạt giống thiện pháp, bây giờ trổ ra. Cũng có lúc chúng ta làm ác, thì bây giờ những hạt giống xấu ác nẩy mầm. Nhờ thực tập về phương pháp thiền, chúng ta biết cách chuyển hóa, biết cách sám hối, biết làm tất cả việc thiện pháp để hồi hướng những nghiệp xấu ác ngày xưa. Có những người ngồi thiền rất nhiều nhưng nếu không biết cách chuyển hóa thì cũng còn sân nhiều, những hạt giống xấu ác cứ khởi lên hoài. Biết cách chuyển hóa, thì dần dần những nghiệp xấu ác này không còn nữa, tàng thức sạch, lúc này tỏ ngộ được chơn tâm, gọi là người chơn chánh tu thiền. Đó là tinh thần thiền tập.

    Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

    “Nếu chưa thông suốt trí Bát-nhã thì đối với chơn tâm vẫn còn mờ mịt.”

    “Cần phải nương về nhất thể Tam bảo, sám hối tội lỗi trong ba đời, dùng giới luật kiểm điểm lỗi lầm.”

    Chúng ta chưa ngộ được tri kiến Bát-nhã như các vị Tổ thì chúng ta phải nương Tam bảo, sám hối tội lỗi trong ba đời. Sám hối rồi dùng giới luật để kiểm điểm lại lỗi lầm của mình. Chẳng hạn hôm nào thầy tri khố đi vắng, mình muốn vào kho lấy trái ổi hay trái chuối gì thôi, nhưng mà cái gì thấy được? Giới luật! Giới luật ngăn mình lại, không được trộm cắp của Thường trụ.

    “Ngăn ngừa sai quấy, dùng thiền định diệt trừ hôn trầm, thâu nhiếp tán loạn. Gần gũi bạn lành, tán thán đọc tụng kinh điển Đại thừa, dùng muôn điều lành để sửa trị. Nghe nhiều để ứng dụng tu tập hỗ trợ hiển bày chân tánh, tiến thẳng đến Bồ-đề.”

    Tức là luôn luôn chúng ta phải gần gũi bạn lành, gần gũi những bậc thiện tri thức, những người có tâm tu học.

    “Nghiệp chướng hết, thiền định vi diệu tự tỏa sáng.”

    Có một thầy ở thất riêng tu tập, đến trình bày với tôi, là thầy đã từng muốn chết. Ban đầu thầy định uống thuốc độc, sau đó thầy quyết định nhịn đói để chết. Tám ngày, tám đêm thầy không ăn không uống gì mà không chết. Đến ngày thứ chín vẫn chưa chết nhưng chịu hết nổi, thầy ráng bò xuống lấy gạo nấu nước cháo uống. Thầy hỏi tôi tại sao, thầy nhịn đói để dứt mạng căn mà không dứt được, không vượt qua được ngũ uẩn này. Còn các thiền sư tại sao ngồi nhắm mắt là đi?

    Như ngày xưa tôi trả lời không được, nhưng bây giờ may là nghiên cứu chỗ “nghiệp chướng hết, thiền định vi diệu tự tỏa sáng” thì tôi sáng ra được chỗ này. Tôi nói, nghiệp chướng chưa hết, hạt giống tham ái còn, thiền định chưa phát khởi thì bứt cái thân này không được. Mình nhịn đói mười ngày, hai chục ngày mà không thể nào vượt qua sắc uẩn này, bởi vì còn tâm tham muốn, tâm thèm ăn, thèm uống, thèm ngủ, thèm nghỉ, thèm tất cả mọi thứ, những hạt giống này vẫn còn. Còn các thiền sư bứt một cái là ra đi liền, bởi vì cái nghiệp của các ngài sạch hết rồi, không còn bám víu ở trần gian này nữa. Cái ăn, cái mặc các ngài cũng không dính mắc.

    Vị thầy này kể lại, nhịn đến ngày thứ bảy thì thấy trên bàn hiện ra toàn đồ ăn, mà không phải đồ chay tịnh lạc. Lúc còn ở tại gia, quý thầy thèm món gì nhất thì tự nhiên ứng hiện ra. Quý thầy nhớ kỹ, tu một mình không thầy hướng dẫn, không bạn đồng tu rất là nguy hiểm.

    Có một sư cô gặp tôi nói rằng, sau khi nghe xong bộ Tỳ Ni, tuy có làm việc nhọc nhưng cô quyết định chỉ ăn buổi sáng và trưa chứ không ăn buổi chiều. Cô kể, ngày xưa cô không màng đến bánh trái, thức ăn, thức uống gì cả, nhưng từ khi phát tâm không ăn buổi chiều thì thèm khủng khiếp. Cô chiến đấu với cái thèm đó một tháng, bây giờ mới được yên ổn. Chư Phật thấy nghiệp chúng sanh nên mới đưa ra phương pháp này, dần dần một thời gian quý thầy không còn thèm khát về ăn nữa, kế tiếp chúng ta học tập về phương pháp mặc, rồi đến ngủ. Dứt được cái này rồi thì nghiệp chướng, những hạt giống xấu ác không còn tác động trong tâm thức mình nữa.

    Ở Tây Tạng có câu chuyện hay và ý nghĩa:

    Có một vị Ban-thiền Lạt-ma hỏi Phật tử ai muốn lên Tây phương cõi Phật, thì ngài sẽ đưa lên. Chỉ cần ngài đặt tay lên thân của người nào thì thần thức người đó sẽ xuất ra, tái sanh về cõi Phật liền. Mọi người ai cũng nói muốn, nhưng khi ngài đến hỏi từng người thì người nào cũng có việc bận chưa thể lên cõi Phật được; người thì lo cho con, người thì phải lo heo, bò… Chỉ có một cậu bé không cha, không mẹ, không của cải, lang thang đi xin ăn là đồng ý đi ngay.

    Ý nghĩa câu chuyện thật là hay, có nghĩa là phải buông sạch hết. Bất cứ phương pháp nào, Thiền tông, Mật tông hay Tịnh độ tông đều phải dứt sạch tình thức, còn lợn cợn thì lên không được.

    Tôi có đọc một quyển sách, trong đó có đoạn phỏng vấn những người từng sử dụng ma túy nay đã cai nghiện. Họ kể rằng chỉ tích tắc sau khi chích hoặc hút, liền sống trong ảo giác. Ví dụ, thấy tiên nữ hoặc là thiếu nữ trẻ đẹp đi đến làm họ mê mẩn, nhưng thật ra đó là chiếc xe chạy tới tông vào họ.

    Ở đây theo tinh thần của thiền, nếu chúng ta chưa dứt sạch được nghiệp chướng, chưa đi sâu vào thiền định, chưa giác ngộ, chưa thâm nhập được tri kiến Bát-nhã, thì cũng giống như người chích xì ke luôn luôn sống trong ảo giác. Cho nên chư Tổ bắt mình phải giữ giới luật, rồi tu tập thiền định, sám hối để chuyển hóa những hạt giống này.

    “Trí huệ phát sanh thì chơn tâm thanh tịnh. Đã hay lợi ích chính mình lại còn thương xót những người chưa nghe, chưa biết. Do đó làm mọi nhân phước rộng rãi, thực hành đầy đủ lục độ, tiếp nối gia nghiệp của Phật Tổ.”

    Nghiệp chướng dần dần hết rồi, thì lợi chính bản thân mình trước, rồi giúp ích những người nghèo, không phải nghèo vật chất mà nghèo đói về tâm linh. Người giữ giới luật thanh tịnh trang nghiêm, tỏ sáng được chơn tâm rồi thì làm lợi ích rất nhiều. Không phải một đời tỏ sáng chơn tâm liền mà đời tiếp, đời tiếp,… Nếu không lấy đời này làm nền tảng thì đời sau bảo đảm quý thầy không có phần. Cho nên chư Phật, chư Tổ bắt buộc mình đời này phải nhận chân ra được, phải lập thành đường hướng đi, thì đời sau quý thầy chắc chắn ra đời giáo hóa chúng sanh.

    Ngài Milarepa là du tăng hành cước ở Tây Tạng, không ở chỗ nào nhất định. Bữa nọ ngài đến một tu viện lớn. Ở Tây Tạng rau cải rất hiếm, nên vị tri sự định sáng hôm sau xẻ thịt con trâu cho đại chúng dùng, phần còn lại đem bán lấy tiền lo cho đại chúng. Ông tính bán cái đầu ở chợ này, bán bốn cái chân ở chợ khác, còn cái đuôi tính hoài mà không biết bán ở đâu, tính suốt cả đêm không ngủ được. Sáng ra ông thấy ngài Milarepa còn ngủ không dậy ngồi thiền, ông đến đá ngài một cái và nói:

    - Ông tu hành kiểu gì vậy, suốt ngày ăn ngủngủ.

    Ngài Milarepa nói:

    - Tại vì đêm qua tôi thức.

    - Thức làm gì?

    - Tôi thức tôi tính xem con trâu bán cái đầu ở đâu, bốn cái chân bán ở đâu, còn cái đuôi tính hoài mà không biết bán cho ai.

    Vị tri sự nghe vậy liền sụp lạy.

    Người đã tỏ ngộ chơn tâm thấy được đường đi nước bước của niệm, cho nên họ khai thị liền tức khắc, như ngài Milarepa giáo hóa khuyên dạy vị tri sự. Người sạch nghiệp chướng rồi thì thiền định vi diệu tự phát, năng lực thù thắng tác động đến người nghe khiến họ về tu tập được. Cho nên ngày xưa Đức Phật nói một thời pháp có rất nhiều người nghe ngộ đạo. Nghiệp chướng hết rồi thì giáo hóa rộng rãi, làm nhiều lợi ích và lục độ vạn hạnh đều thành tựu.

    “Phàm học một bộ kinh, trước phải thưa thầy kinh đó, rồi lại bạch học kinh khác nữa.”

    Ngày xưa ở những vùng quê xa, chùa cổ, học xong một bộ kinh phải lên trình thầy, con học hết rồi, thầy cho con xin bộ khác, học kinh gì phải thầy cho mới được. Cạo tóc cũng vậy, muốn cạo tóc phải đến xin “Bạch thầy, xin thầy cho con sáng nay cạo tóc.” Chứ không phải tùy mình muốn cạo ngày mười hai, mười ba, hay mười bốn gì cũng được. Phải xin thầy.

    Ngài Đạo An tướng mạo rất xấu, thầy bắt làm ruộng chứ không cho xem kinh. Ở với thầy ba năm, một hôm ngài năn nỉ được xem kinh thì thầy cho kinh Biện Ý năm ngàn chữ. Sáng ra ruộng, chiều về ngài trả lại quyển kinh, xin thầy cho mượn bộ khác. Thầy ngạc nhiên nhưng cũng cho mượn bộ kinh Kim Quang Minh, một vạn chữ, chiều về ngài cũng trả lại. Thầy bảo ngài đọc cho thầy nghe, ngài đọc thuộc lòng hết quyển kinh một vạn chữ. Biết đây là bậc pháp khí, thầy bảo ngài đi về phương nam tầm sư học đạo.

    Người xưa thấy đệ tử giỏi là khuyên đi cầu pháp chỗ khác liền, bởi vì biết sức mình không đủ. Người thời nay không bằng người xưa chỗ đó. Sau này quý thầy có đủ túc duyên trụ trì rồi, đệ tử lên trình pháp, diễn tả tâm thức đã đi vào chiều sâu, nếu thấy mình chưa đến chỗ đó thì phải hướng dẫn đệ tử đi nơi khác để sau này làm pháp khí, vì nhiều khi đó là bậc tái lai. Chẳng hạn sau này Hòa thượng theo Phật rồi, thì cũng trở lại tìm con cháu đệ tử để làm đệ tử. Những vị này họ vừa nói là mình biết đây là bậc tái lai liền.

    Quả tình ngài Đạo An về hướng nam thì gặp ngài Phật Đồ Trừng. Vừa thấy là ngài biết đây là bậc tái lai, bậc pháp khí phi thường ra đời để dìu dắt loài hữu tình, cho nên ngài nhận làm đệ tử liền. Sau này ngài Đạo An trở thành bậc pháp khí rất thù thắng. Ngày nay tất cả chư Tăng đều mang họ Thích, đó là do công ngài Đạo An. Kinh sách được chế tác lại rất nhiều cũng do công sức của ngài.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Sa-di Phật pháp chưa nhiều, thấy biết chưa rộng, chẳng biết sự sâu cạn của Phật pháp, thứ lớp mà học, bạch thầy sau mới học, thì ôn cũ biết mới, mỗi ngày tiến đến sự lợi ích.”

    Tổ Tuyên Luật Sư dạy, mình mới học Phật pháp, thấy biết chưa rộng, cho nên học gì phải để thầy chỉ dạy cho mình.

    Đại Luật ghi:

    “Phật dạy Sa-di có hai phép học: 1- Tụng kinh và hiểu nghĩa. 2- Tham thiền và quán tưởng. Kinh Bát-nhã nói: thứ nhất học tham thiền gọi là mở trí, thứ hai học kinh gọi là rộng trí.”

    Sau này quý thầy dìu dắt người khác phải nhờ học kinh để dùng làm phương tiện.

    “Chẳng được miệng thổi bụi trên kinh.”

    Quý thầy có làm vậy không? Chẳng hạn quý thầy mượn cuốn kinh, để trên bàn một thời gian mình quên coi thì bụi bám. Nếu chúng ta chưa học luật, chưa học oai nghi phép tắc thì chúng ta thường dùng miệng thổi.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh điển tức như Phật. Trên kinh có bụi nên dùng phất trần sạch mà phủi. Nếu dùng miệng mà thổi có hai lỗi: thứ nhất là hơi hôi trong miệng, thứ hai là mất tâm tôn kính.”

    Ngày xưa các ngài nhìn quyển kinh giống như Phật còn tại thế, bụi dơ là các ngài dùng phất trần phủi sạch chớ không dùng miệng thổi, vì hơi hôi trong miệng mình thổi ra mất thanh tịnh và mất vẻ tôn kính. Có những vị Hòa thượng lớn dịch kinh, các ngài hít một hơi vô rồi nín hơi, dịch một hàng xong thở ra một bên rồi nín hơi dịch tiếp. Các ngài quý kinh tới mức độ như vậy. Như Thiền sư Pháp Diễn lạy kinh Pháp Hoa từng chữ, từng chữ. Các ngài tôn trọng kinh lắm, chớ không phải như mình.

    Kinh Văn Thù Vấn nói:

    “Sắm sửa đồ cúng dường mà lấy miệng thổi sạch bụi trên đồ cúng đó đọa trong địa ngục Ưu-bát-la, mắc quả báo làm ông thần gió.”

    “Chẳng được trên ghế kinh để gói trà cùng các vật lặt vặt. Người coi kinh, ta chẳng được đứng gần và đi trước ghế kinh người coi.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Phàm xem kinh ắt phải lắng tâm mà tư duy, nếu đi nhiễu trước mặt thì có hai lỗi: thứ nhất là mình mất vẻ cung kính, thứ hai là loạn tâm niệm của người coi kinh.”

    Đại chúng mình có bị không? Trên giá xemkinh mình để trà, để bánh, để đủ thứ hết. Còn người ngồi coi kinh, mình đi ngang trước mặt mình nhìn vào, làm loạn tâm khiến người ta không tư duy được mà còn mất vẻ cung kính. Cho nên học oai nghi rất hay, phương pháp này giúp mình kiềm thúc tâm vọng động.

    “Phàm kinh sách hư phải mau bồi sửa.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh điển chính là huyết mạch của thánh hiền, cũng nói là cha mẹ của người, nếu có hư hại phải gấp mà tu bổ. Vì sao? Kinh ví như cha mẹ, cha mẹ có bệnh há chẳng mau trị ư?”

    Kinh sách quyển nào hư, quý thầy phải sửa sang liền. Nếu không nhờ tôn giả A-nan trùng tuyên lại, thì chắc gì mình được những bộ kinh này, cho nên nói kinh điển chính là huyết mạch của thánh hiền, là tâm tông của Phật Tổ. Nhờ kinh điển mới biết đường hướng giữ giới luật, đường hướng tu tập chuyển hóa nội tâm.

    “Bổn nghiệp Sa-di chưa rồi chẳng được tập đọc sách ngoài, như sách tử sử và những sách trị đời.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Bổn nghiệp tức là việc bổn phận như mười giới luật chưa nhuần, hai mươi bốn oai nghi chưa đủ nên chẳng tập đọc pháp khác. Thứ nhất là Bách Gia Chư Tử, thứ hai là Tứ Thư, sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Ngũ Kinh là kinh Thi, kinh Thơ, kinh Lễ, kinh Dịch, kinh Xuân Thu.”

    Những bộ sách đó chúng ta không học. Bởi vì trí lực mình chưa đủ, nên Phật cấm mình không được học sách ngoại đạo.

    “Phải tập đọc kinh nội điển, nghĩa là Tam Thừa Thánh Giáo, khiến dạy tịnh tâm trừ hoặc, thấy tự bổn tánh đều là pháp xuất thế nên gọi là nội điển.”

    Nội điển là những quyển kinh chúng ta hiện đang học, chẳng hạn kinh Viên Giác mà Thầy đang dạy, hoặc kinh Pháp Cú… Những bộ kinh đó chúng ta nên học và nghiền ngẫm. Học những bộ kinh lớn là mình gieo những hạt giống thù thắng, pháp xuất thế gian. Những hạt giống pháp xuất thế gian đó vào trong tàng thức rồi, thì nó đánh bạt những hạt giống xấu ác. Khi lên ngồi thiền, phần nhiều mình nghĩ chuyện gì đâu chứ ít khi nào nghĩ về kinh điển, chứng tỏ hạt giống xấu ác trong tàng thức mình rất nhiều. Cho nên ở đây nói Tam thừa Thánh giáo khiến dạy tịnh tâm trừ hoặcthấy tự bổn tánh đều là pháp xuất thế nên gọi là nội điển. Mình xem những bộ kinh đó để tâm được lóng lặng, tức là trừ hoặc cấu.

    Kinh Phật Tạng nói:

    “Tương lai Tỳ-kheo thích tụng đọc kinh ngoài, đối lúc nói pháp, nghiêm sửa văn từ khiến người hoan hỉ. Ấy là các người là ma mê hoặc, che lấp con mắt trí huệ, tham nặng lợi dưỡng, giống như người mù vì chỗ cúng dối.”

    Chẳng hạn dẫn trích những văn từ bóng bẩy ở đâu đó chứ không nằm trong kinh điển, Phật nói đây là ma mê hoặc chúng sanh, che con mắt trí huệ của chúng sanh. Bởi vì sao? Tham nặng lợi dưỡng, giống như người mù vì chỗ cúngdối. Mình thích người ta cúng dường nên nói chuyện gì đâu đâu để người ta thích. Khi về thì họ sanh đủ thứ tâm, mà không biết đường hướng tu gì hết.

    Bộ Phụ Hành có nói:

    “Nếu muốn đọc sách ngoại thơ, theo trong kinh giáo Tiểu thừa, vì muốn dẹp bọn ngoại đạo nên mỗi ngày trong mười hai giờ cho một giờ học sách ngoại thơ.”

    Quý thầy Sa-di sau này thọ giới Tỳ-kheo rồi, tu được mười mấy hai chục năm, thì trong mười hai giờ được một giờ xem sách ngoại đạo. Vì sao? Chẳng hạn làm nhà khách, có những người họ đến hỏi trong Áo Nghĩa Thơ nói gì, quý thầy không xem sao biết. Như hôm trước tôi đã nói, Áo Nghĩa Thơ cũng nói về sự vĩnh cửu, về Niết-bàn thanh tịnh, chơn tâm… nhưng bị kẹt, bởi vì họ chấp một cái tự ngã, còn chấp về đoạn, còn chấp về thường, chưa phải con đường rốt ráo của chư Phật.

    “Chẳng được lựa kinh ứng phó đạo tràng mà tập học.”

    Vào thời Đức Phật, Sa-di hoặc Tỳ-kheo chỉ có hai con đường, thứ nhất là tự tu cho mình, thứ hai là độ tất cả chúng sanh. Nếu chưa đủ duyên ra giáo hóa chúng sanh, thì chúng ta chuyên về con đường thiền tập để giải thoát chính mình, rồi kiếp sau tiếp tục đi theo hạnh thứ hai là giáo hóa chúng sanh. Chỉ có hai con đường đó thôi, không có con đường thứ ba.

    Trong đại tùng lâm, quý Thầy cắt mình làm tri khố, tri sự hay làm tri khách, thư ký là tạm thôi, chứ con đường đó không phải con đường thánh đệ tử đi, nhớ kỹ điểm đó. Ngày xưa không có những việc đó. Sau này thanh qui Tổ BáchTrượng ra đời, mới chia ban này, ban nọ, ban vườn, ban rẫy… Mình tu tập thời này, chứ đúng vào thời Phật thì chỉ có hai con đường. Đến mức độ xây tháp thờ xá lợi của Phật, Phật dạy để hàng cư sĩ bạch y làm, Tỳ-kheo cũng không được làm.

    Như tiểu sử ngài Lai Quả:

    Bữa đó trong kho hết gạo, có một ông quan có người thân mất đến thỉnh ngài tụng một thời kinh được bốn mươi vạn quan tiền, vị tri sự thấy nhiều tiền nên vào thỉnh ngài:

    - Hòa thượng đi tụng đi, có gì đâu.

    - Chiều nay ông nấu cháo, hết cháo cho uống nước lạnh, lên thiền đường ngồi.

    Ở đây mình nêu ra cho biết, chứ bây giờ có những trường hợp, chẳng hạn thân nhân Phật tử mất đến thỉnh, thiền viện mình cũng có đi.

    Chẳng được lựa kinh ứng phó đạo tràng mà tập học, ý muốn nói mình đừng lựa những bộ kinh để học cho thuộc, tập tụng cho hay, đánh trống thổi kèn tụng đám thì ở đây không cho phép. Chỉ có hai con đường là tự lợi và lợi tha mà thôi.

    Bản thân chúng tôi nghiệm, người tu thật ra không tốn bao nhiêu, sáng uống một ly bột, trưa ăn một, hai chén cơm, áo quần cũng không cần nhiều, có tiền cũng không biết làm gì. Quý thầy nghĩ có tiền làm cái gì? Hưởng thụ nhiều thì phạm vào giới luật của Phật.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nghĩa là chỗ Như Lai nói trong Kinh điển thật là sâu xa kín nhiệm, cần yếu là người thọ trì tập đọc, tự lợi, lợi tha. Sa-di bổn nghiệp chưa thành, sợ tập khí hiện tiền, vì lợi mà quên mất giới phẩm.”

    Có những thầy Sa-di hoặc Tỳ-kheo ở thành phố tâm sự với tôi, đến nhà tín thí tụng rồi được cúng dường, riết rồi quen, bữa nào không đi thấy buồn buồn, thiếu thiếu. Tập khí hiện tiền thì tự nhiên quên mất giới phẩm, đi vào con đường lợi dưỡng. Từ con đường lợi dưỡng đó, tự nhiên nghĩ đến chuyện khác.

    “Chẳng được tập đọc kinh điển ngụy tạo.”

    Sa-Di Học Xứ ghi:

    “Nghĩa là dùng lời nói hoang đường nói bậy là lời của Phật để lừa dối kẻ ngu, như kinh Huyết Bồn, kinh Diệu Sa, kinh Phân Châu, kinh Cứu Khổ, kinh Bắc Đẩu, kinh Huỳnh Đình đều chẳng phải là Phật nói.”

    Những bộ kinh này quý thầy không nên đọc. Ở đây có ai biết kinh Cứu Khổ không? Quyển kinh nhỏ và mỏng có in hình Đại Sĩ Quan Thế Âm Bồ-tát đứng cầm nhành dương liễu đó. Hồi nhỏ tôi cũng tưởng là kinh Phật tôi đọc thuộc làu: “tu li tu lị ma ha tu lị tu lị ta bà ha”. Họ nói kinh của Phật nhưng mà không phải, các vị Tổ nói rất rõ.

    Trong luật có ghi, muốn biết đây là chánh, đây là tà, đây có đúng kinh Phật nói hay không thì phải dùng phương pháp: Thứ nhất là Tứ pháp ấn, thứ hai là Tam pháp ấn, thứ ba là Đệ nhất pháp ấn. Tứ pháp ấn là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Tam pháp ấn là Chư hành Vô thường, Chư pháp Vô ngã, Niết-bàn tịch tĩnh. Còn muốn phá các hàng ngoại đạo, chúng ta phải dùng cái ấn duy nhất. Tinh thần của Bồ-tát Long Thọ chính là Đệ nhất pháp ấn, là đến chỗ tột, phải có tư duy sâu sắc. Vào con đường thiền định rồi, thì tự nhiên có năng lực.

    Kinh Bách Duyên có kể:

    Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có việc đến một nơi nọ, nghỉ lại một đêm. Một cô gái thấy tướng mạo hai ngài thanh tịnh trang nghiêm nên đi theo và khởi lên niệm dục. Một người Bà-la-môn có thuật xem tướng tên Cù-dà-li, nhìn thấy niệm bất tịnh trên khuôn mặt người phụ nữ, nên phỉ báng hai tôn giả đã làm hạnh bất tịnh với cô. Ông đến trình với Phật, Phật bảo hai người này đã chứng thánh quả, đừng phỉ báng mang tội. Ông không nghe, cứ khăng khăng là mình đúng. Ngày thứ nhất trên người ông nổi lên một mụt nhỏ. Ngày thứ hai ông tiếp tục khẳng định với Đức Thế Tôn là hai tôn giả đã phạm giới bất tịnh, thì cái mụt của ông to lên bằng trái ớt. Ngày thứ ba mụt to bằng trái cóc rồi vỡ ra, ông chết đọa địa ngục.

    Lúc này các thầy Tỳ-kheo đến hỏi Phật tại sao Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã chứng quả vị A-la-hán mà còn bị nghiệp này. Phật nói vào thời quá khứ lâu xa, thời Đức Phật Ca-diếp, có vị Bích-chi Phật tu trong rừng, một cô gái chăn trâu cũng vào khu rừng đó. Lúc đó, hai vị nông dân là tiền thân của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, nhìn thấy hai người từ trong rừng đi ra nên phỉ báng vị Bích-chi Phật là đã phạm giới bất tịnh với cô gái chăn trâu. Hai nông dân sau đó chết đọa địa ngục vô lượng kiếp, rồi sanh làm người trải qua vô lượng kiếp bây giờ mới được gặp Phật. Phật nói bởi nhân duyên đó nên bây giờ bị phỉ báng lại.

    Các vị đệ tử lại hỏi tại sao hai tôn giả chứng quả vị A-la-hán rồi, mà không thị hiện cho Cù-dà-li thấy để ông ta khỏi phạm tội. Phật nói, người tu phương pháp Tứ pháp ấn và Tam pháp ấn không có năng lực thù thắng đó. Chỉ người nào thâm nhập vào Đệ nhất pháp ấn mới có được năng lực này.

    Phật kể tiếp một câu chuyện khác. Vào thời xa xưa có vị tiên nhân tu trong núi tên Định Quang. Một hôm ông vào rừng, năm trăm đệ tử của ông thấy một cô gái chăn trâu trong rừng đi ra, nên nghi thầy mình đã phạm giới bất tịnh. Ông nghĩ nếu không dùng thần lực, thì các đệ tử này đọa địa ngục hết, nên ông dùng thần lực bay lên hư không biến hiện mười tám pháp thần thông. Các đệ tử sụp xuống lạy và xin sám hối. Phật nói tiên nhân Định Quang chính là tiền thân của Đức Phật, còn năm trăm đệ tử là năm trăm thầy Tỳ-kheo này.

    Cho nên Phật khuyên các đệ tử phải thực hành Bồ-tát đạo, đi vào con đường Đệ nhất pháp ấn. Đệ nhất pháp ấn là tâm không, cảnh vắng, tâm cảnh nhất như. Đạt chỗ đó rồi, thì có thần thông diệu dụng, mới làm được nhiều lợi ích cho chúng sanh. Nên Phật dạy:

    “Trong đời tương lai có nhiều ác quỷ thọ sanh trong nhân gian thường ôm lòng ác thời khởi tranh luận, mỗi mỗi cầu ở danh xưng, lợi dưỡng. Ngụy tạo kinh thư và các phù chú, tự tán thán hủy hoại người khác, khiến người tu học chẳng biết chỗ nào, làm mù con mắt chánh, mất đi chánh tri kiến vậy.”

    Quý thầy phải nương những bộ kinh Đức Phật nói, ngoài ra đừng tập đọc cái gì khác, làm mất đi con mắt trí huệ của mình.

    “Chẳng được tập học sách coi số, chẳng được học tập sách coi tướng.”

    Cái này Phật cấm. Hồi nhỏ tôi cũng đi coi bói, thầy bói nói hai mươi sáu tuổi tôi sẽ giàu không thể tưởng tượng, nhưng hai mươi bốn tuổi tôi vào Thường Chiếu làm công quả mất rồi.

    Phật cũng cấm không cho đọc sách coi tướng. Coi tướng đúng chớ không phải không đúng, nhưng nhà Phật nói tướng không cố định, không nằm trong định nghiệp. Ngài Trí Khải Đại Sư kể:

    Bát tiên Trương Lão Quả nhìn sắc mặt ông Trần Châm nói ông ba tháng nữa chết. Sợ quá ông về nhà cầu cứu người em là Trí Khải Đại Sư. Ngài Trí Khải khuyên ông ngồi thiền sổ tức. Ba tháng sau Trương Lão Quả nhìn ông Trần Châm giựt mình, biết ông nhờ tu nên đã chuyển nghiệp.

    Huống nữa bây giờ tu phương pháp tri vọng, Diêm vương nào bắt quý thầy.

    Gần chín mươi tuổi Trần Châm mới chết, bữa nọ nằm mộng thấy trên cung trời Đao Lợi có một cung điện lớn, nói đây là cung điện của Trần Châm.

    Câu chuyện thứ hai:

    Vua Càn Long là một vị vua sống rất thọ, tám mươi chín tuổi mới chết. Ông thích học cung kiếm, võ thuật nên rất khỏe mạnh. Ông hay giả thường dân đi kinh lý. Bữa nọ trên đường đi, vua gặp một người gọi là Ma Y Thần Tướng, người này nhìn vua nói: “Ông này số ăn mày.” Vua nghe vậy cười. Ông thầy tướng sụp xuống nói: “Người này chính là Hoàng đế.” Vua Càn Long hỏi:

    - Hồi nãy ông nói tôi là ăn mày, bây giờ ông nói tôi là Hoàng đế. Ông căn cứ vào điểm nào?

    - Tướng ông rất xấu, nhưng khi cười, giữa hàm răng có một chiếc răng bằng ngọc, nên biết đây là Hoàng đế.

    Nghĩa là tướng không cố định. Nhiều khi nhìn người ta mình khi dễ, nhưng mà ẩn tướng tốt trong đó sao mình biết. Rồi người ta làm việc thiện, tu tập chuyển hóa nữa. Cho nên Phật dạy không được đọc sách coi tướng. Khi chấp vào rồi mê cái đó không lo tu tập, suốt ngày nhìn tướng lông mi, lông mày… hết tu được luôn. Quý thầy làm nhà khách dễ bị lắm. Khách vào mình nhìn một hồi, mà phải nhìn, nhiều người giả đò vào xin tiền, riết thành bệnh. Làm nhà khách dễ bị cái bệnh đó.

    Trong quyển Truy Môn Sùng Hạnh Lục có ghi:

    Thời Nam Bắc Triều có một vị Sa-môn hiệu là Trí Tạng ở chùa Khai Thiện, Trung sơn. Năm ngài hai mươi chín tuổi, một hôm trên đường đi gặp ông thầy tướng nói ba mươi mốt tuổi chết. Ngài về tụng kinh Kim Cang, lễ Phật sám hối, qua ba mươi mốt tuổi vẫn còn sống. Thầy tướng gặp lại giựt mình hỏi ngài làm phước đức gì mà tướng thay đổi hết, ngài nói tôi chuyên tụng kinh Kim Cang, lễ Phật sám hối. Thầy tướng nói Phật pháp thật là vi diệu.

    Trong quyển Sơn Am Tạp Lục ghi:

    Hòa thượng Kính Sơn người nhỏ bé, răng hô, miệng túm, ngài thành kính đảnh lễ Đại sĩ Quán Thế Âm Bồ-tát suốt hai mươi năm, tu tập tất cả thiện pháp. Hai mươi năm sau thầy tướng gặp lại ngạc nhiên, thấy tướng ngài đã chuyển, không còn như ngày xưa.

