Thanh Từ Toàn Tập Quyển 9: Kinh Bộ Giảng Giải 9 - Kinh Đại Bát-niết-bàn Trích Giảng

28/07/2026 | Lượt xem:

Thiền tông Việt Nam luôn là mạch sống tuôn chảy trong lòng Phật giáo và dân tộc suốt từ thế kỷ thứ VI đến nay. Có lúc mạnh mẽ tuôn tràn giữa ngàn hoa đô hội, có lúc len lỏi âm thầm trong núi sâu rừng thẳm, ung dung thoát tục, khuất tịch tiêu sái. Tuy nhiên, mạch sống thiền xưa nay vẫn như vậy, không đến không đi, là dòng sinh mệnh muôn thuở của những bậc thức tâm đạt bổn.

Hòa thượng tôn sư thượng Thanh hạ Từ khi mới vào đạo cho đến hôm nay đã lấy thiền làm mạng sống, nuôi dưỡng công phu qua những giai đoạn hành thiền nghiêm cẩn. Cuối cùng ngài thấu tỏ được lời Phật ý Tổ bằng chính sự nỗ lực không ngừng. Dòng thiền Việt Nam sau gần bảy trăm năm đi vào quên lãng, đã được Hòa thượng thắp sáng trở lại. Ngài nói:

“Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo. Bởi vì muốn chỉ chân lý hiện hữu nơi con người, song ngại người ta khinh thường và dễ quên, nên kinh điển Đại thừa nói bằng cách diễn giảng những hình ảnh thâm sâu khó hiểu, còn thiền sư dùng thuật xuất quỷ nhập thần khiến người ta mờ mịt không có lối vào. Nếu ai tháo gỡ được cây chốt bí mật ấy, tự nhiên thấy nó chân thật bình dị vô cùng. Chừng đó mới thấy Kinh và Thiền không có hai lối. Tuy nhiên Thiền tông luôn luôn tuyên bố Giáo ngoại biệt truyền, cốt dẫn hành giả thấy đến nơi sống chân thật, không mắc kẹt trên văn tự ngữ ngôn, không chết chìm trong suy tư lý luận. Nếu Thiền tông khác với kinh Phật tức không phải đạo Phật rồi. Chính vì lẽ đó, Thiền và Kinh luôn song hành để đưa hành giả đến nơi rốt ráo chân thật.” 

Những năm theo học tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Hòa thượng là người siêng năng cần mẫn toàn tâm duyệt tạng. Tuy nhiên chỉ thú kinh điển Đại thừa đối với ngài lúc bấy giờ thật xa xôi diệu vợi. Về sau, nhân duyên được một Phật tử cúng dường Đại tạng, Hòa thượng xem đây là linh hồn của ngài trên khắp mọi nẻo đường tu học cũng như hành đạo. Khi về Phương Bối am, đây là thời gian tốt nhất để ngài vừa tu thiền vừa nghiên cứu kinh điển và dịch thuật. Giáo nghĩa Đại thừa và Thiền tông dần dần sáng tỏ. Các tác phẩm, dịch phẩm của Hòa thượng ra đời như: Tham Thiền Yếu Chỉ, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký, Tọa Thiền Tam-muội v.v... đã mở đầu cho sự nghiệp văn học thiền của ngài.

Rời Phương Bối về Huệ Nghiêm, Hòa thượng tiếp tục con đường hoằng pháp lợi sanh và luôn giữ hoài bão tu thiền mãnh liệt. Đến năm 1966, Hòa thượng về Núi Lớn - Vũng Tàu, dựng Pháp Lạc thất chuyên tâm tu thiền. Đại duyên đại chí khởi phát, cánh cửa Không mở toang, con đường thiền rực sáng, toàn bộ giáo nghĩa Thiền tông hoát nhiên thông thống. Hòa thượng thống khoái chống gậy xuống núi, dựng pháp tràng lập tông chỉ, tiếp tăng độ chúng.

Thiền viện Chơn Không ra đời. Con đường thiền giáo đồng hành được Hòa thượng mở ra hướng dẫn cho tăng ni Phật tử hữu duyên. Vừa hành thiền, vừa dịch thuật, vừa giảng dạy, ngài đã thật sự làm sống dậy dòng thiền Việt Nam vào cuối thế kỷ XX. Nhiều tác phẩm, dịch phẩm thiền tiếp tục xuất hiện như: Xuân Trong Cửa Thiền, Bát-nhã Tâm Kinh, Nguồn Thiền, Luận Tối Thượng Thừa, Thiền Căn Bản, Thiền Đốn Ngộ, Sử 33 Vị Tổ Ấn Hoa, Thiền Sư Trung Hoa, Bích Nham Lục v.v… lần lượt ra đời, đáp ứng nhu cầu tu thiền của tăng ni Phật tử ngày càng đông.

Năm 1974, thiền viện Thường Chiếu ra đời, Thiền tông Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới. Tu học và lao động trở thành phương châm sống của thiền sinh. Tuy khó khăn kham khổ mà thầy trò vẫn tươi vui, tin tưởng. Cuộc sống được khai hoang từ những mảnh đất khô cằn vụn vỡ. Đó chính là sức sống thiền, tuôn chảy từ trong nguồn tâm sâu thẳm của sự tỉnh thức an nhiên. Pháp hoá của Hoà thượng cứ thế lan tỏa vào đời, Thường Chiếu trở thành tổ đình truyền bá Thiền tông Việt Nam. Cuối đông 1991 Hòa thượng cho ra đời tác phẩm Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ XX, nói lên con đường tu tập của dòng thiền Chơn Không - Thường Chiếu. Kinh sách của Hòa thượng đã trở thành cẩm nang cho hành giả tu thiền Việt Nam: Nguồn An Lạc, Hoa Vô Ưu, Quy Sơn Cảnh Sách, Bát Đại Nhân Giác, Thập Nhị Môn Luận, Kim Cang, Viên Giác, Pháp Hoa, Pháp Bảo Đàn, Lăng-già, Trung Quán, Thiền Sư Việt Nam v.v... đã được tăng ni Phật tử đọc tụng hành trì dưới sự giảng giải cặn kẽ của Hòa thượng.

Năm 1993, thiền viện Trúc Lâm ra đời, đây là đỉnh cao của hành trình khôi phục dòng thiền nước Việt. Thiền tông Việt Nam phát triển rực rỡ. Lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tất cả các nghi thức tụng niệm và hành lễ đều được Việt hóa hoàn toàn tại thiền viện Trúc Lâm, cũng như các thiền viện trực thuộc dòng thiền của Hòa thượng. Những tác phẩm ra đời tại thiền viện Trúc Lâm như: Phụng Hoàng Cảnh Sách, Tiến Thẳng Vào Thiền Tông, Khóa Hư Lục, Tham Đồ Hiển Quyết và Thi Tụng Các Thiền Sư Đời Lý, Mười Bức Tranh Chăn Trâu, Thiền Tông Bản Hạnh, Kiến Tánh Thành Phật, Thánh Đăng Lục, Tam Tổ Trúc Lâm v.v... Có thể nói sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh và sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã cống hiến cho Phật giáo Việt Nam một kho tàng trí tuệ quý báu vô lượng.

Năm 1997, Ban Văn Hóa Thường Chiếu ra đời dưới sự chủ trì của ngài. Tăng ni hàng môn hạ vâng theo sự chỉ giáo của Hòa thượng ân sư, cùng nhau biên tập lại toàn bộ tác phẩm, dịch phẩm của ngài trong suốt những chặng đường hoằng truyền chánh pháp mà Hòa thượng đã tâm tâm niệm niệm vì đạo pháp vì chúng sanh. Sự nghiệp văn học của ngài được gầy dựng từ khi còn là tăng sĩ trẻ cho đến những năm gần cuối đời thật không gì có thể sánh nổi. Bởi vì ở đó là kho tàng vô giá của trí tuệ và công phu, những kinh nghiệm tu tập quý báu của một bậc thầy lớn, một thiền sư, một chân tăng thật tu thật ngộ.

Không kể đến những công trình dịch thuật, sáng tác, thi kệ về thiền tông, không kể đến những tác phẩm giảng giải thâm thúy bình dị, không kể đến những năm tháng miệt mài bên những trang giáo án dành cho tăng ni tứ chúng... Sáng giá nhất là toàn bộ cuộc đời tu tập và hành đạo của ngài. Đây mới chính là tác phẩm vô giá trong sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng. Văn là người. Mượn đầu bút xoay chuyển dòng nghiệp thức muôn đời, giúp chúng sanh chuyển mê khai ngộ, mang hạnh nguyện tự lợi lợi tha đi vào đời, cho nên toàn bộ tác phẩm của Hòa thượng cũng chính là con người của ngài. Một ngôi sao sáng trong văn học thiền Việt Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Ở đó ánh lên những chất vị cao đẹp tinh khiết mà đậm đà dễ gần dễ đến của một thiền sư Việt Nam: chân chất, bình dị, trí tuệ và tròn đầy bi mẫn.

Có thể nói sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã đóng góp cho nền văn học Phật giáo Việt Nam nói chung và nền văn học Thiền tông Việt Nam nói riêng một kho báu trí tuệ và kinh nghiệm tu tập vô cùng quý giá. Tăng ni Phật tử Việt Nam không thể nào nói hết lòng cảm kích tri ân đối với ngài. Thông qua kinh sách và băng giảng của Hòa thượng, người sau có thể lần mò theo dấu vết người trước, nhận được nguồn sống tâm linh của một bậc chân tăng, một thiền sư Việt Nam vào thế kỷ XXI. Từ đó noi theo tu tập ngõ hầu thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát cho chính mình.

Bên cạnh con đường thực chứng tâm linh, hoằng pháp và văn hóa là sự nghiệp độ sanh sáng chói nhất của Hòa thượng. Đây là niềm vinh hạnh và là tấm gương sáng cho tăng ni Phật tử Việt Nam. Muốn giữ gìn và rộng truyền công đức của ngài, quả là một việc làm quá sức đối với hàng đệ tử thô tâm thiển trí. Song không thể để cho pháp bảo vô giá và một đời giáo hóa của thầy tổ bị mai một, chúng tôi đã chẳng ngại tài hèn sức mọn, công phu kém cỏi, cùng nhau tận tâm tận lực biên tập và hệ thống lại toàn bộ kinh sách của Hòa thượng ân sư. Hy vọng bộ Thanh Từ Toàn Tập tái bản lần này sẽ đầy đủ và hoàn chỉnh hơn bộ Thanh Từ Toàn Tập đầu tiên đã ra mắt độc giả vào năm 2002.

Việc làm này nếu không có sự gia trì của Tam bảo, sự chỉ đạo của Hòa thượng ân sư, sự nhất tâm hòa hợp của chư huynh đệ, sự phát tâm hỷ cúng tài lực của mười phương tín thí, có lẽ Phật sự này khó có thể thành tựu. Tất cả đều vì xiển dương chánh pháp, xiển dương Thiền tông Việt Nam, vì hết lòng tưởng nhớ công ơn giáo dưỡng của thầy tổ, mà hướng tâm về pháp bảo, mong phần nào đền đáp thâm ân rộng sâu của Ân sư, thực hiện hoài bão của thầy tổ, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn.

Công đức có được chúng tôi xin dâng lên cúng dường Hòa thượng ân sư, nguyện ngài sống lâu nơi đời, là nơi nương tựa tâm linh cho tăng ni tứ chúng trên con đường tu học cho tới ngày viên mãn. Đồng nguyện hồi hướng về pháp giới chúng sanh chuyển mê khai ngộ, tịnh hóa thân tâm, mỗi mỗi đều được hàm triêm lợi lạc.

Chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ sám hối Thầy, vì những lỗi lầm sai sót trong khi chấp bút biên tập lại kinh sách và băng giảng của Thầy, vì sự hạn chế về trí tuệ cũng như công phu tu tập của chúng đệ tử. Chúng con cùng nguyện theo chân Thầy học đạo cho tới ngày thành tựu giác ngộ viên mãn mới thôi.

Xin được cảm kích tri ân các pháp hữu hoan hỷ chỉ bảo cho những sai sót khó tránh khỏi của bộ sách. Sau cùng xin cảm niệm công đức tất cả quý Phật tử gần xa đã tùy tâm ủng hộ cho Phật sự in ấn bộ Thanh Từ Toàn Tập được thành tựu viên mãn.

 

Thiền viện Thường Chiếu, ngày 12-12-2012 

TM. BAN VĂN HÓA THƯỜNG CHIẾU 

THÍCH NHẬT QUANG

  • 1. Đại Cương Kinh Đại Bát-niết-bàn

    I- PHIÊN DỊCH

    Kinh này gốc từ chữ Phạn. Vào niên hiệu Huyền Thủy năm thứ ba (414) triều Bắc Lương, nhà vua thỉnh ngài Đàm-vô-sấm - một vị pháp sư người Trung Thiên Trúc, hợp tác với ngài Đạo Mẫn dịch năm phẩm đầu thành 20 quyển. Nhà vua thấy chưa đủ nên sai sứ sang Ấn Độ thỉnh thêm tám phẩm chữ Phạn, dịch thành 20 quyển. Đến niên hiệu Huyền Thủy năm thứ năm (416) mới xong, gồm 40 quyển, 13 phẩm. Gọi là Bắc bản Niết-bàn kinh.

    Khoảng năm 424-427, đời vua Lưu Tống Văn Đế (424-453), ngài Huệ Quán ở chùa Đạo Tràng và ngài Huệ Nghiêm ở chùa Đông An hợp tác với ông Tạ Linh Vận, y Nê-hoàn Kinh sửa lại thành 36 quyển, 25 phẩm sau này thêm bốn phẩm là 29 phẩm, gọi là Nam bản Niết-bàn kinh.

    Lại có ngài Pháp Hiển hợp tác với ngài Giác Hiền dịch Đại Bát-nê-hoàn kinh, sáu quyển.

    Bản kinh tiếng Việt chúng ta học ở đây do hòa thượng Trí Tịnh dịch từ bản Bắc của ngài Đàm-vô-sấm.

    II- SỚ GIẢI

    1. Đời Tùy, ngài Quán Đảnh tông Thiên Thai dùng pháp phán giáo của tông Thiên Thai chia giáo lý của Phật thành năm: Tiểu, Thủy, Chung, Đốn và Viên. Tiểu chỉ cho giáo lý Tiểu thừa, Thủy chỉ cho giáo lý Đại thừa mới bắt đầu, Chung là đoạn kết của Đại thừa, Đốn là Đại thừa đốn giáo, Viên là Đại thừa viên giáo Y cứ vào đó mà ngài giải thích kinh Đại Niết-bàn. Phần sớ giải này có 33 quyển.

    2. Ngài Quán Đảnh sớ giải “Đại Niết-bàn kinh huyền nghĩa” hai quyển, nói về nghĩa cao siêu của kinh Đại Niết-bàn.

    3. Đời Tống có “Niết-bàn huyền nghĩa hoát nhiên cơ yếu” bốn quyển của ngài Trí Viên.

    4. Đời Tùy có “Niết-bàn kinh như ý” một quyển của ngài Trước Bạt.

    5. Ở Triều Tiên có "Niết-bàn tông yếu" một quyển của ngài Nguyên Hiểu.

    III- ĐẠI Ý

    1. Phẩm Tự

    Ngày rằm tháng hai Phật sắp vào Niết-bàn, dùng thần lực phát ra những tiếng lớn vang khắp các phương: …Đấng Đại giác Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, chúng sanh nếu có chỗ nghi nay đều nên đến thưa hỏi, cũng là lần hỏi cuối cùng! Mắt, mũi, miệng Thế Tôn phóng ra các luồng hào quang đủ màu khắp mười phương, chúng sanh nào chạm đến hào quang đều được lợi ích. Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, người, trời, Bồ-tát... than tiếc cùng đem lễ vật đến để cúng dường.

    Phẩm này nói nguyên nhân Phật sắp vào Niết-bàn, có những lời nói và những biểu hiện để báo tin cho tất cả biết mà đến cúng dường nghe pháp.

    2. Phẩm Thuần-đà

    Thuần-đà đến xin Phật nhận thức ăn cúng dường và trừ sự nghèo cùng khốn khổ cho ông. Phật hứa khả và khen ngợi phước cúng dường Phật lần cuối cùng ngang bằng với phước cúng dường Phật lần sắp thành đạo, tức là bát sữa cúng dường của cô mục nữ.

    Thuần-đà cho rằng phước cúng dường trước không bằng lần sau vì người thọ cũng chưa sạch phiền não, chưa được Nhất thiết chủng trí. Phật xác nhận thân ngài là chân thường, kim cang, pháp thân. Đại chúng khen ngợi công đức của Thuần-đà, yêu cầu ông thỉnh Phật trụ thế. Thuần-đà nói kệ tán Phật và thỉnh Phật trụ thế. Phật bảo Thuần-đà quán thế gian vô thường là khổ, nhập Niết-bàn là đệ nhất lạc.

    Ngài Văn-thù-sư-lợi bảo Thuần-đà quán tánh tướng của các hành. Thuần-đà không chấp nhận Như Lai là hành pháp, là pháp hữu vi. Ngài Văn-thù-sư-lợi khen Thuần-đà khéo che pháp hữu vi, hiện bày các cái vui của Phật.

    Phật từ mặt phóng hào quang báo tin sắp vào Niết-bàn và bảo Thuần-đà sửa soạn thực phẩm cúng dường. Thuần-đà khổ sở khóc lóc. Phật an ủi bằng cách khuyên ông thấy các pháp vô thường, nhập diệt là vui.

    3. Phẩm Ai Thán

    Khi đó đại địa chấn động, tám bộ chúng cả mình đều rởn ốc, buồn than khóc lóc, nói nhiều ví dụ cầu xin đức Phật trụ thế gian lâu hơn. Phật khuyên các thầy Tỳ-kheo không nên khóc lóc, phải gắng siêng năng tinh tấn, giữ vững chánh niệm, đối trong Phật pháp chỗ nào còn nghi ngờ đem ra thưa hỏi, chớ cố chấp theo pháp Tiểu thừa mà nên tiến thẳng lên Đại thừa.

    Các Tỳ-kheo khen ngợi pháp vô thường, khổ, không, vô ngã là chân lý cứu cánh, đã làm cho các thầy được lợi ích lớn. Phật nói vô thường, khổ, không, vô ngã là điên đảo, chưa phải là chân lý cứu cánh. Ngài nêu ra thường, lạc, ngã, tịnh mới là thật nghĩa. Các Tỳ-kheo cứ nài nỉ Phật trụ thế lâu dài, Phật bảo: Vô thượng chánh pháp đã giao cho Ma-ha Ca-diếp. Các ngươi nên y chỉ với Ma-ha Ca-diếp.

    Các Tỳ-kheo nghi, tại sao trước Phật dạy quán vô ngã dứt được kiêu mạn? Phật dạy: Nếu pháp thật là chân, là thường, là chủ, là y, tánh không biến đổi, đó gọi là ngã.

    4. Phẩm Trường Thọ

    Phật bảo các Tỳ-kheo có chỗ nghi về giới luật phải mang ra hỏi Như Lai. Các Tỳ-kheo đồng bạch, hàng Thanh văn không đủ sức gìn giữ pháp này, phải hàng Bồ-tát mới đảm đang nổi. Phật khen lời các thầy có lý, nên đem pháp Đại thừa giao cho Bồ-tát và thường tuyên bố thọ mạng của Như Lai không thể tính lường, hiện bày cũng không thể cùng tận.

    Bồ-tát Ca-diếp đứng ra thưa hỏi ba mươi mốt câu, nhưng trong phẩm này chỉ giải thích câu hỏi thứ nhất, thế nào được thân kim cang trường thọ chẳng hoại? Và giải thích ý nghĩa Phật xem chúng sanh bình đẳng như con.

    5. Phẩm Thân Kim Cang

    Phật nói thân Như Lai là thường trụ không hoại, thân kim cang chẳng phải thân tạp thực, chính là pháp thân. Bồ-tát Ca-diếp thưa: Con chỉ thấy thân vô thường phá hoại, vi trần, tạp thực.

    Phật bảo thân Như Lai vượt ngoài mọi sự đối đãi. Pháp thân Như Lai thành tựu vô lượng công đức vi diệu. Chỉ có Như Lai mới biết tướng này.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi nguyên do pháp thân Như Lai là kim cang bất hoại. Phật đáp, vì nhân duyên hộ trì chánh pháp nên được thân kim cang.

    6. Phẩm Danh Tự Công Đức

    Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp khéo thọ trì danh tự, chương cú và công đức của kinh này. Bồ-tát Ca-diếp hỏi, kinh này tên gì? Đại Bồ-tát phụng trì thế nào? Phật giải thích tên kinh và nói công đức phụng trì.

    7. Phẩm Tứ Tướng

    Phật nói Đại Bát-niết-bàn có bốn tướng nghĩa: một là Tự chánh, hai là Chánh tha, ba là Tùy vấn đáp và bốn là Liễu nghĩa nhân duyên. Có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất: Tự chánh là tự điều phục mình, Chánh tha là điều phục các chúng sanh, Tùy vấn đáp là tùy hỏi đâu đáp đó, ở đây Bồ-tát hỏi nguyên do ăn thịt, Liễu nghĩa nhân duyên là nói về vấn đề Phật chế giới luật. Nghĩa thứ hai: Tự chánh là Đại Bát-niết-bàn, Chánh tha là Như Lai thường còn, Tùy vấn đáp là nhân hỏi mà giải nghĩa lý thậm thâm vi diệu, Liễu nghĩa nhân duyên là giải thoát, Niết-bàn và Ma-ha Bát-nhã thành tạng bí mật như chữ Y.

    Bồ-tát Đại Ca-diếp nói bốn nghĩa ấy đồng Đại Niết-bàn nhân, Phật nói nghĩa dụng của Đại Niết-bàn và giải thoát.

    8. Phẩm Tứ Y

    Phật nói bốn hạng người thọ trì chánh pháp, kiến lập chánh pháp, ức niệm chánh pháp. Một là người xuất thế đủ tánh phiền não. Hai là Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm. Ba là A-na-hàm. Bốn là A-la-hán.

    Bồ-tát Ca-diếp không chấp nhận nương bốn hạng người này. Phật nói tứ y. Một, y pháp không y nhân. Hai, y nghĩa không y ngữ. Ba, y trí không y thức. Bốn, y kinh liễu nghĩa, không y kinh chẳng liễu nghĩa.

    9. Phẩm Tà Chánh

    Phật bảo y chỉ bốn người trên để tránh khỏi bốn thứ ma. Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, làm sao phân biệt được lời Phật và lời ma? Phật giản trạch đại lược, nếu nói Phật ra đời do ái dục và hướng dục lạc... là ma, nếu nói Phật cho sự phạm giới là phải là ma, nếu phỉ báng kinh Đại Niết-bàn là ma, không tin có Phật tánh là ma, ngược lại là Phật.

    10. Phẩm Tứ Đế

    Phật nói Tứ đế là: Do thấy được Như Lai thường trụ mà dứt được sanh tử luân hồi, gọi là Khổ thánh đế. Nhận được Phật tánh mà dứt được sanh tử luân hồi, gọi là Tập đế. Nhận được Như Lai tạng, dứt sanh tử, là Diệt đế. Biết Tam bảo là thường trụ, diệt hết các kiến chấp, là Đạo đế. Cho nên Niết-bàn nói Tứ đế khác hơn Tiểu thừa nói Tứ đế.

    11. Phẩm Tứ Đảo

    Như Lai thường mà tưởng là vô thường ấy là khổ, là điên đảo. Như Lai là vui mà tưởng là khổ, là điên đảo. Phật tánh là ngã mà tưởng là vô ngã, là điên đảo. Tịnh là Như Lai thường trụ mà tường Như Lai là thân tạp thực phiền não, là điên đảo. Đó là ý của bốn thứ điên đảo.

    12. Phẩm Như Lai Tánh

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi, trong hai mươi lăm cõi có ngã không? Phật đáp, ngã tức là nghĩa Như Lai tạng, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là nghĩa của ngã. Cho nên trong kinh Niết-bàn nói ngã là chỉ cho Phật tánh, không phải là thân tứ đại ngũ uẩn.

    Bồ-tát Ca-diếp nghi, nếu chúng sanh có Phật tánh thì không ai hại được? Phật bảo, có sát sanh vì do nhân duyên nghiệp mà chúng sanh luân chuyển trong sanh tử, giết hại là mắc tội sát sanh.

    Bồ-tát Ca-diếp xin quy y Tam bảo. Phật bảo, căn cứ Phật tánh Tam bảo không có sai biệt. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh mà không nhận được, hàng Bồ-tát tùy địa vị cao thấp mà thấy có sai biệt, chư Phật mới thấy rõ ràng.

    13. Phẩm Văn Tự

    Phật nói nghĩa bán tự, mãn tự và vô tự. Bán tự có mười bốn âm, là căn bản của văn chương hý luận, là pháp chưa cứu cánh. Mãn tự là pháp cứu cánh Như Lai giải thoát. Vô tự là pháp bất thiện.

    14. Phẩm Điểu Dụ

    Phật dùng hai thứ chim oan ương, ca-lân-đề bay di đều có cặp không rời nhau, để nói pháp khổ, vô thường, vô ngã cũng thế. Phật giản trạch cái thường của thế gian không đồng với cái thường của Phật tánh. Pháp khổ, pháp lạc khác nhau. Niết-bàn không ưu bi khổ não. Như Lai thường trụ tùy cơ duyên hóa độ, thị hiện thọ sanh mà thật không sanh.

    15. Phẩm Nguyệt Dụ

    Phật dùng mặt trăng mọc nơi này lặn nơi kia, để ví dụ chúng sanh thấy Phật tịch nơi này sanh nơi nọ mà kỳ thật Như Lai bất sanh bất diệt, như mặt trăng không lặn không mọc. Chúng sanh không thấy mặt trăng thật mà thấy mặt trăng có khuyết có tròn. Mặt trăng thật không khuyết tròn, Như Lai cũng như thế. Tùy nghiệp tịnh nhiễm của chúng sanh mà thấy Như Lai có sai biệt. Ở đây chúng sanh thấy mặt trăng bị che, thật ra mặt trăng không bị che bao giờ. Cũng thế, có người thấy Phật bị hại, kỳ thật Phật không bao giờ bị hại, chỉ vì thị hiện để giáo hóa chúng sanh.

    16. Phẩm Bồ-tát

    Kinh Đại Niết-bàn là nhân cho tất cả chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Chúng sanh nghe được kinh Đại Niết-bàn, sau này sẽ phát tâm Bồ-đề nên gọi là Bồ-tát.

    Bồ-tát Ca-diếp nhờ Phật giải thích hai bài kệ. Vì chúng sanh sẵn có Phật tánh nên khi được nghe kinh Đại Niết-bàn đều phát tâm Bồ-đề. Thế nên kinh Đại Niết-bàn có đại thần dụng. Ông Thuần-đà, chư Phật và chúng sanh đều có Phật tánh, vì tam thừa không sai biệt. Phật giải thích tuy ba thừa hành tâm hành sai biệt, chứ Phật tánh không sai biệt, ví như bầy bò mỗi con khác nhau mà sữa không khác.

    17. Phẩm Đại Chúng Sở Vấn

    Ông Thuần-đà và đại chúng cúng dường trai phạn. Phật dùng thần lực thị hiện chư Phật và Tỳ-kheo vô số để thọ thực cúng dường, khiến mọi người đều hoan hỷ. Sau đó Phật giải nghi cho đại chúng, bởi những bài kinh trước kia Phật nói không liễu nghĩa, vì có nhân duyên khiến người yêu thích chánh pháp, tùy cơ phá chấp không phải thật nghĩa.

    18. Phẩm Hiện Bệnh

    Bồ-tát Ca-diếp không chấp nhận Phật có bệnh, yêu cầu Phật từ bi giải thích. Phật nói Phật không có bệnh, sở dĩ có bệnh là sự thị hiện giáo pháp vi mật của Như Lai.

    19. Phẩm Thánh Hạnh

    Người nghe kinh Đại Niết-bàn tư duy, lìa bỏ hết tài sản vợ con, xuất gia tu hành. Trước phải giữ giới thanh tịnh, kế quán tứ đế đúng thật nghĩa. Thánh hạnh là hạnh của Phật, an trụ đại Niết-bàn là thánh hạnh, Bồ-tát quên mình hộ trì chánh pháp, ứng dụng chánh pháp là trụ đại Niết-bàn, là tu hành thánh hạnh.

    20. Phẩm Phạm Hạnh

    Muốn đầy đủ Phạm hạnh là phải đầy đủ bảy pháp lành: biết pháp, biết nghĩa, biết giờ, biết tri túc, biết mình, biết chúng, biết tôn ty.

    Lại muốn đầy đủ Phạm hạnh phải đầy đủ tứ vô lượng tâm: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.

    Bồ-tát tu pháp xả là quán Không. Do quán Không được tứ vô ngại: pháp vô ngại, nghĩa vô ngại, từ vô ngại, nhạo thuyết vô ngại.

    Bồ-tát Ca-diếp xin Phật giải thích bài kệ Phật nói với Thuần-đà, tại vườn sa-la song thọ.

    Trước có nay không 

    Trước không nay có 

    Ba đời các pháp 

    Không có lẽ ấy.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, Bồ-tát có tướng gì khác thế gian? Phật đáp đại ý, chỗ thế gian không thấy không hiểu mà Bồ-tát thấy hiểu hoặc ngược lại. Bồ-tát thấy biết niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, do nghĩa gì nói Bồ-tát không thể nghĩ bàn? Phật đáp đại ý, Bồ-tát tự phát tâm Bồ-đề siêng năng tinh tấn không tiếc thân mạng, Bồ-tát vì chúng sanh chịu khổ ở trong địa ngục mà vẫn vui như đệ tam thiền.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, Phật pháp vô thường chừng nào sẽ diệt? Phật đáp đại ý, khi nào đệ tử Phật còn tin thọ được kinh Đại Niết-bàn thì Phật pháp chưa diệt, ngược lại là diệt. Lại thế pháp thì diệt, còn đệ nhất nghĩa pháp thì không diệt. Câu chuyện vua A-xà-thế đến Phật, do phát tâm Bồ-đề mà tiêu được tội ngũ nghịch.

    21. Phẩm Anh Nhi Hạnh

    Anh nhi hạnh là chẳng biết đến đi tới lui, nói chuyện... Như Lai chẳng khởi pháp tướng, chẳng chấp, không lay động, không đến đi, không nói năng.

    22. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát

    Phật nói với Bồ-tát Đức Vương, nếu có Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn sẽ được mười thứ công đức:

    Công đức thứ nhất, có năm: chỗ chẳng nghe được nghe, nghe rồi làm lợi ích, dứt tâm nghi hoặc, trí tuệ chánh trực, biết tạng bí mật của Như Lai.

    Công đức thứ hai, có năm: xưa chẳng được nay được, xưa chẳng thấy nay thấy, xưa chẳng nghe nay nghe, xưa chẳng đến nay đến, xưa chẳng biết nay biết.

    Công đức thứ ba: bỏ lòng từ được lòng từ, được lòng từ không do nhân duyên.

    Công đức thứ tư, có mười: căn lành sâu không bị lay động, đối với thân mình có tam muội nhất định, chẳng thấy phước điền và phi phước điền, tu tập công hạnh thanh tịnh Phật độ, diệt trừ ba thứ hữu dư, dứt trừ nghiệp duyên, tu thân thanh tịnh, rõ biết các pháp, lìa những oán địch, dứt trừ nhị biên.

    Công đức thứ năm, có năm: nơi thân các căn tròn vẹn, chẳng sanh biên địa, thiên thân mến tưởng, thường được chư thiên, ma vương, Sa-môn, Bà-la-môn cung kính, được trí Túc mạng.

    Công đức thứ sáu: được Kim cang tam-muội.

    Công đức thứ bảy, có bốn: gần bạn lành, nghe pháp, tư duy, tu hành.

    Công đức thứ tám, có tám: dứt trừ năm việc, xa lìa năm việc, thành tựu sáu việc, tu tập năm việc, giữ gìn một việc và gần gũi bốn việc, tin thuận một việc thật, tâm thiện giải thoát, tuệ giải thoát.

    Công đức thứ chín, phát năm điều: tín tâm, trực tâm, giới, gần gũi bạn lành, học rộng nghe nhiều.

    Công đức thứ mười: tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo vào Đại Niết-bàn thường lạc ngã tịnh, vì chúng sanh phân biệt giải thuyết kinh Đại Niết-bàn hiển thị Phật tánh.

    23. Phẩm Sư Tử Hống Bồ-tát

    Phật đưa ra ý chỉ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Như Lai thường trụ không biến đổi. Phật trả lời những câu hỏi của Bồ-tát Sư Tử Hống. Thế nào là Phật tánh? Do nghĩa gì gọi là Phật tánh? Có gì gọi là thường lạc ngã tịnh? Nếu chúng sanh có Phật tánh sao chẳng thấy được? Thập trụ Bồ-tát trụ pháp gì mà thấy không rõ ràng, Phật trụ pháp gì mà thấy rõ ràng? Thập trụ Bồ-tát dùng con mắt gì chẳng thấy rõ ràng, Phật dùng con mắt gì thấy được rõ ràng?

    24. Phẩm Ca-diếp Bồ-tát

    Bồ-tát Ca-diếp nêu tất cả chúng sanh đã có Phật tánh, tại sao phát tâm Bồ-đề lại còn thoái đọa. Thoái đọa rồi có mất Phật tánh chăng? Vì thế dẫn dụ Tỳ-kheo Thiện Tinh thoái đọa ra làm đề tài hỏi. Cốt ý Phật đáp là khi có Phật tánh nếu không khéo huân tu có thể bị thoái đọa, dù thoái đọa mà Phật tánh vẫn không mất. Sở dĩ Phật nói có khi như mâu thuẫn nhau, ấy chẳng qua vì duyên hóa độ hoặc đứng về nhân quả ba thời mà nói, đứng về thế đế hay đệ nhất nghĩa đế mà nói.

    25. Phẩm Kiều-trần-như

    Phật bảo ngài Kiều-trần-như, năm uẩn là vô thường khổ, không, vô ngã, bất tịnh. Dứt năm uẩn này sẽ được giải thoát tuần tự.

    Chúng ngoại đạo bất mãn muốn ngài đến cung vua A-xà-thế để cùng Phật biện luận. Phật chiết phục chúng bằng lý Niết-bàn là liễu nhân không phải không nhân. Ngài A-nan bị chúng ma nhiễu loạn nên hôm đó ở ngoài. Phật sai Bồ-tát Văn-thù đến nói pháp, nói thần chú nên A-nan thoát nạn. Phật độ Tu-bạt-đà-la xuất gia.

    26. Phẩm Di Giáo

    Phật dạy tứ chúng, sau khi Phật Niết-bàn phải tu hành và hộ trì kinh Đại Niết-bàn.

    Ngài A-nan hỏi Phật bốn điều:

    - Hàng Lục quần Tỳ-kheo làm hạnh ô tha gia làm sao ở chung và chỉ dạy họ?

    - Sau khi Phật Niết-bàn lấy gì làm thầy?

    - Sau khi Phật Niết-bàn lấy gì để trụ?

    - Kết tập pháp tạng để những lời gì đầu kinh?

    Và những câu hỏi về sự cúng dường Phật, cúng dường xá-lợi, tháp trà-tỳ v.v...

    27. Phẩm Ứng Tận Hườn Nguyên

    Phật nhập định và vào Niết-bàn. Thiên vương và Chúng đệ tử nói kệ than thở.

    28. Phẩm Trà-tỳ

    Kim quan Phật di chuyển tới cổng thành và làm lễ trà-tỳ.

    29. Phẩm Cúng Dường Xá-lợi

    Thỉnh xá lợi Phật, xây tháp cúng dường.

    Ở đây tôi chỉ giảng các phẩm gồm: từ hai đến năm là các phẩm Thuần-đà thứ hai, phẩm Ai Thán thứ ba, phẩm Trường Thọ thứ bốn, phẩm Kim Cang Thân thứ năm; từ tám đến mười hai là các phẩm Tứ Y thứ tám, phẩm Tà Chánh thứ chín, phẩm Tứ Đế thứ mười, phẩm Tứ Đảo thứ mười một, phẩm Như Lai Tánh thứ mười hai; từ hai mốt đến hai mươi ba là các phẩm Anh Nhi Hạnh thứ hai mươi mốt, phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát thứ hai mươi hai, phẩm Sư Tử Hống Bồ-tát thứ hai mươi ba và phẩm Di Giáo thứ hai mươi sáu.

    IV- TÔNG CHỈ

    Trong thời A-hàm, Phật nói người chứng A-la-hán sẽ được quả Niết-bàn, hay sẽ được vào Niết-bàn. Phật giải thích Niết-bàn như củi hết lửa tắt. Nhân duyên luân hồi dứt bặt thì được Niết-bàn. Vì vậy trong Tứ đế, Niết-bàn là Diệt đế. Diệt đế nghĩa là diệt sạch nguyên nhân sanh tử luân hồi, hay nói cách khác là diệt hết tất cả phiền não, hết sanh tử thì được Niết-bàn. Như vậy Niết-bàn không gì khác, chính là dứt sạch mầm sanh tử.

    Giai đoạn thứ nhất Phật phá chấp của phàm phu. Phàm phu cho thân này là thật, là thường còn, hay trong thân có cái thường còn, là chấp thường, thân này thọ hưởng an vui là chấp lạc, có chủ tể nên gọi chấp ngã, đẹp đẽ trong sạch là chấp tịnh. Phật nêu bốn điều vô thường, khổ, không và vô ngã, hay vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh, để phá những chấp trên. Phật giải thích tất cả hành là vô thường, là khổ, Niết-bàn là an vui tịch tịnh, thân này là ô uế bất tịnh.

    Nhưng nếu ngũ uẩn tức là cả tinh thần vật chất này là vô ngã mà nói chứng được quả A-la-hán, đạt được Niết-bàn thì cái gì chứng A-la-hán, cái gì đạt được Niết-bàn?

    Đến giai đoạn này Phật giải thích đạt được Niết-bàn sẽ có đủ ba đức: Pháp thân, Bát-nhã và Giải thoát. Như vậy Niết-bàn không phải là hư vô tịch diệt, rỗng không không có gì nữa. Bởi có Phật tánh là nhân cho nên mới đạt được Niết-bàn là quả, nếu không có nhân thì làm sao có quả. Phật tánh bất sanh bất diệt nên Phật tánh là thường, Phật tánh là chỗ an vui nên nói là lạc, Phật tánh lúc nào cũng rỗng rang an tịnh cho nên là tịnh. Khi chúng ta đạt được Phật tánh, thì gọi đó là ngã. Cho nên chữ ngã trong bốn đức này là chỉ thẳng cho Phật tánh. Khi chúng ta tu nhân Phật tánh viên mãn thì thành Phật quả là đại Niết-bàn, khác hơn Niết-bàn nói ở trước. Trong kinh Pháp Hoa, Niết-bàn trước dụ cho hóa thành, Niết-bàn sau dụ cho bảo sở, trước chỉ là phương tiện do Phật đặt ra, sau mới là cứu cánh. Cho nên người học giáo lý Nhị thừa nghe nói Niết-bàn thường lạc ngã tịnh họ không hiểu, cho đó là một lối giải thích gần như Bà-la-môn giáo, nhưng đó là lẽ thật.

    Những kinh Đại thừa, như kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Niết-bàn... thường bị nghi là do người sau đặt ra. Những kinh này ra đời dù sớm hay muộn, nhưng rõ ràng làm sáng tỏ giáo lý Phật một cách mạch lạc đầy đủ, không phải là sự chắp vá dựa vào bên ngoài. Đó là bằng chứng để chúng ta không còn ngờ vực về kinh Đại Bát-niết-bàn và Hoa Nghiêm nữa. Có nhiều thiền sư ngộ do đọc kinh Niết-bàn, Hoa Nghiêm. Nếu những bộ kinh này không có giá trị thật thì sao các ngài nương theo đó mà ngộ đạo?

    Lại nữa, kinh Đại Bát-niết-bàn và kinh Hoa Nghiêm giáo lý cao siêu phi thường. Chính giáo lý này đã chinh phục lớp trí thức trên thế giới. Kinh Hoa Nghiêm, lý pháp giới trùng trùng duyên khởi hay muôn vật tương quan trùng trùng điệp điệp rất độc đáo. Kinh Niết-bàn thì chỉ ra các pháp nếu còn đối đãi đều ở trong sanh diệt. Đại Bát-niết-bàn vượt khỏi tương đối, không phải có không phải không, không phải quá khứ hiện tại vị lai, là thường trụ bất biến.

    Như vậy ai thật tu thật hiểu về Thiền tông, đối với các kinh Đại Bát-niết-bàn, Hoa Nghiêm... không còn ngờ vực. Bởi vì chúng ta biết rõ nhân Phật tánh là bất sanh bất diệt, nên quả Đại Bát-niết-bàn thường lạc ngã tịnh là chắc chắn không còn chối cãi được.

  • 2. Phẩm Thuần-đà

    Bấy giờ trong đại hội có vị Ưu-bà-tắc, con nhà thợ thuyền trong thành Câu-thi-na, tên là Thuần-đà cùng với mười lăm bạn đồng nghiệp, vì muốn đem quả lành đến cho người đời, nên đến trước Phật, quỳ gối chắp tay cúi lạy chân Phật, buồn khóc rơi lệ, bạch rằng: “Ngửa mong đức Thế Tôn và Tỳ-kheo tăng thương xót nhận phần cúng dường cuối cùng của chúng con, cho vô lượng chúng sanh được độ.

    Bạch Thế Tôn! Chúng con từ nay nghèo cùng đói khổ không ai cứu giúp, không nơi nương nhờ, muốn xin phước lộc tương lai ở đức Thế Tôn. Cúi xin xót thương nhận chút lễ mọn rồi sẽ nhập Niết-bàn. Bạch Thế Tôn! Ví như có người nghèo cùng đến xứ xa lạ ra sức làm ruộng, đặng trâu cày giỏi, ruộng đất tốt màu, bằng phẳng sạch cỏ, chỉ còn chờ trời mưa. Trâu giỏi dụ cho bảy nghiệp của thân và miệng, ruộng tốt bằng phẳng dụ cho trí huệ, sạch cỏ dụ cho trừ sạch phiền não. Bạch Thế Tôn! Nay đây con đã có trâu giỏi ruộng tốt sạch cỏ, chỉ còn trông chờ trận mưa pháp cam lồ của Như Lai. Người nghèo kia chính là con đây, nghèo nơi của báu pháp bảo vô thượng. Ngửa mong xót thương dứt trừ sự nghèo cùng khốn khổ của chúng con và cả vô lượng chúng sanh. Cúng phẩm của con dâu kém mọn, cũng mong đức Như Lai và chư tăng dùng được đủ. Ngày nay con không nơi nương nhờ, không ai nâng đỡ, xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót coi con như La-hầu-la.”

    Đức Thế Tôn, bậc Nhất thiết chủng trí Vô thượng Điều ngự, bảo Thuần-đà rằng: “Lành thay! Lành thay! Hôm nay Như Lai trừ sự nghèo cùng cho ông, mưa pháp vô thượng xuống cho ruộng thân tâm ông mọc mầm pháp. Ông muốn cầu thọ mạng, sắc, lực, an lạc, vô ngại biện tài nơi Như Lai. Như Lai sẽ ban cho ông các thứ ấy.

    Thuần-đà! Thí thực có hai, đồng một quả báo; một là thọ xong liền chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hai là thọ xong liền nhập Niết-bàn. Hôm nay Như Lai nhận phần cúng dường cuối cùng của ông, cho ông đầy đủ Bố thí ba-la-mật.”

    Phẩm này nói về ý nghĩa thường trụ của đại Niết-bàn.

    Trước hết, Thuần-đà đến Phật để cầu xin Phật thương xót nhận phần cúng dường của ông. Thuần-đà bạch với Phật về sự nghèo cùng đói khổ không ai cứu giúp của mình, mong nhờ Phật thương xót và cứu giúp. Nghèo cùng khốn khổ của Thuần-đà khác cái nghèo cùng khốn khổ theo nghĩa thông thường. Ông nghèo cùng khốn khổ là do chưa được trận mưa pháp để cho các hạt giống Bồ-đề nảy mầm đâm tược, không phải là nghèo cùng đói rách. Nhưng không phải ông chưa có nhân sẵn mà muốn cầu quả; ông đã có nhân sẵn, nhân đó là nhân trí tuệ. Ruộng dụ cho trí tuệ, sạch cỏ dụ cho trừ sạch phiền não, trâu giỏi dụ cho bảy nghiệp của thân miệng. Nơi thân nơi miệng đã thanh tịnh, lại có trí tuệ và đã sạch phiền não, chỉ cần một trận mưa pháp của Phật thì ông liền phát Bồ-đề, tức là nảy mầm Bồ-đề. Ông yêu cầu Phật thương xót ông như thương xót La-hầu-la, tức là bình đẳng thương ông như thương con.

    Phật trả lời đại ý là sẵn sàng mưa pháp xuống, giúp cho ruộng thân tâm ông được mọc mầm pháp và được thọ mạng, sắc lực, an lạc, vô ngại biện tài như ý. Phật nói thêm, lần cúng dường cuối cùng này công đức ngang bằng lần cúng dường khi Phật sắp thành đạo.

    Thuần-đà liền bạch Phật rằng: “Như đức Thế Tôn vừa dạy rằng hai lúc cúng thí quả báo đồng nhau, theo ý con nghĩ, e rằng không đúng nghĩa. Vì vị thọ thí trước là bậc chưa sạch phiền não, chưa chứng Nhất thiết chủng trí cũng chưa có thể làm cho chúng sanh đầy đủ Bố thí ba-la-mật. Còn vị thọ thí sau là bậc Nhất thiết chủng trí, đã sạch phiền não, có thể làm cho khắp chúng sanh đầy đủ Bố thí ba-la-mật.

    Vị thọ thí trước còn là chúng sanh, vị thọ thí sau là bậc trời trong các trời. Vị thọ thí trước là thân tạp thực, thân phiền não, thân vô thường cuối cùng; vị thọ thí sau là thân kim cang không phiền não, là pháp thân chân thường vô cùng. Sao lại cho rằng hai sự cúng thí quả báo đồng như nhau?

    Vị thọ thí trước chưa được đầy đủ Đàn ba-la-mật nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật, chỉ có nhục nhãn chưa có huệ nhãn nhẫn đến Phật nhãn. Vị thọ thí sau đã được đầy đủ cả sáu ba-la-mật nhẫn đến Phật nhãn. Sao lại cho rằng hai sự cúng thí được quả báo đồng như nhau?

    Bạch đức Thế Tôn! Vị thọ thí trước, thọ xong ăn nuốt vào bụng tiêu hóa đặng sống còn, đặng sức khỏe, xinh đẹp, an vui, vô ngại biện. Vị thọ thí sau chẳng ăn chẳng tiêu, không năm sự quả. Sao lại cho rằng hai sự cúng thí được quả báo đồng nhau?"

    Thuần-đà không chịu, ông nói lần cúng dường đầu Phật chưa thành đạo cho nên quả báo không bằng, lần cúng dường này Phật đã thành đạo viên mãn rồi thì quả báo phải cao hơn.

    Vị thọ thí trước chưa trừ sạch phiền não, chưa thành Phật, chưa chứng Nhất thiết chủng trí, cũng chưa làm chúng sanh đầy đủ Bố thí ba-la-mật. Vị thọ thí sau là Nhất thiết chủng trí, đã sạch phiền não, đã làm khắp chúng sanh đầy đủ Bố thí ba-la-mật. Như vậy người cúng dường sau phải có phước hơn.

    Đoạn thứ hai ông nói về thân. Vị thọ thí trước còn là chúng sanh, vị thọ thí sau là bậc trời trong các trời, tức là thành Phật rồi. Vị thọ thí trước là thân tạp thực, thân phiền não, thân vô thường cuối cùng; vị thọ thí sau là thân kim cang, không phiền não, là pháp thân chân thường. Sao lại cho rằng hai sự cúng thí quả báo đồng như nhau? Đây là mở màn để Phật nói về pháp thân.

    Bồ-tát không nhìn Phật trên thân ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, lại nhìn Phật bằng thân kim cang bất hoại, nhìn Phật là pháp thân chân thường. Vì vậy cho nên khi cúng dường Phật, nhắm vào pháp thân chân thường mà cúng, nhắm vào thân kim cang mà cúng, chứ không nhắm vào thân vô thường. Như vậy thấy Phật có ba mươi hai tướng tốt hâm mộ mà tu, đó là hâm mộ của phàm phu, Nhị thừa. Bồ-tát thì thấy pháp thân Phật bất sanh bất diệt nên hâm mộ mà tu.

    Vị thọ thí trước chưa đầy đủ Đàn ba-la-mật nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật, nghĩa là chưa đầy đủ lục độ. Chỉ có nhục nhãn, chưa có tuệ nhãn nhẫn đến Phật nhãn, nghĩa là chưa có ngũ nhãn. Vị thọ thí sau đã được đầy đủ sáu ba-la-mật, đầy đủ ngũ nhãn, sao hai lần cúng dường lại bằng nhau được?

    Vị thọ thí trước ăn xong nuốt vào bụng, tiêu hóa để sống còn, được sức khỏe, xinh đẹp, an vui, vô ngại biện. Vị thọ thí sau chẳng ăn chẳng tiêu, không năm sự quả, tức chỉ cho pháp thân. Sao lại cho rằng hai việc cúng thí được quả báo đồng nhau? Như vậy tất nhiên hai quả báo phải có sai biệt, trước là quả báo cúng cho người phàm, sau là quả báo cúng cho bậc thánh. Đó là ý của Thuần-đà nêu lên.

    Đức Phật phán: “Thuần-đà! Như Lai đã từ vô lượng vô biên vô số kiếp không có những thân ăn uống, thân phiền não, thân sau cùng, mà là thân chân thường, thân kim cang, là pháp thân.

    Thuần-đà! Người chưa thấy Phật tánh gọi là thân tạp thực, phiền não, cuối cùng. Lúc đó Bồ-tát thọ đồ ăn uống rồi nhập Kim cang tam-muội, đồ ăn tiêu hóa xong liền thấy Phật tánh, chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì lẽ ấy nên Như Lai nói hai sự cúng thí được quả báo đồng nhau.

    Lúc thành đạo, Bồ-tát phá hoại bốn ma, nay nhập Niết-bàn cũng phá hoại bốn ma, nên Như Lai nói hai quả báo không sai khác.

    Lúc trước dầu Bồ-tát chẳng rộng giảng diễn mười hai bộ kinh nhưng đã thông đạt rồi, nay nhập Niết-bàn rộng vì chúng sanh phân biệt giảng dạy. Vì thế nên Như Lai nói hai quả báo đồng nhau.

    Thuần-đà! Thân của Như Lai đã từ vô lượng vô số kiếp chẳng thọ sự ăn uống. Vì hàng Thanh văn mà nói rằng trước thọ cháo sữa của hai nàng chăn bò là Nan-đà và Nan-đà-ba-la, rồi sau mới chứng quả Vô thượng Chánh giác, nhưng chính thật Như Lai không ăn. Hôm nay vì đại chúng trong hội này, mà Như Lai nhận sự cúng dường cuối cùng của ông dâng. Thật ra Như Lai không ăn.”

    Phật xác nhận Như Lai đã từ vô lượng, vô biên, vô số kiếp không có những thân ăn uống, thân phiền não, thân sau cùng, không phải là thân do tứ đại giả hợp, mà là thân chân thường, thân kim cang, là pháp thân. Pháp thân là Phật tánh bất sanh bất diệt, nên gọi là chân thường. Bất sanh bất diệt nên còn mãi, như kim cang rắn chắc không gì phá được. Lúc đó Bồ-tát thọ đồ ăn uống rồi nhập Kim cang tam-muội, đồ ăn tiêu hóa xong, sau đó thấy Phật tánh mà chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì lẽ ấy Như Lai nói hai vị cúng thí quả báo đồng như nhau. Một bên người thọ cúng rồi đạt Phật quả, một bên người thọ cúng rồi nhập Niết-bàn, hai thí quan trọng như nhau nên quả báo không khác.

    Lúc thành đạo, Bồ-tát phá hoại bốn ma là tử ma, thiên ma, phiền não ma, ngũ ấm ma. Nay nhập Niết-bàn cũng phá hoại bốn ma là đất, nước, gió, lửa. Chính tứ đại là bốn ma làm cho mình khổ sở. Khi sắp nhập Niết-bàn thì tứ đại rã rời, là phá hoại bốn ma. Vì hai lần đều là phá hoại bốn ma, nên Như Lai nói quả báo không sai khác.

    Lúc trước dầu Bồ-tát chẳng rộng giảng diễn mười hai bộ kinh nhưng đã thông đạt rồi, nay nhập Niết-bàn rộng vì chúng sanh phân biệt giảng dạy. Vì thế nên Như Lai nói hai quả báo đồng nhau. Nghĩa là trước không giảng kinh nhưng thông đạt kinh nay đem ra giảng. Sự thông đạt và giảng dạy như nhau nên hai quả báo cũng không khác.

    Thuần-đà! Thân của Như Lai đã từ vô lượng vô số kiếp chẳng thọ ăn uống. Vì hàng Thanh văn mà nói rằng, lúc thọ cháo sữa của hai nàng chăn bò là Nan-đà và Nan-đà-ba-la, rồi sau mới chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhưng chính thật Như Lai không ăn. Hôm nay vì đại chúng trong hội này mà Như Lai nhận sự cúng dường cuối cùng của ông nhưng thật ra Như Lai không ăn.

    Buổi đầu không ăn, buổi chót cũng không ăn. Ở đây Như Lai chỉ cho pháp thân, không phải như nghĩa Nhị thừa nói là thân có ba mươi hai tướng tốt. Như vậy cái nhìn Phật của Thanh văn khác với cái nhìn của Bồ-tát. Bồ-tát nhìn Phật bằng pháp thân, cho nên nói thân Phật là kim cang, là bất hoại. Còn Thanh văn nhìn Phật bằng thân ba mươi hai tướng, nên thấy thân Phật là vô thường. Đó là những điểm khác nhau của hai bên.

    Đại chúng nghe đức Thế Tôn khắp vì đại hội mà nhận sự cúng dường cuối cùng của Thuần-đà, đều vui mừng hớn hở, đồng rập tiếng khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hy hữu thay cho Thuần-đà! Thật ông không uổng tên là Thuần-đà. Vì hai chữ Thuần-đà là “hiểu diệu nghĩa”. Ông nay kiến lập diệu nghĩa như thế, cứ nghĩa đặt tên gọi là Thuần-đà. Hiện đời đây ông được đầy đủ cả danh tiếng, tài lợi, đức hạnh, chí nguyện. Rất lạ cho ông Thuần-đà! Sanh trong loài người lại được quả lành vô thượng rất khó được. Lành thay cho Thuần-đà! Trong đời khó có người thứ hai. Khác nào hoa ưu đàm. Đức Phật ra đời là rất khó. Gặp Phật sanh lòng tin, được nghe chánh pháp, lại là rất khó. Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, thỉnh được đức Phật nhận phần cúng dường cuối cùng lại càng khó hơn. Nam-mô Thuần-đà! Nam-mô Thuần-đà! Nay ông đã đầy đủ Bố-thí ba-la-mật.”

    Đại chúng liền nói kệ rằng:

    Ông dầu sanh nhân đạo, 

    Đã siêu trời thứ sáu, 

    Tôi cùng tất cả chúng 

    Nay xin yêu cầu ông: 

    Đấng tối thắng trong người 

    Nay sẽ nhập Niết-bàn, 

    Ông nên thương chúng tôi 

    Xin kíp thỉnh đức Phật 

    Ở lâu lại thế gian 

    Diễn thuyết pháp vô thượng 

    Mà bậc trí tán thán 

    Hầu lợi ích chúng sanh

    Nếu ông không thỉnh Phật, 

    Mạng tôi ắt khó toàn, 

    Ông nên vì chúng tôi 

    Đảnh lễ đức Điều ngự.

    Thuần-đà vui mừng hớn hở như người có cha mẹ vừa chết bỗng sống lại. Ông đảnh lễ Phật mà nói kệ rằng:

    Vui thay được lợi mình!

    Khéo thọ nơi thân người ấn 

    Dẹp trừ tham sân si 

    Thoát hẳn ba ác đạo.

    Thích thay được lợi mình!

    Được gặp kho vàng báu 

    Gặp gỡ đức Điều ngự 

    Chẳng sợ đọa súc sanh.

    Phật như hoa ưu-đàm

    Khó gặp gỡ tín kính, 

    Gặp rồi trồng căn lành 

    Dứt hẳn khổ ngạ quỷ, 

    Lại cũng hay tổn giảm 

    Chủng loại a-tu-la.

    Hột cải ghim đầu kim 

    Phật ra đời khó hơn, 

    Tôi đã đủ đàn độ 

    Độ thiên nhân sanh tử.

    Phật chẳng nhiễm việc đời 

    Như hoa sen ở nước 

    Khéo dứt giống tam giới 

    Thoát hẳn dòng sanh tử.

    Sanh làm người là khó, 

    Gặp đời Phật cũng khó 

    Dường như trong biển lớn 

    Rùa mù gặp bộng cây.

    Nay tôi dâng thực phẩm 

    Nguyện đặng báo vô thượng 

    Xô phá phiền não kiết 

    Tất cả không bền chắc.

    Nay tôi ở nơi đây 

    Chẳng cầu thân nhân thiên 

    Dầu có được thân ấy 

    Cũng không lòng ham thích.

    Được Phật nhận cúng phẩm 

    Tôi vui sướng không lường 

    Khác nào bông y-lan 

    Ngát mùi hương chiên-đàn.

    Thân tôi như y-lan 

    Thế Tôn nhận cúng phẩm 

    Như ngát hương chiên-đàn 

    Vì thế tôi vui mừng.

    Tôi nay được hiện báo 

    Chỗ tối thắng thượng diệu 

    Đế-thích cùng Phạm thiên 

    Đều đến cúng dường tôi,

    Tất cả các thế gian

    Đều sanh lòng buồn khổ 

    Vì biết Phật Thế Tôn, 

    Muốn nhập Đại Niết-bàn, 

    Đồng cất tiếng xướng to:

    Đời sẽ không Điều ngự 

    Chẳng nên bỏ chúng sanh 

    Phải xem như con một, 

    Phật ở giữa chư tăng 

    Diễn thuyết pháp vô thượng 

    Như núi báu Tu-di 

    Cao vọi giữa biển cả.

    Trí Phật vậy khéo dứt 

    Tối vô minh của tôi 

    Dường như giữa hư không 

    Mây nổi đặng mát mẻ.

    Như Lai khéo dứt trừ 

    Tất cả các phiền não 

    Như mặt trời mọc lên 

    Tan mây sáng khắp soi.

    Các loài chúng sanh đây 

    Khóc than sưng cả mắt 

    Đều bị dòng sanh tử 

    Đẩy trôi rất khốn khổ.

    Đức Thế Tôn cần phải

    Thêm căn lành chúng sanh 

    Vì dứt khổ sanh tử 

    Ở nán lại thế gian.

    Khi đại chúng nghe Thuần-đà được Phật chấp nhận những phần cúng dường và khen công đức của ông, giải thích những nghi vấn của ông về hai lần cúng dường, thấy Thuần-đà có lợi ích lớn, cho nên đồng tán thán ca ngợi công đức của ông và giải thích tên ông. Chữ Thuần-đà là tiếng Phạn, nghĩa là hiểu diệu nghĩa, người hiểu được diệu nghĩa là Thuần-đà. Diệu nghĩa là nghĩa Như Lai thường trụ, bất hoại. Thuần-đà hiểu được nghĩa đó là hiểu được nghĩa thầm kín nhiệm mầu lâu nay người ta không hiểu, nên toàn chúng đều hoan hỷ cúng dường, khen ngợi, đồng thời yêu cầu ông nên thỉnh Phật trụ thế thêm một thời gian nữa.

    Thuần-đà vui mừng vì việc làm của mình, lợi mình và lợi người. Ông nói kệ tán thán công đức của Phật đã khéo làm lợi ích chúng sanh, khen Phật ra đời rất ít có, người gặp được Phật hết sức khó khăn như con rùa mù gặp được bộng cây. Ý Phật cao vọi, làm mọi người được an lạc, nên yêu cầu đức Phật nán ở thêm trên đời để chúng sanh nhờ. Và ông cầu thỉnh Phật dạy tiếp.

    Phật bảo Thuần-đà: “Đúng như lời ngươi nói. Phật ra đời là khó như hoa ưu-đàm. Gặp Phật sanh lòng tin lại khó hơn. Phật sắp nhập Niết-bàn, được cúng dường lần cuối cùng đầy đủ Bố thí ba-la-mật, lại là việc rất khó gấp bội.

    Nay ông chớ buồn khổ, nên phải vui mừng vì đã được dịp cúng dường Như Lai lần cuối cùng, do đây thành tựu Bố thí ba-la-mật. Ông chẳng nên thỉnh Phật ở lại nơi đời, mà phải quan sát cảnh giới của chư Phật thảy đều vô thường, tánh và tướng của các hành pháp cũng như vậy.”

    Phật khen Thuần-đà nhận xét rất đúng, Phật ra đời khó gặp như hoa ưu-đàm, gặp Phật được lòng tin cũng rất khó và cúng dường Phật lần cuối cùng càng khó gấp bội. Phật khuyên ông chớ buồn khổ mà phải vui mừng vì được cúng dường Phật lần cuối cùng.

    Phật giải thích những hành pháp ở thế gian này thảy đều vô thường, dù cảnh giới Phật cũng là cảnh giới vô thường.

    Đức Phật liền vì Thuần-đà mà nói kệ rằng:

    Tất cả các thế gian 

    Có sanh đều có tử, 

    Dầu thọ mạng vô lượng 

    Tất có kỳ phải hết.

    Có thạnh tất có suy, 

    Sum hiệp có biệt ly, 

    Tuổi trẻ chẳng dừng lâu 

    Khỏe mạnh bị bệnh xâm, 

    Sự chết nuốt mạng người 

    Không có gì thường còn.

    Bậc vua chúa tự tại 

    Thế lực không ai bằng

    Tất cả đều dời đổi 

    Mạng sống cũng như vậy.

    Sự khổ xoay không ngằn 

    Lưu chuyển không thôi dừng 

    Ba cõi đều vô thường 

    Mọi loài không có vui.

    Tánh tướng của pháp có, 

    Tất cả đều trống không, 

    Pháp sanh diệt lưu chuyển  

    Luôn có những lo khổ, 

    Sợ sệt, các lỗi ác, 

    Già, bệnh, chết, buồn rầu.

    Những khổ ấy không ngằn 

    Hư rã nhiều tai hại, 

    Phiền não bao gói kín 

    Khác nào tằm ở kén, 

    Là người có trí huệ 

    Đâu nên thích chốn này.

    Các khổ nhóm nơi thân 

    Tất cả đều nhơ nhớp, 

    Tai nạn, ghẻ nhọt thảy 

    Cội gốc của khổ đau, 

    Dầu là thân chư thiên 

    Đều cũng giống như vậy.

    Dục ái đều vô thường 

    Nên Phật chẳng tham ưa,

    Ly dục khéo tư duy 

    Đặng chứng quả chân thật 

    Rốt ráo dứt sanh tử 

    Nay sẽ vào Niết-bàn.

    Phật đã vượt bờ kia 

    Đã thoát hẳn các khổ

    Vì thế nên hiện nay 

    Thuần hưởng những diệu lạc, 

    Do các nhân duyên ấy 

    Chứng quả vị chân thật 

    Dứt hẳn những triền phược 

    Hôm nay vào Niết-bàn.

    Phật không già, bệnh, chết, 

    Thọ mạng vô cùng tận, 

    Phật nay vào Niết-bàn 

    Như ngọn lửa lớn tắt.

    Thuần-đà! Ông chẳng nên 

    Suy lường nghĩa Như Lai, 

    Nên xét tánh Như Lai 

    Dường như núi Tu-di.

    Phật nay vào Niết-bàn 

    Thọ trì đệ nhất lạc, 

    Pháp chư Phật như vậy 

    Các ông chớ nên khóc.

    Bài kệ nói, tất cả tướng thế gian sanh lão bệnh tử, là tướng chia ly buồn khổ không có gì an ổn. Sanh lão bệnh tử là tướng vô thường ai ai cũng phải chịu, vì mang thân ở thế gian, dù thân của chư thiên cũng phải chịu chung luật đó. Khi quán sát các tướng thế gian là đau khổ vì sanh già bệnh chết thì người ly dục sẽ được Niết-bàn. Khi được Niết-bàn cũng như củi hết lửa tắt.

    Phật giải thích Niết-bàn của Nhị thừa, chán sanh già bệnh chết là khổ, cho Niết-bàn là lạc. Phật khuyên Thuần-đà, khi thân này dứt được mầm sanh tử, vào Niết-bàn không sanh không già không bệnh không chết là an vui, ông không nên năn nỉ Thế Tôn ở lại thế gian này chi nữa.

    Thuần-đà bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đúng như lời Phật dạy. Trí huệ của con kém nhỏ như muỗi mòng, đâu có thể nghĩ bàn được nghĩa Niết-bàn sâu kín của Như Lai.

    Bạch Thế Tôn! Ví như người tuổi thơ ấu mới xuất gia, dầu chưa thọ giới cụ túc, mà đã được dự vào số chúng tăng. Con nay cũng vậy, nhờ thần lực của Phật và Bồ-tát, mà con được dự vào số đại Bồ-tát, đã được cùng hàng với các bậc đại long tượng dứt phiền não, như ngài Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử v.v...

    Thế nên hôm nay con muốn đức Như Lai thường ở nơi đời mà chẳng vào Niết-bàn."

    Đến đây Thuần-đà nhận rằng lời Phật dạy rất đúng, trí tuệ của ông nhỏ xíu như muỗi mòng không thể nào nghĩ bàn đến nghĩa Niết-bàn tôn kính của Như Lai. Sở dĩ ông được lợi ích lớn là nhờ công đức của Phật hay thần lực của Phật và Bồ-tát mà được gia nhập hàng đại long tượng, nghĩa là trong hàng Bồ-tát.

    Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử bảo Thuần-đà rằng: “Ông chẳng nên nói rằng muốn đức Như Lai thường ở nơi đời mà chẳng vào Niết-bàn. Ông phải quán sát tánh tướng của hành pháp, quán sát như thế đặng Không tam-muội. Muốn cầu chánh pháp nên học pháp quán sát như vậy.”

    Thuần-đà nói: “Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Đức Như Lai là bậc cao cả nhất trong người trên trời. Đức Như Lai như thế há lại là hành pháp sao? Nếu là hành pháp thời là pháp sanh diệt. Ví như bóng nước chóng nổi chóng tan, qua lại xoay vần như bánh xe lăn, các hành pháp cũng thế. Tôi nghe chư thiên sống rất lâu, tại sao đức Thế Tôn là bậc trời trong các trời mà lại sống chẳng đầy trăm tuổi.

    Các hành pháp là pháp sanh tử, nếu đức Như Lai nhập diệt thời đồng với hành pháp, đâu được gọi là bậc trời trong các trời, là Pháp vương tự tại. Vì thế chẳng nên xem đức Như Lai đồng với hành pháp.

    Đức Như Lai hàng phục phiền não ma, ngũ ấm ma, thiên ma, tử ma, do nhân duyên ấy mà thành tựu đầy đủ vô lượng công đức chân thật, nên hiệu là Như Lai Ứng cúng Chánh biến tri, hiệu là Tam giới tôn.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Chẳng nên ức tưởng phân biệt mà đem pháp Như Lai cho đồng với các hành pháp. Ví như phú ông sanh con trai, nhà tướng số xem trẻ ấy có tướng đoản mạng. Phú ông biết rằng trẻ ấy không thể nối lấy gia nghiệp, nên chẳng ái trọng. Vả kẻ đoản thọ thời chẳng được mọi người kính trọng. Nếu đức Như Lai đồng với các hành pháp, ắt chẳng được Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả trời người kính thờ, mà pháp chân thật bất biến bất dị của Như Lai dạy ra cũng không ai tín thọ. Vì lẽ ấy, Ngài chẳng nên nói rằng Như Lai đồng với các hành pháp.

    Ngài Văn-thù-sư-lợi khuyên Thuần-đà không nên cầu thỉnh Như Lai ở lại đời đừng vào Niết-bàn, mà phải quán sát tánh tướng của các hành pháp, rồi được Không tam-muội... Thuần-đà bác lại, ông cho rằng hành pháp là chỉ cho các pháp hữu vi có sanh có diệt, nếu thấy Như Lai là một hành pháp có sanh có diệt thì trái đạo lý. Vì sao? Nếu đức Như Lai có sanh có diệt thì không ai tin chứng. Ở thế gian người nào sống lâu thì được kính nể, nếu Như Lai là sanh diệt, là vô thường tạm bợ thì pháp của ngài không được kính nể, phải thấy Như Lai là bất sanh bất diệt nên mới được mọi người kính trọng. Như con ông trưởng giả sanh ra, người ta coi tướng là đoản mạng tất nhiên ông trưởng giả không nuôi. Người nào nhận lầm đức Như Lai chỉ có tám mươi tuổi chết thì chính người đó không tin vào lý của đức Phật.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Như bần nữ đang có mang mà lại đói khát không nhà cửa, đẻ nhờ dưới mái nhà kia, chủ nhà xua đuổi, bần nữ bồng con muốn đến xứ khác để mưu sinh. Dọc đường phải lội qua con sông, ra giữa dòng bị nước chảy, xoáy mạnh, không nỡ buông con nên mẹ con đồng bị chết đuối. Vì tấm lòng từ ái ấy, bần nữ được sanh lên cõi Phạm thiên.

    Nếu có thiện nam tử muốn hộ trì chánh pháp, chớ nói Như Lai đồng với các hành pháp hay chẳng đồng với các hành pháp. Chỉ nên tự trách mình ngu si không có huệ nhãn, chánh pháp của Như Lai không thể nghĩ bàn, không nên tuyên nói Như Lai quyết định là hữu vi hay vô vi. Nếu là người chánh kiến nên nói Như Lai quyết định là vô vi. Vì sao thế? Vì nói Như Lai là vô vi thời có thể sanh pháp lành cho chúng sanh.

    Thiện nam tử hộ trì chánh pháp thà chết chứ chẳng nói Như Lai đồng với pháp hữu vi, mà chỉ nên nói Như Lai đồng với pháp vô vi. Nhân vì hộ trì chánh pháp nói Như Lai đồng với pháp vô vi mà đặng quả Vô thượng Chánh giác. Như bần nữ thà chết đuối giữa dòng chứ không chịu buông con, nhân đó mà được sanh lên cõi Phạm thiên. Thiện nam tử này chẳng cầu giải thoát mà giải thoát tự đến, khác nào bần nữ kia chẳng cầu sanh Phạm thiên mà quả Phạm thiên tự đến.

    Thuần-đà muốn nêu lên Như Lai là thường trụ, bất sanh bất diệt, Như Lai là vô vi, chứ không phải là hành pháp. Người thấy Như Lai là vô vi bất sanh bất diệt thì xứng đáng là đệ tử của Phật và sẽ được bao nhiêu công đức lành. Như bần nữ mang con qua sông rồi vì thương con không nỡ bỏ mà chết đuối, về sau được phước sanh lên cõi trời Phạm thiên. Tại sao? Vì lòng từ thương con không nỡ bỏ. Cũng vậy, người nào hộ trì chánh pháp thấy Như Lai là vô vi bất sanh bất diệt thì người đó cũng có phước đức vô lượng, còn nói Như Lai vô thường... là tổn đức.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Như người đi xa giữa đường mỏi mệt, nghỉ nhờ nhà người. Giữa lúc ngủ; nhà ấy bỗng bốc lửa to. Người ấy choàng dậy biết chắc phải chết, lòng hổ thẹn sợ thân thể lõa lồ bèn lấy y áo vấn thân mà chết, liền được sanh lên cõi trời Đao-lợi. Sau đó tám mươi đời làm Đại Phạm vương, trăm ngàn đời làm Chuyển luân vương, người ấy mãi hưởng phước lành như vậy, hẳn không bị đọa vào ác đạo. Vì duyên cớ ấy, nếu là người có tâm tàm quý chẳng nên xem Như Lai đồng với các hành pháp.