    Đức Phật ra đời ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là vô lượng kiếp ngài tạo phước đức thù thắng. Mình lỡ tạo nghiệp xấu thời quá khứ thì bây giờ ráng sám hối, tu tập để chuyển hóa.

    Trong Qui Sơn Cảnh Sách, ngài Qui Sơn có nói: “Đường đường Tăng tướng, dung mạo khả quan, là nhờ túc duyên đời trước các ông đã tạo nên được tướng thù thắng, bây giờ các ông phải ráng tu tập tiếp.”

    Còn nếu đường đường Tăng tướng mà dung mạo khả nghi thì mình ráng chuyển hóa.

    Như vậy chúng ta thấy rằng, tướng không cố định. Cho nên Phật cấm không cho coi số, coi tướng là để chúng ta ráng tu tập, ráng chuyển hóa. Có những người phước đức thù thắng nhưng ỷ lại, cống cao ngã mạn thì tướng tốt chuyển thành xấu.

    “Chẳng được tập học làm thi. Chẳng được viết chữ lồng, viết chữ hay, miễn viết nét ngay thẳng là đủ.”

    Thiền thoại có ghi, một vị thiền tăng đời Tống, bảy tuổi đã vào chùa, xuất gia lúc còn nhỏ, mười bốn tuổi làm văn rất hay. Ngài gởi một đoạn văn về cho mẹ, người mẹ nói con đi tu mà làm văn hay thì sau này con chỉ trở thành văn sĩ chứ không phải thiền sư. Ngài bỏ làm văn mà làm thơ, người mẹ nói dẫu con làm thơ thật hay thì sau này cũng chỉ thành thi sĩ. Ngài không làm thơ nữa mà làm họa sĩ, vẽ rất đẹp. Người mẹ cũng khuyên, con vẽ đẹp cách gì thì cũng chỉ là họa sĩ nổi tiếng thôi, chứ không giải quyết gì cho chính mình và cho người khác. Nghe lời khuyên của mẹ ngài buông hết, vào núi chuyên tâm tu đạo, sau trở thành một bậc pháp khí thượng thừa trong tông môn.

    “Chẳng được tay nhơ cầm nắm quyển kinh.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh điển chính là chỗ nói thanh tịnh diệu pháp của Như Lai, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh mới kham thọ trì.”

    Quý thầy đi tiểu tiện hoặc đi đại tiện xong phải nhớ rửa tay. Hòa thượng Trúc Lâm tuy lớn tuổi, nhiều hôm cảm nặng nhưng đi vệ sinh xong ngài cũng rửa tay. Tay không sạch cầm cuốn kinh coi, bị tổn phước.

    Truyện Hoa Nghiêm Kinh của ngài Pháp Tạng có ghi: Ở Tây Vức những vị sư rửa tay trước khi tụng kinh Hoa Nghiêm, trùng kiến nhờ thấm ướt nước rửa tay mà sau khi chết được sanh về cảnh giới lành.

    Ngài Pháp Tạng có kể, vào năm Văn Minh thứ nhất tức là 684, Ngài Tam Tạng pháp sư Nhật Chiếu người Trung Ấn Độ, phiên dịch kinh Hoa Nghiêm tại chùa Thái Nguyên, Ngụy Quốc, Tây tự ở kinh đô Trung Quốc, có kể câu chuyện:

    Ở trong thành của nước Chiêm Ba, Nam Ấn Độ, có chùa Tỳ-Sắc-Nô, tăng chúng ở đó học pháp Tiểu thừa và tu hạnh đầu đà, bài bác kinh điển Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Niết Bàn, cho những quyển kinh này không phải Phật nói.

    Một hôm có một vị tăng Ấn Độ đem quyển kinh Hoa Nghiêm để trong phòng của một vị trưởng lão. Vị này vào phòng thấy quyển kinh Hoa Nghiêm thì không vui nên đem vất xuống giếng. Tối đó, tăng chúng trong chùa thấy năm luồng ánh sáng đỏ rực từ giếng chiếu sáng khắp vùng. Các thầy Tỳ-kheo ngạc nhiên nhìn xuống giếng thì thấy quyển kinh Hoa Nghiêm phát ra năm luồng hào quang. Lạ một điều quyển kinh không ướt.

    Vị trưởng lão lúc này mới tin kinh này đúng là kinh Phật nói, bèn kêu các vị Sa-di xuống giếng đem kinh lên. Tuy nhiên, vị này cho rằng kinh này cũng không bằng bốn bộ kinh A-hàm nên để quyển kinh Hoa Nghiêm xuống dưới cùng. Sáng ra thì thấy quyển kinh Hoa Nghiêm nằm ở trên. Trưởng lão rầy các vị Sa-di vì tưởng các thầy để lên trên nhưng các thầy khẳng định không làm như vậy. Vị này lại thử một lần nữa, kết quả cũng thế, quyển kinh Hoa Nghiêm cũng ở trên cùng. Từ đó về sau tăng chúng chùa Tỳ-Sắc-Nô và dân trong vùng ai cũng tụng kinh Hoa Nghiêm.

    Quý thầy nghe vậy rồi đem kinh Hoa Nghiêm bỏ xuống giếng để thử xem có chiếu không, hoặc để bốn bộ A-hàm ở trên, kinh Hoa Nghiêm ở dưới, đố quý thầy, kinh có bay lên nằm bên trên không? Phật Tổ, các ngài khai thị chúng, chỗ nào mê thì các ngài thị hiện thần lực. Còn quý thầy có niềm tin về Đại thừa, có lòng tin Tam bảo thì các ngài không thị hiện ra các năng lực khác.

    Vua Tôn Hạo không tin Phật pháp, ông đem tượng Phật để ngay cầu tiêu, sáng nào cũng tiểu lên, hai ngày sau dương vật ông sưng lên không tiểu được! Quý thầy có lòng tin thì không có chuyện gì, nhưng mà có tâm ngạo mạn hay tâm gì khác, thì tự nhiên có chuyện ứng ra đến với quý thầy liền. Chẳng hạn quý thầy nói, giới luật này răn chúng vậy thôi chứ mình phá ai mà biết. Phật nói cho vui thôi, thì quý thầy phải coi chừng, không phải chuyện đơn giản.

    Hồi xưa ở Thường Chiếu có một thầy, khi vào thất thầy đem tượng Phật bỏ vô tủ khóa lại, thầy nói: “Tu mà còn thờ Phật.” Một thời gian sau mắt thầy mờ không còn nhìn thấy gì, không nhìn thấy tượng Phật được nữa.

    Thiền thoại ghi:

    Có một vị tăng chuyên hầm đầu heo ăn, bữa nọ ông thấy không phải đầu heo mà là đầu người trông rất dữ tợn. Người khác thì thấy đầu heo, chỉ mình ông thấy đầu người. Đó là do các vị Thánh ứng hiện cho thấy như vậy.

    Sách Khê Đường Tạp Lục ghi:

    Niên hiệu Nguyên Hựu có vị pháp sư người ở đất Thục, hiệu là Trí Siêu từng tụng kinh Hoa Nghiêm. Một hôm có vị đồng tử ở Ngũ Đài Sơn đến nói với ngài: “Thầy tụng kinh rất hay nhưng mắc lỗi là lúc lên nhà xí tẩy tịnh, nước dơ thấm vào tay rửa không sạch rồi nắm kinh điển, tôi tới để nói cho thầy biết.”

    Đồng tử này là ứng thân của Bồ-tát Văn-thù Sư-lợi. Cho nên mình phải học để biết.

    Kinh Nhân Quả ghi:

    “Tay nhơ cầm kinh thời mắc nhân quả làm con trùng trong nhà xí.”

    “Đối với kinh điển như đối với Phật, chẳng được giỡn cười.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh là lời của Phật, ba đời Như Lai đều cúng dường. Cho nên đối với kinh như đối với Phật, một câu kinh, một bài kệ nghìn kiếp khó gặp, vạn kiếp khó tìm.”

    Cho nên đừng đem kinh ra giỡn.

    Bà Võ Hậu Tắc Thiên không hiểu kinh Hoa Nghiêm, bà mời ngài Pháp Tạng đến giảng, đến phần thí dụ một con sư tử lông vàng biến hiện ra vô số sư tử gọi là trùng trùng duyên khởi, bà hoát nhiên đại ngộ. Bà làm bài kệ:

    Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

    Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp,

    Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

    Nguyện hiểu Như Lai nghĩa thiệt chơn.

    Bài kệ này tối nào mình cũng tụng, chính là của bà Võ Tắc Thiên sau khi bà ngộ kinh Hoa Nghiêm.

    “Một câu kinh, một bài kệ nghìn kiếp khó gặp, vạn kiếp khó tìm. Dẫu tụng đọc chẳng có thể hiểu nghĩa nhưng tụng đọc đó cũng gieo căn lành cho nên phải hết lòng cung kính, sao lại giỡn cười ư?”

    Dẫu mình tụng đọc mà không hiểu nhưng cũng gieo căn lành, gieo vào trong tâm thức những hạt giống Phật pháp rất lợi ích, sau này ra đời gặp nữa.

    Kinh Đại Trang Nghiêm quyển Sáu ghi:

    Thuở xưa có một thầy Tỳ-kheo học rộng nhớ nhiều, ở chỗ vắng vẻ. Có một quả phụ thường hay lui tới để nghe thầy nói pháp. Dần dà thầy Tỳ-kheo sinh tâm đắm nhiễm bà quả phụ. Vì có tâm đắm nhiễm nên các pháp lành dần dần yếu kém.

    Tức là học rộng mà không có tu. Pháp lành yếu kém, thì cổng giới hở ra. Quý thầy nhớ kỹ điểm đó. Sở dĩ, quý thầy giữ giới được thanh tịnh là trong suốt quá trình tu, từ nhỏ đến khi nhập diệt, pháp lành phải luôn luôn tăng trưởng thì cổng giới đóng lại. Các vị thiền sư, các vị giới sư giải thích, quý thầy phải công quả, chẳng hạn hành đường, trị nhật, làm tất cả các pháp lành thì cổng giới của quý thầy lúc nào cũng đóng kín. Chỉ cần ác pháp tăng trưởng là cổng giới mở ra để nuôi lớn những pháp bất thiện, chắc chắn sẽ phạm giới.

    Thầy Tỳ-kheo mê đắm bà quả phụ và phạm giới. Rồi thầy hoàn tục lấy bà quả phụ. Thầy tu mà hoàn tục thì sống rất khổ. Vì không có nghề nghiệp gì, nên ông làm nghề đồ tể, mổ dê mướn.

    Như vậy ban đầu ông phạm giới dâm, hoàn tục rồi phạm thêm giới sát.

    Một hôm có người bạn đồng tu, biết căn cơ ông sắp chín muồi nên tìm để cứu. Vị này biết bạn mình ngày xưa siêng tu, học giỏi, giữ gìn giới cấm nhưng không hiểu sao bây giờ lại làm việc này, cho nên nói bài kệ:

    Nếu không điều ngự ý,

    Buông lung gây điều ác,

    Tại sao không hổ thẹn?

    Lìa bỏ pháp điều phục,

    Oai nghi và cử chỉ,

    Làm người thích ngắm nhìn,

    Chim muông và cầm thú,

    Nhìn thấy cũng kinh sợ.

    Bước đi sợ giẫm kiến,

    Tâm từ thương chúng sanh,

    Tâm từ bi như thế,

    Bây giờ bỏ đâu rồi?

    Bài kệ nói, ngày xưa vị Tỳ-kheo này giữ giới thanh tịnh lắm, bước đi còn sợ giẫm chết kiến, vậy mà hôm nay một ngày giết không biết bao nhiêu con dê, tâm từ bỏ đâu rồi?

    Nghe thế vị đồ tể nghĩ: “Đây là bậc hiền trí, sư huynh đến cứu mình”, tự nhiên trong tâm thức ông nhớ lại đoạn kinh ngày xưa đã đọc: “Khổ nhóm do lỗi của dục, vị của dục.” Nghĩ vậy ông liền ném cái cân ra xa rơi xuống đất, sinh tâm nhàm chán đối với sanh tử, rồi xin vị sư huynh này cho xuất gia. Sau khi xuất gia ông ráng phấn đấu tu tập, ba tháng sau chứng quả vị A-la-hán.

    Các vị Tỳ-kheo đến thưa với Đức Phật rằng tại sao thầy Tỳ-kheo này phạm giới rồi mà tu nhanh như vậy. Phật nói: “Nếu có người tụng đọc kinh điển, tuy đã hủy giới hạnh nhưng nhờ năng lực tụng đọc kinh điển nên có thể đắc đạo. Vì ý nghĩa này cho nên Như Lai nói hãy siêng năng tụng đọc kinh điển.”

    Tụng đọc kinh điển tuy chưa chứng đạo nhưng những hạt giống thiện pháp được gieo trong tâm thức, một lúc nào đó năng lực thiện pháp này nẩy mầm, lớn mạnh, thúc đẩy mình đi đến con đường đạo quả rất nhanh. Cho nên ở đây nói siêng năng tụng đọc kinh điển để dứt bỏ những nghiệp ác.

    Trong Đại Luật ghi:

    “Cẩn thận chớ nằm đọc kinh. Nếu vừa biết mình mệt sanh tâm biếng nhác liền phải nhớ tưởng mạng người trong hơi thở, như cứu lửa cháy đầu, có thì giờ nào rảnh đâu mà hòng trễ nãi biếng lười ư?”

    Tôi thấy có những người nằm đọc kinh điển một lúc, rớt cuốn kinh trên bụng, ngủ một giấc luôn. Ngủ này gọi là ngủ phi thời. Quý thầy thấy đơn giản, nhưng trong giới nói ngủ phi thời rất là tổn phước, thiện thần hộ pháp không vui. Đa số người phá giới ngủ phi thời sau này đạo nghiệp hư hết. Cẩn thận chớ nằm đọc kinh điển. Có những người kỹ, ngồi đọc kinh cũng mặc áo hậu. Ngồi thì ít chứ nằm đọc rất dễ ngủ. Quý thầy rút kinh nghiệm.

    “Chẳng nên trên ghế so quyển lộn xộn. Chẳng được lớn tiếng động chúng.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nếu theo chúng tụng kinh tiếng phải cho đều và chẳng nên ỷ mình tiếng cao giọng tốt. Bằng mình tụng đọc tiếng phải nho nhỏ chớ động niệm đại chúng.”

    Thiền sư Mã Tổ ghi:

    Cử Phật âm thinh mạn thủy lưu,

    Phúng kinh hành đạo nhạn hành du.

    Chiêm tiền cố hậu khinh di bộ,

    Tả hữu hồi toàn bán chuyển mâu.

    So thủ đương hung như phủng thủy,

    Lập thân đỉnh thượng tợ an dầu.

    Oai nghi động tịnh thường như thử,

    Bất uổng nhơn gian tác Tỳ-kheo.

    Tạm dịch:

    Âm thinh tụng Phật nước tràn đầy,

    Đọc kinh hành đạo nhạn tung bay.

    Ngoảnh trước nhìn sau nhẹ dời bước,

    Phải trái xoay về nửa mắt thôi.

    Chắp tay ngang ngực như bưng nước,

    Lập thân trên đỉnh tợ yên dầu.

    Oai nghi động tịnh thường như thế,

    Chẳng uổng ở đời hạnh Tỳ-kheo.

    Âm thinh tụng Phật nước tràn đầy. Thiền sư Mã Tổ dạy mình tụng kinh phải thanh thoát, đều đều chớ không phải lúc lớn lúc nhỏ. Đọc kinh hành đạo nhạn tung bay. Con nhạn lúc nào cũng đi một hàng dài, mình đi như lúc đi ăn cơm, đi tụng kinh là rất tốt. Ngoảnh trước nhìn sau nhẹ dời bước, phải trái xoay về nửa mắt thôi. Muốn nhìn phải, nhìn trái thì chỉ cần đưa mắt qua, hoặc nhìn trước, nhìn sau thì xoay từ từ nhẹ nhàng chứ không phải quay nhanh nhìn thì trật oai nghi phép tắc. Chắp tay ngang ngực như bưng nước. Ngày xưa ở những chùa quê, các vị thầy kỹ, bắt đệ tử bưng ly nước phải ngang ngực để quen, sau này chắp tay là ngay ngắn ngang ngực, không được lên, không được xuống, như bưng nước vậy.

    Trong kinh A-hàm, có kể chuyện người tử tù bưng chén dầu bước đi mà không được làm đổ dù chỉ một giọt, nếu đổ liền bị chém đầu, trong khi xung quanh là những trò vui chơi ca hát. Ở đây nói lập thân trên đỉnh tợ yên dầu có nghĩa là mình đi phải thẳng, đứng phải thẳng, oai nghi phép tắc như vậy người ta mới kính. Oai nghi động tịnh thường như thế, chẳng uổng ở đời hạnh Tỳ-kheo. Hạnh Tỳ-kheo, ai thấy oai nghi phép tắc cũng thích, cũng muốn học pháp, học đạo với mình. Quý thầy nhớ đừng có vừa đi vừa chạy, hoặc vừa đi vừa cười, mất hết phép tắc oai nghi của người tu.

    Khi thỉnh chuông, hô chuông quý thầy nhớ đừng hô ráng. Đây cũng nằm trong oai nghi. Hô ráng nghe kỳ lắm, còn làm người nghe dễ động niệm: “Trời, hô lớn giống như đi đánh giặc vậy, nghe xót ruột quá!” Ngày xưa ai mà hô ráng như vậy là sáng hôm sau Hòa thượng chống gậy xuống hỏi: “Hồi hôm chú nào thỉnh chuông?” Hô nhỏ Hòa thượng cũng rầy, hô ráng Hòa thượng cũng rầy. Nên hô đều đều, đừng nhỏ cũng đừng ráng.

    “Chẳng được mượn kinh người coi không trả và không có tâm yêu tiếc đến nỗi hư rách.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Kinh pháp là cha mẹ của bậc tam thừa, thánh nhân đồng sanh tâm kính trọng. Đừng có khinh ta khinh người, bằng không kính trọng để cho hư rách thời mắc cái tội khinh pháp. Mượn mà cố tâm không trả thời mắc cái tội ăn trộm.”

    Mượn kinh xem xong nhớ trả liền. Nếu thích quyển kinh quá thì đến xin sư huynh hay sư đệ gì đó. Chừng nào người ta nói cho, thì mình mới giữ lấy. Mượn mà cố tâm không trả thì mắc tội trộm.

    Kinh Thập Giới ghi:

    “Hoặc mượn, hoặc lấy, hoặc cho ắt phải phân minh, chớ trái lời hẹn, mất tín tâm của người khác.”

    Mượn kinh coi xong phải trả đúng hẹn.

     

     

  • 5. 9. Vào Chùa Am

    9.

    Vào Chùa Am

    “Phàm vào cửa chùa chẳng được đi chính giữa, phải theo hai bên mà đi. Theo bên trái chân trái bước trước, theo bên phải chân phải bước trước. Trong Tây Quốc Tự Đồ có ghi: Trong khi ra vào đều day mặt ngó Phật hoặc kính lạy Tam bảo, thường tưởng Tam bảo chỉ đồng một thể.”

    Không đi chính giữa mà đi hai bên. Mình học oai nghi mình đi người ta nhìn là biết.

    Hôm nọ có một số người đến đây mượn chỗ thi ngồi thiền. Lúc đó Hòa thượng và Thầy Trụ trì đều đi vắng, họ đến gặp tôi nói khi ngồi thiền mặt sẽ ngó ra hồ, lưng xây lại tượng Phật. Tôi không đồng ý, tôi nói tất cả những người muốn đến đây mượn chỗ học ngồi thiền thì mặt phải hướng về Phật. Thứ nhất là mình tôn kính Đức Phật, thứ hai là những hình ảnh này đưa lên phim, người xem sẽ biết đây là Thiền Viện Trúc Lâm. Họ nhất định không chịu, nói Ban Giám Khảo đã quyết định như vậy. Tôi nói thẳng anh đến đây anh là khách, tụi tôi là chủ, nếu anh không chấp nhận thì anh ra đi, chứ ở đây không cho phép. Cuối cùng họ phải chấp nhận. Cho nên sau này quý thầy ra làm trụ trì mình phải có lập trường, có chỗ đứng của mình. Ở ngoài anh là quân vương, nhưng đến đây Pháp vương là tôn quý.

    Vua Triệu hỏi thiền sư Triệu Châu:

    - Quân vương quý hay Pháp vương là quý?

    Thiền sư Triệu Châu nói:

    - Ở quân vương thì quân vương quý. Ở Pháp vương thì Pháp vương là tôn quí.

    Người ta đến chùa mình, mình phải nêu ra cho người ta hiểu vấn đề đó.

    Theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển Mười:

    Thứ nhất là Biệt tướng Tam bảo: Nghĩa là Phật, Pháp, Tăng mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên Phật thành đạo ở cội bồ đề chỉ thị hiện thân trượng sáu, và lúc nói kinh Hoa Nghiêm đặc biệt hiện thân Lô-xá-na Phật nên gọi là Phật bảo. Các kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa được Phật nói trong năm thời gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát lãnh thọ giáo pháp của Phật tu nhân đắc quả thì gọi là Tăng bảo.

    Hướng về Tam bảo, mình chỉ nhớ Tam bảo đồng một thể thôi. Ở đây chia ra, thứ nhất là Biệt tướng Tam bảo: Phật thành đạo là Phật bảo, những quyển kinh Phật nói ra là Pháp bảo, và các thầy Tỳ-kheo tu chứng quả là Tăng bảo.

    Thứ hai là Nhất thể Tam bảo: Tam bảo Phật, Pháp, Tăng tuy có ba tên nhưng thể tính chỉ là một, chỉ là một thể tính linh giác của Đức Phật thôi.

    - Thứ ba là Trụ trì Tam bảo: Tức là tượng Phật, Kinh Phật và Tăng già.

    Đại Luật ghi:

    “Chẳng nên nhổ nước miếng nơi đất chúng Tăng. Hoặc thấy cỏ rác, đồ dơ bất tịnh mau phải dọn dẹp.”

    Quý thầy có khi nào khạc nhổ nước miếng trên đất chúng tăng không? Không khạc đờm đã đành nhưng ở đây không cho mình khạc nhổ nước miếng lên đất chúng tăng luôn. Nếu không học oai nghi phép tắc chúng ta dễ phạm lắm.

    Kinh Bộ Bản Di có ghi:

    Xưa tại thành Xá Vệ có một cô gái thân tướng rất trang nghiêm nhưng lại làm kỹ nữ. Tôn giả A-nan đến thưa với Phật:

    - Bạch Đức Thế Tôn, cô gái này thân tướng rất đẹp, đúng ra làm Hoàng hậu, nhưng tại sao làm kỹ nữ?

    Phật kể:

    - Vào thời Phật Ca-diếp, có một số cô gái đi vào một ngôi Tinh xá, một cô trong số đó thấy một bãi phân chó nên hốt dọn, trong khi các bạn không phụ gì cả. Cô mệt nên nổi sân nói: “Mấy con kỹ nữ này sao không hốt giùm.” Nhờ hốt dọn phân trước Tinh xá nên cô được tướng tốt đẹp, nhưng cái khẩu nói bạn mình là mấy con kỹ nữ, chỉ bao nhiêu đó thôi mà qua kiếp sau cô thành kỹ nữ.

    Quý thầy thấy không? Cái miệng của mình nguy hiểm lắm, quý thầy làm việc tốt nhưng hay càm ràm, nói ra nói vô gì đó thì cũng bị nhân quả.

    Trong kinh “Năm Trăm Vị Đại Đệ Tử Của Phật”, Phật nói về bổn khởi có nghĩa là nói về nguyên nhân của việc gì đó.

    Có một thầy Tỳ-kheo đã chứng quả vị A-la-hán, thân tướng thanh tịnh và trong suốt như lưu ly. Phật hỏi nguyên nhân nào thân tướng con được đẹp đẽ như vậy. Thầy Tỳ-kheo nhìn về thời quá khứ rồi nói bài kệ:

    Xưa con đi đến chùa,

    Thấy đất chùa không sạch,

    Bèn cầm lấy chổi quét,

    Dọn sạch các rác nhơ.

    Xong thấy chùa thanh tịnh,

    Trong lòng rất sướng vui.

    Nguyện lòng không trần cấu,

    Trong sạch như chùa này.

    Ngài nhớ ngài kể lại, vào thời Đức Phật Ca-diếp, ngài đến một ngôi Tinh xá, thấy đất chùa không sạch ngài cầm chổi quét. Quét xong ngài phát nguyện lòng được trong sạch, cho nên trải qua vô số kiếp đều được thân tướng như vậy.

    Có một số quý thầy không chịu quét sân, kiếp sau mang thân tướng xấu rồi đổ thừa cha mẹ. Chúng tôi làm nhà khách không quét sân cũng được, không ai bắt buộc, công việc quét sân tuy nhỏ nhưng được phước đức thù thắng.

    Bởi nhờ công đức này,

    Bất cứ sanh ở đâu,

    Sắc mặt luôn hòa ái,

    Đoan chánh không ai bằng.

    Con nhờ phước dư đó,

    Ở thân mạng sau cùng,

    Được cha mẹ yêu quý,

    Đặt tên là Tịnh Trừ.

    Con ở trong thân tộc,

    Lúc sống cũng trong lành,

    Mọi người đều kính yêu,

    Ngắm mãi không nhàm chán.

    Nhờ gặp Bậc Chánh giác,

    Bậc Đạo Sư tối thượng,

    Nên thành A-la-hán.

    Ngài sanh ra nơi nào sắc mặt cũng đẹp, mọi người ngắm ngài không chán. Trong kinh kể lại, người nào ngắm ngài thì tự nhiên phát tâm Bồ-đề, phát tâm xuất gia liền. Còn người ta ngắm mình mà chạy luôn, là mình tự biết nghiệp rất xấu.

    Thanh lương mà diệt độ,

    Chính nhờ chí nguyện ấy,

    Khiến lòng con vắng lặng,

    Chứng La-hán vô cấu,

    Hành nghiệp đều vô lậu.

    Giả sử quét dọn hết,

    Khiến thế gian trong sạch,

    Không bằng lìa dục ái.

    Quét dọn chỗ kinh hành,

    Như quét sạch thiên hạ,

    Và nơi đi kinh hành,

    Không bằng tại Tinh xá.

    Quý thầy quét ngoài đường, quét cho hết cả thiên hạ luôn không bằng một cây chổi quý thầy quét Tinh xá, quét chùa, quét Thiền viện. Ngài nói quét sạch hết luôn cũng không bằng quét tại Tinh xá mình. Ở đây có hai nghĩa, cái gì quý thầy cũng biết hết không bằng một niệm quý thầy phủi sạch hết những trần cấu, quét sạch ngôi đất tâm của mình.

    Giả sử quét dọn sạch,

    Tinh xá khắp thế gian,

    Không bằng tại Phật đường,

    Quét sạch một tấc đất.

    Có nghĩa là không bằng mình quét ngôi già lam của mình.

    Tự thân đã tạo phước,

    Nhờ đó biết diệu kỳ,

    Ngay khi quét nền chùa,

    Trong lòng rất hân hoan,

    Theo đó nên biết rõ,

    Đức của Phật cao thâm,

    Nên cúng thờ chùa Phật,

    Được vô lượng phước đức.

    Nay con tự nhớ lại,

    Việc thiện xưa đã làm,

    Quả ấy đều viên thành,

    Phật khả ý an lạc.

    Cho nên với chùa Phật,

    Tịnh tâm vui hiến cúng,

    Nhân giả đó đệ nhất,

    Phước điền không ai bằng.

    Quá khứ hay cúng dường,

    Nay an ổn vô lượng,

    Phá trừ sạch hoàn toàn,

    Dâm nộ si ngã mạn.

    Có nghĩa là mình phải luôn luôn cung kính quét chùa, quét đất tháp. Quý thầy được cắt lên bảng quét chùa mà không quét thì ngày đó tổn một ít phước. Cho nên nói:

    Cần tảo già lam địa,

    Thời thời phước huệ sanh.

    Mình quét chùa nhưng phải nhớ quét đất tâm của mình nữa.

    “Chẳng được vô cớ lên chốn đại điện dạo chơi. Chẳng được vô cớ lên tháp.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Tháp là tướng tràng phan của trời người. Không có tượng, xá lợi Phật còn chẳng nên lên huống nữa là có ư? Nếu chẳng vì cúng dường hoa quả, hương đàn mà vào điện tháp đều đắc tội khinh thường.”

    Chẳng được lên tháp của Phật hay là lên chánh điện dạo chơi.

    Vào điện tháp phải quanh bên hữu, chẳng được quanh bên tả.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Lễ tháp Phật phải quanh bên hữu như mặt trời, trăng sao quanh bên hữu núi Tu-di, chẳng được chuyển bên tả. Như Lai giáng sanh du hành bảy bước cũng từ bên Nam qua bên Tây, cho nên vào điện tháp phải từ bên nam mà qua bên Tây, từ Tây qua bên Đông. Lại nữa, người mà nhiễu bên hữu là biểu thị cho cái trí vâng thuận. Phàm là việc vâng thuận thì tất cả thảy đều thành tựu.”

    Quý thầy đi nhiễu phải biết, phải nhớ.

    “Đi nhiễu tháp hoặc ba vòng, bảy vòng nhẫn đến mười vòng, một trăm vòng, phải biết số mấy vòng.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Ba vòng là biểu thị cho thanh tịnh ba nghiệp.”

    Đi một vòng là biểu thị thân nghiệp, vòng thứ hai là khẩu nghiệp, vòng thứ ba là ý nghiệp. Nhiễu tháp ba vòng là tiêu biểu thanh tịnh ba nghiệp được trong sạch, được vắng lặng.

    “Ba vòng là biểu thị cho cúng dường Tam bảo, tức là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.”

    Ba vòng, tất cả đều tiêu biểu cho đức tướng của Đức Phật. Sau này nếu đủ túc duyên quý thầy được cư sĩ mời đi Ấn Độ quý thầy phải nhớ, đi nhiễu trật người ta nói rước ông thầy này đi uổng tiền. Mình bắt Phật tử đi nhiễu ba vòng, Phật tử hỏi đi ba vòng có ý nghĩa gì mình nói không biết là không được. Sẵn dịp mình thuyết một bài pháp luôn, ba vòng tiêu biểu cho thân, khẩu, ý…

    “Chẳng được hỉ, khạc trong điện hoặc tháp.”

    Kinh Thí Dụ có ghi:

    Thuở xưa có một vị quốc vương rất quý về đạo đức, thường kinh hành nhiễu tháp Phật. Hôm ấy, trong lúc ông đi kinh hành chưa đủ một trăm vòng, một vị vua nước láng giềng nghe tin ông đi nhiễu tháp thì bất ngờ đem binh đến đánh để chiếm đoạt nước. Các quan cận thần vô cùng hoảng sợ, báo lại và xin quốc vương tạm thời dừng nhiễu tháp, lễ kính để tiện chế ngự cường địch. Quốc vương đáp: “Cứ để cho chúng đánh sang, ta quyết không dừng nhiễu tháp.” Do tâm ý kiên định, nhà vua không dừng nhiễu tháp, kết quả quân địch tự tan rã.

    Qua câu chuyện này quý thầy thấy có ý nghĩa gì? Về sự, mình thấy năng lực mười phương chư Phật là bất khả tư nghì. Về lý, trong lúc đi nhiễu tháp tâm ta luôn chánh niệm, luôn thu thúc lục căn thì giặc tan rã. Giặc ở đây là giặc tham dục, giặc sân hận, giặc tật đố, ích kỷ, nếu chúng ta chánh niệm liên tục thì tự nhiên nó tan rã.

    Trong Kinh Đề-Vi, một vị trưởng giả bạch với Phật:

    - Bạch Đức Thế Tôn! Rải hoa, đốt hương, thắp đèn, lễ Phật ấy là cúng dường được phước phải rồi, còn nhiễu Phật được phước như thế nào?

    Phật dạy nhiễu tháp có năm phước đức thù thắng:

    1- Đời sau được thân tướng đoan chánh.

    Người có tâm kiên định nhiễu tháp đời sau sinh ra được tướng thù thắng, được người kính tín.

    2- Được tiếng tốt đồn khắp.

    3- Được sanh lên cõi trời.

    4- Được sanh trong nhà vương hầu.

    Được sanh trong nhà quý tộc và được gặp Phật pháp.

    5- Được đạo Niết-bàn.