    Bọn ngoại đạo tà kiến mới được nói Như Lai đồng với pháp hữu vi. Là Tỳ-kheo trì giới đâu nên có quan niệm rằng Như Lai là pháp hữu vi. Nếu nói Như Lai là pháp hữu vi, đó chính là vọng ngữ. Phải biết người này sẽ đọa địa ngục.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Như Lai chân thật, chính là pháp vô vi, chẳng nên lại nói là hữu vi. Từ nay ở trong đường sanh tử, Ngài nên bỏ vô trí mà cầu nơi chánh trí. Phải biết Như Lai chính là vô vi. Được chánh quán như thế, sẽ đầy đủ ba mươi hai tướng, chóng thành tựu quả vô thượng Bồ-đề.”

    Ví dụ thứ hai, như người đi đường xa mỏi mệt, nghỉ nhà người khác, nhà cháy, thấy thân mình lõa lồ bèn lấy y quấn vào rồi chết. Biết hổ thẹn lấy y quấn vào rồi chết, được phước sanh lên cõi trời. Cũng vậy, người nào thấy Như Lai là vô vi bất sanh bất diệt thì có phước, nếu thấy Như Lai là hành pháp sanh diệt thì đồng với ngoại đạo tà kiến.

    Giáo lý của Phật dạy người giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, nếu thấy Phật còn sanh tử thì giáo lý của ngài làm sao tin được! Chúng ta phải thấy được pháp thân bất sanh bất diệt của Phật.

    Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát khen Thuần-đà rằng: “Lành thay! Lành thay! Nay ông đã tạo nhân duyên trường thọ, ông biết được Như Lai là pháp thường trụ, là pháp chẳng biến dị, là pháp vô vi. Nay ông khéo che đậy tướng hữu vi của Như Lai, sau này ông sẽ đặng đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình, mười tám pháp bất cộng, thọ mạng vô lượng, luôn được an vui, không còn sanh tử, sẽ thành bậc Ứng cúng Chánh biến tri. Như người lữ khách bị lửa thiêu mà có lòng hổ thẹn lấy y áo vấn thân, nhờ tâm lành ấy nên được sanh lên cõi Đao-lợi, lại nhiều đời làm Phạm vương, Chuyển luân vương luôn được an vui chẳng sa ác đạo.

    Tôi cùng ông cũng đều nên che đậy tướng hữu vi của Như Lai, lát nữa đức Thế Tôn sẽ giảng rộng về ý nghĩa ấy.

    Nên để hữu vi vô vi lại đó. Ông nên kíp lo cúng dường cơm nước cho kịp giờ và cũng nên sắm sửa đồ cần thiết cho hàng tứ chúng từ xa hội về đang mỏi mệt. Cúng dường như thế chính là đầy đủ chủng tử căn bản của Đàn ba-la-mật.

    Thuần-đà! Nếu cúng dường đức Phật và chư tăng lần cuối cùng, hoặc nhiều hay ít, đủ hay thiếu, đều phải sớm lo cho kịp giờ. Đức Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.”

    Thuần-đà nói: “Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Sao Ngài lại tham chút uống ăn mà nói hoặc ít hoặc nhiều, đủ hay chẳng đủ, rồi bảo tôi lo cho kịp giờ? Xưa kia đức Như Lai khổ hạnh trọn sáu năm còn chịu nổi, huống là giây lát hôm nay. Ngài thật cho rằng đức Như Lai Chánh giác thọ đồ uống ăn này ư? Tôi thời biết quyết định thân Như Lai chính là pháp thân, không phải thực thân.”

    Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi khen Thuần-đà khéo che tướng hữu vi của Như Lai mà nêu bày tướng vô vi của Như Lai, tức là che tướng vô thường của thân tứ đại để chỉ thẳng tướng bất sanh bất diệt của pháp thân, như vậy ông đã được phước trường thọ. Nhưng ngài khuyên gác lại chuyện hữu vi vô vi mà nên dâng cúng cho kịp thời vì chúng tăng đang mỏi mệt. Thuần-đà trách, sao ngài sao lại nghĩ đến chuyện ăn uống. Ngày xưa đức Phật tu khổ hạnh bao nhiêu năm mà còn không nghĩ đến chuyện ăn uống, huống gì nay nán lại một lúc có gì mà phải nghĩ đến như vậy. Ngài đừng nói Thế Tôn là thân ăn uống, bởi thân Như Lai là pháp thân.

    Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: “Thật đúng như lời của Thuần-đà. Lành thay Thuần-đà! Ông đã thành tựu đại trí huệ, khéo thâm nhập kinh điển Đại thừa.”

    Văn-thù-sư-lợi nói với Thuần-đà: “Ông cho rằng Như Lai là vô vi, thân Như Lai là trường thọ, hiểu biết như vậy đức Phật rất hài lòng.”

    Thuần-đà nói: “Đức Như Lai chẳng riêng gì hài lòng nơi tôi, mà cũng hài lòng với tất cả chúng sanh."

    Văn-thù-sư-lợi nói: “Đức Như Lai đối với ông, với tôi, với tất cả chúng sanh, đều hài lòng.”

    Thuần-đà nói: “Ngài chẳng nên nói đức Như Lai hài lòng. Luận về hài lòng, chính là đảo tưởng. Phàm có đảo tưởng thời là sanh tử, có sanh tử thời là pháp hữu vi. Vì lẽ ấy Ngài chẳng nên cho Như Lai là hữu vi. Nếu nói Như Lai là hữu vi thời Ngài cùng tôi đều điên đảo cả.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Đức Như Lai không có ái niệm. Luận về ái niệm, như trâu mẹ kia ái niệm con của nó, dầu là đói khát đi tìm cỏ nước, hoặc no hay chưa no, bỗng nhiên nhớ con liền trở về. Chư Phật Thế Tôn không có ái niệm như vậy, bình đẳng xem tất cả chúng sanh như La-hầu-la. Từ niệm bình đẳng như vậy chính là cảnh giới trí huệ của chư Phật.

    Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi! Ví như quốc vương ngự trên xe tứ mã, có người muốn cho xe bò theo kịp xe vua, tất không thể được. Ngài cùng tôi muốn cùng tận chỗ vi mật thâm áo của Như Lai cũng không thể được.

    Ví như kim sí điểu bay vọt trên cao vô lượng do-tuần, nhìn xuống biển cả thấy rõ những loài thủy tộc cùng loài rồng và bóng của nó. Kẻ phàm tục trí kém, không thể suy lường chỗ thấy của kim sí điểu được. Cũng thế, Ngài cùng tôi không thể suy lường được trí huệ của Như Lai."

    Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát bảo Thuần-đà rằng: “Đúng như lời ông vừa nói. Đối với những việc ấy không phải là tôi không hiểu. Chẳng qua vì muốn đem việc của Bồ-tát thử ông đó thôi.”

    Bấy giờ đức Thế Tôn từ trên mặt phóng ra nhiều tia sáng chiếu thân ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù liền bảo Thuần-đà rằng: “Nay đây đức Như Lai hiện thoại tướng từ trên mặt phóng ra nhiều tia sáng như thế chẳng phải là không duyên cớ, đó là điềm đức Phật sắp nhập Niết-bàn. Ông phải sớm lo dâng lễ cúng dường lên đức Phật và chư tăng cho kịp giờ.”

    Đức Phật khen Thuần-đà: Ông đã thành tựu đại trí huệ, khéo thâm nhập kinh điển Đại thừa. Nếu người không nhận ra Phật tánh, không thấy được pháp thân thì không bao giờ tin được kinh điển Đại thừa. Người tin được kinh điển Đại thừa là người thành tựu được trí tuệ, nhận ra Phật tánh, biết được pháp thân. Nếu khen ngợi thì không biết dùng lời nào khen cho đủ. Các vị thiền sư sau khi thâm nhập Phật tánh, biết được pháp thân rồi, dù không nói một câu kinh mà lời vẫn phù hợp với kinh điển Đại thừa. Chúng ta nhiều khi giảng kinh mà không nhận được Phật tánh, không thấy được pháp thân thì cũng không hiểu được kinh điển Đại thừa. Đó là chỗ trọng yếu.

    Ngài Văn-thù khen Thuần-đà: Ông cho rằng Như Lai là vô vi, thân Như Lai là trường thọ, hiểu biết như vậy đức Phật rất hài lòng. Thuần-đà lại không chấp nhận. Nói Phật hài lòng tức là còn ái, còn ái là còn sanh tử luân hồi, như trâu mẹ thương trâu con, đi đâu cũng phải nhớ trở về, Phật không có ái nên không có sanh tử. Phật đối với mọi người bình đẳng, xem như La-hầu-la. Do trí tuệ mới có lòng từ bi bình đẳng, thấy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả như nhau nên đều đồng đẳng thương nếu họ chưa ngộ, không kể thân sơ. Vì vậy khi nói từ bi bình đẳng thì phải có trí tuệ nhận mọi người đều có Phật tánh.

    Ông lại nói rằng trí tuệ của ngài Văn-thù và ông không thể nào cùng tận được chỗ vi mật thâm áo của Như Lai, chỉ những ai thể nhập đến đó mới thấy rõ, như chim đại bàng bay tít trên cao, những loài rồng... ở dưới biển cả không thể suy lường được khả năng của nó. Đây chỉ rõ nghĩa đẳng giác và bất đẳng giác. Phật thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn các vị Bồ-tát cũng giác mà chưa được Chánh đẳng Chánh giác. Chữ đẳng là liên tục, không có khe hở. Giác ngộ của Phật là bất cứ lúc nào, nơi nào ngài cũng giác. Còn Bồ-tát thì có vị thường giác, có vị mới giác từng phần.

    Đến đây ngài Văn-thù nhắc lại là Thuần-đà nói đúng, không phải ngài không hiểu mà chỉ là thử xem ông có phải là Bồ-tát hay chưa. Giờ đây đức Phật phóng hào quang đó là điềm Phật sắp vào Niết-bàn, vậy ông nên cúng dường cho kịp giờ.

    Đức Phật bảo Thuần-đà: “Đã phải giờ cho ông dâng thực phẩm cúng dường Phật và đại chúng. Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.”

    Đức Phật bảo luôn ba lần như vậy.

    Thuần-đà nghe đức Phật dạy như vậy, bất giác nghẹn ngào khóc than nức nở: “Khổ thay! Khổ thay! Thế gian sẽ trống rỗng.” Rồi ông lại thưa cùng đại hội: “Hôm nay chúng ta phải đồng tha thiết đảnh lễ cầu đức Phật đừng nhập Niết-bàn.”

    Đức Thế Tôn lại bảo Thuần-đà: “Ông chớ nên khóc than tiều tụy như vậy. Ông phải quán sát thân này như cây chuối, như ánh nắng, như bọt nước, như huyễn hóa, như thành càn-thát-bà, như đồ gốm chưa hầm, như làn chớp, như hình vẽ trên nước, như tù sắp hành hình, như trái muồi, như cục thịt, như bức dệt đã hết khổ, như chày giã lên xuống. Phải quán sát các hành pháp như món ăn lẫn chất độc, pháp hữu vi nhiều tai hại.”

    Phật bảo ta sắp nhập Niết-bàn, ông hãy mau đem phẩm vật cúng dường. Ở đây Phật cũng ẩn tướng bất sanh bất diệt mà nói ra tướng sanh diệt, là tướng nhập Niết-bàn. Khi ấy Thuần-đà nghẹn ngào khóc than nức nở. Phật an ủi, ông nên quán sát thân này như cây chuối, lột từng bẹ chuối ra cuối cùng chẳng có gì, như là ánh nắng ở ngoài trời không thật, như bọt nước, như huyễn hóa, như thành càn-thát-bà, như đồ gốm chưa hầm đụng đến là bể, như làn chớp, như hình vẽ trên nước, như người tù sắp bị hành hình, như cục thịt để lâu một chút là thối, như bức dệt đã hết khổ còn vài sợi chỉ nữa là dừng, như chày giã cất lên rồi hạ xuống không ở một chỗ... Ông hãy luôn luôn quán sát các hành pháp như vậy, không bị nó làm hại.

    Thuần-đà bạch Phật: “Đức Thế Tôn chẳng muốn ở lại đời, làm sao con chẳng buồn khóc cho được. Khổ thay! Khổ thay! Thế gian sẽ trống rỗng. Ngửa mong đức Thế Tôn thương xót chúng con và chúng sanh mà ở luôn nơi đời, chẳng nhập Niết-bàn.”

    Phật bảo Thuần-đà: “Ông chẳng nên nói rằng thương xót các ông mà ở luôn nơi đời. Chính vì thương xót ông và các chúng sanh mà hôm nay Phật mới muốn nhập Niết-bàn. Vì sao thế? Chư Phật pháp nhĩ như vậy. Pháp hữu vi cũng thế. Nên chư Phật nói kệ rằng:

    Các pháp hữu vi 

    Tánh nó vô thường 

    Sanh rồi chẳng trụ 

    Tịch diệt là vui.

    Thuần-đà! Ông nên quán sát các hành pháp là tạp độc, các pháp hữu vi là vô ngã vô thường chẳng trụ. Tấm thân này có rất nhiều tai hại như bóng nước. Vì lẽ ấy, ông chớ nên khóc lóc.”

    Thuần-đà một bề xin Phật thương xót mà ở lại đời không vào Niết-bàn. Phật dạy chính vì thương xót các ông mà Phật muốn vào Niết-bàn. Tại sao? Tâm lý chúng sanh dễ chán, dễ khinh thường. Đây là hai căn bệnh lớn nhất. Dù cảnh đẹp như thần tiên nhưng ở vài ba năm cũng chán, dù một vị thánh sống mà ngồi bên cạnh mãi cũng khinh thường. Gần nhau thì lờn, ở lâu thì chán. Phật muốn trị căn bệnh đó, nên khi việc xong là ngài vào Niết-bàn, để chúng sanh không sanh chán, không khinh thường. Ngài vào Niết-bàn là vì thương xót chúng sanh, không phải bỏ ra đi để chúng sanh khổ.

    Chư Phật pháp nhĩ như vậy , nghĩa là các pháp thường là như vậy. Pháp hữu vi cũng thế. Nên chư Phật nói kệ:

    Các pháp hữu vi 

    Tánh nó vô thường 

    Sanh rồi chẳng trụ 

    Tịch diệt là vui.

    Pháp hữu vi nào cũng vô thường, có sanh thì có diệt. Tịch diệt là vui, khi dứt được mầm sanh diệt lúc đó mới là vui, là tuyệt. Phật dạy Thuần-đà nên quán sát các hành là tạp độc, các pháp hữu vi là vô ngã vô thường chẳng trụ, thân này có rất nhiều tai hại như bóng nước. Phật bỏ thân tai họa để nhập Niết-bàn là sự an vui sung sướng, đâu có gì phải than khóc.

    Thuần-đà bạch Phật: “Thật đúng như lời Thế Tôn dạy. Mặc dầu con vốn biết đức Như Lai phương tiện thị hiện nhập Niết-bàn, nhưng con không làm sao ngăn sự buồn thảm được. Giờ đây tự suy xét, con lại sanh lòng vui mừng.”

    Phật khen Thuần-đà: “Lành thay! Lành thay! Ông có thể rõ biết Như Lai thị hiện đồng với chúng sanh mà phương tiện nhập Niết-bàn.

    Thuần-đà bạch Phật, đúng như lời Thế Tôn dạy, Như Lai nhập Niết-bàn con hối tiếc vì không cách nào ngăn được, giờ đây suy xét con lại sanh lòng vui mừng. Nghĩa là ông tuy biết Như Lai nhập Niết-bàn là thị hiện nhưng cũng vẫn buồn vẫn khóc. Khóc rồi suy nghĩ lại, Phật thị hiện thôi chứ không phải diệt hẳn.

    Phật khen: Lành thay! Ông có thể rõ biết Như Lai thị hiện đồng với chúng sanh mà phương tiện nhập Niết-bàn. Phật sanh hay diệt cũng chỉ là phương tiện thị hiện, không thật. Cũng như có vô lượng sóng trên mặt biển dấy lên rồi lặn xuống, biển cả vẫn như như. Bao nhiêu hóa thân hiện ra rồi cũng trở về pháp thân. Hóa thân khi có khi không, khi sanh khi diệt, pháp thân vẫn bất diệt. Nếu đạt được pháp thân thì biết Phật là trường thọ bất sanh bất diệt, không khác không đổi.

    Thuần-đà! Ông nên nghe đây: Như mùa xuân chim ta-la-tà đều nhóm nơi ao A-nậu-đạt. Chư Phật cũng thế đều đến chỗ ấy. Ông chẳng nên suy nghĩ chư Phật là trường thọ hay đoản thọ. Tất cả các pháp đều như tướng huyễn thuật. Như Lai ở trong ấy do sức phương tiện không có nhiễm trước. Vì sao thế? Vì chư Phật pháp nhĩ như vậy.

    Thuần-đà! Nay Như Lai nhận phần cúng dường của ông, là vì muốn cho ông thoát khỏi các dòng sanh tử trong ba cõi. Hàng nhân thiên ở nơi sự cúng dường cuối cùng đối với Như Lai đây, đều sẽ được quả báo bất động, luôn được an vui. Vì sao thế? Vì Như Lai là phước điền tốt của chúng sanh. Nếu ông muốn vì chúng sanh mà làm phước điền, thời phải kíp sắm sửa cúng phẩm, chẳng nên để trễ.”

    Bấy giờ Thuần-đà vì các chúng sanh được độ thoát nên cúi đầu lau lệ mà bạch Phật: “Lành thay đức Thế Tôn! Nếu lúc con kham có thể làm phước điền, thời có thể biết rõ Như Lai là nhập Niết-bàn hay chẳng phải nhập Niết-bàn. Nay trí huệ của chúng con cùng Thanh văn Duyên giác nhỏ kém như kiến muỗi, thật không thể suy lường Như Lai nhập Niết-bàn hay chẳng phải nhập Niết-bàn.”

    Bạch xong, Thuần-đà cùng quyến thuộc buồn rầu khóc lóc, thiêu hương rải hoa, hết lòng cung kính, rồi liền cùng ngài Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát đi lo sắm sửa thực phẩm.

    Phật nói, ông không nên suy nghĩ đức Phật trường thọ hay đoản thọ. Tất cả các pháp đều như tướng huyễn thuật, không có gì. Như Lai trong ấy do sức phương tiện, không nhiễm trước. Vì sao thế? Vì chư Phật pháp nhĩ như vậy. Thân Phật là hóa thân như huyễn thuật nên không thể nói dài ngắn... Pháp nhĩ như vậy thôi.

    Phật lại bảo Thuần-đà cùng đại chúng nên sửa soạn trai phạn cúng dường, đó là việc phước điền lớn lao.

    Thuần-đà thưa: Nay trí huệ của chúng con cùng Thanh văn Duyên giác nhỏ kém như kiến muỗi, thật không thể suy lường Như Lai nhập Niết-bàn hay chẳng nhập Niết-bàn. Tuy rằng thấy Phật sắp nhập Niết-bàn nhưng sự thật không thể nào biết được Phật có nhập hay không nhập Niết-bàn. Hóa thân thì có nhập Niết-bàn, pháp thân thì có bao giờ nhập Niết-bàn? Bấy giờ Thuần-đà và đại chúng vẫn còn buồn khổ, sửa soạn cúng dường Phật.

  • 3. Phẩm Ai Thán

    Phẩm Ai Thán

    Ông Thuần-đà ra đi không bao lâu, khắp cả đại địa nhẫn đến trời Phạm thiên bỗng chấn động sáu cách. Phàm địa động có hai: đại động và tiểu động. Có tiếng nhỏ, chỉ riêng nơi mặt đất chấn động, chỉ động một chiều, đây là tiểu địa động. Có tiếng lớn, cả đất liền cùng núi biển, sông rạch, cây cối đều động, động xoay nhiều chiều, lúc động có thể làm động cả tâm của chúng sanh, đây là đại địa động. Đức Phật ra đời có những lần đại địa động: Từ cung trời Đâu-suất giáng thần xuống nhân gian, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết-bàn. Giờ đây Như Lai sắp nhập Niết-bàn nên có điềm đại địa động như vậy.

    Khi Phật sắp Niết-bàn có địa động. Địa động có hai loại: tiểu động và đại động. Tiểu động là động nhỏ, đại động là động lớn, động hết núi sông cả đến tâm người cũng bị động. Phật khi giáng sanh, khi thành đạo, khi nhập Niết-bàn thường có địa động. Chúng ta thấy Phật và thế giới có liên hệ, mỗi hành động của Phật ảnh hưởng cả thế giới bên ngoài.

    Thiên long bát bộ cả mình rởn ốc, đồng thanh buồn khóc mà nói kệ rằng:

    Cúi đầu lạy Thế Tôn

    Chúng con đồng khuyến thỉnh, 

    Chúng con mà xa Phật 

    Thời không ai cứu hộ.

    Đức Phật nhập Niết-bàn

    Chúng con chìm biển khổ

    Khác nào nghé mất mẹ 

    Sầu lo rất buồn khổ.

    Nghèo cùng không ai giúp 

    Cũng như người bệnh ngặt 

    Không lương y săn sóc 

    Tự ý ăn uống lầm,

    Chúng sanh bệnh phiền não 

    Thường bị kiến chấp hại

    Xa lìa đấng y vương 

    Uống ăn thuốc tà độc.

    Ngửa mong Phật Thế Tôn 

    Chớ bỏ rơi chúng con.

    Ví như mặt trời mọc, 

    Quang minh rất sáng chói

    Đã có thể tự soi 

    Cũng trừ tất cả tối, 

    Phật phóng thần thông quang 

    Trừ khổ não chúng sanh 

    Ở giữa các chúng hội 

    Ví như núi Tu-di.

    Chư thiên long bát bộ thấy địa động thì cả mình đều rởn ốc, than buồn nói kệ. Đại ý bài kệ là lạy cầu xin Phật thương chúng sanh đừng nhập Niết-bàn. Tại sao? Vì Phật nhập Niết-bàn thì chúng sanh như nghé con mất mẹ, không còn chỗ tựa nương rất đau khổ, như người nghèo không ai giúp, như người bệnh ngặt mà không có thầy; cầu mong Phật thương xót ở lại trừ khổ não cho tất cả chúng sanh. Các ngài do biện tài vô ngại dùng các ví dụ để dẫn rõ, nếu Phật nhập Niết-bàn thì họ sẽ đau khổ.

    Bạch Thế Tôn! Ví như quốc vương sanh các vương tử diện mạo xinh đẹp, vua rất yêu mến dạy cho rành nghề văn nghiệp võ rồi sai người đem giết. Ngày nay chúng con là con của Phật, nhờ Phật dạy dỗ có đủ chánh kiến, xin chớ bỏ con. Nếu bỏ chúng con thời chúng con khác nào các vương tử kia. Ngửa mong đức Phật ở luôn nơi đời, chớ nhập Niết-bàn.

    Bạch Thế Tôn! Ví như có người học giỏi nơi các bộ luận rồi lại sanh lòng sợ đối với các bộ luận ấy, cũng thế đức Như Lai thông đạt các pháp mà lại sợ các pháp. Nếu được đức Như Lai ở luôn nơi đời giảng pháp cam lồ cho chúng sanh được thấm nhuần đầy đủ, thời các chúng sanh đây chẳng còn lại sợ phải bị sa vào địa ngục.

    Bạch Thế Tôn! Ví như có người mới vừa học làm nghề, kế bị quan bắt giam vào ngục, có hỏi thăm hiện tại thế nào? Người ấy tất đáp: Nay tôi rất buồn khổ. Nếu người ấy được thả, thời được an vui. Cũng thế, đức Thế Tôn vì chúng con mà tu các khổ hạnh, hiện nay chúng con chưa được thoát khỏi sanh tử, thế sao đức Như Lai đặng thọ hưởng an vui.

    Bạch Thế Tôn! Ví như y vương hiểu rành các phương thuốc, đem phương bí truyền dạy riêng cho con mình, mà không dạy cho các trò khác. Cũng thế, đức Như Lai đem tạng pháp thậm thâm bí mật dạy riêng cho Văn-thù-sư-lợi, mà chẳng thương chẳng dạy cho chúng con. Như ông thầy thuốc kia vì lòng còn riêng tư thân sơ, nên sự dạy không bình đẳng rộng rãi, chỉ dạy riêng cho con mình môn bí phương, mà không truyền cho các trò khác. Đức Như Lai trọn không có lòng thân sơ tư vị, tại sao chẳng dạy dỗ chúng con. Ngửa mong đức Phật ở lâu nơi đời, chớ nhập Niết-bàn.

    Bạch đức Thế Tôn! Ví như những người già trẻ bệnh khổ đi nơi đường hiểm rất khốn khó gian lao, có bậc dị nhân thấy vậy xót thương bèn chỉ cho con đường tốt bằng thẳng. Chúng con cũng như vậy. Người trẻ dụ cho những kẻ chưa tăng trưởng pháp thân, người già dụ cho những kẻ nặng phiền não, bệnh khổ dụ cho sanh tử, đường hiểm nạn dụ cho tam giới. Cúi xin đức Như Lai chỉ dẫn con đường chân chánh giải thoát cho chúng con, ở lâu nơi đời, chớ nhập Niết-bàn."

    Ví dụ thứ nhất, như vị quốc vương sanh được vương tử có diện mạo tốt đẹp, dạy văn dạy võ rồi đem đi giết. Vậy có đau khổ không? Phật dạy cho chúng Tỳ-kheo được đầy đủ chánh kiến, được hiểu đạo lý mà chưa hoàn toàn giải thoát đã bỏ đi, chẳng khác nào vương tử kia bị giết vậy.

    Ví dụ thứ hai, có người học thông hết các bộ luận rồi sợ các bộ luận đó, như Phật thông đạt các pháp rồi sợ các pháp mà nhập Niết-bàn.

    Ví dụ thứ ba, như người học nghề vừa thành tài bị bắt thì người đó thật là đau khổ. Phật tu hành khổ hạnh được đạo, dạy dỗ chúng sanh, mà dạy dỗ chưa xong liền nhập Niết-bàn, như người học thành tài liền bị ở tù không được lợi ích gì.

    Ví dụ thứ tư, như ông thầy giỏi rành các phương thuốc hay, nhưng có một phương bí truyền chỉ dạy riêng cho người đệ tử ruột. Phật cũng vậy, có phương bí truyền chỉ nói riêng cho ngài Văn-thù, còn chúng con là Tỳ-kheo, là Thanh văn thì không được chỉ dạy. Nay Phật bỏ đi như vậy xem như Phật có thân sơ tư vị. Nay mong ngài ở lại dạy chúng con như ngài Văn-thù rồi hãy đi.

    Ví dụ nữa, như người già trẻ bệnh khổ đi trên đường hiểm rất khốn khó gian lao, có một dị nhân thấy vậy thương xót, chỉ cho con đường tốt bằng phẳng, nhưng người ta đi chưa đến nơi đến chốn, bậc dị nhân đã bỏ đi. Phật cũng vậy, trong con đường hiểm sanh tử, chúng con chưa ra khỏi mà Phật đã bỏ đi, không dẫn cho đến nơi đến chốn, yêu cầu Phật thương xót mà ở lại thêm.

    Đó là những lời than thở, cầu xin Phật trụ lại thêm để giáo hóa cho các ngài.

    Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Các thầy đừng ưu sầu khóc kể như hàng trời người phàm phu kia. Các thầy phải siêng năng tinh tấn giữ vững chánh niệm.”

    Nghe đức Phật phán như vậy, hàng trời người bát bộ liền nín khóc.

    Đức Thế Tôn vì đại chúng mà nói kệ rằng:

    Đại chúng phải sáng suốt 

    Chẳng nên quá sầu khổ, 

    Chư Phật đều vậy cả 

    Vì thế nên im lặng, 

    Thích nơi hạnh tinh tấn 

    Gìn lòng giữ chánh niệm 

    Xa lìa các điều quấy 

    Hớn hở được an vui.

    Đến đây thấy các Tỳ-kheo khổ sở quá nên Phật mới khuyên các vị đừng ưu sầu khóc kể như hàng trời người phàm phu kia. Chư Phật đều như vậy cả, không chỉ riêng ngài. Các ông không nên sầu khổ mà phải cố gắng tinh tấn tu hành, giữ được chánh niệm, xa lìa lỗi ác thì sẽ được an vui.

    Lại này các thầy Tỳ-kheo! Nếu có chỗ nào nghi ngờ đều phải bạch hỏi. Ở trong những pháp không bất không, thường vô thường, khổ phi khổ, y phi y, khứ bất khứ, quy phi quy, hằng phi hằng, đoạn phi đoạn, chúng sanh phi chúng sanh, hữu vô hữu, thật bất thật, chân bất chân, diệt bất diệt, mật bất mật, nhị bất nhị v.v... nếu còn nghi ngờ nay nên bạch hỏi, Như Lai sẽ g iải quyết cho. Như Lai trước nói pháp cam lộ cho các thầy rồi, sau mới nhập Niết-bàn.

    Này các thầy Tỳ-kheo! Phật ra đời là khó, thân người khó được, gặp Phật sanh tín tâm, việc đây cũng khó, nhẫn sự khó nhẫn lại là khó hơn, đầy đủ giới hạnh chứng quả A-la-hán cũng là việc khó. Như tìm cát vàng cùng hoa ưu đàm-bát-la.

    Các thầy khỏi bát nạn được thân người là sự khó, nay gặp Như Lai chẳng nên để luống uổng. Ngày xưa, Như Lai tu nhiều hạnh khổ, nay được phương tiện vô thượng như thế. Trong vô lượng kiếp vì các thầy mà xả thí thân thịt, tay chân, đầu mắt, tủy não. Vì thế các thầy chẳng nên phóng dật.

    Phật nói, nếu các ông còn có nghi nào trong các pháp tương đối thì cứ hỏi, Như Lai sẽ giải quyết cho. Như Lai sẽ nói pháp cam lồ cho các thầy rồi mới nhập Niết-bàn.

    Phật khuyên, tất cả đã có được các sự khó được, nên gắng gỏi tu hành. Những cái khó được là gì? Gặp Phật ra đời khó, được thân người khó, gặp Phật sanh tín tâm khó, nhẫn được việc khó nhẫn là khó, đầy đủ hạnh chứng A-la-hán là khó. Những cái khó đó các thầy đã được, phải nỗ lực để tiến hơn. Những cái khó này, chúng ta qua được cái nào? Phật thì mình không gặp. Thân người mình được là khó, có lòng tin Phật pháp cũng là khó. Vậy mình đã được qua hai cái khó này, còn nhẫn những việc khó nhẫn thì chưa, giới hạnh đầy đủ chứng A-la-hán thì cũng còn xa.

    Phật nói, các thầy đã có thân người, thoát khỏi bát nạn, gặp Phật là chuyện hy hữu, như vậy phải ráng mà nỗ lực tu hành. Ngày xưa Như Lai tu nhiều hạnh khổ, nay được phương tiện vô thượng như thế. Trong vô lượng kiếp vì các thầy mà xả thí thân thịt, tay chân, đầu mắt, tủy não. Vì thế các thầy chẳng nên phóng dật buông lung, phải cố gắng tu hành.

    Này các thầy Tỳ-kheo! Thành báu chánh pháp trang nghiêm, đầy đủ các thứ công đức trân bảo, giới định và trí huệ làm tường thành và hào thành. Nay các thầy gặp được thành báu Phật pháp, chẳng nên lượm lấy những vật hư ngụy. Ví như nhà thương mãi gặp thành chân bảo, lượm lấy ngói sạn rồi trở về nhà. Các thầy chớ để tâm hạ liệt, cam đủ nơi chút ít pháp mọn. Các thầy dầu xuất gia mà không hâm mộ pháp Đại thừa. Thân các thầy dầu được đắp ca-sa mà tâm chưa được nhuộm pháp Đại thừa thanh tịnh. Các thầy dầu khất thực ở nhiều nơi mà chưa từng khất thực pháp Đại thừa. Các thầy dầu cạo bỏ râu tóc mà chưa vì chánh pháp cạo sạch kiết sử.

    Này các thầy Tỳ-kheo! Nay Như Lai bảo thật các thầy, hiện nay Như Lai đại chúng hòa hiệp pháp tánh chân thật chẳng điên đảo. Vì thế các thầy phải nhiếp tâm dõng mãnh tinh tấn xô dẹp các kiết sử. Khi mặt trời Phật huệ lặn mất rồi, các thầy sẽ bị vô minh trùm đậy.

    Phật khuyên các Tỳ-kheo phải nỗ lực dùng giới định tuệ để tiến tu, đồng thời phải bỏ tâm hạ liệt của Nhị thừa, tiến lên pháp Đại thừa, có như vậy mới xứng đáng người xuất gia. Vì xưa xuất gia mà chưa thấm nhuần được pháp Đại thừa thì nay phải dõng mãnh tiến lên nhận pháp này. Nếu Phật nhập Niết-bàn rồi thì các ông không có duyên nào để hiểu được pháp Đại thừa.

    Này các thầy! Ví như những cỏ thuốc trên mặt đất để chúng sanh dùng. Phật pháp cũng vậy, sanh ra pháp vị cam lồ diệu thiện làm thuốc hay chữa bệnh phiền não của chúng sanh. Nay Như Lai sẽ làm cho tất cả chúng sanh cùng bốn bộ chúng đều được an trụ trong tạng bí mật. Cũng như chữ Y, nếu ba điểm đứng chung hàng, hoặc đứng ngay, hoặc khác nhau đều không thành chữ Y. Ba điểm phải như ba con mắt trên mặt Đại Tự Tại thiên mới thành chữ Y. Như Lai cũng thế, pháp giải thoát không phải Niết-bàn, thân Như Lai không phải Niết-bàn, Ma-ha Bát-nhã cũng không phải Niết-bàn, ba pháp đều khác nhau cũng không phải Niết-bàn. Như Lai này an trụ ba pháp ấy, vì chúng sanh mà nói là nhập Niết-bàn, như chữ Y trong đời.”

    Phật ví dụ các thứ cỏ thuốc trên mặt đất là để chúng sanh dùng, Phật pháp cũng sanh ra pháp vị cam lồ diệu thiện làm thuốc hay chữa bệnh phiền não của chúng sanh,

    Nay Như Lai sẽ làm cho tất cả chúng sanh cùng bốn bộ chúng đều được an trụ trong tạng bí mật. Tạng bí mật là gì? Là nhận ra được pháp thân bất sanh bất diệt của Như Lai, như chữ Y của Ấn Độ có ba chấm, nếu ba chấm sắp hàng ngang không thành chữ Y, mà đứng dài ra cũng không thành chữ Y. Chữ Y này dụ cho ba pháp: Pháp thân, Bát-nhã và Giải thoát. Ba pháp đó không rời nhau và là đức của Niết-bàn. Lúc trước nói Niết-bàn là diệt hết, bây giờ nói Niết-bàn đầy đủ ba đức là nói ngược lại, đó là tạng bí mật.

    Các Tỳ-kheo nghe đức Phật Thế Tôn nói quyết định sẽ nhập Niết-bàn, ai nấy đều lo rầu, cả mình rởn ốc, lệ tràn đầy mắt, cúi lạy chân Phật mà bạch rằng: “Đức Thế Tôn khéo dạy vô thường, khổ, không, vô ngã.

    Bạch Thế Tôn! Ví như các dấu chân của muông thú, dấu chân voi là hơn cả. Vô thường quán cũng lại như vậy là pháp quán tưởng bậc nhất trong các pháp quán tưởng. Nếu ai tinh cần tu tập pháp này, thời có thể trừ tất cả sự ái nhiễm cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, trừ vô minh, kiêu mạn và vô thường tưởng. Đức Như Lai nếu đã lìa hẳn vô thường tưởng thời nay chẳng nên nhập Niết-bàn. Còn nếu chẳng lìa hẳn, cớ sao lại dạy rằng tu vô thường quán trừ được sự ái nhiễm ba cõi, vô minh, kiêu mạn và vô thường tưởng.

    Các thầy Tỳ-kheo khóc lóc cầu Phật đừng vội nhập Niết-bàn mà ở lại dạy dỗ thêm, thưa rằng Phật dạy quán vô thường khổ không vô ngã, các ngài đã thực hành và đều có kết quả. Các ngài ví dụ như trong các dấu chân của muông thú thì dấu chân voi là hơn cả, trong các pháp quán tưởng thì quán tưởng vô thường là hơn cả. Tại sao? Vì do quán tưởng vô thường mà trừ được ái nhiễm của cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, trừ luôn cả vô minh và kiêu mạn. Vì vậy phương pháp quán vô thường rất hay và diệu dụng.

    Bạch Thế Tôn! Ví như đế vương biết mạng sắp hết, bèn ân xá ngục tù trong thiên hạ rồi sau mới băng. Ngày nay đức Như Lai cũng nên như vậy, độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi lao ngục vô tri vô minh rồi sẽ nhập Niết-bàn. Hiện tại chúng con đều chưa được giải thoát, sao đức Thế Tôn lại vất bỏ mà muốn nhập Niết-bàn?

    Bạch Thế Tôn! Như người say rượu mê loạn nói xàm, không còn biết thân sơ, mẹ con, chị em, nằm vùi trong phẩn nhơ, nhờ lương y cho uống thuốc, ói sạch rượu ra mới được tỉnh lại, lòng rất hổ thẹn tự răn trách lấy mình, rượu là thứ hại, là cội gốc của các tội lỗi, nếu chừa được rượu thời khỏi tội lỗi. Chúng con cũng thế, từ nhiều đời đến nay luân chuyển sanh tử, tình sắc làm say mê tham đắm trong ngũ dục, không phải mẹ tưởng là mẹ, không phải con, chị, em, mà tưởng là con, chị, em, không phải chúng sanh mà tưởng là chúng sanh, vì cớ ấy nên luân chuyển chịu khổ sanh tử, n hư người say kia nằm trong phẩn nhơ. Nay đức Như Lai nên ban pháp dược cho chúng con uống để ói rượu độc phiền não, chúng con còn chưa được tỉnh ngộ sao đức Như Lai lại vất bỏ mà muốn nhập Niết-bàn.

    Các ngài dùng ví dụ để trình bày sự đau khổ của mình. Như một vị vua biết mình sắp chết nên ân xá ngục tù; Phật cũng vậy, nếu muốn đi thì hãy độ chúng con xong rồi mới đi, tại sao chưa độ hết chúng con mà ngài dứt bỏ ra đi.

    Như người say mê loạn không biết phải quấy nhơ nhớp, sau khi uống thuốc giải rượu tỉnh lại mới hổ thẹn ăn năn. Cũng vậy, các ngài than do ái nhiễm mà chìm đắm trong ngũ dục luân hồi biết bao phen; bây giờ nhờ pháp Phật dạy, nhổ bỏ được những ái nhiễm đó, nhưng chưa hoàn toàn sạch, chưa hoàn toàn tỉnh, sao Phật lại vội bỏ ra đi để vào Niết-bàn.

    Bạch Thế Tôn! Không có cớ gì khen cây chuối là cứng chắc được. Chúng sanh cũng thế, không có cớ gì khen ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, dưỡng dục, tri kiến, tác giả, thọ giả là chân thật được. Chúng con tu vô ngã quán cũng như vậy.

    Bạch Thế Tôn! Vì như bã xác không còn dùng được, bông thất diệp không có mùi thơm, cũng vậy, thân thể của người không ngã không chủ. Chúng con thường tu tập pháp quán tưởng vô ngã như vậy.

    Như đức Phật từng dạy tất cả các pháp không ngã và không ngã sở, các Tỳ-kheo phải tu tập. Tu như đây thời trừ ngã mạn, rời ngã mạn thời chứng Niết-bàn. Bạch Thế Tôn! Không bao giờ có dấu chim bay nơi hư không. Người hay tu tập pháp quán vô ngã không bao giờ có các kiến chấp.”

    Các Tỳ-kheo dẫn lời Phật dạy quán vô ngã, nên các ngài thấy rõ không có chúng sanh, thọ mạng, dưỡng dục, tri kiến, pháp giả, thọ giả. Bởi quán vô ngã nên xem thân này không còn gì quý, các ngài xả bỏ dễ dàng.

    Phật dạy quán vô ngã vô ngã sở nên các ngài tu trừ dứt được ngã mạn, rời được ngã mạn mới có thể đến được Niết-bàn, quán vô ngã rồi thì như dấu chim bay trong hư không, không còn dấu vết gì để chấp. Các ngài trình bày sự tu hành của mình để xin Phật nán ở lại.

    Đức Phật khen các Tỳ-kheo: “Lành thay! Lành thay! Các thầy khéo hay tu tập pháp quán vô ngã.”

    Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Chẳng những chúng con tu pháp quán vô ngã tưởng, mà chúng con cũng tu tập các pháp quán khác như: khổ, vô thường.

    Bạch Thế Tôn! Như người say, tâm trí mê loạn, thấy nhà cửa cây cỏ núi sông thảy đều xoay lộn. Người không tu các pháp quán khổ, vô thường, vô ngã thời chẳng gọi là bậc thánh, người này nhiều phóng dật trôi lăn trong vòng sanh tử. Vì thế nên chúng con khéo tu tập các pháp quán ấy.”

    Phật khen các ngài đã khéo tu tập pháp quán vô ngã. Các ngài trình bày thêm, chẳng những là tu pháp quán vô ngã mà còn tu pháp quán vô thường và khổ.

    Đến đoạn chót, các ngài thưa: Ví như người say, tâm trí mê loạn, thấy nhà cửa núi sông thảy đều quay loạn, người không tu các pháp quán khổ không vô thường vô ngã thì không phải là thánh, không thể nào thoát khỏi vòng sanh tử. Đây chính là cơ duyên để Phật nói ra pháp thường lạc ngã tịnh. Pháp tu của Nhị thừa là quán khổ, không, vô thường, vô ngã. Các pháp này được cho là cứu cánh, không còn pháp nào hơn.

    Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Lóng nghe! Lóng nghe! Vừa rồi các thầy trình bày ví dụ người say đó, các thầy chỉ biết danh tự mà chưa hiểu thấu “thật nghĩa”. Thế nào là thật nghĩa? Như người say kia thấy nhà cửa núi sông vốn thật không xoay lộn, mà tưởng cho là xoay lộn. Cũng vậy, bị những phiền não vô minh trùm đậy nên chúng sanh khởi tâm điên đảo; ngã cho là vô ngã, thường cho là vô thường, tịnh cho là bất tịnh, lạc cho là khổ. Vì mắc phải phiền não trùm che, nên dầu nghĩ tưởng như vậy mà không thấu rõ thật nghĩa, như người say kia đối với sự không xoay lộn mà tưởng cho là xoay lộn.

    Tới đây Phật không còn khen pháp quán vô thường khổ không vô ngã mà cho các pháp đó là bệnh, là điên đảo. Hiểu bốn pháp đó chỉ là hiểu trên danh tự chứ không hiểu được thật nghĩa. Cũng như người say thấy núi sông nhà cửa xoay lộn mà thật ra núi sông nhà cửa không xoay lộn. Chúng ta thấy các pháp vô thường khổ không vô ngã cũng giống như người say rượu.

    Trong kinh A-hàm, Phật nói người điên đảo nên thân vô thường thấy là thường, thân vô ngã thấy là ngã, thân bất tịnh thấy là tịnh, thân không vui mà thấy là vui. Phật dạy phải quán vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh. Các thầy Tỳ-kheo y theo đó mà quán. Tới đây Phật lại nói, nếu thấy vô thường, vô ngã, bất tịnh và khổ là chưa thấy được thật nghĩa, là bệnh, là điên đảo. Như vậy, trước Phật giản trạch cái thấy điên đảo của hàng phàm phu, giờ đến cái thấy của hàng Nhị thừa.

    Phật nói chúng sanh bị phiền não vô minh trùm đậy nên ở trong điên đảo. Thật tánh ngay nơi mình là ngã mà không thấy được, chỉ biết vô ngã, đó là tâm điên đảo. Pháp thân chân thường mà cho là vô thường. Pháp thân thanh tịnh mà tưởng cho là bất tịnh. Niết-bàn an lạc lại tưởng cho là khổ.

    Vì mắc phải phiền não trùm che, nên dầu nghĩ tưởng như vậy mà không thấu rõ thật nghĩa, như người say kia đối với sự không xoay lộn mà tưởng cho là xoay lộn. Có hai hạng say: thứ nhất là nơi thân này cho là thường lạc ngã tịnh, hạng say thứ hai cũng nơi thân này thấy là vô thường khổ không vô ngã.

    “Ngã” chính là thật nghĩa của “Phật”, “Thường" chính là thật nghĩa của “Pháp thân”, “Lạc” là thật nghĩa của Niết-bàn, “Tịnh” là thật nghĩa của “Pháp”.

    Các thầy sao lại nói người có ngã thời kiêu mạn cống cao lưu chuyển sanh tử. Nếu các thầy nói rằng, tôi cũng tu tập pháp quán vô thường, khổ, vô ngã. Ba môn tu tập này không có thật nghĩa.

    Phật giải thích ngã là thật nghĩa của Phật, thường là thật nghĩa của pháp thân, lạc là thật nghĩa của Niết-bàn, tịnh là thật nghĩa của pháp. Như vậy Phật đã chỉ thẳng cái bất sanh bất diệt vĩnh cửu. Có người nghi, tại sao ban đầu Phật không chỉ thẳng, để người ta khỏi nhọc công tu hành quán vô thường, khổ, không, vô ngã; khi người ta đã quán thuần thục, ngài lại bác bỏ nó? Bởi vì ở Ấn Độ đa số theo đạo Bà-la-môn, họ cho rằng ở trong người có thần ngã thường còn. Nếu như buổi đầu Phật chỉ thẳng pháp thân là thường, họ sẽ cho rằng pháp ngài nói cũng như pháp của họ, thì làm sao bác cái sai lầm của họ được. Cho nên lúc đó Phật chỉ nói vô thường, vô ngã để phá chấp thần ngã mê lầm. Bây giờ khi các đệ tử của Phật không còn chấp như thế, Phật lại vạch ra một lần nữa, là chấp vô thường khổ không vô ngã cũng chưa thấy được lẽ thật. Phật lại nêu thường lạc ngã tịnh mới là lẽ thật, là cứu cánh.

    Hai lối dùng thường lạc ngã tịnh tên thì đồng mà nghĩa lại khác. Trước nói ngã là chỉ cho ngũ uẩn, ở đây nói ngã là chỉ cho Phật tánh. Trước nói thường là chỉ cho thân ngũ uẩn, ở đây nói thường là chỉ cho pháp thân. Trước nói lạc là chỉ cho cảm xúc của thế gian, ở đây nói lạc là chỉ cho Niết-bàn. Trước nói tịnh là chỉ cho thân ngũ uẩn, ở đây nói tịnh là chỉ cho pháp tịnh. Danh từ thì đồng mà nghĩa lại khác như vậy, phải hiểu thật kỹ để không lầm lẫn.

    Phật quở các thầy sao nói người có ngã lại kiêu mạn cống cao lưu chuyển sanh tử. Các thầy nói rằng, tôi cũng tu tập pháp quán vô thường, khổ, không, vô ngã. Ba môn tu tập này không có thật nghĩa. Như vậy thật nghĩa Phật muốn chỉ ra là Phật, Pháp thân, Niết-bàn và Pháp, tức là thường, lạc, ngã, tịnh.

    Như Lai sẽ nói ba pháp tu đặc thắng.

    Khổ cho là vui, vui cho là khổ, là pháp điên đảo. Vô thường cho là thường, thường cho là vô thường, là pháp điên đảo. Vô ngã cho là ngã, ngã cho là vô ngã, là pháp điên đảo. Bất tịnh cho là tịnh, tịnh cho là bất tịnh, là pháp điên đảo. Có bốn pháp điên đảo như vậy thời là người chẳng rõ pháp tu chân chánh.

    Các thầy ở trong pháp khổ tưởng cho là vui, ở trong vô thường tưởng cho là thường, ở trong vô ngã tưởng cho là ngã, ở trong bất tịnh tưởng cho là tịnh.

    Thế gian cũng có thường, lạc, ngã, tịnh. Xuất thế cũng có thường, lạc, ngã, tịnh. Pháp thế gian có văn tự mà không thật nghĩa. Xuất thế có văn tự có thật nghĩa. Tại sao vậy? Vì pháp thế gian có bốn sự điên đảo nên chẳng biết thật nghĩa. Lại có tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Vì có ba sự điên đảo này nên người thế gian ở trong lạc thấy là khổ, trong thường thấy vô thường, trong ngã thấy vô ngã, trong tịnh thấy bất tịnh, đây gọi là điên đảo. Vì điên đảo nên thế gian biết văn tự mà chẳng biết thật nghĩa.

    Thân ngũ uẩn khổ mà lầm cho là vui, còn Niết-bàn vui mà tưởng cho là khổ, đây là điên đảo thứ nhất. Thân ngũ uẩn vô thường mà cho là thường, pháp thân là thường mà nói là vô thường, đó là điên đảo thứ hai. Thân ngũ uẩn vô ngã mà cho là ngã, còn Phật tánh là ngã mà cho là vô ngã, đó là điên đảo thứ ba. Nơi thân ngũ uẩn nhơ nhớp mà tưởng là tịnh, pháp thân thanh tịnh mà tưởng là bất tịnh, đó là điên đảo thứ tư.

    Phàm phu có bốn điên đảo: khổ cho là vui, vô thường cho là thường, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh. Bốn pháp điên đảo của hàng Nhị thừa: vui cho là khổ, thường cho là vô thường, tịnh cho là bất tịnh, ngã cho là vô ngã. Bốn cặp điên đảo cộng lại thành tám pháp điên đảo. Nếu còn mắc kẹt trong tám pháp này, Phật cho là người chẳng rõ được pháp tu chân chánh.

    Thường lạc ngã tịnh thế gian khác với thường lạc ngã tịnh của xuất thế gian. Pháp thế gian có văn tự mà không thật nghĩa, trên văn tự thì có mà nghĩa chân thật tìm không ra, còn pháp xuất thế gian có văn tự mà cũng có thật nghĩa. Tại sao? Vì pháp thế gian có bốn sự điên đảo nên chẳng phải thật nghĩa.

    Lại có tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Tưởng điên đảo làm cho không thấy được sự thật, tâm điên đảo làm loạn tất cả những nhận định, kiến điên đảo là hiểu biết sai lầm. Vì có ba sự điên đảo này nên hàng Nhị thừa ở trong lạc thấy là khổ, trong thường thấy vô thường, trong ngã thấy vô ngã, trong tịnh thấy bất tịnh, đây gọi là điên đảo. Chính hàng Nhị thừa thấy như vậy mà Phật cũng nói chưa phải thấy thật nghĩa.

    Gì là thật nghĩa? Vô ngã gọi là sanh tử, còn ngã gọi là Như Lai. Vô thường là Thanh văn Duyên giác, còn thường là Như Lai pháp thân. Khổ là tất cả ngoại đạo, còn lạc là Niết-bàn. Bất tịnh là pháp hữu vi, còn tịnh là chánh pháp của chư Phật và Bồ-tát. Đây gọi là chẳng điên đảo. Vì chẳng điên đảo nên biết văn tự biết thật nghĩa. Nếu muốn lìa khỏi bốn sự điên đảo thời phải rõ biết thường, lạc, ngã, tịnh như vậy.

    Phần trước nói người chấp ngã là sanh tử còn người được lý vô ngã là giải thoát, ở đây Phật nói: Vô ngã gọi là sanh tử, còn ngã gọi là Như Lai. Những vị Tỳ-kheo quán được vô ngã gọi là chứng Niết-bàn, hay là chứng quả từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán, thoát sanh tử, nhưng sao đây Phật lại gọi là sanh tử?

    Sanh tử có hai: phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Phàm phu thuộc phần đoạn sanh tử, Nhị thừa thuộc biến dịch sanh tử, tức là từ vị này chuyển lên vị kia, giai đoạn chuyển lên gọi là biến dịch, là dời đổi, nên cũng thuộc về sanh tử. Cho nên ở đây Phật nói vô ngã gọi là sanh tử, ngã gọi là Như Lai. Nếu nhận được Phật tánh pháp thân thì ngay thân phàm phu này đã thấy được cái bất sanh bất diệt. Như vậy không còn quả vị nào để phải dời đổi, chỉ ngay đó khởi tu gọi là kiến tánh khởi tu. Ngay lúc mới phát tâm cũng đồng với quả cứu cánh, là thoát khỏi sanh tử, là Như Lai như trong kinh Hoa Nghiêm nói.

    Vô thường là Thanh văn Duyên giác, còn thường là Như Lai pháp thân. Khổ là tất cả ngoại đạo, còn lạc là Niết-bàn. Các ngoại đạo không được Niết-bàn nên khổ, Phật đã được Niết-bàn cho nên lạc.

    Bất tịnh là pháp hữu vi còn tịnh là chánh pháp của chư Phật và Bồ-tát. Đây gọi là chẳng điên đảo. Vì chẳng điên đảo nên biết văn tự biết thật nghĩa. Nếu muốn rời khỏi bốn sự điên đảo thời phải rõ thường lạc ngã tịnh. Trong phẩm này Phật đã chỉ rõ mục tiêu chính của ngài. Chủ yếu của Đại Bát-niết-bàn là nêu lên pháp thân có đủ bốn đức: thường, lạc, ngã, tịnh.

    Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như lời đức Thế Tôn dạy rằng dứt lìa bốn sự điên đảo ấy thời được rõ biết thường lạc ngã tịnh. Nay đức Như Lai trọn không có bốn sự điên đảo thời đã rõ biết thường lạc ngã tịnh. Nếu đã rõ biết thường lạc ngã tịnh, sao đức Như Lai không ở đời một kiếp hoặc nửa kiếp để dạy dỗ chúng con, cho chúng con khỏi lìa bốn sự điên đảo, mà lại vất bỏ chúng con muốn nhập Niết-bàn. Nếu được đức Như Lai đoái thương dạy bảo, chúng con sẽ hết lòng tuân lời tu tập. Nếu đức Như Lai nhập Niết-bàn, chúng con không thể mang thân độc hại này mà tu Phạm hạnh. Chúng con cũng sẽ nhập Niết-bàn theo Phật.”

    Phật bảo các Tỳ-kheo: “Các thầy chớ nói như vậy. Bao nhiêu vô thượng chánh pháp của Phật, Như Lai đều đem giao phó cho Ma-ha Ca-diếp. Ma-ha Ca-diếp sẽ là chỗ y chỉ hoàn toàn cho các thầy, cũng như đức Như Lai là chỗ y chỉ của tất cả chúng sanh.

    Các thầy Tỳ-kheo bởi thương Phật muốn Phật ở đời, nên các ngài cứ quay lại điều mong Phật ở lại cứu giúp. Khi đức Phật bác bỏ vấn đề điên đảo tánh thường cho là vô thường... thì các ngài không chịu nhận, chỉ mượn điều này để yêu cầu Phật sống thêm để độ các ngài. Phật đã nói thường lạc ngã tịnh, tại sao lại không ở đời dạy cho chúng con mà bỏ chúng con đi. Nếu ngài ở đời dạy thì chúng con vâng lời để tu hành Phạm hạnh, nếu ngài không ở lại thì chúng con cũng nhập Niết-bàn.

    Đoạn này chỉ có một ý là yêu cầu Phật ở lại, nhưng Phật nói chánh pháp vô thượng của Phật đều giao phó cho Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-diếp sẽ là chỗ y chỉ hoàn toàn cho các thầy, cũng như đức Như Lai là chỗ y chỉ cho tất cả chúng sanh. Chỗ này tương tự với Như Lai có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm trao cho Ma-ha Ca-diếp của Thiền tông. Ở đây dùng chữ khác hơn, nói rằng bao nhiêu chánh pháp vô thượng của Phật đều giao phó cho Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-diếp sẽ là chỗ y chỉ hoàn toàn cho các thầy, cũng như đức Như Lai là chỗ y chỉ cho tất cả chúng sanh. Cho nên đối với chúng ta, ngài Ma-ha Ca-diếp là Tổ đầu tiên sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, không có gì phải ngờ vực.

    Ví như quốc vương lúc đi tuần du, đem quốc sự giao phó cả cho đại thần. Cũng vậy, Như Lai đem chánh pháp giao phó cho Ma-ha Ca-diếp.

    Các thầy nên biết rằng chỗ tu pháp khổ vô thường trước kia chẳng phải là chân thật. Ví như mùa xuân, có một nhóm người chơi thuyền trong hồ lớn làm rớt chìm ngọc lưu ly. Nhóm người ấy liền cùng nhau hụp lặn tìm ngọc, bốc nhằm hòn sỏi viên đá, bụng mừng cho là ngọc, đến lúc đem ra khỏi nước mới rõ là không phải. Lúc ấy ngọc lưu ly vẫn ở dưới nước, do thế lực của ngọc mà nước hồ đều đứng trong. Bấy giờ nhóm người ấy mới nhìn thấy viên ngọc. Có một người trí tìm cách khéo, chậm rãi lặn xuống liền vớt được ngọc.

    Các thầy chớ nên cho sự tu tập pháp quán vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh như vậy là thật nghĩa. Như nhóm người kia lặn xuống nước bốc nhằm sạn đá mà cho là ngọc. Các thầy phải khôn khéo nơi nơi chỗ chỗ luôn tu pháp quán ngã, thường, lạc, tịnh. Lại cần nên biết tướng mạo tu tập bốn pháp trước kia đều là điên đảo. Muốn được chân thật tu các pháp quán, tức là quán ngã, thường, lạc, tịnh, thời phải như người trí khéo vớt được ngọc kia.”

    Ông vua đi tuần du nơi khác giao việc triều chính lại cho đại thần, cũng vậy Như Lai đem giao phó chánh pháp lại cho Ma-ha Ca-diếp. Ví dụ mùa xuân, một nhóm người dạo thuyền trong hồ lớn làm rớt ngọc lưu ly, liền cùng nhau hụp lặn, bốc nhằm sỏi đá mừng rỡ cho là vớt được ngọc, đến lúc đem ra khỏi nước mới rõ là không phải. Ngọc lưu ly vẫn ở dưới nước, do thế lực của ngọc mà nước hồ đều đứng trong. Bấy giờ, nhóm người ấy nhìn thấy viên ngọc, có người trí tìm cách khéo chậm rãi lặn xuống vớt được ngọc.

    Phật hợp pháp: các thầy tu theo pháp quán vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh nói là được Niết-bàn, chẳng khác nào người lặn xuống đáy hồ vớt lên đá sỏi tưởng là ngọc lưu ly. Khi nhận ra được tứ đức thường lạc ngã tịnh của Niết-bàn, thì như người trí khéo léo thấy ngọc, chậm rãi lặn xuống vớt được ngọc thật đem lên. Hàng Nhị thừa được Niết-bàn giả tạm, kinh Pháp Hoa gọi là hóa thành, ở đây gọi lượm được đá sỏi. Bồ-tát được đại Niết-bàn đầy đủ thường lạc ngã tịnh, kinh Pháp Hoa gọi là bảo sở, ở đây gọi là lượm được ngọc lưu ly.

    Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Ngày trước đức Phật dạy rằng các pháp vô ngã, các ông phải tu học. Tu học pháp vô ngã sẽ lìa sự chấp ngã, lìa chấp ngã thời lìa kiêu mạn, lìa kiêu mạn thời chứng Niết-bàn. Nghĩa ấy thế nào?”

    Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Lành thay! Lành thay! Nay các thầy có thể bạch hỏi nghĩa ấy để tự dứt chỗ nghi ngờ.

    Chỗ này chúng ta thấy thâm ý của đức Phật, khi Phật bác vô thường khổ, không, vô ngã mà các thầy Tỳ-kheo quán, không phải là cứu cánh. Các thầy chỉ muốn thỉnh Phật ở lại mà không khởi nghi, Phật nhắc lại lần nữa các ngài mới khởi nghi. Tại sao lúc trước Phật dạy quán vô ngã để trừ các bệnh mà giờ ngài lại nói ngã?

    Phật dạy người tùy bệnh cho thuốc, chúng tôi cũng học theo gương như vậy. Những người tới học chúng tôi hơi khắt khe, bắt buộc phải nghe các pháp căn bản. Ví dụ người đang chấp thường lạc ngã tịnh theo phàm phu, thì phải cho học A-hàm, Pháp Cú... để phá ngã trước. Phá được ngã rồi, lại chấp vô thường khổ không vô ngã thì sẽ học những bộ kinh lớn để phá chấp này mà đạt được cứu cánh. Chúng tôi muốn người học phải có căn bản, từ thấp lên cao vững vàng thì mới không có hại. Nếu học vượt thứ lớp, như học ngay kinh Niết-bàn nghe Phật bác vô thường khổ không vô ngã thì sau học lại kinh A-hàm sẽ bối rối, thắc mắc sao Phật dạy mâu thuẫn, không biết làm sao mà tu. Ngoại trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ, còn thì chúng tôi bắt học phải có căn bản từ dưới trước, như vậy mới có lợi ích. Nếu học không thứ tự, những kinh căn bản xem là thường, đòi học những kinh cao, mà học kinh cao lại không hiểu. Nói pháp thân không biết pháp thân là gì, nói Phật tánh không biết Phật tánh ở đâu, lại không quán vô thường, không quán khổ, không quán bất tịnh, không quán vô ngã thì dễ sanh ra nhiều bệnh. Đó là chỗ tai họa. Cho nên không muốn cho những người tiểu căn tiểu trí học những kinh Đại thừa, bởi học rồi chấp.

    Các thầy Tỳ-kheo đặt nghi vấn, tại sao Phật khi xưa dạy quán vô ngã mà bây giờ lại nói ngã. Những cái vô thường, khổ, không, vô ngã Phật nói là điên đảo thì phải quán làm sao? Phật nghe hỏi liền khen ngợi, như vậy thì lành lắm! Các ông có thể hỏi được nghĩa đó để dứt nghi ngờ.

    Này các thầy! Ví như quốc vương kém sáng suốt, tin dùng một y sư vụng về, tánh tình lại cao ngạo, phàm trị bệnh gì cũng thuần dùng sữa để làm thuốc cả, thêm nỗi chẳng rõ căn do của bệnh, dầu biết dùng sữa mà chẳng hiểu rành, chẳng biện biệt sữa tốt xấu, lành không lành. Một hôm, từ phương xa lại một minh y thông cả tám nghề, rành các phương thuốc, trị bệnh rất giỏi. Cựu y vì sẵn tánh cống cao khinh mạn nên không đếm xỉa tới. Minh y thấy vậy, bèn hạ mình thỉnh cựu y làm thầy, nhân đó được vào hầu quốc vương. Minh y trình bày lên quốc vương các phương thuốc và những nghệ thuật khác. Bấy giờ quốc vương tỉnh ngộ, xét biết cựu y là hạng vụng về cao ngạo, liền biếm truất đi, rồi trọng dụng minh y. Minh y mới yêu cầu quốc vương cấm dân chúng uống thuốc sữa của cựu y, vì thuốc ấy độc hại, làm thương tổn người bệnh. Quốc vương chuẩn lời, ra lệnh cấm hẳn, nếu ai dùng sữa để trị bệnh sẽ bị tử hình. Minh y cứ theo phương dược chế các thứ thuốc, phàm dân chúng có bệnh gì đều trị lành cả.

    Ít lúc sau, quốc vương phải bệnh nặng, truyền vời minh y điều trị. Sau khi khám bệnh, biết rằng quốc vương phải dùng thuốc sữa, minh y liền tâu rằng: “Ngày trước tôi yêu cầu cấm dùng sữa làm thuốc, đó là đại vọng ngữ. Nếu uống thuốc sữa rất có thể trị được bệnh. Hiện nhà vua đang phải bệnh nóng, chính nên dùng sữa.”

    Vua bảo: “Có lẽ ông điên cuồng hay bị bệnh loạn óc rồi, mới nói rằng uống sữa trị được bệnh của ta. Cựu y dùng sữa, ông cho là độc, bảo ta biếm truất và cấm hẳn, nay trở lại nói sữa là tốt hay trị được bệnh. Ông muốn khi dối ta ư? Cứ theo lời ông nói thời cựu y có thể hơn ông rồi.”

    Minh y tâu: “Thưa Đại vương! Như mối ăn gỗ ngẫu nhiên thành chữ, con mối này tự nó không biết là chữ hay không phải chữ. Người trí xem thấy trọn không bao giờ tuyên xướng rằng con mối biết chữ và cũng chẳng lấy làm lạ. Cũng vậy, cựu y không hiểu căn bệnh, bệnh gì cũng dùng thuần sửa để trị, lại không biết sữa là tốt hay xấu, là lành hay không lành.”

    Vua nói: “Xin ông giải thích cho ta rõ.”

    Minh y tâu: “Thuốc sữa kia cũng là độc hại, cũng là cam lộ. Thế nào là thuốc sữa cam lộ? Nếu là bò cái không ăn bã hèm trấu cặn, con nghé của nó rất điều thiện, chỗ thả chăn không phải cao nguyên cũng không quá thấp ướt, nước uống trong sạch, chẳng cho chạy nhảy, chẳng cho chung bầy với bò đực, cho nó ăn uống đi đứng vừa chừng phải cách. Sữa của bò này trị được nhiều bệnh gọi là cam lộ. Ngoài ra các thứ sữa khác thời gọi là độc hại.”

    Nghe minh y giảng giải, vua khen rằng: “Hay lắm! Hay lắm! Nay ta mới rõ thế nào là sữa tốt xấu, lành cùng chẳng lành."

    Sau khi được uống thuốc sữa của minh y, vua được lành mạnh, vua liền truyền lệnh cho dân chúng được dùng sữa để trị bệnh. Dân chúng không vừa lòng với thái độ của nhà vua, nên hội đến hoàng cung để cật vấn.

    Quốc vương bảo dân chúng: “Mọi người chẳng nên oán trách nơi ta, về vấn đề thuốc sữa nên uống hay không nên uống đều là ý của y sư cả, không phải lỗi của ta.”

    Dân chúng vui lòng tuân lời minh y dùng thuốc sữa tốt trị bệnh, được nhiều kết quả tốt.

    Này các Tỳ-kheo! Các thầy nên biết đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn cũng lại như vậy, là bậc đại y vương hiện ra nơi đời hàng phục tất cả tà y ngoại đạo. Giữa đại chúng xướng rằng ta là y vương, vì hàng phục ngoại đạo nên nói không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả. Các thầy nên biết ngoại đạo mà nói là ngã đó, như mối ăn cây ngẫu nhiên thành chữ thôi. Vì thế nên trong Phật pháp đức Như Lai nói là vô ngã để điều phục chúng sanh, và vì là lúc phải nói là vô ngã. Rồi cũng vì có nhân duyên nên cũng nói có ngã. Như minh y kia biết rõ nơi sữa phải thuốc hay không phải thuốc. Chẳng phải như chỗ chấp ngã của phàm phu. Phàm phu chấp ngã lớn như ngón tay cái, hoặc như hột cải, hoặc như vi trần. Ngã của Như Lai nói đều không phải như vậy, vì thế nên nói các pháp không ngã, mà chính thật chẳng phải là không ngã. Thế nào là thật? Nếu Pháp là thật, là chân, là thường, là chủ, là sở y, tánh không biến đổi, đó gọi là ngã. Như minh y kia hiểu rành thuốc sữa. Cũng vậy, Như Lai vì chúng sanh mà nói trong các pháp chân thật có ngã.

    Bốn bộ đệ tử của Như Lai đều phải tu pháp quán chân ngã như vậy.

    Phật dùng ví dụ hai thầy thuốc. Ông trước dở, vụng về mà lại kiêu ngạo, lấy sữa trị mọi thứ bệnh cho dân chúng. Ông sau là minh y giỏi, biết đủ tính dược, biết đủ các phương thuốc, biết bách bệnh. Ông tìm cách gần gũi nhà vua, giải bày những cái vụng về của ông thầy trước. Nhà vua bèn biếm truất ông trước dùng lương y sau, cấm hẳn không cho dùng sữa trị bệnh. Sau vua bệnh cần phải dùng sữa mới trị được. Lương y tâu vua. Nhà vua tức giận: Ngày trước, ông thầy kia bảo tôi dùng sữa trị bệnh, ông không cho, nói đó là hại mà bây giờ ông lại dùng sữa. Vậy là ông thua ông thầy trước rồi. Vị minh y giải thích, ông thầy trước dùng sữa cũng như con mối gặm cây ngẫu nhiên thành chữ, mà mối chẳng biết đó là chữ hay không. Còn ông biết nguyên nhân, biết sữa thế nào là tốt, là chữa được bệnh, sữa thế nào là độc hại. Khi ông giải thích rành rẽ, nhà vua hiểu ra, mới cho dân chúng dùng sữa lại. Khi dùng sữa, vua được lành bệnh.

    Như vậy, cũng là sữa mà trước thì độc hại, sau chữa lành bệnh. Sữa mà ông thầy trước dùng chỉ cho ngã chấp của phàm phu. Họ không thấy Phật tánh, không nhận được pháp thân, chấp bừa trong thân này là ngã thì đó là bệnh, là tai họa. Bởi chấp bừa thân này là ngã nên bao nhiêu cái xấu xa, bệnh tật của kiêu mạn... nảy sanh. Phật như vị lương y sau, biết rõ căn bệnh và biết rõ tính chất sữa trị đúng căn bệnh đó, cho nên ông mới bảo dùng sữa để trị bệnh. Sữa sau là dụ cho ngã, ngã này nghĩa là Phật tánh, là pháp thân, do Phật hay những người tu giác ngộ kiến tánh chứng được, thấy được. Đó là cái chân thật, hữu ích.

    Như vậy lợi hay hại là do biết dùng đúng chỗ, biết rõ căn nguyên hay không. Phàm phu chấp ngã chấp bừa không biết lý do, không thấy được Phật tánh thì chấp ngã là bệnh, còn Phật thấy được Phật tánh, nói ngã là thuốc để cho mình biết được cái bất sanh bất diệt, giải thoát.

    Nói ngoài lề một chút. Như mấy con mối gặm cây thành chữ thì chữ đó không có nghĩa lý, không có căn do. Chúng ta học Phật pháp nên có chánh tín, đừng để mắc những sai lầm. Như nghe đồn mối đùn lên cái ổ giống hình Phật, người ta thi nhau đến lạy nói Phật hiện. Phật là bậc giác ngộ, tượng Phật đủ ba mươi hai tướng tốt, người ta tô vẽ mặt mày sáng rỡ mà còn không lạy, coi thường. Con mối bé xíu, vô tình tạo thành hình giống Phật, mình lại lạy thì thật là vô lý, là quá mê lầm!

  • 4. Phẩm Trường Thọ

    Đức Phật lại bảo các vị Tỳ-kheo: “Các thầy ở nơi giới luật có chỗ nào nghi ngờ, cho phép các thầy hỏi. Như Lai sẽ giải thích cho. Tất cả các pháp bản tánh không tịch, Như Lai đã tu học rành rẽ thông đạt. Các thầy chớ nghĩ rằng Như Lai chỉ tu các pháp bản tánh không tịch. Ở nơi giới luật có chỗ nào nghi ngờ, các thầy nên hỏi.”

    Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Chúng con không đủ trí huệ để hỏi đức Như Lai Ứng cúng Chánh biến tri. Vì cảnh giới của Như Lai không thể nghĩ bàn, thiền định của Như Lai không thể nghĩ bàn, lời phán dạy của Như Lai không thể nghĩ bàn. Vì cớ ấy nên chúng con là hạng không đủ trí huệ để hỏi đức Như Lai.

    Bạch Thế Tôn! Ví như ông già trên trăm tuổi đang phải bệnh trầm trọng nằm liệt trên giường sẽ chết mất nay mai. Một người giàu kia có duyên sự  muốn đến xứ khác, đem trăm cân vàng gởi cho ông già ấy mà giao ước rằng: Hoặc mười năm hoặc hai mươi năm chừng nào tôi trở về thời ông hoàn số vàng này lại cho tôi. Ông già nhận giữ vàng, không bao lâu thời chết, ông già lại không người kế tự, số vàng gởi kia đều thất lạc cả. Lúc người chủ vàng trở về không biết đòi hỏi ai, đành chịu mất vàng. Chủ vàng là kẻ vô trí, khi gởi vàng không biết chọn nơi đáng gởi, nên phải mất vàng.

    Cũng vậy, hàng Thanh văn chúng con dầu nghe đức Như Lai ân cần dạy bảo mà chúng con không thể thọ trì khiến chánh pháp được bền lâu, khác nào ông già kia nhận vàng của người gởi, rồi không sống được mà giữ gìn. Chúng con vô trí, ở nơi giới luật sẽ hỏi những gì!” 

    Đức Phật nói: “Nếu nay các thầy hỏi Như Lai thời có thể đem lại sự lợi ích cho chúng sanh, nên Như Lai mới bảo các thầy có chỗ nào nghi thời cho phép hỏi.” 

    Phật bảo các thầy Tỳ-kheo, đối với giới luật có chỗ nào nghi ngờ đem ra hỏi, ngài sẽ giải nghi cho.

    Các thầy Tỳ-kheo tự cho rằng không có trí tuệ đủ để hỏi Phật, các ngài dùng hai ví dụ để chỉ hàng Thanh văn không có khả năng đảm đang pháp Đại thừa, hàng Bồ-tát mới gánh vác được pháp đó. Ví dụ thứ nhất, người gửi vàng để đi xa, nếu không biết lựa chọn đem gửi cho một ông già sắp chết lại không có thân quyến,  ông già chết mất khi về không biết đâu mà tìm. Cũng vậy Phật đem pháp Đại thừa giao cho hàng Thanh văn Duyên giác sau rồi không có ai kế thừa.

    Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Ví như một người trai trẻ khỏe mạnh lối hai mươi lăm tuổi, nhà giàu có, cha mẹ vợ con quyến thuộc đông đủ. Có người đem vàng bạc đến gởi cho người trai trẻ này mà nói rằng: “Tôi có duyên sự cần phải đi xa. Khi tôi trở về, anh sẽ hoàn số vàng bạc này lại cho tôi.” Người trai trẻ nhận vàng bạc và cất giữ kỹ lưỡng. Ít lúc phải bệnh, người trai trẻ dặn thân quyến rằng số vàng bạc này là của ông già gởi, khi nào ông ấy đến hỏi thời giao đủ cho ông ấy. Thời gian sau, người gởi vàng bạc trở về được thân quyến của người trai trẻ hoàn đủ số đã gởi. Đây là người có trí, biết chọn chỗ đáng gởi nên khỏi mất của.

    Cũng vậy, nếu đức Thế Tôn đem pháp bảo giao phó cho A-nan và các Tỳ-kheo ắt chẳng đặng lâu dài, vì tất cả hàng Thanh văn và Ma-ha Ca-diếp đều sẽ vô thường, như ông già trước kia. Đức Như Lai nên đem Phật pháp vô thượng giao phó cho Bồ-tát. Vì hàng Bồ-tát đủ trí huệ có thể hỏi Như Lai, pháp bảo sẽ được lâu dài hưng thạnh lợi ích cho chúng sanh, như người trai trẻ trước kia. Vì những lẽ ấy, nên chỉ có hàng Bồ-tát là có thể hỏi đức Như Lai thôi. Trí huệ của chúng con như mòng muỗi, làm sao hỏi được pháp thâm diệu của Như Lai.”

    Bạch xong, các Tỳ-kheo đều ngồi yên lặng.

    Đức Phật khen các Tỳ-kheo rằng: “Lành thay! Lành thay! Các thầy khéo được tâm vô lậu, tâm A-la-hán. Như Lai cũng đã suy xét hai duyên cớ mà các thầy vừa trình bày, nên đem pháp Đại thừa giao phó cho hàng Bồ-tát, khiến diệu pháp này được còn lâu nơi đời.”

    Đức Phật bảo toàn thể đại chúng: “Thọ mạng của Như Lai không thể tính lường, biện tài cũng chẳng thể cùng tận. Đại chúng phải nên tùy ý bạch hỏi hoặc nơi giới luật, hoặc nơi pháp quy y.”

    Đức Phật tuyên bố luôn ba lần như vậy.

    Ví dụ thứ hai, người sắp đi xa đem số vàng gửi cho người trai trẻ khỏe mạnh, lại có thân thuộc đông đảo. Khi trở về sẽ được số vàng kia do người trai trẻ đó trả, hoặc là do quyến thuộc của họ trao lại. Cũng vậy pháp Đại thừa đem giao cho hàng Bồ-tát thì sẽ còn mãi mãi, đó là ý nghĩa của đoạn này.

    Phật khen các ông xét như vậy thật là có tâm lậu tận của A-la-hán.

    Bấy giờ trong đại chúng có một vị đại Bồ-tát tuổi còn trẻ, vốn là người trong tụ lạc Đa-la, họ Đại Ca-diếp giòng Bà-la-môn, do thần lực của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, cung kính nhiễu Phật, gối hữu chấm đất, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Nay con có chút việc muốn bạch hỏi, xin đức Thế Tôn hứa khả cho.”

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Như Lai Ứng cúng Chánh biến tri cho phép ông hỏi. Như Lai sẽ giải quyết chỗ nghi của ông, cho ông vui mừng.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Đức Thế Tôn xót thương đã cho phép, nay con sẽ hỏi. Nhưng trí huệ của con rất kém. Đạo đức của Thế Tôn cao vòi vọi, thân của Như Lai như chân kim cang, màu như ngọc lưu ly. Trong đại hội đây, các vị đại Bồ-tát thảy đều thành tựu vô lượng vô biên thâm diệu công đức. Ở trước một đại hội như thế này, đâu dám bạch hỏi. Nay con nương sức thần thông của Phật và nhân thiện căn oai đức của đại chúng mà bạch hỏi ít điều thôi.”

    Bồ-tát Ca-diếp trình bày lý do thưa hỏi. Trước hết do thần lực của Phật, tức là nương sức thần thông của Phật, và oai đức của đại chúng, ngài mới dám bạch hỏi ít nhiều, thật sự thì ngài không có tài, giữa đại chúng đông đảo thế này ngài không đủ sức hỏi. Đó là sự khiêm nhường. Bồ-tát làm gì cũng nương thần lực của Phật và oai đức của đại chúng, không tự ý riêng tư.

    Ca-diếp Bồ-tát liền ở trước Phật, nói kệ rằng:

    Thế nào được trường thọ

    Thân kim cang chẳng hoại?

    Lại do nhân duyên gì

    Đặng sức kiên cố lớn?

    Thế nào nơi kinh này

    Rốt ráo đến bờ kia?

    Nguyện Phật vì chúng sanh

    Giảng bày nghĩa kín nhiệm.

    Thế nào đặng rộng lớn

    Làm y chỉ cho chúng?

    Thật chẳng phải La-hán

    Mà đồng hàng La-hán?

    Thế nào biết thiên ma

    Làm lưu nạn cho chúng?

    Lời Phật, lời Ba-tuần

    Thế nào phân biệt biết?

    Thế nào bậc Điều ngự

    Hoan hỷ nói chân đế

    Đủ thành tựu chánh thiện

    Diễn nói bốn điên đảo?

    Làm nghiệp lành thế nào

    Xin Thế Tôn dạy bảo.

    Thế nào các Bồ-tát

    Thấy được tánh khó thấy?

    Nghĩa mãn tự, bán tự

    Phải hiểu như thế nào?

    Thế nào cộng thánh hạnh

    Như chim ta-la-ta?

    Thế nào chưa phát tâm

    Mà gọi là Bồ-tát?

    Thế nào giữa đại chúng

    Mà đặng không kinh sợ

    Như vàng Diêm-phù-đàn,

    Không ai chỉ trích được?

    Thế nào ở đời trược

    Chẳng nhơ như hoa sen?

    Thế nào ở phiền não

    Phiền não chẳng nhiễm được,

    Như y sư trị bệnh

    Chẳng bị bệnh truyền lây?

    Thế nào làm lái thuyền

    Ở giữa biển sanh tử?

    Thế nào thoát sanh tử

    Như rắn lột da cũ?

    Thế nào xem Tam bảo

    Dường như cây Thiên ý?

    Ba thừa nếu vô tánh

    Thế nào mà nói đặng,

    Như sự vui chưa có

    Sao lại nói thọ vui?

    Thế nào các Bồ-tát

    Mà đặng chứng bất hoại?

    Thế nào vì người mù

    Mà làm người chỉ đường?

    Thị hiện nhiều đầu kia

    Xin Phật giải rõ cớ.

    Thế nào người thuyết pháp

    Thêm lớn như trăng mọc?

    Thế nào lại thị hiện

    Rốt ráo nơi Niết-bàn?

    Thế nào bậc dũng kiện

    Hiện nhân, thiên, ma, đạo?

    Thế nào biết pháp tánh

    Mà thọ nơi pháp lạc?

    Thế nào các Bồ-tát

    Xa lìa tất cả bệnh?

    Thế nào vì chúng sanh

    Diễn thuyết nơi bí mật?

    Thế nào nói rốt ráo?

    Và cũng chẳng rốt ráo?

    Như kia dứt lưới nghi

    Tại sao nói bất định?

    Thế nào là đặng gần

    Đạo tối thắng vô thượng?

    Con nay thỉnh Như Lai

    Vì các hàng Bồ-tát

    Giảng nói pháp thậm thâm

    Các hạnh vi diệu thảy

    Trong tất cả các pháp

    Đều có tánh an lạc,

    Cúi xin đấng Thế Tôn

    Phân biệt dạy chúng con.

    Bậc nương tựa của chúng

    Diệu dược Lưỡng túc tôn!

    Nay muốn hỏi các ấm

    Mà con không trí huệ,

    Các Bồ-tát tinh tấn

    Cũng lại chẳng biết được,

    Cảnh giới của chư Phật

    Rất sâu mầu như vậy.

    Bài kệ có mấy mươi câu hỏi trùm hết toàn bộ kinh. Trong phẩm này chỉ trả lời câu hỏi đầu, thế nào được trường thọ, được thân kim cang bất hoại. Từ đây về sau đến hết bộ kinh sẽ trả lời từ từ những câu hỏi này. Hỏi xong, ngài khen ngợi tán thán Phật có những hạnh vi diệu, được an lạc như vậy, cho nên xin Phật thương xót chúng con mà làm chỗ nương tựa.

    Đức Phật khen Ca-diếp Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Nay ông chưa được Nhất thiết chủng trí, Như Lai đã được, nhưng bí tạng rất sâu của ông vừa hỏi đồng như chỗ hỏi của bậc Nhất thiết trí.

    Này thiện nam tử! Lúc ta mới thành đạo chánh giác nơi cội bồ-đề, có vô lượng Bồ-tát ở mười phương thế giới cũng từng đến hỏi Như Lai những nghĩa thậm thâm ấy. Văn nghĩa công đức đã hỏi ngày trước cùng với của ông hôm nay đồng nhau không khác.

    Hỏi như vậy có thể đem sự lợi ích lại cho vô lượng chúng sanh.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không đủ trí để hỏi Như Lai về những thâm nghĩa ấy.

    Ví như muỗi mòng chẳng thể bay qua đến bờ kia của biển cả, cùng lượn khắp hư không. Cũng vậy, con không thể bạch hỏi Như Lai về những nghĩa biển cả trí huệ và hư không pháp tánh rất sâu như vậy.

    Ví như quốc vương đem viên minh châu trong búi tóc giao cho quan giữ kho. Quan giữ kho lãnh châu hết lòng cung kính gìn giữ. Cũng vậy, con hết lòng cung kính giữ gìn nghĩa lý Đại thừa rất sâu của Như Lai truyền dạy. Vì nghĩa lý ấy làm cho con được trí huệ sâu rộng.”

    Phật khen ngài Ca-diếp tuy chưa được Nhất thiết chủng trí mà đã hỏi được những bí tạng rất sâu của Như Lai, đồng với người được Nhất thiết chủng trí. Bồ-tát Ca-diếp hỏi những văn nghĩa này, đồng với các vị Bồ-tát thuở xưa hỏi khi Phật mới thành đạo,  tức là thời ngài nói kinh Hoa Nghiêm, hai bên văn nghĩa không khác, công đức cũng không khác, hỏi như vậy làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh. Như vậy chúng ta thấy tinh thần của kinh Niết-bàn và kinh Hoa Nghiêm không hai không khác.

    Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng ngài không đủ trí tuệ để hỏi Phật, vì trí của ngài nhỏ bé như muỗi mòng, không thể bay qua được đến bờ bên kia của biển cả, cũng không thể bay lượn khắp cả hư không. Đó là sự khiêm nhường của ngài. Kế, ngài muốn hỏi những điều về yếu nghĩa Đại thừa nếu Phật dạy thì ngài sẽ cung kính gìn giữ và truyền bá sau này.

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Lóng nghe! Lóng nghe! Như Lai sẽ vì ông mà nói nghiệp nhân trường thọ của Như Lai đã được. Do nơi nghiệp nhân này mà Bồ-tát được thọ mạng dài lâu. Nếu hạnh nghiệp có thể làm nhân cho quả Bồ-đề thời phải nên thành tâm nghe kỹ và lãnh thọ nghĩa ấy. Đã tự lãnh thọ rồi nói lại cho người khác. Do tu tập hạnh nghiệp ấy mà Như Lai đặng thành Vô thượng Chánh giác. Nay lại vì người mà giảng rộng ý nghĩa ấy.

    Ví như vương tử phạm tội bị giam vào ngục, nhà vua rất nhớ thương con, đích thân ngự đến ngục thất. Cũng vậy, muốn được trường thọ, Bồ-tát phải nên hộ niệm tất cả chúng sanh, xem như con ruột, sanh lòng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, truyền cho giới bất sát, dạy cho tu pháp lành. Cũng nên để tất cả chúng sanh ở nơi ngũ giới thập thiện. Lại đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la v.v... để cứu vớt những kẻ khổ não trong các nơi ấy. Giải thoát kẻ chưa giải thoát, cứu độ người chưa được cứu độ. Người chưa chứng Niết-bàn làm cho chứng Niết-bàn. An ủi tất cả người đang ở trong cảnh kinh sợ. Do các nghiệp nhân trên đây mà Bồ-tát được thọ mạng dài lâu, nơi các trí huệ được tự tại. Sau khi mạng chung sanh lên cõi trên.”

    Phật giải thích do nghiệp nhân gì mà Như Lai được trường thọ. Trước hết, Phật ví dụ một thái tử bị phạm tội giam trong ngục, vua cha vì thương con nên phải vào ngục thăm. Vua cha dụ cho Phật, thái tử dụ cho chúng ta. Mình là con vua nhưng vì phạm tội phải vào ngục, nhưng vẫn là vua con. Vua cha vì thương vua con nên phải vào ngục mà thăm. Phật thương Bồ-tát và chúng sanh như con ruột, xem như La-hầu-la. Do lòng đại từ đại bi đại hỷ đại xả nên mới vào đời dạy cho chúng sanh bất sát..., tu các pháp lành. Đây là nguyên nhân mà Phật được trường thọ. Như vậy chúng ta phải tu hạnh đại từ đại bi đại hỷ đại xả và luôn răn nhắc mọi người đừng giết hại nhau, không sát sanh hại vật, làm các việc lành và giữ giới luật, thương xót tất cả chúng sanh như con. Tiếp theo là giải thoát kẻ chưa được giải thoát, cứu độ người chưa cứu độ, người chưa chứng Niết-bàn làm cho chứng Niết-bàn, an ủi tất cả người đang trong cảnh kinh sợ. Do nghiệp nhân trên đây mà Bồ-tát thọ mạng lâu dài, trí tuệ được tự tại, sau khi mạng chung được lên cõi trên.

    Phần trước là vì thương tất cả mà dạy, mình có lòng hộ niệm, đầy đủ tâm từ bi đối với mọi người và dạy mọi người gìn giữ giới luật. Phần sau, họ chưa giải thoát mình nỗ lực làm sao cho họ được giải thoát, họ chưa được cứu độ làm cho họ được cứu độ, họ chưa được Niết-bàn làm cho họ được Niết-bàn và cố gắng an ủi mọi người trong cảnh kinh sợ. Đó là nguyên nhân hạnh nghiệp để được thọ mạng lâu dài.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Ma-ha-tát bình đẳng xem chúng sanh đồng như con ruột, nghĩa ấy rất sâu, con chưa hiểu được. Đức Thế Tôn chẳng nên nói Bồ-tát đối với chúng sanh tu tâm bình đẳng xem đồng như con, vì trong Phật pháp có người phá giới, có kẻ phạm tội nghịch, có kẻ hủy báng chánh pháp. Sao lại với những hạng ấy mà xem đồng như con?”

    Phật dạy: “Phải đấy! Như Lai đối với chúng sanh thật xem đồng là con như La-hầu-la.”

    Ngài Ca-diếp chưa hiểu nghĩa Phật xem tất cả chúng sanh đồng như con. Nếu tất cả đều tốt thì xem đồng như nhau, nhưng ngài thấy trong Phật pháp có người giữ giới, có người phá giới, có người phạm tội, có người hủy báng chánh pháp... thì làm sao xem đồng như con?

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Trước kia, ngày rằm lúc chư tăng đang bố-tát, có một đứa trẻ không khéo tu tập ba nghiệp thân khẩu ý, núp ở chỗ kín rình nghe chư Tỳ-kheo tăng thuyết giới. Mật Tích lực sĩ nương thần lực của Phật lấy chày kim cang đập đứa trẻ ấy nát ra như bụi. Bạch Thế Tôn! Vị thần Kim Cang ấy rất là bạo ác mới giết được đứa trẻ. Thế sao Như Lai xem các chúng sanh đồng như con là La-hầu-la?”

    Phật dạy: “Ông không nên nói như vậy. Đứa trẻ ấy chính là người biến hóa, chẳng phải người thật. Vì muốn xua đuổi những kẻ phá giới hủy pháp ra ngoài chư tăng nên hiện như vậy. Thần Kim Cang kia cũng là biến hóa thôi. Hạng hủy báng chánh pháp cùng nhất-xiển-đề hoặc có người sát sanh nhẫn đến tà kiến và cố ý phạm giới, Như Lai đối với những hạng ấy đều thương xót như con là La-hầu-la.

    Bồ-tát Ca-diếp dẫn câu chuyện trong kinh A-hàm. Một hôm nhằm ngày rằm chư tăng đang thuyết giới, có một đứa bé rình ngoài hè nghe lén. Theo phép, khi nói giới Tỳ-kheo không được cho người chưa thọ giới nghe. Lúc ấy có vị thần Kim Cang Mật Tích hiện ra đập đứa bé tan thành tro bụi. Nếu Phật xem chúng sanh đồng như con, tại sao cho vị thần Kim Cang Mật Tích đập đứa bé nát tan như tro bụi? Phật nói, sở dĩ như vậy vì Phật muốn răn người phá giới, thật ra đứa bé hay vị thần cũng do Phật hóa ra thị hiện để răn chúng, không phải người thật.

    Như quốc vương đối với bầy tôi phạm phép thời cứ tội tru lục mà chẳng tha. Như Lai Thế Tôn không phải như vậy; với hạng hủy pháp, làm pháp yết-ma khu khiển, quở trách, cử tội v.v..., sở dĩ Như Lai làm các pháp yết-ma trừng trị những hạng hủy báng chánh pháp như vậy là vì muốn chỉ rõ những người ác hạnh thời có quả báo.

    Ông phải biết Như Lai là vị ban bố sự vô úy cho chúng sanh ác. Nếu Như Lai phóng ra một tia sáng, hoặc hai, năm tia sáng, kẻ nào gặp được thời đều xa lìa tất cả các điều ác. Nay Như Lai đầy đủ vô lượng thế lực như vậy.

    Pháp chưa được thấy, nếu ông muốn thấy, nay sẽ vì ông nói tướng mạo đó. Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, nơi nào có Tỳ-kheo trì giới đầy đủ oai nghi hộ trì chánh pháp, thấy người hoại pháp bèn có thể khu khiển, quở trách, trừng trị. Phải biết Tỳ-kheo ấy đặng phước vô lượng không thể tính kể.

    Quốc vương đối với bầy tôi phạm pháp, thời cứ theo tội tru lục không tha. Trong giáo pháp của Như Lai không như vậy. Người làm sai sẽ có quả báo ác, vì muốn người đó bỏ lỗi lầm trước để tu hạnh tốt nên dùng pháp yết-ma quở trách hoặc cử tội đuổi họ, làm sai sẽ bị chúng loại ra.

    Phần sau Phật nói ngài dạy cho tất cả quốc vương và các Tỳ-kheo luôn luôn phải gìn giữ oai nghi, thọ trì chánh pháp, làm sai phải đuổi, phải quở trách, trừng trị. Người quở trách trừng trị đó được phước vô lượng không thể tính kể. Như trụ trì nuôi chúng thật đông mà không tu hành, không gìn giữ giới luật, bị người chỉ trích chê bai, coi thường luôn tăng chúng. Nếu mặc nhiên để cho họ ở thì mình có lỗi. Phật nói tu hành mà không giữ giới luật phải khu khiển, quở trách, trừng trị. Người khu khiển, quở trách, trừng trị đó được phước vô lượng không thể tính kể.

    Ví như quốc vương chuyên làm việc bạo ác, rồi mang bệnh nặng. Vua nước láng giềng nghe biết tình hình đem binh đến đánh, trách tội muốn giết. Vua ác bệnh ấy vì không thế lực sợ hãi ăn năn chừa lỗi mà làm lành. Vua láng giềng kia được phước vô lượng. Cũng vậy, Tỳ-kheo giữ phép khu khiển quở trách người phạm giới cho họ chừa lỗi làm lành thời đặng phước vô lượng.

    Ví như nhà cửa ruộng vườn của ông trưởng giả, mọc lên những cây gai độc. Trưởng giả biết được bèn chặt đốn sạch cả.

    Lại như người trai trẻ đầu có tóc bạc, vì hổ thẹn nên nhổ bỏ chẳng cho ra dài.

    Cũng vậy, Tỳ-kheo giữ pháp thấy có người phá giới hủy hoại chánh pháp, bèn nên khu khiển, quở trách, cử tội. Tỳ-kheo này là đệ tử của Như Lai, là chân thật Thanh văn. Nếu thấy mà bỏ qua, thời nên biết Tỳ-kheo này là người hại Phật pháp.”

    Ví dụ như quốc vương chuyên làm việc bạo ác rồi mang bệnh nặng, vua nước láng giềng nghe tin đem binh tới đánh, trách tội muốn giết. Vua ác bệnh ấy vì không có thế lực, ăn năn sợ hãi chừa lỗi làm lành, vua láng giềng kia được phước vô lượng. Cũng vậy, Tỳ-kheo giữ phép khu khiển quở trách để người phạm giới làm lành, được phước vô lượng.

    Hoặc như trong vườn ruộng ông trưởng giả, nếu mọc gai độc thì phải chặt bỏ, như vậy mới là biết làm vườn. Hay như người mới hăm hai hăm ba tuổi mà đầu có vài sợi tóc bạc, họ sẽ nhổ đi cho khỏi xấu. Cũng vậy, trong chánh pháp của Phật nếu người nào sai thì nên loại ra cho Phật pháp được tốt.

    Ca-diếp Bồ-tát lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Cứ như lời Phật dạy, thời là không bình đẳng xem tất cả chúng sanh đồng như con là La-hầu-la. Bạch Thế Tôn! Nếu có một người cầm dao hại Phật, lại có một người đem nước chiên-đàn thoa thân Phật. Như Lai đối với hai người này nếu tâm là bình đẳng, sao lại bảo rằng phải trừng trị kẻ phạm luật. Nếu trừng trị kẻ phạm luật thời lời dạy kia có lỗi.”

    Ngài Ca-diếp hỏi lại Phật: Có hai người, một người cầm dao đến hại Phật, một người cầm nước hoa chiên-đàn đến thoa lên thân Phật, đối với hai người đó làm sao bình đẳng được? Nếu Như Lai đối với hai người này bình đẳng vì sao nói người bị tội phải trừng trị?

    Phật nói: “Như quốc vương, đại thần, tể tướng có bốn người con trai diện mạo khôi ngô, thông minh sáng suốt, đem giao cho giáo sư dạy dỗ và dặn rằng: Thầy gắng dạy chúng nó cho được toàn vẹn cả tài lẫn đức. Nếu chúng nó ngỗ nghịch, Thầy phải nghiêm trị, dầu ba đứa bị đòn chết, còn một đứa được nên, chúng tôi cũng vui lòng.

    Này Ca-diếp! Như vậy thời cha và thầy của các trẻ có phải tội sát sanh chăng?”

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Không. Vì lòng thương muốn cho các trẻ được nên, chớ chẳng phải ác tâm. Dạy dỗ như thế đặng phước vô lượng.”

    Phật nói: “Cũng vậy, Như Lai đối với kẻ phạm pháp xem đồng như con cả. Nay Như Lai đem chánh pháp vô thượng phó chúc các vua, đại thần, tể tướng, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Các vua, quan và bốn bộ chúng phải nên khuyên răn khích lệ các học chúng, khiến đặng tăng thượng giới, định, trí huệ. Nếu người nào không tu học ba phẩm pháp này lười biếng phá giới, hủy hoại chánh pháp, thời vua quan, bốn bộ chúng phải nên nghiêm trị.

    Này Ca-diếp! Như vậy các vua, quan, bốn bộ chúng có mắc tội chăng?”

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Không.”

    Phật nói: “Các vua quan và bốn bộ chúng ấy còn không tội, huống là Như Lai.

    Phật giải thích, một ông vua có bốn đứa con, vì muốn con nên người, yêu cầu thầy rầy dạy cho nó có đầy đủ đức hạnh, nếu rầy dạy không được thì đập chết cũng được. Như vậy ông vua có lỗi sát sanh hay không? Vì thương muốn con nên người thì phải răn dạy, ông thầy cũng không phạm tội sát sanh. Phật cũng vậy vì thương muốn đệ tử bỏ ác làm lành, gìn giữ giới luật thanh tịnh, được giải thoát nên mới dạy bá quan vua chúa, bốn bộ chúng nếu vị tăng nào lôi thôi thì phải bị trừng trị, Phật cũng không có lỗi.

    Chúng ta phải có trí tuệ giản trạch cho ra cái nào thật, cái nào không thật. Phải khéo lấy kinh luật làm mực thước, nếu tu theo Đại thừa phải đúng tinh thần Đại thừa mà sống.

    Này Ca-diếp! Như Lai khéo tu đức bình đẳng như vậy, xem các chúng sanh đồng là con cả. Tu như vậy gọi là Bồ-tát tu tâm bình đẳng, nơi các chúng sanh xem đồng là con. Bồ-tát tu tập hạnh nghiệp bình đẳng này thời được thọ mạng lâu dài, lại cũng khéo biết những việc đời trước.”

    Phật xem tất cả chúng sanh như con nghĩa là phải phạt phải đánh, phạt đánh không có nghĩa thù hận hay ghét bỏ mà vì thương, sợ người làm ác mang tội. Nếu cứ để làm gì thì làm là xúi người làm ác, rồi họ phải chịu khổ, đó là mình vô trách nhiệm, không thương. Bồ-tát tu tập hạnh nghiệp bình đẳng này thời được thọ mạng lâu dài, lại cũng khéo biết những việc đời trước.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy nếu Bồ-tát tu tâm bình đẳng đối với chúng sanh xem như con ruột thời được thọ mạng dài lâu. Đức Như Lai chẳng nên dạy như thế.

    Như người biết phép, có thể giảng nói các hạnh hiếu thuận, khi về đến nhà lại lấy ngói đá ném đánh cha mẹ. Mà cha mẹ là ruộng phước lớn có ơn nhiều nên phải cúng dường, trở lại đánh đập, thời người biết phép này lời nói cùng hành động trái ngược nhau.

    Lời dạy của Như Lai cũng vậy. Bồ-tát tu tâm từ bình đẳng được thọ mạng dài lâu biết được túc mạng, thường ở nơi đời không có đổi dời. Nay đây do duyên cớ gì mà đức Thế Tôn thọ mạng rất ngắn đồng nhân gian ư? Hay là Như Lai có oán ghét chi chúng sanh? Ngày trước Như Lai làm nghiệp ác gì, giết chết mấy mạng, mà mắc báo đoản thọ sống không đầy trăm tuổi ư?”

    Bồ-tát Ca-diếp nạn vấn Phật rất mạnh mẽ. Phật nói do lòng từ bi thương tất cả chúng sanh như con nên được thọ mạng dài lâu. Ngài Ca-diếp đưa ví dụ, như có một vị thầy giảng dạy mọi người phải hiếu thuận với cha mẹ, nhưng khi về nhà ông lại vác cây vác đá chọi đánh cha mẹ thì có được không? Phật nói do tâm bình đẳng nên được thọ mạng dài lâu, nhưng mới tám mươi tuổi đã chết, vậy ngài làm việc ác lúc nào mà đoản mạng như vậy?

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Nay duyên cớ gì mà ông nói lời thô ở trước Như Lai như thế? Như Lai trường thọ rất hơn hết trong các tuổi thọ. Như Lai chứng được pháp thường trụ hơn hết trong các pháp thường trụ.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai được thọ mạng dài lâu thế nào?”

    Phật nói: “Như tám con sông lớn: một là sông Hằng, hai là sông Diêm-ma-la, ba là sông Tát-la, bốn là sông A-lợi-la, năm là sông Ma-ha, sáu là sông Tân-đầu, bảy là sông Bác-xoa, tám là sông Tất-đà. Tám con sông này cùng các sông nhỏ đều chảy vào biển lớn.

    Cũng vậy, tất cả con sông thọ mạng của người, của trời, của đất, của hư không, đều vào trong biển thọ mạng của Như Lai. Vì vậy nên Như Lai thọ mạng vô lượng.

    Ví như ao A-nậu chảy ra thành bốn con sông lớn. Cũng vậy, Như Lai xuất sanh tất cả thọ mạng.

    Ví như trong các pháp thường trụ, hư không là đệ nhất. Cũng vậy, ở trong các pháp thường trụ, Như Lai là đệ nhất.

    Như trong các vị thuốc, vị đề hồ là đệ nhất. Cũng vậy, trong các chúng sanh, thọ mạng của Như Lai là đệ nhất.”

    Phật quở ngài Ca-diếp sao ở trước Phật lại nói lời thô như vậy. Đây cũng là chỗ chính yếu đức Phật chỉ dạy trong phẩm này.

    Phật nói Như Lai trường thọ hơn hết trong các tuổi thọ, Như Lai chứng được pháp thường trụ hơn hết trong các pháp thường trụ. Như Lai ở đây chính là pháp thân, là thể của muôn pháp. Pháp thân Như Lai là bất sanh bất diệt nên nói là thường trụ, là thọ mạng dài lâu.

    Các vị thiền sư thấy thân này chỉ như bóng như vang, chợt có chợt không chợt hiện chợt mất, pháp thân thì bất sanh bất diệt nên xem chết như mùa hạ cởi áo, sanh như mùa đông đắp mền. Áo mền chỉ là cái tạm, còn thân chính là chỉ cho pháp thân. Vì vậy nên các vị thiền sư khi thấy được pháp thân, nhận được Phật tánh rồi, các ngài xem thân này không là gì cả. Phật chỉ thẳng vào pháp thân nên nói đó là thọ mạng dài lâu bậc nhất, đó là pháp thường trụ bậc nhất.

    Tất cả thọ mạng đều từ thọ mạng Như Lai mà ra. Phật dùng ví dụ tám con sông lớn ở Ấn Độ, tất cả đều chảy ra biển. Biển dụ cho thọ mạng của pháp thân, còn tám con sông lớn dụ cho tất cả thọ mạng khác. Như vậy thọ mạng của Như Lai là cao hơn, là bậc nhất.

    Như ao A-nậu chảy thành bốn con sông lớn. Cũng vậy, Như Lai xuất sanh tất cả thọ mạng. Trong các pháp thường còn thì hư không là đệ nhất, cũng vậy trong các pháp thường trụ, Như Lai là đệ nhất. Trong các thứ thuốc, đề hồ là đệ nhất, thọ mạng của Như Lai cũng là đệ nhất.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu thọ mạng của Như Lai dài lâu như vậy, thời Như Lai nên ở nơi đời hoặc một kiếp, hoặc ít hơn để thường tuyên diệu pháp, như tuôn mưa lớn.”

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Ông chẳng nên ở nơi Như Lai có quan niệm là diệt tận.

    Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, nhẫn đến ngoại đạo ngũ thông thần tiên, hạng được tự tại, hoặc sống một kiếp hay ít hơn, ở giữa hư không đi đứng nằm ngồi tự tại, nách tả phun lửa, nách hữu vọt nước, thân tuôn khói lửa, nếu muốn sống lâu thời được như ý muốn. Đối với mạng sống hoặc dài hoặc ngắn đều tự tại. Người được ngũ thông còn đặng thần lực tùy ý như vậy, huống là Như Lai đặng sức tự tại đối với tất cả pháp, mà lại không thể ở đời hoặc nửa kiếp, hoặc một hai kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc vô lượng kiếp sao? Vì những nghĩa ấy, phải biết rằng Như Lai là pháp thường trụ chẳng biến đổi. Thân của Như Lai đây là thân biến hóa chẳng phải thân tạp thực. Vì độ chúng sanh nên thị hiện đồng với chúng. Vì vậy nên thị hiện bỏ thân mà nhập Niết-bàn.

    Ông nên biết rằng Phật là pháp thường trụ, là pháp không biến đổi. Ở trong đệ nhất nghĩa này, các ông phải nên siêng năng tinh tấn nhất tâm tu tập. Mình đã tu tập và vì người khác mà giảng nói.”

    Ngài Ca-diếp lặp lại câu hỏi: Thọ mạng của Như Lai dài lâu như vậy, sao Như Lai không ở đời một kiếp, hai kiếp, hay ba bốn kiếp để giáo hóa chúng con, để nói diệu pháp này mà ngài lại nhập Niết-bàn?

    Phật giải thích: Ông không nên đối với Như Lai có quan niệm là diệt tận. Diệt tận tức là đã chết, hết. Phật nói những người được ngũ thông có thể kéo dài mạng sống được một kiếp hai kiếp. Huống nữa là Phật đầy đủ oai lực, tự tại trước các pháp, ngài lại không thể tiếp tục thêm nhiều kiếp hay sao. Nhưng ngài sanh là thị hiện, ngài diệt cũng là thị hiện. Hóa thân tạm có rồi không, chuyện đó là thường. Chỉ có pháp thân bất sanh bất diệt là chân thật.

    Vì vậy, Phật bảo Ca-diếp rằng: Ông nên biết Phật là pháp thường trụ, là pháp không biến đổi. Ở trong đệ nhất nghĩa này các ông nên tinh tấn, nhiếp tâm tu tập. Mình đã tu tập thì vì người khác mà giảng nói. Phải nhận cho ra nghĩa pháp thân, nghĩa Phật tánh, đó chính là đệ nhất nghĩa, cứ y như thế mà tu hành, mới thật là cao tột.

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Có sự sai khác gì giữa xuất thế pháp cùng thế pháp? Như lời Phật dạy: Phật là pháp thường trụ, là pháp không biến đổi. Người đời cũng nói Phạm thiên là thường, Tự Tại thiên là thường, không biến đổi, họ cũng nói Ngã là thường, Tánh là thường, Vi trần cũng thường.

    Nếu nói Như Lai là pháp thường trụ, cớ sao Như Lai chẳng thường hiện nơi đời? Nếu không thường hiện nơi đời thời có khác gì nghĩa thường của thế gian? Vì Phạm thiên nhẫn đến vi trần cũng chẳng hiện.”

    Đến đây Bồ-tát Ca-diếp nhờ Phật giản trạch thế nào là thế pháp, thế nào là Phật pháp? Vì trong thế pháp họ cũng nói thường lạc ngã tịnh, trong Phật pháp cũng nói thường lạc ngã tịnh. Hai bên danh từ đồng nhau thì làm sao giản trạch được đâu là Phật pháp, đâu là thế pháp? Trong thế gian, thường lạc ngã tịnh là chỉ cho Phạm thiên, là chỉ cho Tự Tại thiên, là Ngã... còn ở đây thường lạc ngã tịnh là chỉ cho đại Niết-bàn.

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Ví như nhà Trưởng giả kia có nuôi nhiều bò, màu lông khác nhau, đồng chung một bầy. Trưởng giả giao bầy bò cho người chăn thả đi ăn cỏ uống nước, chỉ vì vị đề hồ chứ chẳng cầu sữa bơ. Người chăn ấy vắt sữa rồi tự uống. Trưởng giả chết, bao nhiêu bò đều bị bọn cướp đoạt cả. Bọn cướp tự vắt sữa ra uống, rồi bàn với nhau rằng ông Trưởng giả nuôi bầy bò này chỉ muốn đặng vị đề hồ chứ không cầu sữa bơ. Chúng ta làm cách gì để đặng đề hồ. Đề hồ là phẩm vật quý nhất trong đời. Chúng ta không có gì đựng, dầu vắt được sữa cũng không chỗ chứa. Chúng lại bàn đựng sữa trong túi da. Dầu có đồ đựng nhưng vì không biết cách làm, nên bơ còn không được thành, huống là đề hồ. Vì muốn được đề hồ, bọn cướp đổ thêm nước vào túi sữa, vì quá nhiều nước nên chẳng những không được đề hồ, bơ, mà cả sữa cũng mất.

    Một trưởng giả nuôi một bầy bò, màu lông khác nhau. Ông cho chúng ăn uống đúng lúc, lấy sữa nấu thành chất đề hồ. Bầy bò đó màu lông khác nhưng nó ở chung một bầy và sữa chúng có thể nấu thành một chất đề hồ. Dụ cho tất cả chúng sanh tuy hạnh nghiệp có khác nhưng Phật tánh thì không khác, như chất sữa kia hòa lại nấu thành một chất đề hồ.

    Khi trưởng giả chết, bầy bò bị bọn cướp đoạt. Bọn cướp không rành cách nuôi, cách lấy sữa làm đề hồ, đựng sữa trong những túi dơ rồi lại thêm nước, vì vậy không có đề hồ, mất cả sữa, mất cả bơ. Đây cũng vậy, ngoại đạo cũng nói thường lạc ngã tịnh, nhưng không phải là thật được đại Niết-bàn, còn thường lạc ngã tịnh của Phật là thường lạc ngã tịnh của đại Niết-bàn.

    Phàm phu cũng vậy, dầu có pháp lành nhưng đều là pháp thừa của Như Lai. Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, họ trộm pháp lành thừa của Như Lai hoặc giới, định hoặc huệ. Như bọn cướp đoạt bầy bò. Hạng phàm phu dầu lại đặng giới, định, trí huệ, nhưng không có phương tiện nên chẳng giải thuyết được. Vì nghĩa này nên họ không thể đặng thường giới, thường định, thường huệ giải thoát. Như bọn cướp kia chẳng biết phương tiện không được đề hồ, rồi vì đề hồ mà đổ nước vào sữa. Cũng vậy, hạng phàm phu vì giải thoát mà nói Ngã hoặc Phạm thiên, Tự Tại thiên, nhẫn đến Phi tưởng phi phi tưởng thiên chính là Niết-bàn, kỳ thật họ chẳng được giải thoát Niết-bàn. Như bọn cướp kia không được đề hồ.

    Hạng phàm phu ấy có chút ít Phạm hạnh, cúng dường cha mẹ, nhờ đây được sanh lên trời hưởng một ít an lạc, như bọn cướp kia được sữa pha với nước. Mà hạng phàm phu ấy thật chẳng biết là do tu ít Phạm hạnh, cúng dường cha mẹ đặng sanh lên cõi trời, họ lại chẳng biết được giới, định, trí huệ, quy y Tam bảo, rồi do chẳng biết mà nói thường lạc ngã tịnh. Dầu lại nói thường lạc ngã tịnh, mà thật ra thời họ chẳng biết. Vì thế nên sau khi ra đời, Như Lai vì chúng sanh mà diễn nói thường lạc ngã tịnh.

    Sau khi Phật nhập Niết-bàn có hạng phàm phu trộm pháp Phật, bắt chước câu nói của Phật. Họ nói giới, nói định, nói tuệ... nhưng phương pháp giải thích của họ không khéo léo. Hạng phàm phu đó hoặc là có chút ít hạnh tốt hạnh lành, cúng dường cha mẹ rồi được sanh về cõi trời hưởng phước, cho là được Niết-bàn, nhưng thật ra họ chưa thật được giải thoát, chưa thật được Niết-bàn. Họ còn không được giới định tuệ, không được quy y Tam bảo nữa, huống gì là được tứ đức thường lạc ngã tịnh của Niết-bàn.

    Như vua Chuyển luân ra đời, do sức phước đức của vua nên bọn cướp tan vỡ, bầy bò vẫn còn nguyên vẹn. Nhà vua bèn giao bầy bò cho người chăn rành nghề, do đó mà được đề hồ, và nhờ đề hồ mà nhân dân khỏi bệnh khổ.

    Lúc đấng Pháp vương ra đời, hạng phàm phu không thể diễn thuyết giới, định, trí huệ kia liền tan rã như bọn cướp. Bấy giờ Như Lai khéo giảng thế pháp và xuất thế pháp. Vì chúng sanh  mà khiến các vị Bồ-tát theo đó để diễn thuyết. Chư đại Bồ-tát đã được đề hồ, lại làm cho vô số chúng sanh được pháp vị cam lộ vô thượng, tức là thường lạc ngã tịnh của Như Lai.

    Phật nói tiếp, có vua Chuyển luân ra đời, do sức phước đức dẹp được bọn cướp, đem bầy bò trở lại nuôi đúng cách, lấy được chất đề hồ trị được các chứng bệnh khiến mọi người bớt khổ. Cũng vậy khi Phật ra đời, giới định tuệ của tất cả hạng phàm phu đều tan rã, như bọn cướp bị vua đuổi đánh vậy. Bấy giờ đức Như Lai khéo giảng thế pháp và xuất thế pháp, vì chúng sanh mà khiến cho hàng Bồ-tát theo đó để diễn thuyết. Chư đại Bồ-tát đã được đề hồ làm cho vô số chúng sanh được pháp vị cam lộ vô thượng, tức là thường lạc ngã tịnh của Như Lai.

    Bà-la-môn chấp rằng Phạm thiên là thường lạc ngã tịnh, nhưng vị Phạm thiên đó họ chỉ tưởng tượng ra, không phải thật chứng thật thấy, chỉ có danh từ mà thôi. Còn Phật nói thường lạc ngã tịnh là do ngài chứng thật được đại Bát-niết-bàn. Như chúng ta có tu chút ít, nhận ra được nơi mình có cái sanh diệt mà cũng có cái bất sanh bất diệt. Khi nhận ra được cái bất sanh bất diệt nơi mình, đó là nhân Phật tánh, kết quả viên mãn thì được nghĩa thường lạc ngã tịnh. Đó là thật, không phải do tưởng tượng. Vì vậy, pháp Phật nói là thật nghĩa, do Phật chứng đạt, không phải muốn mình tin mà thôi.

    Này Ca-diếp! Vì những nghĩa ấy nên Như Lai là thường, là pháp không biến đổi. Chẳng đồng hạng người ngu trong đời gọi Phạm thiên v.v... là pháp thường còn. Gọi là pháp thường trụ thời phải là Như Lai, chứ chẳng phải pháp nào khác. Ông phải hiểu biết thân Như Lai là như vậy.

    Này Ca-diếp! Mọi người nên thường chuyên lòng tu hai chữ này: Phật là “thường trụ”. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào tu hai chữ này, nên biết người ấy đi theo đường Phật đi, đến chỗ Phật đến.

    Này Ca-diếp! Nếu người tu tập hai chữ này làm tướng tịch diệt, nên biết Như Lai thời là nhập Niết-bàn đối với người ấy.

    Này Ca-diếp! Nghĩa Niết-bàn chính là pháp tánh của chư Phật.”

    Phật nói thêm, vì nghĩa ấy nên Như Lai là thường, là pháp không biến đổi, chẳng đồng hạng người ngu trong đời gọi Phạm thiên... là pháp thường còn. Tại sao Phật nói họ ngu? Bởi họ tưởng tượng đặt ra mà không thấy, không chứng nghiệm được.

    Gọi pháp thường trụ phải là Như Lai chứ chẳng phải pháp nào khác, ông phải hiểu biết thân Như Lai là như vậy. Phật cho rằng pháp thường trụ chỉ có Phật, ngoài ra nơi khác không có, tưởng đâu ngài chủ quan, nhưng đó là sự thật. Bởi pháp thường trụ phải là pháp chứng được, còn pháp tưởng tượng thì không bao giờ thật. Phật nói mọi người nên thường chuyên lòng tu hai chữ này, Phật là thường trụ. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu hai chữ này, nên biết người ấy đi đường Phật đi, đến chỗ Phật đến. Biết Phật là thường trụ tức là biết được Phật tánh bất sanh bất diệt. Các vị thiền sư nói mười phương chư Phật thường ở trước mặt mình, đó là các ngài đã thấy Phật thường trụ. Các ngài nói dường như chẳng đúng với kinh điển, mà các ngài đi đường Phật đã đi. Còn chúng ta thấy Phật ở xa quá, ở Niết-bàn hoặc ở đâu đó. Cứ tưởng tượng như vậy, nên mình đi không phải đường của Phật đã đi.

    Người nào cho hai chữ thường trụ là tướng tịch diệt thì Như Lai nhập Niết-bàn đối với người ấy. Tu được nghĩa Niết-bàn tức là thấy được pháp tánh của chư Phật, cũng chính là pháp tánh của chúng ta.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Pháp tánh của chư Phật nghĩa thế nào? Nay con muốn biết nghĩa của pháp tánh. Cúi mong đức Như Lai xót thương giải rộng cho.

    Vả pháp tánh tức là xả thân, xả thân gọi là vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời thân làm sao còn. Thân nếu còn tại sao lại nói thân có pháp tánh? Thân có pháp tánh sao thân lại còn?

    Nay con phải hiểu như thế nào về nghĩa ấy?”

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, nghĩa Niết-bàn là pháp tánh của chư Phật, con không biết pháp tánh của chư Phật là thế nào?

    Vả pháp tánh tức là xả thân, xả thân gọi là vô sở hữu, bỏ thân này tức là không còn gì hết, nếu không có gì hết thì thân làm sao còn . Thân nếu còn tại sao lại nói  thân có pháp tánh? Thân có pháp tánh sao thân lại còn? Pháp tánh nghĩa là không thân, còn có thân nghĩa là không có pháp tánh. Tại sao lại nói thân có mà pháp tánh lại có? Hai cái không thể có đồng thời.

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Nay ông chẳng nên nói diệt là pháp tánh. Pháp tánh không có diệt.

    Ví như Vô tưởng thiên thành tựu sắc ấm mà không có sắc tưởng. Chẳng nên hỏi rằng các ông trời ấy sung sướng hưởng vui thế nào? Nghĩ tưởng những gì? Thấy nghe thế nào?

    Phật giải thích và dạy, chẳng nên nói diệt là pháp tánh , tức không nên nói chỗ không có gì hết là pháp tánh. Pháp tánh không có diệt vì pháp tánh không phải là hết. Như Vô tưởng thiên , tức là những vị trời ở cõi Vô tưởng, thành tựu sắc ấm mà không có sắc tưởng. Chẳng nên hỏi rằng các ông trời ấy sung sướng hưởng vui thế nào? Không tưởng thì làm sao có hưởng vui sung sướng. Không tưởng mà hỏi nghĩ tưởng gì thấy nghe gì là sai lầm.

    Này Ca-diếp! Cảnh giới của Như Lai chẳng phải là chỗ biết của Thanh văn Duyên giác. Chẳng nên nói rằng thân của Như Lai là pháp diệt.

    Này Ca-diếp! Pháp diệt như thế là cảnh giới của Phật, chẳng phải hàng Thanh văn Duyên giác biết được.

    Nay ông không nên nghĩ lường Như Lai ở chỗ nào, đi chỗ nào, thấy chỗ nào, vui chỗ nào? Những nghĩa ấy, cũng chẳng phải các ông biết được. Pháp thân của Phật, các thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn.

    Nếu chúng ta thấy Phật đi đâu, thấy chỗ nào, vui chỗ nào là nghĩ lường sai lạc. Vì sao? Vì nếu nói Phật ở chỗ nào thì như vậy pháp thân không khắp mới có chỗ ở, hỏi đi chỗ nào thì pháp thân là có hình tướng, thấy chỗ nào nghĩa là pháp thân có tình thức, có tâm ý. Hiểu như vậy là không được. Những nghĩa ấy cũng chẳng phải các ông biết được. Pháp thân của Phật, các thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn.

    Này Ca-diếp! Nên phải tu tập Phật, Pháp và Tăng mà quán tưởng là thường. Ba pháp ấy không có dị tưởng. Không vô thường tưởng, không biến dị tưởng. Nếu ở nơi ba pháp tu dị tưởng, phải biết rằng tam quy thanh tịnh của những người này thời không chỗ y nương, cấm giới của họ đều chẳng đầy đủ. Trọn chẳng chứng được quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-đề. Nếu có thể ở nơi bất khả tư nghị này tu thường tưởng thời có chỗ quy y.

    Nên phải tu tập Phật, Pháp và Tăng mà quán tưởng là thường . Đây là chỗ chúng ta nên chịu khó nhận xét.

    Ba pháp ấy không nghĩ tưởng riêng khác, cách biệt. Ba là một, một là ba. Đó là đồng thể Tam bảo. Bởi ba pháp ấy là thường nên đừng tưởng vô thường, đừng tưởng biến dị. Nếu ba pháp này mà thấy dị tưởng, nghĩa là thấy Phật riêng Pháp riêng Tăng riêng, thì việc quy y này không thanh tịnh, hay không có chỗ nương. Tại sao? Vì cho Phật Pháp Tăng là khác nghĩa là có hình tướng riêng biệt, tức bị vô thường. Phật tịch rồi mình nương vào đâu, kinh sách hết thì nương vào đâu, tăng tịch rồi nương vào đâu? Nên mới nói tam quy không chỗ nương, cấm giới của mình không tròn đủ.

    Các vị thiền sư giảng về đồng thể Tam bảo: Tâm giác là Phật, tâm thanh tịnh là Pháp, Phật pháp không hai là Tăng, là nghĩa hòa hợp. Từ thể giác ngộ là Phật, thể giác ngộ thanh tịnh là Pháp, giác và tịnh không hai gọi đó là Tăng, như vậy không rời tâm mà có. Tam bảo đó mới vĩnh cửu trường tồn ở mọi nơi mọi chốn. Chúng ta phải thấy Tam bảo ở tự tâm mình có đủ. Ngài Hoàng Bá trong Truyền Tâm Pháp Yếu giảng: Nếu ngoài tâm có Tam bảo thì Tam bảo đó không phải là chỗ nương cậy. Nhà thiền chỉ hướng về Tam bảo đồng thể, chỉ thẳng vào tự tâm. Bởi tự tâm chúng ta có Tam bảo như vậy, nhận ra được thì lúc nào cũng an ổn, lúc nào cũng có chỗ tựa nương. Đó mới thật là quy y. Mình y nơi tự tánh Tam bảo mà khởi tu, gìn giữ giới thì giới luật đó mới tròn đầy. Y theo lời dạy về tướng mà giữ là tướng giới. Nếu mình y theo tự tánh khởi tu là tánh giới, mà tánh giới mới viên mãn.

    Trọn chẳng chứng được quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-đề. Nếu có thể ở nơi bất khả tư nghị này tu thường tưởng thời có chỗ quy y. Bởi vì Tam bảo này không bao giờ mất nên mình có chỗ quy y.

    Này Ca-diếp! Ví như nhân nơi cây thời có bóng cây. Cũng vậy, vì Như Lai có pháp thường trụ thời có chỗ quy y, chứ chẳng phải là vô thường. Nếu cho rằng Như Lai là vô thường thời Như Lai không phải là chỗ quy y của người và của trời.”

    Chúng ta thấy cây thì sẽ có bóng cây. Cũng vậy mình thấy hóa thân của Phật, rồi hóa thân thuyết pháp, dạy chúng sanh tu hành, ví dụ cũng như cây. Bóng cây chỉ cho pháp thân của chư Phật, hóa thân có thì biết có pháp thân.

    Nếu cho rằng Như Lai là vô thường, thời Như Lai không phải là chỗ quy y của người và của trời. Nếu Như Lai là vô thường thì chỉ một thời gian ngắn đã tịch rồi, đâu còn chỗ quy y, lấy đâu làm chỗ nương tựa cho chúng sanh. Nên phải thấy Như Lai là thường còn, là pháp thân chúng ta cũng sẵn có, không chỉ đức Phật mới có. Vì thế chúng ta trở về với pháp thân của mình đó là quy y Phật chân chánh đời đời kiếp kiếp.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Ví như trong tối có cây mà không có bóng.”

    Phật nói: “Này Ca-diếp! Ông không nên nói có cây mà không có bóng, chỉ vì nhục nhãn không thấy đó thôi. Cũng vậy, tánh Như Lai là thường trụ, là không biến đổi. Người không có con mắt trí huệ thời không thấy được. Như trong tối không thấy bóng cây. Cũng vậy, sau khi Phật nhập diệt, hạng phàm phu nói Như Lai là vô thường.

    Nếu cho rằng Phật khác với Pháp và Tăng thời chẳng thành chỗ của ba pháp quy y. Như cha mẹ của ông mỗi mỗi sai khác, nên thành vô thường.”

    Bồ-tát Ca-diếp vấn nạn lại Phật, cây trong tối làm gì có bóng? Phật nói, ông không nên nói là có cây mà không có bóng, chỉ vì nhục nhãn không thấy đó thôi. Tại mắt chúng ta thô quá nên không thấy chứ không phải không có. Cũng vậy, tánh Như Lai là thường trụ không biến đổi. Tánh Như Lai ở đây chỉ pháp thân. Người không có con mắt trí tuệ không thấy được, như trong tối không thấy bóng cây. Bóng cây là dụ cho pháp thân, mà cây là chỉ cho thân ngũ uẩn hiện tại. Thấy thân ngũ uẩn hiện tại thì biết có pháp thân. Tại vì chúng ta mù mịt mê muội, chưa có trí tuệ cho nên chưa thấy, không phải là không có.

    Cũng vậy, sau khi Phật nhập diệt, hạng phàm phu nói Như Lai là vô thường. Phàm phu thấy Phật nhập diệt liền nói, tu hành thành Phật rồi cũng chết. Nhưng với Phật Bồ-tát chỉ thấy đó là một hóa thân đổi thay, còn pháp thân thì bất diệt. Nói trường thọ là chỉ thẳng pháp thân bất diệt.

    Nếu cho rằng Phật khác với Pháp và Tăng thời chẳng thành chỗ của ba pháp quy y. Như cha mẹ của ông mỗi mỗi sai khác, nên thành vô thường. Nếu thấy Phật, Pháp, Tăng có sai biệt thì Phật Pháp Tăng có hình tướng, tức là phải bị vô thường, thì không phải là chỗ nương tựa vĩnh cửu. Cũng như nói cha mẹ là khác, sanh ra con khác thì cha mẹ đó là vô thường. Bởi cha mẹ vô thường cho nên không phải là chỗ nương tựa vĩnh cửu.

    Ca-diếp Bồ-tát lại bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Bắt đầu từ nay, con sẽ đem ba pháp thường trụ Phật, Pháp và Tăng để khai ngộ cho cha mẹ, nhẫn đến cha mẹ trong bảy đời đều khiến phụng trì.

    Nghe nói vậy Bồ-tát Ca-diếp tin được pháp Tam bảo thường trụ, Tam bảo bất nhị. Cho nên ngài sẽ tự phụng trì và khuyên cha mẹ trong bảy đời cũng nên phụng trì.

    Bạch Thế Tôn! Nay con phải học Phật, Pháp, Tăng bất khả tư nghì. Tự mình học rồi lại sẽ vì người mà giảng giải những nghĩa ấy. Nếu người nào không tin không nhận, thời người đó là kẻ tu pháp vô thường đã lâu. Con sẽ làm sương móc, làm mưa giá cho hạng người này.”

    Tức là ngài sẽ làm trợ duyên cho người này được tỉnh được ngộ. Các thiền sư đều nhắm vào Tam bảo đồng thể này, cho nên nếu hiểu Thiền tông rồi thì hiểu Đại thừa không khó. Bởi vì Thiền tông là nhận ra pháp thân, lấy pháp thân làm chỗ cứu cánh của Phật. Pháp thân là thể thanh tịnh không hai không khác, hòa hợp là Tăng. Tam bảo là chỉ ngay tự thể chúng ta sẵn có. Tin hiểu được như vậy mới thấy Phật pháp trường cửu không bao giờ mất. Có người là có Phật pháp, có chúng sanh là có Phật pháp. Dù không còn kinh điển, chùa chiền, tượng Phật mà Phật pháp vẫn còn, cái đó mới là chỗ quy y cứu cánh không bao giờ mất. Nếu chúng ta chỉ thấy Phật ngồi trên bàn thờ, Pháp là những kinh điển có chữ nghĩa, Tăng là quý thầy giữ giới, thì như vậy sẽ ra sao? Ngày nào người ta không cho thờ Phật thì lúc đó hết Phật, ngày nào kinh điển bị thiêu hủy hết thì lúc đó hết Pháp, ngày nào không còn thầy tu nữa thì hết Tăng, như vậy Phật Pháp Tăng có khi còn, có khi hết. Chúng ta hiểu ngay nơi pháp thân thường trụ đầy đủ ba đức Phật Pháp Tăng thì pháp thân không bao giờ mất. Đó mới thật là chỗ vĩnh cửu để chúng ta nương tựa.

    Phật khen Ca-diếp Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Nay ông khéo có thể hộ trì chánh pháp. Hộ pháp như vậy thời là không khinh khi người. Do nơi nghiệp nhân không khinh khi người mà được quả báo trường thọ, biết rành những đời đã qua.”

    Hộ pháp như vậy thời là không khinh khi người. Người nhận hiểu như vậy mới thật là hộ trì chánh pháp, là không khinh khi người. Tại sao? Nếu cho là Phật ở trong chùa, chư tăng là người tu, thì ai không biết Phật không biết pháp, chúng ta khi người đó không biết đạo lý. Còn mình hộ pháp vì biết pháp thân chư Phật và pháp thân của chúng sanh là chỗ cứu cánh, chúng ta chỉ cho mọi người biết được Phật tánh sẵn có, ai cũng có thì ai dám khi ai. Do nơi nghiệp nhân không khinh khi người mà được quả báo trường thọ, biết rành những đời đã qua.

    Sự thật nếu chúng ta biết được pháp thân thường trụ ai cũng có, thì đâu có ai chết yểu, ai cũng trường thọ. Giả sử thân này chết xem như cởi áo trở về pháp thân, chứ không mất đi đâu, cho nên được trường thọ, được bằng tuổi Phật A-di-đà. Như vậy khi nhận được pháp thân nơi mình thì tuổi thọ không còn ngằn mé, là vô lượng thọ, tuổi thọ của Phật A-di-đà. Phật A-di-đà là ai? Là pháp thân. Cho nên Phật tức là tâm, mà tâm tức là Phật.

  • 5. Phẩm Thân Kim Cang

    Bấy giờ đức Phật lại bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Này Ca-diếp! Thân Như Lai là thân thường trụ, thân bất hoại, thân kim cang. Chẳng phải là thân tạp thực. Chính là pháp thân.” 

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Những thân của Phật nói đó con đều chẳng thấy. Con chỉ thấy những thân vô thường, phá hoại, vi trần, tạp thực thôi. Vì rằng đức Như Lai sắp nhập Niết-bàn.” 

    Kim cang thân là chỉ thân cứng chắc như kim cang không bao giờ phá hoại được. Những phẩm này là những phẩm căn bản, chúng ta học thật kỹ để thấy chủ yếu của bộ kinh Đại Bát-niết-bàn.

    Khi nói thân Như Lai trong kinh Đại thừa là Phật chỉ về pháp thân. Bởi vì pháp thân không sanh không diệt cho nên là thân thường trụ. Vì pháp thân không hình tướng, không bị phá hoại, bất hoại nên gọi là thân kim cang. Như vậy nói thân thường trụ, thân bất hoại hay thân kim cang đều chỉ cho pháp thân.

    Bồ-tát Ca-diếp nói, con không thấy pháp thân thường trụ bất hoại, chỉ thấy Phật sắp nhập Niết-bàn. Vậy thân của Phật mà con thấy là thân vô thường, thân phá hoại, thân vi trần, thân tạp thực, con không thấy thân bất hoại như kim cang của Phật.

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Ông chớ cho rằng thân của Như Lai hư hoại không bền như thân phàm phu.

    Ông nên biết rằng thân Như Lai trong vô lượng ức kiếp luôn bền chắc không hư hoại, không phải thân người, thân trời, không phải thân sợ sệt, chẳng phải thân tạp thực. Thân của Như Lai chẳng phải thân mà là thân, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng tập chẳng tu, vô lượng vô biên, không có dấu vết, vô tri vô hình, rốt ráo thanh tịnh, không có lay động, không phải thọ hành, chẳng trụ chẳng làm, không mùi vị không xen tạp, chẳng phải hữu vi, chẳng phải nghiệp chẳng phải quả, chẳng phải dời chẳng phải diệt, chẳng phải tâm vương tâm sở, chẳng thể nghĩ bàn, thường chẳng thể nghĩ bàn, không thức, rời tâm cũng chẳng rời tâm, tâm đó bình đẳng không có mà cũng có, không đến đi mà cũng đến đi, chẳng phá hoại, chẳng đoạn tuyệt, chẳng sanh diệt, không chủ mà cũng là chủ, chẳng phải hữu vô, chẳng phải giác quán, chẳng danh tự chẳng phải không danh tự, chẳng phải định chẳng phải không định, không thể thấy mà cũng thấy rành rành, không nơi chỗ cũng là nơi chỗ, không tối không sáng, không tịch tịnh mà cũng tịch tịnh, là vô sở hữu, chẳng nhận lấy chẳng ban cho, trong sạch không nhơ, không tranh đua, dứt tranh đua, trụ nơi vô trụ, chẳng chấp lấy chẳng sa mắc, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chẳng phải phước điền chẳng phải không phước điền, vô tận bất tận, lìa tất cả tận, là rỗng không rời rỗng không, dầu chẳng thường trụ mà cũng thường trụ, chẳng phải niệm niệm diệt, không có cấu trược, không danh tự rời danh tự, chẳng phải tiếng chẳng phải nói, cũng chẳng phải tu tập, chẳng phải cân lường, chẳng phải nhất dị, chẳng phải hình tượng, chẳng phải tướng mạo mà đủ tướng tốt trang nghiêm, chẳng phải dõng mãnh, chẳng phải sợ sệt, không tịch chẳng tịch, không nhiệt chẳng nhiệt, không thể xem thấy, không có tướng mạo.

    Phật bảo ngài Ca-diếp chớ cho thân Như Lai là hư hoại không bền như thân phàm phu. Nên biết rằng thân Như Lai trong vô lượng ức kiếp luôn bền chắc không hư hoại, không phải thân người, thân trời, không phải thân sợ sệt, chẳng phải thân tạp thực . Thân tạp thực là thân ăn uống lộn xộn đủ thứ. Như vậy Phật chỉ pháp thân chứ không phải thân phàm phu mà chúng ta thấy.

    Thân của Như Lai chẳng phải thân mà là thân. Thế nào là thân? Đây giải nghĩa theo lối văn tự để chúng ta hiểu chữ thân rồi sau này mới hiểu qua được thân hiện tại và pháp thân. Trong văn chương họ cũng dùng văn thân, cú thân, danh thân v.v... Những chữ những câu hợp lại thành một bài gọi là văn thân. Nhiều chữ ráp lại thành một câu gọi là cú thân. Vậy cái gì mà chung hợp lại để nên một hình dáng, một ý nghĩa thì cái đó gọi là thân. Thân chúng ta là do tứ đại năm uẩn hòa hợp thành. Còn pháp thân không phải do sự hợp của năm uẩn của tứ đại, mà là thể sanh ra muôn pháp, nên nói nó đầy đủ vô lượng công đức. Vì vậy nói thân của Như Lai không phải thân mà là thân. Chẳng phải thân vì không phải là thân người thân trời, mà là thân vì nó là thể của muôn ngàn công đức.

    Chẳng sanh chẳng diệt vì nó là thể. Chẳng tập chẳng tu, vì sẵn vậy từ vô thủy đâu phải tạo nên mà tu mà sửa. Vô lượng vô biên, vì nó vượt thời gian nên gọi là vô lượng, không có ngằn mé nên gọi là vô biên. Không có dấu vết vì không hình tướng. Vô tri vô hình, vì không phải là những cảm giác, những hiểu biết theo phàm tình mà nó là linh giác. Khi ngộ được Bát-nhã trí đến chỗ cứu cánh, đó là pháp thân. Cho nên nói Bát-nhã vô tri vô sở bất tri .

    Rốt ráo thanh tịnh, không lay động, vì nó không hình tướng. Không phải thọ hành vì không phải sự chuyển biến của ngũ uẩn cho nên không phải là thọ là hành. Chẳng trụ chẳng làm vì không có nơi chốn, không có hình tướng. Không mùi vị, không xen tạp, nó không phải là mùi vị, không xen tạp vì không hòa hợp với các pháp.

    Chẳng phải hữu vi vì không phải là pháp sanh diệt. Chẳng phải nghiệp chẳng phải quả, không phải tạo tác làm sao có nghiệp có quả. Chẳng phải dời chẳng phải diệt, vì nó không có hình tướng, không phải là pháp vô thường, làm sao biến diệt. Chẳng phải tâm vương và không phải tâm sở, vì không phải là những cái suy nghĩ phân biệt của mắt tai mũi thân ý mà cũng không phải những giận hờn buồn vui...

    Chẳng thể nghĩ bàn, nghĩa là chẳng thể dùng suy nghĩ bàn luận về nó được. Thường chẳng thể nghĩ bàn, tức là luôn luôn không thể nghĩ bàn được. Không thức, là không có phân biệt của tâm thức. Rời tâm cũng chẳng rời tâm, đứng về mặt vọng tưởng thì rời, nhưng đứng về thể của tâm thì không rời.

    Tâm đó bình đẳng, không có mà cũng có. Phàm phu không thấy không biết thì không có, người giác thì thấy, ngộ được thì nó trở thành có. Không đến đi mà cũng đến đi, thể thì không đến không đi nhưng tùy duyên ứng dụng thì thấy có đến có đi.

    Chẳng phá hoại, chẳng đoạn tuyệt, nó không phải là cái bị phá hoại, đoạn dứt. Chẳng sanh diệt, không chủ mà là chủ, vì thể của nó tràn đầy, không có chủ tể cho nên gọi là không chủ; nhưng nó là thể của muôn vật, muôn pháp nên tuy không chủ mà chủ. Chẳng phải hữu vô, không phải có, không phải không. Chẳng phải giác quán, nghĩa là chẳng phải suy tưởng, suy tưởng thì không thấy được Phật tánh, không ngộ được pháp thân cho nên giác quán không gặp được pháp thân. Chẳng danh tự chẳng phải không danh tự, thể đó không tên không tuổi, nhưng Phật đặt một vài danh tự cho chúng ta dễ hiểu, nói là Như Lai, là Phật tánh, là pháp thân... tuy không danh tự mà vẫn có danh tự. Chẳng phải định chẳng phải không định vì không phải chú tâm kìm một chỗ cho nên không phải định, nhưng nó như như nên không phải không định.

    Không thể thấy mà cũng có thể thấy rành rành, vì khi mê thì không thấy nhưng ngộ rồi thì nó sờ sờ trước mắt. Không nơi chỗ cũng là nơi chỗ, vì nó tràn đầy pháp giới làm sao có nơi chỗ, nhưng tùy duyên ứng hiện thì đâu cũng có. Không tối không sáng, vì không phải là pháp đối đãi. Không tịch tịnh mà cũng tịch tịnh, là không phải lặng lẽ mà vẫn là lặng lẽ. Vì không phải kìm hãm để cho nó yên lặng mà thể nó tự như như, cho nên nó là tịch tịnh.

    Là vô sở hữu, vì nó không có hình tướng nhưng không phải là không. Chẳng nhận lấy chẳng ban cho, nó không thọ cũng không thí. Trong sạch không nhơ, không tranh đua, dứt tranh đua, bởi vì nó đâu còn gì đối đãi nhau mà tranh. Trụ nơi vô trụ, an trụ mà không nơi chốn cho nên trụ chỗ vô trụ. Chẳng chấp lấy chẳng sa mắc, vì có gì đâu mà giữ, nên không mắc kẹt. Chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chẳng phải phước điền chẳng phải không phước điền, vì nó không phải là hình tướng mà gọi là phước điền, nhưng nó là nguồn của muôn phước cho nên không phải là không phước điền.

    Vô tận bất tận, lìa tất cả tận, là rỗng không rời rỗng không, rỗng không vì không hình tướng, rời rỗng không vì thật có thể. Dầu chẳng thường trụ mà cũng thường trụ, vì không thể thấy nó, như một ngọn núi hay là biển ở một chỗ cho nên chẳng thường trụ, nhưng nó bàng bạc đầy khắp mọi nơi cho nên nó thường trụ.

    Chẳng phải niệm niệm diệt, không có cấu trược, không danh tự rời danh tự, chẳng phải tiếng chẳng phải nói, cũng chẳng phải tu tập, chẳng phải cân lường, chẳng phải nhất dị, chẳng phải hình tượng, chẳng phải tướng mạo mà đủ tướng tốt trang nghiêm, chẳng phải dõng mãnh, chẳng phải sợ sệt, không tịch chẳng tịch, không nhiệt chẳng nhiệt, không thể xem thấy, không có tướng mạo.

    Tóm lại pháp thân là thể của muôn pháp cho nên nó rời tất cả tướng, rời tất cả hình thức đối đãi, còn có niệm đối đãi thì không bao giờ thấy pháp thân. Ngoài pháp thân không có một pháp nào riêng rẽ, vì vậy mà không còn đối đãi. Đối đãi là thấy hai, là cái thấy của Nhị thừa, chưa thấy được pháp thân, Phật tánh. Pháp thân không phải tất cả những thứ theo phàm tục thế gian thấy, nào là có không, một khác, hình tướng ngôn từ v.v... Nhưng khi người đạt được pháp thân thì tùy duyên hóa độ ứng hiện có ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm. Chúng ta hiểu được như vậy nhận được như vậy là tu theo tinh thần Đại thừa.

    Như Lai độ thoát tất cả chúng sanh vì không ai độ thoát cho. Như Lai có thể làm cho chúng sanh được hiểu biết được giác ngộ, vì không ai giác ngộ cho. Như Lai thuyết pháp đúng như thật vì không có hai, chẳng thể nghĩ lường vì không sánh bằng, bình đẳng như hư không chẳng có hình mạo, đồng tánh vô sanh chẳng đoạn chẳng thường, thường hành nhất thừa chúng sanh thấy là ba, chẳng thối chẳng chuyển, dứt tất cả kiết sử, chẳng gây chẳng chạm, chẳng phải tánh mà trụ nơi tánh, chẳng phải hiệp chẳng phải tan, chẳng phải dài chẳng phải vắn, chẳng phải tròn chẳng phải vuông, chẳng phải ngũ ấm lục nhập thập bát giới mà là ấm nhập giới, chẳng phải thêm chẳng phải tổn, chẳng phải hơn chẳng phải thua. Thân của Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy, không có ai biết không ai chẳng biết, không ai thấy không ai chẳng thấy, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, chẳng phải thời gian chẳng phải không thời gian, chẳng phải làm chẳng phải chẳng làm, chẳng phải nương chẳng phải không nương, chẳng phải tứ đại chẳng phải không tứ đại, chẳng phải nhân chẳng phải chẳng nhân, chẳng phải chúng sanh chẳng phải chẳng chúng sanh, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn, là sư tử là đại sư tử, chẳng phải thân chẳng phải chẳng thân, chẳng thể tuyên thuyết, trừ một pháp tướng không tính đếm được, lúc nhập Niết-bàn chẳng nhập Niết-bàn. Pháp thân của Như Lai thảy đều thành tựu vô lượng công đức vi diệu như vậy.