    Sử sách ghi lại những vị Tổ phần nhiều thị hiện vô nhà vương hầu, do năng lực thù thắng, do nghiệp cảm duyên khởi. Còn thị hiện vào nhà nghèo rất ít. Sanh trong nhà vương hầu được thiện pháp thù thắng cho nên các ngài tu đạo chứng quả nhanh hơn người nghèo khổ. Đồng ý rằng Phật tánh là bình đẳng, nhưng những người sanh trong nhà quý tộc, vương hầu đa phần thiện pháp thù thắng hơn những người bình thường. Còn mình sanh trong gia đình nghèo khổ là mình biết nghiệp duyên mình cũng hơi xấu, thì mình vào đây công quả, làm tất cả các việc thiện pháp để những chướng duyên trên đường tu mình ít gặp.

    “Chẳng được lấy nón, gậy các món dựng vào vách chùa.”

    Chẳng hạn mùa mưa, đi tụng kinh quý thầy cầm cây dù, quý thầy dựng vách hay là bỏ xuống đất?

    Cách đây hai tuần có một đoàn nhà báo đến vào một buổi chiều trời hơi mưa, tôi vào thỉnh Thầy Trụ trì ra Chánh điện để họ phỏng vấn. Thầy cầm cây dù để xuống đất. Tôi để ý nhiều lần như thế, không bao giờ Thầy dựng bên vách chùa. Tuy mình thấy những vị lớn ít nghiên cứu về oai nghi, giới luật nhưng khi vào chùa các ngài đã thực hành từ lúc nhỏ rồi, đã thâm nhập vào tàng thức rồi cho nên các ngài hành động ra là có oai nghi phép tắc.

    Trong Sử 33 Vị Tổ, Tổ thứ 20, Tổ Xà-dạ-đa trong kiếp quá khứ được Thầy Bổn sư nói không bao lâu nữa ông chứng quả Tư-đà-hàm. Nhưng Tổ nghe có Bồ-tát Quang Minh ra đời nên đi đảnh lễ Bồ-tát. Khi về thì Thầy Nguyệt Tịnh nhìn khuôn mặt Tổ nói rằng:

    - Ông mất quả vị của ông rồi.

    Tổ hỏi tại sao thì Thầy nói:

    - Ông khinh cha trọng con.

    Khinh cha là sao? Khinh cha là khinh Đức Phật mà trọng con là trọng Bồ-tát. Bồ-tát dù sao đi nữa cũng là con của Phật. Bồ-tát hiện thân ra đời bằng sắc thân ngũ uẩn này nhưng cũng thua hình tượng của Đức Thế Tôn. Khi ngài đến đảnh lễ Bồ-tát, ngài dựng cây gậy bên vách chùa có thờ hình tượng Đức Thế Tôn, tức là dựng gậy vào mặt Phật cho nên ngài mất quả vị.

    Kinh Bửu Vương có ghi:

    Một vị hiền giả trên mặt tự nhiên xuất hiện chữ quốc vương. Một người giỏi coi tướng nhìn thấy định gả con gái cho vị hiền giả này. Vị này nói trước khi cưới vợ ông phải đến chùa lễ Phật. Khi đến chùa ông dựng gậy vào vách già lam. Vì sanh tâm kiêu mạn nên mất chữ quốc vương mà còn đọa trong địa ngục lớn.

    Những câu chuyện này nhắc nhở chúng ta điều gì? Chúng ta học oai nghi phép tắc của nhà Phật phải kinh nghiệm chỗ này. Nhiều khi mình nghĩ luật nói vậy chứ chắc gì có. Quý thầy có dám về dựng thử gậy không? Khi vừa khởi niệm như vậy là có tâm kiêu mạn, mà trong giờ phút thực tại khởi tâm kiêu mạn đó thì cửa ngõ ác đạo sẽ mở ra cho mình, nên trên bước đường tu mình gặp chướng duyên rất nhiều. Mà những cảnh giới này gọi là bất khả tư nghì, hàng phàm phu mình không biết được. Kinh Hoa Nghiêm Phật nói chỉ có Phật mới biết thôi.

    Qua bài Vào Chùa Am, quý thầy thấy được rằng nếu chúng ta chịu khó học oai nghi phép tắc thì việc tu hành rất mau tiến.

     

     

  • 7. 10. Vào Thiền Đường Phải Tùy Chúng

    10.

    Vào Thiền Đường Phải Tùy Chúng

    Trong hai mươi bốn bài oai nghi có những bài dạy về phép tắc oai nghi, nhưng bài thứ mười này chỉ thẳng vào phương pháp thiền đốn ngộ, để quý thầy lưu ý vào thiền đường mình phải làm gì.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Nhiếp tâm mà chẳng phân tán gọi là thiền. Chỗ mài giũa của bậc anh hiền gọi là đường.”

    Nhiếp tâm chẳng loạn gọi là thiền. Chỗ mài giũa của các bậc hiền đức, chỗ mài giũa thành Phật tác Tổ gọi là đường. Quý thầy vào trong đó mài giũa những gì? Mài giũa những tính chất cù cặn trong tâm thức của mình như tham, sân, si, tật đố, ích kỷ. Quý thầy lên thiền đường với tâm niệm như vậy thì tu rất tiến. Lên thiền đường mình có tâm niệm đây không phải là chỗ đơn giản, chỗ mình giỡn cười mà là chỗ thành Phật tác Tổ mai này.

    Thiền sư Phương Tụ Thành Trứ nói về Mười Bảy Pháp Tham Thiền:

    Một:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Cần nhất đừng lựa chọn,

    Chẳng rơi vào Thánh, phàm,

    Đâu chia chúng sanh, Phật.

    Tham thiền không hẳn là ngồi thiền, tham thiền ở đây chính là đi, đứng, ngồi, nằm. Pháp tham thiền quá thù thắng, không pháp nào thù thắng bằng. Mười phương chư Phật nhờ công phu thiền định nên mới thành Phật tác Tổ, cho nên ngài nói pháp tham thiền bậc nhất. Mà cần nhất là gì? Cần nhất đừng lựa chọn, chẳng rơi vào Thánh, phàm. Ở đây mình học qua phần đốn giáo. Tại sao nói chẳng rơi vào Thánh, phàm? Thánh là gì? Mà phàm là gì? Mình đừng nghĩ người chứng quả vị, đạt đến quả A-la-hán gọi là Thánh, còn mình chưa chứng quả gọi là phàm. Trong pháp tham thiền này không phải như thế.

    Có những lúc quý thầy ngồi yên tịnh, tâm lặng thông suốt, mình cho là rơi vào chỗ tịch lặng, đó là Thánh. Còn ngồi mà luôn dấy niệm tật đố, ích kỷ, xan tham thì cho là phàm. Nghĩ như thế là rớt vào Thánh hoặc rớt vào phàm.

    Thiền sư Triệu Châu nói: “Chỗ không Phật phải mau chạy qua, chỗ có Phật cũng đừng lưu luyến.” Chỗ không Phật có nghĩa là chúng ta khởi niệm dấy động liên tục, mình phải mau chạy qua, phải mau buông bỏ. Nhưng mà chỗ yên tịnh thì sao? Thì cũng đừng lưu luyến. Một người vợ rất đẹp và thùy mị ở ngoài đời mình có thể bỏ được, nhưng một người bước vào sơ thiền thì rất khó bỏ. Bởi vì cảnh giới tịch lặng quá, yên ổn quá cho nên mình lưu luyến, mình đắm chấp. Vì thế vào cảnh giới thiền tông thì các ngài nói: “Chỗ có Phật cũng đừng lưu luyến.”

    Trong Pháp Ngữ Thiền Sư Hư Vân có dạy:

    “Giả sử tám muôn bốn ngàn tạp niệm sanh diệt, người nào không thủ, không xả thì niệm niệm đều thành ánh sáng trí tuệ Bát-nhã.”

    Có nghĩa là giả sử trăm ngàn muôn cảnh đến cùng một lúc nhưng chúng ta không thủ không xả thì niệm niệm đều thành ánh sáng trí tuệ Bát-nhã.

    Qua phần này quý thầy thấy phương pháp tri vọng của Hòa thượng rất là khế hợp với đường hướng của các vị Thiền sư ngày xưa. Giả sử tám muôn bốn ngàn tạp niệm sanh diệt đến cùng một lúc thì cái gì thấy được những tâm niệm đó? Mình không thủ, có nghĩa là không giữ lại; không xả, có nghĩa đừng giống như khi bị một áp lực đè nén xuống mình phải buông xả, thì niệm niệm đều thành ánh sáng trí tuệ Bát-nhã.

    Theo phương pháp tri vọng của Hòa thượng, quý thầy ngồi thiền khi có vọng, khi không vọng đều biết hết. Trong khi biết, người nào lanh trí biết công phu, không có tác ý trên vọng thì không có đối đãi. Không có đối đãi thì chẳng rơi vào Thánh phàmđâu chia chúng sanh, Phật. Bao nhiêu vọng niệm sanh diệt đều không thoát khỏi cái biết, đều nằm trong ánh sáng trí tuệ Bát-nhã. Cho nên nắm bắt được phương pháp Hòa thượng dạy thì tu hành rất là tiến, công phu một thời gian quý thấy thấy có một điểm dừng, ăn uống ngủ nghỉ tự nhiên nó nhàm chán.

    Thiền sư Mã Tổ hỏi Thiền sư Thạch Củng:

    - Một mũi tên ông bắn được bao nhiêu?

    Ngài Thạch Củng đáp:

    - Một mũi tên tôi bắn được một con.

    Thiền sư Mã Tổ:

    - Ông bắn thua tôi rồi, một mũi tên tôi bắn một bầy.

    Đây là chỗ công phu của mình. Chỉ cần một cái biết thôi là mình bắn hết một bầy, bao nhiêu niệm sanh diệt không ngoài vòng kiểm soát của tri kiến Bát-nhã. Chẳng hạn quý thầy ngồi thiền, niệm có, niệm không, niệm phải, niệm quấy, niệm gì cũng biết nhưng không ngoài ánh sáng Bát-nhã, thì như vậy một mũi tên bắn được một bầy. Còn Thiền sư Thạch Củng thì sao? Niệm vừa dấy lên ngài tỉa rớt xuống, bắn có một con, như vậy rất mệt. Cho nên người ngồi thiền mà biết công phu thì họ tu rất nhàn, rất an ổn; đi đứng, ngồi nằm, nói năng, động tịnh họ công phu được hết. Chứ quý thầy bắn tỉa từng con thì rất là nhọc.

    Nhưng nhớ kỹ một điểm là đừng có hôn trầm. Nghe bắn một bầy quý thầy cho một bầy nó đến luôn thì dung túng vọng, mà dung túng vọng là đồng với phàm phu. Đây tôi dẫn chứng một câu chuyện nữa:

    Có một vị tăng hỏi Thiền sư Lâm Tế:

    - Chỉ như hành giả trong nhà đá đạp cối giã gạo mà quên giở chân thì nhằm chỗ nào mà đi?

    Người xưa hay lắm, nói không giống như mình, chẳng hạn đến nhà trù, nhà bếp, họ nói cái gì cũng ra đạo lý hết. Mà ông thầy phải biết. Chẳng hạn họ hỏi câu trên thì quý thầy trả lời sao? Trong nhà đá giã gạo là sao? Chỉ như hành giả trong nhà đá là vào thiền đường tham thiền, đạp cối giã gạo tức là đang công phu. Giã gạo mà quên giở chân thì nhằm chỗ nào mà đi? Quý thầy đạp xuống thì cái cần nó nhỏng lên, mà quên giở chân, cái cần nó không hạ xuống thì gạo làm sao giã trắng được?

    Thiền sư Lâm Tế đáp:

    - Chìm dưới suối sâu.

    Có nghĩa là đạt đến chỗ lặng quá nên chìm luôn, mơ mơ màng màng không biết gì hết, niệm có niệm không quý thầy cũng không biết, trong giờ phút thực tại này không có tri kiến Bát-nhã chiếu rọi vào cái niệm đó cho nên ngài nói là Chìm dưới suối sâu. Quý thầy nhớ là chỗ đó không được, phải vươn lên, phải vượt thoát lên thì lần lần quý thầy thấy pháp tham thiền này rất là thù thắng.

    Cho nên chiều nay chúng ta học qua phần công phu này để nắm bắt được phương pháp thiền của Hòa thượng. Tôi hay rằng có một số quý thầy ở đây nắm bắt phương pháp thiền của Hòa thượng không được, cho nên bây giờ tu mù mờ rồi tu đủ thứ pháp hết. Chính đó là xung đột về pháp. Xung đột về pháp rồi mai kia quý thầy ra hướng dẫn Phật tử không được. Phật tử bây giờ họ tu rất có kết quả, cho nên quý thầy phải nắm bắt cho kỹ.

    Sư nói tiếp:

    Chỉ có người đến mà không thiếu sót y, đều biết chỗ đến của y thì đúng.

    Có nghĩa là cho quý thầy chìm vào chỗ lặng lẽ yên ổn, không có vọng khởi nhưng không thiếu sót y. Đến chỗ đó lúc nào cũng có yY là gì? Là cái chánh tri kiến Bát-nhã, là cái biết. Cái biết này là chơn trí của Bát-nhã. Đều biết chỗ đến của y tức là niệm có, niệm không, niệm phải, niệm quấy, tất cả mọi thứ niệm đều biết rõ hết, Tổ nói như vậy mới là đúng. Trước sau gì mình cũng phải đến chỗ này. Thiền đốn giáo của Hòa thượng chỉ dạy, các ngài khẳng định luôn là toàn tướng, là toàn tánh. Ngay chỗ đương niệm là chơn, tức là vọng vừa khởi quý thầy biết được đó là chơn. Đó là pháp tham thiền thù thắng nhất các bậc Tổ sư để lại.

    Hai:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Đâu nhớ tháng năm gì,

    Đến bí lối, cùng đường,

    Thề chẳng ngộ chẳng nghỉ.

    Vào thiền đường là như vậy đó. Người tu đến giai đoạn quyết liệt thì ngày tháng, giờ giấc các ngài ít để ý đến.

    Một hôm vua Lý Thái Tông hỏi Thiền Lão Thiền sư:

    - Thầy trụ núi này bao lâu rồi?

    Ngài nói:

    - Chỉ biết ngày tháng này, ai hay xuân thu trước.

    Tức là tu quyết liệt!

    Ba:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Cần phải sớm ra sức,

    Sanh tử gấp đến nơi,

    Ăn năn e chẳng kịp.

    Pháp tham thiền thứ ba ngài nói Cần phải sớm ra sức, phải dụng công miên mật, tức là chánh niệm không xen hở. Ngài sợ gì? Sanh tử gấp đến nơi, ăn năn e chẳng kịp. Quý thầy thấy, chỉ là bệnh cảm hơi nặng một chút tu cũng không được nữa, nằm mà rên thôi chứ đừng nói sanh tử đến! Sanh tử đến các ngài nói mình giống như con cua bò trong chảo nước sôi vậy, tay chân co rút lại hết. Tùy theo nghiệp, năng lực nghiệp nó đẩy mình đến cảnh giới xấu ác, thọ thân lục đạo. Đừng tưởng tu rồi chắc chắn là tái sanh về cảnh giới lành.

    Cho nên phải công phu miên mật. Công phu một thời gian những tâm niệm tham ái tự nhiên rơi rụng. Chẳng hạn ngày xưa quý thầy thương huynh đệ nhưng có niệm luyến ái trong đó. Tu một thời gian mình cũng thương, cũng quý nhưng không còn luyến ái như ngày xưa nữa, thì mình biết rằng những hạt giống tham ái rơi rụng lần lần. Rồi ăn, quý thầy có gì ăn cũng được chứ không phải thèm muốn như ngày xưa, hạt giống thèm ăn cũng rơi dần dần. Uống cũng vậy, có gì uống cũng được, chiều nay có sữa uống cũng được mà không có sữa thì cũng vui. Những hạt giống tham ái rớt dần dần hết thì sanh tử làm sao đưa quý thầy đến những cảnh giới đó. Trong kinh diễn tả, người khát ái về ăn, khát ái về uống, vừa tắt thở thì nghiệp nó đẩy đến những cảnh giới đói khát chẳng hạn ở châu Phi, Afghanistan…

    Tôi xem Kinh Hoa Nghiêm, tức là cảnh giới viên dung vô ngại pháp giới của chư Phật, các ngài nói là những pháp giới mầu nhiệm trùng trùng duyên khởi. Như Trời Đế Thích, Phật không thể nào làm ra. Mười phương chư Phật cũng không tác động ra, mà do nghiệp lực, nghiệp chủng của chúng sanh. Nghiệp lực tức là sức mạnh từ nghiệp của chúng sanh đẩy đến thì tự nhiên nó biến hiện ra cảnh giới. Chẳng hạn có những nơi không bao giờ bị bão lụt, có những nơi thì bão lụt liên tục. Đó là do nghiệp lực của chúng sanh tạo ra chứ không phải trời đất nào tạo ra hết. Đốn cây, đốn rừng, rồi đào vàng, đào mỏ. Đào quá nhiều bây giờ trái đất nó bọng, nó sụp xuống, rồi sóng thần cuộn lên. Do nghiệp lực của chúng sanh tạo ra, quý thầy thấy rất là rõ. Cho nên ở đây nói sanh tử gấp đến rồi thì ăn năn hối hận không kịp. Chi bằng bây giờ mình ra sức mình tu, mình tham thiền.

    Tổ Lâm Tế dạy:

    “Này Đại đức, ba cõi không an giống như nhà lửa, đây chẳng phải là chỗ dừng ở lâu dài. Quỷ vô thường giết người chỉ trong chớp mắt, chẳng lựa sang hèn, già trẻ. Ông muốn cùng với Phật Tổ không khác thì chỉ đừng tìm cầu bên ngoài.”

    Ngài dạy ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới cũng không an ổn gì, cũng luân hồi, cũng đau khổ. Cho nên phải nhảy cho gấp, đây chẳng phải là chỗ dừng ở lâu dài được. Muốn cùng với Phật Tổ không khác thì chỉ đừng tìm cầu bên ngoài thôi.

    “Ngay một tâm niệm sáng suốt thanh tịnh là Phật pháp thân trong nhà của các ông”

    Có nghĩa là mình ngồi thiền mà yên ổn đó là Phật pháp thân.

    “Ngay một tâm niệm sáng suốt không phân biệt là Phật báo thân trong nhà của các ông. Ngay một tâm niệm sáng suốt không sai khác là Phật hóa thân trong nhà của các ông. Ba thứ thân này chính là người đang nghe pháp ở trước mặt của các ông.”

    Chứ không có ở đâu hết, đừng tìm cầu ở đâu hết. Chính trong giờ phút đang nghe pháp này, với cái tâm thuần nhất thanh tịnh thì ba thân tự đầy đủ.

    “Chỉ vì không hướng bên ngoài tìm cầu nên có được công dụng như thế.”

    Tức là luôn luôn phản tỉnh, thu thúc sáu căn thì tự nhiên ba thân ứng hiện chứ không tìm ở đâu hết.

    Bốn:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Chẳng hoãn cũng chẳng gấp,

    Chánh niệm chẳng hở thưa,

    Công phu phải miên mật.

    Chánh niệm của các ngài tức là vô niệm. Công phu theo tinh thần của thiền sư Lai Quả là mình không dính dáng gì hết, dầu cho muôn pháp cùng một lúc đến thì cũng không dính dáng gì. Người xưa công phu như mèo rình chuột, như gà ấp trứng vậy. Mèo rình chuột, con mắt nó lúc nào cũng nhắm con chuột. Các ngài dạy mình phải công phu đến giai đoạn đó, tức là luôn luôn phải chánh niệm miên mật. Như gà ấp trứng, con gà ấp trứng chẳng hạn ba ngày nở, mới hai ngày nó bước xuống thì gà con chết, không nở được. Cũng vậy, có lúc quý thầy siêng năng ngồi thiền ngày đêm, rồi có lúc bỏ ngồi thiền đắp mền ngủ. Ở đây ngài dạy chánh niệm chẳng hở thưa, công phu phải miên mật.

    Năm:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Cảnh duyên không dính mắc,

    Khoảng chớp mắt tình sanh,

    Liền khiến cho trí cách.

    Cái này cũng rất là khó. Đừng nói gì cao xa, chẳng hạn quý thầy xuống nhà bếp gặp trái táo để trên bàn, nhìn qua nhìn lại không có ai thì tình nó sanh chưa? Tình sanh liền! Nhưng nếu trong giờ phút thực tại này mà mình có tâm chánh niệm, có tâm giới luật miên mật, có tâm tàm quí thì tự nhiên tình không sanh mà trí tuệ Bát-nhã xuất hiện. Còn lấy trái táo bỏ vô túi thì tình sanh mà trí thì cách!

    Cho nên Tổ Lâm Tế nói:

    “Chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, chạm mắc đều là phải. Chỉ vì tình sanh, trí cách, tưởng dấy nên thể bị sai khác cho nên luân hồi trong ba cõi, chịu các thứ khổ. Nếu theo chỗ thấy của sơn tăng thì không có gì là không thâm sâu, không có gì là không giải thoát.”

    Bây giờ chúng ta học qua công phu của chư Tổ để có sự khích lệ trên đường tu. Ngài nói chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, bản thân tôi kinh nghiệm, sở dĩ chúng ta hay phạm giới điều của Phật vì mình hay cho nó gián đoạn. Còn mình luôn tâm niệm vào đây tu tức là dứt bỏ hết: bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ người thân quyến thuộc. Vào chùa rồi thì tiền đâu mà nuôi cha mẹ, không nuôi được thì chỉ nhờ công đức tu hành của mình thôi. Mai kia đủ nhân đủ duyên quý thầy có một ngôi chùa lớn hay nhỏ gì cũng được, rước cha mẹ về nuôi, hướng dẫn tu tập sám hối thì cũng trả được cái ơn.

    Đừng cho chạm mắc đều là phải. Đừng chạm mắc cái gì thì cũng đều là phải. Chỉ vì tình sanh, trí cách, vừa dấy niệm là tưởng nó dấy lên rồi. Cái thể nó sai khác cho nên luân hồi trong ba cõi chịu các thứ khổ nãoNếu theo chỗ thấy của sơn tăng thì không có gì là không thâm sâu, đều là Phật pháp, đều giải thoát hết. Không phải mình lên ngồi thiền mới là tu, xuống nhà bếp quý thầy lặt rau, không dấy niệm mà chỉ biết lặt rau, chỉ biết làm thôi thì giải thoát rồi, là thâm sâu Phật pháp rồi.

    Sáu:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Nhướng mày mở mắt to,

    Chẳng phải do người tìm,

    Ngộ chính nơi tự kỷ.

    Tức là ngộ ở nơi mình chứ không ở đâu hết. Bồ-tát Long Thọ nói người tu thiền cần nhất chỗ này, ngài khẳng định giới luật là da, định là thịt, trí tuệ là xương, ngộ ra diệu tâm của chính mình đó gọi là tủy.

    Bảy:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Lấy ngộ làm chuẩn tắc,

    Múa mỏ cùng khua môi,

    Có gì là dính dấp?

    Học giáo lý suông thì không dính dáng gì hết. Cho nên ở đây nói: “Pháp tham thiền bậc nhất, lấy ngộ làm chuẩn tắc.” Ngộ là ngộ cái gì? Quý thầy vào thất có ngộ cái gì không? Ở đây mình đừng nói đại ngộ như các ngài, nói tiểu ngộ thôi. Chẳng hạn ở ngoài đời quý thầy quý cái thân này lắm, sợ làm, ghét làm, mà bây giờ vào đây xả thân vì đại chúng thì quý thầy ngộ ra thân này không có thật, thân này vô ngã, nó không phải là mình. Là ngộ rồi. Lấy ngộ làm chuẩn tắc  từ cái ngộ đó quý thầy bước vào công phu rất là yên, tức là ngộ đến chỗ vô ngã.

    Có ông người Mỹ đang tu ở Thiền viện, ngồi thiền rất giỏi, ngồi như pho tượng, lưng thẳng đứng. Thầy Tĩnh Đàm hỏi:

    - Ông ngồi thiền hai tiếng có đau không?

    Ông nói:

    - Đau lắm chứ. Nhưng khi đau tôi tự hỏi ai đau, hỏi vậy tự nhiên hết đau.

    Nghĩa là cũng có phương pháp. Ông nói ông ngồi đến một tiếng rưỡi, đau nhức chịu không nổi thì ông phản quan lại: Ai đau? Cái gì đau? Tự nhiên một hồi hết đau.

    Thiền sư Trung Phong nói:

    “Chưa ngộ phải thường lo niệm.”

    Ngài nói mình chưa thật sự ngộ, trong tích tắc, trong một khoảng sát-na mình chưa nhận diện ra được đạo, thì chưa ngộ phải thường lo niệm. Tức là phải luôn tha thiết nghĩ về đạo, luôn nghĩ mình vào đây tu để làm gì.

    Ngài nói tiếp:

    “Đã ngộ càng phải giữ gìn như bưng đĩa nước, như giữ tròng con mắt, như đi trong chỗ nguy hiểm, như cầm vật báu, như đối trước vua, trước Thầy, đây là giữ gìn đạo vậy. Giữ gìn tức là tu, phải thấy đạo rồi mới tu, chẳng thấy đạo làm sao mà tu?”

    Đây là vị thiền sư nổi tiếng nhất đời nhà Tống, là đệ tử của thiền sư Cao Phong rất nổi tiếng về pháp môn đốn giáo.

    Ngài nói chưa ngộ phải thường lo niệm, đã ngộ càng phải giữ gìn… Có những vị hành giả sơ ý chỗ này, chẳng hạn có một lúc nào đó quý thầy thấy được chỗ đến đó rồi thì ỷ lại xông pha, tức là “thõng tay vào chảo” luôn, phỏng mình phỏng mẩy hết. Ngộ rồi như giữ tròng con mắt, phải luôn luôn chánh niệm thu thúc, đừng nghĩ mình biết chút ít về đạo rồi thì buông thả tự do, tự đại. Thấy đạo rồi mới tu, chẳng thấy đạo làm sao mà tu? Quý thầy có đủ nhân duyên được Thầy Trụ trì cho vào thất bốn mươi chín ngày, hoặc hai mươi mốt ngày phải ráng cố gắng tu để thấy một điểm. Một điểm là tôi tạm nói, chứ quý thầy tìm một điểm là trật. Nghĩa là có niềm tin về đạo rồi thì quý thầy mới ở suốt đời trong tùng lâm được. Nếu không còn đủ duyên ở đây, mà đi chỗ khác thì suốt cuộc đời quý thầy cũng cạo đầu nửa tháng một lần. Còn không thấy đạo, tu một thời gian quý thầy sẽ thấy chán. Tu chừng mười năm trở lên mà không thấy đạo thì tu cũng cứ lờ lờ, rất dễ muốn hoàn tục.

    Có người hỏi ngài: “Đã ngộ rồi đâu cần phải tu.” Ngài đáp: “Tập khí do nhiều kiếp huân tập, không thể nhất thời mà sạch hết nên cần phải tu, tu đến vô tu, sau đó mới đồng với chư Phật, vì thế cái tu này là một điều rất khó.”

    Ngài nói rất là rõ. Có những hành giả ra trình kiến giải với Hòa thượng, với Thầy Trụ trì thì đồng như chư Phật vậy, nhưng rồi đến hỏi Hòa thượng sao có lúc cũng còn tham, cũng còn sân? Họ không biết tập khí mình vẫn còn. Phật nói giống như giấy gói con cá, bỏ con cá ra giấy cũng còn tanh. Rồi một bó hương gói lại, bỏ bó hương ra giấy cũng còn thơm. Tập là nhóm họp, khí là hơi hám. Hơi hám nhóm họp vô lượng kiếp rồi bây giờ gạt lần lần ra. Tu chỉ bấy nhiêu thôi, chỉ là gạn lọc vọng tưởng chứ không cần gì nữa hết. Tu đến chỗ vô tu rồi thì đồng với chư Phật, tức là giữ giới mà không thấy giữ giới nữa. Lúc nào quý thầy cũng ở trong cảnh giới mô phạm của mười phương chư Phật, thì lúc đó giới cũng không cần, oai nghi phép tắc cũng bỏ hết.

    Tám:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Vốn không bày hình thức,

    Mỗi duyên ngộ khác nhau,

    Chẳng câu nệ kiểu cách.

    Pháp tham thiền rất thù diệu, đặc sắc. Thiền ở Ấn Độ là thiền Ấn Độ, nhưng qua Trung Quốc là thiền của Trung Quốc, qua Nhật Bản là thiền của Nhật Bản, đến Việt Nam là thiền Việt Nam, thiền của Sơ Tổ Trúc Lâm Đại Đầu-đà.

    Chỗ này rất là đặc biệt, vốn không bày hình thức, chẳng hạn chiều lại quý thầy đi yên tịnh lim dim cặp mắt mà vọng tưởng quá chừng cũng không được. Không bày hình thức  mỗi duyên ngộ khác nhau. Đức Phật thấy sao mai ngộ, nhưng Lục Tổ nghe câu kinh “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, ngài ngộ ra và tìm đến Ngũ Tổ.

    Đừng nghĩ rằng Lục Tổ nghe kinh ngộ, mình cũng phải làm cách gì đó đọc kinh cho ngộ, mỗi duyên nó khác. Mỗi hình thức, mỗi địa phương, mỗi sự tu tập, hành pháp của mỗi người thì mỗi duyên ngộ nó không đồng. Thiền sư Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo:

    Tam thập niên lai tầm kiếm khách,

    Kỷ hồi lạc diệp kỷ trừu chi,

    Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,

    Trực đáo như kim bất cánh nghi.

    Ba mươi năm qua tầm kiếm khách tức là tìm ông chủ. Những sanh diệt vô thường của muôn pháp đến ngài cũng chưa ngộ, chỉ khi thấy hoa đào ngài mới ngộ. Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn nghe tiếng sỏi ngộ đạo. Thiền sư Lâm Tế thì bị ngài Hoàng Bá đánh ba gậy. Hôm nào quý thầy xuống nhà bếp làm việc chậm bị thầy tri khố mắng mà tâm thức quý thầy rỗng rang không có niệm thứ hai thì đó là ngộ rồi.

    Năm 1998 chúng tôi lên đây, khí thế tu thiền ở đây giống như thời Tổ Lâm Tế, thời Tổ Hoàng Bá vậy. Quý thầy lớn ở đây tu là phải ngộ đạo. Cũng có những vị ngộ đạo nhưng ra làm việc sớm quá cho nên bị mất mình. Ngộ rồi còn phải trưởng dưỡng nữa.

    Chín:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Tâm không quên tự kỷ,

    Nếu núi ngã mạn cao,

    Không có ngày liễu thoát.

    Cái này rất khó. Cổ Đức nói, trong các thứ chướng nạn của sự tu, ngã mạn là chướng đạo nhất. Chẳng hạn quý thầy học luật, Phật dạy người phạm giới trộm cắp trong tùng lâm sẽ bị đọa địa ngục hay đọa lạc những cảnh giới xấu ác, quý thầy liền khởi niệm: “Để tôi thử coi, tôi vô kho lấy đồ thử xem có bị đọa địa ngục không.” Đó là đại chướng đạo, chắc chắn trong giờ phút thực tại đó, quý thầy đã che lấp đi cái tự tánh thanh tịnh của mình, mà các cửa độc hại nhất sẽ mở ra đón nhận sự độc hại đó. Cho nên ở đây nói: Nếu núi ngã mạn cao, không có ngày liễu thoát.

    Thiền sư Đạo Nguyên nói:

    “Học Phật là học quên chính mình, học chính mình tức là quên chính mình.”

    Quên ở đây nghĩa là cái núi ngã mạn của mình càng ngày càng thấp xuống, phải kính trên, nhường dưới, ai nhờ việc gì cũng làm: nấu cháo cảm, nấu cá cho chó ăn, quét thiền đường, bữa củi, nấu cơm… Nếu mình có sức, sẵn sàng làm tất cả việc mà chúng nhờ thì tự nhiên cửa giải thoát sẽ mở ra. Không phải mình lên thiền đường mới giải thoát. Lên thiền đường ngồi hai tiếng mà ngủ một tiếng rưỡi làm sao giải thoát? Chi bằng vừa làm vừa tu.

    Tôi cũng nói thẳng điều này, chẳng hạn quý thầy được phân công làm việc, quý thầy không bệnh nhưng lại báo là có bệnh để khỏi làm thì bị nhân quả liền. Tôi kinh nghiệm điều này: Ở Thường Chiếu từng có những thầy sau này nói rằng rất hối hận, nhưng hối hận thì đã muộn. Nếu báo bệnh mà bệnh thật thì không sao, chứ quý thầy báo dối là bảo đảm dính nhân quả.

    Mười:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Là con đường thẳng tắp,

    Đập vỡ nát Lao quan,

    Đáng là trang tuấn kiệt.

    Chỗ này hơi cao một chút, chưa làm được nhưng phải học. Quý thầy học qua tinh thần của Thiền sư Lai Quả rồi thì bảo đảm từ đó về sau không ai dám bắn bổng nữa. Xem ngữ lục của ngài thì có nước lo tu chứ không dám nói gì hết.Pháp tham thiền bậc nhất tức là thù thắng lắm, là con đường thẳng tắp, là đi máy bay chứ không phải đi xe lửa.

    Lao quan là gì? Quan là cửa. Trong Ngữ Lục của Thiền sư Lai Quả có chia ra ba cửa cho người học: Sơ quan, Trùng quan, Lao quan.

    1Sơ quan:

    Hằng ngày đối với muôn pháp quý thầy tỉnh ráo không dấy niệm, nhưng tối ngủ mơ thì lại phạm giới. Chẳng hạn người xuất gia có ai đưa đùi gà thì không bao giờ ăn, nhưng tối ngủ mơ, có người kể lại mơ thấy ăn đùi gà, thậm chí uống rượu luôn. Có người còn mơ thấy ăn thịt chó lá mơ… Có người nói bốn năm đầu đều nằm mơ thấy ăn mặn, năm thứ năm mới dứt. Đó là Sơ quan, cửa thứ nhất bước qua không nổi.

    2- Trùng quan:

    Qua cửa thứ hai này quý thầy thức ngủ như nhau. Nhưng ngài nói cũng chỉ là bờ mé của ý thức sinh tử.

    3- Lao quan:

    Qua cửa thứ ba này phàm Thánh đều buông hết, tức là không một niệm nào, không dấy niệm là mình ngộ đạo. Cho nên Lục Tổ nói: “Tình còn một niệm ngộ, sao lụy kiếp mê xưa.”

    Cửa này khó nhất gọi là núi bạc, vách sắt. Các vị Thiền sư giải thích núi đó dựng đứng, quý thầy bám vào đi lên, gần tới đích tự nhiên tuột tay rớt xuống tan thân, nát mạng. Các ngài nói là tuyệt hậu tái tô thì một phen mới sống dậy. Đó là bước vào con đường thứ ba tức là cửa Lao quan. Khó như vậy cho nên mình chỉ có nước tu thôi chớ hết dám “bắn bổng”, nói thiền nói đạo không dính dáng gì các ngài hết. Cho nên ở đây nói đập vỡ nát Lao quan, đáng là trang tuấn kiệt.

    Một hôm, Thiền sư Đam Nguyên hỏi Ma Cốc:

    - Quan Âm mười hai mặt là phàm hay là Thánh?

    - Là Thánh.

    Đam Nguyên bèn đánh Sư một cái, bảo:

    - Biết ông chẳng đến cảnh giới ấy.

    Có nghĩa là phàm thì bước qua được rồi, ngay chỗ thức ngủ như nhau rồi mà một niệm chưa bước qua cửa Lao quan. Hỏi, là phàm hay Thánh? Thánh! Rớt trong cảnh giới Thánh liền. Cho nên Thiền sư Đam Nguyên đánh Thiền sư Ma Cốc một cái, nói biết ông chẳng đến cảnh giới ấy, tức là còn chưa bước qua cảnh giới niệm duyên phân biệt đó. Cho nên cái cửa Lao quan của ngài Lai Quả khó có người bước qua được.

    Cửa thứ hai, thức ngủ như nhau mà còn chưa được. Chẳng hạn như tôi, tôi phát tâm bất cứ giá nào cũng giữ giới không ăn phi thời. Một thời gian, tối tôi nằm mộng thấy buổi chiều khoảng sáu giờ người ta bưng cho tôi một tô canh bún. Nằm mơ mà y như thật vậy, tôi ăn, ăn rồi tôi hối hận nói mình hứa mà phạm rồi. Giựt mình dậy biết là ngủ mơ. Ban ngày giữ được mà tối lại thấy mình ăn một tô bún, giữ không được. Lần thứ hai sau đó một tháng, tôi nằm mộng thấy người ta bưng vô một rổ bánh cuốn, tôi ăn ngon lành, ăn rồi cũng hối hận. Đến lần thứ ba thì mới hơi tỉnh tỉnh, vừa bưng vô tôi nói thôi không dám ăn nữa đâu. Giựt mình dậy biết mình nằm mộng. Quý thầy thấy khó lắm chứ không phải đơn giản. Mà chuyện ăn là chuyện dễ nhất, huống chi chuyện tình cảm ngày xưa quý thầy quen biết ở ngoài đời.

    Cho nên ngày xưa chúng tôi nhập thất ra là Hòa thượng dạy pháp này. Hòa thượng kể câu chuyện:

    Có ông Tăng đến thất của Thiền sư Mã Tổ ngủ. Tối nghe Thiền sư Mã Tổ ngáy, sáng ra ông nói:

    - Hòa thượng nói Hòa thượng là bậc thầy của tám mươi bốn vị thiện tri thức mà sao ngủ Hòa thượng lại ngáy?

    Thiền sư Mã Tổ nói:

    - Ông biết lúc đó tôi ngủ hay thức?

    Các ngài đạt đến cảnh giới thức ngủ như nhau, ngáy vậy chứ cảnh đến các ngài biết liền, các ngài làm chủ được.

    Thiền sư Ngưỡng Sơn nằm mộng thấy lên cung trời Đâu Suất, bước lên tòa thứ ba, là tòa giảng ngày hôm đó, đánh trống, nói pháp. Đến trình ngài Qui Sơn, ngài nói: “Ông bước vào dòng Thánh rồi, ngủ mà ông còn làm chủ được như vậy huống chi ông thức.” Bước vào dòng Thánh, có nghĩa là thức ngủ giống như nhau.

    Mười một:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Đầy đủ đại oai lực,

    Quét ngoại đạo thiên ma,

    Không còn chút dấu vết.

    Mười hai:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Sạch trọi trơn mới sạch.

    Vừa khởi niệm mảy may,

    Đã tự chịu tủi nhục.

    Mười ba:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Như sấm nổ điện chớp.

    Đập bể nát hư không,

    Quét sạch trần sa kiếp.

    Pháp tham thiền này rất thù thắng, ngộ thì ngộ ngay tức khắc, như sấm nổ điện chớp. Không ngộ thì tủi nhục cả đời.

    Thiền thoại có ghi:

    Có một vị Tăng không đọc kinh sách mà ngồi thiền suốt ngày, vị Tạng chủ nói:

    - Sao không xem kinh sách mà ngồi thiền không vậy?

    Vị Tăng nói:

    - Tôi không biết chữ.

    - Ông không biết chữ thì ông phải tìm người dạy để đọc sách Phật, xem kinh Phật, xem các ngữ lục của Thiền sư để lại chứ.

    - Tôi không biết hỏi ai để chỉ cho tôi.

    Vị Tạng chủ nói:

    - Ông cần biết chữ tôi dạy cho ông.

    Ngày xưa người nào giỏi lắm mới làm Tạng chủ.

    Vị Tăng thộp ngực ông Tạng chủ hỏi:

    - Chữ này là chữ gì?

    Vị Tạng chủ không trả lời được.

    Cho nên ở đây nói là như sấm nổ điện chớp, chớp mắt là các ngài ra thủ thuật liền.

    Có dịp nào quý thầy ra nhà khách, gặp những người hiểu giáo lý rất nhiều nhưng quý thầy nhớ đừng chạy theo. Bữa nọ tôi tiếp một người ở Pháp về, ông này rất giỏi giáo lý, pháp môn nào cũng biết, nhưng ông ấy gọi Thầy tôi bằng tên, Sư Bác Sơn Thắng ông cũng gọi bằng tên, tôi nói:

    - Ông tu ra đời phải không?

    Ông giựt mình hỏi:

    - Sao thầy biết?

    Tôi nói:

    - Mấy vị lớn mà ông chỉ gọi bằng tên nên tôi biết ông tu ra đời.

    Quả thật hồi xưa ông xuất gia ở Huệ Nghiêm, bây giờ ra đời. Tôi nói với ông cái hiểu của ông chưa dính dáng gì đâu, coi chừng ông tổn phước. Tuy rằng ngày xưa các ngài tu cùng lượt với ông nhưng người ta tu suốt cả cuộc đời ba, bốn chục năm rồi. Ông tu có mười mấy năm ông hoàn tục mà bây giờ ông tưởng các ngài cũng là huynh đệ với ông. Nói một chập thì ông hiểu. Tôi nói ông học trên ý thức sanh diệt, thật ra một chữ thiền ông chưa biết, tôi khẳng định như thế. Cho nên ở đây nói: Như sấm nổ điện chớp.

    Cho nên Lục Tổ thị hiện không biết chữ để tiêu biểu cho pháp này. Pháp này không phải thông minh trí tuệ mà nhận biết được, chỉ những người căn cơ ứng hợp với thiền thì khả dĩ mới nhận được. Tổ Đạt-ma sau khi thọ ký cho Tổ Huệ Khả làm Tổ, ngài trao bốn quyển kinh Lăng Già cho Tổ Huệ Khả và nói: “Đời mạt pháp chúng sanh sống trên tướng danh tự rất nhiều, chia chẻ học thức nhưng một chữ thiền cũng không nắm bắt được.”

    Quý thầy thấy rất rõ, đời này học bằng cấp rất nhiều nhưng nói về công phu thì bế tắc. Quý thầy có túc duyên được Hòa thượng hướng dẫn, rồi có môi trường tốt được ở trong nội viện tu, gia công tu tập thì có chỗ đứng. Có chỗ đứng trong nhà thiền rồi thì giống như sấm nổ điện chớp, ai nói mặc ai, không ai làm gì được quý thầy hết. Nhưng mà phải có công phu. Có công phu thì quý thầy rất tự tin. Mai kia có đủ duyên người ta mời qua Mỹ, qua Pháp mướn hội trường giảng đông nghẹt, quý thầy cũng bình thường. Bởi vì sao? Nói lại cũng bao nhiêu đó thôi mà do công phu năng lực của mình.

    Như Lục Tổ Huệ Năng thị hiện, ngài có năng lực rất lớn. Khi Ni sư Vô Tận Tạng cầm quyển Kinh Niết Bàn hỏi chữ, ngài nói:

    - Chữ thì không biết nhưng nghĩa thì tôi biết.

    Ni Sư nói:

    - Chữ còn chẳng biết sao hiểu được nghĩa?

    Ngài nói:

    - Lý mầu nhiệm của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự.

    Mười bốn:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Tốt hơn tự quyết trạch,

    Việc Nam Tuyền chém mèo,

    Việc Bách Trượng cuốn chiếu.

    Tốt hơn tự quyết trạch có nghĩa là tự phản quan lạichứ không phải suốt ngày thắc mắc: “Nam Tuyền chém mèo là sao? Tại sao chém? Ngài Bách Trượng cuốn chiếu chi vậy?” Mất mình luôn! Ở đây muốn nói luôn luôn phải phản quan lại mình thì mới đúng.

    Mười lăm:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Đâu phải ở tại ngoài,

    Mỗi vật mỗi phân minh,

    Thấu suốt khó dối gạt.

    Ở đây ứng hợp với thiền, tức là không phải ở ngoài mà đi, đứng, nằm, ngồi mỗi cái mình phân minh, thấu suốt rõ ràng thì không ai dối gạt được hết.

    Mười sáu:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Đèn tâm soi sáng rực,

    Phóng ra vô lượng quang,

    Phá đêm dài tối mịt.

    Thời Đức Phật, vua Ba-tư-nặc cúng đèn dầu cho Phật rất nhiều nhưng cây đèn dầu của một bà lão cúng dường, tôn giả Mục-kiền-liên dùng hết năng lực thần thông thổi không tắt.

    Phần nhiều mọi người nói là do bà lão quá nghèo nên bà cắt tóc bán lấy tiền mua dầu, của thì ít nhưng do tâm thành cho nên ngài Mục-kiền-liên thổi cách mấy cũng không tắt. Đây là theo tinh thần nói về phương pháp bố thí, cúng dường. Nhưng tôi nói kiến giải của tôi cho quý thầy thông cảm, bà lão thắp cái đèn này từ nơi tự tâm của bà, từ tâm Phật của bà ứng tác ra thì không có gì làm tắt được. Cho nên ở đây nói đèn tâm soi sáng rồi thì phóng ra vô lượng quang phá đêm dài tối mịt. Tức là đêm dài vô minh, tật đố, ích kỷ, xan tham, ngay trong giờ phút thực tại đó tự nhiên nó tan biến hết, mà phải từ nơi năng lực đèn tâm soi sáng của chính mình.

    Mười bảy:

    Pháp tham thiền bậc nhất,

    Không có gì kỳ đặc,

    Lúc đói thì ăn ngay,

    Mệt, ngủ liền một giấc.

    Không có gì kỳ đặc, đói xuống ăn cơm, mệt thì ngủ khỏi ngồi thiền đúng không? Quý thầy nhớ câu “đói thì ăn, mệt thì ngủ” ở đâu không? Đa phần mình nói trong bài “Cư Trần Lạc Đạo” của Sơ Tổ Trúc Lâm:

    Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

    Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên,

    Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

    Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

    Nhưng đến giai đoạn này là trong tinh thần Tứ Liệu Giản của Tổ Lâm Tế.

    Một hôm Tổ thượng đường dạy chúng:

    Có khi đoạt nhơn không đoạt cảnh,

    Có khi đoạt cảnh không đoạt nhơn,

    Có khi đoạt nhơn và cảnh,

    Có khi người, cảnh đều chẳng đoạt.

    Có vị Tăng bước ra hỏi:

    - Thế nào là “đoạt người không đoạt cảnh?”

    Tổ đáp:

    Bình minh ló dạng bày đất gấm,

    Trẻ thơ xõa tóc trắng như tơ.

    Có những lúc quý thầy phải kiểm soát cái tâm miên mật, ngoại cảnh không dính dáng gì hết, cho nên ở đây nói bình minh ló dạng bày đất gấm, có nghĩa là vạn pháp bày ra muôn cảnh, muôn hình vạn trạng thì cũng không dính gì đến mình. Trẻ thơ xõa tóc trắng như tơ là luôn luôn phản chiếu lại mình, công phu chính mình thì đó gọi là đoạt nhơn mà không đoạt cảnh.

    Thế nào là đoạt cảnh không đoạt người?

    Tổ đọc kệ:

    Lệnh vua đã ban khắp thiên hạ,

    Tướng quân ngoài ải dứt bụi mù.

    Đoạt cảnh là gì? Quý thầy tránh duyên vào đây tu lo tham thiền, sám hối, luôn luôn sợ cảnh.

    Thế nào là đoạt cả người, cảnh?

    Tổ nói:

    Tịnh phần bặt tin,

    Ở riêng một chỗ.

    Tịnh phần là nói về chỗ quê hương. Đoạt cả người và cảnh là bặt tin tức, ở riêng một chỗ.

    Thế nào là người, cảnh đều chẳng đoạt?

    Tổ nói:

    Vua lên điện báu,

    Lão quê ngợi ca.

    Đạt đến chỗ này rất khó. Vua lên điện báu, lão quê ngợi ca tức là thiên hạ thái bình rồi thì mọi người đều ca hát, không còn chiến tranh tức là không còn vọng tưởng điên đảo gì nữa. Chỗ này tâm cảnh nhất như thì đồng với “Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.”

    Qua phần này quý thầy thấy tinh thần Tứ Liệu Giản của Tổ Lâm Tế không phải chuyện đơn giản. Nghe nói đói thì ăn, quý thầy đói lúc nào ăn lúc đó thì trật. Rồi mệt lúc nào cũng ngủ hết thì không đúng, trái thanh qui của Thiền viện.

    Hòa thượng Tiếu Ân nói:

    Cháo xong lễ bái sau uống trà,

    Phóng tham diệt sạch chớ xướng ồn,

    Vào đường ra cửa thanh qui hợp,

    Mới thấy tùng lâm có tác gia.

    Vào thiền đường tu tập đúng với thanh qui rồi thì bảo đảm trong tùng lâm có bậc tác gia kiệt xuất, cơ dụng thông minh.

    “Trên đơn chẳng được giũ áo mền nổi tiếng, bụi bay khiến người gần đơn động niệm.”

    Mình ngủ trên đơn với đại chúng không được giũ áo mền, thứ nhất là thô tháo, thứ hai là bụi bay nhơ người, thứ ba là khiến người động niệm.

    “Phàm vào nhà thiền phải đủ năm pháp: 1-Tâm phải yêu kính, tôn trọng mọi người. 2- Phải thấp mình khiêm tốn như khăn lau bụi. 3- Phải biết khi ngồi, khi dậy, khi cúi, khi ngước phải thời. 4- Ở trong Tăng chúng chẳng được nói bậy. 5- Những việc không thể nhẫn cũng phải im lặng.”

    1- Tâm phải yêu kính, tôn trọng mọi người: Vào thiền đường cũng gọi là vào Tăng đường, phải có đủ năm pháp, thứ nhất là phải yêu kính tôn trọng người khác. Chẳng hạn người ta đang học, đang tu mình đừng có giỡn cười. Có tâm tôn trọng như thế mai kia ra đời mới gặp Phật pháp tiếp.

    2- Phải thấp mình khiêm tốn như khăn lau bụi: Thấp mình với đại chúng chớ đừng cống cao ngã mạn.

    3- Phải biết khi ngồi, khi dậy, khi cúi, khi ngước phải thời: Chứ không phải bạ đâu cũng ngồi, cũng đứng, cũng dậy, lăng xăng lộn xộn trong Tăng đường thì không được.

    4- Ở trong Tăng chúng chẳng được nói bậy: Tức là nói chuyện đời, chuyện này chuyện kia.

    5- Những việc không thể nhẫn cũng phải im lặng: Thầy tôi dạy những việc không nhẫn được thì mình phải im lặng tránh chỗ khác. Ngài ví dụ, như một chiếc thuyền chuẩn bị ra khơi mà giông tố ào ạt nổi lên quý thầy dám giong thuyền ra không hay là tránh vào bờ? Việc ở trong chúng cũng vậy, nếu không nhẫn được thì im lặng mà rút liền chớ đừng đứng đó, sợ có lúc mình sanh tâm không tốt.

    Đó là những phương pháp người xưa dạy cho mình.

    Khi xuống đơn thầm tưởng bài kệ:

    “Từ sớm giờ Dần thẳng đến tối,

    Tất cả chúng sanh lánh giữ mình,

    Bằng ở dưới chân tan thân hình,

    Cầu ngươi bấy giờ sanh Tịnh Độ.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Người cùng với chúng sanh hình thể tuy có khác mà tánh thật không khác. Người hoạt động, chúng sanh cũng hoạt động; người thở, chúng sanh cũng thở. Song ta tuy không có tâm tổn hại mà cũng thiết yếu chính mình trước phải giữ mình, nếu ở dưới chân mà có tan thân mất mạng thì nguyện các chúng sanh này cũng sanh nơi cõi Phật.”

    Tinh thần đạo Phật luôn lấy từ bi làm gốc. Mình phải phát nguyện lỡ đạp chúng sanh nào, con trùng, con kiến, con ốc gì đó thì đều hồi hướng chúng được sanh về cõi Phật. Mình có căn duyên phúc đức cho nên gặp được Phật phápmình tu, chứ tu theo phương pháp nào không biết mà dính vào con đường ăn mặn thì cái khí ngày càng trệ, càng chìm xuống.

    Kinh Phân Biệt Công Đức ghi:

    “Thứ nhất quán niệm Phật là việc gì? Thân Phật là Kim cang, không bị rót phiền não vào. Khi Đức Phật đi, chân cách mặt đất bốn tấc, lành tướng ngàn châu hiện dấu nơi đất, các loài trùng dưới chân bảy ngày được an ổn, nếu nó mạng chung đều được sanh về cõi trời.”

    Mình phải quán được năng lực thù thắng của Đức Phật, ngài đi đến đâu thì lành tướng ngàn bánh xe hiện ra, các loài trùng kiến được bảy ngày an ổn, nếu mạng chung được sanh về cõi trời Đao Lợi. Cho nên trong từng bước đi mình phải chánh niệm. Một vị Thiền sư nói, đang đi kinh hành mà thất niệm thì giống như giết hại một con trùng chớ không cần phải đạp mới là giết hại. Các ngài miên mật đến mức độ như vậy. Có nghĩa là mỗi một niệm mà chúng ta không tỉnh giác, không chánh niệm là giết hại một con trùng.

    Phương pháp kinh Kim Cang dạy rất rõ.

    Trưởng lão Tu-bồ-đề thưa:

    - Bạch Đức Thế Tôn! Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề nên làm sao trụ, làm sao hàng phục được tâm?

    Đức Phật nói:

    - Lành thay! Lành thay! Tu-bồ-đề, đúng như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát.

    Trong kinh Kim Cang, trở về thật tướng là Đức Phật sáng cũng đắp y mang bình bát vào thành khất thực, về cũng rửa chân. Nhưng tại sao có những kinh Đại thừa nói Đức Phật đi cách mặt đất bốn tấc, Kinh Kim Cang thì nói Đức Phật đi khất thực về rửa chân rồi mới thọ trai? Ở đây ngầm ý Đức Phật đi là luôn luôn sống trong giờ phút thực tại, ngay tại đây và bây giờ. Cho nên nói khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, có nghĩa là thấy được thân tướng, năng lực của Đức Phật đi thì các Thầy Tỳ-kheo tự nhiên thu thúc sáu căn đi chánh niệm như Đức Phật.

    Có một lần tôn giả La-hầu-la đi theo Đức Phật khất thực bị mấy đứa con nít chọc ghẹo, quậy phá, tôn giả dấy niệm hoàn tục để về làm vua rồi trở lại xứ này giết sạch hết. Vừa khởi niệm Đức Phật thấy liền, Ngài nói: “Này La-hầu-la! Ông phải thu thúc sáu căn của ông lại, chánh niệm tỉnh giác.” Rồi đến gốc cây, Phật dạy về phương pháp quán niệm hơi thở. Trong khi quán niệm hơi thở, tôn giả La-hầu-la kiến đạo, đi vào dòng Thánh.

    Thu thúc sáu căn, quán niệm trong giờ phút thực tại đó, ở đây nói là Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát, có nghĩa là trong bốn oai nghi Đức Phật đều:

    Hành như phong.

    Lập như tùng.

    Ngọa như cung.

    Tọa như chung.

    1- Hành như phong:

    Nghe nói hành như phong, quý thầy đi vút vút như gió là trật, không có oai nghi. Hành như phong có nghĩa đi rất chậm, rất nhẹ, đi lúc nào cũng nhẹ nhàng như gió thoảng, không kéo lê đôi dép gây ra tiếng động.

    2- Lập như tùng:

    Đứng thẳng giống như cây tùng. Những người mô phạm họ đứng, họ đi phải khác người thường.

    3- Ngọa như cung:

    Nằm kiết tường, không thẳng mà cũng không cong quá.

    4 - Tọa như chung:

    Ngồi vững như chuông.

    “Chẳng được cao tiếng nói lớn.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Thiền đường chính là chỗ khám nghiệm rồng, rắn. Phàm vào trong Thiền đường, tất cả cần yếu phải nương vào qui củ. Nếu cao tiếng nói lớn tựa như không có người khác, thái độ như cuồng, huống nữa một người lớn tiếng mọi người đồng theo thì Thiền đường ồn náo làm trở ngại công phu của người kia thì tội chẳng phải là lớn ư? Phàm làm Sa-môn buông lời nói, nói phải kính dè, tiếng phải dịu hòa mới xứng hợp oai nghi dòng họ Thích.”

    Tổ Tuyên Luật Sư dạy Thiền đường chính là chỗ khám nghiệm rồng, rắn. Có nghĩa là vào Thiền đường mình biết đây là rồng con, còn đây là rắn mà là rắn già, lớn tiếng ồn ào mất oai nghi phép tắc.

    Hồi xưa ở Thường Chiếu có một thầy vào Thiền đường chừng năm, mười phút là ngã lăn nằm dài ra ngủ, chúng nói không nghe ai hết. Thầy giáo thọ Sư Bác đắp y tề chỉnh lên lạy ba lạy, ngày hôm sau thầy đó hoàn tục ra đời luôn. Người lớn dạy mình hết nổi rồi thì có nước người ta đắp y lạy mình. Bây giờ nói một người không nghe, mà các ngài độ một lần ba, bốn trăm chúng, cái đức rất lớn, năng lực tu của các ngài nhiều kiếp nữa, mà các ngài bữa nào đắp y kêu quý thầy lên: “Thôi bây giờ cho con đảnh lễ các ngài!” Bảo đảm quý thầy chết liền!

    Ngày xưa chúng tôi bảo vệ trật tự ở Thường Chiếu, mặc hậu đàng hoàng đi ra bảo vệ. Lúc đó người ta buôn bán đông lắm, canh hoài họ cũng cứ nhào vô, buôn bán như vậy ồn náo Hòa thượng giảng không được. Chúng tôi mặc hậu vô lạy, họ bỏ thúng bánh chạy mặt mày tái mét chứ không còn cãi nữa. Còn quý thầy nói chừng nào họ càng làm dữ chừng nấy, chỉ còn cách lạy họ thôi chứ không làm gì họ hết.

    Hồi đó ở Trúc Lâm cũng có một thầy nói ngộ đạo, đang ngồi thiền bật ngửa ra nằm, Hòa thượng chỉ quở một tiếng là đi luôn. Người lớn mà quở thì rất tổn đức, cho nên mình phải kiêng dè đừng ỷ lại. Các ngài thương mình nên không dám quở nặng. Hòa thượng nói: “Tôi không dám quở nặng mấy chú, sợ mấy chú buồn tu không được.” Thật ra là mình tổn phước, tu không được.

    “Nhẹ tay thả sáo phải đỡ tay sau, chẳng được kéo dây có tiếng. Chẳng được ho khạc có tiếng lớn. Chẳng được gần đơn dụm đầu kề tai luận nói chuyện đời. Có ba nghĩa, tức là mất oai nghi, sợ hiềm nghi, mất chánh niệm.”

    “Hoặc có bạn học, tình quen thăm nhau, trong nhà thiền chẳng được nói lâu. Đem nhau dưới rừng, bên suối mới có thể hết lòng luận mà nói.”

    Ở đây có nhà khách mình nói chuyện, chớ ngày xưa không được nói trong Tăng đường mà xuống rừng cây, suối vắng nói chuyện.

    Tổ Tuyên Luật Sư nói:

    “Bạn học, tình quen thăm nhau vốn là thiên tính, trí hậu, không có lỗi đối với cha mẹ. Nay đã từ thân học đạo phải lấy đạo bạn làm thân, hết lòng đàm luận. Phải là cố nhơn thì mới có thể tận tâm giảo lược tức là xét nghiệm, so sánh về sự tu học đó.”

    Có những lúc bạn bè đến thăm thì quý thầy nói chuyện không có cấm. Nhưng không được nói chuyện trong Tăng đường mà chỉ nói ở nhà khách.

    “Nếu đàm luận việc đời chẳng những ô nhiễm môi mép mà cũng sợ ô uế suối rừng.”

    Quý thầy thấy khó không? Có nghĩa mình gặp bạn ngoài đời chỉ nói chuyện tu học thôi chứ không nói chuyện đời. Người xưa nói:

    Cao sơn lưu thủy thâm thâm ý,

    Tự cỗ tri âm chiếu điểm đầu.

    Nghĩa:

    Núi cao nước chảy ý sâu kín,

    Tự có tri âm mỉm gật đầu.

    Bạn thân gặp nhau chỉ nói về đạo lý thôi. Chẳng hạn có một số thầy ở đây xuất chúng, sau này nếu có duyên gặp lại thì quý thầy chỉ hỏi bây giờ tu học ở đâu hoặc cất cốc tu thế nào chứ đừng hỏi những chuyện như mua xe gì… Quý thầy để ý, chuyện đời mình thích nói hơn là chuyện đạo lý, cho nên rất khó cho sự tu học.

    “Hoặc xem kinh phải vững mình, lóng thần ngầm xét, chẳng được ra tiếng.”

    Ở trong Tăng đường xem kinh không đọc lớn tiếng làm người kế bên dễ sanh tâm phiền não. Nhưng sâu hơn nữa, trong Sa Di Học Xứ Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

    “Trong Tăng đường xem kinh phải im lặng mà biết, tức là tột, tâm chẳng tán loạn.”

    Lúc xem kinh nếu chưa hiểu thì mình ít nói, xem kinh mà hiểu chút ít rồi thì mình mắc phải bệnh thích nói kinh điển. Ngày xưa chúng tôi cũng mắc phải bệnh này. Gặp đâu cũng nói, có những người thích nghe, nhưng cũng có những người không thích. Bệnh thứ hai là đem kinh ra cãi. Trong Tăng đường mà cãi lý về thiền tức là tâm tán loạn rất nhiều. Cho nên chư Tổ dạy xem kinh điều cần yếu là phải thấu tột nghĩa lý trong kinh rồi hành chớ không phải đem kinh ra cãi.

    Thiền thoại có ghi:

    Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo là đệ tử của Thiền sư Viên Ngộ. Khi mới xuất gia, chưa ngộ đạo nhưng hiểu biết chút ít, ngài thường ở trong Tăng đường nói chuyện đạo. Một hôm Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo đến trước Thiền sư Viên Ngộ nói Phật, nói pháp, Thiền sư Viên Ngộ xoay đi chỗ khác không nhìn Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo. Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo ngạc nhiên nói:

    - Bạch Thầy! Con hay nói thiền, nói đạo mà con để ý thấy Thầy không vui.

    Thiền sư Viên Ngộ nhân đó chỉ dạy:

    - Ta biết ông thiếu thốn rất nhiều, người nào thiếu cái gì thì hay nhắc cái đó.

    Ngay trong giờ phút thực tại đó Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo sực tỉnh.

    Sau khi ngài Đại Huệ Tông Cảo ngộ đạo, ngài thương người hậu học, học hiểu rồi nói chớ không có hành, cho nên ngài đốt bộ Bích Nham Lục. Học hiểu rồi nói, rồi cãi mà không chịu tu, cũng giống như người nghèo khổ đi đâu cũng nhắc tới tiền, còn nhà tỷ phú thì không khi nào nói về tiền bạc.

    Theo tinh thần Thiền tông trực chỉ, các vị Thiền sư thường đánh, dẹp các đệ tử hay nói về cảnh giới ngộ. Trong kinh Hoa Nghiêm nói, có một vị Bồ-tát bước vào sơ địa, tức là hoát nhiên chợt nhận ra được pháp giới Hoa tạng, có tư tưởng là sự chứng đắc, trí tuệ của mình Phật không bằng. Cho nên chư Tổ sợ hàng hậu học, sợ đệ tử của mình xem kinh hiểu, hoặc tu hơi được một chút rồi nhiều khi nghĩ chắc gì Hòa thượng hay Thầy mình bằng mình. Có những người như vậy đó.

    Quý thầy nghiệm lại, người mới học đàn cũng chơi đàn được, nhưng so với người chơi đàn hai ba chục năm thì hai bản nhạc hay hai bản hòa tấu khác nhau rất xa. Hoặc như người mới học võ thì tay chân ngứa ngáy thích đánh nhau, nhưng lên cỡ thần đai nhất đẳng, nhị đẳng rồi thì sợ không dám đánh ai hết. Bởi vì thấy có người giỏi hơn mình, năng lực lớn hơn mình nên chùn lại.

    Cũng vậy, người có công phu tu tập thì họ ít dám nói về Phật pháp, còn người mới vào Thiền viện hoặc mới biết chút ít về Phật pháp thì hay cãi về Phật pháp. Ngày xưa chúng tôi ở Tăng đường một, ngồi thiền xong về Tăng đường toàn nói chuyện thiền, chuyện đạo, nói mà cãi chớ không phải chia sẻ. Cho nên ở đây nói: “Phải im lặng mà biết, tức là tột, tâm chẳng tán loạn.”

    Trong Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện:

    Vua Tuyên Tông sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà, được mười hôm vua hỏi:

    - Con gà đó đem chọi được chưa?

    Kỷ Sảnh thưa:

    - Chưa được, gà còn hăng lắm, chưa thấy gà khác là đã muốn chọi rồi.

    Giống như người mới học đạo vậy, mở miệng ra là nói thiền, nói đạo. Chẳng hạn hỏi: “Bông này là bông gì?” Trả lời: “Bông là bông thôi.” Nhưng hỏi tới thì không biết gì hết.