    Như Lai sở dĩ độ thoát tất cả chúng sanh vì Như Lai không phải do ai độ thoát. Nói như vậy nghĩa là pháp thân hay Phật tánh là cái không ai làm, không ai dạy, mà sẵn có. Bởi sẵn có cho nên hay làm tất cả lợi ích cho tất cả chúng sanh, độ thoát tất cả chúng sanh. Phật có thể làm cho mọi người được hiểu được ngộ, chính ngài do vô sư trí mà được, cho nên nói ngài không ai giác ngộ cho . Phật thuyết pháp đúng lẽ thật vì không có hai, nếu có hai là chưa đúng lẽ thật.

    Có vị thiền sư nói: “Vạn tượng chi trung độc lộ thân”, ở trong vạn tượng riêng bày thân . Ngài Địa Tạng hỏi ngài Pháp Nhãn: Vậy có vạch vạn tượng hay không vạch vạn tượng? Ngài Pháp Nhãn trả lời: Vạch. Ngài Địa Tạng đưa lên hai ngón tay. Ngài Pháp Nhãn lại nói: Không vạch. Lúc đó ngài Địa Tạng cũng đưa lên hai ngón tay. Dù trả lời vạch hay không vạch, ngài cũng đưa hai ngón tay, tức thấy có hai là chưa thấy được lẽ thật. Thiền sư nói không khác với kinh Đại Niết-bàn. Dù các thiền sư nói trên trời dưới đất mà thật sự là cốt tủy của kinh điển Đại thừa. Thấy có hay không cũng còn thấy hai, mà thấy hai là chưa bước vào cửa thiền, tức là chưa bước vào cửa Đại Bát-niết-bàn được. Vậy nên mới thấy càng học sâu kinh điển Đại thừa thì càng tin sâu Thiền tông.

    Khi ngài Huyền Giác đến chỗ Lục Tổ, đi quanh chống tích trượng mà không chịu lễ bái. Lục Tổ quở, phàm là tăng phải có đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, sao lại sanh tâm đại ngã mạn như vậy? Ngài trả lời: Sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc . Sanh tử là chuyện lớn, vô thường gấp gáp, đâu có thời gian mà ở đó lễ mễ.

    Lục Tổ nói, sao ngay nơi đó không nhận ra bản tánh vô sanh chẳng đoạn chẳng thường? Lục Tổ đã chỉ thẳng phải nhận ra bản tánh vô sanh nơi mình mới vượt qua sanh tử sự đại vô thường tấn tốc, khi ấy vô thường và sanh tử không làm gì được mình nữa.

    Thường hành nhất thừa chúng sanh thấy là ba, tức là sống như vậy là nhất thừa, nhưng vì dùng phương tiện nên chúng sanh thấy là ba thừa.

    Chẳng thối chẳng chuyển, dứt tất cả các kiết sử, chẳng gây chẳng chạm, chẳng phải tánh mà thường trụ nơi tánh, chẳng phải hợp tan, chẳng phải dài ngắn, chẳng tròn chẳng vuông, chẳng phải ngũ ấm, lục nhập, thập bát giới mà là ấm nhập giới. Nếu nói pháp thân rời năm uẩn rời thập bát giới là hiểu lầm. Nói vậy để phá chấp của phàm phu, đừng tưởng ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới là pháp thân, mà cũng không phải rời ấm giới nhập tìm ra pháp thân được.

    Chẳng phải thêm chẳng phải tổn, chẳng phải hơn chẳng phải thua... Chữ “chẳng phải” là dịch từ chữ “phi”. Những chữ “chẳng phải” này trong Bát-nhã Tâm Kinh là chữ “vô”, chỉ cho thể Bát-nhã, còn chữ “phi” ở đây chỉ cho pháp thân. Hai cái đồng nhau không khác.

    Thân của Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy không ai biết, tức là những người mê lầm không bao giờ biết, nhưng khi họ giác ngộ rồi thì không ai chẳng biết . Khi còn vô minh che đậy thì không ai thấy, lúc hết vô minh rồi thì ai cũng thấy.

    Chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, tức rời hai tướng tương đối. Chẳng phải thời gian chẳng phải không thời gian, chẳng phải làm chẳng phải chẳng làm, chẳng phải nương, nó đâu có hình tướng để nương, chẳng phải không nương, vì nó là thể nên tất cả pháp từ thể mà sanh. Chẳng phải tứ đại chẳng phải không tứ đại, chẳng phải nhân chẳng phải chẳng nhân. Nó đâu có hình tướng mà thuộc về tứ đại, nhưng nó là thể sanh ra muôn pháp nên tứ đại cũng nằm ở đó, nên không phải là không tứ đại. Chẳng phải chúng sanh chẳng phải chẳng chúng sanh, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn, là sư tử là đại sư tử. Tức nó là thể của muôn vật, là chúa trên hết.

    Chẳng phải thân chẳng phải chẳng thân, chẳng thể tuyên thuyết, trừ một pháp tướng không tính đếm được, lúc nhập Niết-bàn chẳng nhập Niết-bàn. Pháp thân của Như Lai thảy đều thành tựu vô lượng công đức như vậy. Phật muốn chỉ bày pháp thân cho chúng ta hiểu, pháp thân đó gọi là thân kim cang. Kinh Đại thừa luôn luôn nói thân Phật là chỉ cho pháp thân, bởi pháp thân nên bất hoại, bất sanh bất diệt. Phật Thích-ca thọ tám mươi tuổi rồi tịch, tức chỉ cho hóa thân, thân tạm chỉ có ở Ấn Độ. Pháp thân thì mỗi chúng sanh đều có, nên Phật ở Việt Nam thì vẽ theo người Việt Nam, Phật ở Nhật Bản vẽ theo người Nhật Bản... Tuy nhiên kinh điển A-hàm cũng có nói pháp thân, pháp thân đó là Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên... tức là pháp Phật nói ra chính là pháp thân, chứ không phải là chỉ cho tự tánh của mỗi chúng sanh. Vì vậy cần phải hiểu để khi đọc kinh sách không thấy có sự mâu thuẫn.

    Này Ca-diếp! Chỉ có Như Lai mới biết tướng ấy, chẳng phải hàng Thanh văn, Duyên giác biết được. Những công đức như vậy thành thân của Như Lai, chẳng phải thân do tạp thực nuôi lớn.

    Cho nên với tinh thần này lẽ ra ít cúng Phật bằng món này món kia, vì thân Phật là pháp thân bất hoại không phải là thân tạp thực, mà lại bày ra cúng đầy bàn. Nhìn Phật bằng pháp thân làm sao mà cúng hoài!

    Này Ca-diếp! Chân thân của Như Lai có công đức như vậy, đâu lại có các bệnh hoạn mỏng manh chẳng bền như đồ gốm chưa hầm kia ư! Sở dĩ Như Lai thị hiện có sự khổ là vì muốn điều phục các chúng sanh.

    Sở dĩ Phật thị hiện ra có những tai họa bệnh hoạn là dùng phương tiện điều phục chúng sanh, để họ tin nhân tin quả... Trong kinh Duy-ma-cật, ông Duy-ma-cật bác các vị đệ tử của Phật đều là căn cứ vào pháp thân này. Quan niệm của Duy-ma-cật là quan niệm bất nhị, thấy không hai. Khi A-nan ôm bình đi xin sữa cho Phật vì Phật bệnh, Duy-ma-cật quở làm như vậy là làm nhục Phật pháp. Do Duy-ma-cật nhìn Phật qua pháp thân, còn ngài A-nan nhìn Phật bằng hóa thân cho nên thấy Phật bệnh.

    Nay ông phải biết thân Như Lai là thân kim cang. Từ ngày nay ông phải chuyên tâm suy nghĩ  nghĩa ấy, chớ nghĩ là thân tạp thực. Cũng nên vì người mà giảng nói thân Như Lai tức là Pháp thân.” 

    Phật xác nhận rõ ràng Như Lai là pháp thân. Chuyên suy nghĩ về nghĩa đó mà tu hành thì mới đúng tinh thần Đại Niết-bàn.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai thành tựu công đức như vậy, sao thân của Như Lai phải có bệnh khổ vô thường phá hoại?

    Từ ngày nay, con phải thường suy nghĩ thân của Như Lai là pháp thân thường trụ, là thân an lạc. Con cũng sẽ nói rộng nghĩa ấy cho người khác cùng nghe biết.

    Bồ-tát Ca-diếp thưa, ngài đã hiểu thân Phật là thân đã thành vô lượng vô biên công đức như vậy, làm sao thân Như Lai có bệnh khổ, bị vô thường phá hoại được. Từ ngày nay con phải suy nghĩ thân của Như Lai là Pháp thân thường trụ, là thân an lạc. Con cũng sẽ nói rộng nghĩa ấy cho người khác cùng nghe biết.

    Kính bạch Thế Tôn! Pháp thân của Như Lai kim cang bất hoại, mà con chưa rõ nguyên do thế nào.” 

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Vì nhân duyên hay hộ trì chánh pháp nên được thành tựu thân kim cang này.

    Này Ca-diếp! Do vì ngày trước Như Lai hộ pháp nên nay được thân kim cang thường trụ bất hoại này.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi, do đâu mà Phật được pháp thân bất hoại? Phật dạy, bởi vì hộ chánh pháp nên được thân kim cang bất hoại. Vậy hộ trì chánh pháp được thân kim cang bất hoại như thế nào?

    Này Ca-diếp! Người hộ trì chánh pháp chẳng thọ năm giới, chẳng tu oai nghi. Phải cầm binh khí hộ trì Tỳ-kheo giữ giới thanh tịnh.” 

    Người hộ pháp đôi lúc không tu gì nhưng khéo giữ gìn cho những người tu. Tại sao? Bởi vì đã thọ giới khi gặp những chuyện phải làm mạnh thì làm không được vì giới ràng buộc rồi, cho nên họ không thọ, đó là Bồ-tát. Không thọ, không giữ nhưng chính vì không thọ không giữ đó nên họ làm trọn vẹn tinh thần hộ pháp. Nếu thọ thì mắc kẹt, vì làm vậy sẽ là phá giới, nếu phá giới thì mang tội để cho người khác nói Phật tử mà làm như vậy, cho nên họ không thọ giới, coi như không tu hành gì hết, nhưng chính họ hết sức bảo bọc cho người tu. Đó chính là Bồ-tát hộ pháp.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu có Tỳ-kheo rời sự hộ trì, ở riêng nơi vắng vẻ, bên gò, dưới cây, thời nên gọi vị này là chân Tỳ-kheo. Nếu có người theo giữ gìn, phải biết vị này là cư sĩ trọc.” 

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Ông chớ nói là cư sĩ trọc. Nếu có Tỳ-kheo tùy ở chỗ nào, nuôi thân vừa đủ, đọc tụng kinh điển, tư duy tọa thiền. Có ai đến thưa hỏi đạo pháp, thời giảng nói phước đức trì giới, bố thí, ít muốn biết đủ. Dầu hay thuyết pháp như vậy mà vẫn không thể tuyên thuyết pháp Đại thừa, không có đồ chúng Đại thừa, không hàng phục được kẻ ác phi pháp. Tỳ-kheo này không có thể đem lợi ích lại cho chính mình và chúng sanh. Phải biết Tỳ-kheo này lười nhác biếng trễ. Dầu hay giữ giới gìn hạnh thanh tịnh mà không làm được việc gì.

    Theo Bồ-tát Ca-diếp, người nào ít muốn biết đủ, thân thanh tịnh, giới luật trang nghiêm, ở những chỗ gò mả, cội cây tu hành thì người đó mới là người tu chân chánh. Nhưng Phật nói, nếu có người được như vậy, ai đến cũng giảng dạy bố thí... mà chưa từng dạy họ pháp Đại thừa, chưa từng sống với đồ chúng Đại thừa, thì dù những vị đó có giới hạnh trong sạch, ngài vẫn cho là loại biếng trễ không làm lợi ích gì cho ai. Ở đây Phật cho hộ pháp có vẻ tích cực, chứ không có tính cách tiêu cực. Tích cực nghĩa là phải làm mạnh, phải hoạt động chứ không phải chỉ giữ cho mình.

    Nếu có Tỳ-kheo nuôi thân đầy đủ, giữ gìn cấm giới đã thọ, có thể giảng rộng giáo lý vi diệu Đại thừa trong chín bộ kinh, để lợi ích an lạc các hạng chúng sanh. Xướng lên rằng: Trong kinh Niết-bàn, đức Phật bảo các Tỳ-kheo chẳng được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò dê lợn, những vật phi pháp. Nếu có Tỳ-kheo nào chứa nuôi những vật bất tịnh ấy thời phải răn trị. Đức Như Lai ở trong bộ kinh khác đã từng nói có Tỳ-kheo nuôi chứa những vật phi pháp ấy, bị quốc vương y cứ pháp trừng trị bắt phải hoàn tục.

    Trước thì Tỳ-kheo chỉ nuôi thân vừa đủ, còn ở đây nuôi thân đầy đủ sung túc. Có thể giảng rộng giáo lý vi diệu Đại thừa trong chín bộ kinh, để lợi ích an lạc các hạng chúng sanh. Tức là đem giáo lý ban bố. Xướng lên rằng: Trong kinh Niết-bàn, đức Phật bảo các Tỳ-kheo chẳng được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò dê lợn, những vật phi pháp. Nếu có Tỳ-kheo nào chứa nuôi những vật bất tịnh ấy thời phải răn trị. Phải sống theo tinh thần giáo lý Đại thừa, truyền bá giáo lý Đại thừa và y cứ giáo lý Đại thừa mà trừng trị người phi pháp. Đức Như Lai ở trong bộ kinh khác đã từng nói có Tỳ-kheo nuôi chứa những vật phi pháp ấy, bị quốc vương y cứ pháp trừng trị bắt phải hoàn tục. Đó mới là người biết hộ pháp.

    Nếu có Tỳ-kheo lúc tuyên thuyết những lời như trên đây, những kẻ phá giới nghe được rất oán giận bèn hại vị pháp sư này. Dầu bị giết chết, nhưng vị pháp sư này vẫn được gọi là bậc trì giới lợi mình lợi người. Vì do duyên này nên Như Lai cho phép vua, quan, cư sĩ hộ trì người thuyết pháp. Nếu ai muốn được hộ trì chánh pháp phải nên học như vậy.

    Vì vậy nếu thấy người phá giới thì vua, quan, cư sĩ đều thẳng tay trừng trị. Ở đây nêu lên tinh thần Đại thừa rất tích cực, cái gì sai thì phải sửa.

    Này Ca-diếp! Người phá giới chẳng hộ trì chánh pháp, gọi là cư sĩ trọc. Chẳng phải người trì giới mang danh từ ấy.

    Này Ca-diếp! Về đời quá khứ đã vô lượng vô biên vô số kiếp, nơi thành Câu-thi-na này có Phật ra đời hiệu Hoan Hỷ Tăng Ích Như Lai đủ cả mười đức hiệu. Lúc ấy cõi nước rộng lớn tốt đẹp giàu vui, nhân dân đông đầy ấm no như chư Bồ-tát ở cõi An Lạc. Phật Hoan Hỷ Tăng Ích ở đời rất lâu, cơ duyên đã mãn, ngài nhập Niết-bàn nơi rừng ta-la. Sau khi Phật Hoan Hỷ Tăng Ích nhập Niết-bàn, chánh pháp còn ở đời vô lượng ức năm, lúc còn lại bốn mươi năm cuối cùng, bấy giờ có một Tỳ-kheo trì giới hiệu là Giác Đức có đông đồ chúng. Tỳ-kheo Giác Đức hay tuyên thuyết chín bộ kinh. Cấm các Tỳ-kheo không được chứa nuôi tôi tớ, heo dê, những vật phi pháp. Bấy giờ có các Tỳ-kheo phá giới oán ghét theo làm hại Giác Đức. Quốc vương Hữu Đức nghe được việc ấy, vì hộ pháp nên nhà vua liền vội đến đấu chiến với bọn phá giới, nhờ đó mà pháp sư Giác Đức khỏi nạn. Nhà vua cả mình bị thương rất nặng. Pháp sư Giác Đức liền khen vua rằng: “Lành thay! Lành thay! Nay vua thật là người hộ pháp, đời sau thân vua sẽ là vô lượng pháp khí.” Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng, rồi liền chết sanh về cõi Phật A-súc làm vị đệ tử thứ nhất. Quân lính nhân dân hoặc người theo vua chiến đấu, hoặc tùy hỷ đều được không thối chuyển tâm Bồ-đề, sau khi chết họ cũng được sanh về nước của Phật A-súc. Pháp sư Giác Đức khi mãn thọ cũng sanh về cõi ấy làm vị đệ tử thứ hai trong chúng Thanh văn của Phật A-súc.

    Này Ca-diếp! Quốc vương trước kia là tiền thân của Như Lai đây, pháp sư Giác Đức là tiền thân của Phật Ca-diếp.

    Nếu lúc chánh pháp sắp diệt phải nên hộ trì như vậy. Người hộ pháp được vô lượng quả báo, vì thế nên nay Như Lai được nhiều tướng tốt để tự trang nghiêm, thành tựu pháp thân không biến hoại.” 

    Thuở quá khứ Phật là một ông vua khéo hộ trì chánh pháp. Có vị Tỳ-kheo giữ giới tuyên bố không được nuôi tôi tớ, các vị Tỳ-kheo khác phạm nên ganh ghét vây đánh vị Tỳ-kheo ấy. Nhà vua mới đem binh đi cứu thì bị thương rồi chết, khi chết được sanh về cõi Phật A-súc, vị Tỳ-kheo được hỗ trợ cũng sanh về đó. Như vậy mới thấy người biết hộ pháp dù thân có khổ đến chết đi nữa thì công đức vẫn rất lớn.

    Phật kết thúc, nếu lúc chánh pháp sắp diệt phải nên hộ trì như vậy, người hộ pháp được vô lượng quả báu rộng lớn. Vì thế nên nay Như Lai được nhiều tướng tốt để tự trang nghiêm, thành tựu pháp thân không biến hoại. Đó là một ý nghĩa về hộ pháp, do hộ pháp nên được pháp thân tốt đẹp, trang nghiêm, không biến hoại.

    Ca-diếp Bồ-tát lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Thân chân thường của Như Lai cũng như khắc chạm vào đá.”

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Này Ca-diếp! Vì nhân duyên như vậy, nên Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di phải siêng năng hộ trì chánh pháp, hộ pháp được quả báo rộng lớn vô lượng.

    Này Ca-diếp! Vì những cớ ấy nên hàng Ưu-bà-tắc v.v... phải cầm binh khí ủng hộ vị Tỳ-kheo trì pháp như Giác Đức kia. Nếu cứ thọ trì ngũ giới chẳng đặng gọi là người Đại thừa. Vì hộ trì chánh pháp mà chẳng thọ ngũ giới mới gọi là người Đại thừa. Người hộ trì chánh pháp nên phải cầm binh khí hầu người thuyết pháp.”

    Vì nhân duyên đó nên Phật mới dạy cho hàng Ưu-bà-tắc Ưu-bà-di cầm vũ khí hộ trì các vị Tỳ-kheo trì giới trì pháp như Giác Đức kia. Nếu cứ thọ trì ngũ giới mà chẳng biết Đại thừa, chỉ giữ giới thân mình cho trọn mà không làm lợi ích cho người khác thì chưa trọn. Người hộ trì chánh pháp là người cầm binh khí bảo vệ cho người thuyết pháp để không bị kẻ ác hại. Ở những chùa Đại thừa thấy các vị hộ pháp cầm cung kiếm rất dữ tợn, đó là các vị Bồ-tát thị hiện hộ pháp, các ngài có thể cầm binh khí để hỗ trợ những người truyền giáo.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chư Tỳ-kheo làm bạn với hàng Ưu-bà-tắc cầm binh khí như vậy, là có thầy hay không có thầy? Là trì giới hay phá giới?”

    Phật nói: “Ông chớ nói những người ấy là phá giới.

    Này Ca-diếp! Sau khi ta nhập Niết-bàn, đời trược ác, cõi nước hoang loạn, đánh cướp lẫn nhau, nhân dân đói khổ. Bấy giờ có người vì đói khổ nên phát tâm xuất gia, người như vậy gọi là người trọc. Hạng trọc ấy thấy Tỳ-kheo thanh tịnh giữ giới oai nghi đầy đủ hộ trì chánh pháp, bèn xua đuổi hoặc giết hại.”

    Thời đói thì cướp chùa, cướp lương thực... cho nên Phật mới cho những người hộ pháp cầm binh khí để bảo vệ. Nếu không, họ sẽ chiếm hết những chỗ tu hành, làm cho không ai có phương tiện tu tập. Đó là cái nguy hại cho Phật pháp.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thời Tỳ-kheo trì giới hộ trì chánh pháp, làm thế nào đi vào tụ lạc thành ấp để giáo hóa?”

    Phật nói: “Vì vậy nên Như Lai cho phép Tỳ-kheo trì giới cùng làm bạn với hàng cư sĩ cầm khí giới (để ai giết hại có người bảo vệ) . Trong trường hợp trên đây, các quốc vương, đại thần, trưởng giả, Ưu-bà-tắc v.v... vì hộ pháp mà cầm binh khí. Như Lai gọi họ là người trì giới. Dầu cầm binh khí, nhưng chẳng nên giết chết người, nếu được như vậy thời được gọi là người trì giới bậc nhất.

    Cầm binh khí chỉ để dọa cho người ta sợ. Nghĩa là mình vẫn cầm binh khí hiện tướng ác mà không có tâm ác, mới được gọi là trì giới bậc nhất. Còn hiện tướng ác mà có tâm ác nữa thì chưa phải trì giới bậc nhất.

    Này Ca-diếp! Người đủ chánh kiến có thể giảng rộng kinh điển Đại thừa, trọn chẳng nắm cầm tàn lọng của hàng vương giả, bình dầu, gạo thóc, các thứ dưa trái. Chẳng vì lợi dưỡng mà thân cận vua,quan, trưởng giả. Đối với các đàn-việt tâm không dua vạy, đầy đủ oai nghi, phục trừ hạng ác phá giới, đây gọi là bậc thầy trì giới hộ pháp. Người này có thể làm chân thiện tri thức cho chúng sanh. Tâm người này rộng lớn như biển cả.

    Người đủ chánh kiến có thể giảng rộng kinh điển Đại thừa, trọn chẳng nắm cầm tàn lọng của hàng vương giả, bình dầu, gạo thóc, các thứ dưa trái. Tại sao? Vì đi với hàng vương giả thì họ có tôi tớ cầm lọng hoặc xách bình dầu xoa chân như ở Ấn Độ, như vậy mình trở thành tôi tớ cho họ sao. Cho nên trong kinh luật không dạy nhưng mình phải giảng rộng ra, để biết rằng đi chung với vương giả mình không nên cầm lọng. Bây giờ giả sử mình đi chung với cư sĩ, trời nắng quá, một vị ni hay vị tăng cầm dù che mình và che luôn người cư sĩ, hoặc xách giỏ giùm họ chẳng hạn. Theo đây thì Phật không cho, vì làm vậy vô tình mình là kẻ hầu.

    Chẳng vì lợi dưỡng mà thân cận vua quan, trưởng giả. Thân cận vua quan trưởng giả vì hộ pháp, không vì lợi dưỡng. Đối với các đàn-việt tâm không dua vạy. Nhiều khi vô tình hay cố ý chúng ta nói với Phật tử rằng “Sao lâu nay không thấy đến chùa”, “Cô (chị) trông phát tướng ra” v.v... hay họ nói gì thì mình vô tình phụ họa theo cho đó là hay là phải, đó là dua vạy. Đầy đủ oai nghi, phục trừ hạng ác phá giới, đây gọi là bậc thầy trì giới hộ pháp. Người này có thể làm chân thiện tri thức cho chúng sanh. Tâm người này rộng lớn như biển cả. Dù mình có quen với bậc vua chúa, nhà giàu mà không nịnh bợ họ, không vì lợi dưỡng, tức là chỉ vì sự hộ pháp, truyền bá đạo pháp mà thôi, người như vậy mới thật là thiện tri thức của chúng sanh, mới thật là người có tâm rộng lớn như biển cả.

    Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo vì cầu lợi mà thuyết pháp cho người. Đồ chúng quyến thuộc của Tỳ-kheo này cũng bắt chước thầy mà cầu lợi. Tỳ-kheo này bèn là tự phá hoại tăng chúng.

    Có lần một người mời tôi thuyết pháp, nói: “Thuyết pháp để kiếm một ít, chùa lúc này thiếu quá.” Như vậy thì vì cái gì mà thuyết pháp? Mình không biết làm sao từ chối được, cũng phải thuyết pháp. Vị thầy mà mỗi lần chùa thiếu thốn lại tổ chức thuyết pháp thì học trò sau này cũng sẽ như vậy. Thế là vô tình mình phá hoại tăng chúng, đó là cầu lợi. Cho nên làm việc gì hãy dè dặt, nghĩ đến chúng sanh, vì chúng sanh, vì đạo mà thôi. Đừng nghĩ đến lợi, dù lợi đó cho chung một nhóm người cũng không cần nghĩ, mới là hay.

    Này Ca-diếp! Tăng chúng có ba hạng: một là phạm giới tạp tăng, hai là ngu si tăng, ba là thanh tịnh tăng. Hạng phá giới tạp tăng thời dễ phá hoại. Hạng tăng thanh tịnh trì giới thời lợi danh không làm hư hoại được.

    Thế nào là phá giới tạp tăng? Nếu thầy Tỳ-kheo dầu là giữ gìn giới cấm, mà vì cầu lợi nên cùng với người phá giới ở chung, ngồi chung, đi chung, sự nghiệp chung, đây gọi là phá giới cũng gọi là tạp tăng.

    Phạm giới tạp tăng thì dễ bị người ta phá hoại, còn hạng thanh tịnh tăng thì không ai phá hoại được. Dù mình giữ giới đàng hoàng còn thầy cô kia phá giới, nhưng mình cũng theo hùn với họ khi thấy có quyền lợi khá khá, họ xấu kệ họ miễn sao có lợi cho chùa mình thôi, hùn hạp với họ thì phải đi chung, ở chung, làm việc chung, đây gọi là phá giới cũng gọi là tạp tăng.

    Thế nào là ngu si tăng? Nếu có Tỳ-kheo ở nơi a-lan-nhã, tâm trí tối khờ đần độn, thiểu dục đi khất thực. Đến ngày thuyết giới, ngày tự tứ, bảo các đệ tử thanh tịnh sám hối.

    Người ta không có tội lỗi bắt người ta sám hối, như vậy là mình đần độn.

    Thấy người không phải đệ tử phạm giới không có thể bảo thanh tịnh sám hối, mà bèn chung thuyết giới tự tứ. Đây gọi là hạng ngu si tăng.

    Đệ tử mình thì bắt sám hối, những người không phải đệ tử mình phạm tội, không bắt họ sám hối mà vẫn thuyết giới tự tứ với họ thì đó gọi là ngu si tăng.

    Thế nào là thanh tịnh tăng? Có Tỳ-kheo tăng không bị trăm ngàn loài ma làm trở hoại. Đại chúng Bồ-tát này bản tánh thanh tịnh, có thể điều phục hai bộ chúng trên làm cho đều an trụ trong chúng thanh tịnh. Đây gọi là bậc đại sư hộ pháp vô thượng.

    Có Tỳ-kheo tăng, ma nào cũng không động đến họ được. Đại chúng Bồ-tát này bản tánh thanh tịnh, có thể  điều phục hai bộ chúng trên làm cho đều an trụ trong chúng thanh tịnh . Hai hạng trên là hạng ngu si tăng và hạng phá giới tạp tăng. Người điều phục được hai hạng đó gọi là bậc đại sư hộ pháp vô thượng .

    Người khéo trì luật vì muốn điều phục lợi ích chúng sanh, rõ biết hành tướng hoặc khinh hoặc trọng của giới, không phải luật thời không chứng biết, còn phải là luật thời bèn chứng biết.

    Cái nào phải luật thì biết phải luật, cái nào biết không phải luật thì biết không phải luật.

    Thế nào là điều phục lợi ích chúng sanh? Nếu là Bồ-tát vì giáo hóa chúng sanh mà thường vào xóm làng chẳng chọn thời tiết, hoặc đến nhà của góa phụ, dâm nữ mà cùng ở chung nhiều năm. Đây gọi là điều phục lợi ích chúng sanh. Nếu là hàng Thanh văn thời không nên làm như vậy.

    Nếu thật là Bồ-tát thì mới có quyền làm như thế, còn Thanh văn thì không nên làm.

    Thế nào gọi là giới trọng? Nếu thấy đức Như Lai nhân sự chế giới, từ ngày nay ông phải cẩn thận chớ lại phạm, như bốn giới trọng người xuất gia không nên làm mà bèn cố ý làm là không phải thầy Sa-môn, không phải hàng Thích tử, đây gọi là trọng.

    Thế nào là giới khinh? Nếu phạm tội nhẹ, ba lần can gián, nếu hay bỏ được, đây gọi là khinh.

    Chẳng phải luật không chứng biết, là khi có người khen nói những vật không thanh tịnh nên thọ dùng thời không ở chung với người ấy.

    Được can gián liền bỏ gọi là giới khinh. Chẳng phải luật không chứng biết là khi có người khen nói những vật không thanh tịnh nên thọ dụng, thời không ở chung với người ấy.

    Phải là luật thời chứng biết, là khéo học giới luật, chẳng gần người phá giới, thấy ai thật hành thuận với giới luật thời lòng vui mừng, khéo hay giải thuyết thế nào là chỗ làm của Phật pháp, đây gọi là luật sư. Khéo hiểu nhất tự, khéo gìn khế kinh cũng lại như vậy.

    Này Ca-diếp! Phật pháp vô lượng chẳng thể nghĩ bàn. Như Lai cũng vậy chẳng thể nghĩ bàn.”

    Khéo hiểu nhất tự, khéo gìn khế kinh cũng lại như vậy . Điều nào phải luật thì mình theo, mình khuyến khích, điều nào không phải luật thì tránh xa, như vậy mới gọi là người biết giới luật.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Đúng như lời đức Phật dạy, Phật pháp vô lượng chẳng thể nghĩ bàn. Như Lai cũng vậy chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế nên biết Như Lai thường trụ chẳng biến đổi chẳng hư hoại. Nay con khéo học và cũng sẽ giảng rộng cho người về nghĩa ấy.”

    Đến đây ngài Ca-diếp đã biết Phật thường trụ, đã biết được Như Lai không biến hoại rồi nên ngài hứa sẽ dạy cho người nghĩa ấy.

    Phật khen Ca-diếp Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Thân Như Lai là thân kim cang bất hoại. Bồ-tát phải khéo học như vậy, thấy chân chánh biết chân chánh như vậy. Nếu có thể thấy biết rành rẽ như vậy, thời là thấy thân kim cang không hư hoại của Phật, như thấy hình sắc trong gương sáng.”

    Phật đã phân tích rõ ràng không còn ngờ vực. Ở đây nói thân kim cang bất hoại là chỉ cho pháp thân, mà muốn có pháp thân phải thật tâm hộ trì chánh pháp, nhất là hộ trì chánh pháp Đại thừa Niết-bàn này. Đó là nguyên nhân gốc để được thân kim cang bất hoại.

  • 6. Phẩm Tứ Y

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Trong kinh Đại Niết-bàn vi diệu này có bốn hạng người hay hộ trì chánh pháp, kiến lập chánh pháp, ức niệm chánh pháp. Thương xót và làm lợi ích an lạc nhiều cho thế gian và làm chỗ nương tựa cho thế gian:

    Phần này Phật dạy có bốn hạng người làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sanh, hay hộ trì chánh pháp tức là gìn giữ bảo hộ chánh pháp, kiến lập chánh pháp nghĩa là dựng lập làm cho người ta thấy và hiểu chánh pháp, ức niệm chánh pháp, là ghi nhớ giỏi chánh pháp. Những người đó tự mình hộ trì, tự mình dựng lập cho mọi người thấy hiểu, tự mình gìn giữ nhớ mãi không quên, thương xót và làm lợi ích an lạc nhiều cho thế gian và làm chỗ nương tựa cho thế gian. Hạng người đó là ai?

    Một là bậc xuất thế đủ tánh phiền não.

    Hai là bậc Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm.

    Ba là bậc A-na-hàm.

    Bốn là bậc A-la-hán.

    Bốn hạng người trên đây hiện ra nơi đời, có thể xót thương làm nhiều điều lợi ích an lạc cho thế gian, cho trời, cho người, làm chỗ y chỉ cho thế gian.

    Thế nào gọi là đủ tánh phiền não? Nếu có người hay phụng trì giới cấm, đầy đủ oai nghi, kiến lập chánh pháp. Nghe hiểu lời Phật dạy, rồi đem phân biệt tuyên thuyết cho người khác. Chỗ gọi rằng thiểu dục là đạo, đa dục không phải đạo. Rộng giảng nói tám điều giác ngộ của bậc đại nhân như vậy. Có ai phạm tội thời chỉ bảo cho phát lồ sám hối để trừ tội. Khéo biết pháp bí mật của Bồ-tát phương tiện ra làm. Hạng người này gọi là phàm phu chứ không phải người bậc thứ tám. Người bậc thứ tám không phải phàm phu gọi là Bồ-tát, không gọi là Phật.

    Phật giải thích hạng người thứ nhất: Tự mình phụng trì giới cấm, đầy đủ oai nghi mà lại kiến lập chánh pháp. Nghe hiểu lời Phật dạy, rồi đem phân biệt tuyên thuyết cho người khác . Bảo cho người ta biết thiểu dục tri túc là hợp đạo, còn ham cầu nhiều thì không phải đạo. Giảng rộng Bát đại nhân giác cho người ta hiểu, ai phạm tội thời chỉ bảo cho sám hối để trừ tội. Khéo biết pháp bí mật của Bồ-tát phương tiện làm ra. Hạng người này là phàm phu chứ không phải người bậc thứ tám, tuy phàm phu còn đủ tánh phiền não mà khéo hộ trì chánh pháp, giảng dạy chánh pháp, hướng dẫn người từ bỏ tội lỗi và biết phương tiện khéo léo của Bồ-tát.

    Người bậc thứ tám tức là Bát địa Bồ-tát không phải phàm phu, gọi là Bồ-tát mà chưa phải là Phật. Ở đây hạng người này tuy là phàm phu nhưng có những tư cách siêu xuất thế gian, vì vậy nói những hạng người xuất thế mà còn đủ tánh phiền não .

    Hạng thứ hai là bậc Tu-đà-hoàn và bậc Tư-đà-hàm. Hạng này nếu được chánh pháp thời thọ trì chánh pháp. Nghe pháp nơi Phật, đúng theo chỗ đã được nghe bèn biên chép, thọ trì, đọc tụng, rồi nói lại cho người khác. Không bao giờ hạng người này nghe pháp rồi mà không chép, không thọ, không nói, và cũng không bao giờ nói Phật cho chứa vật bất tịnh như tôi tớ v.v... Hạng thứ hai đây chưa được bậc thứ ba. Trụ nơi bậc thứ ba gọi là Bồ-tát, đã được thọ ký.

    Hạng người thứ hai là bậc Tu-đà-hoàn và bậc Tư-đà-hàm. Khi nghe rồi tự mình chép, thọ, nói lại cho người. Và không bao giờ nói trái giới luật của Phật. Tuy hạng này chưa phải trụ được bậc thứ ba nhưng cũng là hạng vượt khỏi người thường. Nếu trụ được bậc thứ ba tức là Bồ-tát đã được thọ ký. Hạng này coi như là Bồ-tát mà chưa được thọ ký.

    Hạng người thứ ba gọi là bậc A-na-hàm. Bậc này không có những việc phỉ báng chánh pháp, cho chứa tôi tớ các vật bất tịnh, thọ trì sách luận ngoại đạo; cũng không bị khách trần phiền não làm chướng, cựu phiền não che ngăn; cũng không giấu chân thật xá-lợi của Như Lai (xá-lợi chân thật của Phật tức là pháp thân; lúc nào cũng diễn bày để người ta nhận được tin được có pháp thân) ; không bị bệnh ngoài làm não hại, không bị bốn thứ rắn độc xâm nhiễu mà luận nói là ngã. Thường nói lý vô ngã. Không bao giờ nói tham luyến thế pháp, mà thường nói pháp Đại thừa nối luôn không dứt. Thân thế của vị này không có tám vạn hộ trùng, đã lìa hẳn dâm dục, nhẫn đến trong giấc mộng chẳng chảy bất tịnh. Lúc sắp chết không sợ hãi. A-na-hàm nghĩa là gì? Vị này không còn trở lại những sự lỗi lầm không làm nhơ nhớp được người, là bậc Bồ-tát đã được thọ ký, sắp sẽ thành bậc Vô thượng Chánh giác. Đây gọi là hạng thứ ba.

    Hạng người thứ ba là bậc A-na-hàm. Bậc A-na-hàm không làm những việc phỉ báng chánh pháp, cho chứa tôi tớ, chứa những vật bất tịnh và cho đọc sách luận ngoại đạo; không bị phiền não che đậy, thường diễn nói cho người tin nhận pháp thân; không bị bệnh ngoài làm não hại, tứ đại không còn lấn hiếp lẫn nhau, cho nên không nói thân tứ đại này là ngã. Không bao giờ nói những chuyện tham luyến theo pháp thế gian, mà chỉ nói pháp Đại thừa lúc nào cũng còn mãi không dứt.

    Hạng người thứ ba là chỉ cho bậc Bồ-tát được thọ ký. Hạng người thứ hai là Bồ-tát chưa được thọ ký. Hạng người thứ nhất mới phát tâm Bồ-đề chưa được là Bồ-tát.

    Hạng người thứ tư là bậc A-la-hán. Bậc này dứt hẳn phiền não, giải thoát sanh tử, việc làm đã xong là Bồ-tát trụ địa thứ mười, đặng trí huệ tự tại, có thể hiện bất cứ thân hình nào mà mọi loài ưa thích. Muốn thành Phật liền có thể được thành. Trọn nên vô lượng công đức như vậy nên gọi là A-la-hán.

    Hạng người thứ tư là bậc A-la-hán . Hạng người này là Thập địa Bồ-tát, có thể muốn thành Phật cũng được, muốn hóa độ chúng sanh cũng được, tùy ý tự tại không bị chướng ngăn, cho nên gọi là A-la-hán.

    Trên đây là bốn hạng người xuất hiện nơi đời, xót thương người đời, đem nhiều lợi ích an vui cho thế gian, là chỗ thế gian nương tựa, là bậc rất tôn quý của cõi trời, cõi người, không khác gì đức Như Lai.” 

    Bốn hạng người đó là bốn hạng người đáng cho chúng sanh nương tựa, có họ ra đời như có Phật ra đời. Chúng ta nhờ vào đó để tiến tu, được giải thoát.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nay con không nương tựa nơi bốn hạng người ấy. Vì rằng trong kinh Cù-sư-la, đức Phật từng bảo ông Xà-sư-lê: Nếu có thiên ma vì muốn phá hoại chánh pháp mà biến ra hình Phật, đủ cả tướng tốt oai nghiêm, cũng viên quang, cũng bạch hào, ông phải kiểm giảo là giả hay thật. Đã rõ là ma thời phải hàng phục.

    Bạch Thế Tôn! Bọn ma còn biến làm thân Phật được huống là thân của bốn hạng người trên với những thần thông: nằm ngồi giữa hư không, nách bên tả tuôn nước, nách bên hữu phun lửa, cả thân ra khói lửa v.v... Vì lẽ ấy nên lời tuyên nói của các hạng người trên đây, lòng con không dám tin cùng bẩm thọ, con cũng không có quan niệm kính mến để nương tựa theo.” 

    Bồ-tát Ca-diếp nghi ngờ, ngài nói rằng Phật từng nói sau này có những loài thiên ma Ba-tuần sẽ biến hiện hình Phật v.v... phá hoại chánh pháp. Phật bảo con nương vào bốn hạng người trên, biết đâu là ma hóa ra, con nghe lời bị lầm thì làm sao? Vì vậy con không thể tin được bốn hạng người trên.

    Đức Phật dạy: “Này Ca-diếp! Cho đến đối với lời nói của Như Lai mà có lòng nghi ngờ còn không nên thọ trì, huống là lời của các hạng người ấy. Vì thế nên phải khéo phân biệt cho rõ là lành hay chẳng lành, nên làm hay chẳng nên làm. Được như vậy mới có kết quả an lạc lâu dài.

    Phàm lời nói của Phật mà nghi ngờ không hiểu còn không nên thọ trì, huống là lời của các hạng người trên. Lời nói phải nhận cho thật kỹ, cho đúng đắn rồi mới tin làm, được như vậy mới có kết quả an lạc lâu dài.

    Này Ca-diếp! Ví như con chó gian trộm, đêm tối lén vào nhà người, người trong nhà nếu hay được phải liền la đuổi, chó ấy sợ bỏ đi không dám trở lại. Cũng thế, từ nay các ông phải theo cách ấy mà trị loài thiên ma. Bảo thiên ma rằng: Này Ba-tuần, nhà ngươi không được đối hiện ra các thân hình ấy, nếu còn hiện, ta sẽ dùng năm món trói buộc để trói nhà ngươi. Ma nghe rồi sẽ bỏ đi không trở lại phá nữa.” 

    Phật ví dụ ma tới phá cũng như chó trộm lén vào nhà, mình là chủ nhà thấy la lên thì nó hoảng sợ bỏ chạy, có gì đâu mà sợ. Tại tật mình thấy chó hoảng sợ quấn mền kín mít thì nó ăn hết của mình. Đối với ma cũng vậy, nếu khiếp sợ thì nó hoành hành làm chủ mình. Nếu mình rầy, ngươi không đi ta sẽ dùng năm món trói buộc. Nghe vậy nó sẽ hoảng sợ chạy. Phần này Phật mới nói đuổi đi mà chưa nói lý cao siêu của Đại thừa.

    Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như Phật vì ông Cù-sư-la mà dạy rằng: Nếu có thể hàng phục thiên ma như vậy thời cũng có thể được gần đại Niết-bàn. Thế thời đức Như Lai cần gì nói bốn hạng người trên đây là chỗ quy y của mọi người. Lời nói của bốn hạng người trên đây chưa ắt đáng tin.” 

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Như Lai vì hàng Thanh văn nhục nhãn mà nói là hàng phục loài thiên ma. Chớ chẳng phải vì người tu học Đại thừa mà nói. Hàng Thanh văn dầu có thiên nhãn, nhưng vẫn gọi là nhục nhãn. Người tu học Đại thừa, dầu có nhục nhãn nhưng gọi là Phật nhãn. Vì kinh điển Đại thừa gọi là Phật thừa, là trên tất cả và hơn tất cả.

    Tại sao Thanh văn có thiên nhãn mà Phật vẫn gọi là nhục nhãn, còn người học Đại thừa tuy là nhục nhãn phàm phu mà gọi là Phật nhãn? Bởi vì hàng Thanh văn có thiên nhãn thấy xa v.v... nhưng chưa thấy được pháp thân. Bởi chưa thấy pháp thân nên thấy các pháp còn trong vòng đối đãi, có sanh tử đáng sợ, có Niết-bàn đáng cầu, tuy nói có thiên nhãn mà chưa thoát ra tương đối. Hàng học Đại thừa dù còn phàm phu nhưng nhận ra được pháp thân Phật tánh. Như vậy là thấy được Phật, cho nên gọi là Phật nhãn.

    Này Ca-diếp! Ví như vị đại kiện sĩ khuyên bảo những người nhút nhát theo mình rằng: Các ngươi phải học tập bắn cung múa kiếm như thế này, phải có dạn dĩ đừng khiếp sợ, xem ai cũng yếu kém chỉ có mình là mạnh mẽ. Nếu có kẻ vốn hèn yếu giả là lực sĩ mang cung đeo kiếm đến dọa nạt hò hét, ngươi chớ lo sợ, kẻ dối giả ấy thấy ngươi không có vẻ kinh hãi tất sẽ tự rút lui không dám khuấy phá, như con chó gian trộm kia.

    Vị đại kiện sĩ khuyên những người nhút nhát theo mình rằng: Các ngươi phải học tập bắn cung múa kiếm như thế này, phải dạn dĩ đừng khiếp sợ, xem ai cũng yếu kém chỉ có mình là mạnh mẽ. Đây là lối tự kỷ ám thị, cho rằng ai cũng thua mình để làm cho mình mạnh hơn. Vì sao mà dùng thuật này? Vì nhút nhát thấy ai cũng run sợ thì làm sao đánh lại người ta. Cho nên phải tưởng như ai cũng thua, cũng yếu kém hơn mình, lúc đó mới mạnh dạn lên. Phương pháp này dạy cho người nhút nhát.

    Ngày xưa, các thầy khi tập giảng cũng được dạy lối này. Vì là người mới học giảng, biết người nghe có lắm người tài giỏi hơn mình, sợ họ bẻ thì không biết làm sao, nên khi ra giảng, đánh trống treo cờ, phải coi như tất cả ai cũng thua mình hết, gọi là “mục hạ vô nhân”, để dạn ăn dạn nói. Đó là một phương tiện đối với những kẻ sơ cơ nhút nhát. Những người kinh điển nằm lòng, thao thao bất tuyệt, hỏi đâu đáp đó thì đâu cần dùng những thuật đó nữa.

    Này Ca-diếp! Cũng thế, đức Như Lai bảo hàng Thanh văn chớ sợ ma Ba-tuần. Nếu ma Ba-tuần hiện hình Phật đến trước các ông, thời các ông phải tinh tấn gìn chánh niệm cho vững chắc, ma kia tất lo sầu mà bỏ đi.

    Đừng sợ, cứ ráng giữ gìn chánh niệm vững chắc thì ma nó sợ mình. Đó là phương tiện Phật dạy.

    Này Ca-diếp! Như vị đại kiện sĩ không bắt chước ai, người học Đại thừa cũng vậy. Khi được nghe các kinh điển thâm mật, lòng họ vui thích không hề kinh sợ. Vì người tu học Đại thừa ấy từ trước đã từng cúng dường, cung kính, lễ bái vô lượng muôn ức đức Phật. Dầu có vô số loài ma muốn đến phá khuấy, cũng không chút kinh sợ.

    Ví như người được thuốc A-già-đà thời không sợ tất cả rắn độc, và sức thuốc ấy cũng trừ được tất cả chất độc. Kinh điển Đại thừa cũng vậy, không sợ tất cả loài ma độc mà lại có thể hàng phục loài ma, không cho nó làm quấy.

    Tôi lấy kinh nghiệm bản thân. Lúc mới tập tu thiền có một số quý thầy cứ nói ngồi thiền thấy ma hiện thế này thế kia. Họ kể chục thứ ma. Có vị nói ngồi thiền ban đêm giữa chùa thình lình có một cánh tay từ trên thòng xuống, một lát lại có một cái chân, một bắp đùi thòng xuống làm rởn ốc tu không được, phải bỏ chạy. Mới nghe tôi cũng hơi ngán, không biết làm sao. Nhưng khi hiểu tinh thần Đại thừa thì hết ngán. Tại sao? Bởi vì tam giới duy tâm, không pháp nào ngoài tâm mà có. Chính Phật cũng từ tâm mà ra huống nữa là chúng sanh, ma quái. Mình tin tâm thì các pháp không có gì đáng sợ hết. Vì còn thấy ngoài tâm có pháp nên kinh sợ, sợ cái bên ngoài. Không có gì có thể quấy nhiễu mình nếu biết tất cả pháp hiện ra đều từ tâm. Trong cuốn “Thiền đạo tu tập” kể một vị thiền sư ngồi thiền, thấy có con nhện hiện đằng trước, từ từ nó đến gần sờ sờ một bên đuổi hoài không đi, tức quá ngồi không yên. Gặp vị thầy bảo quán cách này cách kia đủ thứ cũng không được. Rốt cuộc ông nghĩ chỉ còn cách là đâm nó chết. Nó chết rồi mình có tội nhưng còn tu được, còn để như vậy chướng ngại tu không được. Vị thầy mới bảo: “Thôi, tối ngồi thiền thấy nó hiện ra, chú lấy phấn gạch chữ thập lên trên bụng nó rồi mai trở lại đây.” Tối ngồi thiền thấy nó hiện lên, ông lấy phấn gạch chữ thập đàng hoàng. Mai lại trình thầy, vị thầy bảo giở bụng coi, thấy chữ thập gạch trên bụng mình. Như vậy con nhện từ đâu mà ra, nếu đâm nó thì mình chết rồi! Rõ ràng Phật nói tất cả các pháp đều từ tâm mà ra, mình tưởng thật ở bên ngoài rồi sanh chướng. Ma hay cái gì hiện ra là từ tâm, cứ nhắm mắt thanh tịnh tâm là hết. Ngoài tâm không có một pháp thì làm gì có ma ngoài mình. Hiểu như vậy thì không có gì sợ, không có ma nào phá hoại được. Như có một vị thuốc hay nhất, tất cả loài rắn đều trị được, kinh điển Đại thừa có thể hàng phục các ma.

    Này Ca-diếp! Ví như loài độc long lúc muốn hại ai, hoặc lấy mắt độc nhìn, hoặc dùng miệng hà hơi độc. Tất cả muông thú sư tử, cọp, sói đều kinh sợ độc long, nếu suông nhằm hơi độc thời đều bị hại. Có người giỏi thần chú có thể điều phục loài độc long cùng các ác thú, dùng làm con vật để cưỡi. Cũng vậy, người học Đại thừa thấy hàng Thanh văn sợ những sự làm hại của ma Ba-tuần, đối với pháp Đại thừa không chịu tin, bèn dùng phương tiện hàng phục loài ma trước, rồi nhân đó rộng nói các môn diệu pháp. Hàng Thanh văn kia thấy đã hàng phục được loài ma nên hết sợ, mới có lòng tin đối với chánh pháp vô thượng của Đại thừa, và bảo nhau rằng: Từ nay trở đi, ở nơi trong pháp Đại thừa chúng ta chớ có làm chướng ngại.

    Những vị tu học Đại thừa muốn giáo hóa hàng Thanh văn. Vì hàng Thanh văn khiếp sợ ma, không tin Đại thừa, các ngài mới hiện ra cách điều phục ma để các hàng Thanh văn vững niềm tin. Hàng Thanh văn kia thấy ma bị hàng phục nên hết sợ, mới có lòng tin đối với chánh pháp vô thượng Đại thừa, và bảo nhau rằng: Từ nay trở đi, ở trong pháp Đại thừa chúng ta chớ có làm chướng ngại.

    Chúng ta tu theo pháp Đại thừa có sợ ma không? Ráng tập, nhận ra tất cả các pháp không có gì ngoài tâm mà có, cứ trở về với tâm bất sanh bất diệt đó thì không pháp nào hại được. Thân mình còn không thật, huống gì cái bóng hiện ra làm sao thật mà sợ?

    Này Ca-diếp! Hàng Thanh văn cùng Duyên giác rất sợ phiền não. Người học Đại thừa đều không sợ phiền não. Vì người học Đại thừa có oai lực như vậy, nên lời ta nói thuở trước chính là để khuyến khích hàng Thanh văn cùng Duyên giác điều phục các loài ma, chứ chẳng phải nói với người học Đại thừa.

    Nếu thật là người học Đại thừa không sợ ma cũng không sợ phiền não. Tại sao? Nếu phiền não dấy lên biết tự tánh nó là không, đã là không thì còn gì nữa mà sợ. Hàng Nhị thừa thấy có tham sân si thật nên sợ, tìm đủ cách hàng phục, như có người nói: Mình tu là cốt phải chiến thắng giặc phiền não, nghĩa là đừng để cho nó làm chủ, đánh gục mình. Có người lại nói, tu hành không cần dẹp phiền não. Người nói chiến đấu nghe có vẻ mạnh mẽ lắm. Tại vì thấy có phiền não thật nên phải chiến đấu chết sống với nó. Người đó thấy phiền não và Bồ-đề khác nhau. Còn người nói không cần dẹp phiền não vì đã thấy tự tánh phiền não là không.

    Vô minh thật tánh tức Phật tánh, huyễn hóa không thân tức pháp thân . Tánh thật của vô minh tức Phật tánh rồi thì còn gì nữa mà hàng phục, mà chiến đấu! Chỉ cần biết tánh của nó là không thật thì đã là dẹp rồi. Đại thừa coi việc dẹp phiền não rất thường, không sợ sệt, biết nó là không thật, là huyễn.

    Như trên màn hình hiện ra một người hung dữ cầm súng ngắm bắn ra. Đứa con nít tưởng thật núp tránh vì sợ bắn trúng nó. Người lớn thấy cười chứ không sợ, không né tránh gì hết. Tại sao? Vì người lớn biết là huyễn, là bóng thôi. Cũng vậy, hàng Nhị thừa thấy các pháp là thật, thấy bên này là phiền não, bên kia là Bồ-đề, bên này là sanh tử bên kia là Niết-bàn, nên sợ, phải hàng phục. Hàng Bồ-tát biết ngay vô minh không tự tánh thì tánh Phật hiện ra. Vô minh ấy là huyễn hóa không thật, như hình ảnh trong phim. Người học Đại thừa không sợ phiền não là vậy. Không sợ không có nghĩa là không hàng phục, vì phiền não là không nên hàng phục mà không hàng phục. Thanh văn vì thấy có nên phải mạnh mẽ mà hàng phục. Đó là hai quan niệm khác nhau.

    Kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn đây rất kỳ lạ, rất đặc biệt. Nếu có người được nghe mà kính tin thọ trì cùng tin chắc Như Lai là pháp thường tru, thời người này rất là hy hữu như hoa ưu-đàm. Sau khi Như Lai vào Niết-bàn, nếu có người được nghe kinh điển vi diệu Đại thừa này mà sanh lòng kính tin, nên biết người này trăm ngàn ức kiếp về sau không bị sa vào ác đạo.

    Nghe kinh điển Đại Niết-bàn mà tin chắc chắn không còn ngờ vực nữa thì người đó nhất định muôn ngàn ức kiếp về sau không bị sa vào ác đạo. Bởi vì tin được Như Lai thường trụ, tin mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, tức là tin được pháp thân bất diệt, đó mới là cứu cánh. Tin như thế thì không còn tham đắm những cái vui trong sanh tử. Nương nơi đó mà khởi tu thì gọi là kiến tánh khởi tu, nương nơi đó mà chứng được pháp thân viên mãn. Đó là tinh thần của Đại thừa.

    Này Ca-diếp! Sau khi ta vào Niết-bàn, sẽ có vô lượng chúng sanh chẳng tin và chê bai kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này.” 

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ chừng bao lâu sẽ có hạng người chê bai ấy? Và có bậc thuần thiện nào cứu vớt dược kẻ chê bai ấy chăng?” 

    Phật nói sau này sẽ có người chê bai kinh điển Đại thừa. Nhưng khoảng bao lâu có người chê bai và có ai cứu vớt họ không? Đó là câu hỏi của ngài Ca-diếp.

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Sau khi ta vào Niết-bàn trong khoảng bốn mươi năm, kinh này sẽ được lưu bố rộng trong cõi Diêm-phù-đề, rồi sau sẽ ẩn mất trong đất.

    Này Ca-diếp! Như xứ nào có gạo thơm, mía, đường, sữa, đề hồ, người xứ ấy tất cho các thực phẩm ấy là món ăn ngon nhất. Nếu chốn nào mà người bản xứ chỉ ăn ròng những gạo hẩm, hột cỏ, tất họ cũng sẽ cho món họ ăn là ngon nhất, vì đây là những người bạc phước, nghiệp báo của họ khiến như vậy. Nếu là người có phước đức lớn, thời chỉ hưởng những thực phẩm quý: cơm ngon, mía, đường, sữa, đề hồ, trọn đời không nghe đến tên cơm hẩm, hột cỏ.

    Cũng vậy, đối với kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn đây, hàng Nhị thừa độn căn bạc phước chẳng ưa chẳng thích, còn người học Đại thừa thời kính tin vui mừng khi đã được nghe.

    Sau khi Phật Niết-bàn khoảng bốn mươi năm, kinh này sẽ được truyền bá khắp trong cõi Diêm-phù-đề và sau ẩn mất.

    Phật ví dụ xứ nào có thức ăn ngon thì dân chúng cho thức ăn đó là ngon nhất, còn những xứ vô phước họ chỉ có những thứ gạo hẩm, hột cỏ thì họ cũng cho những thứ đó là ngon nhất. Đó là tùy theo phước nhiều ít của mỗi xứ. Như cơm Ấn Độ bời rời chúng ta thấy khó ăn, nhưng người ta ăn thấy ngon. Tại sao? Tại xứ mình ăn cơm ngon quen rồi, qua đó ăn thấy dở. Nhưng khi qua Nhật lại thấy cơm mình dở hơn. Bên ấy đậu hũ, cơm gạo gì cũng thấy ngon hơn của mình. Đó là tùy phước của mỗi xứ mà có món ngon khác nhau. Cũng vậy, giáo lý mà hàng Thanh văn cho là cao siêu thì Bồ-tát cho là thấp, giáo lý mà Bồ-tát cho là cao siêu thì hàng Thanh văn không biết được vì chưa từng nghe. Những vị Thanh văn ít phước nên không thích những kinh điển Đại thừa, còn hàng Bồ-tát vì phước dày cho nên thích kinh điển Đại thừa.

    Này Ca-diếp! Ví như có một vị quốc vương ở trong núi hiểm trở, dầu có mía, đường, gạo, nếp, nhưng vì khan hiếm nên không dám ăn, cứ lo chứa cất, mà chỉ ăn những rau cỏ. Vua nước láng giềng nghe biết vừa thương vừa cười, bèn cho xe chở gạo, nếp, mía, đường sang biếu tặng. Quốc vương được tặng phẩm liền phân phát cho nhân dân cả nước cùng ăn. Nhân dân được ăn đều vui mừng và nói rằng nhờ vua láng giềng mà chúng ta được món ăn rất ngon lạ.

    Này Ca-diếp! Bốn hạng người y chỉ trên đây cũng vậy, là đại tướng của pháp Đại thừa vô thượng. Trong bốn hạng người này, hoặc có một người thấy xứ khác có vô lượng Bồ-tát dầu học kinh điển Đại thừa, hoặc biên chép, hoặc khuyên bảo người biên chép, nhưng vì lợi dưỡng, vì danh vị, vì tự độ, vì y chỉ, nên đem đổi các kinh điển khác, mà không đem pháp Đại thừa tuyên dạy cho mọi người, bèn đem kinh Đại Niết-bàn gửi tặng cho các vị Bồ-tát ấy, cho các vị này phát tâm và an trụ nơi đạo Bồ-đề vô thượng. Vị Bồ-tát ấy khi được kinh này rồi, liền đem tuyên dạy lại mọi người, làm cho vô lượng chúng sanh đặng lãnh thọ pháp vị Đại thừa, mọi người đều nhờ nơi sức của một vị Bồ-tát này mà được nghe thứ kinh vi diệu chưa từng nghe. Như nhân dân trong nước kia, nhờ sức vua mà được hưởng các thức ăn ngon lạ.

    Phật dùng một ví dụ khác. Ông vua ở một xứ nghèo khan hiếm thức ăn, có chút ít thì để dành không dám ăn. Vua nước láng giềng giàu bèn sai người chở những lúa nếp ngon qua cho. Dân chúng được ăn vui mừng, mang ơn ông vua bên ngoài có lòng tốt. Cũng vậy, có những người có kinh điển Đại thừa mà không biết dùng, vì lợi dưỡng nên đổi lấy kinh khác. Sau phải nhờ những vị khác tặng kinh điển Đại thừa cho, mới phát tâm dạy những người khác, khiến họ nghe được kinh điển Đại thừa chưa từng được nghe. Đây chỉ cho hàng Thanh văn có khi biết được chút ít và những Bồ-tát có tâm lượng rộng lớn, tự mình biết được pháp Đại thừa, rồi biên chép và dạy bảo những người khác để cho họ được biết. Như vậy bốn hạng người ở trên là bốn hạng người đáng nương tựa. Đó là chỉ cho những người có tâm lợi tha, khi mình được món ngon cũng muốn chia sớt cho người cùng hưởng.

    Này Ca-diếp! Phàm chỗ nào có kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này lưu bố, phải biết chốn ấy là kim cang, người ở chỗ ấy cũng như kim cang. Người được nghe kinh này thời chẳng thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh giác, đều được thành tựu những điều mong muốn. Như những điều mà Như Lai đã tuyên nói đây, chư Tỳ-kheo phải khéo thọ trì. Chúng sanh nào không nghe được kinh điển này thời thật là hạng đáng thương hại, vì họ không thọ trì được nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa như thế này.” 

    Phàm chỗ nào có kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này lưu bố, phải biết chốn ấy là kim cang, người ở chỗ ấy cũng như kim cang . Vì nếu mình trực nhận được pháp thân, trực nhận được Phật tánh thì pháp thân bất sanh bất diệt, Phật tánh bất sanh bất diệt tức là kim cang. Pháp thân trùm khắp tất cả thì chỗ nào không phải kim cang. Người được nghe kinh này thời không thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh giác, đều được thành tựu những điều mong muốn . Phật khuyên chư Tỳ-kheo phải khéo thọ trì . Chúng sanh nào không nghe được kinh điển này thời thật là hạng đáng thương hại, vì họ không thọ trì được nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa như thế này .

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, trong khoảng bốn mươi năm, kinh Đại thừa Đại Niết-bàn này sẽ rộng truyền ở cõi Diêm-phù-đề, qua thời gian ấy sẽ ẩn mất vào đất. Vậy chẳng biết chừng nào kinh này sẽ lại xuất hiện?” 

    Ở đây Bồ-tát Ca-diếp hỏi lại một lần nữa, Phật nói khoảng bốn mươi năm kinh Đại thừa Niết-bàn này rộng truyền ở cõi Diêm-phù-đề, qua thời gian ấy sẽ ẩn mất vào đất, vậy chẳng biết chừng nào kinh này sẽ xuất hiện lại.

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Lúc chánh pháp của Như Lai còn thừa tám mươi năm, bốn mươi năm đầu là thời gian mà kinh này lại được thạnh truyền.” 

    Ca-diếp Bồ-tát lại thưa: “Bạch Thế Tôn! Lúc chánh pháp diệt, chánh giới hư, phi pháp tăng trưởng, chúng sanh tệ ác, thời ai là người có thể nghe hiểu thọ trì, đọc tụng nhuần thuộc, cùng cúng dường cung kính biên chép giải nói kinh điển Đại thừa này. Mong Như Lai xót thương chỉ bảo, cho các hàng Bồ-tát được bậc bất thối tâm vô thượng Bồ-đề.” 

    Phật nói lúc chánh pháp của ngài còn thừa tám mươi năm, bốn mươi năm đầu là thời gian kinh này được thịnh hành. Ngài Ca-diếp hỏi ai có thể thọ trì đọc tụng biên chép giải nói kinh điển Đại thừa này.

    Phật khen: “Lành thay! Lành thay! Này Ca-diếp! Chúng sanh nào đã từng phát tâm Bồ-đề ở chỗ chư Phật nhiều bằng số cát của một sông Ni-liên mới có thể nơi đời ác thọ trì kinh điển như thế này mà không phỉ báng.

    Chúng sanh nào được phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của một sông Hằng, vậy sau mới có thể ở trong đời ác ưa thích pháp Đại thừa này, nhưng chẳng thể giảng giải cho mọi người. Chúng sanh nào từng ở trước chư Phật bằng số cát của hai sông Hằng phát tâm Bồ-đề, mới có thể ở trong đời ác chẳng phỉ báng kinh này, mà tin hiểu chân chánh cùng ưa thích thọ trì, đọc tụng, nhưng cũng chẳng thể giảng rộng cho người. Chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của ba sông Hằng, mới có thể ở đời ác tin hiểu, thọ trì, đọc tụng và giảng nói kinh này, nhưng chưa hiểu thâm nghĩa. Chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của bốn sông Hằng, mới có thể ở đời ác tin ưa đọc tụng kinh này và giảng nói một phần trong mười sáu phần thâm nghĩa. Chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của năm sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói tám phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh này. Chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát trong sáu sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói mười hai phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh này. Chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát trong bảy sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói mười bốn phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh này. Và chúng sanh phát tâm Bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của tám sông Hằng, ở đời ác mới có thể tự mình và khuyên người đối với kinh này tin ưa đọc tụng, biên chép, thọ trì, cúng dường cung kính, và hiểu thấu tất cả nghĩa vị, tức là Như Lai thường trụ chẳng dời, rốt ráo an vui, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, người này khéo biết các pháp tạng của Như Lai, cúng dường vô lượng chư Phật, kiến lập chánh pháp vô thượng và thọ trì ủng hộ.

    Phật lấy số cát của sông Hằng hoặc sông Ni-liên làm ví dụ. Người biên chép thọ trì đọc tụng, đã gặp Phật nhiều bằng số cát sông Ni-liên. Người thọ trì đọc tụng kính tin nữa thì gặp Phật bằng số cát một sông Hằng, rồi thêm cứ vậy mà tăng trưởng, cho đến người gặp Phật bằng số cát tám sông Hằng thì đối với kinh điển đại Niết-bàn mới thật tin hiểu sâu xa, giảng nghĩa rốt ráo. Như vậy được nghe, được học kinh điển Đại Bát-niết-bàn là đã từng gặp vô lượng vô biên vô số Phật.

    Như học trò có mặc cảm không hy vọng thi đậu thì sẽ không cố gắng, chỉ học cầm chừng cho qua ngày tháng. Nếu tin rằng mình sẽ đậu mới nỗ lực học, nên còn có hy vọng đậu. Không tự tin thì không bao giờ đậu, đó là bệnh thường gặp. Người ta thường nghĩ mình ngu si phước bạc, là phàm tục không làm gì nổi, nên cho là vô phần đối với kinh điển Đại thừa, đối với những giáo lý cao siêu chỉ tu gieo nhân được bao nhiêu thì được, đời sau tu nữa; bây giờ tu thành Phật là chuyện vô hy vọng. Kinh này Phật muốn phá tâm tự khi như vậy.

    Người nào phát tâm tin hiểu kinh điển Đại thừa là đã gặp, cúng dường Phật nhiều như số cát một sông Hằng, số cát hai, ba sông Hằng... cho đến số cát của tám sông Hằng. Số cát một sông Hằng còn không thể tưởng tượng nổi, Phật còn nói số cát tám sông Hằng. Nếu chúng ta tin được kinh điển Niết-bàn là đã gặp đã cúng dường Phật nhiều như số cát tám sông Hằng, nghĩa là đã cúng dường vô lượng vô biên đức Phật.

    Chúng ta cứ tưởng mình có phước vì gặp Phật ra đời quá nhiều, nhưng nói về lý Đại thừa thì không phải vậy. Các vị thiền sư thường nói mười phương Phật ở trên đầu gậy, thường ở trước mặt các ngươi. Khi trực nhận được Phật tánh, thấy được pháp thân, thì mười phương chư Phật đồng hiện không có gì lạ, nên nói mình và chư Phật không khác. Lúc nào thấy được pháp thân của mình là thấy pháp thân của mười phương chư Phật hiện tiền. Hiểu được lý đó thì thấy lời Phật không phải là khó tin. Bởi vì chúng ta nhận chân được Phật tánh, nhận chân được pháp thân thì mới biết chư Phật thường hiện tiền, tất nhiên chúng ta gặp biết bao nhiêu chư Phật rồi.

    Đoạn cuối Phật nói người tin ưa đọc tụng biên chép, thọ trì, cúng dường cung kính, và hiểu thấu tất cả nghĩa vị, tức là Như Lai thường trụ chẳng dời, rốt ráo an vui, tin hiểu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, người này khéo biết tất cả các pháp tạng của Như Lai, cúng dường vô lượng chư Phật, kiến lập chánh pháp vô thượng và thọ trì ủng hộ . Như vậy người đó là người thấy được Phật tánh, biết được Như Lai thường trụ. Mà thấy được Phật tánh thì lúc nào không thấy Phật, biết được Như Lai thường trụ thì lúc nào không có Phật, nên cúng dường không biết bao nhiêu hằng hà sa chư Phật mà nói. Chúng ta phải nhận ra lẽ này thì mới thấy ý hay.

    Nếu có người mới phát tâm vô thượng Bồ-đề, phải biết rằng đời vị lai, người này ắt có thể kiến lập và thọ trì ủng hộ chánh pháp như thế này.

    Này Ca-diếp! Có hạng ác Tỳ-kheo nghe Như Lai vào Niết-bàn chẳng những không lo buồn mà còn mừng rỡ rằng: Từ nay về sau không ai ngăn chế kiềm thúc, ngày Như Lai còn ở đời thời cấm giới cao nghiêm, nay đã vào Niết-bàn sẽ giải bỏ tất cả, ca-sa vốn là pháp thức nay cũng sẽ dẹp bỏ như lá phan trên cây. Hạng Tỳ-kheo ấy chê bai chống cự kinh điển Đại thừa này.

    Người phát tâm Bồ-đề thì có thể sau này thọ trì ủng hộ chánh pháp như vậy.

    Phật nói có những vị Tỳ-kheo ác nghe Phật sắp Niết-bàn thì mừng rỡ, vì từ nay về sau không ai ngăn chế kiềm thúc, ngày Như Lai còn ở đời thời cấm giới cao nghiêm, nay đã vào Niết-bàn sẽ giải bỏ tất cả, ca-sa vốn là pháp thức nay cũng sẽ dẹp bỏ như lá phan trên cây. Hạng Tỳ-kheo ấy chê bai chống cự kinh điển Đại thừa này.

    Đời nào cũng như đời nấy. Phật đầy đủ vô lượng phương tiện, nói vô lượng pháp môn, nghe ngài sắp nhập Niết-bàn, dân chúng đều thương xót than thở. Nhưng trong đó cũng có một vài nhóm mừng rỡ, Phật chết rồi không ai ngăn cấm nữa, từ đây tự do, muốn làm gì thì làm. Phật còn như vậy, huống nữa chúng ta bây giờ, thế nào cũng có một số người thương và một số người ghét. Cuộc đời tương đối là vậy, không có gì trọn vẹn.

    Này Ca-diếp! Nay ông phải ghi nhớ như vậy. Nếu có chúng sanh trọn nên đầy đủ vô lượng công đức, mới có thể tin kinh điển Đại thừa này, tin rồi thọ trì. Những chúng sanh nào ưa thích pháp Đại thừa, nên vì họ mà giảng giải kinh này. Họ được nghe kinh này, thời bao nhiêu nghiệp ác đã tạo ra từ vô lượng kiếp trước thảy đều tiêu trừ. Nếu kẻ nào không tin kinh điển này, thời hiện thân sẽ bị vô lượng bệnh khổ não hại, phần nhiều bị người trách mắng, sau khi chết sẽ thọ thân hình xấu xí, nghèo thiếu, bị người khinh tiện, đời đời sanh trong nhà bần cùng hạ tiện tà kiến, thường bị tai nạn đao binh, hình pháp, giặc cướp, oán thù làm hại, không được gặp gỡ bạn lành, hằng ngày đói khát, không chịu tin nghe lời chân chánh, lời hay phải. Những kẻ ấy không bao giờ được đến chỗ lành ở cõi trời, cõi người, như chim gãy cánh không bay cao được.

    Nếu người nào kính tin kinh điển này, thời dầu đã mang thân hình thô kệch xấu xa, do công đức của kinh, sẽ được xinh tốt, sắc lực oai nhan ngày ngày thêm hơn, thường được trời người mến ưa. Người này có nói ra lời chi, ai nghe đến đều kính tin cả. Trong hàng Thanh văn đệ tử của Như Lai, nếu vị nào muốn thi hành việc hy hữu nhất, thời nên tuyên rộng kinh điển Đại thừa như đây.

    Đoạn này Phật nói về phước báo của người thọ trì kinh Đại Niết-bàn. Chỉ có những người không tin kinh điển thì sẽ gặp nhiều hoạn nạn đời này và cả đời sau.

    Này Ca-diếp! Như sương mù kia chỉ có thể tồn tại đến lúc mặt trời mọc. Khi mặt trời đã mọc, sương mù sẽ tiêu tan. Bao nhiêu nghiệp ác của chúng sanh, thế lực nó sẽ phải tiêu diệt khi được thấy mặt trời Đại thừa đại Niết-bàn này.

    Này Ca-diếp! Như có người mới xuất gia cạo tóc đắp ca-sa vẫn chưa thọ mười giới Sa-di, có tín thí trưởng giả đến thỉnh chúng tăng, người ấy cùng đại chúng đồng đi thọ trai, dầu chưa thọ giới mà đã vào số chư tăng.

    Phật dùng những ví dụ để thấy rõ diệu dụng của kinh Đại Niết-bàn. Như sương mù tuy che đầy trời đầy đất nhưng một khi mặt trời mọc lên đều tan. Cũng vậy bao nhiêu nghiệp ác của chúng sanh nhờ Đại thừa Niết-bàn này hiện ra đều mất.

    Ví dụ thứ hai, như người mới xuất gia cạo tóc chưa thọ giới Sa-di, nhưng nếu có đàn-việt thỉnh đi thọ trai, cũng được cử đi thọ trai như hàng Sa-di, cũng được thọ thực như một vị tăng. Như vậy chưa được thọ giới cũng được dự vào hàng tăng.

    Cũng vậy, nếu có chúng sanh nào phát tâm mới học kinh Đại thừa Đại Niết-bàn, biên chép đọc tụng, người này dầu chưa đầy đủ công đức bằng bậc Thập địa Bồ-tát, nhưng đã được dự trong số các bậc Thập trụ Bồ-tát. Nếu có chúng sanh nào hoặc là đệ tử Phật, hoặc không phải đệ tử Phật, hoặc vì tham vì sợ, hoặc vì lợi dưỡng mà nghe học thọ trì kinh Đại thừa Đại Niết-bàn này nhẫn đến một bài kệ, kính tin không hủy báng, phải biết người này thời là đã được gần vô thượng Bồ-đề.

    Cũng thế tuy người chưa dẹp hết phiền não, khi hiểu được kinh Đại Niết-bàn người đó cũng có phước như hàng Thập trụ Bồ-tát. Cho tới những người tệ là ham danh ham lợi, mà biên chép thọ trì kinh Đại Niết-bàn, vẫn có phước gần được vô thượng Bồ-đề.

    Này Ca-diếp! Vì nhân duyên trên đây, nên Như Lai nói bốn hạng người trước kia là chỗ nương tựa của thế gian. Bốn hạng người ấy không bao giờ đem lời Phật dạy, nói là không phải của Phật. Vì thế nên Như Lai nói bốn hạng người ấy là chỗ nương tựa của thế gian. Ông phải cúng dường bốn hạng người ấy.” 

    Rõ những nhân duyên quý báu đó, Phật dạy tất cả chúng sanh hãy nương tựa vào bốn hạng người kể trên, vì họ là bốn hạng người khen ngợi pháp Đại thừa, truyền bá pháp Đại thừa.

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Con làm thế nào biết được hạng người ấy để cúng dường?” 

    Phật dạy: “Nếu có người nào kiến lập hộ trì chánh pháp, thời phải thỉnh hỏi và xả thân cúng dường người ấy. Như ta từng nói nơi kinh Đại thừa này: 

    Có ai biết chánh pháp 

    Không luận già hay trẻ 

    Đều nên phải cúng dường 

    Cung kính và lễ lạy 

    Như hàng Bà-la-môn 

    Chí thành thờ thần lửa.

    Và như các thiên thần 

    Cung kính trời Đế-thích.” 

    Ngài Ca-diếp hỏi, con làm thế nào biết được hạng người ấy để cúng dường? Đức Phật dạy, nếu có người nào kiến lập hộ trì chánh pháp, phải thỉnh hỏi và xả thân cúng dường người ấy .

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy cúng dường bậc sư trưởng chính phải như vậy. Nay con có chỗ nghi, xin Như Lai giảng giải. Nếu có vị trưởng túc giới hạnh tinh nghiêm đến học hỏi với người trẻ tuổi, thời có phải lễ kính chăng? Nếu lễ kính thời đâu gọi là trì giới. Hoặc người tuổi trẻ tinh nghiêm giới luật đến học với vị trưởng túc phá giới, có nên lễ kính chăng? Hoặc người xuất gia đến học với người tại gia thời có nên làm lễ chăng? Nhưng người xuất gia không nên lễ kính người tại gia. Và trong giáo pháp của Phật, người trẻ tuổi phải cung kính bậc trưởng túc cao niên, vì bậc trưởng túc thọ giới cụ túc trước, đã thành tựu oai nghi. Như Lai từng bảo rằng người phá giới không được dung thọ ở trong Phật pháp, như đám cỏ ở trong thửa ruộng tốt. Như Lai lại nói có ai biết chánh pháp, không luận là già trẻ, phải cúng dường người ấy như thiên thần kính thờ trời Đế-thích. Các lời dạy trên có chỗ trái nhau, xin Như Lai giải thích cho. Như Phật từng nói thầy Tỳ-kheo trì giới cũng có chỗ sai phạm. Duyên cớ gì mà Như Lai nói lời ấy. Trong các kinh khác, Thế Tôn cũng có nói cho trị tội kẻ phá giới. Những lời dạy ấy chưa được trọn nghĩa.” 

    Bồ-tát Ca-diếp nghi: Nếu bảo rằng dù già hay trẻ cũng nên lễ lạy và cúng dường, như vậy có Tỳ-kheo trưởng túc thọ giới trước, giới luật tinh nghiêm đến học với vị trẻ tuổi có hiểu chánh pháp, cũng lễ lạy hay sao? Nếu lễ lạy thì không đúng giới luật, không lễ lạy thì trái với lời Phật dạy ở đây. Cho tới như một người cư sĩ hiểu chánh pháp, người xuất gia tới học thì cũng phải lễ lạy hay sao?

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Bài kệ vừa rồi là Như Lai vì chư Bồ-tát học Đại thừa sau này mà nói, chứ chẳng phải nói với hàng Thanh văn đệ tử.

    Này Ca-diếp! Như lời của Như Lai đã nói, lúc chánh pháp diệt, thời kỳ chánh giới bị hủy hoại tăng trưởng sự phá giới, chứ chẳng phải lúc chánh pháp hưng thạnh. Lúc mà tất cả thánh nhân không hiện, lúc mà hạng xuất gia nhận và chứa tôi trai tớ gái cùng vật bất tịnh, trong bốn hạng người trên sẽ có một người hiện ra nơi đời cạo bỏ râu tóc xuất gia học đạo, thấy chư Tỳ-kheo không biết vật tịnh cùng bất tịnh, cũng không hiểu là luật hay phi luật, vì muốn điều phục họ nên cùng họ hòa quang, nhưng không tội lỗi như họ. Người này khéo phân biệt chỗ làm của mình cùng chỗ làm của Phật. Dầu thấy các người phạm tội Ba-la-di, vẫn im lặng không cử tội.

    Đức Phật dạy, bài kệ vừa rồi là Như Lai vì chư Bồ-tát học Đại thừa sau này mà nói, chứ chẳng phải nói với hàng đệ tử Thanh văn.

    Thời mạt pháp là thời của chúng ta đây, ít có ai chứng đạo, ít có Bồ-tát, hay là ít có những vị đắc đạo hiện tiền, cho nên nói thánh nhân không hiện, Tỳ-kheo phạm giới quá nhiều. Trong bốn hạng người trên sẽ có một người hiện ra nơi đời cạo bỏ râu tóc xuất gia học đạo, vì muốn điều phục những Tỳ-kheo kia nên cùng họ hòa quang, nhưng không tội lỗi như họ. Thấy họ ác quá, nhưng không cử tội.

    Này Ca-diếp! Người này vì hộ trì chánh pháp nên dầu có chỗ phạm luật mà không gọi là phá giới. Như có vị quốc vương phải bệnh chết, thái tử còn thơ ấu chưa có thể nối ngôi. Có người Chiên-đà-la giàu có, quyến thuộc đông, thừa dịp soán ngôi, tự lên làm vua. Trong nước, các hàng cư sĩ, Bà-la-môn, phần nhiều trốn sang nước khác. Người ở lại cũng ẩn tránh không muốn thấy mặt vua ấy. Vua Chiên-đà-la hay nhiều người trong nước bỏ sang nước khác, bèn truyền lệnh rằng nếu có vị Bà-la-môn nào có thể vì nhà vua mà làm thầy chủ lễ tôn vương, thời nhà vua sẽ chia đôi cõi nước cho cai trị. Mọi người nói với nhau bao giờ có người giòng Bà-la-môn lại đi chủ lễ tôn vương cho một gã Chiên-đà-la. Vua thấy không có vị Bà-la-môn nào ra mặt cả, bèn xuống lệnh nếu trong hàng Bà-la-môn không một ai chịu ra làm thầy cho nhà vua, thời nhà vua tất sẽ buộc các người Bà-la-môn cùng ở chung, làm việc chung với người Chiên-đà-la.

    Còn nếu ai chịu chủ lễ tôn vương thời nhà vua quyết chia đôi cõi nước để phong thưởng, cho đến thuốc cam lộ bất tử của cõi trời Đao-lợi do sức thần chú cầu được, nhà vua cũng sẽ chia đều cho người ấy.

    Bấy giờ có một người Bà-la-môn tuổi trẻ, đức hạnh thanh tịnh, giỏi về chú thuật ra lãnh làm chủ lễ tôn vương cho vua Chiên-đà-la. Nhà vua y lời hứa chia nước làm đôi, cùng Bà-la-môn trẻ đồng cai trị. Hàng Bà-la-môn đều giận trách người ấy: Ngươi là giòng Bà-la-môn sao lại đi làm thầy cho gã Chiên-đà-la?

    Ít lâu sau, Bà-la-môn trẻ bảo vua rằng: “Tôi bỏ phép của giòng tôi đến làm thầy cho nhà vua, và dạy cho vua chú thuật vi mật. Nhưng đến ngày nay, nhà vua vẫn chưa thương tưởng đến tôi.” Vua hỏi cớ. Bà-la-môn trẻ đáp: “Nhà vua chưa cho tôi cùng được uống thuốc cam lộ bất tử của tiên vương.” Vua bảo: “Phải lắm, quả nhân thật không biết, nếu Đại sư cần thời lấy mà dùng.” Bà-la-môn trẻ đem thuốc cam lộ về nhà mời các đại thần đến cùng chia nhau uống. Vua được tin ấy bèn nói với Bà-la-môn trẻ rằng: “Sao Đại sư cùng các đại thần uống thuốc cam lộ mà không chia phần cho quả nhân.” Bà-la-môn trẻ dâng thuốc độc cho vua. Nhà vua uống xong say mê như người chết. Bấy giờ Bà-la-môn trẻ liền lập thái tử con tiên vương lên ngôi, mà xướng lên rằng: “Theo phép ngai vàng không bao giờ hạng người Chiên-đà-la được ngự. Từ xưa đến nay tôi chưa từng nghe thấy giòng Chiên-đà-la làm vua, phải tôn Thái tử lên ngôi để chăn dân trị nước.” Sau khi sắp đặt việc triều chính xong, Bà-la-môn trẻ giải độc cho Chiên-đà-la rồi đuổi ra khỏi nước. Bà-la-môn trẻ dầu hành động các việc như trên nhưng vẫn không mất pháp Bà-la-môn. Bấy giờ người trong nước, hàng cư sĩ và Bà-la-môn đều khen ngợi việc làm ấy và đều kính trọng Bà-la-môn trẻ.

    Người này có tâm hộ trì chánh pháp, hòa quang đồng trần chứ không phải vì muốn lợi dưỡng mà phá giới. Ví dụ ông vua giòng Sát-đế-lợi hay Bà-la-môn chết, Chiên-đà-la là giòng hạ tiện nhất mà vì có quyền thế chiếm được ngôi vua. Rồi muốn hợp pháp nên mời vị thầy Bà-la-môn ra làm lễ tôn vương. Các thầy Bà-la-môn cho hàng Chiên-đà-la là hạ tiện, nên không ai chịu đứng ra làm lễ. Sau có một chàng Bà-la-môn trẻ tuổi khôn ngoan chịu đứng ra làm lễ, được nhà vua chia đất đai cho và được thuốc cam lồ chia cho giòng Bà-la-môn uống, nhân đó chuốc độc làm nhà vua mê man, rồi lập thái tử con vua trước lên ngôi. Sau đó làm cho vua kia tỉnh lại và đuổi đi. Ban đầu có một số người chấp nê, cho rằng Bà-la-môn trẻ tuổi đó làm việc phi pháp, nhưng sau đuổi được vua Chiên-đà-la đi thì mọi người đều khen là khôn ngoan.

    Cũng vậy Bồ-tát hòa quang đồng trần lẫn trong nhóm người phá giới, người không biết cho rằng đó là người xấu phá giới, nhưng vị Bồ-tát đó ở trong nhóm người phá giới để trừng trị, dạy dỗ cho họ biết thế nào là chánh thế nào là tà, việc nào phi pháp việc nào hợp pháp. Người ta mới thấy đó là một vị Bồ-tát đáng khen đáng phục.

    Người vì đạo, khi làm quấy nếu bị người chỉ trích thì nói đây là cái tệ của tôi, đúng ra kinh Phật không cho, tôi chưa tránh được những cái xấu, tôi xin lỗi, thì đó là người chân chánh. Còn người có khi vô quán rượu cũng nhậu cũng ăn thịt, nếu có ai hỏi thì nói Bồ-tát bất câu tiểu tiết, Bồ-tát không chấp những chuyện nhỏ nhặt. Họ dẫn những lời trong kinh hay trong luận của các tổ ra để che lỗi mình, đó thật là hạng phá giới, là kẻ tà. Tuy cùng làm một việc mà người chánh người tà. Cho nên phải khéo giản trạch, khéo phân biệt. Các thiền sư lúc ở chỗ yên vắng thì tâm các ngài đã thuần thục thanh tịnh. Vì muốn thử tâm mình, các ngài đôi khi ở lẫn trong đám người thường. Người không biết thì thắc mắc, nhưng các ngài cốt thử tâm chứ không phải để hưởng thụ.

    Nếu người lấy câu này để che đậy lòng tham dục vọng của mình thì chẳng những phá giới mà còn nhục mạ Phật tổ nữa. Đó là tội rất nặng. Trong thời mạt pháp phàm thánh lẫn lộn, rồng rắn khó phân, không dám chê hay khen ai, chỉ cần dùng một vài điều nho nhỏ đó để mình nhận biết tà chánh. Cũng một hành động mà có kẻ thật phá giới, có kẻ thị hiện giáo hóa chúng sanh.

    Này Ca-diếp! Sau khi Như Lai vào Niết-bàn, hàng Bồ-tát hộ trì chánh pháp, phương tiện giả đồng sự với các Tỳ-kheo phá giới. Nếu thấy có người dầu phạm giới nhiều, nhưng có thể trị các ác Tỳ-kheo, Bồ-tát liền đến cúng dường kính lễ người ấy, vì việc cúng dường nên phải cầu xin với nhà đàn-việt và cất chứa vật bất tịnh.

    Mặc dầu Bồ-tát cung kính lễ bái cúng dường người ấy và chứa vật bất tịnh, nhưng vẫn không có tội lỗi, vì là phương tiện để tẩn trị các ác Tỳ-kheo, cho tăng chúng thanh tịnh được an ổn và lưu bố kinh điển Đại thừa, làm lợi ích cho trời cho người.

    Này Ca-diếp! Vì duyên do ấy, nên Như Lai nói hai bài kệ trước kia để bảo các Bồ-tát khen ngợi người hộ pháp. Như hàng cư sĩ và Bà-la-môn ngợi khen Bà-la-môn trẻ. Nếu có ai thấy người vì hộ pháp mà cùng đồng sự với các Tỳ-kheo phá giới, rồi nói là có tội, thời phải biết kẻ ấy tự chuốc lấy họa hại. Người hộ pháp kia thật không có tội.

    Đó là Phật đã chỉ rõ những hạng Bồ-tát hòa quang đồng trần.

    Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo phạm cấm giới rồi tự kiêu mạn không sám hối, phải biết đó chính là người thật phá giới. Bồ-tát vì hộ pháp nên mặc dầu có chỗ sai phạm, nhưng không kiêu mạn chịu sám hối, nên không gọi là phá giới.

    Chỗ này chúng ta thấy rõ Bồ-tát vì hộ pháp nên dù có chỗ sai phạm nhưng không kiêu mạn, chịu sám hối nên không gọi là phá giới. Người mà phạm rồi kiêu mạn không sám hối thì đó là người phạm giới thật. Khác nhau ở chỗ đó.

    Vì cớ ấy nên Như Lai nói trong kinh:

    Có ai biết chánh pháp 

    Không luận già hay trẻ

    Đều nên phải cúng dường

    Cung kính và lễ lạy 

    Như hàng Bà-la-môn

    Chí thành thờ thần lửa.

    Và như các thiên thần

    Cung kính trời Đế-thích.

    Lời kệ trên đây là Như Lai vì các Bồ-tát học Đại thừa mà nói, chứ chẳng phải nói với hạng người học pháp Thanh văn.” 

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Các vị Bồ-tát như thế ở nơi giới rất là hưỡn đãi. Giới của các vị ấy đã thọ có còn đủ chăng?” 

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Nay ông không nên nói như vậy. Vì giới của các vị ấy đã thọ vẫn đủ không mất. Giả sử có sai phạm liền phải sám hối. Sám hối xong thời được thanh tịnh.

    Này Ca-diếp! Như bờ đê cũ có lỗ hở trống thời nước rịn chảy, vì không người sửa sang. Nếu được sửa sang thời nước không rịn chảy. Cũng thế, các vị Bồ-tát dầu cùng kẻ phá giới đồng sự, nhưng ở nơi giới đã thọ vẫn không hư mất. Vì nếu không có người thanh tịnh trì giới thời tăng chúng sẽ tổn giảm, ngày càng lười trễ. Nếu có người trì giới thanh tịnh thời giới đã thọ được đầy đủ không mất.

    Này Ca-diếp! Đối với “thừa” mà hưỡn đãi mới gọi là hưỡn đãi, còn hưỡn đãi nơi “giới” không gọi là hưỡn đãi. Các vị Bồ-tát không trễ lười nơi Đại thừa, đây gọi là giới căn bản. Các vị ấy vì hộ trì chánh pháp nên dùng nước Đại thừa mà tự tắm gội. Vì thế nên Bồ-tát dầu hiện ra sự phá giới nhưng không gọi là hưỡn đãi.” 

    Phật giải thích như thế thật là cặn kẽ.

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Trong chư tăng có bốn hạng người, như trái am-la khó phân biệt trái sống trái chín. Làm thế nào biết được người trì giới cùng người phá giới?” 

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Nhân nơi kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thời dễ biết. Ví như nông phu gieo mạ cấy lúa, cày bừa hết cỏ, cứ mắt thịt xem thời gọi thửa ruộng sạch. Đến mùa bông trái thời lúa cùng cỏ khác nhau. Tám việc như vậy hay làm nhơ nhớp chúng tăng, nếu trừ được thời dùng mắt thịt cũng biết là thanh tịnh. Hoặc khi trì giới hay phá giới mà không tác ác, dùng mắt thịt khó biện biệt được, lúc việc ác lộ bày thời dễ thấy biết. Như loại cỏ dễ nhận được. Cũng vậy, trong chúng tăng nếu có thể xa lìa nơi tám pháp bất tịnh, thời gọi là thánh chúng thanh tịnh, là phước điền, đáng được cõi trời cõi người cúng dường, quả báo thanh tịnh dùng mắt thịt không thể biện biệt.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi Phật, trong tăng chúng có bốn hạng người như trái am-la khó phân biệt thế nào là sống thế nào là chín, sống cũng xanh chín cũng xanh, vậy làm sao biết người nào trì giới, người nào phá giới? Như người tu ai cũng mặc áo tràng, áo vạt hoặc đắp y... thấy người nào cũng như người nào, làm sao nhận ra ai trì giới ai phá giới? Thật là khó.

    Phật ví dụ giải thích thật cặn kẽ. Như người nông phu gieo mạ cấy lúa, cày bừa hết cỏ, cứ mắt thịt xem thời gọi là thửa ruộng sạch. Họ gieo lúa xuống, tới mùa lúa chín có bông lúa, cỏ mọc lên thì có bông cỏ. Khi thấy bông cỏ ta biết liền. Như vậy khi thấy kết quả ta sẽ giản trạch đâu là chánh đâu là tà. Cũng vậy, người phá giới và người không phá giới đến kết quả rồi ta sẽ thấy ngay, không có gì lạ. Có thể che đậy được lúc đầu, lúc sau rồi cũng thấy; có thể ban đầu khó biết nhưng sau này rồi mình vẫn biết.

    Này Ca-diếp! Như rừng ca-la-ca (kϩlaka) rất rậm rạp nhiều cây. Trong rừng này chỉ có một cây trấn-đầu-ca (tinduka). Trái của hai thứ cây này rất giống nhau khó biện biệt được. Đến mùa trái chín, một thiếu nữ lượm cả hai thứ, một phần trái trấn-đầu-ca, mười phần trái ca-la-ca đem ra chợ bán. Các trẻ nít ngu dại mua lầm trái ca-la-ca, ăn xong phải độc mà chết. Hàng thức giả nghe được việc ấy, liền hỏi thiếu nữ lượm những trái này ở nơi nào? Thiếu nữ nói là lượm ở rừng ca-la-ca. Thức giả bảo trong rừng ấy toàn là cây ca-la-ca chỉ có một cây trấn-đầu-ca thôi. Mọi người biết rõ đều chê cười rồi bỏ đi.

    Này Ca-diếp! Tám pháp bất tịnh trong chư tăng cũng vậy. Trong chư tăng phần đông đều thọ dụng tám thứ bất tịnh ấy, chỉ có một người trì giới thanh tịnh không thọ tám thứ bất tịnh, và biết đại chúng thọ dụng phi pháp, nhưng vẫn đồng sự không xa tránh, như cây trấn-đầu-ca đứng giữa rừng ca-la-ca. Có Ưu-bà-tắc thấy phần đông phi pháp và chẳng cung kính cúng dường vị thanh tịnh này. Nếu muốn cúng dường nên trước hỏi: Bạch Đại đức, tám việc như vậy có nên nhận và chứa không? Phật có cho phép không? Nếu nói là Phật cho phép, thời người nhận chứa ấy đặng cùng chung bố-tát, yết-ma, tự tứ không? Đại chúng đáp rằng: Tám việc ấy, đức Như Lai xót thương thảy đều cho phép chứa. Ưu-bà-tắc nói: Trong tinh xá Kỳ Hoàn, hoặc có Tỳ-kheo nói Phật cho phép chứa vàng bạc, hoặc có Tỳ-kheo nói Phật không cho phép. Người nói là Phật cho phép, thời người nói Phật không cho phép chẳng chịu ở chung, chẳng đồng thuyết giới, tự tứ, nhẫn đến không chịu cùng uống nước một con sông, chẳng chịu chung hưởng vật lợi dưỡng. Sao các ngài lại bảo là Phật cho phép? Phật là đấng trời trong hàng trời, dầu cho Phật có nhận các thứ ấy, chư tăng các ngài cũng chẳng nên chứa cất. Nếu vị nào nhận chứa thời không nên đồng sự, chẳng nên cùng thuyết giới, tự tứ, yết-ma. Nếu chung cùng, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục, như kẻ phải chết vì ăn lầm trái ca-la-ca.

    Này Ca-diếp! Như nơi chợ có người bán thuốc, bán cả thuốc quý Tuyết Sơn cùng nhiều thứ thuốc độc khác, mùi vị đều giống nhau. Người mua không rành mặt thuốc hỏi mua thuốc Tuyết Sơn. Người bán dối trá lấy các thứ thuốc độc đưa ra. Người mua nhận lầm là thật nên trả tiền mang thuốc đi và mừng thầm rằng đã mua được thuốc quý Tuyết Sơn.

    Này Ca-diếp! Trong chư tăng Thanh văn có giả danh tăng, có chân thật tăng và hòa hiệp tăng, hoặc trì giới, hoặc phá giới. Đối với trong đại chúng ấy, phải bình đẳng cúng dường cung kính lễ bái, vì với mắt thịt, hàng Ưu-bà-tắc chẳng phân biệt được vị nào trì giới, vị nào phá giới, ai là chân thật tăng, ai là giả danh tăng, như người mua thuốc không phân biệt được thuốc quý Tuyết Sơn. Người có thiên nhãn mới có thể biết rõ.

    Này Ca-diếp! Nếu Ưu-bà-tắc biết rõ là Tỳ-kheo phá giới thời chẳng nên cung cấp lễ bái cúng dường. Nếu biết Tỳ-kheo nhận và chứa tám vật bất tịnh, cũng lại chẳng nên cung cấp lễ bái cúng dường. Nếu trong chư tăng có người phá giới, chẳng nên vì đắp ca-sa mà cung kính lễ bái.” 

    Ví dụ thứ hai là rừng cây. Cây có trái độc thì nhiều, mà cây có trái ngon chỉ có một, hai thứ trái lại giống hệt nhau. Có người do không biết nên đã lượm hết trái cây đem bán, người nào mua lầm trái độc, ăn rồi chết. Người hiểu biết hỏi người bán lấy trái ở đâu, biết rồi mới nói trong rừng đó chỉ có một cây ngon, đại đa số là trái độc.

    Ví dụ thứ ba là người bán thuốc Tuyết Sơn, trộn lẫn thuốc độc mà bán cho người. Tỳ-kheo cũng khó giản trạch được ai là trì giới, ai là phá giới. Vì lòng kính tin Tam bảo mình không thể nói tất cả đều phá giới hay tất cả đều thanh tịnh, mà phải sớm nhận biết. Tức là xét trong giới luật và tám điều bất tịnh, nếu người nào có chứa thì gọi là người phá giới, người nào không chứa gọi là người thanh tịnh. Phật lấy chỗ đã dạy trước kia để làm bằng chứng, để nhận cho ra ai phá giới ai giữ giới.

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Lành thay! Lành thay! Lời Phật dạy chân thật không hư, con sẽ trân trọng tuân theo, xem như bảo vật kim cang.

    Như lời Phật dạy: Các Tỳ-kheo phải y theo bốn điều: y theo pháp không y theo người, y theo nghĩa không y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh chẳng liễu nghĩa. Bốn pháp như vậy, nên phải chứng biết không phải bốn hạng người.” 

    Y đây là y bốn pháp, chẳng phải y bốn hạng người.

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Y theo pháp đó chính là Như Lai đại Bát-niết-bàn, tất cả Phật pháp tức là pháp tánh. Pháp tánh ấy tức là Như Lai. Thế nên Như Lai thường trụ không biến đổi. Nếu ai bảo rằng Như Lai vô thường, người này không biết không thấy pháp tánh. Nếu là người không biết không thấy pháp tánh thời không nên nương tựa. Như trên đã nói bốn hạng người hiện ra nơi đời hộ trì chánh pháp nên phải chứng biết để mà y chỉ. Vì các vị này khéo hiểu biết pháp tạng thâm áo vi mật của Như Lai, biết rõ Như Lai thường trụ không biến đổi. Không bao giờ Như Lai vô thường biến đổi. Bốn hạng người này có thể gọi là Như Lai, vì hiểu được và nói được mật ngữ của Như Lai. Nếu có người biết được pháp tạng thâm mật, và biết Như Lai thường trụ không biến đổi, người này chẳng bao giờ vì lợi dưỡng mà nói Như Lai là vô thường. Còn nên y chỉ với người này huống là chẳng y chỉ với bốn bậc trên.

    Y theo pháp đó chính là Như Lai đại Bát-niết-bàn, tất cả Phật pháp tức là pháp tánh. Y theo pháp tánh tức là y theo pháp thân thường trụ bất hoại. Như vậy có thể nói gọn lại, y pháp bất y nhân tức là y theo pháp tánh chân thật không sanh không diệt thường trụ bất biến. Pháp tánh đó chính là pháp thân, là Như Lai. Người y cứ vào đó thì gọi là y pháp chứ không y người. Tuy là y pháp nhưng nếu người nào biết được pháp tánh, nói đúng với pháp tánh thì mình y theo người ấy mà tu, đó cũng là y pháp chứ không phải y người.

    Y chỉ nơi pháp tức là pháp tánh, không y chỉ với người tức là hàng Thanh văn. Pháp tánh tức là Như Lai, Thanh văn tức là hữu vi. Như Lai tức là thường trụ, hữu vi tức là vô thường.

    Này Ca-diếp! Nếu là người phá giới vì lợi dưỡng mà nói Như Lai là vô thường biến đổi, thời không nên nương tựa với người ấy.

    Phật dạy y pháp bất y nhân là nhấn mạnh vào y pháp tánh, chứ không phải y theo các hàng Thanh văn. Vì sao? Vì Phật cho rằng các hàng Thanh văn là vô thường, còn pháp tánh là thường trụ. Cho nên y theo pháp thường trụ gọi là y pháp.

    Trên đây là định nghĩa “y theo pháp không y theo người”.

    Y theo nghĩa không y theo lời là thế nào?

    Này Ca-diếp! Nghĩa là giác liễu, nghĩa giác liễu là nghĩa không thiếu sót tức là nghĩa đầy đủ. Nghĩa đầy đủ là Như Lai, Pháp cùng Tăng đều thường trụ chẳng biến đổi. Đó là y theo nghĩa. Còn những lời gì chẳng nên y theo? Tức là các bộ luận trau chuốt lời văn. Như Phật từng bảo rằng có rất nhiều thứ kinh điển tham cầu không biết nhàm, gian dối dua bợ, bày nhiều cách để cầu lợi, làm việc cho kẻ bạch y, lại xướng rằng đức Phật cho phép thầy Tỳ-kheo nuôi tôi trai tớ gái, các vật bất tịnh như vàng bạc châu báu, lúa gạo kho đụn, trâu dê voi ngựa, cùng buôn bán lấy lời. Nơi đời cơ cẩn Phật vì thương đệ tử nên cho phép Tỳ-kheo chứa đồ ăn cũ, để cách đêm, tự tay nấu nướng, không lãnh thọ mà ăn. Không nên y theo những lời như thế.

    Y nghĩa bất y ngữ là y theo nghĩa không y theo lời. Phật dạy, nghĩa là giác liễu, chỉ cho sự giác ngộ. Y theo sự giác ngộ chứ không phải y theo lời nói, tức là nghĩa đầy đủ giác ngộ viên mãn gọi đó là y nghĩa.

    Nghĩa đầy đủ là Như Lai, Pháp cùng Tăng đều thường trụ chẳng biến đổi. Cho nên nghĩa giác liễu là chỉ cho đồng thể Tam bảo. Thấy Phật là pháp thân, thấy pháp thân thanh tịnh tức là thấy pháp. Pháp không rời nhau là thấy Tăng. Một thể pháp thân mà có đủ Tam bảo gọi đó là đồng thể Tam bảo. Vì nhận được như vậy, giác ngộ như vậy thì gọi là y nghĩa không y ngữ. Thế gian hay dùng những luận lý khôn ngoan khéo léo nhưng không có thật nghĩa, không đến được chỗ chân thật cứu cánh, chúng ta không nên y mà phải y theo chỗ giác ngộ được pháp thân Tam bảo đồng thể gọi là y nghĩa không y ngữ.

    Y theo trí không y theo thức là thế nào?

    Này Ca-diếp! Trí tức là Như Lai. Nếu có hàng Thanh văn chẳng khéo rõ biết công đức của Như Lai, đó là “thức” không nên y theo. Nếu rõ biết Như Lai tức là pháp thân, đó là chân trí nên phải y theo. Nếu thấy thân phương tiện ứng hóa của Như Lai mà nói là thuộc về ấm giới nhập, do ăn mà được sống được lớn, sự nhận xét này là “thức” cũng chẳng nên y theo. Người cùng kinh điển nói những điều ấy đều chẳng nên y theo.

    Trí giác ngộ được Phật tánh hay giác ngộ được pháp thân, thức chỉ nhận hiểu phân biệt các pháp tương đối. Vì vậy nên nói hàng Thanh văn không khéo rõ biết công đức Như Lai, đó là thức. Thấy được Phật tánh hay pháp thân bất sanh bất diệt là do trí mà nhận ra, cho nên y trí không nên y thức.

    Trong khi tu nhận ra được cái lặng lẽ thanh tịnh sáng suốt của pháp thân thì đó là chân trí nên phải y theo. Nếu thấy thân phương tiện ứng hóa của Như Lai mà nói, thuộc về ấm giới nhập, nghĩa là phân biệt thọ sanh, phân biệt sự sống còn... đều là thức không phải là trí. Nói cách khác, nhận ra tánh là trí còn chạy theo tướng là thức.

    Thế nào là y theo kinh liễu nghĩa mà không y theo kinh chẳng liễu nghĩa? Hàng Thanh văn nghe đến chỗ tạng pháp thâm mật của Như Lai đều nghi ngờ, không hiểu pháp ấy từ nơi biển đại trí huệ mà có ra. Khác nào những đứa trẻ thơ không hiểu biết xa rộng. Đây gọi là chẳng liễu nghĩa. Còn bậc Bồ-tát có trí huệ chân thật, theo trí lớn vô ngại nơi tự tâm, như người tuổi tác hiểu biết xa rộng. Đây gọi là liễu nghĩa. Lại Thanh văn thừa là không liễu nghĩa. Vô thượng Đại thừa mới gọi là liễu nghĩa. Nếu nói Như Lai vô thường biến đổi thời gọi là chẳng liễu nghĩa. Còn nói Như Lai thường trụ không biến đổi thời gọi là liễu nghĩa. Lời của hàng Thanh văn nên chứng biết, gọi là chẳng liễu nghĩa. Lời của Bồ-tát nên chứng biết, gọi là liễu nghĩa. Nếu nói Như Lai nhờ sự ăn mà sống còn, đó là lời không liễu nghĩa. Nếu nói Như Lai thường trụ không biến đổi, đây gọi là lời liễu nghĩa. Nếu nói Như Lai nhập Niết-bàn như củi hết lửa tắt, đó là lời không liễu nghĩa. Nếu nói Như Lai nhập pháp tánh, đấy là lời liễu nghĩa.

    Y kinh liễu nghĩa mà không y kinh chẳng liễu nghĩa . Kinh chẳng liễu nghĩa là kinh dạy hàng Thanh văn. Những kinh đó chưa cứu cánh nên không liễu nghĩa, còn những kinh dạy hàng Bồ-tát được trí tuệ chân thật là kinh liễu nghĩa.

    Giáo pháp của Thanh văn thừa, thời không nên nương tựa vì Như Lai muốn độ chúng sanh nên phương tiện nói ra pháp Thanh văn thừa, như ông trưởng giả đem bán tự dạy cho con.

    Này Ca-diếp! Thanh văn thừa như mới cày bừa chưa có hột trái, gọi là chẳng liễu nghĩa, vì thế chẳng nên nương theo Thanh văn thừa. Phải nương theo pháp Đại thừa. Vì Như Lai muốn độ chúng sanh mà phương tiện nói pháp Đại thừa. Pháp Đại thừa là liễu nghĩa, là chỗ nên nương tựa.

    Trên đây là bốn điều nên y theo, cần phải chứng biết.

    Kinh Đại Bát-niết-bàn cho thấy được pháp thân Như Lai thường trụ, là kinh liễu nghĩa. Thấy Như Lai diệt độ Niết-bàn chưa phải là Niết-bàn cứu cánh, chưa liễu nghĩa. Niết-bàn cứu cánh là đại Bát-niết-bàn như Phật nói ở đây mới gọi là liễu nghĩa.

    Tóm lại, muốn hiểu được Niết-bàn tứ y này, trước hết chúng ta phải y pháp bất y nhân. Thông thường nói y pháp là y nơi kinh điển không nên y theo thầy dạy. Phật nói không phải vậy. Y pháp bất y nhân theo kinh Niết-bàn là y cứ vào pháp tánh. Người nào giảng đúng pháp tánh nghĩa là pháp thân thì chúng ta y cứ, còn người nào nói không đúng pháp tánh thì chúng ta không nên y theo. Đó là y pháp bất y nhân. Nhân là chỉ cho hàng Thanh văn, còn pháp chỉ cho pháp đại Bát-niết-bàn.

    Y nghĩa bất y ngữ, nghĩa là không y theo lời văn vẻ trau chuốt, mà giác liễu được chân tướng, giác ngộ được Phật tánh, thấy được pháp thân viên mãn.

    Y trí bất y thức, chúng ta y nơi chân trí mà giác ngộ được pháp thân, không nên theo vọng thức phân biệt hình tướng.

    Y kinh liễu nghĩa không y kinh bất liễu nghĩa. Y những kinh điển chỉ rõ pháp thân thường trụ. Bất liễu nghĩa là những kinh điển tạm nói để dạy hàng Thanh văn, chưa chỉ ra pháp thân Như Lai thường trụ.

    Trên đây là giản trạch về nghĩa thứ nhất của tứ y.

    Lại nữa, “nghĩa” đáng y theo gọi là chất trực. Chất trực gọi là sáng suốt. Sáng suốt gọi là không kém thiếu. Không kém thiếu gọi là Như Lai. Sáng suốt lại gọi là trí huệ. Chất trực gọi là thường trụ. Như Lai thường trụ, cũng gọi là y theo “pháp”, “pháp” ấy gọi là thường trụ, cũng gọi là vô biên, bất tư nghị, chẳng có thể chấp trì, chẳng có thể trói buộc, mà cũng có thể chứng thấy. Nếu kẻ nào nói là “không có thể chứng thấy được pháp”, thời không nên y theo kẻ ấy. Vì thế nên theo “pháp” mà không y theo người.

    Nếu có người dùng lời vi diệu tuyên nói vô thường. Không nên y theo những lời này. Vì thế nên y theo “nghĩa” mà không y theo “lời”.

    Còn nhận biết chúng tăng là thường trụ, là vô vi không biến đổi, chẳng chứa cất tám vật bất tịnh. Đây là y theo “trí” không y theo “thức”.

    Nếu có người nói: Thức làm, thức thọ, không chúng tăng hòa hiệp. Tại vì sao? Luận về hòa hiệp gọi là vô sở hữu. Đã vô sở hữu sao gọi là thường trụ. Đây là tình thức không nên y theo.

    Còn liễu nghĩa gọi là tri túc, trọn không dối hiện oai nghi thanh bạch, không kiêu mạn tự cao tham cầu lợi dưỡng, và đối với trong giáo pháp tùy nghi phương tiện của Như Lai không sanh lòng chấp trước. Nếu vị nào an trụ được trong những điều này, phải biết người ấy đã trụ được nơi đệ nhất nghĩa. Đây gọi là y theo kinh liễu nghĩa.

    Như trong kinh nói: Tất cả phừng cháy, tất cả đều khổ, tất cả đều không, tất cả vô ngã. Đây gọi là không liễu nghĩa. Tại vì sao? Vì không có thể hiểu rõ nghĩa như vậy, hay làm cho chúng sanh phải đọa A-tỳ địa ngục. Do vì chấp trước nên không hiểu thấu ý nghĩa. Với câu “tất cả phừng cháy”, cho rằng Như Lai nói Niết-bàn cũng cháy. Tất cả vô thường thời Niết-bàn cũng vô thường. Khổ, không, vô ngã cũng như vậy. Đây gọi là kinh không liễu nghĩa chẳng nên y theo.

    Y pháp bất y nhân. Y pháp là y theo pháp giác ngộ sáng suốt, đó là trí tuệ, là Như Lai. Pháp giác ngộ sáng suốt là pháp thường còn mãi mãi nên gọi là pháp thường trụ. Người thật tình tu thì chứng được, không phải chỉ là danh từ rỗng. Nếu có người nói tu thì tu, không mong gì chứng đắc, người đó không đáng nương cậy. Đừng hiểu như các vị thiền sư quán vô sở đắc vô sở chứng. Chứng nghĩa là tu phải giác ngộ, nếu tu không giác ngộ thì tu để làm gì? Mà giác ngộ cái gì? Giác ngộ pháp tánh. Thiền tông lấy giác ngộ làm căn bản. Người tin chắc rằng nỗ lực tu sẽ giác ngộ được pháp tánh, đó là người đáng tin theo, đáng nương tựa. Còn nào nói tu mà không thể giác ngộ được thì không nên nương tựa người đó.

    Tóm lại, nương tựa theo pháp là chỉ cho giác ngộ được pháp tánh của Như Lai.

    Y nghĩa tức là y theo đệ nhất nghĩa đế, không nên y theo những lời nói phương tiện của Phật buổi ban đầu. Cho nên những người dùng pháp vô thường khổ không vô ngã mà giáo hóa, thì những lời đó không phải là chỗ cứu cánh để mình nương theo.

    Nhận được Phật pháp tăng đồng một thể thường trụ bất biến, đó là trí nhận được đạt được, cần phải nương theo, không nên y theo thức phân biệt dùng lý luận của tình thức để bàn cãi với nhau.

    Người đạt được chỗ liễu nghĩa thì bên ngoài không dối hiện những oai nghi thanh bạch, tức bên ngoài ra vẻ tốt lắm, oai nghi trong sạch lắm, nhưng bên trong thì tham lam. Người không dối hiện oai nghi, không kiêu mạn, không lợi dưỡng, biết Phật pháp không cố định nên không chấp trước. Như vậy là đi đúng tinh thần đệ nhất nghĩa đế. Nương những người như vậy gọi là y kinh liễu nghĩa.

    Chân lý của Thanh văn là vô thường khổ không vô ngã, nhưng theo Đại thừa thì vô thường khổ không vô ngã chưa phải là chân lý, mà các pháp tự tánh thường trụ bất biến. Tự tánh ở đây là tâm hay Như Lai tạng, là pháp thân, đó là cứu cánh.

    Ở trước nói vô thường khổ không vô ngã, là nhìn trên hình tướng của sự vật nên thấy nó là thật, là chân lý; còn ở đây nói thường lạc ngã tịnh, là nhìn trên thể tánh bất sanh bất diệt của tất cả pháp, hai bên khác nhau. Thanh văn nhìn sự vật trên hình thức, nhìn Phật trên ba mươi hai tướng tốt, nên thấy Phật có sanh có diệt. Đại thừa nhìn ngay nơi thể tánh, nhìn Phật ngay trên pháp thân bất sanh bất diệt. Vô thường khổ không vô ngã, đối với chân như tánh là chưa đúng, nhưng đối với giả tướng là chân lý rõ ràng không chối cãi được. Phật đã chia vô thường khổ không vô ngã là kinh bất liễu nghĩa, nhưng vẫn có ích lớn lao với người phát tâm tu còn nặng về hình tướng.

    Người học Phật pháp phải học từ tướng lần lần đến tánh, nếu mới vào mà học ngay nơi tánh thì sẽ thấy khó hiểu. Vì tánh nói thẳng những cái không thể nói được, không có hình dung để có thể nghi cãi. Chỗ đó chỉ có những bậc đạt nhân mới dễ nhận dễ hiểu.

    Này Ca-diếp! Nếu có người nói Như Lai thương xót chúng sanh khéo biết thời nghi. Vì biết thời nghi nên có lúc Như Lai nói nhẹ là nặng, hoặc nói nặng là nhẹ. Như Lai xét biết hàng đệ tử có các nhà thí chủ cung cấp đồ cần dùng không thiếu, nên Phật không cho nhận và chứa tôi tớ, vàng bạc của báu, không cho buôn bán đổi chác những vật bất tịnh. Nếu hàng đệ tử không có thí chủ cung cấp, và thời kỳ mất mùa đói kém, vì muốn hộ trì chánh pháp, nên Phật cho nhận và chứa tôi tớ, vàng bạc, xe cộ, ruộng nhà, gạo thóc, đổi lấy đồ dùng. Dầu cho nhận chứa các thứ ấy, nhưng phải tịnh thí cho nhà đàn-việt nhiệt thành tin chánh pháp.

    Có một ít người về hình thức thì coi như giới luật hết sức thanh tịnh nhưng lại sai lầm. Ở đây chúng ta phải hiểu cho thật rõ ý của Phật.

    Vì biết thời nghi nên có lúc Như Lai nói nhẹ là nặng, hoặc nói nặng là nhẹ. Đức Phật ngài khéo biết thời nghi, tức là đúng lúc nào khi nào thì nên dùng cái gì để dạy cho thích hợp, còn chúng ta không biết được thời nghi nên cứ khư khư chấp. Nghe Phật nói thế này chấp thế này, nghe Phật nói thế kia liền chấp thế kia.

    Bấy giờ có tám vật bất tịnh như nuôi tôi tớ, chứa cất vàng bạc, mua bán đổi chác... là những điều Phật quở, không cho phép, vì thời đó người ta cung cấp thức ăn uống vật cần dùng cho người tu đầy đủ, không khó khăn nên Phật cấm không cho chứa cất, nếu cất giữ tám vật bất tịnh coi là tội rất nặng. Nhưng gặp trường hợp mất mùa đói kém không có thí chủ cúng dường, thì Phật lại cho Tỳ-kheo chứa cất những vật cần dùng. Như vậy có khi Phật cấm triệt để, có khi Phật lại cho phép. Nếu có phương tiện khất thực, được cung cấp đầy đủ, phải triệt để tin lời Phật thì lợi ích lớn. Nếu gặp thời thiếu thốn, cần phải cuốc rẫy trồng khoai để có cơm ăn, không cho chứa tiền thì lấy gì mua gạo? Hoàn cảnh mỗi nơi mỗi khác, cứ cố chấp thì không hợp. Cho nên hiểu thời nghi là phải đúng thời đúng lúc giữ thì thanh tịnh. Không đúng thời mà cứ giữ thành ra chấp nê. Phật vì thương xót chúng sanh, khéo biết thời nghi mà dạy, không phải khư khư trước sau như vậy.

    Ở những nước như Tích Lan, Thái Lan, Cao Miên... Phật tử thuần thành có bổn phận cúng dường chư tăng, cứ sáng sáng chư tăng ôm bát đi tới nhà thí chủ, được cúng dường đầy đủ thì chứa vật thực, tiền bạc để làm gì? Còn nếu gặp thời không thể khất thực được thì phải tùy nghi. Làm sao giữ tâm đừng tham lam kiêu mạn, đừng cầu lợi dưỡng là được. Còn cố chấp quá sẽ trở thành bệnh, không lợi gì cho mình mà còn gây ra những chuyện bực bội cho những người chung quanh.

    Tăng chúng tại Trung Hoa thuở xưa vẫn cày ruộng cuốc đất. Ngài Huệ Năng giã gạo rồi cũng ngộ, ngài Tuyết Phong, một thiền sư nổi danh mà cũng làm Tri khố, cũng nấu cơm. Đâu phải suốt ngày tham thiền mới ngộ, nấu cơm không ngộ đạo. Cho nên cần phải hiểu, nếu gặp thời khất thực được thì nên khất thực mà sống, giữ đúng luật của Phật. Nếu không có thí chủ cung cấp, thời kỳ mất mùa đói kém, vì hộ trì chánh pháp, Phật cho nhận và chứa tôi tớ, vàng bạc xe cộ, ruộng nhà gạo thóc, đổi lấy đồ dùng. Dầu cho nhận chứa những thứ ấy nhưng phải tịnh thí cho nhà đàn-việt nhiệt thành tin chánh pháp, đừng thấy là vật của mình, đừng thấy là sự nghiệp riêng của mình thì mới được, thấy là của riêng thì phạm. Nếu tăng ni có một chút ít tài lợi trong chùa rồi coi như của riêng, để dành cho con cháu, đó là lấy của Tam bảo làm của riêng là mang tội. Nếu chỉ coi là của Tam bảo, của thường trụ, mình là người giữ của Tam bảo thôi thì không tội. Có người không giữ mà vẫn sai, có người giữ mà vẫn đúng, vì khéo biết được bản ý của Phật và không làm trái lại.

    Bốn pháp trên đây nên y theo. Nếu có các thứ kinh, luật cùng luận nào chẳng trái bốn pháp trên đây cũng nên y theo.

    Nếu có người bảo: Phải thời nghi hay không phải thời nghi, có thể hộ pháp hay không thể hộ pháp, Như Lai đều cho tất cả Tỳ-kheo nhận và chứa những vật bất tịnh ấy. Đây là những lời không nên y theo. Nếu có những kinh, luật, luận nào mà đồng với những thuyết này cũng chẳng nên y theo.

    Kinh luật luận không trái với bốn pháp Phật đã nói trên thì cũng đều nên y theo. Có những người nói không biết thời nghi hay không phải thời nghi, có thể hộ pháp hay không thể hộ pháp, Phật đều cho cất chứa giữ gìn. Những người nói như vậy là những người không đáng để nương theo. Nếu có những kinh luật luận nào đồng với những thuyết này cũng không nên y theo.

    Như Lai vì người nhục nhãn mà nói bốn điều nên y theo, không phải nói với các vị có huệ nhãn.

    Thế nên nay Như Lai nói bốn điều y chỉ như vậy. “Pháp” chính là pháp tánh. “Nghĩa” chính là Như Lai thường trụ chẳng biến đổi. “Trí” là rõ biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. “Liễu nghĩa” là thấu rõ tất cả kinh điển Đại thừa.”

    Phật nói bốn điều đáng y theo đó là vì những người nhục nhãn, còn người có tuệ nhãn rồi thì khỏi cần bốn điều đó.

    Phật kết luận cho chúng ta thấy tường tận. Pháp là pháp tánh. Nghĩa là Như Lai thường trụ bất biến. Trí là rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là trí. Liễu nghĩa là chỉ cho tất cả kinh điển Đại thừa. Đó là tứ y: pháp, nghĩa, trí và liễu nghĩa. Học tứ y này chúng ta thấy rõ bản ý của Phật, ngài từ bi giáo hóa chúng sanh làm thế nào có chỗ nương tựa mà không sai lầm, không làm phá hoại Phật pháp.

     

  • 7. Phẩm Tà Chánh

    Bấy giờ Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Có phải cần y chỉ theo bốn hạng người như trên đã nói chăng?”

    Phật dạy: “Chính thế! Này Ca-diếp! Nên phải y chỉ như Như Lai đã nói. Sao lại phải y chỉ với bốn bậc ấy? Vì rằng có bốn thứ ma.”

    Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy có bốn thứ ma. Nay con phải làm thế nào để phân biệt là lời của Phật, là lời của ma. Có những chúng sanh chạy theo hạnh ma, cũng có nhiều người thuận theo lời Phật dạy. Phải làm thế nào để biết rành hai hạng ấy?”

    Ngài Ca-diếp thưa: Có người làm theo hạnh ma, có người làm theo hạnh Phật. Có người nói theo lời của ma, có người nói theo lời của Phật, làm sao con biết để giản trạch?

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Sau khi Như Lai vào Niết-bàn bảy trăm năm, ma Ba-tuần sẽ ngăn trở và làm hư hại chánh pháp. Ví như thợ săn thân mặc pháp y, cũng vậy, ma vương Ba-tuần giả hình Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nó cũng hóa làm thân Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán và hóa làm hình Phật. Ma vương đem thân hữu lậu hóa làm thân vô lậu để làm hư hại chánh pháp. Thời kỳ ma vương Ba-tuần làm hư hại chánh pháp, nó sẽ nói rằng xưa kia Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất chết, rồi sanh nơi cung vua Bạch Tịnh tại thành Ca-tỳ-la-vệ, nương sự ái dục hòa hiệp của cha mẹ sanh dục mà có thân. Không bao giờ có người nào sanh trong loài người mà được đại chúng cõi trời cõi người tôn kính.

    Trường hợp thứ nhất, nếu người nào nói Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất chết, rồi sanh nơi cung vua Bạch Tịnh tại thành Ca-tỳ-la-vệ, nương sự ái dục hòa hiệp của cha mẹ sanh dục mà có thân. Không bao giờ có người nào sanh trong loài người mà được đại chúng cõi trời cõi người tôn kính . Lời nói như vậy là của ma Ba-tuần. Tại sao? Vì Phật ở đây là pháp thân bất sanh bất diệt. Nếu thấy sanh diệt ấy chỉ là sự thị hiện hay hóa hiện mà thôi. Nếu nói thị hiện hay hóa hiện thì không phải là lời nói của ma. Còn nếu nói sanh thật, tử thật..., là lời nói của ma.

    Và lại nói rằng xưa kia khổ hạnh bố thí những đầu, mắt, tủy, não, bố thí những vợ, con, quốc thành, nên nay đặng thành Phật, vì thế nên được chư thiên, chư thần cùng mọi người cung kính. Nếu có kinh luật nào nói như lời trên đây, phải biết đó là lời của ma.

    Đây là điều mà mình không dám nhận. Chính trong kinh Bổn Sanh Bổn Sự nói. Phật có khi ở đời làm người có khi làm thú thực hành hạnh bố thí ba-la-mật, nhẫn nhục ba-la-mật... Vì công hạnh tu nhiều đời nhiều kiếp đó nên nay mới thành Phật, được chư thiên chư thần, chúng sanh cung kính cúng dường. Những điều này chúng ta quá quen thuộc, nhưng tại sao bây giờ Phật lại nói nói như vậy là ma? Bởi vì Phật muốn mọi người đạt được pháp thân bất sanh bất diệt, nên nói rằng tất cả mọi việc hiện ra làm người làm thú... chỉ là thị hiện để giáo hóa chúng sanh, không phải do hành động đó mà thành Phật. Pháp thân là Phật từ vô thủy kiếp đến giờ, đâu phải mới thành. Nên nói tu mọi hạnh để thành Phật là nhìn trên tướng trạng, không phải đạt được pháp thân. Những kinh nói như thế chưa phải cứu cánh, chưa phải cùng tột. Vì vậy ở đây Phật bác, nói là lời của ma chưa phải lời Phật, lời của Phật là chỉ thẳng cho tất cả chúng sanh thấy được Phật tánh, pháp thân. Pháp thân thì đã có từ vô lượng kiếp, đâu phải do mới tu mà thành. Tất cả những việc bố thí tủy não, quốc thành, thê tử... chỉ là những thị hiện của Bồ-tát thôi, không phải sự thật. Nếu hiểu là thị hiện thì không có lỗi, nếu nói do làm như thế mới được thành Phật thì không phải. Những hành động tạo tác thuộc về pháp hữu vi, là hành pháp hữu vi, mà hành pháp hữu vi làm sao có thể đạt được vô vi, làm sao được pháp thân bất diệt. Chỉ một phen chúng ta trực ngộ trực nhận được thì thấy pháp thân, thành Phật được. Nếu nói do những hành động trên mà thành Phật thì đó là ông Phật được làm ra, là ông Phật sanh diệt, không phải bất sanh bất diệt. Đây là chỗ hết sức khó, nếu không giải thích kỹ thì sẽ nghi, không thể nào tránh khỏi.

    Bây giờ lặp lại ý đó một lần nữa. Có người nào không tu mà thành Phật không? Ai cũng nói do tu mới thành Phật. Nếu nói do tu mới thành Phật thì Phật là hữu vi, vô thường, Phật do mình tạo ra thì không thật, như tượng Phật do thợ nắn ra. Nhưng nếu không tu thì không bao giờ thành Phật. Chúng ta phải hiểu những điểm chính yếu này. Chúng ta đã có sẵn Phật tánh từ vô lượng kiếp, mà bị vô minh che lấp. Tu là dẹp vô minh chứ không phải là làm ra Phật tánh. Dẹp vô minh thì Phật tánh hiển lộ. Cũng như có ngọn đèn mà bóng bị đóng khói đen cho nên không thấy ánh sáng. Muốn ngọn đèn đó sáng phải lau bóng. Đó chỉ là lau khói bụi đóng chứ không phải lau để có ánh sáng. Khi khói bụi hết thì ánh sáng tự hiện. Nếu như lau mà có ánh sáng thì không đúng, nhưng không lau thì cũng không có ánh sáng. Vậy nên mới nói tu mà không tu. Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng . Đó là những câu khó hiểu trong Phật pháp.

    Phải khéo dẹp những tánh xấu, những mê lầm thì Phật tánh mới hiện bày. Phật tánh đã sẵn bây giờ mới hiện, không do mình tạo. Vì không phải mình tạo nên mới chân thật. Nếu nói rằng do Phật lúc xưa tu khổ hạnh, bố thí... bây giờ mới thành Phật, đây là lời nói của ma. Như vậy những kinh Đại thừa nói Bồ-tát bố thí... thì có phải là ma nói hay không? Thật không phải vậy, chúng ta nên hiểu Bồ-tát có khi thị hiện làm người, có khi thị hiện làm trời, có khi làm tất cả chúng sanh nữa, bởi vì muốn giáo hóa chúng sanh mà làm những công hạnh đó, nên chẳng phải lỗi lầm.

    Này Ca-diếp! Nếu kinh luật nào nói đức Như Lai chánh giác đã thành Phật từ lâu, vì muốn cứu độ chúng sanh nên nay mới thị hiện thành Phật, và vì tùy thuận theo thế gian nên cũng thị hiện có cha mẹ, nhân nơi ái dục hòa hiệp mà sanh. Phải biết kinh luật này chính thật là của Như Lai nói.

    Phật xác nhận rõ ràng như vậy. Nếu kinh nào nói pháp thân, Phật tánh do làm ra thì đều là ma nói. Nói pháp thân, Phật tánh sẵn có, bây giờ phá hết mê lầm liền thấy, đó là Phật nói. Nói tất cả những hành động mà Phật thị hiện là vì lợi ích chúng sanh thì đó là Phật nói.

    Nếu ai tin theo lời ma, thời là quyến thuộc của ma. Bằng người nào có thể tùy thuận kinh luật của Phật, người đó là Bồ-tát.

    Như vậy nếu theo ma là quyến thuộc của ma, còn nhận đúng tinh thần của Phật nói thì đó là Bồ-tát.

    Nếu có chỗ nào nói không nên tin rằng lúc mới sanh, cả bốn phương Như Lai đều đi bảy bước. Phải biết đây là lời của ma. Ai tùy thuận theo lời ma thời là quyến thuộc của ma.

    Nếu nói lúc Như Lai mới ra đời cả bốn phương đều đi bảy bước, đó là Như Lai phương tiện thị hiện. Phải biết đây là kinh luật của Như Lai nói. Người nào tùy thuận lời Phật dạy, thời là bậc Bồ-tát.

    Nếu có chỗ nói khi Bồ-tát giáng sanh, phụ vương cho người đem đến miếu thờ trời, tất cả chư thiên, thần, như Đại Tự Tại thiên, Đại Phạm thiên vương, thiên Đế-thích v.v... thảy đều chắp tay lễ chân Bồ-tát. Đây là lời của Phật. Người thuận theo lời này là bậc Bồ-tát.

    Người nào nói không nên tin Phật sanh ra có đi bảy bước thì đó là ma nói. Tại sao Phật lại nhấn mạnh điểm này? Bởi vì nếu nói Phật mới sanh ra đi bảy bước rồi tay chỉ trời tay chỉ đất như vậy chứng minh rằng Phật thị hiện mà sanh ra, thì đúng tinh thần nhận được pháp thân bất sanh bất diệt. Đó là người hiểu được pháp thân, mà hiểu được pháp thân là Bồ-tát. Nếu nói điều đó không thật thì đó là phàm phu, là ma. Nếu tin được Phật sanh ra đi bảy bước là do phương tiện thị hiện thì là lời nói của Phật, tin được như vậy là Bồ-tát.

    Chỗ này rất tế nhị nhưng nếu nhận được ý này chúng ta mới thấy sự cao siêu của kinh điển Đại thừa. Bao giờ đọc kinh điển Đại thừa ta cũng thấy có vẻ huyền bí, như phóng hào quang khiến mười phương thế giới hợp thành một thế giới... Nhưng đó là biểu tượng pháp thân Phật trùm khắp mười phương. Khi đạt được pháp thân thì mười phương pháp giới đều tùy theo ý mình, tự tại với không gian. Khi nói tuổi thọ Phật vô lượng vô biên không thể tính kể là đạt được pháp thân vượt ngoài thời gian. Không những kinh Đại Bát-niết-bàn nói tuổi thọ vô lượng mà tất cả những kinh Đại thừa đều nói như vậy. Vì pháp thân vượt ngoài thời gian và trùm khắp không gian. Thời gian và không gian đều là từ pháp thân biến hiện. Vì vậy Phật có thể tự do thị hiện thế nào cũng được. Pháp thân bất sanh bất diệt và thường trú cho nên Phật đản sanh, có gia đình là pháp thị hiện; nếu cho là thật tức si mê lầm lẫn, là ma nói. Vì vậy ở đây quan trọng chữ “Tùy duyên thị hiện”.

    Nếu nói khi Bồ-tát giáng sanh, phụ vương cho người đem đến miếu thờ trời, tất cả chư thiên thần, như Đại Tự Tại thiên, Đại Phạm thiên vương, thiên Đế-thích v.v... thảy đều chắp tay lễ chân Bồ-tát. Đây là lời của Phật. Người thuận theo lời này là bậc Bồ-tát. Nhiều người cho rằng Phật cao ngạo, cho mình là trên hết. Nhưng chúng ta đã nghe, hiểu rằng pháp thân trùm tất cả tam giới, mà chư thiên dù ở Vô sắc giới cũng nằm trong tam giới, thì làm sao chư thiên không thuộc vào pháp thân. Nếu nói chư thiên bằng hoặc có trước pháp thân thì ngoài pháp thân còn có pháp khác, ngoài tâm còn có vật thì chưa phải là cứu cánh, chưa phải là Đại thừa. Vì vậy tất cả chư thiên đều phải cung kính cúng dường.

    Nếu gạn rằng: Trời sanh trước, Phật sanh sau, cớ sao chư thiên lại lễ kính Phật? Phải biết lời gạn này là lời của ma Ba-tuần. Nếu ai thuận theo lời gạn này thời là quyến thuộc của ma.

    Nếu chỗ nào nói: Lúc làm thái tử, vì lòng tham dục, nên Bồ-tát cưới vợ, hưởng thọ khoái lạc nơi chốn thâm cung. Nên biết trên đây là lời của ma vương. Người thuận theo đây thời là quyến thuộc của ma.

    Đây nếu có người nào gạn trời sanh trước, Phật sanh sau... đó là ma Ba-tuần, là quyến thuộc của ma. Nếu chỗ nào nói, lúc làm thái tử, vì lòng tham dục... thì đây cũng là quyến thuộc của ma.

    Nếu nói rằng: Từ lâu, Bồ-tát đã bỏ lìa tâm tham dục, vợ con, cho đến sự vui vi diệu của Tam thập tam thiên, như bỏ đờm mũi, huống là sự vui ở cõi người. Bồ-tát cạo bỏ râu tóc, xuất gia hành đạo. Đây là lời Phật nói, là kinh luật của Phật. Người thuận theo đây thời là Bồ-tát.

    Nếu người nào biết Bồ-tát sanh trong cung vua, có gia đình có vợ con, có những thú vui theo thế gian đó chỉ là thị hiện, chứ tâm ngài đã lìa các điều đó rồi, hiểu như vậy đúng là hiểu theo lời Phật nói, đó là kinh luật của Phật, hiểu như vậy là Bồ-tát.

    Nếu có chỗ nói, tại Kỳ Hoàn tinh xá ở nước Xá-vệ, vì lòng đại từ thương xót chúng sanh, nên Phật cho các Tỳ-kheo nuôi tôi tớ, voi ngựa, gia súc, chứa vàng bạc châu báu, cho buôn bán, gieo trồng v.v... Phải biết đây là lời của ma. Ai thuận theo đây thời là quyến thuộc của ma.

    Nếu nói rằng, tại nước Xá-vệ nơi tinh xá Kỳ Hoàn, trước vua Ba-tư-nặc và Cổ-chi-đức Bà-la-môn, đức Phật cấm các Tỳ-kheo không được nuôi chứa và làm các điều trên. Người phạm các điều này thời không được ở trong hàng Tỳ-kheo, phải hoàn tục, như đám cỏ trong ruộng lúa cần phải nhổ bỏ. Đây chính là kinh, luật của Phật. Người thuận theo đây thời là bậc Bồ-tát.

    Nếu có người nào nói đức Phật vì lòng thương xót chúng sanh nên Phật cho các Tỳ-kheo nuôi tôi tớ, voi ngựa v.v... thì đó là ma nói. Ngược lại nói đức Phật cấm không cho thì đó là Phật nói. Như vậy Phật cấm những điều đó thì thật, còn nói Phật cho những điều đó là không thật. Tại sao? Vì sự thật là Phật cấm nhưng có một vài trường hợp đặc biệt Phật cho, chứ không phải Phật quyết tình cho, hiểu như vậy mới khỏi lầm.

    Nếu nói rằng: Thái tử Bồ-tát thị hiện vào miếu thờ trời, ở trong pháp ngoại đạo xuất gia tu hành, thị hiện biết tất cả oai nghi lễ tiết, khéo hiểu biết tất cả văn tự kỹ nghệ, thị hiện làm bậc tôn quý nhất trong các giai cấp của xã hội, dầu vậy, Bồ-tát chẳng có lòng luyến ái, như hoa sen không nhiễm bùn nhơ. Vì độ chúng sanh nên Bồ-tát phương tiện thị hiện thuận theo thế pháp. Những lời trên đây là của Phật nói, người thuận theo đây là bậc Bồ-tát. Nếu nói trái lại thời là lời của ma cùng quyến thuộc của ma.

    Nếu những người nói những lời trên đây là lời Phật nói, người tùy thuận lời trên đây là Bồ-tát, nói trái lại là lời của ma. Như vậy, đức Phật chúng ta thờ ngồi trên tòa sen, tượng trưng Phật sanh ra ở trong thế giới Ta-bà này mà lòng không nhiễm ô, không dính dục lạc chẳng khác nào hoa sen từ bùn mà lên. Nếu cho là Phật sanh ra cũng hưởng giàu sang sung sướng, các thứ dục lạc của thế gian, sau chán nản rồi đi tu, như vậy ngài cũng có tâm nhiễm ô như chúng ta, thì không phải là tinh thần Đại thừa. Cho nên với tinh thần Đại thừa, Phật ở trong ô trược mà không dính với ô trược. Phật ngồi trên tòa sen là hình thức đặc biệt của Đại thừa.

    Nếu có người cố chấp chín bộ kinh luật mà không chịu tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa, cho rằng không phải của Phật nói, vì trong kinh luật của họ không có nói đến. Phải biết người này có tội, không phải đệ tử của Phật.

    Nếu có người tin chín bộ kinh nói trước mà không tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa thì những người đó là những người có tội, không phải là đệ tử của Phật.

    Nếu có người tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa, cho rằng vì độ chúng sanh nên Như Lai nói kinh Đại thừa. Người này chính thật là đệ tử của Phật.

    Nếu có chỗ nói, Như Lai không phải là kết quả của vô lượng công đức, là vô thường biến đổi, do chứng pháp Không nên tuyên nói lý vô ngã, chẳng thuận với thế gian. Đây là lời của ma, người tin lời này thời là quyến thuộc của ma.

    Nếu nói rằng Như Lai là bậc Đẳng chánh giác không thể nghĩ bàn, là kết quả của vô lượng công đức, là thường trụ không biến đổi. Đây là lời Phật nói, ai thuận theo lời này thời là bậc Bồ-tát.

    Không thừa nhận rằng Như Lai sẵn có vô lượng vô biên công đức mà cho Như Lai là vô thường biến đổi, do chứng được pháp Không nên tuyên nói lý vô ngã, thì đó là lời của ma, ngược lại là lời Phật.

    Nếu có Tỳ-kheo thật không chỗ được mà dối hiện tướng đã được, cùng nói được các pháp hơn người, thời phạm tội Ba-la-di, mất pháp làm người, như viên đá bể hai không còn liền lại được.

    Nếu người tu hành không chứng được mà dối hiện nói mình chứng được là phạm tội phá giới, mà tội phá giới này là đại vọng ngữ nên nói là Ba-la-di, không cứu được như viên đá bể hai không lành lại được.

    Nếu có Tỳ-kheo giới đức trong sạch, ít muốn biết đủ, ở nơi vắng vẻ rảnh rang. Vua quan gặp Tỳ-kheo cho là bậc A-la-hán, rồi cung kính khen ngợi rằng Đại sư đây sau khi bỏ thân này sẽ chứng quả vô thượng Bồ-đề. Tỳ-kheo nghe được liền cải chính là mình chưa chứng quả thánh và khuyên vua quan chớ nhận lầm. Nhà vua vẫn cố kính tin và loan truyền cho mọi người cùng tôn trọng cúng dường. Tỳ-kheo này thật là người giới đức trong sạch nên làm cho mọi người được phước đức lớn. Tỳ-kheo này không phạm tội Ba-la-di vì tự mọi người sanh lòng kính tin cúng dường. Nếu nói Tỳ-kheo này mắc tội, phải biết đó là lời của ma.

    Lại có Tỳ-kheo giảng tuyên giáo điển Đại thừa rất sâu của chư Phật rằng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì có Phật tánh sẽ dứt trừ vô lượng phiền não bèn thành bậc Vô thượng Chánh giác, trừ hạng nhất-xiển-đề.” Nếu có người hỏi Tỳ-kheo: Nhà thầy có Phật tánh chăng? Sẽ được làm Phật hay không? Tỳ-kheo đáp: Chính tôi đây quyết định có Phật tánh, còn thành Phật hay không chưa có thể thẩm định. Người lại nói Đại đức không phải hạng nhất-xiển-đề, tất được thành Phật không còn nghi ngờ gì. Tỳ-kheo đáp rằng: “Vâng! Đúng như lời người đã nói.” Dầu Tỳ-kheo này nói quyết định có Phật tánh, mà vẫn không phạm tội.

    Vị Tỳ-kheo chưa chứng nhưng tự người ta kính trọng khen ngợi sau này sẽ chứng. Tự mình cải chính là chưa chứng nhưng họ vẫn tin như vậy, mình không phạm tội. Tại sao? Vì mình không có lòng muốn khoe khoang, họ cứ tin thì biết làm sao!

    Nhiều người tin mình có Phật tánh và quả quyết tôi có Phật tánh, tôi sẽ thành Phật. Người khác nghe như vậy nói rằng người ấy đại vọng ngữ, chưa thành Phật mà dám bảo mình sẽ thành Phật. Nhưng thật sự người này không mắc tội đại vọng ngữ. Bởi vì tin rằng mình có Phật tánh, tức đã nhận đúng lẽ thật của tinh thần Đại thừa. Mình có Phật tánh, chịu khó lau chùi cho sạch phiền não thì Phật tánh sẽ hiển lộ toàn vẹn, là thành Phật.

    Lại có Tỳ-kheo lúc xuất gia tự nghĩ rằng: Nay ta quyết định thành bậc Vô thượng Chánh giác.

    Tỳ-kheo này dầu chưa được thành Phật, nhưng đã được vô lượng vô biên phước đức. Vì xưa kia, trong tám mươi ức kiếp, ta giữ giới trong sạch, ít muốn biết đủ, thành tựu oai nghi, khéo tu vô lượng pháp tạng của chư Phật, thuở ấy ta cũng quyết định rằng mình có Phật tánh, nhờ đó nên nay ta được thành Phật, có đức đại từ bi.

    Những điều trên đây là lời Phật nói, nếu ai thuận theo thời là bậc Bồ-tát. Còn ai không chịu thuận theo thời là quyến thuộc của ma.

    Nếu có người mới xuất gia mà tự nghĩ rằng nay ta quyết định sẽ thành bậc Vô thượng Chánh giác, Tỳ-kheo này dầu chưa được thành Phật, nhưng đã được vô lượng vô biên phước đức. Không phải nói như vậy là ngã mạn, là đại vọng ngữ; nhưng chính quyết định đó mà được vô lượng vô biên công đức. Phật nói: Vì xưa kia trong tám mươi ức kiếp ta giữ giới trong sạch, ít muốn biết đủ, thành tựu oai nghi, khéo tu vô lượng pháp tạng của chư Phật, thuở ấy ta quyết định rằng mình có Phật tánh, nhờ đó nên nay ta được thành Phật, có đức đại từ bi. Nhờ quyết định mình có Phật tánh cho nên rồi sẽ thành Phật. Đó là chuyện của đức Phật đã làm, chúng ta hiện giờ cũng phải mạnh mẽ mà làm như vậy. Thế nên những ai nhận, hiểu và làm được như vậy thì gọi là bậc Bồ-tát, là đệ tử của Phật. Còn ngược lại đó là quyến thuộc của ma.