    Cách mười hôm sau vua lại hỏi:

    - Gà đã đem chọi được chưa?

    Kỷ Sảnh thưa:

    - Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác là đã muốn chọi rồi.

    Mười hôm sau nữa vua lại hỏi:

    - Gà đã đem chọi được chưa?

    Kỷ Sảnh thưa:

    - Được rồi, gà bây giờ trông thấy tựa như gà gỗ mà đủ các ngón hay, gà khác coi thấy là đủ sợ, phải lùi chạy.

    Quý thầy nghiệm lại giống đường tu của mình không? Đường tu đến chỗ rốt ráo, giống như trong võ thuật gọi là vô chiêu mà thắng hữu chiêu. Chẳng hạn quý thầy thích nói thiền, nói đạo, thích cãi nữa, nhưng Hòa thượng hoặc Thầy Trụ trì nhìn thấy chỉ cười. Trông thấy tựa như gà gỗ, Thánh nhân mà đạt đến trình độ tâm linh lớn rồi thì các ngài như ngu ngơ, như không biết gì, nhưng các ngài có đầy đủ năng lực lớn đi vào cuộc đời này. Mà đủ các ngón hay, gà khác coi thấy là đủ sợ, phải lùi chạy, cho nên các ngài giáo hóa chúng sanh đâu cần nói nhiều. Thấy hình tướng các ngài, thấy năng lực, hành động của các ngài thì tự nhiên người ta kính.

    Quý thầy học thì phải tiêu, các ngài nói mình xem kinh không khéo thì cam lồ biến thành độc dược. Đem kinh ra cãi thì cam lồ biến thành độc dược rồi.

    Cho nên Tổ Lâm Tế dạy, một người xem kinh mà được tiêu dung rồi thì:

    “Một tâm đã không thì tùy chỗ giải thoát.”

    Có nghĩa là rỗng không vô nhất vật thì chỗ nào cũng là giải thoát hết.

    “Sơn tăng nói thế ấy, ý ở chỗ nào? Chỉ vì các ông không dừng được tất cả tâm đuổi tìm mà cứ giẫm lên cảnh suông của người xưa.”

    Tổ Lâm Tế nói chúng ta không được tùy chỗ giải thoát là vì hay cãi. Chẳng hạn chữ Bồ-đề, người này nói Bồ-đề là giác, người kia nói không phải. Nếu trong giờ phút thực tại đó, mỗi người tâm rỗng không thì chính là Bồ-đề rồi. Mà mình không chịu, mình phân tích, chia chẻ rồi khái niệm lý luận. Hoặc như trong Kinh A Hàm, Phật nói: “Cảnh giới Niết-bàn không có đất, nước, gió, lửa”, hai người tranh cãi nói tại sao Niết-bàn mà không có đất, nước, gió, lửa. Nhưng tu một thời gian quý thầy mới nghiệm ra, bởi vì cảnh giới Niết-bàn không có tứ đại, ngũ uẩn. Vậy mà mình đem ra cãi. Tổ nói sở dĩ mình không được tùy chỗ giải thoát là vì luôn giẫm lên cảnh suông của người xưa rồi đem phân tích, chia chẻ.

    Ngày xưa vào thời Đức Phật, ngoại đạo rồi các Thầy Tỳ-kheo hay nhóm họp tranh cãi. Cho nên một hôm Phật họp lại nói câu chuyện người mù rờ voi:

    Ngày xưa có một ông vua rất thông minh trí tuệ. Một hôm ông cho quan cận thần mời tất cả người bị mù từ nhỏ, tức là chưa hề nhìn thấy gì hết, về nhóm trước cung điện. Vua cho dắt ra một con voi, yêu cầu mỗi người miêu tả hình dáng con voi. Người sờ chân voi thì tả con voi giống như cái cột nhà, người sờ tai voi thì nói con voi giống cái quạt, người sờ đuôi voi thì nói voi giống sợi dây thừng… Rồi tranh nhau mà cãi, cuối cùng đánh lộn!

    Trong kinh Niết Bàn Phật ví dụ, mình tưởng Phật nói chơi, nhưng trong cuộc sống giữa đời thường tôi đã chứng kiến: Hai người đứng trước chánh điện cãi về việc Tổ Bồ-đề Đạt-ma quảy chiếc dép, cãi một hồi rồi ra sau chánh điện cãi tiếp. Một người nói sở dĩ Tổ còn một chiếc dép là vì ngày xưa Tổ từ Ấn Độ sang Trung Hoa, giữa đường gặp cướp, Tổ đá một cái bay mất một chiếc dép còn một chiếc! Người kia nói Tổ vì thương chúng sanh nên lấy một chiếc dép có giá trị bán cho vua, bây giờ chỉ còn một chiếc! Tôi đi ngang qua chính tai tôi nghe nhưng tôi để cho cãi luôn, chớ mình chen vô làm chi. Tìm hiểu ra thì người nói Tổ gặp cướp đá bay mất một chiếc dép là thầy võ sư Thiếu Lâm Tự dạy ở Sài Gòn. Quý thầy thấy có những chuyện không không mà người ta cũng cãi, trong chúng mình không khéo cũng có trường hợp đó.

    Tổ Lâm Tế dạy tiếp:

    “Thời nay người học đều không biết pháp, giống như con dê đụng đâu ngửi đó, gặp vật gì cũng để vào miệng, quý tiện chẳng rõ, chủ khách không phân.”

    Giống mình không? Tổ Lâm Tế cơ phong ngài rất mạnh, ngộ cũng rất sâu, cho nên ngài nói rất mạnh. Thời nay mình học mình gom góp rất nhiều, học Phật pháp không đủ còn học thêm thế pháp. Có những người cho rằng không biết nhiều về thế pháp thì không phải chơn chánh xuất gia học đạo. Nhưng Tổ nói ngược lại:

    “Những bọn như thế tâm tà vào đạo, gặp chỗ huyên náo liền vào, không được gọi là người chơn chánh xuất gia mà quả thật là người thế tục.”

    Tổ quở mình đó. Cái tâm ban đầu vào đạo để mình học hiểu rồi tu, nhưng bây giờ ngược lại gặp chỗ huyên náo mình vào. Bây giờ có những quý thầy học đại học văn chương, rồi kinh tế, học đủ thứ hết, đó gọi là tâm tà vào đạo, không phải là người chơn chánh xuất gia mà quả thật là người thế tục. Nếu chúng ta không gặp được Hòa thượng chỉ dạy phương pháp cương yếu về thiền thì mình cũng giống như những người khác, cũng học kinh tế, học văn chương nhưng công phu, tu tập để chuyển hóa nội tâm thì không biết cách.

    “Phàm người xuất gia phải rõ được cái thấy biết chơn chánh, bình thường. Rõ Phật rõ ma, rõ thật rõ giả, rõ phàm rõ Thánh. Nếu rõ được như thế gọi là người chơn chánh xuất gia.”

    Chẳng hạn mình học kinh điển, tu tập các việc thiện pháp, thì biết đây là việc tốt. Làm những việc xấu ác mình biết đây là việc không được, tức là rõ về ma. Cái nào thật, cái nào giả phân biệt được hết, có một tri kiến như thật đi vào cuộc đời này, biết rõ hết.

    “Nếu ma, Phật mà chẳng rõ thì chính là ra nhà này mà vào nhà nọ.”

    Tổ dạy rất là hay! Nếu mình không phân biệt cái nào chánh, cái nào tà, cái nào là ma, cái nào là Phật - tưởng cái nào cũng giống giống nhau - thì mình cũng cạo tóc, cũng xuất gia mà gọi là cái nghiệp thầy chùa, bỏ nhà này vào nhà khác thôi chớ thật ra không giải thoát gì, cũng không biết tu tập, chuyển hóa gì. Cho nên Tổ nói tiếp:

    “Gọi là chúng sanh tạo nghiệp.”

    Bây giờ mình không tạo nghiệp thế tục nữa mà tạo nghiệp về pháp xuất thế. Chưa biết cách chuyển hóa, thì cũng không vượt thoát ba cõi.

    “Chẳng được gọi là chơn xuất gia. Chỉ như hiện nay ma, Phật đồng thể không phân, như nước hòa với sữa, phải là con ngỗng chúa mới uống được.”

    Có nghĩa là trong giờ phút thực tại quý thầy tọa thiền thì rõ ràng ma, Phật không phân, như sóng và nước. Một vọng niệm điên đảo khởi lên từ chơn tánh thanh tịnh của mình, nhưng làm thế nào giống như con ngỗng chúa uống sữa chừa lại nước, rất là khó. Tinh thần công phu thiền tập cũng vậy, sống như thế nào phải tột được chỗ tri kiến như thật, không dung túng vọng tưởng như phàm phu nhưng mà rõ biết hết.

    “Như người sáng mắt, ma Phật đều đánh. Ông nếu mến Thánh, chán phàm thì chìm nổi trong biển sanh tử.”

    Tinh thần của Tổ Lâm Tế là: “Phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma.” Đến chỗ rốt ráo này Tổ dạy mình giống như người sáng mắt, ma, Phật đều dẹp hết. Có những người ngồi thiền yên một thời gian thấy Phật đến xoa đầu. Chấp vào cái đó, vui với cảnh đó thì sanh bệnh.

    Rồi có những người sanh niệm kiến giải, nghĩ rằng chư Tăng là phải tu khổ hạnh, hành Bồ-tát đạo, trong chúng ai cũng phải là Thánh hết. Thấy còn phàm thì chán chịu không nổi nên xin về không tu nữa. Đó gọi là mến Thánh mà chán phàm, là chìm nổi trong biển sanh tử.

    Thiền thoại có ghi:

    Thiền sư Động Sơn cơ phong rất sâu, năng lực rất lớn, Thổ địa kính lắm mà không biết cách gì để đến đảnh lễ vì ba mươi năm tìm ngài không thấy.

    Có nghĩa là ba mươi năm ngài chưa từng dấy niệm, cho nên thân ngũ uẩn ngài sờ sờ đó mà Thổ địa tìm không được. Quý thầy để ý, ma quỷ mà nhập vào mình có nghĩa là mình hay dấy niệm vọng tưởng điên đảo. Chiều lại mà quý thầy đi lang thang rồi tơ tưởng thì mấy chú dưới sông, dưới biển nhập vào cái một.

    Một hôm ngài xuống nhà bếp thấy chư Tăng làm đổ nhiều bún gạo ngài khởi niệm quở, tức khắc Thổ địa đến nói: “Ba mươi năm con tìm ngài không thấy.”

    Vừa khởi niệm tư tưởng là Thổ địa thấy liền.

    Câu chuyện thứ hai:

    Thiền sư Đạo Ưng ở Vân Cư tuy ở trong chúng nhưng ngài cất thảo am. Thiền sư Động Sơn hỏi:

    - Sao tới giờ cơm không lên ăn?

    - Bạch Hòa thượng! Trưa có chư thiên đến cúng dường con.

    Như mình mà được chư thiên cúng dường là mình mừng rồi.

    Thiền sư Động Sơn nói:

    - Ta bảo ngươi vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều đến.

    Chiều Thiền sư Đạo Ưng đến, Thiền sư Động Sơn nhìn thẳng vào mặt nói:

    - Ưng ông chủ, không nghĩ thiện, không nghĩ ác là cái gì?

    Thiền sư Đạo Ưng về ngồi thiền đến sáng thiên thần không thấy được.

    Nghe như thế bữa nào quý thầy khai thị huynh đệ cũng không ngộ, tại sao Thiền sư Động Sơn tác động đến ngài ngộ? Người ngộ đạo có năng lực rất lớn, các ngài phủ làn sóng vào tâm thức của mình tự nhiên mình rung động, lúc này thiện ác bặt hết, thiện ác bặt hết thì quỷ thần không thấy.

    Khi nào đủ duyên quý thầy vào thất tu thanh tịnh, bữa nào thèm bún thì quả tình thầy tri khố làm món bún. Vài hôm lại thèm cơm tấm, tự nhiên thầy tri khố làm cơm tấm. Nhiều người kể như vậy. Tôi kể câu chuyện có thật, ngày xưa ở Thường Chiếu có một thầy lớn tuổi xuất gia, một thời gian thầy nhập thất. Đang nhập thất một hôm thầy thấy một cô chừng hơn hai mươi tuổi đi ngang qua, thầy kể thầy khởi niệm thích cô đó. Chiều lại chính cô đó đến trước cửa thất của thầy ngoắc thầy ra. Hoảng hồn, thầy vô thất khóa cửa lại.

    Vừa khởi niệm lên là ma nó thấy liền. Hồi hôm quý thầy nghe Hòa thượng giảng đến phần tham vấn, Hòa thượng nói ma vương quyến rũ mình thiệt ra là nội ma bên trong. Có nghĩa là tư tưởng mình dấy niệm thế nào ma nó thấy. Ma họ cũng có thần thông, có phước lực, thèm cái gì ma lấy cái đó để dụ mình. Có người vào thất thích cái máy nghe, khởi niệm liên tục tự nhiên có người cúng cái máy. Quý thầy mới tu thật ra chỉ là ma vong nó thử mình, người sắp bước vào Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì lúc này ma vương mới xuống thử.

    Cho nên Tổ nói gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma, quét sạch hết không còn tư tưởng tạp niệm nào nữa thì được, còn tư tưởng tạp niệm là bị hết.

    Có một vị Tăng hỏi Thiền sư Tử Thuần ở Đơn Hà:

    - Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ Tổ thì thế nào?

    Sư đáp:

    - Cúc vàng vừa nở ong đua hút.

    Bông hoa cúc vừa nở thì ong đua nhau hút, có nghĩa là quý thầy mới vào chùa chưa có năng lực, chưa có tiếng tăm gì thì ong không hút. Nhưng quý thầy tu mười năm, hai chục năm, có tiếng tăm, đạo đức, có mô phạm, oai nghi phép tắc đi ra mặt mày hồng hào rồi thì ong nó đến hút. Tư tưởng mình dấy niệm thèm cái gì là nó hút hết.

    - Rồi sau khi gặp Tứ Tổ thì thế nào?

    Sư đáp:

    - Mầm khô hoa rụng rõ không nương.

    Đến chỗ này rồi thì khô héo, rơi rụng hết, không chỗ nào nương, không chỗ nào gá được. Đến giai đoạn này rồi thì trong Tăng đường xem kinh phải im lặng mà biết, tâm chẳng tán loạn thì đúng, tức là tự mình khán nghiệm, tự mình tu tập. Tu một thời gian quý thầy sẽ thấy, chẳng hạn tu ba, bốn năm thì mình còn hăng lắm, nhưng đến năm thứ sáu, thứ bảy tự nhiên hết hăng. Tại sao? Bản thân chúng tôi kinh nghiệm, bởi vì cái học, cái hiểu của mình thì ở trên trời mà hành động của mình thì ở dưới đất. Nói khác hơn, cái hiểu của mình rất là tột nhưng mà những nghịch duyên, nghịch cảnh đến mình giải quyết nó lại khác. Rồi chướng duyên, chướng nạn cũng nhiều hơn, cho nên bây giờ cố gắng làm công đức, phước thiện rồi tu tập chớ không dám nói nữa.

    “Nếu đọc tụng ra tiếng thì nghĩa kinh không tự tư duy. Vậy nên phải lắng tâm im lặng mà thể hội.”

    Tổ dạy tiếp, xem kinh phải lắng thần tư duy. Giống như vua Trần Thái Tông, xem kinh Kim Cang đến đoạn: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ngài ngẫm đi ngẫm lại rồi tư duy, buông quyển kinh xuống ngài ngộ.

    Vào đời nhà Tống có một vị Thiền sư xem kinh Hoa Nghiêm, đến đoạn Hoa tạng pháp giới ngài nhập định bảy ngày bảy đêm, thể nhập pháp hội và chứng kiến được Đức Phật Thế Tôn đang thuyết giảng kinh Hoa Nghiêm. Thì do tinh thần tư duy lắng tâm để lãnh hội.

    “Thứ nhất nghĩa kinh từ đây mà thấu suốt, thứ hai là trí huệ từ đây mà phát sanh, nên chẳng được ra tiếng.”

    Tổ dạy tiếp, lắng tâm xem kinh không đọc ra tiếng được hai công đức lớn là thấu suốt nghĩa kinh và phát sanh trí huệ.

    “Phàm học kinh, xem giáo lý mỗi câu đều phải uyển chuyển soi về nơi chính mình. Tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giác hiện nay của chính mình.”

    Tổ Bá Trượng dạy mình xem kinh, xem giáo lý Đại thừa mỗi câu, mỗi chữ phải uyển chuyển soi về nơi chính mình chớ không ở đâu khác hết. Như trong kinh Pháp Hoa nói về Bồ-tát Văn-thù xuống Long cung giáo hóa gặp đệ tử là Long Nữ, mình nghe mình tưởng tượng có một vị Bồ-tát thật đi giáo hóa. Như vậy gọi là y kinh giải nghĩa thì Tam thế Phật oan, tức là mình y chỗ này giải ra có Bồ-tát Văn Thù xuống Long cung giáo hóa. Mà lìa kinh một chữ thì đồng với ma, như vậy ở đây mình hiểu thế nào?

    Kinh Pháp Hoa tiêu biểu cho tri kiến Phật, Bồ-tát Văn-thù tiêu biểu cho căn bản trí, mà căn bản trí từ đâu có? Chẳng hạn bây giờ quý thầy muốn tìm được tri kiến Phật, là căn bản trí, là thật trí của mình hay nói khác hơn là Phật tâm, Phật tánh, vậy tìm ở đâu? Phải tìm trong biển không? Biển gì?

    Ái hà thiên xích lãng,

    Khổ hải vạn trùng ba.

    Tức là:

    Sông ái ngàn thước sóng,

    Biển khổ muôn sóng ngàn.

    Biển là biển tham ái, biển vô minh, biển tật đố. Chỉ cần chuyển thì tức khắc Long nữ hiện lên, hiểu được thì đúng kinh Đại thừa. Ở đây nói Bồ-tát Văn-thù xuống Long cung là lặn sâu vào trong từng tâm thức của vọng niệm thì thấy được tri kiến. Mà tìm ở đâu? Ngay vọng tức chơn là theo tinh thần của thiền.

    “Nghe đánh bảng hai, mau phải sớm tới nhà giảng đường. Lúc về đơn thầm tưởng bài kệ:

    Thẳng mình ngồi vững,

    Cầu cho chúng sanh,

    Ngồi tòa Bồ-đề,

    Tâm không đắm nhiễm.”

    Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư ghi:

    “Tòa Bồ-đề tức là cái tòa tự giác bổn hữu không vương, tòa này người người đều vốn đủ.”

    Có nghĩa là tòa Bồ-đề này mọi người đều có.

    Cho nên Đại sư Liên Trì dạy:

    Phật ở Linh Sơn chớ cầu xa,

    Linh Sơn vốn tại ở tâm ta,

    Người người có tòa Linh Sơn báu,

    Hướng vào tâm tu sẽ tiến xa.

    Linh Sơn ở nơi tâm mình, mình ráng tu tập, ráng chuyển hóa thì sẽ thấy.

    Thiền sư Lâm Tế dạy:

    “Này các ông! Có một bọn trọc liền hướng trong đó gắng công định cầu pháp xuất thế. Lầm rồi! Nếu người cầu Phật thì người ấy mất Phật, nếu người cầu đạo thì người ấy mất đạo, nếu người cầu Tổ thì người ấy mất Tổ. Đại đức chớ lầm, ta chẳng cần ông thông hiểu kinh luận, ta cũng chẳng cần ông quan quyền chức tước, ta cũng chẳng cần ông biện luận như thác đổ, ta cũng chẳng cần ông thông minh trí huệ.”

    Ở đây Tổ dạy thêm, sau khi về đơn thầm tưởng bài kệ thẳng mình ngồi vững, rồi cầu cho chúng sanh ngồi tòa Bồ-đề, tâm không đắm nhiễm, thì tự nhiên mình hình dung ra một cái gì đó để mong cầu, chẳng hạn cầu làm Phật, cầu làm Tổ, cầu được đạo. Hễ mong cầu là mất. Tổ cũng dạy chẳng cần mình thông hiểu kinh luận, quan quyền chức tước hay biện luận như thác đổ mà chỉ cần thấy biết chơn chánh.

    “Này các ông! Dù hiểu được một trăm bổn kinh luận cũng chẳng bằng một ông thầy vô sự. Ông hiểu được liền khinh thường người khác, hơn thua như A-tu-la, vô minh nhân ngã tăng thêm nghiệp đọa địa ngục.”

    Mình thông minh, hiểu kinh điển nhiều Tổ cũng không cần. Tổ nói hiểu nhiều thì mình khinh thường người khác rồi hơn thua như A-tu-la, vô minh nhân ngã, tăng thêm nghiệp địa ngục chứ đâu có lợi ích gì. Tự biết, tự tu, Tổ chỉ cần mình thấy biết chơn chánh. Một người hiểu sâu Phật pháp thì tự nhiên họ ứng tác ra hành động phổ vào cuộc sống hàng ngày, nhìn là biết người đó hiểu Phật pháp.

    “Chẳng được đi ngang qua nhà thiền. Lên đơn xuống đơn đều phải tế hạnh chớ để người gần đơn động niệm. Chẳng được trên đơn viết chép văn tự trừ khi đại chúng xem kinh luật. Chẳng được trên đơn xúm nhau bày tiệc trà đêm ngồi nói bậy.”

    Học oai nghi mình thấy toàn là bệnh của mình. Trong luật có ghi không được đi ngang thiền đường bởi vì có khi mình mang những đồ nhơ uế cho nên phải đi đằng sau. Lên xuống đơn phải tế hạnh, nhiều khi mình không chánh niệm tỉnh giác mình giở đơn kêu rầm rầm làm người gần đơn mất chánh niệm sanh phiền não.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Trên đơn xúm nhau bày tiệc trà đêm ngồi nói bậy có ba lỗi:

    1- Động tâm niệm người khác.

    2- Tán tâm mình.

    3- Phạm phi thời.

    Dầu có uống thuốc phi thời cũng chẳng đêm ngồi mà nói bậy, huống nữa việc chính mình chưa biện rõ, đâu được nói chuyện rỗng vô ích.”

    “Chẳng được trên đơn may vá áo quần. Chẳng được nằm ngủ cùng người gần đơn nói chuyện động chúng.”

    Kinh Thập Giới nói:

    “Ăn thời không nói, nằm thời không luận, ngồi thời thiền định, dậy thời tụng kinh. Giới hạnh như đây mới thật là đệ tử của Phật.”

    Ngoài bốn cái này là đệ tử của ma. Nếu vừa ăn vừa nói, nằm cũng luận bàn, ngồi thì không thiền định, đứng dậy không chịu tụng kinh thì khi chết mình sẽ vào cảnh giới của ma, không phải ma vương mà là ma nữ, hoặc là ma vong.

    Thiền sư Trung Phong khai thị chúng:

    “Phàm cử chỉ động tịnh phải có oai nghi, mỗi mỗi phải tuân theo. Chớ nói ta là người hành đạo đại ngộ chẳng chấp tiểu tiết, ngặt vì ông chưa có ngộ.”

    Ngặt vì ông chưa ngộ nên phải cần học oai nghi.

    “Đâu thể nói chẳng tuân theo qui củ. Bởi do cái chánh niệm về đạo chẳng thiết tha, vì thế cử chỉ không đàng hoàng cho đến phá phạm luật nghi, tự mất chánh nhơn, bị người khác khinh mạn.”

    Các vị Thiền sư không chỉ đánh, hét để khai thị, mà các ngài còn dạy mình oai nghi phép tắc.

    Đâu thể nói chẳng tuân theo qui củ. Phải tuân theo qui củ, không phải quý thầy muốn cười giỡn, ăn uống sao cũng được. Bởi do gì? Bởi do cái chánh niệm về đạo chẳng thiết tha, có nghĩa là đối với đạo mình không thiết tha như thuở ban đầu nữa.

    Hôm trước chúng tôi họp cư sĩ lại chúng tôi nói thẳng, Hòa thượng không mời các vị đến đây tu, Thầy Trụ trì cũng không mời, cha mẹ cũng không kêu mình đi tu, một số cha mẹ còn khóc lóc không cho. Nếu trong giờ phút này mà người nào cảm thấy làm không muốn làm, học không muốn học, tu cũng không muốn tu, có nghĩa là bốn thời ăn, mặc, ngủ, nghỉ đều trái qui củ; không có tiền tôi sẵn sàng cho tiền về chớ ở đây không ép, quý vị phải suy nghĩ cho kỹ.

    Tất cả mọi người chúng ta ai cũng có những hạt giống xấu ác. Có những người lúc còn cư sĩ rất tốt, vào tu một, hai năm tự nhiên nhân quả, nghiệp báo ngày xưa mình tạo bây giờ sống dậy. Nếu chúng ta biết cách chuyển hóa, thu thúc sáu căn, rồi tu tập oai nghi phép tắc thì chuyển thành con người tốt, không thì bị sa lầy.

    Vì thế cử chỉ không đàng hoàng cho đến phá phạm luật nghi, tự mất chánh nhơn, bị người khác khinh mạn. Có nghĩa là cái ban đầu quý thầy phát tâm xuất gia là việc chơn chánh mà mười phương chư Phật đều tán thán. Trong kinh diễn tả, người chuẩn bị cạo tóc là tam thiên, đại thiên thế giới chấn động. Bây giờ tự mất chánh nhơn, tức là bỏ cái nguyện ban đầu của mình chạy theo việc phá phạm luật nghi của nhà Phật, bị người khác khinh mạn. 

     

     

  • 8. 11. Giữ Làm Việc Chúng Tăng

    11.

    Giữ Làm Việc Chúng Tăng

    “Phàm có tùng lâm ắt là phải có đại chúng, có đại chúng ắt là có rộng việc, có rộng việc ắt cần phải có đại chúng chấp tác.”

    “Phải tiếc vật của chúng Tăng. Trong Đại Luật nói: Giữ vật của thường trụ như giữ tròng con mắt của mình.”

    Khó nhất là làm tri khố, thủ bổn, thủ kho, tri sự, phải giữ vật của thường trụ giống như giữ tròng con mắt của mình, nhích một chút là hư con mắt. Khó lắm, không phải chuyện đơn giản, phước cũng đó mà họa cũng đó. Nên phải học kỹ để sau này ra làm việc thì biết mà giữ gìn.

    Thiên Hành Hộ nói:

    “Có hao tổn của thường trụ, Tam bảo, các vật phải đền trả lại.”

    Thầy tôi kể, ngày xưa ở Chơn Không, quý Thầy lớn đều làm tri khố, thay phiên ba tháng một lần. Làm xong rồi, Thầy tôi dành dụm tiền bù lại, bởi vì cũng có hao hụt. Chẳng hạn chúng đến xin này kia, có những cái cho vượt quá giới hạn nên phải bù lại.

    Trong quyển Sơn Am Tạp Lục có ghi:

    Có vị Tăng Đề Điểm Huệ Châu ở Kính Sơn là đệ tử của ngài Hổ Nham, rất thông minh, có tài làm việc. Nắm giữ mọi việc của thường trụ hơn ba mươi năm, tất cả vàng thóc ông mặc tình phung phí. Có người đem nhân quả nhắc nhở ông, ông nói: “Trọn năm mang sừng, trâu này mang nhiều lắm một cặp thôi chứ có gì đâu.”

    Sau này ông bị bệnh tê bại, tay chân co rút giống như con nhím vậy, kéo ra ông đau nhức không chịu nổi. Có một vị lão túc nói: “Trong quả báo tam đồ, năm tháng lâu dài, một cặp này hết rồi đến một cặp khác, đến vô lượng kiếp mang một cặp sừng này đâu chỉ mang một năm mà thôi. Phàm là người trông coi vàng thóc của thường trụ phải nên lấy gương Huệ Châu mà soi lại chính mình. ”

    Chẳng hạn thành con trâu để đền nợ thí chủ thì chết đâu phải được sanh làm người liền, tiếp tục thành trâu vô lượng kiếp như thế. Về sau vị Tăng này bệnh, hai tay cong lại như cái sừng trâu, tức là hoa báo hiện ra rồi, chưa nói đến quả báo. Cho nên quý thầy làm việc cho chúng phải cẩn thận chỗ này.

    Trong Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 74 có ghi là trong kinh Phương Đẳng, Bồ-tát nói: “Năm tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu và tạo mười điều ác nghiệp ta còn có thể cứu được, chứ lấy đồ, trộm vật của chúng Tăng ta không thể cứu.”

    Cổ Đức nói phước chúng như hải, phước lực của đại chúng rất lớn. Thứ hai là những người đến đây cúng dường đâu phải ai cũng giàu. Có những người nghèo khổ đến cúng dường để cầu phước báu nhân thiên, hoặc cầu mai kia được gặp Phật pháp, gặp Tam bảo. Tiền cúng dường đó, rút từ mồ hôi nước mắt của người ta mà mình vào kho tự động lấy, ăn cắp. Ăn trộm của chúng Tăng thì Bồ-tát nói chắc chắn không cứu được. Không phải nhân quả chỉ nói cho vui, đừng nghĩ như vậy.

    Trong kinh A Hàm có ghi, sau khi Phật thành đạo, Di mẫu dâng cúng xấp vải cho Đức Thế Tôn, ngài không nhận mà nói rằng muốn phước đức thù thắng thì cúng dường đại chúng. Ngài là bậc Chúng Trung Tôn, ba cõi không ai bằng, mà nhận cũng không có phước bằng đại chúng. Như vậy năng lực đại chúng rất là lớn, cho nên phải cẩn thận.

    Có người vào kho nói như thế này: “Tri khố, cho tôi hộp sữa nha, lấy hai hộp cũng được.” Tự nói, tự đáp, lấy hai hộp đi về. Quý thầy thấy đơn giản cho vui vậy nhưng đều nằm trong nhân quả hết. Một trái chanh, một cục đường, cái gì cũng phải chịu khó xin Tri khố. Tự tiện lấy, tự tiện ăn là bị nhân quả hết, không tránh khỏi.

    “Phải theo Thầy Tri sự dạy bảo chẳng được trái cãi.”

    Ngày xưa, các vị Tri sự đều là những bậc ngộ đạo, có năng lực rất lớn, bị các ngài quở thì hậu quả khó lường. Như ngài Pháp Nhãn, được pháp hội thỉnh làm Trụ trì, ông thủ tọa không nể, ngài rút bồ đoàn đập lên đầu quở: “Ông bảy ngày sau hộc máu chết.” Đúng bảy ngày ông hộc máu chết. Đại chúng vân tập đến quỳ xuống, lúc này mới phục ngài.

    Ra làm Phật sự phải có năng lực, còn không thôi ẩn luôn. Bây giờ, có những vị Thầy có năng lực lớn, nhưng vì thương nên nhiều khi không dám quở.

    “Phàm rửa rau phải thay nước ba lần. Phàm múc nước trước rửa tay cho sạch. Phàm dùng nước phải xem có trùng không, như có, lấy lụa dày lược qua mới dùng. Bằng tiết nghiêm đông trời lạnh chớ nên lược nước sớm, phải đợi mặt trời mọc. Phàm nhóm bếp chớ nên chụm củi mục. Phàm làm thức ăn chớ nên để móng tay nhơ.”

    Tổ dạy rất kỹ. Nhúm bếp không được chụm củi mục, bởi vì củi mục, thường có sâu, kiến nằm bên trong sợ nó chết. Làm thức ăn, móng tay phải cắt ngắn, sạch sẽ, móng tay dài dính dơ làm tổn phước.

    Phật dạy:

    “Đất Tam bảo, chỗ nơi làm ra thức ăn uống cúng dường Phật, Pháp, Tăng gọi là Hương Tích Trù.”

    Ở đây dẫn tích, ngài Duy-ma-cật dùng năng lực thần thông lên cõi Phật Hương Tích, xin cơm về cúng dường đại chúng. Cơm đó rất thơm, ăn vào các lỗ chân lông đều toát mùi thơm. Nhà bếp, nơi làm ra thức ăn uống cúng dường Phật, Pháp, Tăng gọi là Hương Tích Trù, tức là làm phải cho sạch.

    “Cho nên người làm ra thức ăn uống mà ba đức chẳng hiểu, sáu vị chẳng rành, và nơi chính mình thân, khẩu, ý ba nghiệp chẳng thanh tịnh thì chỗ làm ra thức ăn uống chẳng gọi là Hương Tích Trù mà gọi là uế tích trù.”

    Tức là nhà bếp dơ, thức ăn không thanh tịnh. Ba đức là: thanh tịnh, nhu nhuyến, như pháp. Sáu vị là: lạt, mặn, cay, chua, ngọt, đắng phải biết hết. Thân phải thanh tịnh, sạch sẽ, miệng không được giỡn cười, ý cũng phải thanh tịnh. Nơi chính mình, thân, khẩu, ý ba nghiệp chẳng thanh tịnh thì làm ra thức ăn uống chúng Tăng ăn không tốt. Chẳng hạn đang xào, đang nấu mà cãi lộn thì năng lực sân hận phóng vào thức ăn, đại chúng ăn là lãnh đủ hết. Làm mà miễn cưỡng, nhăn nhó không vui thì cũng không có phước. Phải biết được ba đức thì mới có phước.

    Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn chứng đạo rồi, đi đến đâu ngài cũng xin làm Tri khố. Bên Tây Tạng có một vị Lạt-ma ở trong bếp nấu ăn cho chúng mà không ai biết ngài đã ngộ đạo. Sau khi ngài tịch tại nhà bếp, người ta mới biết ngài là bậc chứng ngộ. Có quyển sách nói về những vị Lạt-ma nấu bếp, đều là những bậc ngộ đạo. Năng lực ngài phổ vào, trong đại chúng vị nào bệnh ngặt nghèo ăn lại được hết bệnh.

    “Vốn là thức ăn phụng cúng Phật và Tăng, nếu chẳng có tinh khiết, thức ăn nhơ uế chẳng có lựa chọn, liền mất đi cái đức thanh tịnh. Nếu chẳng có tinh tế, vị ngọt có chút thô rít liền mất đi cái đức nhu nhuyến.”

    Ở đây nói rất rõ là nấu thức ăn thức uống, làm tất cả việc đều phải thanh tịnh.

    “Chợt buông thả phóng tình, chưa cúng mà đã ôi thiu thì mất đi cái đức như pháp. Lại ba đức nếu không có sáu vị điều hòa thì cũng chẳng thành tựu. Là các ông, ba đức, sáu vị phải quán sát chắc thật kỹ càng, cho nên phải rõ biết cái đức cùng thấu tột cái vị. Lại thêm cái tâm không ta, không người, không chúng sanh, không thọ giả, dốc hết toàn thân siêng năng khéo léo làm các thức ăn uống phụng cúng Phật và Tăng, thì công đức của người này giả sử đem bảy báu đầy khắp hư không bố thí vô lượng kiếp chẳng sanh tâm mệt mỏi, chán chường, đem cái tướng này mà so sánh thì công đức kia vạn lần chẳng bằng một.”

    Vào nhà bếp thì xả thân, không ta, không người, không chúng sanh, không thọ giả, bốn tướng đều vắng bặt, làm vì đại chúng, chúng ăn vui vẻ, tu hành có năng lực lớn, thì được phước đức rất thù thắng.

    “Vì ba đức không khuyết, sáu vị không mất, thức ăn uống này nếu xúc vào mũi Phật hoặc vào miệng chúng Tăng thì như mùi hương của chiên đàn, như uống nước cam lồ, ngũ tạng điều hòa, trăm lỗ chân lông khoái thích. Thân thích thì tâm mới an được.”

    Bữa nào quý thầy nấu sao mà chúng bị tiêu chảy là bữa đó coi như bỏ, huề vốn, không có lời, nhiều khi lỗ nữa. Có một số quý thầy nấu chúng ăn bị tiêu chảy phải lên sám hối. Bữa nào, quý thầy ăn đúng khẩu vị thì tối về ngồi thiền tự nhiên thấy an ổn, vì thân nó không có quậy mình. Còn ăn về mà bụng kêu rột rột thì làm sao ngồi thiền. Làm nhà bếp không phải chuyện đơn giản, biết thì có phước, có đức, trợ duyên cho mình tu hành. Thành Phật, tác Tổ cũng từ trong này ra.

    “Hiển bày sắc lực nên tâm lực nương nhờ. Sắc lực được nương nhờ thì thân tráng kiện, tâm lực được nương nhờ thì thần không quấy rối. Thân tráng kiện thì tiến đạo có nhờ, thần không có rối thì trí quán dễ thành.”

    Nhiều người nói, vào đạo rồi không cần ngủ, nói vậy không được. Ăn uống, ngủ nghỉ điều độ để ít bệnh thì tu đạo dễ hơn người hay bị bệnh. Bệnh hoài khó tu lắm, mặc dù mình cũng ráng nhưng đạt được năm mươi phần trăm thôi. Thân mà tráng kiện, an ổn thì trí quán sâu sắc, dễ thành.

    “Phàm ăn uống chẳng như pháp thì thân nhiều bệnh, tâm nhiều quấy rối. Thân tâm đã bệnh lại nhiều quấy rối, người mà tinh tấn hành đạo để được khai ngộ thật là không có chỗ này.”

    Tu thiền mà ăn nhiều tiêu, ớt, cà ri, tối về nóng trong người, bứt rứt rất khó tu. Bữa nào ăn rau luộc, nước tương thấy khổ vậy đó nhưng tu rất tốt. Ăn đủ thứ, ăn nhiều dầu, bánh mì cà ri, tiêu ớt ngon miệng thật đó nhưng tu lại yếu. Còn những lúc ăn khổ khổ mà tu lại có năng lực.

    “Ngay đây mà quán sát thì tánh mạng của người tu hành thật là nằm ở trong tay người tri khố. Nên người ở trong nhà trù mà ba đức chẳng biện, sáu vị chẳng thông gọi là đầu trâu bừa càn không ngoài giết người.”

    “Như ba đức mà biện, sáu vị tỏ thông, lại dùng cái tâm không ngã, không người, không chúng sanh, không thọ giả, dốc hết toàn thân như pháp mà làm thức ăn uống phụng cúng Phật và Tăng, gọi là Bồ-tát đại từ bi.”

    Quý thầy vào nhà bếp phải có tâm cảm thương chúng, đừng nghĩ tu hành rồi ăn gì cũng được không cần ngon dở, dơ cũng không sao nên làm sơ sài, rửa không kỹ thì tổn phước của mình.

    “Ba ngàn chư Phật đều phát xuất từ trong nhà bếp. Lại nữa, vì thường trụ mà hà tiện, chẳng tôn hiền kính quý, thì tương lai bị quả báo làm quỷ đói.”

    Quý thầy đừng hà tiện của thường trụ rồi cho chúng ăn rau luộc, nước tương hoài. Ngày xưa ở Thường Chiếu có một thầy, pháp hiệu là Phổ.… cho chúng ăn mít suốt, sáng mít kho, trưa mít kho, chiều mít xào, sáu tháng ăn mít như vậy, đại chúng đặt tên ông là Phổ mít. Chúng không biết làm sao vì không có ai thay, nên báo lên Hòa thượng, lúc đó ngài ở Trúc Lâm. Hòa thượng gọi xuống liền, cho nghỉ. Rồi có một thầy ngày mồng một cho ăn bầu với chao. Phật tử báo Hòa thượng liền, Hòa thượng cũng cho nghỉ.

    Nghe vậy quý thầy cho ăn thoải mái, sáng cà ri, trưa bánh xèo, bánh bao thì cũng không được. Tổ dạy:

    “Vì thường trụ mà tiêu xài phung phí thì chẳng xét kỹ chỗ đến gian nan, tương lai bị quả báo bần cùng thiếu thốn.”

    “Lại lúc làm ra thức ăn, sáu căn chẳng cẩn trọng, chín khiếu phóng tình, tứ chi chẳng thanh tịnh, tương lai bị quả báo làm con giòi hôi trong hầm phân.”

    Lúc làm thức ăn, sáu căn, chín khiếu phóng tình, làm ở đây mà quý thầy nghĩ đâu đâu, không chú tâm, làm cho có làm, tay dơ không thanh tịnh thì tương lai bị quả báo làm con giòi trong hầm phân.

    “Chỗ thực như trên đều là chỗ nói của Như Lai, hoặc nghe, hoặc thấy phải sanh tâm hổ thẹn, hướng đạo mà hành thì ngu si ắt phá, Bát-nhã ắt khai, các tội ắt tiêu, muôn phước ắt hội tụ. Hiện tại thân tâm an ổn, tương lai đắc đạo Vô thượng, lên quả vị Bồ-tát, lời Phật không hư dối. Phật tử trong nhà trù phải thể hội tâm Phật, ngay đây liền vượt qua biển khổ sanh tử.”

    Đây là lời Phật nói chứ không phải Thiền sư nói. Phật nói mình sanh tâm hổ thẹn, hướng theo đó thực hành thì ngu si ắt phá. Tuy ngu dốt nhưng một thời gian trí tuệ phát sinh, Bát-nhã mở ra, các tội tự nhiên tiêu hết. Trong kinh nói, người phạm tội ba-la-di như bị cắt đầu, nhưng làm việc cho chúng, làm trong nhà bếp, rửa cầu tiêu tội lại hết. Biết nghiệp mình nặng, chướng duyên nhiều thì khi rảnh nên làm phụ, chẳng hạn lặt rau, cắt gọt…

    Trong Kinh Hộ Tịnh có ghi:

    Vào thời Đức Phật có một vị A-la-hán đã chứng thần thông, ngài vào nhà xí nghe tiếng khóc của một Tỳ-kheo ngạ quỷ rất thảm thiết, ngài hỏi:

    - Cái nhân của ông rất tốt, ông đã được xuất gia làm Tỳ-kheo rồi, nguyên nhân nào bây giờ ông thành ngạ quỷ vào trong hầm phân mà khóc như vậy?

    Ngạ quỷ nói:

    - Vào thời Đức Phật Ca-diếp, tay dơ mà vào thức ăn cho chúng Tăng.

    - Tại sao ông khóc?

    - Đói bụng quá, vào nhà xí tìm phân để ăn thì bị quỷ thần lấy gậy đập lên đầu cho nên khóc.

    Vị A-la-hán vì Tăng chú nguyện tức khắc thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.

    Quý thầy nghe câu chuyện này thấy tu khó quá, sợ quá nên ra đời, như vậy đúng không? Nếu không tu, thành ngạ quỷ không ai cứu. Nhờ nhân duyên thù thắng, ngạ quỷ được vị A-la-hán chú nguyện thoát kiếp ngạ quỷ. Cho nên phải kết duyên với Phật.

    Bà Liên Hoa Sắc một hôm gặp các cô thiếu nữ, bà khuyên đi tu. Các cô nói con còn ham ăn, ham ngủ không dám vào chùa tu đâu, sợ đọa địa ngục. Bà nói không sao, đọa địa ngục hết rồi lên tu tiếp. Quý thầy cũng phải phát nguyện như vậy: “Nếu kiếp này con lỡ làm tội gì phải đọa địa ngục, nguyện hết địa ngục con lên tu tiếp, mở con mắt Bát-nhã là thấy Phật - Pháp - Tăng.”

    Cho nên Thiền sư Vĩnh Minh nói:

    “Bốn biển rộng lớn nếu không do tích tụ các dòng thì không có đầy. Bước lên Thập địa tôn quý, nếu không do tích lũy điều lành thì chẳng đủ. Thế nên sâu xa chẳng thể dò là do dung nạp lâu dài, chỗ linh diệu không thể lường là nhờ sự ra công tu tập cần mẫn mà đạt đến. Huống chi bậc Diệu giác chỉ dạy, hàng thân hiền lập giáo bảo rằng dầu cho một việc lành nhỏ cũng có thể giúp ở nơi ba cõi mà vượt qua khỏi trần lao.”

    Bốn biển rộng lớn nếu không do tích tụ các dòng thì không có đầy. Cũng vậy, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không nhờ tích tụ những việc thiện pháp thì không thành tựu được. Phật thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thành tựu những năng lực lớn đều do tích lũy điều lành từ những kiếp trước.

    Bước lên Thập địa tôn quý, nếu không do tích lũy điều lành thì chẳng đủ. Cho nên làm hết tất cả, đừng ỷ lại bây giờ tu rồi không làm gì nữa. Thế nên sâu xa chẳng thể dò là do dung nạp lâu dài. Hằng ngày mình làm mình thấy không là gì, nếu làm việc ngoài đời lãnh lương thì không có phước; nhưng ở đây do tâm niệm, do một cái gì đó thôi thúc mình làm thì có công đức và phước đức.

    Chỗ linh diệu không thể lường là nhờ sự ra công tu tập cần mẫn mà đạt đến. Huống chi bậc Diệu giác (tức là Phật) chỉ dạy, hàng thân hiền lập giáo bảo rằng dầu cho một việc lành nhỏ cũng có thể giúp ở nơi ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) mà vượt qua khỏi trần lao. Mình bỏ công sức làm với tâm niệm thanh tịnh, tâm niệm làm vì đại chúng thì phước lực rất lớn. Tâm niệm thanh tịnh, đúng pháp thì những công đức tích tập. Công đức được tích tụ thì khi chướng duyên đến, tự nhiên có người giúp mình vượt qua. Có những thầy tu hành rất tốt, nhưng khi chướng duyên đến thì không chịu tu nữa. Chướng duyên, nghịch cảnh không thể nói được. Chỉ khi nào tích tụ thiện pháp nhiều trong lúc quý thầy ở trong chúng thì mai này làm Phật sự, khi chướng duyên đến, tự nhiên có cái gì đó cản lại. Đó là con đường Phật đạo mình phải cần.

    “Phàm đổ nước nhơ chẳng được giữa đường. Chẳng được cao tay hắt đổ, phải cách đất chừng bốn, năm tấc từ từ mà đổ. Phàm quét đất chẳng được quét ngược gió, chẳng được nhóm bụi đất để sau cánh cửa.”

    Ở đây chư Phật, chư Tổ chỉ mình phương pháp chánh niệm. Trong cuộc sống tu hành, người không có chánh niệm giống như cánh cửa không có chìa khóa. Phương pháp chánh niệm, tuy chưa phải là chỗ cứu cánh giải thoát cuối cùng của đạo Phật, nhưng chánh niệm giống như một chiếc chìa khóa mở cửa đi vào tri kiến Phật.

    Phàm đổ nước nhơ chẳng được cao tay hắt đổ, phải cách đất chừng bốn, năm tấc từ từ mà đổ. Nếu không có chánh niệm, đổ nước ào xuống thì người đứng xung quanh bị ướt rồi sanh tâm phiền não. Nhìn thì biết người này không có phương pháp tu, không có tinh thần chánh niệm.

    Những oai nghi phép tắc này thấy rất đơn giản, nhưng mà chư Tổ đánh mạnh cho mình là làm gì cũng phải có chánh niệm, cũng phải có tỉnh thức. Bởi vì trong phần Oai Nghi toàn là quét đất, rồi ăn cơm, rửa chén, tất cả đều nằm trong tinh thần thiền tập.

    Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

    “Quét đất mà ngược gió để bụi hắt vào mặt là người không có trí huệ. Nhóm bụi đất để sau cánh cửa, người này có thủy mà không có chung, về sau kết quả có thể thấy.”

    Quét rác mà không chịu hốt, Tổ dạy là người này có thủy mà không có chung. Ngày xưa các tùng lâm là một thầy một trò, trò làm gì thầy để ý đều biết. Đừng nói thiền hay nói gì cao siêu, trong cuộc sống tu hành, làm việc, người đi trước nhìn là biết tương lai mình đi đến đâu, có thành bậc pháp khí hay không. Các ngài để ý mình trong công việc, chẳng hạn chẻ củi. Hòa thượng Trúc Lâm hay đi xung quanh, chúng tôi chẻ củi hay hành đường, trị nhật, ngài đứng ngoài xa nhìn xem cách thức mình làm việc thế nào, biết người đó sau này có năng lực đi vào cuộc đời hay không. Người xưa hay người nay mà có cặp mắt sáng, thì các ngài hay để ý vào công việc hàng ngày.

    Kinh nói:

    “Quét đất phải khiến cho sạch, chẳng được có dấu. Có dấu tức thời quét lại.”

    Trên nền xi măng hay nền gạch nó sạch thì đúng rồi, còn quét trên mặt đất biết bao giờ cho sạch? Lý thiền ở đây rất sâu. Hồi nãy chúng ta học sự thì phần này chúng ta học lý.

    Đức Phật nói quét đất phải khiến cho sạch, có nghĩa đây là phương pháp tu thiền tập. Chữ Phật trong chữ Hán, bên trái là bộ nhân, bên phải là chữ phất. Phất có nghĩa là quét, tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng đêm, hằng tháng, hằng năm chúng ta phải quét sạch cái tâm thức của mình thì mới thành Phật được.

    Phật là bậc giác ngộ, muốn được như vậy thì chúng ta phải quét đất tâm của mình, quét mà không còn dấu vết thì mới đúng. Đây nhằm mục đích đạt đến chỗ nào? Là một hành giả, tu là phải đến chỗ vô tu, vô chứng; năng sở, chủ khách phải quét sạch hết. Nếu tu không khéo chúng ta chấp thành Phật, chấp thành Thánh. Người mới xuất gia không khéo thì hay mong cầu có một cái gì khác lạ hơn huynh đệ. Chính sự mong cầu, sự chấp trước đó lại trở thành bệnh.

    Cho nên Tổ Lâm Tế nói:

    “Này các ông! Các nơi nói đạo có tu có chứng. Chớ lầm! Giả sử có pháp tu được cũng đều là tạo nghiệp sanh tử. Ông nói lục độ vạn hạnh đồng tu, ta thấy đều là tạo nghiệp. Cầu Phật, cầu Pháp tức là tạo nghiệp sanh tử.”

    Ở đây nhằm mục đích cho chúng ta thấy quét là phải quét cho sạch hết, còn một chút dấu vết cũng đều là bệnh.

    Ngày xưa Thầy Phước Hảo có kể: Ở Phú Yên, có một vị Thượng tọa nhập thất cỡ ba năm. Một hôm ngài ngồi yên tự nhiên ngài thấy lỗ chân lông ngài có những luồng ngũ sắc phóng ra. Vị Thượng tọa này vừa khởi niệm mình chứng Thánh liền bị rớt vào đường tà. Rớt vào đường tà thì sanh bệnh, mà sanh bệnh tức là tạo nghiệp sanh tử. Bởi vì sau khi khởi niệm mình chứng Thánh, chuẩn bị xuống núi giáo hóa chúng sanh thì tối đó lại bị phạm giới.

    Cho nên nói cầu Phật, cầu Pháp đều tạo nghiệp sanh tử hết, bởi vì thấy có một cái gì đó ngoài mình đều là tạo nghiệp.

    Kinh Lăng Nghiêm nói:

    “Nhược tác Thánh giải tức thọ quần tà, bất khởi Thánh tâm, tức thiện cảnh giới.”

    Trong lúc hạ thủ công phu, có những điềm lạ hiện ra thì đó là công phu tốt, trong kinh Lăng Nghiêm Phật nói đó là cảnh giới thiện. Nhưng mình chấp mình chứng Thánh, hoặc có một cái gì đó nữa thì rớt vào cảnh giới của ma. Có một vị trì chú Đại Bi, bây giờ tu lạc đường, nghe bên tai có tiếng nói chuyện, rồi đứng giữa trời múa may. Hoặc có người nghe bên tai có tiếng nói Phật, nói Pháp. Mỗi pháp đều có năng lực riêng, chúng ta không biết mà chấp vào cho đó là mình, là của mình thì sanh bệnh. Cho nên ở đây Phật nói quét đất phải quét cho sạch, chẳng được có dấu, có dấu thời phải quét lại.

    Sau đây, tôi nêu thêm một câu chuyện để quý thầy thấy, nếu chúng ta chấp vào có sự tu có sự chứng là lạc đường hết:

    Ở thành phố có một vị tu thiền cũng lâu, thấy mình biết nhiều, biết hơn những người khác nên sanh tâm hơi ngã mạn. Một hôm đang ngồi thiền, ông thấy trước mặt có hai hàng Bồ-tát thỉnh ông lên tòa sen thuyết một bài pháp, ông bước xuống chuẩn bị lên pháp tòa nhưng lại rớt xuống cầu thang, bây giờ nằm liệt giường một chỗ.

    Cho nên thấy mình có tu, thấy mình có chứng, thấy mình có cái gì đó đều là bệnh hết. Những cảnh giới hiện ra, nếu không được những bậc Cao Tăng hay người đi trước chỉ cho mình, thì toàn bộ đều sanh bệnh hết. Quý thầy mới xuất gia, hoặc người mới biết đạo thì công phu hay có sức dồn ép để mong đạt vào một cảnh giới nào đó. Tu lâu năm rồi mới thấy cái đó là trật. Mình tu bình thường, chẳng hạn sáng và trưa chúng ăn cơm trên quả đường, chiều chúng tụng kinh, ngồi thiền, mình làm y như chúng thì tốt.

    Ngày xưa tôi không làm như vậy, tôi ngồi thiền bất kể ngày đêm. Đây tôi xin kể một cảnh giới chính chúng tôi rớt vào. Hồi chúng tôi công quả ở Chơn Không, sau khi công quả buổi sáng, buổi chiều Thầy Phước Hảo cho chúng tôi tu. Một hôm, khoảng hai giờ trưa, tôi đang ngồi thiền dưới gốc cây bỗng nhiên thấy một đàn kiến. Trong tâm thức, trong cái tưởng của mình, mình biết đàn kiến này từ đâu đến và tại sao nó bị thọ khổ vào cảnh giới này, tự nhiên mình khởi niệm từ bi. Vừa khởi niệm thương là nước mắt chảy, giống như gặp trạng thái cha mất hay mẹ mất vậy. Khóc sướt mướt rồi tưởng là mình phải hành đạo Bồ-tát, để cứu đàn kiến thoát khỏi cảnh giới này. Rớt vào cảnh giới đó xong, tuy xả ra rồi nhưng gặp cái gì cũng khóc.

    Sau khi nghe tôi trình, Thầy Phước Hảo nói, chú bị ma sầu bi nó nhập vào tâm thủ rồi. Ma sầu bi nhập rất là nguy hiểm, nếu không có người chữa trị cho mình, thân mình tự nhiên bị khô rút lại từ từ rồi chết. Có những người tu thiền mà hay cười, gặp cái gì cũng cười, tưởng là tốt nhưng không phải, người đó bị ma hoan hỉ nhập. Đó là bệnh mà không biết.

    Thầy Phước Hảo bảo tôi ngồi thiền sát bên Thầy, Thầy bắt đầu chỉ phương pháp buông xả. Khi niệm từ bi đến hoặc có bất cứ niệm gì Thầy bắt phải buông xả hết tất cả, trở về trạng thái rỗng không. Trở về trạng thái rỗng không rồi thì mấy phút sau hiện tượng đó mới hết. Đây là kinh nghiệm của người đi trước chỉ cho mình.

    Khi có cảnh giới khác lạ đến, nếu chấp đó là chỗ thù thắng đều là sanh bệnh. Trong quyển Ngữ Lục của Thiền sư Hám Sơn, ngài dạy khi cảnh giới khác lạ đến, mình đắp mền ngủ một giấc thật sâu rồi xả ra thì hết.

    “Cho nên cầu Phật, cầu Pháp đều là tạo nghiệp sanh tử; cầu Bồ-tát cũng là tạo nghiệp. Xem kinh, xem giáo cũng là tạo nghiệp.”

    Chẳng lẽ không cho mình xem kinh? Xem kinh, xem giáo để hiểu rồi hành chứ không phải để đem ra cãi. Xem kinh, xem giáo mà hai huynh đệ cãi nhau thì tạo nghiệp A-tu-la. Cãi nhau thì sân, mà sân chính là tạo nghiệp sanh tử.

    “Người học không rõ vì chấp chữ nghĩa, bị những danh từ phàm Thánh làm ngại cho nên ngăn chướng mắt đạo, không được phân minh. Như Lai mười hai phần giáo đều là những lời nói để hiển bày.”

    Chẳng hạn, mình phân tích phàm là gì: Phàm là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người. Rồi phân tích Thánh là gì: Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Phân tích chia chẻ, nhưng lại làm chướng mắt đạo của mình, không hiểu rằng mười hai phần giáo đều là chỗ hiển bày tri kiến Phật. Nếu không nhờ học kinh, xem giáo lý thì không hiểu. Nương giáo lý như ngón tay chỉ mặt trăng, còn chấp ngón tay cho là mặt trăng thì đánh mất tri kiến.

    “Người học không thể hội, lại nhằm trên những lời hiển bày đó mà sanh hiểu đều là nương tựa, rơi vào trong nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong ba cõi. Nếu ông muốn thoát sanh tử, đi đứng, buông nắm tự do thì hiện nay hãy biết lấy người đang nghe pháp.”

    Muốn không bị sanh tử câu thúc, trói buộc, thì mình phải nhận lấy người đang nghe pháp. Quý thầy nghe pháp mà lắng thần không suy niệm gì hết thì đó là người đang nghe pháp. Cái gì biết được đang nghe pháp? Nghe pháp, học giáo lý các ngài luôn luôn bắt mình phản quan lại. Học Pháp, học Phật là mình phải tiêu dung. Pháp của Phật là cam lồ, mà nếu mình không tiêu dung, không thực hành được thì các ngài nói cam lồ biến thành độc dược. Học rất nhiều nhưng oai nghi phép tắc không có, thì các ngài nói mình có châu báu đem biếu người khác, mà không sử dụng gì hết.

    Qua phần oai nghi phép tắc này, người chịu khó học hỏi, thực hành thu thúc sáu căn là người rất mô phạm trong cuộc sống. Mô phạm ở đây là thấu tột người đang nghe pháp.

    “Người này không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở mà sống động rõ ràng, cần thì lập bày ra muôn thứ.”

    Chẳng hạn, sáng nay quý thầy nhìn trên bảng thấy mình đi trị nhật thì lập bày đi trị nhật, thấy chẻ củi thì đi chẻ củi. Ngày mai nhìn trên bảng thấy mình không đi chẻ củi nữa mà cuốc đất, cuốc cỏ gì đó. Quý thầy nghiệm lại xem, có một mình mà sao phân ra muôn thứ? Đây chính là điểm mà Tổ muốn nhắc chúng ta, cần nhận ra người đang nghe pháp này.

    “Chỗ dùng chỉ là không chỗ, tìm thì càng xa, cầu thì càng trái, cho nên gọi đó là bí mật.”

    Phần trước, Phật dạy buộc mình phải quét cho sạch hết. Quét sạch hết tưởng không còn gì, nhưng khi sạch hết rồi thì hiển bày ra con người đang nghe pháp.

    Ở Trung Hoa, thời Đường, lúc Thiền tông thịnh hành nhất thì xuất hiện một vị Tổ, đó là Tổ Bá Trượng. Rất nhiều người đến cầu pháp với Tổ trong đó có một vị Thiền sư tên là Thần Tán. Thiền sư Thần Tán ở với Thầy mình lâu năm rồi mà không hiểu thiền nên đi hành cước, gặp Tổ Bá Trượng chỉ dạy được khai ngộ.

    Sau khi ngộ đạo, ngài nhớ ơn và thương Thầy mình chưa thấy đạo nên trở về để dìu dắt Thầy. Thầy bổn sư không biết ngài ngộ đạo nên sai ngài hầu hạ như trước.

    Một hôm nhân bổn sư tắm, Thiền sư Thần Tán vỗ lưng Thầy nói:

    - Điện Phật rất đẹp mà Phật thì không Thánh.

    Bổn sư xoay đầu ngó lại, Thiền sư nói:

    - Tuy không Thánh mà hay phóng quang.

    Đó là con người đang nghe pháp, tuy không linh, không thánh nhưng thường biết.

    Một hôm Thầy bổn sư ngồi xem kinh, có con ong chui đầu vào tấm giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra, Thiền sư Thần Tán nhìn thấy nói:

    - Thế giới thênh thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào giấy cũ biết năm nào ra được? Rồi ngài nói bài kệ:

    Không môn bất khẳng xuất,

    Đầu song dã thái si.

    Bách niên tán cố chỉ,

    Hà nhật xuất đầu thì.

    Dịch:

    Cửa không chẳng chịu ra,

    Ong ngu chui cửa sổ,

    Trăm năm dùi giấy cũ,

    Ngày nào mới được ra.

    Ý nói, Thầy bổn sư chuyên xem kinh mà không biết được cửa Không để tìm cách thoát ra. Ở đây cho chúng ta thấy, xem kinh, học giáo lý hay nói khác hơn là tu đừng có chấp, chấp tức là bệnh.

    “Phật cùng với Tổ sư là người vô sự, cho nên hữu lậu thì hữu vi, vô lậu thì vô vi là nghiệp thanh tịnh.”

    Có nghĩa là không chấp trước một điểm nào. Chẳng hạn chẻ củi, nấu cơm, làm việc cho chúng cũng là cái phước, nhưng trong tinh thần mình vô chấp thì trở thành vô lậu, mà vô lậu là vô vi, đó là nghiệp thanh tịnh. Còn thấy trên bảng ba người mà nhìn lại chỉ có hai người đi làm, mình khởi niệm tại sao... rồi không chịu làm, rồi cằn nhằn, trách móc. Đó là nghiệp hữu lậu, hữu lậu tức là hữu vi, mà hữu vi tức là tạo tác. Cho nên, trong tinh thần làm việc mà chúng ta biết cách chuyển hóa, thì cũng trở thành nghiệp thanh tịnh.

    “Có bọn trọc mù ăn cơm no rồi bèn ngồi thiền quán hạnh, nắm bắt vọng niệm không cho chạy khởi, chán huyên náo, tìm yên tĩnh, đó là pháp ngoại đạo.”

    Pháp Tổ sư thiền là pháp hướng thượng, chúng ta phải tìm chỗ yên tĩnh như thế nào chứ Tổ không cho nắm bắt vọng niệm không cho chạy khởi. Như vậy, chúng ta ngồi thiền cho vọng niệm khởi thoải mái, phải không? Quý thầy phải nhớ kỹ, Hòa thượng thường dạy: “Chủ chỉ biết khách thôi.” Tức là vọng niệm bao nhiêu, lên, xuống, sanh, diệt… mà không ra ngoài ánh sáng của Bát-nhã. Niệm sanh niệm diệt, niệm còn niệm mất, niệm tật đố, niệm ích kỷ, niệm xan tham…, một ngàn thứ niệm mà không ra ngoài cái tri kiến của mình thì đúng.

    Nắm bắt vọng niệm rồi đè nó xuống, đó là bệnh. Dung túng vọng tưởng là phàm phu, đè nén vọng tưởng là hàng Nhị thừa. Ở đây Tổ dạy mình phải chuyển hóa vọng niệm. Một niệm xấu ác khởi lên, như tật đố chẳng hạn, quý thầy chuyển niệm đó liền, không cho nó sanh khởi nữa thì từ từ lâu ngày chầy tháng, những hạt giống tật đố, ích kỷ đó sẽ chết.

    “Nếu ông dùng tâm quán tịnh, khởi tâm xoay ra ngoài, nhiếp tâm lặng bên trong, lóng tâm vào định, những hạng như thế đều là tạo tác. Chỉ như người đang nghe pháp thế ấy của ông hiện nay làm sao để tu chứng y, trang nghiêm y. Vả lại y không phải là vật để tu, cũng chẳng phải là vật trang nghiêm được. Nhưng nếu bảo y trang nghiêm thì y trang nghiêm được tất cả.”

    Trong công việc, đi đứng, nằm ngồi đều phải tu, rất hợp với tinh thần oai nghi. Sáng quét sân cũng tu, không phải ngồi thiền mới là tu. Bởi vì y không có gì để tu hết, nhưng bảo y trang nghiêm thì y trang nghiêm được tất cả. Quý thầy phải nhớ chỗ đó.

    Tổ Bách Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu.” Vậy chừng nào tâm rỗng không? Không còn vọng niệm thì tự nhiên trí huệ chiếu ra, biết hết tất cả, phải vậy không? Có người kiến giải như thế, nhưng quý thầy nhớ kỹ, đất tâm nếu không, tức là không còn tạo tác nữa, thì khi cảnh đến, quý thầy không đắm nhiễm. Chớ không phải tự nhiên mình phát trí huệ rồi, mình biết ông A ở đâu, ông B ở đâu. Quỷ thần họ cũng biết vậy.

    Mặt trời trí huệ tự chiếu là biết hết tất cả mà không đắm nhiễm tất cả, cho nên y trang nghiêm được tất cả. Chẳng hạn thấy trên bàn trái ổi là mình lấy bỏ túi, đó là trí huệ không chiếu. Còn mình thấy mình dửng dưng, không có gì dính dáng hết, đó là trí huệ chiếu vào, thấy các pháp đều là rỗng không, là vô thường, là khổ thì mình đâu còn tham chấp nữa, lúc này trí huệ tự phát huy, càng tu càng tiến.