    Ma lại sẽ bảo rằng: Không có bốn tội Trọng, mười ba tội Tăng tàn, hai tội Bất định, ba mươi tội Xả đọa, chín mươi tội Đọa, bốn pháp phải Sám hối, các pháp phải Học, bảy điều Diệt tránh, nhẫn đến không có tội thô, tội nghịch, Nhất-xiển-đề. Nếu có Tỳ-kheo phạm các tội đã kể trên đây mà phải đọa địa ngục thời hàng ngoại đạo lẽ ra đều được sanh lên cõi trời cả, vì ngoại đạo không thọ giới, tất không có giới gì mà phạm. Đó là Như Lai muốn khủng bố người nên nói các điều giới ấy. Dầu Như Lai có nói phạm tội Đột-kiết-la, phải bị đọa vào địa ngục mãi đến tám trăm muôn năm của cõi trời Đao-lợi mới mãn tội, đó cũng là việc thị hiện để khủng bố người. Rằng Ba-la-di cho đến Đột-kiết-la, tội nặng tội nhẹ không sai. Đây là các nhà luật sư vọng nói là lời của Phật chế, kỳ thật không phải Phật chế như vậy. Tất cả những lời trên đây là điển từ của ma cả.

    Ma sẽ nói: Tất cả giới luật của Bồ-tát, Thanh văn không có thật, do Phật khủng bố đệ tử mà đặt ra. Vì vậy nói nếu có vị Tỳ-kheo phạm giới phải đọa địa ngục thì hàng ngoại đạo sanh thiên đường hết, vì ngoại đạo không thọ giới nên không phạm. Bây giờ có một số người cũng lý luận tương tự như vậy: Tôi không dám quy y thọ giới, thọ giới rồi sau phạm thì sẽ mắc tội, không thọ thì không tội, ở ngoài không sướng hơn sao? Họ nghĩ Phật chế giới là để cột mình, ai mà vô đó thì bị cột, ở ngoài thì được tự do. Họ nghĩ có tội là do trái lời Phật.

    Ví dụ người cha lương thiện đạo đức răn con không nên ăn trộm, nếu con ăn trộm cha sẽ từ con. Người con có bạn rủ đi ăn trộm, nó nói cha tao cấm không cho ăn trộm. Người bạn nói: Mày sao lại bị cha ràng buộc? Tao thì tự do ăn trộm. Nó ăn trộm và tưởng mình không phạm tội vì đâu có chịu sự ràng buộc của người cha. Nhưng dù không phạm điều cấm của người cha, nó vẫn bị bắt ở tù. Lời cấm kia là vì thương không muốn con mình ở tù. Dù có cấm hay không, ăn trộm thì phải ở tù.

    Những người nông nổi cho rằng mình không thọ giới của Phật thì không tội, người nào thọ rồi phạm mới tội. Đó là những hiểu biết sai lầm. Trong giới Phật dạy mình không trộm cướp, không giết người. Bây giờ mình giết người, trộm cắp thì dù không thọ giới Phật cũng sẽ bị người ta giết lại hay bị bắt bỏ tù.

    Ngoại đạo cũng nói các ông là Tỳ-kheo thọ mấy trăm giới nên khi phạm thì sẽ xuống địa ngục, còn ngoại đạo chúng tôi không thọ giới nào nên suốt đời không phạm. Phật nói phạm giới thì xuống địa ngục, còn không phạm sẽ sanh lên cõi trời, vì vậy chúng tôi không thọ thì không phạm nên sẽ được lên cõi trời, còn các ông sa xuống địa ngục hết vì không phạm giới nặng cũng phạm giới nhẹ. Lối lý luận này là của ma.

    Có chỗ nói rằng: Ở trong các điều giới, nếu phạm một giới nhỏ, sẽ bị khổ báo trong thời gian rất lâu. Nhận thức như vậy sẽ giữ gìn tự thân như rùa giấu kín sáu chi.

    Nếu có luật sư nào nói rằng: “Phàm chỗ phạm giới đều không tội báo.” Không nên gần gũi luật sư này. Như Phật đã từng dạy:

    Nếu nói quá một pháp 

    Đây gọi là vọng ngữ, 

    Chẳng nhận thấy đời sau 

    Không ác nào chẳng tạo.

    Do đây, chẳng được thân cận người phủ nhận nhân quả. Trong chánh pháp của Phật trong sạch như vậy, huống lại có phạm tội Du-lan-giá hoặc phạm Tăng tàn và Ba-la-di mà chẳng phải là tội ư! Thế nên rất phải tự giữ gìn những giới pháp như vậy. Nếu không giữ gìn, thời lấy pháp gì mà gọi là cấm giới?

    Trong các kinh, Như Lai cũng nói nếu có phạm bốn tội trọng Ba-la-di cho đến phạm tội nhỏ Đột-kiết-la, thời phải theo luật mà trị tội. Nếu chúng sanh chẳng hộ trì cấm giới, làm sao thấy được Phật tánh.

    Nếu có người nói: Ở trong các điều giới, nếu phạm một giới nhỏ vẫn bị khổ báo trong thời gian rất lâu. Những vị đó là những luật sư dạy dỗ mình, nên hãy cố gắng tin hiểu, nên gần gũi. Như Phật đã từng dạy:

    Nếu nói quá một pháp 

    Đây gọi là vọng ngữ, 

    Chẳng nhận thấy đời sau 

    Không ác nào chẳng tạo.

    Nếu nói quá một pháp, tức là mình vượt qua ngoài phạm vi thật của nó thì sẽ mắc tội đại vọng ngữ. Chẳng nhận thấy đời sau, nghĩa là không tin có đời sau, nghĩ rằng chết là hết thì cứ mặc tình làm điều ác. Do đây, chẳng được thân cận người phủ nhận nhân quả. Trong chánh pháp của Phật trong sạch như vậy, huống lại có phạm tội Du-lan-giá hoặc phạm Tăng tàn và Ba-la-di mà chẳng phải là tội ư! Tất cả phạm giới đều là tội. Nên trong các kinh Phật dạy dù phạm tội lớn hay nhỏ thì cũng theo đó mà trừng trị.

    Dầu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do nơi trì giới rồi sau mới được thấy. Do thấy Phật tánh mà được thành Vô thượng Chánh giác.

    Trong chín bộ kinh, không có kinh Đại thừa phương đẳng, cho nên không nói có Phật tánh. Dầu không nói, nhưng phải biết là thật có Phật tánh.

    Người nào nói những lời như đây, thời thật là đệ tử của Như Lai.”

    Ở đây Phật nói rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do trì giới, về sau mới thấy Phật tánh, mới thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Mỗi người chúng ta ai cũng có Phật tánh nhưng Phật tánh không hiển lộ vì vô minh che đậy. Trì giới tu hành là phương tiện dẹp phá vô minh. Nếu vô minh hết thì Phật tánh hiển bày đầy đủ, gọi là giác ngộ thành Phật. Phật nói rõ Trong chín bộ kinh, không có kinh Đại thừa phương đẳng cho nên không nói về Phật tánh, dầu không nói nhưng phải biết thật có Phật tánh . Trong các bộ kinh Tiểu thừa không nói về Phật tánh, tuy vậy chúng ta phải nhận chắc rằng mọi người đều có Phật tánh. Người nào nói những lời như đây thì thật là đệ tử của Như Lai.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như trên đã nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Trong chín bộ kinh chưa từng nghe thấy điều này. Như nói là có thời sao lại không phạm tội Ba-la-di?”

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Như lời ông nói đó, thật chẳng phạm tội Ba-la-di. Như có người nói trong biển cả chỉ có bảy thứ báu, không có tám thứ. Người này không có lỗi. Cũng vậy, nếu nói trong chín bộ kinh, không có Phật tánh, vẫn là vô tội. Vì Như Lai ở trong biển lớn đại trí Đại thừa nói có Phật tánh. Hàng Nhị thừa chẳng thấy biết mà nói là không, nên chẳng mắc tội. Cảnh giới này là chỗ thấy biết của Phật, chẳng phải hàng Thanh văn và Duyên giác biết đến.

    Bồ-tát Ca-diếp nghi trong chín bộ kinh Tiểu thừa không có nói Phật tánh mà Phật xác nhận chúng sanh có Phật tánh, đã có Phật tánh mà kinh kia không nói vậy là nói dối, là phạm tội Ba-la-di. Phật nói tuy trong kinh Tiểu thừa không nói mà không phạm tội Ba-la-di vì sao? Ví như trong biển có tám thứ báu nhưng người ta nói có bảy thứ; còn sót một thứ, do người ta chưa thấy nên chưa nói, vì thế không phạm tội nói dối.

    Này Ca-diếp! Người không được nghe tạng pháp thậm thâm bí mật của Như Lai thời làm thế nào biết rằng có Phật tánh. Những gì gọi là tạng pháp thậm thâm bí mật của Như Lai? Chính là kinh điển Đại thừa phương đẳng vậy.

    Này Ca-diếp! Có các nhà ngoại đạo, hoặc nói ngã là thường còn, hoặc nói ngã là đoạn diệt.

    Như Lai không nói như vậy, mà cũng nói là có ngã và cũng nói là không ngã. Đây gọi là trung đạo.

    Ngoại đạo chấp ngã là thường còn thì thành chấp thường, chấp ngã đoạn diệt thì thành chấp đoạn. Chấp ngã thường còn là ngã đời trước, đời này và vô lượng đời sau không đổi thay, không lên xuống. Có ngã như vậy nên tu cũng là thừa, làm ác cũng không sao. Đó là thường kiến. Có người chấp ngã này khi chết rồi là hết không còn gì nữa. Vì vậy làm lành không có ai hưởng, làm ác cũng không ai chịu tội. Như vậy cũng do chấp ngã thành đoạn diệt, gọi là đoạn kiến.

    Phật vẫn nói có ngã, vẫn nói không ngã. Nói không ngã là phá chấp ngã thường còn ở trên. Nói có ngã là để phá chấp vô ngã sau này, để chỉ cho Phật tánh bất sanh bất diệt, không phải ngã họ chấp. Vì vậy nói có ngã không ngã của Phật thuộc về trung đạo. Nói không ngã cũng để mình dẹp trừ phiền não, để bao nhiêu tham sân si theo đó mà sạch. Khi nói có ngã là nói có Phật tánh, hết vô minh mới hiển lộ, cũng để mình tiến tu. Cho nên hai bên khác nhau. Ngoại đạo nói ngã thường còn, nói ngã đoạn diệt để không sợ tội phước. Đây nói không ngã là để dẹp phiền não, nói có ngã cũng để dẹp vô minh. Như vậy nói có nói không của Phật là lối nói trung đạo, không phải nói theo một bên của phàm phu.

    Nếu có người nói: Đức Phật nói trung đạo: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì phiền não che ngăn nên không thấy không biết. Vì thế nên phải siêng năng tu tập để dứt trừ phiền não.

    Ai nói được những lời trên đây thời chẳng phạm bốn tội trọng. Nếu không nói được như đây thời gọi là phạm tội Ba-la-di.

    Người nào nói được như vậy là không phạm tội, nói đúng sự thật, còn không nói được như vậy là trái sự thật, là nói dối.

    Nếu có người nói: “Tôi đã thành Phật, vì tôi có Phật tánh.” Người nói lời này phạm tội Ba-la-di. Vì dầu có Phật tánh, nhưng chưa tu tập các pháp lành nên chưa được thấy, vì chưa thấy Phật tánh nên chẳng được thành Phật.

    Này Ca-diếp! Do những nghĩa này nên Phật pháp rất sâu chẳng thể nghĩ bàn.”

    Nếu có người nói Tôi đã thành Phật, vì tôi có Phật tánh là phạm tội Ba-la-di. Tuy mình có Phật tánh nhưng chưa dẹp hết phiền não làm sao thành Phật. Khi nói thành Phật vì có Phật tánh, mà đã thành Phật thì tu làm chi nữa, nên đó là nói dối. Mình có Phật tánh nhưng do phiền não che đậy, nay ráng dẹp phiền não để Phật tánh hiển lộ, thì đó là nói thật. Cũng thừa nhận Phật tánh nhưng một bên phạm tội, còn một bên không phạm tội. Nên Phật nói, do những nghĩa này nên Phật pháp rất sâu chẳng thể nghĩ bàn. Cũng một câu nói đó mà sửa một chút là có tội, nói đúng một chút là có phước, nói khéo một chút như Phật nói, sai một chút trở thành ma nói.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Có Quốc vương hỏi thế nào là Tỳ-kheo mắc phải tội đại vọng ngữ?”

    Phật dạy: “Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo vì cầu lợi, vì việc uống ăn, rồi làm những cách dua nịnh gian ngụy khi trá, thế nào cho người đời tưởng thật ta là bậc khất sĩ, để ta được danh to lợi lớn. Tỳ-kheo này nhiều ngu si, tự biết rằng chính mình chưa chứng đặng bốn quả thánh, trong lòng luôn suy nghĩ phải làm thế nào cho người đời, các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đều nói rằng ta đã chứng quả, là bậc phước đức lớn, thật là thánh nhân, Tỳ-kheo suy nghĩ cầu lợi chẳng phải cầu pháp, ta phải đi đứng đoan nghiêm, chấp trì y bát, giữ đúng oai nghi, ở riêng nơi yên vắng như A-la-hán. Làm cho người đời đều bảo rằng: Tỳ-kheo như thế là bậc lành bậc tốt nhất, ngài tinh cần khổ hạnh tu pháp tịch diệt. Như thế ta sẽ có đệ tử đông, cũng sẽ được người cúng dường trọng hậu, khiến hàng phụ nữ cung kính mến tưởng.

    Nếu có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào làm những sự như vậy thì mắc phải tội đại vọng ngữ.

    Bồ-tát Ca-diếp muốn Phật giản trạch giới đại vọng ngữ. Có Quốc vương hỏi thế nào là Tỳ-kheo mắc phải tội đại vọng ngữ . Phật giải thích, có những Tỳ-kheo tăng Tỳ-kheo-ni thích ra vẻ là người đức hạnh để mong cầu người ta cúng dường nhiều, mong cầu được khen ngợi, mong cầu đệ tử cho đông..., làm ra vẻ thanh tịnh, giữ giới luật để mong cầu được kính tín cúng dường, đệ tử nhiều... thì đều phạm tội đại vọng ngữ, vì không tu hành chân thành lợi pháp, mà chỉ vì lợi dưỡng cho nên phạm tội đại vọng ngữ.

    Lại như có Tỳ-kheo vì muốn kiến lập chánh pháp vô thượng nên ở nơi yên vắng, tự chẳng phải A-la-hán mà muốn làm cho mọi người tin tưởng gọi là A-la-hán, là Tỳ-kheo tốt, Tỳ-kheo lành, Tỳ-kheo tịch tịnh, được nhiều người xuất gia theo làm quyến thuộc. Nhân đó khuyên dạy các Tỳ-kheo và Ưu-bà-tắc phá giới, đều khiến trì giới. Do đây mà chánh pháp được kiến lập, làm rạng rỡ pháp vô thượng của Như Lai, khai hiển Phương đẳng Đại thừa, độ thoát vô lượng chúng sanh, khéo hiểu những nghĩa khinh trọng trong kinh luật mà Như Lai đã nói. Tỳ-kheo này lại nói: Nay ta cũng có Phật tánh. Có kinh điển gọi là tạng bí mật của Như Lai. Nơi trong kinh này, ta sẽ quyết định đặng thành Phật đạo, có thể dứt sạch vô lượng ức phiền não kiết sử. Vì vô lượng Ưu-bà-tắc mà nói rằng: Các ông đều có Phật tánh, ta cùng các ông đều sẽ an trụ nơi cấp bậc của Như Lai mà thành Vô thượng Chánh giác, dứt sạch vô lượng phiền não kiết sử. Tỳ-kheo nói những lời trên đây không gọi là người phạm đại vọng ngữ mà gọi là bậc Bồ-tát.

    Lại như có Tỳ-kheo vì muốn kiến lập chánh pháp vô thượng, tức là muốn truyền bá chánh pháp Đại thừa, nên ở chỗ yên vắng, tự chẳng phải A-la-hán mà muốn làm cho mọi người tin tưởng gọi là A-la-hán, là Tỳ-kheo tốt . Như vậy hai bên hành động cũng giống nhau, cũng chưa đạt đạo, nhưng muốn người ta tin mình được đạo. Tin mình được đạo để làm gì? Để truyền bá chánh pháp, dựng lập chánh pháp. Tỳ-kheo này cũng ở chỗ tịch tịnh, được nhiều người xuất gia theo làm quyến thuộc. Nhân đó khuyên dạy các Tỳ-kheo và Ưu-bà-tắc phá giới, đều khiến họ trì giới. Do đây chánh pháp được kiến lập, làm rạng rỡ pháp vô thượng của Như Lai . Những Tỳ-kheo này nói ra Phật tánh, giảng dạy kinh điển Đại thừa..., họ không phạm tội Ba-la-di tức là phạm tội vọng ngữ, trái lại gọi họ là bậc Bồ-tát.

    Như vậy cũng ở chỗ vắng vẻ, cũng muốn người ta tin tưởng vào mình nhưng một bên là đại vọng ngữ, một bên là Bồ-tát. Một bên tất cả việc làm đều nhắm vào lợi dưỡng danh vọng đệ tử đông là tà, còn một bên chỉ nhắm vào điểm truyền bá chánh pháp, dựng lập chánh pháp, gây dựng cho những người phá oai nghi phạm giới chừa bỏ những tật xấu, thì là Bồ-tát. Phật đã phân rõ tà chánh để chúng ta không lầm lẫn.

    Như nói: Người phạm tội Đột-kiết-la phải bị đọa trong địa ngục chịu tội đến tám trăm muôn năm tính theo năm tháng ở cõi trời Đao-lợi, huống là cố phạm tội Du-lan-giá.

    Trong Đại thừa đây, nếu có Tỳ-kheo phạm tội Du-lan-giá thời không nên thân cận.

    Những gì gọi là tội Du-lan-giá trong kinh Đại thừa?

    Nếu có đàn tín tạo lập chùa Phật, đem các tràng hoa dùng cúng dường Phật. Có Tỳ-kheo thấy chỉ trong xâu hoa, không hỏi xin mà lấy thời phạm tội Du-lan-giá. Hoặc biết hay chẳng biết cũng đều phạm như vậy. Nếu vì tâm tham mà phá hoại tháp Phật thời phạm tội Du-lan-giá. Không nên thân cận những người như vậy.

    Lấy mà không xin, chỉ mỗi sợi chỉ trong vòng hoa thôi cũng phạm tội. Vì sao? Người ta vì muốn trang nghiêm Phật mà mình lại muốn đem về riêng cho phần mình là phạm tội, ở đây nói có tâm tham mà phá hoại tháp Phật.

    Nếu đàn tín thấy tháp Phật hư, vì muốn tu bổ cúng dường xá-lợi, nơi trong tháp này hoặc được châu báu bèn đem gửi Tỳ-kheo. Tỳ-kheo lãnh rồi bèn tự ý thọ dụng. Tỳ-kheo này gọi là hạng bất tịnh, sanh nhiều sự đấu tranh. Các Ưu-bà-tắc tốt không nên gần gũi cúng dường. Tỳ-kheo như vậy gọi là vô căn, gọi là hai căn, gọi là bất định căn.

    Người bất định căn lúc tham muốn làm gái, thân liền biến làm gái, lúc tham muốn làm trai thân liền biến làm trai.

    Tỳ-kheo như vậy gọi là ác căn, không gọi là nam, không gọi là nữ, không gọi là tại gia, không gọi là xuất gia. Với Tỳ-kheo này, không nên thân cận cung kính cúng dường.

    Có người nghe nói mình chuẩn bị xây tháp bèn cúng tiền, nhưng mình lại không chịu xây tháp mà làm vào việc khác thì phạm tội rất nặng.

    Trong Phật pháp, về pháp tắc của hàng Sa-môn, phải sanh lòng từ bi lợi ích chúng sanh, cho đến loài trùn kiến cũng phải ban sự vô úy, đây là pháp của Sa-môn. Xa lìa uống rượu cho đến ngửi mùi đây là pháp của Sa-môn. Chẳng được vọng ngữ cho đến trong giấc mộng cũng không nghĩ đến sự vọng ngữ, đây là pháp của Sa-môn. Chẳng sanh lòng dục cho đến trong giấc mộng cũng không nghĩ đến lòng dục, đây là pháp của Sa-môn.”

    Phật răn chúng ta trong hành động hằng ngày, cho đến trong chiêm bao cũng phải ráng giữ.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo ngủ chiêm bao hành dâm dục, có phạm giới chăng?”

    Phật dạy: “Không phạm giới. Ở nơi sự dâm dục, phải sanh ý nghĩ là hôi nhơ, cho đến không có một niệm tưởng là sạch tốt. Tránh sự nghĩ tưởng ái nhiễm hàng phụ nữ. Nếu chiêm bao hành dâm, lúc thức dậy phải hổ thẹn ăn năn. Nếu móng lòng dâm dục phải kíp trừ bỏ. Tỳ-kheo đi khất thực, lúc nhận cúng dường, phải có ý tưởng như ăn thịt con đẻ trong thời kỳ đói kém. Pháp môn trên đây là kinh luật của Phật nói. Người thuận theo đây thời là bậc Bồ-tát.

    Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật, nếu có Tỳ-kheo trong giấc chiêm bao thấy mộng xấu thì có phạm giới chăng?

    Phật dạy, dù cho trong giấc mộng có hiện ra những điều không tốt mà biết dứt tâm ái nhiễm, biết hối hận ăn năn hổ thẹn thì không phạm tội.

    Nếu Tỳ-kheo đi khất thực, lúc nhận cúng dường phải có ý tưởng như ăn thịt con đẻ trong thời kỳ đói kém, đừng cầu thức ăn ngon mà chỉ là để trừ đói khổ. Người thuận theo như vậy gọi là Bồ-tát.

    Nếu có kẻ nào nói rằng đức Phật cho phép Tỳ-kheo luôn đứng co một chân, luôn nín lặng không nói, hoặc nhảy vào lửa, nhảy xuống vực, từ trên gộp đá cao tự nhảy xuống chẳng tránh sự hiểm nạn, hoặc uống độc dược, hoặc tuyệt thực, nằm trên tro đất, tự trói tay chân, hoặc giết hại chúng sanh, bàng môn chú thuật, con nhà hàng thịt, không căn, hai căn, bất định căn, giác quan không đủ. Như Lai đều cho những người trên đây xuất gia hành đạo. Phải biết lời này là của ma nói.

    Phật không cho phép Tỳ-kheo hành những khổ hạnh trên đây, cũng không cho phép người sống tà mạng, hoặc thiếu các căn... xuất gia hành đạo. Ai nói ngược lại là ma nói.

    Nếu có chỗ nào nói rằng cho mặc ma-ha- lăng-già (là thứ lụa tốt) , đều cho chứa cất tất cả hột giống, loài cỏ cây đều có thọ mạng, Như Lai nói lời này rồi bèn vào Niết-bàn. Phải biết trên đây là lời của ma nói.

    Trước kia Như Lai cho ăn năm thứ sữa bò cùng với dầu, mật, cho mặc y kiều-xa-gia, dép da v.v... trừ những vật của ngoại đạo.

    Như Lai cũng không cho luôn đứng co một chân, mà bảo theo đúng chánh pháp tùy ý đi đứng nằm ngồi. Như Lai cũng chẳng cho tuyệt thực hay uống độc dược, hoặc năm thứ nóng đốt thân, trói cột tay chân, giết hại chúng sanh, luyện bàng môn chú thuật, dùng ngà voi châu ngọc làm dép da. Chẳng cho mặc ma-ha-lăng-già, chứa cất các hột giống. Chẳng nói cỏ cây có thọ mạng. Nếu ai nói Như Lai cho phép và nói như trên đây, phải biết kẻ ấy là quyến thuộc của ngoại đạo, không phải là đệ tử của Phật.

    Như Lai chỉ cho ăn năm thứ sữa bò và dầu, mật, cho mang dép da, mặc y kiều-xa-gia. Như Lai nói tứ đại không có thọ mạng. Kinh luật nào nói như vậy chính là lời của Phật. Thuận theo lời Phật là đệ tử của Phật. Còn không thuận theo lời Phật thời là quyến thuộc của ma. Nếu có người nào tùy thuận kinh luật của Phật, phải biết đó là bậc Bồ-tát.

    Này Ca-diếp! Thế nào là lời của ma nói, thế nào là lời của Phật nói. Nay Như Lai đã phân biệt nhiều cho ông rồi.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nay con mới biết rõ chỗ sai biệt của lời Phật nói cùng lời ma nói, nhân đây mà con được ngộ nhập nghĩa sâu của Phật pháp.”

    Phật khen Ca-diếp Bồ-tát: “Này Ca-diếp! Ông có thể hiểu rành rẽ như vậy, đáng gọi là người thông sáng.”

    Phật phân biệt cho ngài Ca-diếp thấy ma nói thế nào, Phật nói thế nào. Ngài Ca-diếp nghe Phật nói đến đây cũng nhận ra rõ ràng lời Phật lời ma, nhân đây mà ngộ nhập nghĩa thậm thâm của Phật pháp.

    Phật khen Ca-diếp Bồ-tát đã hiểu rành rẽ như vậy, đáng gọi là người thông sáng.

  • 8. Phẩm Tứ Đế

    “Này Ca-diếp! Nói là “khổ” đó, chẳng gọi là thánh đế. Tại sao vậy? Vì nếu nói “khổ” là khổ thánh đế, thời tất cả trâu, dê, lừa, ngựa cùng người địa ngục lẽ ra có thánh đế.

    Này Ca-diếp! Nếu có người nào chẳng biết cảnh giới rất sâu của Như Lai với pháp thân vi mật thường trụ không biến đổi, cho là thực thân không phải pháp thân, chẳng biết đạo đức oai lực của Như Lai, đây gọi là “khổ”.

    Do vì chẳng biết nên nơi “pháp” thấy là “phi pháp”, nơi “phi pháp” thấy là “pháp”. Phải biết người này ắt phải đọa vào ác thú mãi trôi lăn trong vòng sanh tử, thêm lớn nghiệp hoặc chịu nhiều khổ não.

    Nếu có người hay biết Như Lai thường trụ không có biến đổi, hoặc nghe tiếng nói hai chữ “thường trụ” một lần phớt qua tai, bèn được sanh lên cõi trời. Về sau, lúc được giải thoát, mới được chứng biết Như Lai thường trụ không có biến đổi. Khi đã chứng biết bèn tự nói: “Ngày trước, tôi từng nghe nghĩa thường trụ này, nay được giải thoát mới được chứng biết. Đối với bản tế, vì không rõ biết, nên tôi phải luân hồi sanh tử xoay lăn vô cùng, ngày nay mới bắt đầu đặng chứng biết như thật.”

    Nếu người nào biết như vậy, thật là tu “khổ đế” được nhiều lợi ích lớn. Nếu người không biết, dầu là siêng tu nhưng không được lợi ích, đây gọi là “khổ”, gọi là “Khổ thánh đế”.

    Nếu người nào không tu tập được như vậy, thời gọi là “khổ”, chẳng phải “Khổ thánh đế”.

    Phần này Phật giải về tứ đế. Có hai quan niệm về tứ đế khác nhau. Quán sát thân này cảnh này tất cả vô thường nên đều là khổ. Do thấy thân khổ cảnh khổ, sanh nhàm chán không đắm mê nơi thân nơi cảnh, cố gắng tu hành nên được giải thoát. Biết các pháp là vô thường, là khổ, thấy đó là một lẽ thật nên gọi là Khổ thánh đế. Đó là quan niệm Nhị thừa.

    Phật muốn chỉ cho thấy được pháp thân cho nên ở đây ngài nói khác: không nhận ra được pháp thân thì gọi là khổ.

    Người nào nghe, tin pháp thân thường trụ là đã có công đức rồi. Nếu nỗ lực tu hành đến khi chứng được pháp thân thường trụ thì sẽ thấy rõ, đạt được pháp thân mới dứt vòng sanh tử luân hồi, còn khi chưa đạt được pháp thân thì cứ chìm mãi trong vòng sanh tử đau khổ.

    Phật kết luận, biết khổ là biết chưa nhận được pháp thân thường trụ thì cứ trôi lăn trong sanh tử luân hồi, gọi đó là khổ. Nhận được pháp thân thường trụ, tu hành thoát khỏi luân hồi sanh tử, đó gọi là tu Khổ thánh đế. Trước, với tinh thần của Thanh văn thì biết tất cả thân cảnh đều vô thường, đều đau khổ, nên phát tâm tu hành, chán bỏ những dục lạc thế gian gọi là tu Khổ đế, tức là thấy được lẽ thật của sự tướng thế gian mà tu hành. Ở đây ngược lại, thấy được chân tánh của các pháp, tức pháp thân thường trụ, rồi tu hành dứt hết mê lầm không còn luân hồi sanh tử nữa, gọi đó là tu Khổ đế. Một bên nhận chân lý trên hình tướng sanh diệt mà khởi tu, một bên nhận chân lý trên pháp tánh thường trụ mà khởi tu. Nhị thừa Đại thừa cùng nói Khổ đế nhưng không giống nhau.

    Nếu không nhận được pháp thân mà tu hành chỉ gọi là khổ, chưa gọi là thánh đế. Thánh đế là lẽ chân thật của thánh.

    “Khổ tập đế” là, nơi trong chân pháp chẳng sanh chân trí. Thọ lấy vật bất tịnh, tức là nô tỳ, hay nói phi pháp là chánh pháp, dứt diệt chánh pháp chẳng cho còn lâu. Vì nhân duyên này mà không biết được pháp tánh, vì không biết mà luân hồi sanh tử chịu nhiều sự khổ não, chẳng được sanh cõi trời và chánh giải thoát. Nếu có thâm trí chẳng hoại chánh pháp, do nhân duyên này được sanh cõi trời và chánh giải thoát.

    Nếu có người không biết Khổ tập đế, mà nói chánh pháp không có thường trụ. Đây đều là diệt pháp. Vì nhân duyên này nên trong vô lượng kiếp lưu chuyển sanh tử chịu các sự khổ não.

    Nếu có thể biết pháp thường trụ chẳng khác, đây gọi là biết “tập”, gọi là “Tập thánh đế”. Nếu người không thể tu tập được như vậy thời gọi là “tập”, chẳng phải “Tập thánh đế”.

    Đoạn này giải thích về Tập đế, tuy hơi dài dòng nhưng chúng ta có thể tóm lại một câu. Như trong kinh Viên Giác, có Bồ-tát hỏi Phật thế nào là vô minh? Phật nói: Nếu thấy tất cả các pháp là thật đó là vô minh, thấy ngã là thật là vô minh.

    Khổ tập đế là gì? Tức là nguyên nhân chịu khổ, là trong chân pháp chẳng sanh chân trí tức là vô minh, là các pháp thật mà không trí để thấy thật. Trong chân pháp mà không sanh chân trí, đó là Khổ tập đế. Bởi không chân trí nên mới chịu thọ lấy vật bất tịnh, là nhận nô tỳ..., nói điều phi pháp là chánh pháp, diệt mất chánh pháp. Đó là gốc từ vô minh, không có chân trí, không thấy được pháp tánh, không thấy không nhận được pháp thân. Không nhận được pháp thân cho nên nói sai lầm làm sai lầm, làm cho Phật pháp bị hủy diệt, phải chịu quả báo đau khổ, chịu sanh tử luân hồi, gọi đó là Tập.

    Theo A-hàm, những nguyên nhân chiêu quả khổ là tham, sân, si, tà kiến, mạn, nghi... gọi là tập nhân. Biết tập nhân, diệt trừ tập nhân là tu Tập đế hay là biết Tập đế. Phật nói biết được pháp thân là biết Tập thánh đế, còn như trên chỉ gọi là Tập. Hai Tập đế khác nhau như thế.

    “Khổ diệt đế” là, nếu có người tu học nhiều pháp không thời là chẳng tốt. Bởi vì sao? Vì dứt tất cả pháp, vì hư hoại chân pháp tạng Như Lai. Tu học như trên đây gọi là tu pháp không. Người tu khổ diệt đế thời nghịch lại tất cả pháp tu của ngoại đạo. Nếu nói rằng tu pháp không là diệt đế đó, thời tất cả ngoại đạo cũng tu pháp không, đáng lẽ họ có diệt đế. Nếu có người tu tập Như Lai tạng: Vô ngã không tịch, người này nơi vô lượng đời lưu chuyển thọ khổ trong vòng sanh tử. Nếu có người chẳng tu tập như vậy, dầu có phiền não nhưng chóng có thể diệt trừ, vì người này biết tạng bí mật Như Lai.

    Nếu có người nói rằng có tạng Như Lai, dầu chẳng thấy được nhưng nếu có thể diệt trừ tất cả phiền não đây thời đặng chứng nhập. Nếu phát tâm như trên đây, nhân duyên trong một niệm, có thể đặng tự tại đối với tất cả pháp.

    Nếu người nào có thể tu tập Diệt đế như vậy chính là đệ tử của ta. Bằng không, thời gọi là tu pháp không chẳng phải Diệt thánh đế vậy.

    Nói về Khổ diệt đế, nếu ai thường tu tập, học theo pháp chấp không thì là bất thiện. Vì sao vậy? Vì dứt bỏ tất cả các pháp, phá hoại kho tàng giáo pháp chân thật của Như Lai. Tu học như vậy gọi là tu chấp lẽ không. Người tu tập đúng lẽ khổ diệt thì ngược với cách tu của tất cả ngoại đạo. Nếu nói rằng tu tập chấp lẽ không là Diệt đế thì hết thảy ngoại đạo đều tu pháp chấp không, lẽ ra đều phải có Diệt đế.

    Như có người nói rằng thật có tạng Như Lai, dù không thể thấy được, nhưng nếu trừ dứt hết mọi phiền não thì sẽ thể nhập vào tạng Như Lai. Nếu ai phát tâm như vậy, dù chỉ một niệm, nhờ nhân duyên đó đối với các pháp liền được tự tại.

    Nếu người tu tập những tướng trạng vô ngã, rỗng không vắng lặng rồi cho đó là tạng sâu kín của Như Lai, thì trong vô số kiếp sẽ lưu chuyển trong sanh tử, chịu nhiều khổ não. Nếu ai không tu tập theo cách như vậy, thì dù có phiền não cũng mau chóng dứt trừ. Vì sao vậy? Nhờ rõ biết được tạng sâu kín của Như Lai. Đó gọi là Khổ diệt thánh đế. Như ai tu tập lẽ diệt như vậy, ấy là đệ tử của Phật. Như ai không tu tập như vậy, đó gọi là tu pháp chấp không, chẳng phải tu Diệt thánh đế.

    Đạo thánh đế tức là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo và chánh giải thoát.

    Có hạng chúng sanh điên đảo cho rằng không Phật, không Pháp, không Tăng và không chánh giải thoát, sanh tử lưu chuyển dường như huyễn hóa. Do kiến chấp này nên lưu chuyển ba cõi chịu nhiều khổ não.

    Nếu người có thể phát tâm thấy rằng Như Lai thường trụ không biến đổi, Pháp, Tăng giải thoát cũng thường trụ như vậy. Nhờ một niệm này trong vô lượng đời tùy ý mà đặng quả báo tự tại.

    Như ta thuở trước, vì bốn thứ điên đảo, chẳng phải pháp chấp là pháp, nên mắc lấy vô lượng nghiệp quả ác.

    Ngày nay ta đã diệt hết những kiến chấp như vậy, nên đặng thành Phật Vô thượng Chánh giác. Đây gọi là Đạo thánh đế.

    Nếu có người cho rằng Tam bảo là vô thường, đây là lối tu hư vọng chẳng phải Đạo thánh đế.

    Nếu người tu tập Tam bảo là thường trụ, người này là đệ tử của ta, chân chánh tu tập thấy bốn pháp thánh đế. Trên đây gọi là bốn thánh đế.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nay tôi mới biết tu tập bốn pháp thánh đế rất sâu.”

    Nói về Đạo thánh đế, đó là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo cùng chánh giải thoát. Có những chúng sanh vì lòng điên đảo nên nói rằng không có Phật Pháp Tăng cùng chánh giải thoát. Sự luân chuyển trong sanh tử chỉ như huyễn hóa. Do nhân duyên tu tập kiến giải sai lầm như vậy nên phải luân chuyển trong ba cõi, mãi mãi chịu sự khổ não nặng nề.

    Nếu có thể sanh tâm thấy rằng Như Lai là thường trụ không biến đổi, Pháp, Tăng, Giải thoát cũng là như vậy. Chỉ nhờ vào một niệm ấy mà trong vô số kiếp liền được những quả báo hoàn toàn theo ý muốn. Vì sao vậy? Thuở xưa chính ta đã vì bốn sự điên đảo, đối với việc không đúng pháp mà cho là chánh pháp, nên phải chịu vô số quả báo ác nghiệp. Nay ta dứt hết những kiến giải điên đảo ấy nên thành Phật chánh giác. Đó gọi là Đạo thánh đế.

    Như có người nói rằng “Tam bảo là vô thường”, tu tập theo kiến giải ấy là sai lầm, chẳng phải Đạo thánh đế. Nếu ai thường tu tập niệm tưởng rằng “Tam bảo là thường trụ” thì người ấy là đệ tử của ta. Dùng sự thấy biết chân chánh mà tu tập bốn pháp thánh đế, đó gọi là tứ thánh đế.

    Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nay con mới rõ biết được việc tu tập pháp tứ thánh đế hết sức sâu xa.

    Khổ diệt đế là gì? Theo A-hàm, khi dứt hết những nguyên nhân của tập đế là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến... (tập nhân), gọi là giải thoát, gọi là tu Diệt đế. Như vậy chỉ lo diệt tập nhân mà không nói rằng kết quả thành cái gì, có công dụng gì, chỉ nói rằng diệt tập nhân đó gọi là giải thoát, diệt hết tập nhân gọi là Không. Ví dụ như cỏ mọc nhiều quá lo cuốc hết cỏ, hết cỏ thành miếng đất trống. Như vậy khi nói hết cỏ, người ta đã ý thức rằng miếng đất là trống. Diệt hết tập nhân người ta sẽ tưởng tượng là không, vì vậy có một số học giả định nghĩa Niết-bàn là hư vô, tức là rỗng không không có gì hết. Vì còn tập nhân là còn sanh tử, hết tập nhân là hết sanh tử, thành không, gọi là Niết-bàn, là giải thoát. Tu học như trên đây gọi là tu pháp không. Nhưng như thế là bất thiện, vì dứt tất cả pháp, phá hoại tạng giáo pháp chân thật của Như Lai, không nhận ra chân tánh. Nếu nhận ra được thì phiền não chóng hết. Đại thừa là ngay vô minh mà biết được thật tánh của nó thì liền là minh, ngay phiền não biết thật tánh của nó liền là Bồ-đề, rời phiền não tìm Bồ-đề không có, rời vô minh tìm minh không ra.

    Như vậy Phật pháp Đại thừa chỉ cho chúng ta thấy pháp chân thật chứ không rơi vào không.

  • 9. Phẩm Tứ Đảo

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Thế nào là Tứ đảo (bốn điều điên đảo)? “Nơi chẳng phải khổ tưởng là khổ”, gọi là điên đảo.

    Chẳng phải khổ chỉ cho Như Lai. Tưởng cho là khổ, tức là cho rằng Như Lai là vô thường biến đổi. Nếu có người nói Như Lai là vô thường, đây gọi là tội khổ rất lớn.

    Nếu nói Như Lai khi xả thân khổ này để nhập Niết-bàn như củi hết lửa tắt, đây gọi là chẳng phải khổ mà tưởng cho là khổ. Chính đó là điên đảo.

    Nếu ta nói rằng Như Lai là thường thời là chấp ngã, vì chấp ngã nên có vô lượng tội, thế nên phải nói Như Lai là vô thường, nói như thế thời ta vui thích.

    Như Lai là vô thường chính đó là khổ, nếu đã là khổ thế nào sanh vui. Bởi ở trong khổ tưởng cho là vui nên gọi là điên đảo.

    Nơi vui tưởng cho là khổ, gọi đó là điên đảo. Vui tức là Như Lai (là pháp thân) . Khổ tức là Như Lai vô thường. Nếu nói Như Lai là vô thường đây gọi là nơi vui tưởng cho là khổ. Như Lai thường trụ, đây gọi là vui.

    Nếu ta nói rằng Như Lai là thường, sao lại nhập nơi Niết-bàn. Nếu nói Như Lai chẳng phải là khổ, sao lại bỏ thân mà diệt độ. Bởi ở trong vui tưởng cho là khổ nên gọi đó là điên đảo. Các điều tưởng lầm như trên gọi là sự điên đảo thứ nhất.

    Như Lai chỉ cho pháp thân, pháp thân không phải vô thường làm sao có khổ. Nếu người nào khởi tưởng Như Lai là vô thường biến đổi thì trong cái chẳng khổ mà tưởng là khổ, đó là điên đảo.

    Nói Phật nhập diệt như củi hết lửa tắt, như vậy gọi là điên đảo, vì Như Lai pháp thân thường trụ đâu có mất mà nói là nhập diệt, như củi hết lửa tắt? Chỗ không diệt mà tưởng là diệt, đó gọi là điên đảo.

    Phàm phu chấp thân ngũ uẩn là thần ngã, là thường còn, cho nên sai lầm gây vô lượng tội lỗi. Trong vô thường tưởng là thường. Phật nói ngã là vô thường để phá chấp ngã sai lầm không có thật của chúng sanh.

    Trong khổ tưởng là vui nên gọi là điên đảo, nói Phật nhập Niết-bàn nghĩa là Phật diệt mất, tức vô thường thì khổ làm sao nói thành Phật vui được. Phải thấy rằng Phật là chỉ cho pháp thân bất sanh bất diệt. Sanh diệt là khổ, pháp thân bất sanh bất diệt là vui. Phật là vui mà tưởng là khổ, đó là điên đảo.

    Khổ là gì? Sanh, lão, bệnh, tử. Thấy Phật nhập Niết-bàn là có tử, tức Phật có khổ, đó là cái thấy điên đảo. Phật là pháp thân thường trụ, bởi thường trụ nên an vui. Chúng ta không thấy pháp thân, chỉ thấy trên hóa thân có sanh có diệt, cho nên lẫn lộn không đúng, vì vậy gọi là điên đảo thứ nhất.

    “Vô thường tưởng là thường, thường tưởng là vô thường”, đây gọi là điên đảo.

    Vô thường chỉ chẳng tu pháp không. Vì chẳng tu pháp không nên thọ mạng ngắn ngủi.

    Nếu có người cho rằng chẳng tu pháp không tịch thời đặng trường thọ. Quan niệm đó gọi là điên đảo. Đây là sự điên đảo thứ hai.

    Điên đảo thứ hai, thường tưởng là vô thường hay vô thường tưởng là thường . Chúng ta phải chú ý thật kỹ mới thấy ý nghĩa thường tưởng vô thường hay vô thường tưởng là thường. Vô thường là chỉ chẳng tu pháp không, nên thọ mạng ngắn ngủi . Tại sao có thọ mạng ngắn ngủi? Vì chấp nhận sự tướng là thật, nhưng sự tướng này là vô thường, chúng ta chấp nhận nó thì sanh mạng của chúng ta ngắn ngủi.

    Nếu thấy tự tánh các pháp là không, vốn từ pháp thân biến hiện, tức là biết được pháp thân thường trụ nên tuổi thọ mới lâu dài. Không chịu tu pháp không tịch, tức là không quán tự tánh các pháp là không. Chấp nhận các pháp là thật mà được thọ mạng lâu dài là quan niệm sai lầm. Dù sống đến ngàn tuổi cũng không phải là lâu dài, vì là hữu hạn. Như vậy, vô thường là chỉ cho các pháp, thường là chỉ cho chân tánh hay pháp thân. Các pháp vô thường mà tưởng thường, pháp thân là thường mà tưởng là vô thường, đây là điên đảo thứ hai.

    “Vô ngã tưởng là ngã, ngã tưởng là vô ngã” đây là điên đảo.

    Người đời cũng nói có ngã, trong Phật pháp cũng nói có ngã.

    Người đời dầu nói có ngã nhưng không có Phật tánh, đây thời gọi là nơi vô ngã mà tưởng là ngã gọi đó là điên đảo.

    Phật pháp nói có ngã tức là Phật tánh. Người đời lại nói Phật pháp không ngã, đây gọi là nơi ngã tưởng là vô ngã. Nếu nói Phật pháp quyết định vô ngã nên đức Như Lai dạy hàng đệ tử tu tập pháp vô ngã. Lời trên đây là điên đảo. Đây là điều điên đảo thứ ba.

    Ngã là chủ tể, là thường nhất. Thân ngũ uẩn này không phải là chủ tể là thường nhất mà cho là ngã vì vậy nên sai lầm, không thấy được Phật tánh.

    Phật tánh là thường trụ, là chủ tể cho nên đạt được Phật tánh rồi mới tự do tự tại. Nếu không chủ tể sao nói là tự do tự tại, không thường trụ sao nói thoát ngoài sanh lão bệnh tử? Vậy nên Phật tánh có đầy đủ hai nghĩa, tự do tự tại gọi là chủ tể và thường trụ gọi là không có sanh diệt. Vì đủ hai nghĩa đó nên Phật tánh gọi là ngã, còn năm uẩn không đủ hai nghĩa đó nên gọi là vô ngã. Đó là chỗ thấy của Phật. Nếu thấy như vậy là không điên đảo. Nếu cho Phật là vô ngã, năm uẩn là ngã thì đó là điên đảo, đây là điên đảo thứ ba.

    “Tịnh tưởng là bất tịnh, bất tịnh tưởng là tịnh”, đây gọi là điên đảo.

    Tịnh chính là Như Lai thường trụ, chẳng phải thân tạp thực, chẳng phải thân phiền não, chẳng phải thân thịt, chẳng phải là thân gân xương ràng rịt.

    Nếu có người nói rằng Như Lai là vô thường, là thân tạp thực, là thân thịt, là gân xương ràng rịt, cũng cho rằng Pháp, Tăng, Giải thoát đều là diệt tận, đó gọi là những quan niệm điên đảo vì tịnh mà cho là bất tịnh.

    Bất tịnh tưởng cho là tịnh, gọi đó là điên đảo.

    Nếu có người nói rằng trong thân của ta đây không có một pháp nào là bất tịnh cả, bởi không có bất tịnh nên quyết định sẽ đặng vào nơi chỗ thanh tịnh. Thuyết tu bất tịnh quán của Như Lai là thuyết hư vọng.

    Trên đây là quan niệm điên đảo. Đó gọi là điều điên đảo thứ tư.”

    Tịnh chỉ cho pháp thân thường trụ của Như Lai, pháp thân đó không phải là thân ăn uống cho nên thanh tịnh; chứ không phải cho thân tứ đại này là sạch, rồi nói Phật dạy quán bất tịnh là hư vọng. Đó là điên đảo thứ tư.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Từ nay tôi mới đặng chánh kiến. Bạch Thế Tôn, trước đây chúng tôi đều là người tà kiến cả.”

    Bồ-tát Ca-diếp xác nhận xưa kia là người tà kiến vì chưa nghe giải thích chỗ này.

    Tôi xin nhắc lại bốn thứ điên đảo theo trình tự trước sau, để mọi người có sự nhận định kỹ càng, không mất thứ lớp thì sự tu hành mới có lợi ích.

    Giai đoạn đầu vì phàm phu không hiểu không biết, nên có những chấp lầm lẫn sai lạc. Thân chúng ta bị vô thường thiêu đốt, sanh già bệnh chết thúc giục không lúc nào an ổn, phàm tình không biết, lại cho có thân này là an vui hạnh phúc. Nhưng có ai thật sự được hạnh phúc đâu! Tất cả đều than khổ, khổ vì đói khát thiếu thốn, khổ vì bệnh hoạn, vì tánh tình không hợp nhau, hoặc khổ vì những chuyện kẻ yếu bị người mạnh hiếp đáp... Xét kỹ ra trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp không có gì vui cả. Khổ mà tưởng là vui, ấy là điên đảo. Phật vì muốn phá điên đảo này của phàm phu nên ngài nói ngay thân này là khổ.

    Chúng sanh căn cứ vào thân này lầm lẫn nói thân này là vui. Phật phải sửa cái lầm lẫn đó nói thân này là khổ. Khi các vị Tỳ-kheo thấy thân khổ, chán nản thì Phật lại nói thân này là vui. Vui này không căn cứ nơi thân ngũ uẩn mà chỉ cho pháp thân. Pháp thân là thường trụ không sanh không già không bệnh không chết, làm sao có khổ. Không nhận được pháp thân an vui nên chúng ta cứ tưởng khổ, cũng là cái tưởng sai lầm. Vì vậy đến giai đoạn này Phật nói, nếu người nào tưởng Phật có chết là nhìn vào hóa thân, người đó điên đảo. Chúng ta tu là dẹp khổ của thân ngũ uẩn, đạt được cái vui của pháp thân, như vậy mới hết điên đảo.

    Nhị thừa thấy Phật già bệnh chết, Phật nói đó là cái thấy điên đảo. Vì Phật là pháp thân thường trụ bất biến, tại sao nói Phật già chết? Phật phá chấp sai lầm của hàng Nhị thừa, để chỉ ra pháp thân bất sanh bất diệt an vui. Như vậy vui này vượt qua khổ của Nhị thừa mà không đồng với cái vui của thế gian. Điên đảo của phàm phu là nơi thân khổ mà tưởng là vui. Điên đảo của Nhị thừa là pháp thân vui mà tưởng là khổ. Trước Phật đã phá cái chấp của phàm phu rồi, bây giờ chỉ phá chấp của Nhị thừa.

    Thứ hai, vô thường tưởng là thường. Thân tứ đại ngũ uẩn là vô thường, phàm phu cứ tưởng thân này sống lâu trăm tuổi, nên khi nghe nói chết là sợ hãi. Ví dụ có người làm quan ở một địa phương nọ, lâu ngày chán muốn đi, nghe có lệnh đổi đi nơi khác, chắc chắn họ sẽ rất vui. Nhưng nếu người ấy không muốn đi, nghe lệnh đổi đi thì buồn. Cũng vậy, với người không nghĩ đến cái chết, khi sắp chết họ sẽ khổ. Người biết thân vô thường, có sanh ắt có diệt, sáng còn tối mất thì chết là chuyện thường, không có gì quan trọng.

    Khi quán thân này vô thường là đã bước lên hàng thánh giả của Thanh văn. Hàng Thanh văn cao hơn phàm phu, cũng vẫn căn cứ vào thân này mà tu. Bây giờ Phật mới chỉ tuy thân là vô thường nhưng có pháp thân thường trụ. Phải nhận ra được Phật tánh không rời thân này, ngay thân sanh diệt có pháp thân bất sanh diệt thường còn. Nếu cho tất cả là vô thường thì chẳng khác nào người ta làm rớt vài ba viên sỏi trong chén gạo, muốn bỏ sỏi mà hất luôn cả chén gạo. Nếu khéo léo chịu khó lượm từng viên sỏi ra thì còn được chén gạo. Một chén nước có vài ba hạt bụi, mình lại hất luôn chén nước, mà không biết vớt bụi đi còn được chén nước. Phật nói không thấy pháp thân thường mà nói thân vô thường là điên đảo. Từ “thường” của phàm phu bước qua “thường” của Phật cách nhau cái “vô thường” của thánh giả. Thường của phàm phu chỉ cho thân ngũ uẩn, thường của Phật nói chỉ cho pháp thân.

    Thứ ba, ngã là thường trụ, là chủ. Phàm phu chấp thân ngũ uẩn là ngã, Phật nói thân đó là vô ngã. Phật chỉ trong thân này có Phật tánh đủ điều kiện là ngã. Hàng Nhị thừa nương nơi pháp vô ngã phá chấp ngã điên đảo, dẹp được những tánh kiêu mạn xấu xa trước, thành bậc thánh giả, nhưng các ngài không thấy Phật tánh thường trụ, nên ở đây Phật chỉ Phật tánh thường trụ là ngã, không phải ngã mà phàm phu chấp.

    Thứ tư, tịnh tức chỉ cho pháp thân thanh tịnh. Thân tạp thực hôi hám bẩn thỉu này mà tưởng là tịnh, đó là sai lầm. Trước Phật dạy phải quán thân bất tịnh dứt được ái nhiễm thành bậc thánh giả, đến đây Phật mới chỉ ngay trong thân bất tịnh có pháp thân thanh tịnh thường còn. Đây phá chấp bất tịnh của Nhị thừa mà không phải là cái tịnh của phàm phu.

    Như vậy bốn cái điên đảo chúng ta có thể nói là tám, tức là vì phá chấp của phàm phu mới có cái hay của Nhị thừa, nhưng cái hay của Nhị thừa cũng là điên đảo đối với Đại thừa. Đó là bốn điều từ phàm tiến lên thánh và từ thánh tiến lên Phật.

  • 10. Phẩm Như Lai Tánh

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Hai mươi lăm cõi có ngã cùng chăng?” 

    Phật dạy: “Này thiện nam tử! Ngã tức là nghĩa Như Lai tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được.

    Phẩm này nói rõ tông chỉ của bộ kinh, chỉ cho chúng ta thấy được Phật tánh hay là pháp thân ngay nơi con người phàm phu. Phật thương xót cố dùng nhiều phương tiện giảng dạy để chúng ta hiểu, nhận cho ra điều đó.

    Phật xác nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức là nghĩa của ngã, nhưng từ trước đến giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, nên chúng sanh chẳng nhận thấy được. Như mặt trăng trên trời đêm nào cũng có, nhưng có lúc chúng ta không thấy nên nói không trăng, chứ kỳ thật không phải. Trái đất xoay đúng chiều thì nó hiện, xoay khuất đi thì không thấy nữa. Hoặc ngày rằm mà mây mù mịt nên nói không thấy, không phải thật không. Sở dĩ chúng ta không thấy được Phật tánh vì phiền não che đậy. Nếu phá dẹp được phiền não thì Phật tánh sẽ hiển lộ.

    Như cô gái nghèo, trong nhà có nhiều kho tàng vàng ròng, tất cả người nhà không ai biết. Một hôm có người khách lạ khéo biết phương tiện bảo cô gái nghèo: “Nay tôi thuê cô dọn cỏ rác cho tôi.” 

    Cô gái liền đáp: “Nếu ông có thể chỉ kho vàng cho tôi, rồi tôi sẽ dọn cỏ rác cho ông.” 

    Người khách nói: “Tôi biết cách thức, có thể chỉ kho vàng cho cô.” 

    Cô gái nói: “Tất cả người nhà của tôi còn chẳng biết được, huống là ông mà có thể biết!” 

    Khách lại nói: “Nay tôi có thể biết chắc chắn.” 

    Cô gái nói: “Tôi gấp muốn thấy, ông nên chỉ cho tôi.” 

    Người khách liền ở trong nhà cô, đào được kho vàng ròng. Cô gái thấy kho vàng lòng rất vui mừng ngạc nhiên lạ lùng, kính trọng người khách.

    Này thiện nam tử! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được. Hôm nay đức Như Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh. Chúng sanh thấy được tánh này lòng rất vui mừng quy ngưỡng đức Như Lai.

    Người khách khéo biết phương tiện dụ cho Như Lai. Cô gái nghèo dụ cho vô lượng chúng sanh. Kho vàng ròng dụ cho Phật tánh.

    Phật dùng ví dụ thật hay. Như cô gái có kho vàng trong nhà mà không biết, có người biết được chỉ cho, cô đào lên được kho vàng, mừng quá. Kho vàng dụ cho Phật tánh sẵn có, đất dụ cho phiền não che đậy, cô gái chỉ cho chúng ta. Chúng ta có Phật tánh mà không thấy, Phật dùng mọi phương tiện dạy tới nhắc lui, chúng ta mới biết mới tin. Khi nào chúng ta dẹp hết sạch phiền não thì Phật tánh hiển lộ, hoặc người nào khéo léo thì ngay bây giờ cũng có thể thấy Phật tánh hiển lộ.

    Này thiện nam tử! Ví như cô gái sanh một trai. Trẻ này mắc bệnh, cô gái buồn rầu tìm y sĩ. Y sĩ đến xem bệnh, dùng ba thứ bơ, sữa, đường phèn hiệp lại bảo cho đứa trẻ uống. Y sĩ dặn cô gái, đứa trẻ sau khi uống thuốc chớ cho nó bú, phải chờ thuốc tiêu hóa, rồi mới được cho bú.

    Cô gái liền lấy chất đắng thoa trên vú rồi bảo đứa bé: “Vú của mẹ đã thoa thuốc độc, con chớ chạm đến.”

    Đứa bé đói khát muốn bú, nhưng nghe mùi đắng trên vú bèn chẳng dám gần. Thời gian sau thuốc uống đã tiêu hóa, người mẹ lấy nước rửa sạch vú mình, gọi con đến bú.

    Lúc đó đứa trẻ mặc dầu đói khát nhưng nhớ mùi đắng nên chẳng dám đến bú.

    Người mẹ bảo: “Vì con uống thuốc nên mẹ lấy chất đắng thoa trên vú. Thuốc con uống đã tiêu hóa, vú của mẹ cũng đã rửa sạch, giờ đây con có thể đến bú không hại gì.” 

    Đứa trẻ nghe mẹ bảo lần lần đến bú.

    Này thiện nam tử! Đức Như Lai cũng vậy. Vì độ tất cả chúng sanh nên dạy tu pháp vô ngã. Nhờ tu pháp đó dứt hẳn tâm chấp ngã, được nhập Niết-bàn. Vì trừ những vọng kiến trong đời nên thị hiện pháp xuất thế gian. Lại chỉ rõ quan niệm chấp ngã của người đời là hư vọng chẳng phải chân thật, nên dạy tu pháp vô ngã để được thân thanh tịnh.

    Như cô gái kia chữa bệnh cho con, nên lấy chất đắng thoa trên vú. Cũng vậy, đức Như Lai vì dạy tu pháp không nên nói các pháp đều không có ngã.

    Như cô gái kia rửa sạch vú rồi kêu con đến bú. Cũng vậy, đức Phật hôm nay nói Như Lai tạng. Vì thế nên các Tỳ-kheo chớ có sanh lòng kinh sợ.

    Như đứa trẻ kia nghe mẹ kêu lần lần đến bú. Cũng vậy, các Tỳ-kheo nên tự phân biệt Như Lai tạng, chẳng được, chẳng có.

    Người mẹ có đứa con bị bệnh, thầy hốt thuốc cho uống, bảo rằng uống thuốc mà bú sữa vào thì không tiêu, buộc lòng người mẹ phải dùng phương tiện thoa chất đắng vào ngực mình, đứa con hoảng sợ nên không bú nữa. Khi thấy con có đủ khả năng tiêu hóa được, người mẹ rửa hết thuốc đắng, đứa con từ từ bú được sữa.

    Người con dụ cho hàng Thanh văn, trước kia mê lầm chấp ngã là thật, buộc lòng Phật phải nói vô ngã. Khi tin hiểu được lý vô ngã, phá được chấp ngã phàm phu trước, Phật mới nói ngã. Nhưng nói tới ngã thì các thầy thấy lạ hoảng sợ, nên Phật an ủi các ông đừng sợ ta nói ngã là chỉ lẽ thật, vô ngã lúc trước chỉ là phương tiện.

    Tóm lại, ví dụ thứ nhất Phật chỉ tất cả chúng sanh sẵn có pháp thân, như trong nhà cô gái có vàng, ví dụ thứ hai Phật phương tiện nói vô ngã để phá chấp phàm phu. Vô ngã chỉ là phương tiện trừ bệnh không phải là cứu cánh, đến khi hết bệnh thì ngài chỉ thẳng ngã.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Thật không có ngã. Vì lúc đứa trẻ mới sanh không hiểu biết. Nếu là có ngã thời ngày mới sanh lẽ ra liền có hiểu biết. Do nghĩa này nên định biết là không ngã.

    Nếu quyết định có ngã, sau khi đã thọ sanh, lẽ ra không chết mất. Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là thường trụ, lẽ ra không hư hoại. Nếu là không hư hoại, sao lại có Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, Chiên-đà-la, súc sanh v.v... sai biệt nhau. Hiện nay thấy các thứ nghiệp duyên chẳng đồng, các loài đều riêng khác. Nếu quyết định có ngã, thời tất cả chúng sanh lẽ ra không hơn kém.

    Do những nghĩa trên đây nên quyết định biết Phật tánh chẳng phải là pháp thường trụ.

    Nếu cho rằng Phật tánh quyết định là thường trụ, thời do duyên gì lại nói có sát sanh, trộm cướp, tà dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ, tham lam, sân khuể, tà kiến.

    Nếu ngã tánh là thường trụ, cớ gì sau khi uống rượu lại say mê.

    Nếu ngã tánh là thường trụ, thời kẻ mù lẽ ra thấy sắc, kẻ điếc lẽ ra nghe tiếng, kẻ câm lẽ ra nói được, người què lẽ ra có thể đi.

    Nếu ngã tánh là thường trụ, lẽ ra chẳng còn tránh hầm, lửa, nước lụt, thuốc độc, dao gươm, kẻ ác, thú dữ.

    Nếu ngã là thường trụ, thời những việc đã từng nghe thấy lẽ ra chẳng quên. Nếu chẳng quên cớ gì lại nói, tôi đã từng thấy người này ở chỗ đó.

    Nếu ngã là thường, thời lẽ ra chẳng nên có niên thiếu, tráng niên, lão thành v.v... Lẽ ra chẳng nên có thạnh, suy, mạnh, yếu cùng nhớ đến việc đã qua.

    Nếu ngã là thường, thời nó ở chỗ nào? Nó ở trong nước mũi, nước miếng, hay ở trong các màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng ư!

    Nếu ngã là thường, lẽ ra nó phải khắp trong thân, như dầu mè không chỗ hở trống. Nếu như vậy lúc chặt đứt thân thể, thời ngã đó lẽ ra cũng bị đứt!” 

    Bồ-tát Ca-diếp bác thuyết về Ngã, ngài nói rằng không có ngã nên đứa nhỏ lúc mới sanh không hiểu biết. Nếu có ngã thì ngày mới sanh lẽ ra liền hiểu biết. Vậy mà phải chờ nó lớn, người ta dạy thì mới hiểu biết, cho nên không có ngã.

    Nếu như có ngã thì sau khi đã thọ thân lẽ ra không chết mất, vì ngã còn hoài. Nếu như thân chết mất thì quyết định không có ngã.

    Nếu có ngã, Phật tánh quyết định là thường trụ thì do nhân duyên gì lại nói có sát sanh, trộm cắp, tà dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu...

    Nếu là thường trụ thì trước sau như một không có đổi dời, tại sao lại có những tánh xấu, những tội lỗi?

    Nếu như ngã thường trụ thì kẻ mù có thể thấy, kẻ điếc có thể nghe, kẻ câm có thể nói, người què lẽ ra có thể đi.

    Nếu ngã tánh mà thường trụ thì chẳng tránh hầm, lửa, nước lụt, thuốc độc... Thường trụ hoài thì có gì mà hại được?

    Nếu ngã thường trụ thì những việc từng nghe lẽ ra không quên, vì ngã còn hoài nên cái nghe phải còn hoài.

    Nếu ngã thường trụ thì không có lớn nhỏ, cứ ở một mực hoài.

    Nếu ngã thường trụ thì ở chỗ nào trong thân mình, chỗ nào là ngã?

    Đó là những nghi vấn về ngã mà ngài Ca-diếp nêu lên để Phật giải thích.

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Thiện nam tử! Ví như nhà vua có đại lực sĩ. Trên trán lực sĩ gắn hột châu kim cương. Lực sĩ này cùng người đánh vật. Hột châu kim cương bị đầu kẻ địch đụng lún khuất trong da. Nơi đó thành vết thương. Liền nhờ y sĩ cứu chữa. Y sĩ tài giỏi xem vết thương biết là do hột châu lún vào ở khuất dưới da. Y sĩ hỏi lực sĩ: “Châu kim cương trên trán của ông đâu rồi?” 

    Lực sĩ kinh hãi đáp: “Hột châu trên trán của tôi đã mất rồi ư? Nó rơi rớt ở đâu?” Nói xong lo rầu khóc lóc.

    Y sĩ an ủi: “Nay ông chẳng nên buồn khổ. Vì lúc ông đánh vật, hột châu lún vào ở ẩn dưới da, bóng nó hiện ra nơi ngoài. Lúc các ông vật đánh nhau, lòng quá giận tức, nên hột châu lún vào trán mà chẳng hay biết.” 

    Lực sĩ chẳng tin lời của y sĩ, nghĩ rằng: Nếu hột châu ở dưới da, máu mủ chảy tuôn cớ sao hột châu chẳng trồi lên. Còn nếu hột châu ở trong gân, lẽ ra không thể thấy. Hoặc giả y sĩ gạt gẫm ta chăng?

    Bấy giờ y sĩ cầm gương soi trên mặt lực sĩ, hột châu kim cương hiện ánh sáng trong gương. Lực sĩ nhìn thấy, ngạc nhiên mừng rỡ.

    Phật giải thích qua ví dụ một lực sĩ trên trán có gắn hôt kim cương. Khi hai lực sĩ đánh nhau, húc nhau thì viên ngọc lún sâu trong da thịt cho nên không thấy, tưởng mất. Vị y sĩ coi biết hột ngọc lún trong da, lực sĩ không tin. Khi y sĩ đem gương lại soi lực sĩ thì thấy hôt châu ánh ra, mới tin là mình vẫn còn ngọc.

    Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh cũng vậy. Vì không được gần gũi bậc thiện tri thức, dầu có Phật tánh mà đều không nhận thấy. Bị tham, sân, si che đậy. Vì thế nên đọa địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-la, Chiên-đà-la, Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà. Sanh vào trong các giòng đó, nhân tâm tưởng mà gây ra các thứ nghiệp duyên. Dầu được thân người, nhưng phải điếc, đui, câm, ngọng, què, thọt. Thọ các quả báo trong hai mươi lăm cõi. Vì tham, sân, si che lấp bản tâm, nên chẳng biết Phật tánh. Như lực sĩ kia hột châu vẫn ở trong thân mà hô đã mất.

    Cũng vậy, chúng sanh chẳng biết gần gũi thiện tri thức, chẳng biết bảo tạng Như Lai, nên tu học vô ngã. Như hạng chẳng phải bậc thánh, dầu nói là có ngã, nhưng lại chẳng biết chân tánh của ngã.

    Hàng đệ tử của ta cũng giống như vậy, vì chẳng biết gần gũi bậc thiện tri thức, nên tu học vô ngã mà chẳng biết chỗ thật của vô ngã. Còn chẳng tự biết chân tánh của vô ngã, huống lại có thể biết chân tánh của ngã.

    Này thiện nam tử! Đức Như Lai nói các chúng sanh đều có Phật tánh, ví như y sĩ chỉ hột châu kim cương cho lực sĩ, các chúng sanh này bị vô lượng phiền não che đậy chẳng biết Phật tánh. Nếu dứt hết phiền não, bây giờ mới đặng chứng biết rõ ràng. Như lực sĩ thấy hột châu trong gương sáng.

    Tạng Như Lai vô lượng chẳng thể nghĩ bàn như vậy.

    Qua ví dụ trên, Phật chỉ rõ do tham sân si che lấp nên Phật tánh bị ẩn. Hột ngọc là dụ cho Phật tánh, nổi nóng đánh nhau dụ cho phiền não mê lầm, khiến chúng ta bị che lấp mất Phật tánh. Sự che lấp đó dưới con mắt phàm tục thì tưởng là mất, chứ thật không mất. Lực sĩ thấy không có ngọc kinh hãi tưởng là mất, nhưng y sĩ thì biết không mất, đưa gương cho thấy. Cũng vậy, Phật dùng lời lẽ khéo léo giải thích cho chúng ta thấy được cái bóng của Phật tánh để đủ niềm tin, cũng như lực sĩ kia thấy được ánh hột châu vui mừng không còn phiền não, không còn lo mất nữa.

    Phật tánh ai ai cũng có, nếu phiền não không che đậy thì sẽ hiện rõ ràng.

    Này thiện nam tử! Ví như núi Tuyết có một vị thuốc tên là “Dược vị”. Thuốc đó rất ngọt, ở dưới lùm bụi rậm, người không thấy được. Có người nghe mùi thuốc liền biết chỗ đó chắc có thuốc ấy. Thuở trước có vua Chuyển luân ở nơi núi Tuyết này đặt những bộng cây để tiếp lấy thuốc. Lúc thuốc đó chín thời từ đất chảy ra chứa vào trong bộng cây, mùi vị thuốc ngọt ngon. Sau khi vua đã băng, thời thuốc đó hoặc chua, hoặc mặn, hoặc ngọt, hoặc đắng, hoặc cay, hoặc lạt, tùy địa phương của thuốc sanh ra mùi vị đều khác nhau. Nhưng vị thật của thuốc đọng ở nơi núi như mặt trăng tròn. Người phàm ít phước dầu có đào xới chỉ luống khốn khổ mà không thể được. Lúc có Thánh vương ra đời, vì phước lớn của vua, liền đặng vị thật của thuốc.

    Này thiện nam tử! Mùi vị tạng Như Lai cũng như vậy, bị các rừng bụi phiền não che đậy, chúng sanh mê mờ chẳng thấy được.

    “Dược vị” trên kia dụ cho Phật tánh. Bởi các phiền não nên sanh ra các thứ mùi vị sai khác như là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, trời, người, nam, nữ, Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà v.v...

    Ví dụ thứ hai, thuốc quý ở trong núi Tuyết nhưng bị bụi lùm cây cối che rất khó tìm, chỉ có vua mới biết tìm trong bộng cây để lấy. Đến khi vua chết không ai biết cách tìm lấy, thuốc bị biến chất ngọt, mặn, đắng, cay. Tuy thuốc biến ra nhiều chất nhiều vị nhưng bản chất thuốc vẫn không mất. Chất thuốc không mất dụ cho Phật tánh bởi do phiền não che đậy nên có nhiều loại chúng sanh: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người... Dù có lăn lộn trong sáu đường mà Phật tánh không bao giờ mất.

    Ví dụ hột châu ẩn trong da do đánh nhau, Phật trả lời cho câu hỏi Phật tánh có tại sao chúng sanh không thấy? Ví dụ vị thuốc nằm trong lùm bụi biến ra nhiều vị, để trả lời câu hỏi thứ hai, Phật tánh có, lẽ ra khắp nơi phải đồng nhất, tại sao lại sanh ra có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh? Vì không trở về với Phật tánh, nên tùy nghiệp phải thọ luân hồi, tùy phước tội nặng nhẹ mà có hình tướng sai biệt.

    Phật tánh hùng mãnh không thể hư hoại, vì thế nên không ai có thể sát hại được. Nếu sát hại được thời Phật tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không thể dứt, vì không bao giờ tánh có thể dứt được.

    Như tánh của ngã tức là tạng Như Lai, không có gì phá hoại, đốt cháy được tánh ấy. Dầu không có thể phá hoại, nhưng chẳng thấy được. Nếu chứng đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mới thấy được tánh. Do cớ đó nên không ai có thể sát hại được.” 

    Đây là câu hỏi phụ: Phật tánh có thì lẽ ra ngài không bị giết hại, nếu như thân này bị giết hại chết đi thì lẽ ra Phật tánh cũng chết theo. Phật nói do Phật tánh bình đẳng, không thể hư hoại vì thế nên không ai sát hại được. Nếu sát hại được thì Phật tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không dứt.

    Kế đó là trả lời câu hỏi Nếu Phật tánh có thì không có gì hại được, vì là thường trụ, Phật nói ngã tức là tạng Như Lai không có gì phá hoại đốt cháy được. Dù không thể phá hoại, nhưng chẳng thấy được, nếu chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mới thấy được Phật tánh. Do đó nên không ai có thể sát hại. Ở trên ngài Ca-diếp hỏi: Tại sao Phật tánh thường trụ mà mình sợ lửa sợ nước? Phật tánh là thường trụ bất hoại, nước lửa... cái gì cũng không thể hại được. Nếu có hại chỉ là hại thân giả tạm, chứ đâu có hại Phật tánh.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu không ai sát hại được, thời lẽ ra không có nghiệp bất thiện?” 

    Phật nói: “Này Ca-diếp! Thật có sát sanh. Vì Phật tánh của chúng sanh ở trong thân ngũ ấm, nếu sát hại ngũ ấm, gọi là sát sanh, đã có sát sanh, thời đọa ác thú.

    Do nhân duyên của nghiệp mà có Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, Chiên-đà-la, nam, nữ v.v... hai mươi lăm cõi sai khác lưu chuyển trong dòng sanh tử.

    Người chẳng phải bậc thánh vọng chấp tướng của ngã là lớn hay nhỏ, bằng hột cỏ, hoặc bằng hột gạo, hột đậu, nhẫn đến bằng ngón tay cái. Họ vọng sanh các thứ tưởng tượng như vậy. Tướng của vọng tưởng không có chân thật.

    Bồ-tát Ca-diếp hỏi theo hướng khác. Ngài nói nếu Phật tánh không thể giết được thì không có tội sát sanh, vì đâu có giết ai mà sát sanh, không sát sanh thì không gọi là tội ác, không có nghiệp báo.

    Phật trả lời thật có sát sanh. Vì Phật tánh chúng sanh ở trong thân ngũ ấm, nếu sát hại thân ngũ ấm thì gọi là sát sanh, đã có sát sanh thì phải đọa ác thú. Tuy rằng không giết được Phật tánh mà vẫn phạm tội sát sanh.

    Phật giải thích do nơi duyên nghiệp mà có các loại Bà-la-môn... di chuyển trong vòng sanh tử thuộc hai mươi lăm cõi. Người đâu phải là bậc thánh, chấp các tướng ngã dù lớn dù nhỏ đều là vọng tưởng không thật. Chỉ có những bậc thánh thấy được Phật tánh, thấy được pháp thân, nói ngã mới đúng. Còn chưa phải thánh mà nhận ngã to nhỏ gì cũng không đúng.

    Tướng ngã xuất thế gian, gọi là Phật tánh. Nhận lấy ngã này, gọi là rất lành.

    Này thiện nam tử! Ví như có người giỏi biết kho báu dưới đất, liền lấy cuốc bén đào đất, thẳng đến đá bàn, cát, sỏi, có thể đào qua không khó, chỉ đến lớp kim cương thời không thể xoi thấu.

    Luận về chất kim cương, tất cả dao búa không thể làm hư bể. Phật tánh của chúng sanh cũng lại như vậy, tất cả nhà biện luận, thiên ma Ba-tuần, cho đến các hàng trời, người, không thể phá hoại.

    Tướng ngũ ấm là hữu vi, tướng hữu vi dụ như đá, cát, sỏi, có thể đào, có thể xoi. Phật tánh dụ như kim cương, không thể phá hoại được.

    Do nghĩa này, nên phá hoại thân ngũ ấm thời gọi đó là sát sanh.

    Này thiện nam tử! Nên biết quyết định rằng Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn như vậy.

    Ngã xuất thế gian là Phật tánh, nhận lấy ngã này gọi là rất lành. Bởi vì ngã chỉ cho pháp thân, không bị luân hồi sanh tử. Ngã của chúng ta là ngã thế gian, gốc của tội lỗi. Nhận được ngã xuất thế gian, đó mới là gốc để thành Phật chứng quả, hai cái khác nhau.

    Phật ví dụ, người biết có kho báu dưới đất, dùng cuốc bén mà đào, xuyên qua những lớp đất cát đá sỏi, nhưng không đào thấu lớp kim cương. Lớp kim cương dụ cho Phật tánh, đất cát sỏi đá dụ cho thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn có thể bị phá hoại mà Phật tánh không bị phá hoại. Các nhà biện luận hay ngoại đạo, dù có hay giỏi cũng không bài bác được thuyết Phật tánh của Phật.

    Này thiện nam tử! Kinh Đại thừa phương đẳng như chất cam lồ, cũng có lúc như thuốc độc.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Do nhân duyên gì mà đức Như Lai nói kinh Đại thừa phương đẳng như chất cam lồ, cũng có lúc như thuốc độc.” 

    “Này thiện nam tử! Nay ông muốn biết nghĩa chân thật của tạng Như Lai chăng?” 

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Tôi nay thật muốn biết nghĩa của tạng Như Lai.” 

    Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng: 

    Hoặc có người uống cam lồ

    Hại thân mạng mà chết sớm.

    Hoặc có người uống cam lồ

    Thêm tuổi thọ sống được lâu.

    Hoặc uống thuốc độc được sống.

    Có người uống độc mà chết.

    Trí vô ngại như cam lồ,

    Đó chính là kinh Đại thừa.

    Kinh điển Đại thừa như vậy

    Cũng gọi là chất thuốc độc

    Như bơ, đề hồ, vân vân, 

    Nhẫn đến các thứ đường phèn

    Uống vào tiêu hóa là thuốc

    Chẳng tiêu hóa thời thành độc.

    Phật lại nói kinh Đại thừa phương đẳng như nước cam lồ, cũng có lúc như thuốc độc . Bồ-tát Ca-diếp hỏi do nhân duyên gì mà Như Lai nói kinh Đại thừa phương đẳng như nước cam lồ, cũng có lúc như thuốc độc. Phật đọc bài kệ để giải thích.

    Tại sao cùng là chất cam lồ mà có người uống được sống lâu, có người uống lại chết sớm? Vì tiêu hóa được hay không tiêu hóa được. Cũng như thuốc bổ đáng lẽ uống vào được sống lâu thêm tuổi thọ, nhưng có những bệnh không cần thuốc bổ mà uống vào thì hại thêm. Như vậy thuốc bổ có lợi cho người cần mà hại cho người chưa cần, có những độc dược người uống vào chết, nhưng người biết có thể dùng để trị bệnh lại sống khỏe. Trên thế gian này không có gì cố định, căn bản là biết dùng đúng chỗ, hợp thời hợp cơ. Kinh điển Đại thừa cũng thế. Người nghe tiêu hóa không nổi thì cho rằng lời Phật nghe không hiểu, khó quá tu gì được, rồi thối chí, đó là cam lồ biến thành độc dược. Còn người nào nghe mà tiêu hóa được, thấy hay, cao siêu, thì chính kinh Đại thừa là cam lồ. Nên pháp đúng với trình độ của người thì có lợi, ngược lại không đúng thì biến thành hại. Đó là điều chúng ta nên chú ý, pháp không hợp cơ sẽ trở thành bệnh.

    Kinh Đại thừa cũng như vậy,

    Nơi người trí, là cam lồ, 

    Kẻ ngu chẳng biết Phật tánh

    Nghe Đại thừa thành thuốc độc.

    Với bậc Thanh văn, Duyên giác

    Pháp Đại thừa là cam lồ.

    Cũng như trong các mùi vị

    Chất sữa là hơn tất cả.

    Những người siêng năng tinh tấn

    Nhờ nương nơi pháp Đại thừa

    Đặng đến nơi đại Niết-bàn

    Thành bậc vua trong loài người.

    Người trí nghe nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mọi người đều có khả năng thành Phật thì rất sung sướng, nỗ lực tiến lên. Nhưng với kẻ ngu nghe nói ai cũng có Phật tánh thì ỷ lại, thấy dễ dàng nên không muốn nỗ lực tu: Ai cũng có Phật tánh thì trước sau cũng sẽ thành Phật, có mất đâu mà sợ, cần gì tu gấp! Như vậy nói “có Phật tánh” đối với người đó trở thành độc dược, không có lợi cho sự tu hành.

    Với bậc Thanh văn Duyên giác, pháp Đại thừa là cam lồ, vì đã hấp thụ hết những giáo pháp của Nhị thừa, chuyển qua Đại thừa thấy mới mẻ cao siêu nên thích thú.

    Pháp Đại thừa này hơn tất cả, cũng như trong những thức ăn chất sữa là hơn hết. Ở Ấn Độ sữa là thức ăn tối thượng, các thức ăn khác không bổ dưỡng và nhiều mùi vị như sữa.

    Những người siêng năng tinh tấn nhờ pháp Đại thừa đến được Niết-bàn, thành bậc vua trong loài người . Nếu người tiến đến Niết-bàn thì là người tối thắng trong loài người, nên nói là bậc vua.

    Chúng sanh chứng biết Phật tánh

     Được chất cam lồ vô thượng 

    Thời không sanh, cũng không tử

    Như Ca-diếp Bồ-tát thảy.

    Này Ca-diếp ông nên phải

    Khéo phân biệt pháp tam quy,

    Thật tánh của pháp tam quy

    Thời là chân tánh của ngã.

    Nếu có thể gẫm xét kỹ

    Tánh của ngã có tánh Phật.

    Nên biết những người như vậy

    Đặng chứng nhập tạng Như Lai.

    Biết ngã cùng biết ngã sở

    Người này đã được xuất thế.

    Tánh Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo

    Là bậc đệ nhất vô thượng.

    Kệ trên đây của ta nói 

    Phật tánh đó nghĩa như vậy.

    Nếu tất cả chúng ta ai cũng nhận biết được Phật tánh nơi mình, thì được chất cam lồ vô thượng không còn sanh tử, đồng với Bồ-tát Ca-diếp trong hội này. Đó là điểm quan trọng. Sở dĩ chúng ta sanh tử là vì chấp cái sanh diệt là mình, khiến phải diệt sanh sanh diệt đời đời kiếp kiếp không ngừng. Kinh điển Đại thừa chỉ cho chúng ta nhận ra được nơi mình có Phật tánh chẳng sanh chẳng diệt. Nếu nhận ra được và sống với Phật tánh chẳng sanh diệt thì không còn sanh tử, như Bồ-tát Ca-diếp.

    Đồng thể Tam bảo là gì? Phật bảo là tánh giác, Pháp bảo là chỉ cho pháp thân bất sanh bất diệt, Tăng bảo tức là Phật pháp không lìa nhau, đó gọi là Tam bảo. Tánh giác là chân ngã, cho nên nói khi biết quy y đúng với thật tánh của Tam bảo sẽ thấy được chân tánh của ngã.

    Tứ đại ngũ uẩn là sanh diệt, nhưng thể của ngũ uẩn tứ đại bất sanh bất diệt, cho nên ở đây dùng chữ Tánh. Nhận ra tánh của ngã tức thấy được tánh của Phật. Người nhận được là người vào được tạng của Như Lai.

    Ngã là mình; ngã sở là sở hữu của mình, cảnh thuộc về mình; hay ngã là chỉ cho cái năng chấp, ngã sở chỉ cho cái bị chấp. Người biết rành rõ ngã và ngã sở thì người đó qua được khỏi vòng thế tục. Người nào đạt được tánh Tam bảo đó là người bậc nhất vô thượng.

    Kệ trên đây nói nghĩa của Phật tánh. Nghĩa là chỉ Tam bảo ngay tự tâm, nhận được như vậy thì thấy được Phật tánh.

    Ca-diếp Bồ-tát nói kệ bạch Phật:

    Tôi nay đều chẳng biết

    Quy y nơi Tam bảo 

    Thế nào sẽ về đến

    Vô thượng vô sở úy?

    Chẳng biết chỗ Tam bảo

    Thế nào là vô ngã?

    Quy y Phật thế nào

    Mà đặng nơi an ổn?

    Quy y Pháp thế nào

    Xin Phật vì tôi nói.

    Thế nào đặng tự tại?

    Thế nào chẳng tự tại?

    Quy y Tăng thế nào 

    Lại đặng lợi vô thượng?

    Thế nào thuyết chân thật

    Đời sau thành Phật đạo?

    Đời sau nếu chẳng thành 

    Thế nào quy Tam bảo?

    Nay tôi không dự biết

    Nên tuần tự quy y.

    Thế nào chưa thai nghén

    Mà tưởng sẽ sanh con?

    Nếu biết ở trong thai

    Thời gọi là có con,

    Con nếu ở trong thai 

    Chắc sẽ sanh chẳng lâu

    Đây gọi là nghĩa con, 

    Nghiệp chúng sanh cũng vậy.

    Như lời Phật đã nói 

    Người ngu chẳng biết được.

    Do vì họ chẳng biết 

    Luân hồi ngục sanh tử

    Giả danh Ưu-bà-tắc 

    Chẳng biết nghĩa chân thật.

    Xin Phật rộng phân biệt

    Dứt trừ lưới nghi cho.

    Đức Phật trí huệ lớn

    Xin thương vì phân biệt

    Xin nói nơi Như Lai

    Tạng báu rất bí mật.

    Bồ-tát Ca-diếp nghi không biết quy y Tam bảo thế nào để đến chỗ vô thượng vô sở úy. Những câu hỏi của ngài không ngoài nghĩa quy y. Quy y làm sao thì được an ổn, quy y làm sao thì được tự tại, quy y làm sao cho được lợi ích vô thượng, quy y làm sao cho đời sau mình được thành Phật... Tóm lại, ngài hỏi làm sao quy y để đạt được kết quả viên mãn.

    - Ca-diếp ông nên biết: 

    Ta nay sẽ vì ông

    Khéo mở tạng bí mật 

    Cho ông đặng dứt nghi,

    Nay phải hết lòng nghe: 

    Ông trong hàng Bồ-tát

    Thời đồng một danh hiệu

    Với đức Phật thứ bảy.

    Trong bảy đức Phật đời Hiền kiếp này, có đức Phật thứ bảy hiệu Ca-diếp. Ông cũng tên Ca-diếp đồng hiệu với Phật.

    Người quy y nơi Phật

    Thật là Ưu-bà-tắc

    Trọn chẳng lại quy y 

    Những thiên thần nào khác.

    Người quy y nơi Pháp

    Thời lìa sự sát hại.

    Người quy y thánh tăng

    Chẳng cầu các ngoại đạo,

    Quy Tam bảo như vậy

    Thời đặng vô sở úy.

    Người quy y với Phật rồi, không được quy y với những thiên thần nào khác. Người quy y Pháp rồi dứt hết sự sát hại. Người quy y thánh tăng, chẳng cầu các ngoại đạo. Quy y Tam bảo như vậy không còn gì phải sợ sệt. Đây là sự quy y chân chánh của Ưu-bà-tắc.

    - Ca-diếp bạch Phật rằng:

    Tôi cũng quy Tam bảo

    Đây gọi là đường chánh

    Cảnh giới của chư Phật.

    Tướng Tam bảo bình đẳng

    Thường có tánh trí huệ

    Tánh ngã và tánh Phật

    Không hai không sai khác.

    Đạo này Phật khen ngợi

    Thẳng đến chỗ ở an

    Cũng gọi chánh biến tri

    Nên được Phật tán thán.

    Tôi cũng đến Phật đạo

    Của đức Phật ngợi khen

    Là cam lồ tối thượng

    Các cõi chỗ không có.

    Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật, ngài quy y Tam bảo đây là đường chánh, cảnh giới của chư Phật, tướng của Tam bảo bình đẳng thường có tánh trí tuệ. Ngài nhìn thấy Phật tánh và ngã tánh không hai không khác. Chỗ đó là chỗ an ổn nhất mà chư Phật thường khen ngợi. Chỉ có đi đến Phật đạo là chỗ cam lồ tối thượng, còn các nơi khác không có được.

    Đức Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Nay ông chẳng nên như hàng Thanh văn, cùng hàng phàm phu phân biệt ngôi Tam bảo. Nơi Đại thừa đây không có tướng tam quy sai khác, vì trong Phật tánh bèn có Pháp và Tăng. Nhân muốn hóa độ hàng Thanh văn và phàm phu, nên phân biệt nói tướng tam quy sai khác.

    Này thiện nam tử! Nếu muốn tùy thuận pháp thế gian, thời nên phân biệt có ba pháp quy y.

    Này thiện nam tử! Bồ-tát nên suy nghĩ như thế này, nay thân của ta đây quy y nơi Phật, nếu chính nơi thân này đặng thành Phật đạo, đã thành Phật rồi, chẳng nên cung kính lễ bái cúng dường các đức Thế Tôn. Vì chư Phật đều bình đẳng. Khắp vì chúng sanh mà làm chỗ quy y. Nếu muốn tôn trọng pháp thân xá-lợi, thời nên lễ kính tháp miếu của chư Phật, vì muốn hóa độ chúng sanh, cũng làm cho chúng sanh đối với thân của ta tưởng là tháp miếu mà lễ bái cúng dường. Những chúng sanh đó, lấy pháp thân của ta làm chỗ quy y.

    Tất cả chúng sanh đều nương theo pháp tà ngụy chẳng chân thật, ta sẽ tuần tự vì chúng sanh nói pháp chân thật.

    Nếu lại có chúng sanh nương theo phái chẳng phải chân tăng, ta sẽ vì chúng sanh làm chỗ chân tăng để chúng quy y.

    Nếu có người phân biệt ba pháp quy y, ta sẽ vì họ mà làm chỗ quy y duy nhất, không ba pháp sai khác.

    Phật giải thích lại Tam bảo. Đại thừa không có tam quy sai khác mà vì hóa độ phàm phu và Thanh văn nên nói tam quy có sai khác. Tam bảo về hình thức sự thật gốc từ nơi Phật. Nếu không phải Phật nói ra thì làm gì có pháp, nếu không phải Phật hóa độ thì làm gì có tăng? Tam bảo của tự tánh là Phật tánh. Phật tánh là tánh giác nơi chúng ta sẵn có, không sanh không diệt, đầy khắp, gọi là pháp thân. Vậy Phật tánh và pháp thân không phải hai. Phật tánh và pháp thân không rời nhau gọi là tăng. Cho nên đúng với tinh thần Đại thừa, nhận ra được Phật tánh bất sanh bất diệt mới gọi là quy y Tam bảo. Quy y Tam bảo nơi mình, nơi tự tánh. Tam bảo đó không có tánh sai biệt, bất sanh bất diệt.

    Chúng ta nếu nhận ra mình có Phật tánh thì đó là chỗ quy y duy nhất, đó mới là quy y tối thượng. Quy y này là nền tảng của người tu, khi nhận được có Phật tánh thì mới tin mình sẽ thành Phật. Hiện tại chúng ta lễ Phật, lễ tháp, lễ xá-lợi... đó là phương tiện giáo hóa chúng sanh để cho họ có chỗ phát tâm quy ngưỡng. Quan trọng là phải nhận nơi mình có Phật tánh thì pháp tu hành sẽ trở thành vô thượng tối thắng. Nếu không thì chỉ là tu hành trong sanh diệt, chưa phải là pháp chân thật.

    Đối với hạng sanh manh, ta vì họ làm nhãn mục.

    Ta lại sẽ vì hàng Thanh văn, Duyên giác mà làm chỗ chân quy.

    Này thiện nam tử! Như vậy, Bồ-tát vì vô lượng chúng sanh ác và những người trí mà làm Phật sự.

    Này thiện nam tử! Ví như người lúc ra trận chiến đấu, tự nghĩ rằng trong đội ngũ đây, ta là người thứ nhất, tất cả binh sĩ đều nương cậy nơi ta.

    Cũng như vương tử suy nghĩ thế này, ta sẽ điều phục các vương tử khác, nối ngôi đại vương giữ gìn nghiệp bá chủ, để đặng tự tại, khiến các vương tử đều phải quy y. Vì thế nên chẳng được sanh tâm hạ liệt. Như vương tử, vua và các quan cũng như vậy.

    Phật giải thích về pháp chân thật cho Bồ-tát Ca-diếp nghe. Đối với hạng sanh manh, là kẻ mù từ thuở bé, Phật sẽ vì họ làm nhãn mục, tức là làm mắt cho họ. Hàng Thanh văn Duyên giác, Phật làm chỗ quy y chân thật. Như vậy Bồ-tát vì vô lượng chúng sanh ác và những người trí mà làm Phật sự . Phật chỉ rõ, biết quy y Tam bảo đúng với tinh thần Đại thừa, lúc đó chúng ta mới có thể làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sanh, là người mạnh dạn lẫm liệt nhất, đứng ra lãnh đạo hướng dẫn mọi người trên con đường tu tiến từ mê đến giác, như vị vương tử chinh phục tất cả để kế nghiệp vua cha.

    Này thiện nam tử! Bồ-tát cũng suy nghĩ như vầy: Thế nào ba sự cùng ta đồng một thể?

    Này thiện nam tử! Đức Phật nói ba sự tức là Niết-bàn. Như Lai đó gọi là Vô thượng sĩ. Ví như thân người, đầu là trên tất cả, chẳng đồng với tay chân lóng đốt. Phật cũng như vậy, là bậc tôn thượng, chẳng phải pháp cùng tăng. Vì muốn hóa độ các thế gian, nên thị hiện những tướng sai khác, ví như bậc thang kia.

    Vì thế, nay ông chẳng nên như hàng phàm ngu, nhận biết tướng ba pháp quy y sai khác. Đối với Đại thừa, ông phải như dao bén mạnh mẽ quyết đoán.

    Ba sự tức là ba quy y ở trên. Ba sự đó nếu nhận đúng lý tức là đạt được Niết-bàn. Tại sao? Vì ngay nơi thân ta, nhận được Phật tánh bất sanh bất diệt và sống với cái bất sanh bất diệt đó nên an lành, không trầm luân sanh tử nữa, thì đó là Niết-bàn.

    Phật ví dụ như thân người, đầu là trên tất cả chẳng đồng với tay chân lóng đốt . Phật cũng vậy, là bậc tôn thượng, chẳng phải pháp cùng tăng. Vì muốn hóa độ khắp thế gian nên thị hiện những tướng sai khác, làm thềm thang cho họ bước từ từ. Sự thật chỉ nhận được Phật, sẽ có đầy đủ cả pháp và tăng. Đối với Đại thừa, phải như dao bén mạnh mẽ quyết đoán cho đúng, đừng nghe đâu tin đó không chịu nhận hiểu.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Tôi vẫn biết, nhưng cố ý hỏi, chẳng phải là không biết, tôi vì các vị Bồ-tát đại dõng mãnh, mà bạch hỏi chỗ thật hành thanh tịnh không nhơ, muốn đức Như Lai vì các Bồ-tát tuyên nói những việc kỳ đặc, tuyên dương kinh điển Đại thừa phương đẳng. Đức đại bi Thế Tôn hôm nay đã khéo giải thuyết. Tôi cũng đã an trụ trong pháp đó. Chỗ thật hành thanh tịnh của Bồ-tát mà Phật đã nói đó, tức là tuyên thuyết kinh Đại Niết-bàn.

    Thế Tôn! Nay tôi cũng sẽ rộng vì chúng sanh diễn dương tạng Như Lai bí mật như vậy, cũng sẽ chứng biết chỗ tam quy chân thật.

    Nếu có chúng sanh nào có thể tin kinh Đại Niết-bàn này, người đó thời có thể tự nhiên rõ thấu chỗ ba pháp quy y. Vì tạng Như Lai có Phật tánh vậy.

    Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật là ngài vẫn biết nhưng cố ý hỏi, chẳng phải là không biết. Sở dĩ ngài vì muốn lợi ích cho người nên mới hỏi vậy.

    Ngài nói sẽ vì chúng sanh diễn dương tạng Như Lai bí mật, cũng sẽ chứng biết chỗ tam quy chân thật .

    Vậy tạng Như Lai bí mật là gì? Ở phẩm này tạng Như Lai bí mật là tánh Như Lai, là Phật tánh. Vì sao gọi Phật tánh là tạng Như Lai bí mật? Vì Phật tánh đó ai cũng có mà không nhìn nhận, không biết ở đâu. Phật nói qua nói lại, nói tới nói lui nhưng chúng ta không hiểu. Ai đi đâu thì mang theo tới đó, nhưng lại không biết nó ra sao, nên mới gọi là bí mật. Nếu đã nhận, đã hiểu, đã thấy thì không gọi là bí mật nữa.

    “Như Lai có mật ngữ, Ca-diếp không phú tàng.” Nếu mình hiểu rồi thì lẽ dĩ nhiên không còn che giấu nữa, còn nếu chưa hiểu, nghĩa là nó ẩn kín nên gọi là tạng bí mật của Như Lai.

    Có người tuyên nói kinh điển này, thời đều nói rằng trong thân vẫn có Phật tánh. Người này bèn chẳng cầu ba pháp quy y nơi đâu xa. Vì đời vị lai đây, thân ta bèn sẽ thành tựu ngôi Tam bảo. Vì thế nên hàng Thanh văn, Duyên giác và những chúng sanh khác đều nương nơi ta mà cung kính lễ bái. Do nghĩa đó nên phải khéo học kinh điển Đại thừa.

    Phật tánh như vậy chẳng thể nghĩ bàn, ba mươi hai tướng, tám mươi thứ tốt cũng chẳng thể nghĩ bàn.”

    Ai nói được kinh điển Đại Niết-bàn là đã thừa nhận trong thân mình có Phật tánh. Nếu nỗ lực tu thì ngày nào đó sẽ có đầy đủ Tam bảo, không phải cầu cạnh nơi đâu. Chỉ cần biết trở về Phật tánh, tức là trở về Phật, rồi sẽ có pháp và tăng.

    Phật là cái đầu, là tối cao tối thượng. Có được đầu não rồi các bộ phận phụ sẽ theo đó mà có. Chúng ta hiểu được như vậy, nương như vậy tức là đã biết trở về với Như Lai, với tạng bí mật của chính mình. Nếu không hiểu như vậy, cứ theo hình tướng bên ngoài, không thể thoát khỏi sanh tử.

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông đã thành tựu trí huệ rất sâu.

    Nay ta sẽ lại vì ông nói pháp chứng nhập tạng Như Lai.

    Nếu ngã là có, thời là pháp thường chẳng rời nơi khổ. Nếu không có ngã, thời tu hạnh thanh tịnh không được lợi ích.

    Nếu cho rằng các pháp đều không có ngã, đó là đoạn kiến, nếu cho rằng có ngã thời là thường kiến.

    Nếu cho rằng tất cả hành pháp là vô thường, thời là đoạn kiến, cho rằng các hành pháp là thường, thời lại là thường kiến.

    Nếu nói là khổ, thời là đoạn kiến, nếu nói là lạc, thời lại là thường kiến.

    Phật khen ngợi ngài Ca-diếp đã thành tựu được trí tuệ rất sâu, hay có con mắt thấy được kho tàng bí mật của Như Lai, như kỹ sư nhìn biết được chỗ nào có mỏ dầu hay mỏ than đá. Cho nên khi nhận được lẽ đó rồi thì không tự khi mình là phàm phu tu hành không tiến, nhưng cũng không cho mình là Bồ-tát, như vậy là ngã mạn; cứ nỗ lực tiến rồi một ngày kia mình cũng sẽ được thành Phật.

    Bây giờ Phật nói pháp chứng nhập tạng Như Lai. Như trong kinh Pháp Hoa nói khai thị ngộ nhập. Từ trước là khai thị, nghĩa là mở ra cho mình thấy Phật tánh rồi, giờ làm sao để chứng nhập Phật tánh đó.

    Phật dạy có hai bệnh chấp: Một là chấp ngũ uẩn có ngã thật. Tức là chấp sắc thọ tưởng hành thức là ngã thật của mình thì lúc nào cũng chuốc khổ, trầm luân sanh tử không dứt. Hai là chấp chết là hết không có gì là ngã, không tiến lên thành hiền thánh hay phải đọa thành phàm phu... Nếu vậy thì dù có tu hạnh thanh tịnh cũng không được lợi ích, vì đâu còn gì để thọ, để giải thoát. Như vậy một bên chấp có một bên chấp không, hai bên đều là bệnh, không có lợi ích.

    Đây là chỗ thật tế nhị. Vì không có ngã thì còn gì để tu chứng? Kinh Nhị thừa nói các pháp vô ngã, ở đây nếu nói pháp vô ngã thì lạc về đoạn kiến, nếu cho các pháp có ngã thì mắc kẹt về thường kiến. Vậy phải nói sao cho đúng? Nên nói thế này, ngũ uẩn là vô ngã nhưng Phật tánh thì không phải là không. Nếu căn cứ vào năm uẩn mà chấp ngã cho nó còn mãi là thường kiến, nếu cho Phật tánh vô ngã là đoạn kiến. Chỉ có người biết ngay năm uẩn này không có ngã, nhưng Phật tánh lại chẳng mất, như vậy sẽ không mắc kẹt vào thường kiến hay đoạn kiến.

    Tiếp theo là hành pháp, có hành thì cho là thường, không hành cho là đoạn. Tại sao khổ là đoạn kiến? Vì vô thường nên thấy khổ, vô thường là có đoạn hoại nên thuộc đoạn kiến. Tại sao nói lạc gọi là thường? Vì ta cho mọi thứ không mất, không mất mới vui, đó là chấp thường kiến.

    Tu tất cả pháp thường đó, thời sa nơi đoạn kiến, tu tất cả pháp đoạn đó, thời sa nơi thường kiến. Như bước đi, cần phải do chân trước, mới dời đặng chân sau. Người tu pháp thường pháp đoạn cũng lại như vậy, cần phải do nơi đoạn và thường.

    Người tu cũng vậy, khi tu pháp này thì mắc kẹt vào pháp kia. Như tu về pháp đoạn kiến thì mắc về thường kiến, tu thường kiến thì mắc đoạn kiến, hai cái đắp đổi cho nhau không dứt.

    Do nghĩa này, nên người tu các pháp khổ đều gọi là chẳng lành, người tu các pháp lạc, thời gọi là lành. Người tu các pháp vô ngã, thời thuộc về phiền não, người tu các pháp thường, thời gọi là tạng Như Lai.

    Các pháp khổ là vô thường nên chẳng lành. Các pháp lạc là thấy cái bất sanh bất diệt nên là thường, thường cho nên lành.

    Chữ thường ở đây, không nên hiểu như Phật dạy ở trước là pháp thường pháp đoạn, chữ thường ở đây nghĩa là biết năm uẩn này là pháp sanh diệt, nhưng thể tánh của nó là pháp thân, là Phật tánh, là cái bất sanh bất diệt. Căn cứ vào cái bất sanh bất diệt làm chỗ để tu hành, kinh Viên Giác gọi là “xứng tánh khởi tu”, tức là xứng theo thể tánh Phật tánh bất sanh bất diệt, tu ngay nơi đó. Tuy nói tu nhưng không tu gì cả.

    Ví dụ người nào chơi với những kẻ trộm cướp thì là bè phái của trộm cướp. Người nào làm thân với người lương thiện là bạn bè của người lương thiện. Cũng vậy, nếu nhận cái sanh diệt là mình thì sẽ đi theo chiều sanh diệt, nếu nhận cái bất sanh bất diệt rồi hằng sống với nó thì mình trở thành bất sanh bất diệt.

    Đại đa số chúng ta hằng ngày nhận thân tứ đại là thân mình, nhận sự suy nghĩ tính toán là tâm mình. Nhưng thân tứ đại này, có đem đất nước gió lửa vào bồi bổ thì còn, không bồi bổ thì hết, nó sanh diệt từng phút từng giây. Thọ tưởng hành thức cũng sanh diệt liên miên, nhận nó là tâm mình thì làm sao khỏi sanh diệt. Nhận sanh diệt làm thân làm tâm, nên mãi mãi trôi trong dòng sanh diệt, gọi là trầm luân. Bây giờ biết thân tâm sanh diệt không phải thật là mình, chính cái bất sanh bất diệt trong đó mới là mình, cứ trở về sống với nó thì sẽ không còn sanh diệt nữa.

    Tất cả các pháp tu của Phật, như niệm Phật để nhất tâm bất loạn nghĩa là trở về với cái bất sanh bất diệt, như vậy mới được vô sanh; tham thiền là không theo vọng tưởng, không theo sanh diệt để trở về cái bất sanh bất diệt; trì chú cũng là dẹp hết loạn tưởng để trở về với nhất tâm; thân khẩu ý thanh tịnh thì cũng trở về cái bất sanh bất diệt. Nhưng vì chúng ta không nhận ra được cái bất sanh bất diệt, nên Phật phải nói cách này cách kia để chúng ta tu. Nếu nhận ra được cái bất sanh bất diệt rồi thì khỏi tu.

    Các thiền sư nói “đói ăn mệt ngủ”, hay như ngài Triệu Châu nói “nếu nói tu là tai họa”..., vì đã biết cái cốt yếu. Nhưng mình không tin, nghe nói làm cái này cho có phước, làm cái kia cho có công đức thì ham, làm những việc này sẽ có các vị thần ủng hộ, nghe như thế nên làm. Vì ham phước ham đức, ham được các vị thần ủng hộ nên mình làm. Nhưng tất cả việc làm đó cũng quy về chỗ bất sanh bất diệt.

    Ví dụ như nói trì chú linh nghiệm lắm, được thần linh ủng hộ không ai dám động tới. Niệm Phật sẽ được vô lượng vô biên công đức, một câu niệm Phật phước đẳng hà sa. Tham thiền thì dứt trừ vọng tưởng một đời thành Phật... Vì ham nên mình ráng tu. Nhưng rốt cuộc chỉ là trở về cái bất sanh bất diệt của mình thôi. Nếu nhận ra rồi thì sống với nó, còn gì để tu nữa, nên các ngài không nói là các ngài tu. Kinh nói tu mà không tu, chứng mà không chứng . Mình tu cốt làm sao đừng chấp nhận cái sanh diệt.

    Kinh Lăng-nghiêm, ngài A-nan cho cái hay suy nghĩ phân biệt là mình, bị Phật quở nhận giặc làm con. Nếu nhận giặc làm con thì gia sản sự nghiệp sẽ tan hoang. Cho nên đừng nhận giặc làm con, hãy trở về với cái thật của mình. Đó gọi là pháp thường, gọi là tạng Như Lai.

    Niết-bàn, không có nơi chốn. Tu những pháp vô thường, thời là tài vật, tu những pháp thường, gọi là Phật, Pháp, Tăng, và chánh giải thoát.

    Nên biết Phật pháp trung đạo như vậy, xa lìa hai bên mà nói pháp chân thật. Người phàm phu ngu mê đối trong pháp đó không nghi, như người gầy yếu, được uống thuốc bổ, thời khí lực khỏe khoắn.

    Những pháp hữu, vô, thể tánh chẳng nhất định. Ví như tứ đại tánh nó chẳng đồng, đều trái phản nhau. Lương y khéo biết tùy món đại nào phát bệnh mà điều chỉnh đó.

    Tu pháp vô thường Phật cho là tài vật, vì đó là hình tướng bên ngoài; nếu nhận được pháp thường tức là nhận được Phật tánh, đó mới thật là Phật pháp tăng, mới là chân chánh giải thoát. Phàm phu dù có u mê cách mấy, mà đối pháp đó không nghi ngờ thì chẳng khác nào kẻ gầy yếu uống thuốc bổ được khỏe mạnh.

    Chúng ta tu chẳng khác vị lương y điều chỉnh con bệnh. Khi chẩn mạch, biết người đó đang bị cơn nóng hoành hành thì phải bổ thuốc mát để hòa dịu lại, mạch đang loạn thì hạ nóng sẽ bớt. Chúng ta lâu nay cứ chấp cái sanh diệt làm thân làm tâm cho nên trôi lăn trong dòng sanh tử luân hồi không bao giờ hết. Bây giờ biết có cái bất sanh bất tử ở trong, chúng ta lợi dụng cái sanh tử, đừng chấp cũng đừng bỏ, để thể nhập cái bất sanh bất tử. Như vậy là biết điều hòa, biết chuyển hướng từ dở trở thành hay, từ sanh diệt biến thành vô sanh. Nếu nghe nói thân này là vô thường rồi hủy hoại nó để cầu cái thường, đó là không biết tu.

    Tu chỉ là sự chuyển đổi. Nếu vị thầy thuốc thấy bệnh nóng quá cho uống thuốc mát mãi thì bệnh nhân chết luôn. Chỉ cần cho uống thuốc hạ cơn nóng, nóng và mát quân bình thì mới hết bệnh. Còn bệnh lạnh mà cho uống thuốc nóng thì người bệnh điên luôn. Trị bệnh phải biết điều hòa, biết quân bình. Chúng ta cũng vậy, biết ngay trong cái giả có cái thật, nương giả tìm thật, đó là người biết tu. Bỏ giả tìm thật bên ngoài, đó là không biết tu, chỉ chuốc họa mà thôi.

    Này thiện nam tử! Cũng vậy, đức Như Lai đối với các chúng sanh, cũng như vị lương y, rõ biết thể tướng sai khác của các phiền não mà dứt trừ, khai thị tạng Như Lai bí mật, Phật tánh thanh tịnh thường trụ chẳng biến đổi. Nếu cho rằng có, thời lẽ ra trí chẳng nhiễm. Nếu nói là không, bèn thành vọng ngữ. Nếu nói là có, lẽ ra chẳng nên nín lặng. Lại cũng chẳng nên hý luận cãi cọ, chỉ nên cầu được rõ biết chân tánh của các pháp.

    Người phàm phu hý luận cãi cọ vì chẳng hiểu tạng Như Lai. Nếu nói pháp khổ, người ngu bèn cho thân là vô thường, chẳng có thể biết nơi thân có tánh lạc.

    Nếu nói vô thường, người phàm phu chấp tất cả thân đều là vô thường, như ngói chưa hầm chín.

    Nếu là người trí nên phải quan sát, chẳng nên nói tất cả đều vô thường vì nơi thân của ta có chủng tử Phật tánh.

    Phật biết các thể tướng sai khác của phiền não mà dứt trừ. Biết sắc uẩn cũng là tướng sanh diệt phiền não, thọ tưởng hành thức cũng là tướng sanh diệt phiền não. Những tướng sanh diệt phiền não sai khác nhau nhưng đều không rời tạng bí mật Như Lai, tức là Phật tánh. Chúng ta đừng chấp nhận tướng phiền não sai biệt, mà trở về với tạng Như Lai bí mật. Nên nói tướng sai khác của các phiền não dứt trừ, trở về với Phật tánh thanh tịnh thường trụ chẳng biến đổi.

    Nếu chúng ta chấp rằng mình hằng có Phật tánh thường trụ thanh tịnh chẳng bao giờ nhiễm ô, rồi không cần phải tu hành, như vậy là lầm. Vì nếu có Phật tánh tại sao đối với ngũ dục mình còn nhiễm? Nhưng nếu nói là không có Phật tánh bèn là vọng ngữ. Có mà bị nhiễm nên nói là ẩn tàng chứ không phải không có. Giống như trăng bị mây che nên thấy tối. Nếu cứ nói có trăng mà người ta vẫn thấy tối là mình nói không đúng. Nên phải khéo nói là có trăng nhưng vì bị mây che nên thấy tối. Như vậy mới không bị mắc kẹt. Chúng ta có Phật tánh nhưng vì bị phiền não che khuất nên bị nhiễm, ngày nào dẹp hết phiền não, hết nhiễm ô thì Phật tánh hiển lộ, chứ không phải là không.

    Nếu chúng ta nói có Phật tánh thì chẳng nên nín lặng cũng chẳng nên hý luận cãi cọ. Chỉ cần thẳng đó nhận và hiểu ra thôi, nói nhiều cũng không được mà lặng thinh cũng không xong. Biết có mà lặng thinh không chỉ cho người biết cũng không được. Đã biết có Phật tánh rồi cãi cọ nhau vô ích. Người phàm phu hý luận cãi cọ vì chẳng biết tạng Như Lai, chỉ là lối hý luận suông vô ích. Các pháp tương đối, nếu chấp một bên đều không đúng. Vì vậy chúng ta phải thấy cái viên mãn, nhận ra chân tánh mới là cứu cánh.

    Nghe Phật nói tất cả pháp vô thường thì chấp cái gì cũng vô thường, cũng như ngói chưa hầm chín đụng vô là bể nát. Phàm phu chúng ta giống như mủ mít, nghe đâu chấp đó, đụng đâu dính đó, không gỡ ra được.

    Khi nghe Phật nói tất cả vô thường thì biết đó là trên tứ đại ngũ uẩn, còn Phật tánh chẳng phải vô thường, như vậy mới là người trí. Nghe nói là vô thường rồi cho tất cả vô thường, đó là người không có trí.

    Nếu nói vô ngã, người phàm phu sẽ cho là tất cả Phật, Pháp đều không có ngã. Người trí nên phải quan sát vô ngã là giả danh chẳng thật, rõ biết như vậy chẳng nên sanh nghi.

    Nếu nói tạng Như Lai là không tịch, người phàm phu nghe như thế sanh kiến chấp đoạn diệt. Người trí nên phải quan sát Như Lai là thường, không có biến đổi.

    Nghe Phật nói tất cả các pháp là vô ngã, phàm phu sẽ cho tất cả đều vô ngã, sự thật Phật đâu phải là vô ngã. Nên người trí phải quán sát vô ngã là giả danh chẳng thật. Nói vô ngã để chỉ cho thân ngũ uẩn này là pháp giả danh hòa hợp không thật. Nhưng trong cái giả đó lại ngầm có cái thật. Phải hiểu như vậy.

    Nghe nói tạng Như Lai hay Niết-bàn là không tịch, nhiều người cho là hư vô, không có gì hết. Tuy thế gian gọi là trí, nhưng đối với Phật pháp thì đó là phàm phu ngu si chấp đoạn diệt. Người thật có trí phải quán sát, Như Lai không tịch nghĩa là không có hình tướng, lặng lẽ, không phải như hư không mà là Phật tánh thường trụ bất biến.

    Chỗ này tôi giảng rộng một chút. Hằng ngày có những điều hay mà ít có người chịu xét kỹ. Ví dụ như sống là gì? Tôi có thể định nghĩa sống một cách rất đơn giản: Sống là động, không động là không sống. Mũi hít vô thở ra, trái tim đập, mạch máu nhảy... tất cả cái đó đều là động, gọi là sống, ngừng là chết. Chiếc xe còn nổ xình xịch thì còn chạy, hết nổ gọi là chết máy, ngưng nổ ngưng động là chết. Nói nghe dễ dàng quá. Như vậy sống chỉ là cái động. Trên thế gian này có gì sống mà không động? Cũng như cây cối, mình nói là cây tươi cây sống thì nó phải sanh trưởng. Nhưng nó sanh trưởng chậm nhỏ mình không thấy, đôi ba ngày thấy đâm tược tức là nó động, có đổi thay.

    Phật giải nghĩa Phật tánh hay Niết-bàn là không tịch. Chữ tịch tức là lặng lẽ, không động. Người ta lại cho không động là chết. Phàm sống phải động và có hình tướng. Có hình tướng là có, không hình tướng là không. Thân này có hình tướng nên là có, mà Phật tánh, Niết-bàn lại thoát ra ngoài hình tướng, nên Niết-bàn là không tịch. Thân là động, mà động là vô thường, cái có tướng là cái hoại diệt. Chấp cái vô thường và hoại diệt là mình thì mình là vô thường hoại diệt. Nếu ngay đó thấy Phật tánh không phải động, không phải là hình tướng nên không phải vô thường hoại diệt, nó cũng không phải là không mà là chủ của tất cả cái động. Như trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói: Chẳng khác nào khi ra biển, thấy một bọt nước nhỏ tí trên biển, mình cho bọt nước chính là biển.

    Cái gì là bọt nước, cái gì là biển cả? Tâm năng suy của mình là bọt, mà Phật tánh bất sanh bất diệt là biển cả. Chúng ta cứ cho cái năng suy là tâm, là tánh của mình..., ví dụ nói “tánh tôi nóng lắm” hay “tánh tôi hay phiền muộn lắm”... Nhận những cái đó làm tánh làm tâm, chẳng khác nào nhận bọt nước làm biển cả. Biết đó là bọt thì mới thấy được toàn thể biển cả, không hình tướng màu sắc mà không phải là không. Chỗ đó gọi là tạng bí mật của Như Lai. Thấy được như vậy mới thấy mình đầy khắp, “con mắt của Sa-môn” đầy cả mười phương thế giới.

    Phật giải thích, không tịch đừng hiểu lầm là hết, là hư không, là trống rỗng. Người trí phải quán sát Như Lai là thường, không biến đổi . Bởi có động nên có vô thường, biến đổi. Như Lai là tịch nên không động, không biến đổi. Có hình tướng thì bị hoại diệt, Như Lai không hình tướng nên không bị hoại diệt.

    Nếu nói giải thoát dụ như huyễn hóa, người phàm phu sẽ cho rằng chứng đặng giải thoát, tức là dứt mất. Người trí nên phải quan sát đức Như Lai giải thoát, dầu có đến đi, nhưng vẫn thường trụ không biến đổi.

    Nếu nói vô minh làm nhân duyên mà có các hành pháp, người phàm phu liền phân biệt tưởng rằng có hai pháp: “Minh” đến “Vô minh”. Người trí rõ biết tánh đó vốn không có hai. Tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Giải thoát rồi tùy duyên hóa độ bằng hóa thân như huyễn như hóa không thật. Có nhiều người nghe nói như vậy, tưởng thành Phật như huyễn như hóa thôi; đó là hiểu lầm. Tuy Phật thị hiện hóa độ chúng sanh mỗi nơi mỗi chốn mà pháp thân thường trụ bất biến, hiểu như vậy mới thật là trí.

    Đọc kinh Niết-bàn chúng ta hiểu được câu của ngài Vĩnh Gia Vô minh thật tánh tức Phật tánh . Ngài Vĩnh Gia rõ ràng là đại trí, còn chúng ta thấy vô minh khác với minh. Thật ra nó không hai, nếu thấy là hai là khác, tức là thấy lầm. Tại sao? Như trong nhà này, lúc mặt trời lên thấy sáng, mặt trời lặn thấy tối. Tối và sáng là hai. Nhưng sự thật có phải là hai không? Nương nơi tối mà gọi đây là sáng, nương nơi sáng mà gọi đây là tối, chỉ là đối đãi, giả lập với nhau. Nếu không có sáng làm gì biết tối, tối do nơi sáng mà có, sáng gốc từ tối mà ra, nếu không có tối làm gì có sáng. Các pháp đối đãi tạm có không thật.

    Minh và vô minh cũng là pháp đối đãi không thật. Vì thật tánh vô minh chính là Phật tánh. Vô minh theo tinh thần Đại thừa là thấy thân này là ngã, là thật có, cảnh là thật có. Đổi lại thấy thân này không thật có, cảnh này không thật có, vậy là đã minh. Vô minh và minh không rời nhau, không phải là hai. Lúc trước mình biết thân này là có, bây giờ biết thân này là huyễn. Khi trước quan niệm lầm thì bây giờ trở lại quan niệm đúng đắn. Quan niệm lầm mất rồi thì quan niệm đúng đắn hiện ra. Như vậy, tột của tánh vô minh là tánh minh. Vọng tưởng dấy lên mà theo là vô minh, không theo là minh. Khi vọng tưởng dấy lên, thật tánh bị che. Khi vọng tưởng không dấy lên là sống với thật tánh. Nhận giả tướng làm mình là vô minh, trở về thật tánh của nó là minh. Thật tánh vô minh là Phật tánh . Đơn giản như vậy.

    Chuyện tu hành chỉ chừng đó thôi. Chính ngay một vật khéo chuyển thì từ vô minh thành minh. Hai cái đối đãi chỉ là giả lập. Vì vậy nói người trí đã biết tánh vốn không hai, nhận được tánh không hai tức là biết được thật tánh.

    Nếu nói các hành làm nhân duyên có ra thức, người phàm phu cho rằng có hai “Hành” cùng “Thức”.

    Người trí rõ biết tánh đó không hai. Tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Nếu nói thập thiện, thập ác, có thể tạo tác, không thể tạo tác, đường lành, đường dữ, pháp lành, pháp dữ, người phàm phu nghe đó cho là có hai, người trí rõ biết tánh đó không hai. Tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Nếu nói nên tu tất cả pháp khổ, phàm phu cho rằng có hai, người trí rõ biết tánh kia không hai, tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Nếu nói tất cả hành pháp là vô thường, thời tạng Như Lai cũng là vô thường, phàm phu cho rằng có hai, người trí rõ biết tánh đó không hai, tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Nếu nói tất cả pháp vô ngã, tạng Như Lai cũng không có ngã, phàm phu cho rằng có hai, người trí rõ biết tánh đó không hai. Tánh không hai đó tức là thật tánh.

    Ngã với vô ngã nơi tánh không có hai thứ.

    Trong kinh nói mười hai nhân duyên: vô minh duyên nơi hành, hành duyên nơi thức. Hành và thức, thấy tưởng như có hai. Vì mê lầm nên không nhận ra được thật tánh, chúng ta chạy theo thức tạo nghiệp thúc đẩy mình thọ thai.

    Hành chỉ là sự thúc đẩy của thức, vì thức vốn huân tập. Như thích dục lạc thế gian, do thích nên bị thúc đẩy đi tìm chỗ để thọ sanh. Cái thúc đẩy đó gọi là hành. Chúng ta tưởng hành rời thức mà có, nên nói hành và thức là hai. Người trí biết rõ hành và thức không hai, chỉ do Phật khéo léo đặt tên chia chẻ cho dễ hiểu. Nếu biết không hai tức là biết được thật tánh của nó.

    Thiện và ác, cái này nên tạo cái kia không nên tạo, đây là đường lành, kia là đường dữ v.v... tất cả như có hai, có thật. Nhưng với người trí thấy không hai. Tại sao? Vì do ngay tâm chúng ta tạo ra, tâm có thể tạo thập ác, có thể chuyển thập thiện, dừng các điều ác. Như vậy lành dữ thiện ác, tạo tác không tạo tác... chỉ là pháp đối đãi với nhau, như huyễn, là phương tiện đặt ra, dùng với nhau cho dễ hiểu, không phải thật. Nếu thấy các pháp đối đãi không thật là chúng ta đã thấy tánh thật của các pháp.

    Trong thiền tông, Lục Tổ dạy đệ tử ba mươi sáu cặp đối đãi. Hỏi, thế nào là vô minh? Đáp, vì không minh nên gọi là vô minh. Hỏi, thế nào là thiện thì lấy ác đáp... Nghĩa là luôn luôn lấy cái ngược lại để đối đáp, hỏi bên này thì lấy bên kia đáp. Ngài không cho đáp thẳng, không cho cắt nghĩa. Ngài nói đối đáp như vậy người ta sẽ nhân đó mà thấy được lẽ thật. Lời của Lục Tổ dạy đúng với tinh thần kinh Niết-bàn. Như hỏi thế nào là sanh tử, trả lời vì không biết Niết-bàn. Thế nào là Niết-bàn, vì biết rõ sanh tử. Thấy sanh tử và Niết-bàn, vô minh và minh là pháp đối đãi nhau không thật. Thấy được tánh thật của các pháp là giác ngộ.

    Lối đối đáp mới nghe thì thấy kỳ lạ, dạy mà không có giải nghĩa. Chúng ta quen nghe giải nghĩa từng chữ, từng lời, ngài lại không chịu. Ngài đối đáp rất đơn giản, lấy cái này đáp cái kia, lấy cái kia đáp cái nọ, để thấy không có cái gì là thật, mà thấy không thật đó là thấy lẽ thật. Đặc điểm của thiền tông phù hợp với kinh điển Đại thừa, không sai chút nào. Kinh Duy-ma-cật cũng chỉ hai pháp đối đãi không thật, bởi không thật nên tánh là không. Đó là pháp môn bất nhị.

    Tạng Như Lai, nghĩa tánh vô lượng vô biên như vậy, là chỗ mà chư Phật đều tán thán, hôm nay ta ở nơi trong kinh thành tựu tất cả công đức này đều đã nói rồi.

    Này thiện nam tử! Ngã cùng vô ngã tánh và tướng không có hai thứ, ông phải thận trọng thọ trì như vậy, ông cũng phải ghi nhớ giữ gìn kinh điển này. Như ta ngày trước trong kinh Đại Bát-nhã cũng nói ngã và vô ngã không có hai thứ.

    Này thiện nam tử! Như do sữa thành lạc, do lạc thành sanh tô, do sanh tô thành thục tô, do thục tô đặng chất đề hồ. Chất lạc đó là từ sữa sanh ra, hay là nó tự sanh, hoặc do cái khác sanh ư, nhẫn đến đề hồ cũng lại như vậy. Nếu từ cái khác sanh, thời là lẽ ra chẳng phải do sữa mà thành. Nếu chẳng phải từ nơi sữa sanh, thời sữa thành vô dụng đối với lạc, bởi sữa vốn không có lạc. Nếu lạc, tự nó sanh lấy nó, lẽ ra chẳng từ sữa lần lần biến thành lạc. Nếu lần lần biến thành, thời là chẳng sanh chung. Nếu chẳng sanh chung, thời cả năm thứ không đồng một thời. Dầu chẳng đồng một thời, nhưng quyết định chẳng phải từ nơi chỗ khác mà có.

    Phải biết trong chất sữa đã có tướng của chất lạc. Vì nhiều vị ngọt nên chẳng thể tự biến. Nhẫn đến chất đề hồ cũng lại như vậy.

    Do con bò cái ăn cỏ, uống nước, huyết mạch chuyển biến mà đặng có sữa. Nếu nó ăn cỏ ngọt, thời sữa nó nhiều vị ngọt. Nếu nó ăn cỏ đắng, thời sữa nó có lẫn vị đắng. Núi Tuyết có thứ cỏ tên là phì nhị. Bò cái ăn cỏ phì nhị, thời đặng thuần chất đề hồ, không có những màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.

    Do cỏ lúa làm nhân duyên mà sữa bò có màu vị khác nhau. Cũng vậy, các chúng sanh do minh cùng vô minh, vì nghiệp làm nhân duyên mà sanh có hai tướng. Nếu vô minh chuyển thời biến làm minh. Tất cả những pháp thiện, bất thiện, vân vân, cũng lại như vậy, không có hai thứ.”

    Trong tạng Như Lai đầy đủ hết. Phật dạy Bồ-tát Ca-diếp phải nhận ra ngã và vô ngã tánh tướng không hai, phải ráng thọ trì.

    Phật dùng ví dụ sữa thành lạc. Sữa và lạc tưởng như là hai, nhưng rời sữa làm sao có lạc, lạc không phải ngoài sữa mà có, do sữa thành lạc, do lạc thành sanh tô, do sanh tô thành thục tô, do thục tô được chất đề hồ. Các pháp đều nương nhau đối đãi mà có, không có một pháp thật, bởi không có một pháp thật nên mình không thể quyết định có hai được. Hiểu được như vậy là hiểu đúng tinh thần của đoạn này.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như lời Phật nói, trong sữa có tướng lạc, nghĩa đó như thế nào? Thế Tôn! Nếu nói rằng trong sữa quyết định có tướng lạc, do vì vi tế chẳng thấy được, thế sao lại nói từ nơi sữa mà thành lạc. Phàm trước vốn không mà nay có thời gọi đó là sanh. Như lạc đã vốn có, sao lại nói là sanh. Nếu nói trong sữa quyết định có tướng lạc, thời trong cỏ lúa lẽ ra cũng có sữa, và trong sữa lẽ ra cũng có cỏ lúa.

    Nếu nói trong sữa quyết định không có lạc, thế sao nhân sữa mà đặng thành lạc. Nếu trước vốn không, sau mới sanh ra có, thời cớ gì trong sữa chẳng sanh ra cỏ lúa?”

    Bồ-tát Ca-diếp đặt câu hỏi với tính cách quyết định nên Phật giải thích cho ngài rõ các pháp không nhất định.

    Trong sữa quyết định có lạc thì lạc đã có trong sữa rồi còn nói sanh làm gì? Còn nói rằng không có thì không lẽ từ nơi nào đến mà sanh. Nếu không có sao sữa lại thành lạc mà không từ cỏ thành. Như vậy nói có hay nói không một cách quyết định đều không đúng.

    “Thiện nam tử! Chẳng nên nói quyết định trong sữa có lạc hay trong sữa không có lạc, cũng chẳng nên nói từ nơi khác mà sanh.

    Nếu nói trong sữa quyết định có lạc, thời chất và vị của hai thứ sao lại khác nhau. Vì thế nên chẳng nên nói trong sữa quyết định có chất lạc.

    Nếu nói trong sữa quyết định không có lạc, cớ sao trong sữa chẳng sanh vật khác. Đem chất độc pha vào trong sữa, lúc sữa đó thành lạc, thời chất lạc đó giết chết người, vì thế nên chẳng nên nói rằng trong sữa quyết định không có chất lạc.

    Nếu nói chất lạc từ nơi khác mà sanh, thời cớ gì trong nước lã chẳng sanh chất lạc, mà phải từ nơi sữa, vì thế nên chẳng nên nói chất lạc từ nơi khác mà sanh.

    Này thiện nam tử! Bò cái kia ăn cỏ tiêu hóa biến thành bạch huyết, do phước lực của chúng sanh, cỏ huyết biến thành sữa. Sữa này dầu từ nơi cỏ huyết mà ra, nhưng chẳng đặng nói là hai thứ, chỉ đặng gọi là từ nhân duyên mà sanh. Chất lạc, nhẫn đến đề hồ cũng lại như vậy.

    Do nhân duyên nên sau khi sữa mất biến thành chất lạc, ủ đông, hâm nóng, đó là nhân duyên. Nhẫn đến đề hồ cũng lại như vậy. Vì thế nên chẳng đặng nói quyết định rằng trong sữa không có tướng lạc.

    Nếu nói từ nơi khác mà sanh, thời ngoài sữa không do đâu để có chất lạc.

    Phật dạy đừng nói quyết định. Đừng nói trong sữa quyết định có chất lạc, cũng đừng nói quyết định không có chất lạc, hay nói do nơi khác cũng không được. Cũng thế, nếu quyết định mình có Phật tánh sẵn rồi thì cần gì cầu thành Phật. Nhưng mà nói không cũng không được, nói không tức là nói dối. Vì vậy ở đây phải khéo biết rằng, tuy có mà nhân duyên mê, Phật tánh bị ẩn khuất đi, nhân duyên ngộ thì hiển bày, chứ không nói một cách quyết định theo lối thường. Vì hai quyết định đó đều không đúng, chỉ nói tùy duyên mà có hay do nhân duyên mà có.

    Tóm lại, do nhân duyên bị vô minh che lấp, cũng do nhân duyên mà Phật tánh được hiển lộ, tất cả đều là nhân duyên.

    Này thiện nam tử! “Minh” cùng “vô minh” cũng lại như vậy. Nếu chung với phiền não thời gọi là vô minh, nếu chung với tất cả pháp lành thời gọi là minh. Do đó nên ta nói không có hai tướng. Vì thế nên trước kia ta nói bò cái ăn cỏ phì nhị ở núi Tuyết, thời sanh thuần chất đề hồ. Phật tánh cũng vậy.

    Này thiện nam tử! Do vì phiền não che đậy nên chúng sanh chẳng thấy Phật tánh, như người phước bạc chẳng thấy được cỏ phì nhị.

    Như trong biển lớn, dầu đồng một vị mặn, nhưng trong đó cũng có nước ngọt ngon, vị đồng như sữa. Như nơi núi Tuyết, dầu sanh nhiều cỏ thuốc, nhưng cũng có cỏ độc.

    Thân của các chúng sanh cũng lại như vậy, dầu có giống rắn độc tứ đại, nhưng trong đó cũng có diệu dược, tức là Phật tánh. Phật tánh chẳng phải là pháp tạo tác làm ra, chỉ vì phiền não khách trần che khuất, nếu chúng sanh nào dứt trừ được phiền não, thời liền thấy được Phật tánh, thành đạo Vô thượng.

    Chấp sanh diệt là mình đó là vô minh, không theo sanh diệt nữa là minh, không phải hai pháp.

    Cỏ phì nhị ví dụ cho thuần các pháp lành, nếu thuần các pháp lành thì sẽ được minh, cũng như con bò chỉ ăn cỏ phì nhị thì được chất đề hồ. Cũng vậy, Phật tánh có mà bị phiền não che nên không thấy, như chúng sanh phước bạc không thấy cỏ phì nhị.

    Nước biển tuy rất mặn nhưng cũng có một hai chỗ ngọt, trong núi Tuyết có nhiều cỏ thuốc nhưng cũng có cỏ độc, không nhất định. Ngay thân của chúng ta, tứ đại không hòa hợp với nhau như loài rắn độc ở chung một chỗ, nhưng vẫn chứa một thứ diệu dược, tức là Phật tánh bất sanh bất diệt ở bên trong.

    Chúng ta có Phật tánh, sở dĩ không thấy vì phiền não khách trần che lấp. Nếu khéo dứt trừ phiền não thì Phật tánh hiển bày đầy đủ. Phiền não là gì? Thường thì phiền não là tham sân si... nhưng thật ra khởi tâm động niệm, dù thiện hay ác, cũng đều là phiền não. Các thiền sư thường nói “một niệm dấy lên, thiện và ác đã phân rành”. Có phân thiện phân ác là gốc phiền não. Tâm dấy niệm liên miên là phiền não che khuất Phật tánh, nếu những vọng niệm không còn dấy lên thì Phật tánh hiển lộ.

    Ví như giữa hư không, giăng mây nổi sấm, trên ngà của tất cả voi đều sanh bông. Nếu không có sấm nổ, thời bông không sanh.

    Phật tánh của chúng sanh cũng lại như vậy, thường bị tất cả phiền não che khuất nên chẳng thấy được. Vì thế nên ta nói chúng sanh không có ngã.

    Nếu được nghe kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu này, thời được thấy Phật tánh như bông hiện trên ngà voi.

    Dầu nghe tất cả tam-muội trong khế kinh, mà chẳng nghe kinh Đại Niết-bàn này, thời chẳng biết được tướng Như Lai vi diệu. Như lúc không có tiếng sấm, thời chẳng thấy được bông trên ngà voi.

    Nếu được nghe kinh này rồi, liền biết tạng Phật tánh của tất cả Như Lai nói. Như trời sấm thấy bông trên ngà voi. Được nghe kinh này liền biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.

    Do nghĩa trên đây, nên nói đại Niết-bàn là tạng Như Lai thêm lớn pháp thân, như lúc trời sấm, bông trên ngà voi nhờ đó mà được sanh thêm.

    Nếu có thiện nam, tín nữ, có thể tập học kinh điển vi diệu đại Niết-bàn này, nên biết những người đây có thể báo được ân Phật, thật là đệ tử của Phật.

    Khi trời có sấm, ngà voi sanh bông. Cũng vậy, khi nghe kinh điển Đại thừa Niết-bàn thấy được Phật tánh, như bông hiện trên ngà voi. Chúng ta nhận nơi mình có Phật tánh nhưng bị phiền não che lấp, nếu một phen hết phiền não thì Phật tánh hiển lộ. Đó là ý nghĩa chắc chắn mà kinh Đại Niết-bàn nói.

    Phật tánh khó thấy, khó hiểu, khó biết, nên nói là tạng bí mật Như Lai. Vì khó thấy khó hiểu khó biết, nếu người nào thấy hiểu biết được, tức là người đó đã khai được tạng bí mật của Như Lai. Thành Phật hay thành chúng sanh, đều do biết hay không biết được tạng Như Lai.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Phật tánh như đã nói rất sâu, khó thấy, khó vào, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể đến được.”

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Đúng như lời ông vừa khen, chẳng trái lời nói của ta.”

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Phật tánh ấy rất sâu, khó thấy, khó vào như thế nào?”

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Như trăm người mù đến lương y để trị bệnh mắt. Lúc đó lương y dùng kim vàng lột màng mắt của họ, lột xong, giơ một ngón tay hỏi rằng: Thấy không? Người mù đáp rằng: Tôi vẫn chưa thấy. Lương y lại giơ hai ngón, ba ngón; người mù mới nói rằng thấy mờ mờ.

    Này thiện nam tử! Kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu này, lúc đức Như Lai chưa nói cũng lại như vậy. Vô lượng Bồ-tát dầu đầy đủ thật hành các ba-la-mật, nhẫn đến bậc Thập trụ vẫn còn chưa thấy được Phật tánh. Lúc Như Lai đã nói, mới thấy được chút ít. Lúc Bồ-tát này đã được thấy, đều nói rằng: Thế Tôn! Lạ lùng thay, chúng tôi lưu chuyển thọ vô lượng sanh tử, thường bị vô ngã làm mê lầm.

    Này thiện nam tử! Bồ-tát này lên bậc Thập địa còn chưa thấy được Phật tánh rõ ràng, huống là hàng Thanh văn, Duyên giác mà có thể thấy đặng.

    Này thiện nam tử! Ví như có người ngước mặt nhìn đàn chim nhạn trên hư không, nhìn kỹ phưởng phất thấy dạng bầy nhạn. Bậc Thập trụ Bồ-tát đối nơi Phật tánh, thấy biết được chút ít cũng lại như vậy, huống là hàng Thanh văn, Duyên giác mà thấy biết được!

    Này thiện nam tử! Ví như người say, đi trên đường xa, ngó thấy mập mờ. Bậc Thập trụ Bồ-tát đối với Phật tánh thấy biết được ít phần cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Như người khát nước, đi trong đồng trống, khắp nơi tìm nước, thấy có lùm cây, trong lùm có chim bạch hạc, người đó bị cơn khát bức ngặt, mê muội chẳng phân biệt được là cây hay là nước. Đến lúc nhìn kỹ mới biết là chim bạch hạc cùng với lùm cây. Bậc Thập trụ Bồ-tát, đối với Phật tánh, thấy biết phần ít cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Ví như có người ở trong biển lớn, nhẫn đến trăm ngàn do-tuần, trông thấy chiếc thuyền lớn ở ngoài khơi xa, liền nghĩ rằng: Đó là chiếc thuyền hay là khoảng không. Nhìn lâu, trong tâm quyết định biết là thuyền lớn. Bậc Thập trụ Bồ-tát, ở trong tự thân, thấy Phật tánh cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Ví như vị vương tử, thân rất yếu đuối, dạo chơi suốt đêm, đến sáng ngày sau, mắt mờ thấy không được rõ. Bậc Thập trụ Bồ-tát dầu ở nơi thân mình thấy được Phật tánh nhưng chưa được rõ ràng cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Ví như quan lại, vì công sự suốt đêm trở về nhà chớp nhoáng thấy bầy trâu, liền nghĩ rằng: Đó là trâu ư, hay là dãy nhà, nhìn lâu, dầu nhận là trâu mà còn chưa định chắc. Bậc Thập trụ Bồ-tát, dầu ở nơi thân mình thấy Phật tánh, chưa có thể định chắc cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Như Tỳ-kheo trì giới, nhìn trong bát nước không có trùng, mà thấy tướng trùng, liền nghĩ rằng: Trong nước đây là trùng hay bụi đất, nhìn lâu, dầu biết là bụi nhưng chẳng rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát, ở trong thân mình thấy Phật tánh chẳng được rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Ví như có người, xa thấy đứa trẻ đứng trong bóng tối, liền nghĩ rằng: Đó là con vật, là chim, hay là người? Nhìn lâu, dầu nhận thấy là đứa trẻ, nhưng vẫn chẳng rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát ở nơi thân mình, thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Ví như có người ở trong đêm tối, thấy bức họa tượng Bồ-tát liền nghĩ rằng: Đây là tượng Bồ-tát hay là tượng thiên thần, nhìn lâu, dầu nhận là tượng Bồ-tát, nhưng chẳng rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát ở nơi thân mình thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Phật tánh ấy rất sâu như vậy, khó biết khó thấy, chỉ Phật biết rõ, chẳng phải hàng Thanh văn, Duyên giác đến được. Người trí phải quan sát như vậy để rõ biết Phật tánh.

    Bồ-tát Ca-diếp thắc mắc khi nghe nói Phật tánh rất sâu, khó thấy khó vào. Phật dùng mười ví dụ để chỉ Phật tánh rất sâu, khó thấy khó vào, chỉ có Phật mới thấy tường tận, đến hàng Bồ-tát Thập trụ mà cũng thấy mập mờ, huống nữa hàng Thanh văn Duyên giác. Có một số người nhận được Phật tánh nhưng không thường sống được, rồi than thở, không biết chừng nào mới sống luôn luôn với Phật tánh. Hàng Thập địa còn mờ mờ thì phàm phu chúng ta làm sao sống luôn luôn với Phật tánh! Sống luôn luôn thì là Phật rồi. Nhận ra cũng là quá tốt, sống với Phật tánh thì cần thời gian, từ từ mới quen. Chỉ có Phật với Phật mới thấy tường tận, chúng ta nếu có nhận ra cũng là mờ mờ, chợt có chợt không chợt còn chợt mất, nhưng mà đủ niềm tin là hết sức quý rồi.

    Ví dụ thứ nhất, có người mù được lương y dùng kim vàng lột màng mắt, lần đầu giơ một ngón tay, không thấy; giơ hai ngón, ba ngón thì thấy mờ mờ. Bồ-tát thấy Phật tánh mờ mờ cũng giống như người mù mới lột mây nhìn tay thấy mờ mờ.

    Ví dụ thứ hai, Bồ-tát thấy Phật tánh như nhìn đàn chim nhạn bay trên hư không, xa xa thấy mập mờ như mây.

    Ví dụ thứ ba, người say rượu ngó thấy trời đất mập mờ không rõ ràng. Bồ-tát thấy Phật tánh mập mờ cũng như vậy.

    Ví dụ thứ tư, người khát nước ở xa nhìn thấy đàn cò trắng đậu trên cây, thấy mập mờ giống như nước. Hàng Bồ-tát thấy Phật tánh mập mờ cũng như vậy.

    Ví dụ thứ năm, có một chiếc thuyền lớn ở ngoài khơi, nhìn ra thấy như mặt biển xanh xanh, nhìn kỹ mới biết có thuyền. Bồ-tát thấy Phật tánh cũng như vậy.

    Ví dụ thứ sáu, vương tử dạo chơi suốt đêm, đến sáng mắt mờ, nhìn thấy sự việc không rõ ràng. Bồ-tát thấy Phật tánh cũng giống như vậy.

    Ví dụ thứ bảy, như quan lại làm việc suốt đêm trở về nhà chớp nhoáng, thấy bầy trâu không rõ là trâu hay là dãy nhà, nhìn lâu, dầu nhận là trâu mà còn chưa định chắc. Bậc Thập trụ Bồ-tát thấy Phật tánh, chưa có thể định chắc cũng như vậy.

    Ví dụ thứ tám, như Tỳ-kheo trì giới nhìn trong bát nước không có trùng, mà thấy tướng trùng, không biết là trùng hay bụi đất, nhìn lâu, dầu biết là bụi nhưng chẳng rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát thấy Phật tánh chẳng được rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Ví dụ thứ chín, như có người thấy đứa trẻ đứng trong bóng tối, không biết là con vật, là chim, hay là người. Nhìn lâu, nhận thấy là đứa trẻ, nhưng không rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Ví dụ thứ mười, như có người ở trong đêm tối thấy bức họa tượng Bồ-tát, không biết là tượng Bồ-tát hay là tượng thiên thần, nhìn lâu nhận ra tượng Bồ-tát, nhưng chẳng rõ ràng. Bậc Thập trụ Bồ-tát thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.

    Mười ví dụ trên để chỉ Bồ-tát thấy Phật tánh còn mờ mờ chưa rõ ràng, chỉ có Như Lai mới thấy rõ ràng. Phật tánh thật là khó nhận khó thấy. Lúc đầu mình không nhận ra, nhận ra rồi được thấy rõ ràng cũng là hết sức công phu.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Phật tánh vi tế khó thấy như vậy, thế sao nhục nhãn mà có thể thấy được.”

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Như trời Phi tưởng phi phi tưởng kia, cũng chẳng phải hàng Nhị thừa biết được, chỉ tin theo khế kinh mà biết.

    Này thiện nam tử! Hàng Thanh văn, Duyên giác tin thuận theo kinh Đại Niết-bàn này, tự biết thân mình có Phật tánh.

    Này thiện nam tử! Vì thế nên phải tinh tấn tu tập kinh Đại Niết-bàn. Phật tánh đó chỉ Phật biết rõ, chẳng phải hàng Thanh văn, Duyên giác đến được.”

    Phật giải thích, như hàng Nhị thừa không thấy cõi trời Phi phi tưởng, chỉ tin theo trong kinh Phật mà biết. Cũng vậy, hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ là từ kinh Đại Niết-bàn này mà biết mình có Phật tánh, thật họ không thấy. Y theo kinh Đại Niết-bàn này tinh tấn tu hành, biết được mình có Phật tánh, cái biết đó là qua niềm tin chứ chẳng phải do thấy được.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Hàng chúng sanh phàm phu chẳng phải thánh đều nói có ngã.”

    Phật nói: “Ví như hai người làm bạn thân nhau: một người là vương tử, một người là dân hèn, hai người đó thường qua lại nhau, lúc đó người nghèo thấy vương tử có một con dao tốt, trong lòng thích muốn, thời gian sau, vương tử mang dao trốn qua nước khác. Một hôm, người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, giữa giấc ngủ mơ nói con dao! Con dao! Người nhà nghe được bắt nộp cho vua. Vua gạn hỏi: Nhà ngươi nói con dao, nay ở đâu? Người dân bèn thuật rõ việc trước. Nay nhà vua dầu giết thần, banh xẻ tay chân cũng không thể tìm được dao. Thần cùng vương tử vốn là bạn thân, trước kia, dầu mắt được thấy con dao, nhưng còn không dám chạm đến, huống lại cố ý lấy.