    Tinh thần oai nghi Phật dạy, đừng tưởng tu ở đâu xa, mà trong cuộc sống giữa đời thường này, trong lúc hành đường, trị nhật, chẻ củi,... làm lao tác với chúng mà luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã chiếu ra. Bát-nhã chiếu ra thì lâu ngày chầy tháng, tâm dừng lại. Chẳng hạn, ngày xưa huynh đệ nói trái tai là mình nổi giận liền. Bây giờ ngược lại, lời của huynh đệ nói ra mình vừa khởi niệm thì có cái gì đó tự động ngăn lại, không khởi niệm gì hết. Đó là tuệ nhật tự chiếu, phá những hạt giống vô minh.

    Lý thiền nói, phiền não vốn không, phiền não tức Bồ-đề. Rỗng không thì mới tức được, còn có một cái gì đó thì tức không được. Tuy nhiên, tinh thần của Duy thức học chỉ nói trên lý thôi. Nói về sự thì trong vô lượng kiếp, hạt giống phiền não của mình nó kết tụ thành sạn rồi. Phải uống thuốc gì đó, để cho những hạt giống phiền não cù cặn nó tiêu dung. Chẳng hạn quý thầy tưới nước, có loài hoa lạ từ đất mọc lên. Tức là dưới đất có hạt giống của loài hoa đó, tưới nước nó mới nảy mầm. Nếu những hạt giống chủng tử này chết rồi, thì quý thầy tưới nước gì nó cũng không mọc lên được.

    Thiền sư ngộ đạo rồi, tại sao các ngài vào trong quán rượu, tửu điếm mà không khởi niệm. Báo Giác Ngộ có nói về phương pháp giáo hóa độ sanh của các thiền sư Nhật Bản, thuộc các tông như Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Thiền tông. Người trẻ tuổi đến chùa, họ thấy điều gì đó cao siêu quá nên bây giờ họ không đến chùa nữa. Vật chất ngày càng tăng trưởng nhưng đạo đức ngày càng đi xuống, cho nên các ngài hy sinh, vào quán bar để dìu dắt những chúng sanh đó.

    Tại sao các Thiền sư ngộ đạo vào được quán rượu, tửu điếm, còn mình vào là chết liền? Bởi vì trong tâm thức mình vẫn còn những hạt giống tham ái, tưới nước tham ái vào là nó tăng trưởng, là phạm giới. Chừng nào những hạt giống đó không còn trong tâm thức nữa, thì mình đi đến đâu cũng được tự tại, giải thoát, được trang nghiêm. Chưa được thì chúng ta phải thu thúc trong Thiền viện, tu năm năm mười năm, hai ba chục năm.

    Tại sao người kiến tính ngộ đạo rồi vào núi tu ba bốn chục năm? Để trưởng dưỡng Thánh thai. Nghĩa là huân tập đạo đức ngày càng sâu dày, để những hạt giống tham ái nó chết khô, nó cạn kiệt không còn sống dậy nữa, thì tự nhiên vào cuộc đời không bị ảnh hưởng gì.

    Người mới xuất gia, tại sao Hòa thượng, Thầy Trụ trì không dám cho làm hương đăng, không dám cho ra nhà khách tiếp duyên, mà bắt buộc phải ở trong nội viện tu để trưởng dưỡng. Bởi vì hạt giống xấu còn rất nhiều, tiếp duyên xúc cảnh thì tự nhiên hạt giống này nó sống dậy, mà sống dậy rất mạnh. Còn người tu mười mấy hai chục năm thì dù sao, những hạt giống tham ái này nó đã khô cạn bớt.

    Nên nói, tu mà chấp trước là rớt vào đường tà, tưởng mình chứng Thánh chứng đạo rồi nhưng thật ra không phải. Đạo Phật rất đơn giản, không có gì huyền bí hết. Chừng nào trong tâm mình cảm thấy tham, sân, si, tật đố, ích kỷ, nhỏ mọn ngày càng bớt thì mình biết đang tu tiến. Muốn được vậy thì uống thuốc gì?

    Muốn tiêu dung những hạt giống tật đố, ích kỷ, xan tham thì trong cuộc sống tu hành phải tăng trưởng những hạt giống thiện pháp. Hạt giống thiện pháp nhiều, thì đánh bạt những hạt giống ác pháp từ vô lượng kiếp. Chẳng hạn, thấy huynh đệ làm mệt nhọc, mình đến giúp đỡ, san sẻ. Mình khắc kỷ với chính mình mà bao dung tha thứ với người thì đúng. Còn tu mà bao dung với chính mình, khắc kỷ với người khác thì coi chừng, pháp tu đó không phải pháp của Phật mà là pháp ngoại đạo.

    Tại sao đầu tròn, áo vuông tu pháp của Phật mà lại sanh ra pháp ngoại đạo? Duy thức học nói, trong vô lượng kiếp mình đã từng tu với một phái ngoại đạo nào đó, những hạt giống này nó còn nên sống lại, thành ra tu pháp Phật cũng thành pháp ma, pháp ngoại đạo. Ngày xưa, người nào có hạnh phúc, an ổn, làm gì cũng hơn mình, mình không thích; bây giờ thì mình vui, mình nâng đỡ, như vậy biết mình đang tu tiến. Chớ không phải ngồi thiền, chiếu hào quang mới là tu theo pháp Phật.

    Cho nên Kinh Bách Duyên nói:

    Quét đất được năm thứ công đức thù thắng:

    1- Trừ tâm nhơ cho mình.

    Tâm nhơ là tâm tham, sân, si, ích kỷ, tật đố, kiêu mạn,… Sáng, thấy tên mình trên bảng đi quét sân thì cứ đi. Tôi thấy quét sân có điểm hay, thứ nhất là mình tập thể dục, thứ hai là trong lúc quét mình chánh niệm, quán tưởng sâu sắc là mình đang quét đất tâm của mình. Bao nhiêu rác rưởi, tật đố, xấu ác quét sạch, ngày nào cũng quét.

    Cần tảo già lam địa,

    Thời thời phước huệ sanh.

    Tức là siêng năng quét đất già lam thì lâu ngày phước huệ tăng trưởng.

    2- Trừ tâm nhơ cho người khác.

    Thường xuyên quét sân, tức là quét đất tâm thì một thời gian, tự nhiên mình có năng lực tiếp vật lợi sanh. Đừng nghĩ mình học hiểu kinh điển nhiều, rồi nói Phật tử nghe. Bởi vì tâm mình còn cù cặn nhiều quá, nói người ta không nghe.

    Ngày xưa, một lời của Đức Phật phổ xuống, đại chúng ngộ đạo rất nhiều. Trong kinh diễn tả, người nào có duyên với Phật, như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,... đến với Phật, Phật nói ”Thiện lai Tỳ-kheo” là râu tóc rụng hết, cà-sa trên mình đầy đủ thành tướng Đại Sa-môn. Như vậy hiểu sao? Có thần thông hay sao? Về lý, có người giải thích râu tóc tự rụng nghĩa là phiền não từ vô lượng kiếp, ngay lúc gặp Phật tự nhiên rơi rụng hết. Trong kinh thì diễn tả Phật có mười tám pháp bất cộng, có năng lực bất khả tư nghì. Một khi năng lực Đức Phật ứng tác vào điểm nào thì Ta-bà cũng biến thành Tịnh độ, chỗ xấu ác nhất cũng biến thành Niết-bàn.

    Sở dĩ, Phật có năng lực thù thắng như thế vì trong vô lượng kiếp, ngài luôn luôn làm các điều thiện pháp. Trong mười tám pháp bất cộng, có pháp Dục Vô Giảm, là lòng mong muốn làm những điều thiện pháp không bao giờ nhàm chán.

    Siêng quét sân tức là siêng quét tâm nhơ thì mình có năng lực thù thắng, mai kia tiếp vật lợi sanh. Có năng lực lớn người ta mới nghe, mới tu tập, chuyển hóa. Lời pháp mình nói mà không ai tu tập, lại còn phỉ báng thì uổng công, không lợi ích gì hết. Sở dĩ không được gì là vì chúng ta không siêng cần quét sân.

    3- Bỏ tánh kiêu mạn.

    Quý thầy mới xuất gia lưu ý điểm này. Chẳng hạn, ở ngoài đời mình học thức nhiều, sanh trưởng trong gia đình giàu có, được thông minh trí huệ, thì lại khó tu hơn người sanh trong hoàn cảnh nghèo khó, thông minh vừa đủ. Giàu có, thông minh, cái gì cũng biết lại sanh tâm kiêu mạn. Chính tâm kiêu mạn cản trở con đường Niết-bàn, cản trở, che lấp tri kiến như thật của mình.

    Sáng, ai cũng quét sân, quét rác, mình đi vòng vòng chơi, biểu hiện tâm mình có vấn đề, người bình thường nhìn cũng thấy huống chi người trí. Có cái gì đó cản mình lại, không thể nào xuống phụ đại chúng, làm lao tác với đại chúng. Chính năng lực, đó làm cho cửa Bát-nhã không bao giờ mở ra được.

    Cho nên, Thầy lớn dạy như thế nào, mình phải làm y như thế. Người mới xuất gia, muốn thành tựu sau này thì phải giống như cô dâu mới về nhà chồng. Cô dâu mới về nhà chồng cái gì cũng sợ, sợ cha chồng, sợ mẹ chồng, anh chồng, em chồng.

    Phật nói người xuất gia cũng như thế, mới thì nói gì cũng nghe, nhưng chỉ cần một, hai năm thì bất cần. Mấy ông thầy lớn kệ ổng, ổng cũng ăn, cũng uống, cũng ngủ nghỉ như mình vậy! Chẳng hạn sáng nay lên ăn cơm thì Thầy Trụ trì cũng ăn, Thầy phó cũng ăn, sao giống mình quá vậy? Rồi làm việc cũng giống. Thiền sư nói, giống thì giống nhưng phải thì không phải:

    Như nhau dọc mũi ngang mày,

    Lòng phàm, dạ Thánh cách sai nghìn trùng.

    Các ngài ăn luôn chánh niệm, tỉnh thức, luôn thu thúc sáu căn. Còn mình ăn thì luôn luôn phóng niệm! Cũng lên ngồi thiền mà nghĩ đủ thứ chuyện, các ngài ngồi đâu thì định tĩnh đó. Thấy vậy chứ khác rất là xa. Học oai nghi phép tắc mình phải lưu ý điểm này.

    4- Điều phục vọng tâm.

    Tâm vọng động thì từ từ nó chuyển hóa. Thiền sư Trung Hoa có ghi:

    Một hôm thiền sư Triệu Châu cầm chổi quét đất.

    Quý thầy thấy không? Thiền sư rồi mà cũng cầm chổi quét đất.

    Có một vị Tăng hỏi:

    - Hòa thượng là bậc thiện tri thức, vì sao có bụi?

    Ở đây nói qua lý thiền rồi.

    Thiền sư bảo:

    - Bên ngoài đến.

    Vị Tăng hỏi:

    - Già lam thanh tịnh vì sao có bụi?

    Sư đáp:

    - Lại có một điểm.

    Chẳng hạn, đang ngồi thiền với tâm lóng định, quý thầy khởi niệm tìm chân như, Phật tánh, tìm cái tri kiến hoặc tìm cái gì đó thì nó lại có một điểm. Thanh tịnh là bản nhiên nó tự tịnh, tự định. Khởi niệm, tác ý trên tâm thì tức là bệnh. Nhớ kỹ, ngồi thiền là không tác ý trên niệm. Tu một thời gian quý thầy sẽ thấy rõ, vọng khởi lên, mình không tác ý nhưng vọng nó tự dừng, tự lặn, đó là phương pháp “Thấy biết là chơn tâm” mà Hòa thượng dạy mình. Bao nhiêu đó là đủ.

    Có người nói, phương pháp Hòa thượng dạy “Thấy biết là chơn tâm” giống như phương pháp gì đó (tôi không nêu ra), nhưng mà họ lầm. Hòa thượng đã thành tựu chỗ ngài chỉ dạy “Thấy biết là chơn tâm”biết rõ hết mà không có tác ý trên niệm nữa. Còn mình chưa thành tựu nên thấy khó tu. Đơn giản như thế nhưng mình muốn có một cái gì đó cầu kỳ, chính cái điểm cầu kỳ đó nó sanh bệnh.

    Trong phần tham vấn Thiền sư Trung Hoa, có người nói, dùng cái biết, biết vọng cũng là vọng tưởng. Hòa thượng nói, người hỏi tôi câu này không tu pháp của tôi. Đúng là người này ở bên ngoài. Ngày xưa tôi ở Thường Chiếu, tôi biết vấn đề này. Người bên ngoài kích bác phương pháp tri vọng của Hòa thượng rất nhiều, họ nói cái biết đó cũng chính là vọng tưởng. Hòa thượng phân tích “chủ chỉ biết khách thôi”. Họ không hiểu là trong lúc biết vọng, đó là tánh biết vọng, chớ không phải dùng cái tri hữu nữa. Tánh biết vọng này, không tác ý trên niệm thì chỗ đó là tri kiến Phật rồi. Còn tác ý trên vọng thì già lam thanh tịnh, tự nhiên có một điểm tác ý lên. Chỉ có người tu pháp Hòa thượng lâu ngày mới nắm bắt được điểm đó, người ngoài họ không biết.

    Chính vì không biết, nên họ nói ra nói vào làm mình mất niềm tin. Mất niềm tin nên bị xung đột về pháp, mình không tu pháp môn thù thắng này nữa mà tu theo pháp khác. Ăn cơm của Hòa thượng, mà mình tu pháp khác, không trung thành với pháp môn này thì sau này quý thầy ra làm việc, bảo đảm chỉ dẫn người ta không được.

    Tu phương pháp Hòa thượng chỉ dạy, mới đầu rất khó, vọng niệm rất nhiều. Bởi vì ngày xưa mình lao theo vọng nhiều quá, bây giờ mình không lao theo nữa, mà chận đứng lại nên thấy nó nhiều. Cũng như nước lóng trong thì mới thấy cá bơi lội, tâm quý thầy hơi có chút định thì mới thấy vọng tưởng nhiều.

    5- Thêm lớn công đức, được sanh về cõi lành.

    Càng quét sân thì ngày càng thêm lớn công đức, được sanh về cõi lành.

    Thành Thập Luận nói:

    Quét một cõi Diêm Phù Đề đất Tăng, chẳng bằng quét một nắm tay đất Phật.”

    Ý nghĩa rất là sâu, có nghĩa là luôn luôn lau chùi tâm vọng động của mình.

    “Giặt áo trong phải lượm bỏ rệp, rận mới giặt. Tháng mùa hạ dùng nước, dùng rồi phải úp chậu xuống, nếu để ngửa ắt sanh trùng kiến.”

    Phật thương các loài chúng sanh nên dạy mình rất kỹ.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Phàm để chậu giặt y chẳng nên lấy rửa chân và giặt quần, vớ. Các vật lúc phơi trên sào cũng đừng cho đụng nhau và đừng ngậm nước mà phun pháp y.”

    Ngày xưa, đọc đến chỗ này tôi nghĩ sao Tổ dạy kỹ quá. Nhưng khi làm nhà khách, tôi thấy có những người trong lúc phơi y không có chánh niệm, không thu thúc lục căn, thấy cái y hơi nhăn là phun nước lên rồi ép xuống. Chúng ta đổ thừa thời mạt pháp khó tu chánh định nhưng Tổ Tuyên Luật Sư, người đã chứng Thánh quả, nói nguyên nhân không tu được pháp này là vì ác pháp nhiều quá. Ác pháp nhiều, thì không bao giờ bước vào con đường thiền định được. Mà những cái nhỏ nhặt này gọi là ác pháp. Còn tu mà giữ giới luật thanh tịnh, biết oai nghi phép tắc thì gọi là thiện pháp. Thiện pháp tăng trưởng thì ngồi thiền được định tĩnh.

    Thau giặt y phải ghi: “Thau giặt y, không giặt đồ khác.” Lúc phơi trên sào cũng đừng cho đụng vào quần áo mặc làm việc, lao tác. Và đừng ngậm nước phun pháp y, bởi vì cái khẩu của mình không có thanh tịnh, mà pháp y các ngài rất quý.

    Sách Tăng Kỳ Giới Bổn có nói:

    “Phải có tư tưởng kính trọng tam y như kính trọng pháp của Phật.”

    Không phải tự nhiên mà được ba y, bình bát. Những hạt giống này, quý thầy đã gieo trồng từ vô lượng kiếp rồi. Hòa thượng Tuyên Hóa nói, người xuất gia là đã tám mươi bốn ngàn kiếp từng gieo trồng căn lành này, hôm nay nghe một tiếng chuông tự nhiên thức tỉnh. Nên các ngài nói, mình phải có tư tưởng kính trọng ba y như kính trọng pháp của Phật. Nếu không có tâm kính trọng, chắc gì mai kia được pháp y nữa.

    Trong Luật Tỳ-kheo có ghi: Có một thầy Tỳ-kheo vào tu trong núi, tối ngủ trong hang, ngài lấy cái y giăng xung quanh chỗ ngủ. Một con quỷ đi ngang qua, nó định dùng tay bóp cổ ngài, đụng phải cái y nó hoảng hồn bỏ chạy.

    Ngày xưa ở Thường Chiếu có một cái thất, quý thầy ở đó buổi tối ngủ hay bị kéo chân. Có một thầy lớn tuổi hạ kể lại, tối nào ngủ mà không giăng cái y lên là bị kéo chân xuống giường luôn. Giăng y lên rồi thì không bị quậy phá nữa. Nghe thấy như huyền bí, nhưng trong luật, Phật có thọ ký, sau này đời mạt pháp, người nào mặc ba y của Như Lai, tuy trong tâm không thật tu hành nhưng cũng có cơm ăn áo mặc. Bởi vì người mặc y của Như Lai thì giống như Như Lai còn tại thế. Tăng còn tại thế thì Phật còn tại thế.

    Ngày xưa Hòa thượng có kể, một ngôi chùa ở Long An, có người bị quỷ nhập, thầy tri sự được mời ra trì chú Đại Bi để đuổi con quỷ đó. Thầy đang trì chú thì con quỷ đó nói (qua lời của người bị nhập): “Đáng lẽ tôi đánh ông rồi mà vì tôi thấy ông mặc pháp y nên tôi không đánh, bây giờ ông cởi ra tôi đánh tay đôi với ông.”

    Phật dạy, y hậu lúc nào cũng mang theo bên mình, giống như chim có hai cánh vậy. Những vị thầy đi chỗ này, chỗ kia mà quên y, quên hậu thì biết người này giới luật không được trang nghiêm thanh tịnh.

    Sách Ngũ Phần ghi:

    “Đi phải biết thời, trái thời chẳng đi. Đi bất cứ nơi đâu, áo bát mang theo như chim mang cánh theo trong lúc bay.”

    Kinh nói:

    “Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc trong thời quá khứ giỡn chơi pháp y ca-sa, ngày nay gặp Phật đắc quả A-la-hán.”

    Tích truyện có kể, vào thời quá khứ Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc là một dâm nữ. Một hôm đi ngang qua Tịnh xá, thấy pháp y của Phật cô lấy khoác lên người rồi nói: “Nếu sau này tôi được mặc cái y này, chứng quả Thánh thì hay biết mấy.” Chỉ là nói chơi thôi mà vào thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bà được gặp Phật chứng quả A-la-hán.

    Kinh Công Đức Của Người Xuất Gia có nói, một người chỉ cần khoác y lên người một lần thôi, người này đã gieo trồng vô lượng kiếp chủng tử sâu dày với Phật pháp. Lúc đắp y quý thầy đọc bài kệ:

    Đại tai giải thoát phục,

    Vô tướng phước điền y,

    Phi phụng trì giới hạnh,

    Quảng độ chư quần sanh.

    Đại tai tức là rất lớn, rất vĩ đại. Có một sự vĩnh cửu mới mặc được pháp phục của Phật chứ không phải chuyện đơn giản. Hôm trước Sư Bác có giảng: Mặc pháp y rồi không phải là xong, mà phải giữ giới, phải tu hành, phải oai nghi phép tắc. Nhất là những người mới xuất gia, chịu khó học luật để mai kia mới tiếp dẫn hậu lai được.

    “Chẳng được nước nóng đổ trên đất.”

    Vì sao? Vì chết trùng, phước đức mình tổn giảm.

    “Tất cả gạo, bột, rau, trái chẳng được khinh khi bỏ bậy bạ, phải sanh lòng yêu tiếc.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Đời nay không tiếc của, đời sau không có mà dùng. Việc đời còn vậy huống chi là của Thường trụ, chúng Tăng mà chẳng thêm lòng thương tiếc hay sao?”

    Chùa Thiếu Lâm Tự, thời sung mãn nhất được tín thí cúng dường rất nhiều. Nhưng chúng không biết tiết kiệm, đổ nhiều gạo, bún trôi xuống cống. Vị Hòa thượng một ngôi chùa dưới chân núi, cho vớt lên rửa sạch đem phơi để dành. Đến năm hạn hán, chùa Thiếu Lâm hết gạo ăn, phải xuống ngôi chùa dưới chân núi mượn gạo. Hỏi Hòa thượng, ở đâu gạo bún quý ngài có nhiều vậy. Hòa thượng nói đâu có gì lạ, ngày xưa các ngài có gạo, bún nhiều quá ăn không hết đổ xuống cống, tôi vớt lên phơi, bây giờ mới có cho các ngài mượn. Nghe như thế Thầy Trụ trì chùa Thiếu Lâm xuống đảnh lễ vị Hòa thượng đó xin làm đệ tử.

     

  • 9. 12. Vào Nhà Tắm

    12.

    Vào Nhà Tắm

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Phật chế luật nửa tháng tắm rửa, nhân Đồng tử Kỳ Bà bạch nói Tỳ-kheo nhiều bệnh, không tắm rửa chẳng khỏi bệnh nên thời khai bệnh. Sau vì làm việc, đi xa… lại khai.”

    Ngày xưa vào thời Đức Phật, Phật chế luật các thầy Tỳ-kheo nửa tháng chỉ tắm một lần. Đại Luật có ghi, sở dĩ như vậy vì khi Phật an trú ở thành Vương Xá, trong thành có ba suối nước nóng, một cái của vua tắm, một dành cho Tỳ-kheo tắm và một cái để voi tắm. Một hôm lục quần Tỳ-kheo đến suối nước nóng của vua tắm, vua Ba-tư-nặc ra hồ để tắm nhưng phải chờ từ sáng đến trưa mà các thầy tắm cũng chưa xong, rồi từ trưa vua chờ đến xế chiều. Các cư sĩ hiềm nghi bạch Phật, cho nên Phật chế luật từ đó về sau các thầy Tỳ-kheo không được tắm nhiều, nửa tháng chỉ được tắm một lần. Phật chế ra giới luật rồi thì các thầy Tỳ-kheo giữ rất là nghiêm.

    Sau đó có duyên sự Phật khai ra. Là khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nhiều Tỳ-kheo bị bệnh ghẻ, thân thể hôi hám. Phật hỏi nguyên nhân, các thầy thưa vì Thế Tôn đã chế giới nên chúng con không dám tắm. Phật dạy từ đây về sau cho phép bệnh ghẻ được tắm.

    Một hôm Phật đến nước Kiều-tát-la vào lúc trời nóng, các thầy Tỳ-kheo khi gặp hồ nước thì chạy nhanh đến hồ không có chánh niệm. Phật hỏi nguyên nhân, các thầy thưa vì nửa tháng nay chưa tắm nên gặp nước rất mừng. Phật khai ra, gặp trường hợp trời nóng bức thì cứ tắm.

    Rồi khi an trú tại thành Xá Vệ, vì năm sự lợi ích nên cứ năm hôm Phật đi tuần tra phòng ốc một lần. Một hôm Phật nhìn thấy một thầy Tỳ-kheo chân đầy bùn sình, hỏi nguyên nhân thì thầy Tỳ-kheo nói, Thế Tôn chế trời nóng hoặc ghẻ lở mới được tắm, con không thấy nóng cũng không có ghẻ lở. Phật hỏi chân ông sao dơ? Thầy Tỳ-kheo nói chân con dơ mà Phật đâu có chế nên con không dám tắm. Phật khai ra, chân dơ cho tắm.

    Có những điều luật rất hay, tuy nhiên nhiều người chấp mà không nghiên cứu kỹ thành cứng nhắc. Bây giờ quý thầy lao tác, làm cỏ, chẻ củi mà về không chịu tắm, huynh đệ chắc không ai dám gần. Cho nên giới luật là phải chế, phải khai ra.

    “Trước lấy nước nóng rửa mặt, từ trên đến dưới, từ từ rửa đó.”

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Mặt là một thân tối tôn, phàm lúc vào nhà tắm trước đem cởi y hạ, móc y hạ rồi dùng nước rửa dưới thân mới cởi thoát thượng y. Móc thượng y trên, kế mới dùng nước rửa sạch, xong sau mới vào ao im lặng tụng kệ chú. Tùng thượng chí hạ, từ từ rửa vậy.”

    Quý thầy thấy Phật rất thương xót các thầy hậu học, tắm rửa mà cũng chỉ dạy thật kỹ. Vào nhà tắm trước mình phải rửa mặt, bởi vì mặt là phần tối tôn. Cởi áo phải cởi từ từ. Xối nước cũng từ từ chớ không phải xối ào ào không có chánh niệm.

    “Tại sao phải rửa mặt trước? Kinh dạy: Mặt là phần chung của sáu căn, là cửa của vạn pháp. Nhiễm nên trôi nổi trong sanh tử, tịnh nên mãi ở nơi Niết-bàn. Cho nên mặt của chư Phật như trăng tròn thanh tịnh, người người thấy thì kính mộ, tâm lành do đó mà phát sanh.”

    Mặt cũng là cửa ngõ của các hạnh. Có những người nhìn khuôn mặt tự nhiên mình thích. Mình tu làm sao mà nhìn khuôn mặt mình tự nhiên người ta kính mến, phát tâm Bồ-đề. Còn tu sao không biết mà mặt mày nhăn nhó, đời sau mình ra đời thấy khuôn mặt mình người ta không phát tâm. Phật vô lượng kiếp tu hạnh từ bi hỉ xả, thương người, cứu giúp người nên được khuôn mặt mà ai nhìn cũng đều phát tâm kính tín.

    “Còn mặt của La-sát thì sao? Kinh Phật dạy: Mặt La-sát giống như mặt rắn, ai nhìn cũng chán ghét, ác tâm nhân đây mà phát khởi. Như vậy, mặt là then chốt của các đức, do mặt tịnh thì pháp môn tịnh, pháp môn tịnh thì kiến tư hoặc trừ. Đây chính là diệu quả của Niết-bàn vậy.”

    Chỉ một pháp rửa mặt thôi mà trong kinh phân tích rất sâu, rất rộng. Chúng ta luôn luôn tùy hỉ với mọi người, luôn luôn làm những việc thiện pháp thì nhìn khuôn mặt mình tâm lành người ta phát khởi. Tổ Qui Sơn nói, đường đường Tăng tướng dung mạo là do kiếp trước gieo trồng thiện pháp nhiều nên bây giờ mới được tướng hảo như thế.

    Tỳ Ni dạy:

    Lấy nước rửa mặt,

    Cầu cho chúng sanh,

    Được pháp thanh tịnh,

    Hết hẳn cấu nhiễm.

    Lúc rửa mặt chúng ta cầu cho tất cả chúng sanh, trong đó có mình, được pháp thanh tịnh nhu nhuyến thì thoát hẳn cấu nhiễm. Quý thầy học kinh A Hàm thường thấy từ nhu nhuyến này. Sở dĩ chúng ta nói chuyện hay hành động không được nhu nhuyến bởi vì ác pháp nhiều. Ác pháp nhiều thì nói gì cũng cộc lốc. Có những thầy thọ giới Tỳ-kheo rồi mà nói mày, tao với huynh đệ. Ngày xưa ở Thường Chiếu Hòa thượng kỵ nhất việc này. Phải gọi là sư huynh hay sư đệ. Quý thầy nhớ kỹ, lời nói nó không mất, đó chính là quả Niết-bàn của quý thầy sau này.

    “Chẳng được lật đật khiến nước nóng văng nhầm người gần. Chẳng được tiểu di trong nhà tắm.”

    Ngày xưa tắm một dọc dài chớ nhà tắm không phải từng phòng như bây giờ, cho nên chẳng được lật đật khiến nước nóng văng nhầm người gần. Tiểu di là sau khi tắm xong, lau khô chuẩn bị mặc áo thì nước tiểu ra vài giọt, Phậtcũng không cho phép. Quý thầy phải đứng ngay bồn vệ sinh lau mình, lỡ bị tiểu di thì nước tiểu rớt xuống bồn luôn.

    Sa Di Học Xứ ghi:

    “Tiểu di hoặc nói tiểu hành hoặc nói tiểu giải hoặc nói tiểu tịnh. Song đất sạch còn không nên tiểu huống chi trong nhà tắm ư?”

    Ngày xưa tôi ở Tăng đường một, có một thầy hay tiểu trong nhà tắm. Thầy đã thọ giới Tỳ-kheo nhiều năm rồi, hỏi ra mới biết thầy vào chùa mà không học Oai Nghi, Tỳ Ni gì hết cho nên nó biến tướng ra. Bây giờ thầy đi lang thang không chỗ nào nhận. Quý thầy thấy tổn phước đến mức độ như vậy. Đó chỉ là hoa báo thôi, quả báo tái sanh vào cảnh giới địa ngục.

    “Vốn tắm rửa là nguồn gốc làm trong sạch thân mình. Tiểu di trong nhà tắm thì cầu sạch mà trở làm ô uế.”

    Bởi vì thân mình dơ quá, mình vào nhà tắm tắm cho nó sạch, nhưng cuối cùng tiểu di trong nhà tắm thì cầu sạch mà trở lại thành nhơ. Nhơ gì? Nhơ cái tâm của mình. Thân thì sạch mà tâm thì dơ, thôi chi bằng đừng tắm.

    “Đã ô uế tự thân, lại ô uế cho đại chúng thì lễ Phật, tụng kinh, tất cả đều thành bất tịnh, tội này rất là nặng.”

    Giáo pháp của Phật rất vi diệu, càng học càng thấy hay. Quý thầy cứ tiểu trong nhà tắm thì ngồi thiền, tụng kinh cũng là bất tịnh thôi. Cho nên mình tu mình thắc mắc, tại sao mình hôn trầm suốt vậy? Rồi mình tụng kinh, lễ Phật sao không thấy an ổn? Sao tu không thấy niềm vui mà càng tu càng chán? Mà không biết mình phạm những điều này. Quý thầy ráng thu thúc, ráng giữ đi, một thời gian quý thầy sẽ thấy có kết quả, mà kết quả ngoài sức tưởng tượng của mình.

    Kinh Tăng Hộ có ghi:

    “Thầy Tỳ-kheo ở chỗ đất sạch (trong đất già lam), đại tiểu tiện không lựa chỗ nơi, do nhân duyên ấy vào trong địa ngục làm con trùng ở trong hầm xí chịu khổ lửa đốt không bao giờ dứt.”

    Nghe nói không được tiểu trong nhà tắm, rồi mình tiểu dọc dọc bên ngoài, không được, cũng là đất già lam. Quý thầy phải kỹ điểm đó. Những điều này tôi học hồi ở Thường Chiếu, không bao giờ dám tiểu bậy chỗ nào hết, mà vào nhà cầu đàng hoàng.

    Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương có nói:

    “Hoặc ở chỗ thường trụ hỉ mũi, khạc nhổ, người đó sanh trong cây Ta-la làm con trùng mỏ như cây kim trải qua mười hai năm. Hoặc ở chỗ đất thường trụ đại tiểu tiện, người đó sanh trong chỗ đại tiểu tiện nơi thành lớn Ba-la-nại làm con trùng ở chỗ nhơ nhớp, cầu xí.”

    Phải là cặp mắt Phật nhãn mới thấy được.

    Kinh Ưu Bát Kỳ Vương có nói:

    “Đất trong cảnh già lam đại tiểu tiện bậy bạ năm trăm đời đọa trong địa ngục Bạt-ba, sau hai mươi kiếp thường làm con bọ hung hai cánh tay ôm chỗ nhơ ấy cho đến trọn đời.”

    Quý thầy học lý thiền rồi nói cái gì cũng không, nhân quả cũng không. Trong Thiền sư Trung Hoa có ghi:

    Một vị cư sĩ đến hỏi Thiền sư Trí Tạng có thiên đường, có địa ngục hay không. Sư đáp có. Rồi hỏi có Phật, có Pháp, có Tăng, có Tam bảo hay không. Đáp cái gì cũng có. Cư sĩ nói:

    - Coi chừng Hòa thượng nói lộn đó.

    Thiền sư hỏi:

    - Ông đã từng gặp vị tôn túc nào chưa?

    - Đã gặp Hòa thượng Cảnh Sơn, hỏi gì Hòa thượng cũng nói không.

    Thiền sư Trí Tạng hỏi:

    - Ông có vợ chưa?

    - Có.

    - Có nhà không?

    - Dạ có.

    - Ông có thì đúng rồi còn Hòa thượng cái gì cũng không!

    Thiền sư Trung Phong nói mấy vị tu thiền nói cái gì cũng không là chưa có ngộ. Mà chưa ngộ nên cái gì cũng có, pháp giới hiển bày ra hết. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rõ, Bồ-tát Thất Địa phải tu tập mười loại trí tuệ phương tiện thù thắng:

    1- Tuy khéo tu tập chánh định, không, vô tướng, vô nguyện mà từ bi chẳng bỏ chúng sanh.

    Tuy tu chánh định là không, tức là thấy các pháp đều vô ngã, không có thật, nó do nhiều yếu tố hợp lại, rồi thấy vô tướng, vô nguyện tức là không tạo tác nữa mà từ bi chẳng bỏ một chúng sanh nào. Tức là mình tu phải đạt đến chỗ vô ngã, vô tướng không tạo tác nhưng mình thương hàng hậu học là quý thầy phải oai nghi phép tắc đầy đủ.

    2- Tuy đã được pháp bình đẳng của chư Phật mà thường ưa cúng dường chư Phật.

    Các ngài đã tu được pháp bình đẳng của chư Phật tức là không còn thiện ác, không còn năng sở, không còn chủ khách nhưng mà hay cúng dường chư Phật. Ưa cúng dường chư Phật là gì? Tuy đã đạt đến chỗ bình đẳng như chư Phật rồi nhưng mình vẫn luôn làm các việc thiện mà không chấp trước, tránh xa điều ác đó là cúng dường chư Phật, cúng dường chư Pháp, cúng dường chư Tăng. Chớ không phải mình tưởng có một vị Phật nào đó để mình cúng dường.

    3- Tuy vào môn trí huệ quán không mà vẫn siêng năng tích lũy phước đức.

    Chứ không phải nói cái gì cũng không rồi buông hết. Siêng năng tích lũy phước đức tức là làm việc thiện pháp.

    4- Tuy rời xa ba cõi mà vẫn trang nghiêm ba cõi.

    Tức là rời xa dục giới, sắc giới, vô sắc giới nhưng vẫn trang nghiêm ba cõi, cho các chúng sanh trú ngụ mà tu tập pháp lành này.

    5- Tuy đã dập tắt trọn vẹn những ngọn lửa phiền não mà lại vì tất cả chúng sanh khởi và diệt ba ngọn lửa phiền não tham, sân, si.

    Rất là khó. Các ngài hộ, tức là sanh vì đạo, vì quá thương chúng sanh. Chẳng hạn như Hòa thượng, quý Thầy lớn, Thầy Trụ trì thấy quý thầy làm cái gì trái các ngài cũng phải răn, cũng phải dạy. Mà các ngài dạy như thế thì phải có niệm khởi và diệt. Vì thương chúng sanh mà các ngài ứng tác ra phương tiện, nếu để làm bậy sợ chúng sanh đọa địa ngục nên phải răn, phải dạy.

    6- Tuy biết rõ các pháp như huyễn, như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như ảo hóa, như trăng đáy nước, như bóng trong gương, tự tánh không hai, nhưng vẫn tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà tạo tác vô lượng sai biệt.

    Tức là ứng tác ra muôn ngàn sai biệt khác. Chẳng hạn quý thầy thích tu thiền thì các ngài ứng tác ra phương pháp tu thiền cho mình tu. Tuy biết rằng các pháp như huyễn, như mộng, như tiếng vang nhưng vì thương xót mà các ngài ứng tác từ tự tánh của các ngài ra muôn ngàn sai biệt khác.

    7- Tuy biết các cõi nước giống như hư không mà vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật.

    Chẳng hạn như cõi Phật A Súc, cõi Phật Dược Sư… Những cõi Phật đó tuy biết là rỗng không nhưng các ngài vẫn dùng diệu hạnh phương tiện thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật. Mà diệu hạnh phương tiện thanh tịnh này ứng tác từ tâm hành giả, tâm mình thanh tịnh bao nhiêu thì ứng tác ra cõi đó thanh tịnh bấy nhiêu. Cho nên các ngài tuy biết hết các pháp, hay các cõi nước là giống như hư không mà vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh mà trang nghiêm cõi Phật.

    Một vị Thiền sư người Nhật nói, muốn biết một người mai kia được giải thoát hay không, thì nhìn hành động hằng ngày người đó làm. Trong cuộc sống giữa đời thường, trong sự tu hành mà giải thoát được năm mươi phần trăm thì khi chết được giải thoát năm mươi phần trăm. Vừa chết là cận tử nghiệp ứng tác ra cõi đó liền. Nếu ngày xưa mình giúp ích người này, trang nghiêm cho người khác hay nói khác hơn làm thiện pháp thì nó ứng tác ra các cõi để mình khế hợp, mình tiếp tục tu tập. Còn mình làm ác pháp thì cũng có những cõi khác ứng hiện ra. Địa ngục hay Niết-bàn, cảnh giới lành hay dữ đều do tâm mình biến hiện ra hết.

    Có một vị cư sĩ nói: “Đạo Phật nói cái gì cũng vô ngã, mình đã vô ngã rồi thì còn tu làm gì? Ai tu? Ai chứng? Ai thọ khổ?” Mình thấy rất rõ là vạn pháp đều có chỗ nương tựa nhưng có một cái không nương tựa. Không nương tựa, nhưng vạn pháp đều nương tựa vào đó. Chẳng hạn cái bàn này nương tựa cái gì? Nương tựa hư không. Hư không không nương tựa nhưng hư không sản sinh ra các pháp. Vậy cái gì sanh ra hư không? Tri kiến Phật. Từ tri kiến Phật, các ngài có diệu hạnh thanh tịnh ứng tác ra các cõi. Chỉ một Đức Phật mà ứng tác hết muôn hạnh.

    Cho nên mình cứ làm thiện pháp đi, cứ tu tập, cứ trang nghiêm thanh tịnh mình đi, đừng sợ mai kia chết lạc bậy. Nghiệp không bao giờ chơi xấu mình, nghiệp đẩy mình đến một cảnh giới nào đó thích ứng với những việc mình làm hằng ngày trong cuộc sống. Vì vậy, trong cuộc sống tu hành mình phải biết tránh điều ác, làm các điều lành là đúng nhất, đừng nói chuyện gì cao siêu hết.

    8- Tuy biết pháp thân của chư Phật bản tánh vốn là không, có thân mà dùng tướng hảo để trang nghiêm thân, dìu dắt chúng sanh.

    9- Tuy biết âm thanh của chư Phật bản tánh là không, vắng lặng chẳng nói năng mà hay thuận theo tất cả chúng sanh, phát ra vô vàn âm thanh vi diệu để nhiếp phục chúng sanh.

    Tuy biết âm thanh là rỗng không nhưng không chỉ dạy, làm sao người ta biết được. Cho nên các ngài dùng phương tiện thiện xảo đi vào cuộc đời này. Phật pháp rất vi diệu, có những người tưởng chừng cuộc đời này họ bỏ không, nhưng nhờ nghe một bài pháp tự nhiên họ chuyển hóa.

    Ngày xưa, lúc ở Tu viện Huyền Không bên Canada, tôi giảng bộ “Thập Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát”. Một hôm, có một cư sĩ đến chùa Ấn Quang thỉnh bộ chuông mõ. Lúc đó một vị thầy đang nghe đĩa giảng này, tình cờ bài giảng lọt vào tai vị cư sĩ cho nên ông xin về nghe. Ông là đại gia ở thành phố, nhà giàu, ăn thịt, uống rượu, không biết làm việc thiện pháp. Sau khi nghe bài giảng, ông ăn chay trường, cất nhà cho người nghèo, cứu giúp người bệnh. Ông hỏi thăm, biết tôi ở trên này, ông tìm gặp rồi kể tôi mới biết. Hôm trước ông phát tâm cúng dường tượng Phật cho Thiền viện.

    Mình chưa phải là Bồ-tát gì hết, chỉ là phàm phu Tăng thôi, nhưng quý thầy cứ giữ giới luật thanh tịnh, giữ oai nghi phép tắc đúng thì sau này quý thầy cũng dìu dắt tất cả mọi người. Chỉ cho họ cái nào là tà pháp, cái nào là chánh pháp, cái nào nên làm, cái nào nên bỏ, họ biết được họ làm tăng trưởng phước đức.

    10- Tuy theo lời chỉ dạy của chư Phật, biết rõ ba đời chỉ là một niệm mà vẫn thuận theo sự phân biệt của chúng sanh, dùng mọi hình tướng, mọi thời gian, mọi kiếp số mà tu tập các hạnh.

    Theo lời chỉ dạy của chư Phật mình hiểu cái lý. Biết rõ ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ là một niệm tích tắc thôi, nhưng cũng vào cuộc đời này dùng mọi hình tướng, mọi thời gian, mọi kiếp số mà tu tập các pháp lành.

    Chúng ta được duyên may xuất gia, được đầu tròn áo vuông, được học giới luật, học oai nghi phép tắc của mười phương chư Phật, thì mình biết chủng duyên mình rất là sâu. Muốn chủng duyên này được kéo dài, quý thầy ráng làm tất cả việc thiện pháp, tu tập thiện pháp, thu thúc sáu căn, nói lời nhu nhuyến để thành tựu chủng trí Bát-nhã. Nếu không, quý thầy tu một thời gian sẽ chán không muốn tu nữa vì không có được niềm vui, vị ngọt của chánh pháp.

    “Chẳng được cùng người nói cười.”

    Nhơn Thiên Bửu Giám nói:

    “Một ông Sa-di vào nhà tắm giỡn cười liền mắc báo địa ngục nước sôi.”

    Chư Phật, chư Tổ dạy mình vào nhà tắm, chẳng được cùng người nói cười. Nói cười thì trong giờ phút thực tại đó, mình không có chánh niệm.

    Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

    “Cười giỡn chính là các căn phóng dật, thật chẳng biết thân dơ chưa sạch mà tâm dơ đã sanh khởi.”

    Điều Tổ dạy ở đây nằm trong lý thiền. Thân dơ mình mới vào nhà tắm, thân chưa sạch mà mình giỡn cười không có chánh niệm, không thu thúc sáu căn, cho nên ngài nói thân dơ chưa sạch mà tâm dơ đã sanh khởi.

    “Đây đều là do chẳng biết hổ thẹn nên cảm cái quả báo này.”

    Có nghĩa là chúng ta tu hành mà không học luật, không học oai nghi phép tắc, thì không biết những cái nhỏ nhặt này.

    “Người lúc tắm rửa mỗi mỗi phải nghiêm tịnh tâm mình.”

    Trong luật có ghi, vào thời Đức Phật có mười Sa-di đã chứng quả vị A-la-hán nhưng còn tập khí dư thừa, nên khi xuống sông tắm các Sa-di này cười giỡn. Vua Ba-tư-nặc và Mạt-lợi phu nhân đứng trên sân thượng nhìn xuống, thấy vậy vua không còn kính tín Tam bảo nữa: “Đó, thầy của bà như vậy đó, chứng Thánh quả gì mà còn giỡn cười mất hết oai nghi.” Vị Sa-di trưởng biết được tâm niệm của vua, sợ vua bị đọa vào ba đường ác vì khinh khi các bậc A-la-hán nên mười vị Sa-di dùng thần túc bay lên hư không trở về Tinh xá. Vua Ba-tư-nặc thấy thế mới khởi tín tâm, rồi cùng Mạt-lợi phu nhân đến bạch Phật mà thưa hết các chuyện. Lúc này Phật mới chế giới vào nhà tắm, hay tắm rửa nơi sông suối không được giỡn cười.

    Một hôm Hòa thượng đi kinh hành gặp một thầy mới xuất gia, Hòa thượng hỏi đang nghe băng gì, thầy đó thưa với Hòa thượng là đang nghe băng Hai Mươi Bốn Oai Nghi. Hòa thượng nói Sa-môn mà không có oai nghi phép tắc là coi như bỏ. Chứng tỏ Hòa thượng rất chú trọng về oai nghi phép tắc, giới luật. Chư Tăng bây giờ tu hành đông nhưng mà phần này thiếu sót rất nhiều, người giữ được rất ít. Thành ra ở đây nếu chúng ta có đủ túc duyên, có môi trường tốt, mình giữ được oai nghi phép tắc thì cũng là nền tảng sau này chúng ta thành Phật, tác Tổ.

    Trong Dục Đường Cảnh Ngữ nói:

    “Chẳng được lấy nước tưới dội qua lại, cũng chẳng được dùng nước hao nhiều.”

    Tổ dạy mình, mỗi cái đều kiệm phước để tăng phước điền thì chúng ta tu hành mới chứng quả vị được. Không phải dùng hao nước mới tổn phước, những thứ mình xài trong Tăng đường, chẳng hạn giặt đồ mà lấy xà bông nhiều quá cũng là tổn phước.

    Trong Hàng Gia Tập có nói:

    “Tuổi thọ là căn bản của phước đức, phước đức là nền tảng của trí huệ. Người mỗi niệm thường tự răn nhắc mình là hạt giống, là mầm mống của trí huệ và phước đức, là nguồn gốc của tuổi thọ vậy.”

    Cổ Đức dạy, tuổi thọ là căn bản của phước đức. Người ở ngoài đời dù cho nghiệp sát sanh nhiều, đúng ra bị chết yểu, nhưng họ làm phước, bố thí, cúng dường, phóng sanh thì tuổi thọ cũng tăng lên.

    Còn tuổi thọ xuất thế gian là tuổi thọ gì? Có những người sanh ra trong nhà Phật pháp được một năm, hai năm rồi chết. Chết đây không phải là từ bỏ cõi đời này, mà mình không còn tiếp tục tu nữa, gọi là hoàn tục. Mình bỏ nhà xuất thế gian, ra ngoài đời chịu những hoàn cảnh khốn khổ rồi tạo tác nhiều ác pháp, tiếp tục sa đọa trong ba đường ác. Nếu chúng ta không kiệm phước đức, không biết tích chứa phước đức nhiều, thì tuổi thọ xuất thế gian tổn giảm.

    Vừa rồi, đủ duyên về giỗ Tổ, gặp lại mấy huynh đệ ngày xưa, tôi bất ngờ khi thấy hai, ba người để tóc lại, không còn mặc áo tu nữa. Có người đã tu được bảy tám năm, có người mười năm. Trong cuộc sống tu hành mình để ý những người đó xài phước rất là phung phí. Mình không có thần thông, chứ thấy người tu hành ngày hôm nay, tôi tin chắc rằng Ma Ba Tuần tuyên bố là xuống cõi trần này rồi. Bởi vì người cư sĩ hiện nay, họ sẵn sàng cúng dường để tạo phước điền. Quý thầy cần chiếc xe hai tỉ, họ sẵn sàng cúng, cần chiếc xe ba tỉ, họ sẵn sàng cúng cho quý thầy đi.

    Trong kinh diễn tả, Tôn giả A-nan thấy vào đời mạt pháp, người cư sĩ đi trên cầu, còn Tăng sĩ thì ở dưới cầu. Sau khi nghe điềm chiêm bao của ngài A-nan, Phật thọ ký như thế này: “Vào đời mạt pháp chư Tăng không kiệm phước đức mà xài rất phung phí nên bị đọa xuống địa ngục. Còn hàng cư sĩ tại gia họ có tín tâm lớn, họ bố thí, cúng dường, họ tích chứa phước đức thì họ đi trên cầu, có nghĩa là họ sanh về những cảnh giới an lạc phúc lành, hạnh phúc trong cõi chư thiên.”

    Ở đây nói tuổi thọ là căn bản của phước đức, cho nên vào nhà tắm, mình xài nước đừng phung phí quá. Tôi thấy có những người vào phòng tắm tắm nửa tiếng đồng hồ chưa xong, mà xối hết thùng này đến thùng khác. Cái thân mình đâu có dơ bao nhiêu, xài như vậy rất là phung phí. Tôi cũng chứng kiến có những thầy xà bông đổ không cần muỗng, đổ ào xuống rồi vớt trở lại, bọt xà bông tràn ra khỏi thau. Như vậy là không kiệm phước.

    Cổ Đức nói:

    “Làm phước chẳng bằng quý tiếc phước”

    Mình đâu cần làm phước cho nhiều, kiệm mấy cái này là cũng đủ rồi. Có những người cúng dường, bố thí rất nhiều nhưng những việc hằng ngày trong cuộc sống tu hành, họ không biết kiệm phước. Cổ Đức nói:

    “Đa sự bất như thiểu sự, hảo sự bất như vô sự.”

    Có nghĩa là việc nhiều chẳng bằng ít việc, việc tốt chẳng bằng vô sự. Phước đức là nền tảng của trí huệ, chúng ta phải biết cách kiệm phước đức. Trong cuộc sống tu hành, nếu chúng ta không có nhiều phước đức làm nền tảng thì trí huệ không phát sanh.

    Ngày xưa, có một người đến hỏi Hòa thượng, trong lúc tu hành chắc chắn sẽ có những nghịch duyên, nghịch cảnh đến với mình. Vậy làm cách gì để vượt thoát. Hòa thượng nói, chỉ có phước mới trang trải được. Nghe qua đoạn đó tôi không tin. Sau này ra làm Phật sự, những nghịch cảnh khốn cùng đến với mình rồi mình mới thấy đúng là nếu không có phước, chúng ta có thể sẽ không còn tu hành nữa. Nếu có tu hành thì giới thể chúng ta cũng không được thanh tịnh trọn vẹn.

    Phước đức là nền tảng của trí huệ. Chẳng hạn quý thầy phạm giới hạnh đó, nhưng phước đức của quý thầy thù thắng quá thì tự nhiên trong giờ phút thực tại đó trí của quý thầy sáng lên, thấy rõ đường đi nước bước cái nào nên làm, cái nào nên giữ, cái nào mình nên thối lui. Rồi nếu chúng ta đủ phước đức, đến giai đoạn này chúng ta sẽ gặp những hoàn cảnh, nghịch cảnh khốn khổ thì tự nhiên đủ duyên, Thầy trụ trì cho quý thầy vào nhập thất. Có cảnh mình mới phạm, không có cảnh thì không phạm. Trong giờ phút ở trong thất đó chúng ta hạ thủ công phu, sám hối, tu tập thì chuyển được nghiệp cho mình.

    Các vị Hòa thượng lớn nói, thời này thuận cảnh rất nhiều. Có nghĩa là người ta sẵn sàng cung cấp tứ sự cúng dường cho mình, đó là thuận cảnh. Nhưng nếu chúng ta không khéo tích chứa phước đức thiện pháp, thì sẽ bị tổn giảm không ít. Ngược lại, trong cuộc sống tu hành mà gặp nghịch cảnh, nếu vượt qua được thì tăng trưởng trí huệ Bát-nhã, có năng lực thù thắng đi vào cuộc đời này, có điều phải là bậc thượng căn mới làm được.

    Cho nên ở đây nói, người mỗi niệm thường tự răn nhắc mình là hạt giống, là mầm mống của trí huệ và phước đức. Chẳng hạn, vào nhà tắm mình phải tự răn nhắc: “Đây là của đàn-na tín thí, một giọt nước cũng không có tiêu.” Răn nhắc suốt như thế thì tự nhiên trí huệ và phước đức tăng trưởng. Quý thầy bố thí kinh sách, bố thí gạo, đường,... mà mấy cái này mình không giữ thì cũng là bỏ không.

    Các ngài nói rất hay:

    “Làm phước chẳng bằng quý tiếc phước, sám hối tội chẳng bằng ít lỗi lầm.”

    Hằng tháng mình cứ lên sám hối Thầy Trụ trì thì thà mình ít lỗi lầm nó hay hơn. Mình có phước, có đức, có trí huệ thì bảo đảm quý thầy tu suốt cuộc đời trong Đại tùng lâm, không bao giờ có tư tưởng chán lìa tùng lâm. Không chán lìa tùng lâm, quý thầy không bao giờ hoàn tục.

    Hồi nãy, tôi có kể đợt vừa rồi tôi về, gặp một số quý thầy hoàn tục rất nhiều. Hỏi ra toàn là những người nhập thất ở cốc riêng. Hoặc có những người tu hành, giới thể không được thanh tịnh là ở chùa tư một mình, không có đại chúng. Chúng ta giữ giới được thanh tịnh, là nhờ xung quanh đại chúng bảo bọc mình, chứ không phải mình hay gì.

    Các bậc tôn túc ngồi lại nói chuyện với nhau, các ngài rất là sợ, các ngài nói thời đại này rất khó tu. Vật chất, dục lạc thế gian xâm nhập vào cửa thiền rất nhiều. Chẳng hạn như các chùa có nơi mở phim ảnh lên coi, rồi ăn uống không tiết độ nữa thì chắc chắn là bị phạm. Bởi vì chưa chứng Thánh, chưa vượt qua những cảnh giới thì bị ma nó dẫn.

    Chúng ta được phúc duyên tốt ở đây có đại chúng bao bọc. Tuy rằng có thể kiếp này chưa ngộ đạo, nhưng mà mình tu không chỉ một kiếp này. Ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên, tất cả các vị đại đệ tử của Phật, Đức Phật thọ ký mấy đại, tiểu kiếp mới thành Phật, mà các ngài sau khi nghe thọ ký rồi ai cũng vui mừng.

    Có người nói là Phật tâm, Phật tánh thanh tịnh rồi cần gì tích chứa phước đức, tích chứa thiện pháp nữa. Tôi đưa ra thí dụ dễ hình dung nhất: buổi sáng, quý thầy thấy mây mù trên hư không rất nhiều, tuy mây mù chẳng làm nhiễm ô hư không nhưng nó che lấp hư không. Những ác pháp tuy không làm ảnh hưởng đến Phật tâm, Phật tánh nhưng nó bít lấp con đường đi đến giác ngộ và giải thoát. Vì thế, phải tích chứa phước đức và kiệm phước.

    Phật, Tổ dạy:

    “Người nào thường tưởng đến khi bệnh nặng thì tâm đắm nhiễm trần cảnh dần dần diệt.”

    Phật, Tổ dạy, lúc nào cũng quán niệm như vậy thì tâm đắm nhiễm trần cầnh từ từ nó mất.

    “Thường tưởng đến lúc chết thì niệm ham thích tu đạo tự nhiên sanh khởi. Nói đến khi đang bệnh nặng sắp chết thì có tướng ngã nào đáng để nương tựa.”

    Phật, Tổ dạy, mình quán xét thật sâu để thấy rằng, lúc bệnh nặng thì không còn cái tướng ngã nào để nương tựa nữa. Trong sử kể, khi bệnh ngặt nghèo đến, các Thiền sư hạ thủ công phu. Các ngài quán và nhàm chán thân ngũ uẩn này, trong giờ phút thực tại đó tự nhiên phát huy tâm địa.

    “Ngũ dục nào đáng khởi, lòng tham mê danh lợi nào đáng luyến tiếc. Dù có đồ cổ quý hiếm cũng nên bỏ đi. Nếu chẳng nương tựa vào tướng ngã thì tình chấp ngã tự tiêu diệt, chẳng tham ngũ dục thì chẳng có cái tâm phiền não.”

    Dầu cho vật quý nhất chúng ta cũng không đem theo được, nghĩ tới đó thì đạo của mình được phát huy, tăng trưởng. Quý thầy thấy rất rõ, lúc bệnh mình chỉ mong một điều duy nhất là làm sao hết bệnh. Chẳng hạn, mình đi khám bệnh, phát hiện bị ung thư thì lúc đó còn ham thích gì nữa không hay là ráng tu? Nghe nói ung thư giai đoạn cuối, sắp từ giã cõi đời này rồi, chắc chắn không còn ham thích hay tranh cãi gì nữa hết, lúc đó tâm phiền não tự nó dứt.

    “Chẳng thích hư danh thể diện thì buông xả dễ dàng. Nếu biết chẳng thể buông bỏ được cổ vật quý hiếm thì cũng chẳng nên vượt quá bổn phận của mình để tìm cầu có nó, dù trước kia đã có cũng nên xả bỏ nó để làm việc phước thiện. Nếu có thể xa lìa được tình chấp, phiền não về bản ngã và ngã sở thì nhìn Tăng Ni hay người thế tục cho đến các loài nhỏ như côn trùng đều là vị Phật ở tương lai.”

    Sau khi quán xét thật sâu, biết là không đem theo được gì cả, cho dù là cổ vật quý hiếm thì mình khởi tín tâm làm các việc phước thiện, để tăng trưởng phước đức và trí huệ. Phước đức, trí huệ tăng trưởng thì nhìn từ Tăng Ni, người thế tục, cho đến côn trùng mình cũng đều thấy là vị Phật tương lai hết.

    “Đã thấy các loài đều là Phật tương lai thì đối với các loài ta có thể dùng tâm cung kính cúng dường Phật tương lai. Không có việc tốt nào mà không làm được, tất cả những hành động làm tổn hại, phiền não, ngang bướng xúc phạm đến Phật vị lai đều được dừng lại.”

    Mình thấy đây là vị Phật tương lai thì mình không dám xúc phạm, không ngang bướng, không phiền não, không làm tổn hại đến vị Phật tương lai đó. Thấy được như thế thì tu hành rất an ổn.

    “Thì như thế, nếu phước đức chẳng tăng trưởng, tuổi thọ không lâu dài trái với lời nói của tôi thì tôi sẽ bị đọa địa ngục.”

    Ngài khẳng định chắc chắn, ngài sẵn sàng chịu đọa địa ngục nếu lời nói ngài hư dối.

    “Nếu chẳng có thể trong tất cả thời, nhớ đến vị Phật vị lai thì trong tất cả thời chẳng hay vun trồng phước đức và trí huệ. Người mà không gieo trồng phước huệ, tuy may mắn sống đến trăm năm rồi cũng chết cùng với cây cỏ, đồng mục nát mà thôi.”

    Trong lúc hạ thủ công phu tu hành, chúng ta không làm tất cả các việc thiện pháp, (tức là phước huệ song tu), cho dù sống được trăm năm thì sau khi chết chúng ta cũng đồng mục nát như cây cỏ vậy.

    Trong các loài, con người có khả năng định vị hơn, có thể tự quyết định thân phận của mình, có thể tu chuyển phàm thành Thánh được. Mà muốn được chuyển phàm thành Thánh, quý thầy phải phước huệ song tu. Không phải bố thí, cúng dường mới gọi là tạo phước, chỉ cần chúng ta kiệm thôi thì chính đó là phước. Chẳng hạn như xuống nhà bếp thấy dơ, quý thầy lau là mình kiệm phước, mình tăng thêm một ít phước điền. Trong giờ phút thực tại đó, trí huệ tăng trưởng.

    “Chẳng nên tắm chỗ khuất. Phàm có ghẻ lác phải tắm ở sau, hoặc có ghẻ đáng sợ phải nên quanh lánh khỏi gai mắt người. Chẳng được lung ý tắm lâu mích lòng người sau.”

    Mình vào nhà tắm, tắm có chừng mực thôi, người sau đứng chờ lâu sanh tâm phiền não không vui.

    Kinh Thập Giới nói:

    “Chẳng được giặt áo ở trong nhà tắm.”

    Tại sao? Giặt áo thì lâu, lâu thì đại chúng chờ, đại chúng chờ khởi tâm phiền não. Phật vị lai mà khởi tâm phiền não là mình tổn phước.

    “Cởi áo, mặc áo phải thong thả bình tĩnh, có nghĩa là luôn luôn chánh niệm.”

    Chúng ta cởi áo chuẩn bị tắm thì cởi từ từ. Sau khi tắm xong, chúng ta mặc áo cũng thong thả bình tĩnh. Pháp tu chỉ thế thôi, mà có những lúc, chúng ta phát minh được tâm địa cũng là chỗ này.

    Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi câu chuyện:

    Thiền sư Mông Khê hỏi một vị Tăng:

    - Thượng tọa ở đâu đến?

    Tăng thưa:

    - Ở Định Châu đến.

    - Định Châu có việc gì kỳ đặc?

    Vị Tăng nói:

    - Con khi sáng đi qua trong nhà kia chỉ nghe nói muối mắc gạo rẻ, trọn không có việc gì kỳ đặc.

    Thiền sư Mông Khê nói:

    - Ta trong ấy cũng thế thôi, chỉ là cháo thô, cơm lạt cùng Thiền tăng tùy phần qua thời, cũng không có việc gì kỳ đặc.

    Thiền sư lại hỏi:

    - Ông hội chăng?

    Thì Tăng thưa:

    Con chẳng hội.

    - May là ông không hội, nếu ông hội liền bị thâu hết nửa đạo lý.

    Muối mắc, gạo rẻ. Rồi cháo thô, cơm lạt, tắm rửa, tiểu tiện,... chỉ là những việc hằng ngày thôi chứ không có gì kỳ đặc hết, mà trong nhà thiền hay nhắc đến chỗ đó. Ngay trong giờ phút thực tại đó, chúng ta luôn luôn chánh niệm, luôn luôn biết rõ con người đang nghe pháp thì có lúc chúng ta phát minh được tâm địa.

    Tóm kết bài “Vào Nhà Tắm” này, tôi xin kể một câu chuyện nữa.

    Một hôm Hòa thượng Nam Tuyền đi ngang qua nhà tắm, thấy vị trưởng phòng tắm đang đốt lửa nấu nước, Thiền sư hỏi:

    - Ông đang làm gì?

    Trưởng phòng thưa:

    - Nấu nước tắm.

    Sư bảo:

    - Nhớ gọi con trâu đực đi tắm.

    Trưởng phòng đáp:

    - Dạ.

    Hỏi đâu đáp đó thì quý thầy thấy Thiền sư rồi phải không?

    Đến chiều trưởng phòng tắm vào phương trượng.

    Sư hỏi:

    - Làm gì?

    Trưởng phòng tắm thưa:

    - Mời con trâu đực đi tắm.

    Thiền sư liền bảo:

    - Ông đem được dây thừng đến chăng?

    Trưởng phòng tắm không đáp được.

    Ban đầu thì giống như Thiền sư nhưng khi bị các ngài kiểm điểm thì sao? Người ta nói là đầu voi đuôi chuột, ló cái đuôi ra là mình học lóm thôi. Trưởng phòng tắm nói mời con trâu đực đi tắm thì rất là hay, nhưng hỏi đem được dây thừng đến chăng thì không biết đường trả lời.

    Sau đó Triệu Châu đến thăm hỏi, Sư thuật lại việc trên, Triệu Châu thưa:

    - Bạch Hòa thượng! Con có lời để đáp.

    Nam Tuyền bèn nói:

    - Đem được dây thừng đến chăng?

    Triệu Châu liền đến gần trước mặt chợt nhéo lỗ mũi một cái, ngài Nam Tuyền nói:

    - Phải thì phải mà ông thô quá!

    Nhéo một cái hiện tiền là con trâu đực liền, trong giờ phút thực tại đó ai biết? Quý thầy thấy nhà thiền rất là hay, ở đây mình học qua cho biết thủ thuật của các ngài là trong nhà tắm, hay trong lúc nấu cơm, giã gạo, chẻ củi đều thể hiện đức tính của thiền.

    “Khi sắp tắm trước phải tẩy tịnh cho kỹ lưỡng, chẳng được lấy nước tẩy tịnh đổ trong vò tắm.”

    Không được lấy nước đã tẩy tịnh đổ trong vò để dùng lại. Phải kỹ lưỡng, sạch sẽ.

     

Mục lục

Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức :Tập 2
  • 1. 5. Tùy Chúng Thực
  • 2. 6. Phép Lễ Bái
  • 3. 7. Thính Pháp
  • 4. 8. Tập Học Kinh Điển
  • 5. 9. Vào Chùa Am
  • 7. 10. Vào Thiền Đường Phải Tùy Chúng
  • 8. 11. Giữ Làm Việc Chúng Tăng
  • 9. 12. Vào Nhà Tắm

Tìm kiếm

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 49054
  • Đang online: 66