    Vua lại hỏi: “Lúc nhà ngươi thấy dao, hình dạng giống thứ gì?”

    Người dân bèn thưa: “Tâu Đại vương, thần thấy con dao ấy giống như sừng dê đen.”

    Vua nghe xong, vui mừng cả cười, bảo rằng: “Nhà ngươi chớ sợ, ta tha cho ngươi, trong kho tàng của ta, đều không có thứ dao ấy, huống là ngươi thấy con dao nơi vương tử.”

    Lúc đó nhà vua lại hỏi các quan: “Các khanh từng thấy con dao đó chăng?” Nói xong vua liền băng. Triều thần liền lập vương tử khác lên làm vua.

    Tân vương lại hỏi các quan: “Các khanh từng thấy con dao đó chăng? Hình dáng nó như thế nào?”

    Các quan đồng tâu: “Chúng thần từng thấy hình nó như sừng dê đen.”

    Vua nói: “Trong kho tàng của ta, chỗ nào mà có thứ dao hình dạng như vậy?”

    Lần lượt bốn vị tân vương tra tìm con dao ấy đều chẳng đặng.

    Sau đó, vị vương tử đào vong ngày trước, trở về nước, được tôn làm vua. Khi lên ngôi xong, tân vương này lại hỏi các quan: “Các khanh có thấy con dao đó chăng? Hình dạng nó thế nào?”

    Các quan tâu: “Chúng tôi đều thấy.” Rồi đua nhau trình bày hình dáng của con dao. Người thì nói sắc dao thanh tịnh như hoa sen xanh. Người lại nói hình như sừng dê. Người thì nói dao màu hồng đỏ như lửa. Người lại nói dao đen tuyền như rắn đen.

    Nhà vua cả cười bảo: “Các khanh đều chẳng thấy biết hình dáng thật của con dao của ta.”

    Này thiện nam tử! Bồ-tát xuất hiện nơi đời nói tướng chân thật của ngã cũng như vậy. Nói xong bỏ đi. Như vương tử mang con dao tốt trốn qua nước khác.

    Người phàm phu ngu mê cho rằng tất cả đều có ngã, có ngã. Như người dân hèn ngủ nhờ nhà người khác, mơ nói con dao! Con dao!

    Hàng Thanh văn, Duyên giác hỏi các chúng sanh, tướng của ngã như thế nào? Đáp rằng: “Tôi thấy tướng của ngã lớn bằng ngón tay cái. Có kẻ nói, như hột gạo. Có kẻ nói như hột cỏ. Cũng có kẻ nói tướng của ngã ở trong tâm, sáng rỡ như mặt trời.”

    Những chúng sanh đó đều chẳng biết tướng của ngã. Như các quan chẳng biết hình dáng của con dao.

    Bồ-tát nói tướng trạng của ngã, hàng phàm phu chẳng rõ biết, vọng tưởng ra các hình tướng của ngã, như những người nói hình dáng của con dao, giống như sừng dê đen v.v...

    Các hạng phàm phu đó, tuần tự nối nhau mà sanh những tà kiến.

    Vì dứt những tà kiến đó, nên đức Như Lai hiện ra đời, nói pháp vô ngã. Vương tử bảo các quan: Trong kho tàng của ta không có thứ dao như vậy.

    Này thiện nam tử! Hôm nay đức Như Lai nói ngã chân thật gọi là Phật tánh. Phật tánh như vậy ở trong Phật pháp của ta, như con dao tốt kia.

    Thiện nam tử! Nếu có kẻ phàm phu có thể nói đúng, đó chính là do vì tùy thuận Phật pháp vô thượng. Nếu có người khéo phân biệt tùy thuận tuyên nói như đây, nên biết người đó chính là Bồ-tát.

    Ngài Ca-diếp thưa, ở trong kinh này Phật nói ngã là chỉ cho Phật tánh, phàm phu cũng nói có ngã, vậy phàm phu biết có Phật tánh không? Họ nói có ngã là do tưởng tượng thôi, thật ra họ không thấy được Phật tánh.

    Phật dùng ví dụ người thấy bạn mình là một vương tử có con dao đẹp, rất thích. Sau vương tử này bỏ trốn ra khỏi nước, người kia nằm ngủ mớ kêu “dao, dao”, bị bắt nộp cho vua, và bị tra hỏi hình dáng của dao, không nói trúng. Vua cười nói, “trong kho ta không có thứ dao này.”

    Con dao là dụ cho Phật tánh, vị vương tử dụ cho Bồ-tát hoặc Phật mới biết được dao đó, người dân thường kia dụ cho phàm phu chúng ta, không được ngã rồi tưởng tượng ngã là hột gạo, ngã to như mặt trời... Như tưởng tượng mình có linh hồn thế này hoặc thế nọ, chỉ tưởng tượng không thấy được lẽ thật. Ngã mà Phật nói là ngã thấy được, giác được. Bá quan diễn tả con dao sai hết là dụ cho tất cả ngoại đạo, hoặc hàng Thanh văn Duyên giác, nói không tới nơi, chỉ có Phật mới thấy được ngã rõ ràng.

    Đồng nói ngã mà phàm phu nói ngã ở trong mộng tưởng, Phật nói ngã là chỉ thẳng cho Phật tánh. Nếu đạt được Phật tánh thì mới thấy cái ngã chân thật, còn không đạt được Phật tánh mà nói ngã thì chỉ là vọng tưởng không thật. Phật tánh có nơi tất cả chúng sanh nhưng vì phiền não che đậy, không thấy không biết nên cho là không, bao giờ dẹp hết phiền não rồi thì Phật tánh hiển lộ rõ ràng.

  • 11. Phẩm Anh Nhi Hạnh

    Phật bảo Ca-diếp Bồ-tát: “Thế nào gọi là Anh nhi hạnh?

    Này thiện nam tử! Chẳng có thể đứng dậy, đi tới, đi lui, nói chuyện, đây gọi là anh nhi. Cũng vậy, đức Như Lai chẳng thể khởi dậy, vì Như Lai trọn chẳng khởi các pháp tướng. Cũng chẳng thể đứng dừng, vì Như Lai chẳng chấp trước tất cả pháp. Chẳng thể đến vì thân hình của Như Lai không có lay động. Cũng chẳng thể đi vì Như Lai đã đến đại Niết-bàn. Chẳng thể nói, vì Như Lai dầu nói pháp cho tất cả chúng sanh nhưng thật ra không chỗ nói. Bởi có chỗ nói thời gọi là pháp hữu vi, do đây nên không chỗ nói. Lại không ngôn ngữ, như anh nhi ngôn ngữ chưa rõ, dầu có ngôn ngữ thật ra không ngôn ngữ. Cũng vậy, ngôn ngữ chưa rõ chính là lời bí mật của chư Phật, dầu có nói, chúng sanh cũng chẳng hiểu nên gọi là không ngôn ngữ.

    Đoạn này so hạnh của Phật với anh nhi. Anh nhi không đi tới đi lui, không đứng dậy, không nói chuyện. Pháp thân của chư Phật cũng vậy, không khởi dậy vì không hình tướng. Như Lai không bị mắc kẹt nơi các pháp nên cũng chẳng đứng dừng, chẳng phải đến vì pháp thân không lay động, chẳng thể đi vì Như Lai đã đến đại Niết-bàn. Pháp thân bất sanh bất diệt, bất khứ bất lai. Trong kinh Kim Cang cũng đã giải nghĩa: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, tức là Như Lai không từ đâu đến và cũng không đi về đâu . Nếu thấy có đến có đi thì cũng chỉ thấy tướng, không phải pháp thân Như Lai. Chẳng thể nói, vì Như Lai dù nói pháp cho tất cả chúng sanh nhưng thật ra không chỗ nói, nên nói Phật nói bốn mươi chín năm mà không nói một câu một chữ. Như Lai là pháp thân, mà pháp thân thì không nói, không đến đi... Hạnh Anh nhi là hạnh của pháp thân.

    Anh nhi không nói lời gì rõ ràng, chưa biết gọi ba gọi má, khi đói khát chỉ biết khóc “oe oe”, không nói nên câu, nên lời gì cả. Cũng vậy, chư Phật dù có nói mà không ai hiểu thì những lời nói đó thành bí mật, cũng giống như anh nhi nói ư ư a a, không ai biết gì hết. Nói mà không biết, cũng như không ngôn ngữ. Các vị thiền sư cũng hay dùng ngôn ngữ mà không ngôn ngữ, nói một câu chúng ta thường không biết gì hết.

    Lại như anh nhi gọi tên những đồ vật chẳng duy nhất, vì chưa biết rõ tên chánh, dầu gọi tên đồ vật chẳng duy nhất chưa biết rõ tên chánh, nhưng chẳng phải chẳng nhân nơi đây mà đặng biết đồ vật. Cũng vậy, tất cả chúng sanh, giống loại, nơi chỗ, ngôn ngữ chẳng đồng. Như Lai phương tiện thuận theo tiếng của họ mà nói, cũng làm cho tất cả loài, nhân nơi đó đặng hiểu biết.

    Lại anh nhi có thể nói được chữ cái. Cũng vậy, đức Như Lai nói chữ cái, như nói “bà” “hòa”. “Hòa” là hữu vi, “bà” là vô vi, đây gọi là anh nhi. “Hòa” là vô thường, “bà” là thường. Như Lai nói thường, chúng sanh nghe rồi vì cầu pháp thường mà dứt vô thường, đây gọi là Anh nhi hạnh. Lại anh nhi chẳng biết khổ, vui, ngày, đêm, cha, mẹ. Cũng vậy, đại Bồ-tát vì chúng sanh nên chẳng biết khổ vui, không tướng ngày đêm, tâm bình đẳng đối với chúng sanh nên không có cha mẹ thân sơ sai khác.

    Lại như anh nhi thấy cái gì cũng ư ư a a, mặc dù biết đồ vật nhưng nói không đúng tên. Phật cũng vậy, tuy nói người ta không hiểu nhưng cũng khéo léo phương tiện tùy nơi tùy chốn, tùy chúng sanh mà nói cho họ hiểu chút ít. Trong Bảo Cảnh Tam-muội có dùng câu “bà bà, hòa hòa”, là dựa theo phẩm Hạnh Anh Nhi này. Vì chúng ta học không tới, nghe các ngài nói không hiểu gì hết.

    Phật nói thường để chúng sanh cầu pháp thường, dứt vô thường, gọi là hạnh anh nhi. Anh nhi thì bình đẳng, không phân biệt ngày đêm, không phân biệt cha mẹ. Các vị Bồ-tát vì chúng sanh cũng bình đẳng như vậy.

    Lại anh nhi chẳng thể tạo tác những việc lớn việc nhỏ. Cũng vậy, Bồ-tát chẳng tạo nghiệp sanh tử, đây gọi là chẳng làm việc lớn, việc lớn tức là tội ngũ nghịch. Việc nhỏ tức là tâm Thanh văn, Duyên giác. Bồ-tát trọn chẳng thối tâm Bồ-đề mà tu hạnh Thanh văn, Bích-chi Phật.

    Anh nhi không làm việc lớn, cũng không làm việc nhỏ. Bồ-tát cũng giống như vậy, không làm việc lớn là những việc ngũ nghịch, không làm những việc nhỏ là việc của Thanh văn, Duyên giác.

    Lại như anh nhi lúc kêu khóc, cha mẹ liền lấy lá dương vàng mà bảo rằng: Nín đi đừng khóc! Vàng đây ta cho con. Anh nhi thấy lá dương vàng tưởng là vàng thật bèn thôi không khóc nữa. Nhưng đây là lá dương chẳng phải vàng thật. Trâu gỗ, ngựa gỗ, người gỗ, anh nhi cũng tưởng là trâu, ngựa, người thật, liền chẳng khóc nữa. Do vì chẳng phải thật trâu ngựa v.v... mà tưởng là thật trâu ngựa v.v... nên gọi là anh nhi.

    Đức Như Lai cũng như vậy. Nếu có chúng sanh muốn tạo tội ác, đức Như Lai vì họ mà nói trời Đao-lợi thiên là cõi tốt đẹp an vui tự tại. Chúng sanh nghe cõi vui đẹp như vậy, sanh lòng ưa thích bèn thôi chẳng tạo tội ác, mà siêng thật hành những nghiệp lành. Nhưng thật ra cõi trời Đao-lợi là sanh tử chẳng phải thật là an vui tự tại.

    Phần trước hạnh anh nhi là hạnh của Phật Bồ-tát, ở đây chúng sanh là anh nhi. Phật, Bồ-tát nói gạt anh nhi, đưa lá dương nói là vàng, anh nhi tưởng là vàng liền nín khóc. Như chúng sanh hay làm ác, nên Phật nói thôi đừng làm ác nữa, ráng tu thập thiện được sanh vào cõi trời Đao-lợi, sung sướng tự tại muốn gì có nấy, dục lạc đầy đủ. Người ta thích quá, ráng bỏ ác tu thiện. Như vậy là nói gạt cho chúng sanh bỏ ác làm lành. Nhưng cõi trời Đao-lợi cũng còn trong vòng sanh tử, chưa phải an vui tự tại. Vì muốn họ tạm dừng việc ác, Phật phương tiện khen ngợi là an vui tự tại. Chủ ý của ngài là dạy cho chúng sanh giác ngộ thành Phật, mà chúng sanh chưa làm được nên ngài tùy phương tiện, tùy nhu cầu sở thích, nói ra nhiều cách tu. Phật cũng khen những cách đó là hay, là cao quý, nhưng sự thật chưa phải là cứu cánh.

    Lại như có chúng sanh nhàm khổ sanh tử, đức Như Lai vì họ nói hạnh quả Nhị thừa, nhưng thật ra quả Nhị thừa chẳng phải rốt ráo chân thật, vì hàng Nhị thừa biết lỗi sanh tử, thấy vui Niết-bàn bèn có thể tự biết có dứt cùng chẳng dứt, có chân thật cùng chẳng chân thật, có tu cùng chẳng tu, có chứng đặng cùng chẳng chứng đặng. Như anh nhi kia đối với vật chẳng phải vàng mà tưởng là vàng thật.

    Phật sở dĩ chỉ cho hàng Nhị thừa tu hành để chứng được Tứ quả Thanh văn, được Niết-bàn, dứt được phần nào đau khổ, dù chưa phải hoàn toàn như chỗ Phật muốn, chưa cứu cánh, chưa cùng tột. Vì vậy nói, như anh nhi không phải vàng tưởng là vàng.

    Đức Như Lai ở trong chỗ bất tịnh mà nói là tịnh, vì đã chứng được đệ nhất nghĩa đế nên Như Lai không có hư vọng.

    Như anh nhi kia đối với những vật không phải trâu ngựa mà tưởng là trâu ngựa thật. Nếu có chúng sanh ở nơi phi đạo mà tưởng là chân đạo, Như Lai cũng nói phi đạo là đạo, nơi phi đạo thật không có đạo, vì có thể làm chút ít nhân duyên sanh ra đạo nên nói phi đạo là đạo.

    Anh nhi đối với không phải trâu mà tưởng là trâu, không phải ngựa mà tưởng là ngựa, có nhiều việc không phải đạo lý mà Phật cũng nói đạo lý. Như kinh Thiện Sanh trong A-hàm, Phật dạy ý nghĩa lễ bái sáu phương nương theo cách lễ bái của ngoại đạo. Đó là chỉ cho phương tiện khéo léo của Phật ngài chuyển ngoại đạo trở về con đường chính.

    Như anh nhi kia đối với người gỗ mà tưởng là người thật. Cũng vậy, Như Lai biết chẳng phải chúng sanh mà nói tướng chúng sanh, nhưng thật ra không có tướng chúng sanh. Nếu Như Lai nói không chúng sanh thời tất cả chúng sanh sẽ đọa tà kiến. Do đây nên Như Lai nói có chúng sanh, những người đối với chúng sanh mà tưởng là chúng sanh, thời không thể phá tướng chúng sanh. Nếu ở nơi chúng sanh phá được tướng chúng sanh, người này có thể đặng đại Niết-bàn. Do đặng đại Niết-bàn như vậy nên chẳng còn kêu khóc nữa. Đây gọi là Anh nhi hạnh.

    Không phải chúng sanh mà nói tướng chúng sanh. Chúng ta mang thân này, ai cũng như ai, nếu sống trong dục lạc, sống trong cảnh tranh giành, giết chóc, hơn thua nhau thì gọi là chúng sanh mê lầm. Nếu biết thân chúng sanh này là giả không thật, trong có Phật tánh bất sanh bất diệt thì chắc chắn được đại Niết-bàn, cũng như đứa bé kia khi được yên ổn không kêu khóc nữa. Đó gọi là hạnh Anh nhi.

    Này thiện nam tử! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, thư tả, giải thuyết năm hạnh này, nên biết rằng người này quyết định sẽ được năm hạnh như vậy.

    Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Theo như chỗ tôi hiểu, y cứ theo lời của Phật dạy, thời tôi cũng quyết định sẽ đặng năm hạnh này.”

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Chẳng riêng gì ông đặng năm hạnh như vậy, nay trong hội này có chín mươi ba muôn người cũng đồng được năm hạnh như ông.”

    Phật kết luận năm hạnh nói ở trước, tức là Thánh hạnh, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh, Thiên hạnh và Bệnh hạnh, người nào áp dụng đúng năm hạnh đó thì Phật sẽ nói người đó được bao nhiêu công đức.

    Hạnh anh nhi là cao nhất, cao hơn Thánh hạnh, Phạm hạnh, vì đây là hạnh của Bồ-tát, của Phật, vì Phật thể theo như anh nhi để tùy cơ giáo hóa chúng sanh. Phật ở đây là chỉ cho pháp thân bất động của Như Lai, như anh nhi không nói không rằng, không đi không đứng. Pháp thân là cứu cánh, là cao tột nên nói hạnh anh nhi là cao hơn cả.

  • 12. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát

    Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Nếu có đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn như vậy, thời đặng mười công đức mà hàng Thanh văn, Bích-chi Phật chẳng có. Công đức này chẳng thể nghĩ bàn, người nghe đến sẽ kinh sợ. Công đức này chẳng phải trong ngoài, chẳng phải khó dễ, chẳng phải tướng phi tướng, không có tướng mạo, chẳng phải thế pháp, trong thế gian không có. Đây là mười công đức: 

    Công đức thứ nhất có năm điều: một là chỗ chẳng nghe có thể đặng nghe, hai là nghe rồi có thể làm lợi ích, ba là có thể dứt tâm nghi hoặc, bốn là trí huệ chánh trực, năm là có thể biết tạng bí mật của Như Lai.

    Vị Bồ-tát này tên là Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương. Quang Minh Biến Chiếu là ánh sáng soi khắp. Cao Quý Đức Vương tức là vị vua có đức cao quý hơn hết. Đây chỉ cho vị Bồ-tát có công đức như vị vua và có đầy đủ sáng suốt như ánh sáng soi khắp hết.

    Đại ý của phẩm này là để chúng ta nhận ra được Phật tánh, hiểu được tất cả mọi sự hiện có, hoặc nghe hoặc thấy, hoặc lời nói của Phật đều là tùy duyên, phương tiện giáo hóa, không có thật. Nhận cho sâu, hiểu cho thấu đáo thì mới thấy Phật tánh là cứu cánh, là cao tột.

    Trước hết Phật khen ngợi, người nào chịu đọc tụng hay tu trì theo kinh Đại Niết-bàn thì sẽ được mười công đức. Mười công đức quý báu như thế nào? Mười công đức này không trong không ngoài, không khó không dễ, không tướng không phi tướng, không thế gian không xuất thế gian... nghĩa là vượt ra ngoài tất cả đối đãi, thế gian không có.

    Công đức thứ nhất có năm điều. Dưới đây Phật giải thích từng điều một.

    Những gì là chỗ chẳng nghe có thể được nghe? Chính là nghĩa vi mật rất sâu: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật và Pháp cùng Tăng không có sai khác, tánh tướng của Tam bảo là thường, lạc, ngã, tịnh, tất cả chư Phật không rốt ráo nhập Niết-bàn là thường trụ không biến đổi.

    Lâu nay chúng ta chỉ nghe Phật pháp tăng bên ngoài, chưa nghe được nghĩa sâu xa mầu nhiệm, đó là chúng sanh đều có Phật tánh. Khi nhận ra có Phật tánh rồi thì Phật, Pháp, Tăng sẵn có nơi chúng ta. Ba ngôi báu đó đồng một thể là thường lạc ngã tịnh. Tất cả chư Phật không vào Niết-bàn mà luôn luôn thường trụ không biến đổi. Phật có hình tướng thì tám mươi tuổi nhập Niết-bàn, nhưng Phật tánh, pháp thân thì không có sanh làm gì có diệt, nên thường trụ bất biến. Khi nhập được Phật tánh, chúng ta cũng thường trụ bất biến. Đó là nghĩa lâu nay chưa từng nghe bây giờ được nghe.

    Lại Niết-bàn của Như Lai chẳng phải có không, chẳng phải hữu vi vô vi, chẳng phải hữu lậu vô lậu, chẳng phải sắc phi sắc, chẳng phải danh phi danh, chẳng phải tướng phi tướng, chẳng phải hữu phi hữu, chẳng phải vật phi vật, chẳng phải nhân quả, chẳng phải đãi phi đãi, chẳng phải minh ám, chẳng phải xuất phi xuất, chẳng phải thường phi thường, chẳng phải đoạn phi đoạn, chẳng phải thủy chung, chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng phải ấm phi ấm, chẳng phải nhập phi nhập, chẳng phải giới phi giới, chẳng phải thập nhị nhân duyên, chẳng phải phi nhân duyên. Những pháp như vậy đều vi mật rất sâu, từ trước chỗ chẳng nghe mà có thể được nghe. Lại có chỗ chẳng nghe, như là tất cả sách vở ngoại đạo: Tỳ-đà luận, Tỳ-già-la luận, Vệ-thế-sư luận, Ca-tỳ-la luận, cùng tất cả kỹ nghệ, chú thuật, y dược, thiên văn, địa lý v.v... nay ở nơi kinh này mà đặng biết tất cả. Lại có mười một bộ kinh trừ Tỳ-phật-lược, cũng không có những nghĩa rất sâu như vậy, nay do kinh này mà đặng biết rõ đó. Đây gọi là chỗ chẳng nghe mà có thể được nghe.

    Niết-bàn tuyệt đối vượt khỏi phàm tình, vượt ra ngoài đối đãi của hai pháp có không, hữu lậu vô lậu, danh phi danh, nhân quả phi nhân quả... Đó là những pháp lâu nay chúng ta chưa nghe, bây giờ được nghe.

    Trong mười hai bộ kinh, bộ kinh cao nhất là Tỳ-phật-lược, mười một bộ kinh kia không có nghĩa sâu như thế, nay nghe kinh Đại Niết-bàn có thể hiểu rõ điều này, nên nói nghe cái chưa được nghe. Đó là điều đầu tiên của công đức thứ nhất.

    Nghe rồi có thể làm lợi ích, chính là nếu có thể nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết-bàn này, thời có thể biết rõ tất cả kinh điển Phương đẳng Đại thừa những nghĩa vị rất sâu. Ví như đối với tấm gương sáng sạch, người thấy rõ ràng sắc tượng của mình. Cũng vậy, Bồ-tát cầm gương đại Niết-bàn thời đặng thấy rõ tất cả nghĩa rất sâu của kinh điển Đại thừa. Cũng như có người ở trong nhà tối cầm ngọn đuốc lớn thời thấy rõ các đồ vật. Cũng vậy, Bồ-tát cầm đuốc đại Niết-bàn thời đặng thấy rõ nghĩa rất sâu của Đại thừa. Cũng như mặt trời mọc có ngàn muôn ánh sáng soi rõ chỗ u ám của các núi, làm cho mọi người thấy những vật rất xa. Cũng vậy, huệ nhật thanh tịnh đại Niết-bàn này chiếu rõ chỗ rất sâu của Đại thừa, làm cho hàng Nhị thừa xa thấy Phật đạo, vì có thể nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết-bàn vi diệu này.

    Nghe rồi có thể làm lợi ích, nghĩa là chúng ta nghe kinh điển Đại Niết-bàn này, nhận được ý nghĩa sâu xa, rồi tùy phương tiện làm lợi ích cho chúng sanh. Thứ nhất, như người cầm một tấm gương lớn sáng sạch thì bao nhiêu hình tượng đều thấy rõ ràng. Thứ hai, như người cầm ngọn đuốc sáng thì thấy được tất cả các vật trong nhà tối. Thứ ba, như mặt trời vừa mọc lên có muôn ngàn ánh sáng soi rõ chỗ tối tăm, tất cả những gì mọi người không thấy đều làm cho thấy rõ. Cũng vậy, khi chúng ta nhận được kinh Đại Niết-bàn này, hiểu sâu, biết được thâm ý của Đại thừa rồi, nhân đó dẫn dắt cho hàng Thanh văn Nhị thừa từ từ tiến vào Phật đạo. Cho nên nói nghe rồi có lợi ích.

    Này thiện nam tử! Nếu có đại Bồ-tát nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết-bàn này thời đặng biết danh tự của tất cả pháp. Nếu có thể biên chép đọc tụng thông thuộc vì người giảng thuyết, suy nghĩ ý nghĩa thời rõ biết nghĩa lý của tất cả pháp.

    Này thiện nam tử! Người nghe và lãnh thọ thời chỉ biết danh tự mà chẳng biết ý nghĩa. Nếu có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, vì người giảng thuyết suy nghĩ ý nghĩa thời có thể rõ biết được nghĩa.

    Này thiện nam tử! Người nghe kinh này, nghe có Phật tánh nhưng chưa có thể thấy được. Nếu biên chép đọc tụng vì người giảng thuyết suy nghĩ ý nghĩa thời thấy được Phật tánh. Người nghe kinh này, nghe có danh từ bố thí nhưng chưa có thể thấy được Đàn ba-la-mật, nếu biên chép đọc tụng vì người giảng thuyết suy nghĩ ý nghĩa thời có thể thấy được Đàn ba-la-mật, nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật cũng vậy.

    Kinh Đại Niết-bàn chỉ cho thể của muôn pháp, nghe kinh Đại Niết-bàn rồi lãnh thọ đúng đắn thì đã thông hiểu hết danh tự. Nhưng nếu chỉ nghe không thì chưa đủ. Tại sao? Bởi vì nghe nhận hiểu, mà chưa hành. Phải do đọc tụng, suy nghĩ, vì người giảng thuyết rồi sẽ đạt được ý nghĩa của tất cả pháp. Như trong kinh Pháp Hoa, Phật có bổn phận khai thị, tức là mở chỉ. Nhưng thấy và vào được thì phải do công phu của mình. Kinh này, Phật nói tất cả chúng sanh có Phật tánh. Chúng ta nghe hiểu nhận có Phật tánh, nhưng nếu không dụng công tu hành, không dẹp trừ vọng tưởng thì làm sao thấy được. Cho nên phải thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, suy nghĩ ý nghĩa thì từ từ mới thấy.

    Như nghe Phật dạy bố thí, phải chịu khó thực hành, khi đó mới gọi là bố thí cứu cánh. Pháp lục độ cũng vậy, chỉ nghe không thì chưa được viên mãn, muốn viên mãn phải có thực hành.

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát nếu có thể nghe kinh Đại Niết-bàn này thời biết pháp biết nghĩa đủ cả hai đức vô ngại, đối hàng Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc chư thiên, ma vương, Phạm vương, trong tất cả thế gian đều đặng vô sở úy, vì đại chúng khai thị phân biệt mười hai bộ kinh, diễn thuyết ý nghĩa không có sai lầm, có thể tự biết chẳng chờ học với người được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đây gọi là nghe rồi có thể làm lợi ích.

    Hàng Bồ-tát nghe kinh Đại Niết-bàn này rồi thì tự biết được pháp, biết được nghĩa, đủ hai công đức vô ngại, tức là nghĩa vô ngại và pháp vô ngại. Đối với hàng Bà-la-môn, hoặc hàng Sa-môn, ma vương, thiên ma..., các ngài đều được vô sở úy không còn sợ sệt nữa. Các ngài hay vì đại chúng mà diễn nói mười hai bộ kinh một cách đúng đắn không sai lầm. Vì lẽ đó nên nói nghe rồi được lợi ích. Đó là điều thứ hai trong công đức thứ nhất.

    Này thiện nam tử! Có thể dứt tâm nghi lầm, nghi có hai thứ: một là nghi nơi danh từ, hai là nghi ý nghĩa. Người nghe kinh này, dứt tâm nghi danh từ, người suy nghĩ ý nghĩa thời dứt tâm nghi ý nghĩa.

    Nghi lại có năm thứ: Một là nghi Phật quyết định nhập Niết-bàn hay chăng? Hai là nghi Phật có phải thường trụ chăng? Ba là nghi Phật có phải chân lạc chăng? Bốn là nghi Phật có phải chân tịnh chăng? Năm là nghi Phật có phải chân ngã chăng? Người nghe kinh này thời dứt hẳn lòng nghi Phật nhập Niết-bàn. Biên chép đọc tụng vì người giảng thuyết suy nghĩ ý nghĩa thời dứt hẳn bốn điều nghi, thường, lạc, tịnh, ngã.

    Nếu nghi về danh từ hay ý nghĩa thì khi nghe kinh Niết-bàn này sẽ hết nghi. Tại sao? Vì kinh này nói tất cả đều tùy duyên, Phật lập ra phương tiện để giáo hóa chúng sanh, tất cả đều không có thật. Tuy nói có bao nhiêu danh từ sai biệt nhưng đều vì phương tiện giáo hóa có gì thật đâu để mà nghi. Nghi ý nghĩa cũng vậy. Bao nhiêu ý nghĩa thế gian đều là nông cạn, chỉ có ý nghĩa Phật tánh mới sâu xa. Nhận được ý nghĩa Phật tánh rồi thì bao nhiêu ý nghĩa khác không còn quan trọng, không còn nghi ngờ.

    Nếu nghe kinh này rồi sẽ hết nghi Phật nhập Niết-bàn. Tại sao? Vì biết rằng Phật là pháp thân bất sanh bất diệt, Phật đâu có mất mà nhập Niết-bàn. Nhưng nghe kinh này chỉ dứt được điều nghi thứ nhất, vẫn còn các nghi thứ hai, ba, bốn, năm.

    Muốn dứt bốn nghi sau chúng ta phải biên chép, thọ trì, đọc tụng, vì người giảng thuyết, suy nghĩ ý nghĩa. Nói tóm lại là phải hành, có hành mới dứt được nghi về thường lạc ngã tịnh.

    Nghi lại có ba thứ: Một là nghi Thanh văn là có hay là không? Hai là nghi Duyên giác là có hay là không? Ba là nghi Phật thừa là có hay là không? Người nghe kinh này thời dứt hẳn ba điều nghi như vậy. Còn biên chép đọc tụng vì người giảng thuyết suy nghĩ ý nghĩa thời có thể rõ biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.

    Này thiện nam tử! Nếu có chúng sanh chẳng nghe kinh Đại Niết-bàn này, thời tâm họ nhiều sự nghi ngờ. Như nghi hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay chẳng lạc, hoặc tịnh hay chẳng tịnh, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc mạng hay phi mạng, hoặc chúng sanh hay phi chúng sanh, hoặc rốt ráo hay chẳng rốt ráo, hoặc đời khác, hoặc đời đã qua, hoặc có, hoặc không, hoặc khổ, hoặc chẳng phải khổ, hoặc tập, hoặc chẳng phải tập, hoặc đạo, hoặc chẳng phải đạo, hoặc diệt, hoặc chẳng phải diệt, hoặc pháp, hoặc phi pháp, hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc không, hoặc chẳng phải không. Người nghe kinh này thời dứt hẳn các điều nghi như vậy.

    Thiện nam tử! Nếu có người chẳng nghe kinh này thời lại có nhiều tâm nghi. Như nghi sắc uẩn là ngã ư? Thọ, tưởng, hành, thức, là ngã ư? Nhãn là năng kiến ư? Ngã là năng kiến ư? Cho đến thức là năng tri ư? Ngã là năng tri ư? Sắc uẩn thọ báo ư? Ngã thọ báo ư? Thọ, tưởng, hành, thức thọ báo ư? Ngã thọ báo ư? Sắc uẩn đến đời khác ư? Ngã đến đời khác ư? Thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Những pháp sanh tử là có thủy có chung ư? Hay là vô thủy vô chung ư? Người nghe kinh này cũng dứt hẳn được những điều nghi như vậy.

    Nếu nghe kinh này rồi thì dứt ba cái nghi: nghi Thanh văn, Duyên giác và Phật có hay không. Nếu biên chép đọc tụng và thực hành thì có thể biết rõ chúng sanh đều có Phật tánh. Những cái nghi hai bên tức là nghi theo lối đối đãi, nếu nghe kinh này rồi thì dứt hẳn cái nghi ấy.

    Không nghe kinh này thì sanh nhiều nghi hoặc về ngã, về kiến, về thọ báo, về thọ sanh v.v... Nếu thọ trì được kinh điển Đại Niết-bàn này thì không còn những cái nghi đó nữa. Tại sao? Vì khi đạt được Phật tánh rồi, thân năm uẩn vốn hư dối, đâu có gì mà chấp là ngã là phi ngã.

    Lại có người nghi nhất-xiển-đề phạm bốn tội nặng tạo tội ngũ nghịch, hủy báng kinh Đại thừa phương đẳng, hạng người nghe kinh này cũng dứt hẳn được những điều nghi như vậy.

    Lại có người nghi thế gian có ngằn mé hay không có ngằn mé? Có thập phương thế giới hay không thập phương thế giới. Người nghe kinh này cũng dứt hẳn được những điều nghi như vậy. Đây gọi là có thể dứt tâm nghi lầm.

    Đây là điều thứ ba trong công đức thứ nhất. Thường các kinh khác thì nói xiển-đề không có Phật tánh, vì phải đọa nên đâu có Phật tánh được. Nhưng với kinh Đại Niết-bàn thì nói hàng xiển-đề vẫn có Phật tánh, vì những phiền não, tội lỗi che lấp cho nên không hiện. Nếu họ biết sám hối, biết dứt trừ những tội lỗi của họ thì Phật tánh sẽ hiện. Vì vậy kinh Đại Niết-bàn nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.

    Có trí huệ chánh trực không tà vạy. Vì nếu tâm nghi thời chỗ nhận thấy chẳng chánh. Tất cả phàm phu nếu chẳng đặng nghe kinh Đại Niết-bàn này thời chỗ nhận thấy tà vạy. Nhẫn đến Thanh văn, Duyên giác chỗ thấy biết cũng vạy vò. Vì phàm phu ở trong hữu lậu mà thấy là thường, lạc, ngã, tịnh. Nơi Như Lai lại thấy là vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã, thấy có chúng sanh, có thọ mạng, có tri kiến, chấp trời Phi tưởng phi phi tưởng là Niết-bàn, thấy trời Tự Tại có tám thánh đạo, chấp có, chấp đoạn, các sự nhận thấy như vậy gọi là tà vạy. Đại Bồ-tát nếu đặng nghe kinh Đại Niết-bàn này tu hành thánh hạnh thời dứt trừ được những điều tà vạy như vậy.

    Những người không nghe được kinh Đại Niết-bàn có những cái chấp sai lầm cong vạy, không chánh trực. Chấp sai lầm thế nào? Hoặc chấp thế giới có ngằn mé hay không ngằn mé. Chấp người tu là có thật hay không có thật... Tất cả cái chấp sai lầm thường lạc ngã tịnh nơi phàm phu hữu lậu... Thấy chúng sanh, thọ mạng, tri kiến... Cho tới những thấy biết sai lầm của hàng Thanh văn, Duyên giác chấp vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã, trong phẩm Tứ Đảo đã giải thích. Nếu hiểu phẩm Tứ Đảo thì những cái chấp sai lầm này không còn nữa, cho nên dứt được tất cả các tà vạy.

    Hàng Thanh văn, Duyên giác thấy Bồ-tát từ trời Đâu-suất hóa hiện ngự trên bạch tượng giáng thần vào thai mẹ tại thành Ca-tỳ-la, cha hiệu Tịnh Phạn, mẹ tên Ma-da. Ở thai đủ mười tháng sanh ra. Lúc sanh ra chưa đến đất, thiên Đế-thích đưa tay đỡ, Nan-đà long vương và Bạt-nan-đà long vương phun nước tắm.

    Đại thần vương Ma-ni Bạt-đà cầm lọng báu đứng hầu phía sau. Địa thần hóa hoa sen đỡ dưới chân. Bồ-tát đi qua bốn phương đều đủ bảy bước. Lúc đến Thiên miếu các Thiên tượng đều đứng dậy tiếp nghinh. Tiên A-tư-đà hai tay bồng xem tướng, xem xong tiên nhân buồn khổ thương phận mình sắp chết chẳng được thấy Bồ-tát thành Phật. Lớn lên đến thầy học sách, học toán số, cưỡi ngựa, bắn cung, đồ sấm, các nghề nghiệp. Ở trong thâm cung cùng với sáu muôn thể nữ. Ra ngoài thành dạo chơi đến vườn Ca-tỳ-la, dọc đường gặp người già, người bệnh, người chết, và gặp thầy Sa-môn mặc pháp phục đi trên đường, khi trở về cung, thấy các thể nữ hình mạo như xương khô, xem cung điện không khác gò mả. Nhàm chán, nửa đêm vượt thành xuất gia, đến chỗ các đại tiên nhân Uất-đà-già, A-la-la v.v... nghe giảng nói về Thức vô biên xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nghe rồi quan sát kỹ biết những xứ ấy là vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã, bèn bỏ đi đến núi Tuyết, dưới cội cây tu khổ hạnh trọn sáu năm. Sau đó biết khổ hạnh chẳng đặng thành Vô thượng Chánh giác, bèn đến tắm rửa trong sông A-nậu-bạt-đề. Tắm xong nhận lấy cháo sữa của cô gái chăn bò dâng. Ăn xong lại đến ngồi dưới cây bồ-đề, phá ma Ba-tuần đặng thành Vô thượng Chánh giác. Đến thành Ba-la-nại chuyển pháp luân lần đầu độ năm vị Tỳ-kheo, nhẫn đến ở rừng ta-la nơi thành Câu-thi-na này nhập Niết-bàn. Các điều nhận thấy như vậy gọi là chỗ thấy biết vạy vò của Thanh văn, Duyên giác.

    Hàng Thanh văn Duyên giác thấy Phật theo lịch sử, từ giáng sanh đến lớn lên học hành, vui hưởng ngũ dục, dạo chơi cổng thành thấy sanh già, bệnh, chết, rồi thấy Sa-môn, ngài bỏ cung điện đi tu, học đạo rồi thành đạo dưới cội bồ-đề... Nếu thấy như vậy là thấy biết cong vạy. Vậy làm sao là thấy biết chánh trực?

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết-bàn này, thời dứt trừ đặng những điều thấy biết như vậy. Nếu có thể biên chép đọc tụng thông thuộc vì người diễn thuyết suy nghĩ ý nghĩa, thời đặng trí huệ chánh trực không tà vạy.

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, biết rõ Bồ-tát từ vô lượng kiếp nhẫn lại chẳng từ trời Đâu-suất giáng thần thai mẹ, nhẫn đến thành Câu-thi-na nhập Niết-bàn. Đây gọi là chỗ thấy biết chánh trực của đại Bồ-tát.

    Nếu thấy đúng như kinh Đại Niết-bàn thì Phật lịch sử không còn quan trọng nữa. Tại sao? Vì Phật pháp thân đâu có sanh diệt. Đã không sanh không diệt thì nói Phật sanh ra Phật nhập Niết-bàn là lối nói không đúng lẽ thật. Có một số người nghi nói Phật muốn thoát khỏi sanh già bệnh chết, tại sao cuối cùng ngài cũng già bệnh, cũng đau lưng nằm, thấy Phật cũng đói đi khất thực, thấy Phật bị trái ý cũng rầy các thầy Tỳ-kheo, rồi Phật cũng chết, không có gì siêu xuất hết!... Nếu chúng ta không hiểu được pháp thân thường trụ thì cũng sẽ hoang mang. Nhờ hiểu được theo kinh điển Đại Niết-bàn này, biết được Phật là Phật pháp thân. Phật đã viên mãn được công hạnh, nên Phật tánh hiển lộ được trọn vẹn, Phật tánh đó là bất sanh bất diệt. Nhận sâu được Phật tánh, thấy tất cả đều là giả tướng nên gọi là hóa thân, tùy duyên thị hiện để độ chúng sanh, còn Phật tánh bản lai là bất sanh bất diệt, làm gì có sanh trong cung vua, làm gì có tử ở thành Câu-thi-na! Đó là điều thứ tư trong công đức thứ nhất.

    Có thể biết nghĩa thâm mật của Như Lai, tức là biết rõ đại Niết-bàn, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, sám trừ bốn giới trọng, trừ tâm hủy báng chánh pháp, hết tội ngũ nghịch, dứt nhất-xiển-đề, rồi sau đặng thành Vô thượng Chánh giác.

    Lại nghĩa thậm thâm là dầu biết chúng sanh thật không có ngã, nhưng nghiệp quả đời vị lai chẳng mất; dầu biết năm ấm hiện đây dứt hết, nhưng nghiệp thiện ác trọn chẳng hư mất; dầu có các hành nghiệp nhưng không có tác giả; dầu có chỗ đến nhưng không có người đi; dầu có trói buộc nhưng không người bị trói; dầu có Niết-bàn nhưng không có người diệt; đây gọi là nghĩa bí mật rất sâu.

    Vì xiển-đề có Phật tánh nên xiển-đề biết sám hối để trừ bốn tội trọng và trừ tâm hủy báng chánh pháp, hết tội ngũ nghịch thì dứt nhất-xiển-đề, rồi cũng có thể sẽ thành Phật. Nếu không có Phật tánh thì sám hối cả triệu đời cũng không thể thành Phật được. Đây chứng minh xiển-đề còn có Phật tánh huống nữa là chúng ta. Ai ai cũng có Phật tánh chỉ vì bị phiền não che lấp thôi.

    Tạng bí mật của Như Lai là gì? Là nghĩa thậm thâm, dầu biết chúng sanh thật không có ngã, nhưng nghiệp quả đời vị lai chẳng mất . Tức là với thân ngũ uẩn này, Phật thấy không có ngã thật. Tuy nói không có ngã mà nghiệp quả đời vị lai không mất, không có ta thật mà phải chịu. Dầu biết năm ấm hiện đây dứt hết, nhưng nghiệp thiện ác trọn chẳng hư mất. Năm ấm này hoại, nghiệp thiện ác đời sau vẫn thọ, đó là những bí mật làm người khó hiểu. Dầu có các hành nghiệp nhưng không có tác giả. Có hoạt động, có đến có đi, mà không có ta thật. Dầu có chỗ đến nhưng không có người đi, dầu có trói buộc nhưng không người bị trói, dầu có Niết-bàn nhưng không có người diệt, đây gọi là nghĩa bí mật rất sâu. Tại sao? Phật nói ngài nhập Niết-bàn, nghĩa thường là diệt mất. Nhưng diệt mà không có người diệt. Nếu ta biết năm uẩn là huyễn hóa không thật thì không có người tạo tác nhưng nghiệp không mất, có chỗ đến mà không có người đi... Năm uẩn không có thật ngã, nhưng duyên nghiệp không bao giờ mất và không có cái thật diệt. Như vậy, ý nghĩa tạng bí mật của Như Lai nói người ta khó hiểu khó nhận. Đó là điều thứ năm trong công đức thứ nhất.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như tôi hiểu nghĩa được nghe chỗ chưa từng nghe của Phật nói thời nghĩa này chẳng phải. Vì nếu pháp là có lẽ ra quyết định có, nếu pháp là không lẽ ra quyết định không, nếu không thời lẽ ra chẳng sanh, nếu có thời lẽ ra chẳng diệt, như nghe thời là nghe, nếu chẳng nghe thời là chẳng nghe, sao lại nói rằng nghe chỗ chẳng nghe. Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng nghe đây là chẳng nghe, còn nếu đã nghe thời lại chẳng nghe, vì đã đặng nghe. Sao lại nói rằng nghe lại chẳng nghe?

    Ví như người đi, nếu đã đến thời chẳng đi còn đi thời chẳng đến. Cũng như đã sanh thời chẳng sanh, còn chẳng sanh thời là chẳng sanh. Đã đặng thời chẳng đặng, còn chẳng đặng thời là chẳng đặng. Nghe rồi thời chẳng nghe, còn chẳng nghe thời là chẳng nghe. Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng nghe mà nghe đó, thời tất cả chúng sanh chưa có Bồ-đề lẽ ra cũng có đó, người chưa đặng Niết-bàn lẽ ra cũng đặng đó, người chưa thấy Phật tánh lẽ ra cũng thấy Phật tánh, sao lại nói rằng bậc Thập trụ Bồ-tát dầu thấy Phật tánh nhưng chưa đặng rõ ràng.

    Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng nghe mà nghe, thời đức Như Lai thuở xưa từ ai mà đặng nghe. Nếu nói rằng đặng nghe, cớ sao trong kinh A-hàm đức Như Lai lại nói là không có thầy. Nếu chẳng nghe thời là chẳng nghe mà đức Như Lai đặng thành Vô thượng Chánh giác, thời tất cả chúng sanh chẳng nghe lẽ ra cũng đặng thành Vô thượng Chánh giác. Nếu đức Như Lai chẳng nghe kinh Đại Niết-bàn mà thấy Phật tánh, thời tất cả chúng sanh chẳng nghe kinh này lẽ ra cũng được thấy Phật tánh.

    Đây là vấn nạn của Bồ-tát Cao Quý Đức Vương.

    Như nghe thời là nghe, nếu chẳng nghe thời là chẳng nghe, sao lại nói rằng nghe chỗ chẳng nghe . Nếu chưa từng nghe thì đó là chẳng nghe, còn nếu đã nghe rồi thì cũng chẳng nghe bởi vì nghe rồi thì đâu có nghe, tại sao nói rằng nghe lại chẳng nghe? Nếu đức Như Lai chẳng nghe kinh Đại Niết-bàn mà thấy Phật tánh, không có ai dạy ngài mà ngài thấy thì người ta không cần đọc kinh Niết-bàn cũng thấy vậy.

    Bạch Thế Tôn! Phàm là sắc thời hoặc có thể thấy, hoặc chẳng thấy được, tiếng cũng như vậy, hoặc là có thể nghe, hoặc chẳng nghe được. Đại Niết-bàn này chẳng phải sắc chẳng phải tiếng, sao lại nói rằng có thể thấy nghe được.

    Bạch Thế Tôn! Quá khứ đã diệt thời chẳng thể nghe, vị lai chưa đến cũng chẳng thể nghe, lúc hiện tại lóng nghe thời chẳng gọi là nghe, nghe rồi khiến dứt lại chẳng thể nghe. Kinh Đại Niết-bàn này cũng chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, nếu chẳng phải thời gian thời chẳng thể nói, nếu chẳng thể nói thời chẳng thể nghe, sao lại nói rằng Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn này được nghe chỗ chẳng nghe.” 

    Nói về kinh Đại Niết-bàn là nói về Phật tánh, mà Phật tánh không phải sắc không phải tiếng, vậy sao lại nói nghe được cái chưa nghe? Kinh Đại Niết-bàn này chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại... nên chẳng thể nói và chẳng thể nghe, sao lại nói Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn này được nghe chỗ chẳng nghe?

    Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Nay ông khéo biết tất cả pháp như huyễn, như dương diệm, như thành càn-thát-bà, như dấu vẽ trong nước, cũng như bóng nước, bọt nước, cây chuối rỗng không chẳng chắc thật, chẳng phải mạng, chẳng phải ngã, không có khổ vui, như chỗ thấy biết của Thập trụ Bồ-tát.” 

    Khi Bồ-tát Cao Quý Đức Vương nạn vấn như vậy, Phật khen ngài biết các pháp như huyễn, như dương diệm (ánh nắng), như thành càn-thát-bà, như dấu vẽ trong nước mau tan, như bóng nước, bọt nước, cây chuối rỗng không chẳng chắc thật, chẳng phải mạng, chẳng phải ngã, không có khổ vui, như chỗ thấy biết của Thập trụ Bồ-tát.

    Hàng Thập trụ Bồ-tát đã thấy các pháp như huyễn, thấy như mộng, như bóng, như bọt... không có thật. Nếu chúng ta hằng ngày nhìn mọi vật đều với cái thấy đó, thì đúng là cái thấy của Bồ-tát, đó cũng là cái thấy của trí tuệ. Các pháp không có thật, như mộng, như huyễn, như bóng... thì không còn duyên cớ, không còn quyết định.

    Lúc đó trong đại chúng thoạt có ánh sáng lớn chiếu đến, ánh sáng này chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, mà thấy là xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải sắc, chẳng phải sáng, mà thấy là sắc là sáng, chẳng phải thấy mà thấy.

    Đại chúng gặp ánh sáng này thân tâm vui thích như Tỳ-kheo nhập Sư tử vương định.

    Hào quang sáng là hiện thân của trí tuệ. Người thấy các pháp như huyễn là người có trí tuệ. Trí tuệ đó gọi là trí tuệ Bát-nhã. Có trí tuệ Bát-nhã sẽ được an lành giống như nhập định Sư tử vương.

    Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Ai phóng ánh sáng này?” 

    Đức Như Lai yên lặng chẳng đáp.

    Ca-diếp Bồ-tát lại hỏi Văn-thù-sư-lợi: “Nhân duyên gì mà có ánh sáng này chiếu đến đại chúng?” 

    Văn-thù-sư-lợi yên lặng chẳng đáp.

    Vô Biên Thân Bồ-tát lại hỏi Ca-diếp Bồ-tát: “Ai phóng ánh sáng này?” 

    Ca-diếp Bồ-tát yên lặng chẳng đáp.

    Tịnh Trụ Vương Tử Bồ-tát lại hỏi Vô Biên Thân Bồ-tát: “Duyên cớ gì trong đại chúng đây có ánh sáng này?” 

    Vô Biên Thân Bồ-tát yên lặng không đáp.

    Lần lượt đến năm trăm vị Bồ-tát xoay vần hỏi nhau, nhưng không ai giải đáp.

    Ngài Văn-thù-sư-lợi hỏi Phật ánh sáng từ đâu tới, Phật im lặng. Sau đến lượt Bồ-tát Ca-diếp, Bồ-tát Vô Biên Thân... và năm trăm vị Bồ-tát lần lượt hỏi và đều lần lượt trả lời bằng im lặng. Đã biết các pháp như huyễn rồi thì chỗ này không còn gì để nói năng bàn luận. Nói năng bàn luận chỉ là hý luận không thật, chạy theo huyễn mộng. Vì muốn chỉ đệ nhất nghĩa nên các ngài im lặng. Chỗ đệ nhất nghĩa là chỗ không ngôn ngữ, không nói năng. Nhưng không lẽ không có phương tiện để khởi lên cơ duyên mà hóa độ chúng sanh hay sao? Vì vậy sau đó Phật lại hỏi ngài Văn-thù.

    Đức Thế Tôn hỏi Văn-thù-sư-lợi: “Duyên cớ gì trong đại chúng đây có ánh sáng này?” 

    Câu này ngài biết hỏi là xa với đệ nhất nghĩa rồi. Nhưng nếu im lặng thì chỉ được thể mà mất dụng.

    Một hôm đi núi hái trà, ngài Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: “Gần đây ta nghe tiếng ngươi mà không thấy ngươi.” Ngài Ngưỡng Sơn rung cây ào ào. Tổ Quy Sơn nói: “Ngươi chỉ được dụng mà chưa được thể.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Còn Hòa thượng thì sao?” Quy Sơn im lặng. Ngài Ngưỡng Sơn nói: “Như vậy Hòa thượng được thể mà chưa được dụng.” Im lặng là được thể. Thiền không trái với kinh. Các pháp như huyễn, muốn trở về thể đệ nhất nghĩa đế chân thật thì chỗ đó không ngôn ngữ, nên các ngài im lặng. Nhưng nếu chỉ im lặng thì được thể mà mất dụng. Vì vậy sau Phật liền hỏi lại ngài Văn-thù, tức là từ thể mà khởi dụng.

    Văn-thù-sư-lợi đáp: “Bạch Thế Tôn! Ánh sáng này gọi là trí huệ. Trí huệ chính là thường trụ. Pháp thường trụ không có nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ gì có ánh sáng này.

    Ánh sáng này gọi là đại Niết-bàn, đại Niết-bàn thời gọi là thường trụ, pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ gì có ánh sáng này.

    Ánh sáng này chính là Như Lai, Như Lai chính là thường trụ, pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ?

    Ánh sáng này gọi là đại từ đại bi, đại từ bi gọi là thường trụ, pháp thường trụ chẳng phải từ nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ.

    Ánh sáng này chính là niệm Phật, niệm Phật là thường trụ, pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ.

    Ánh sáng này là đạo bất cộng với tất cả Thanh văn, Duyên giác, đạo bất cộng là thường trụ, pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên, sao đức Phật lại hỏi duyên cớ. Đức Thế Tôn cũng có nhân duyên: Nhân dứt vô minh chứng đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” 

    Ngài Văn-thù bẻ lại Phật, pháp thường trụ tức là đệ nhất nghĩa đế, đệ nhất nghĩa đế thì không có nhân duyên, sao Phật lại hỏi duyên do? Ngài nói, đức Thế Tôn cũng có nhân duyên: Nhân dứt vô minh chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là mở đầu cho cái dụng.

    Phật nói: “Này Văn-thù-sư-lợi! Nay ông chớ nhập đệ nhất nghĩa đế, nên dùng thế đế để giải đáp.” 

    Ban đầu Phật im lặng khi ngài Văn-thù hỏi, đó là Phật đã nhập đệ nhất nghĩa đế, các vị Bồ-tát tuần tự nhập đệ nhất nghĩa đế, nếu đã nhập đệ nhất nghĩa đế rồi thì chỉ vào thể mà mất dụng. Đến đây Phật khởi dụng để hỏi ngài Văn-thù và bảo nên theo thế đế mà đáp, tức là thể dụng tùy duyên hóa độ, không nên chấp vào thể mà im lặng.

    Văn-thù-sư-lợi nói: “Bạch Thế Tôn! Từ đây qua phương đông cách hai mươi hằng hà sa thế giới, có cõi Bất Động, chỗ Phật ngự rộng một muôn hai ngàn do-diên. Cõi đó toàn thất bảo không có đất đá, bằng thẳng êm dịu không có hầm hố. Cây cối toàn bằng bốn chất vàng, bạc, lưu ly và pha lê, trên cây thường có hoa trái. Nếu có chúng sanh nào được ngửi mùi thơm của hoa này thời thân tâm an vui nhập đệ tam thiền. Khắp nơi có hai ngàn sông lớn nước sông đủ tám vị công đức, nếu có chúng sanh nào tắm trong nước đó thời thân tâm vui vẻ như nhập đệ nhị thiền. Trong sông có nhiều thứ hoa đẹp: những hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng. Hai bờ sông cũng có các thứ hoa thơm đẹp. Đáy sông toàn trải cát vàng. Có những thềm bậc bằng vàng, bạc, lưu ly cùng pha lê nhiều màu, nhiều giống chim đẹp bay đậu trên đó. Lại có vô lượng cọp, sói, sư tử v.v... Các cầm thú ấy xem nhau như con đỏ. Trong cõi đó không có những tội ác cùng hạng nhất-xiển-đề. Khí hậu điều hòa không có lạnh nóng đói khát khổ sở, không có tham dục, sân hận, phóng dật, tật đố. Không mặt trời mặt trăng, thời tiết như cõi trời Đao-lợi. Nhân dân cõi đó đồng có ánh sáng, không có tâm kiêu mạn. Tất cả đều là Bồ-tát đại sĩ đầy đủ thần thông, có công đức lớn, tôn trọng chánh pháp, mến tu Đại thừa, có đại từ bi thương xót tất cả chúng sanh.

    Đức Phật ở cõi đó hiệu là Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai, đầy đủ mười hiệu. Lúc đức Phật đó thuyết pháp, toàn thể chúng sanh trong cõi Bất Động đều được nghe. Đức Phật đó vì Lưu Ly Quang Bồ-tát mà giảng thuyết kinh Đại Niết-bàn đến đoạn Bồ-tát tu hành kinh này thời đều đặng nghe chỗ chẳng đặng nghe. Lưu Ly Quang Bồ-tát gạn hỏi đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh, như tại đây Cao Quý Đức Vương Bồ-tát vừa hỏi đức Như Lai giống nhau không khác. Đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh bảo Lưu Ly Quang Bồ-tát rằng: Phương tây của cõi Bất Động này cách hai mươi hằng hà sa Phật độ có cõi Ta-bà, cõi ấy đầy những đất đá, gai chông, hầm hố, gò nổng, thường có những khổ về đói khát, lạnh nóng. Nhân dân cõi Ta-bà chẳng biết cung kính Sa-môn, Bà-la-môn, cha mẹ, sư trưởng, phần nhiều tham đắm phi pháp, tà pháp, chẳng tin chánh pháp, thọ mạng của họ ngắn ngủi. Nhiều kẻ gian trá bị chánh quyền trừng phạt. Dầu đã có nước để cai trị, nhưng vua quan chẳng biết vừa đủ sanh lòng tham kéo binh đánh chiếm nước khác làm cho những người vô tội lại chết oan. Các nhà lãnh đạo thật hành những điều phi pháp như vậy, nên Tứ thiên vương các thiên thần không hoan hỷ, thường giáng tai họa: hạn hán, bão lụt, mất mùa, đói khát, nhân dân nhiều bệnh, vô lượng sự khổ não. Cõi Ta-bà đó có Phật hiệu Thích-ca-mâu-ni Như Lai mười hiệu đầy đủ, hiện ở thành Câu-thi-na trong rừng ta-la song thọ, vì đại chúng diễn thuyết kinh Đại Niết-bàn, hiện có Bồ-tát tên Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương đã đem việc này hỏi đức Thích-ca-mâu-ni, nay đức Phật đó đương giải đáp, ông nên mau qua cõi đó sẽ được nghe.

    Bạch Thế Tôn! Lưu Ly Quang Bồ-tát vâng lời đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh cùng tám muôn bốn ngàn vị đại Bồ-tát sắp đến đây. Do nhân duyên này nên hiện điềm phóng ánh sáng. Đây là có duyên cớ mà có ánh sáng này.” 

    Ngài Văn-thù đáp: Cách đây hai mươi hằng hà sa thế giới, qua phía phương đông có cõi Phật Bất Động. Phật ấy đang giảng kinh Đại Niết-bàn, trong đó có vị Bồ-tát tên là Lưu Ly Quang, nghe Phật nói đến chỗ “nghe chỗ chẳng nghe”, Bồ-tát ấy nghi hỏi, Phật giới thiệu cõi Ta-bà có Phật Thích-ca đang giảng kinh đến câu này, và cũng có vị Bồ-tát tên là Cao Quý Đức Vương cũng đang hỏi câu đó, ông muốn nghe hãy thẳng đến cõi Ta-bà mà nghe. Vì thế Bồ-tát Lưu Ly Quang cùng với một số quyến thuộc đi đến cõi Ta-bà, do đó mà có ánh sáng hiện ra.

    Lúc đó Lưu Ly Quang Bồ-tát cùng tám muôn bốn ngàn đại Bồ-tát mang theo các thứ phan lọng, hương hoa, chuỗi ngọc nhiều thứ kỹ nhạc, đồng đến rừng ta-la nơi thành Câu-thi-na, đầu mặt lễ chân Phật, đem đồ cúng dường dâng lên, cung kính đi nhiễu bên hữu ba vòng rồi ngồi qua một phía.

    Đức Phật hỏi Lưu Ly Quang Bồ-tát: “Ông vì đến mà lại, hay vì chẳng đến mà lại?” 

    Khi Bồ-tát Lưu Ly Quang đến Phật cúng dường xong ngồi qua một bên, Phật liền hỏi Bồ-tát, ông vì đến chỗ này cho nên ông lại đây, hay ông không vì đến chỗ này mà ông lại đây.

    “Bạch Thế Tôn! “Đến cũng chẳng lại, chẳng đến cũng chẳng lại.” Tôi quán sát nghĩa này đều không có lại. Các hành pháp nếu là thường cũng chẳng lại, nếu là vô thường cũng không có lại. Nếu người thấy có chúng sanh tánh thời có lại, chẳng lại. Nay tôi chẳng thấy chúng sanh có định tánh, thời đâu có lại cùng chẳng lại.

    Bồ-tát Lưu Ly Quang bạch rằng: Đến cũng chẳng lại, chẳng đến cũng chẳng lại. Tôi quán sát nghĩa này đều không có lại . Đây phù hợp với Trung Quán luận, nói đi cũng không có đi.

    Các hành pháp tức là các pháp hoạt động tạo tác, nếu chấp là thường thì cũng chẳng có lại, nếu chấp là vô thường thì cũng không có lại. Ví dụ nói ăn cơm, nếu ăn cơm là thường thì phải ăn cơm hoài không dừng. Nếu tất cả các hoạt động là thường thì có gì đổi dời mà nói đi lại? Nếu vô thường thì không thật, không thật thì còn gì nói có đi có lại? Như vậy cả hai, chấp thường có thật cũng không có nghĩa đi lại, chấp vô thường không thật cũng không có nghĩa đi lại. Nếu người nào thấy có chúng sanh thật thì mới thấy có lại có chẳng lại. Nếu không thấy chúng sanh thật thì tất nhiên không thấy có lại và chẳng lại.

    Bồ-tát với con mắt trí tuệ nhìn thấy chúng sanh chỉ là duyên hợp như huyễn, không có tánh cố định, đã không có tánh cố định thì làm sao thấy thật có lại và thật có chẳng lại.

    Người có kiêu mạn thời thấy có đi, có lại. Người không kiêu mạn thời không thấy có đi, có lại. Người có chấp lấy tạo tác thời thấy có đi có lại. Người không chấp lấy tạo tác thời không thấy có đi có lại.

    Nếu thấy Như Lai rốt ráo nhập Niết-bàn thời có đi, có lại. Người chẳng thấy Như Lai nhập Niết-bàn thời không đi, không lại.

    Người chẳng nghe Phật tánh thời có đi, có lại. Người nghe Phật tánh thời không đi, không lại.

    Kiêu mạn bởi chấp ngã, chấp ngã nên mới khinh khi kẻ khác, thấy cái ngã là thật nên mới thấy có đi có lại. Không chấp ngã, thấy thân năm ấm không thật, nên không thấy có đi có lại.

    Người chấp những tạo tác, những hành động là thật thì mới thấy có đi có lại thật. Người không chấp những tạo tác hành động là thật thì thấy không có đi có lại.

    Bồ-tát Lưu Ly Quang giải thích, tất cả chúng sanh khi nào chấp thật có ngã thật có pháp thì lúc đó mới thấy thật có đi thật có lại. Nếu những người không chấp thật có ngã thật có pháp thì đi lại không thật.

    Nếu thấy Phật nhập Niết-bàn nghĩa là Phật chết, nếu chết thật thì có đi có lại, đi là chết mà lại là sanh. Vì thấy Phật có thật chết thì thấy Phật có thật sanh. Nếu không thấy Phật thật chết thì không thấy Phật thật sanh. Đối với người đã hiểu kinh điển Đại Bát-niết-bàn này rồi thì thấy Như Lai pháp thân bất sanh bất diệt, làm gì có chết có sanh, nên không có đi có lại.

    Nếu thấy hàng Thanh văn, Bích-chi Phật có Niết-bàn thời thấy có đi, có lại. Người chẳng thấy hàng Thanh văn, Bích-chi Phật có Niết-bàn thời không đi, không lại.

    Nếu người thấy hàng Thanh văn, Bích-chi Phật là thường, lạc, ngã, tịnh, thời có đi, có đến. Nếu người không thấy thời không đi, không đến.

    Nếu thấy Như Lai không có thường, lạc, ngã, tịnh thời có đi, có đến. Nếu thấy Như Lai là thường, lạc, ngã, tịnh thời không đi, không đến.

    Vì Niết-bàn của Thanh văn và Bích-chi Phật đối với kinh điển Đại thừa là hóa thành, là chỗ an ổn tạm thời, không phải là bảo sở, không phải cứu cánh an ổn. Các ngài thấy đây là sanh tử thật, kia là Niết-bàn thật, nên chán sanh tử cầu Niết-bàn. Thấy còn có hai bên thật thì còn có đi có lại, chán bỏ là đi, cầu được là lại. Vì vậy nói nếu thấy hàng Thanh văn Bích-chi Phật có Niết-bàn thời thấy có đi có lại .

    Bồ-tát thấy rằng Niết-bàn của Thanh văn Bích-chi Phật chỉ là hóa thành, hay là chỗ tạm thời không thật. Nếu nhận được như vậy thì thấy được lý cứu cánh tuyệt đối, không đến không đi, cho nên nói là không đi không lại.

    Nếu thấy hàng Thanh văn Bích-chi Phật được Niết-bàn đầy đủ bốn đức thường lạc ngã tịnh, là thấy cái giả mà tưởng là thật, tức là thấy có đi có đến. Nếu biết Niết-bàn của Thanh văn Bích-chi Phật không có đầy đủ bốn đức thường lạc ngã tịnh, chỉ là giả tạm thì thấy rõ không có nghĩa đi đến.

    Nếu thấy Phật Thích-ca ở Ấn Độ có già có bệnh có chết, tức là không thường lạc ngã tịnh, nghĩa là thấy có đi có đến. Nếu thấy Phật là pháp thân bất sanh bất diệt thì pháp thân đó là thường, luôn luôn thanh tịnh nên là tịnh, an ổn tuyệt đối gọi là lạc, do Phật tánh hiển lộ tức là ngã. Thấy Như Lai có thường, lạc, ngã, tịnh thì thấy rõ Như Lai không đi không đến, “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ” (kinh Kim Cang). Hóa thân chỉ tạm thời nên không có thường lạc ngã tịnh, pháp thân mới là cứu cánh viên mãn chân thật, nên đầy đủ bốn đức thường lạc ngã tịnh.

    Bạch Thế Tôn! Xin để việc đó lại. Nay tôi có chỗ muốn hỏi mong đức Phật thương xót cho phép.” 

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Giờ đây phải lúc tùy ý ông hỏi ta sẽ giải đáp cho ông. Vì chư Phật khó gặp như hoa ưu-đàm, pháp cũng khó được nghe, trong mười hai bộ kinh bộ Phương đẳng Đại thừa lại khó hơn. Vì thế nên phải chuyên tâm lóng nghe và lãnh thọ.” 

    Lưu Ly Quang Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn được nghe chỗ chẳng nghe?” 

    Phật khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Nay ông muốn cùng tận biển Đại thừa đại Niết-bàn, lại gặp Phật có thể khéo giải thuyết. Phật là lương y có thể khéo nhổ mũi tên độc nghi ngờ của ông. Phật có đuốc huệ soi sáng Phật tánh cho ông. Ông muốn qua khỏi sông lớn sanh tử Phật có thể làm thuyền sư cho ông. Ông ở nơi Phật tưởng là cha mẹ, Phật cũng ở nơi ông tưởng là con một. Lòng ông tham của báu chánh pháp, gặp Phật có nhiều pháp lại hay bố thí. Ông nên lóng nghe khéo suy nghĩ đó.

    Đó là câu tối quan trọng của phẩm này, được nghe chỗ chẳng nghe.

    Đức Phật khen ngợi Bồ-tát và nói Phật đầy đủ mọi phương tiện, tùy chỗ ông cần Phật liền giúp cho ông mãn nguyện, vậy thì ông phải cố gắng để nghe thật kỹ. Trước khi dạy, Phật bảo ngài phải kính trọng người nói pháp. Tại sao phải nói điều này? Vì Bồ-tát Lưu Ly ở cõi Bất Động là cõi thanh tịnh, các Bồ-tát đều có tướng tốt, đầy đủ phước đức, ngài sang cõi Ta-bà xấu xí, gai chông gập ghềnh, Phật và chúng ở đây nhỏ xíu, xấu xí, sợ ngài khởi tâm khinh thường không được lợi ích.

    Này thiện nam tử! Khi nghe pháp rồi phải sanh lòng kính tin tôn trọng. Đối với chánh pháp chớ tìm cầu chỗ lỗi, chớ nghĩ tham sân si. Chớ nhìn xem giòng họ tốt xấu của pháp sư. Sau khi nghe pháp chớ sanh lòng kiêu mạn, chớ vì cung kính, danh dự, lợi dưỡng, phải vì được lợi ích pháp vị cam lồ độ thế gian. Cũng chớ nghĩ rằng, tôi nghe pháp rồi trước tự độ mình sau sẽ độ người, trước sẽ tự giải thoát sau sẽ giải thoát cho người, trước tự an thân sau sẽ làm cho người được an, trước tự được Niết-bàn sau sẽ làm cho người được Niết-bàn. Nên có quan niệm bình đẳng đối với Phật, Pháp, Tăng. Trong sanh tử phải có quan niệm là khổ oan lớn. Đối với đại Niết-bàn phải quan niệm là thường, lạc, ngã, tịnh. Trước vì người sau sẽ vì mình. Nên vì Đại thừa chớ vì Nhị thừa.

    Đối với Phật pháp chỉ một bề nghe pháp thôi, đừng có nghĩ những lỗi lầm của người nói pháp rồi sanh tham sân si.

    Nghe pháp, đừng vì được người ta cung kính mà cũng đừng vì danh dự vì lợi dưỡng, mà chỉ vì lợi ích pháp vị, tức là hưởng pháp vị cam lồ để độ thế gian. Không có tâm lo phần mình cho xong rồi sẽ độ người khác. Cõi sanh tử này phải thấy là chỗ đau khổ, chỗ oan gia lớn lao, đừng có đắm mến nó. Đối với pháp đại Niết-bàn phải thấy đầy đủ bốn đức thường lạc ngã tịnh. Nên đem pháp Đại thừa mà giáo hóa chứ đừng đem pháp Nhị thừa giáo hóa. Trước vì người sau sẽ vì mình.

    Ví dụ có người nghe kinh Đại Niết-bàn rồi vào cốc tu luôn năm năm hay bảy năm, thì người đó có bị lỗi trước vì mình sau vì người không, và người nghe kinh Đại Niết-bàn rồi khuyên người này tu người kia tu mà mình thì không tu, như vậy có hợp với lời dạy ở đây hay không? Chúng ta ráng chú ý cho cẩn thận, quan niệm đúng và sai chỉ cách nhau một tí thôi. Nếu nghĩ rằng mình lo tu trước, năm mười năm, hai mươi năm xong, sau đó hãy giáo hóa cho người. Nghĩ như vậy là sai lầm, bị Phật quở. Nếu nghĩ, Phật nói đại Niết-bàn hay quá, chúng sanh đều có Phật tánh, mình ráng nỗ lực nhận được Phật tánh để độ chúng sanh. Như vậy vì độ người mà tu, còn kia vì mình mà tu. Hai trường hợp khác nhau. Cho nên, người sau cũng cứ vào cốc tu như thường nhưng không có lỗi, vì muốn tu cho có công đức để người ta tin mà giáo hóa họ, là đặt lợi ích vì người hơn vì mình.

    Có nhiều người thấy ai tu một mình cho là ích kỷ. Ích kỷ là khi nào chỉ nghĩ lợi ích cho mình, còn đây tu là vì muốn độ người. Nếu chỉ nói suông mà không tu thì người ta không tin, muốn người ta hiểu Phật pháp, chúng ta phải ráng tu cho họ đủ niềm tin, thì đó là vì người chứ đâu phải vì mình. Cho nên ngồi một chỗ chuyên tu có thể là Nhị thừa mà cũng có thể là Đại thừa. Còn người nay làm việc này mai gánh vác việc kia, nhưng nếu làm để có lợi riêng cho mình thì đâu phải là Đại thừa.

    Nên không trụ trước đối với tất cả pháp, cũng chớ chuyên chấp tất cả pháp tướng. Đối với các pháp chớ có lòng tham, thường có quan niệm biết pháp thấy pháp.

    Này thiện nam tử! Ông có thể hết lòng nghe pháp như vậy, đây thời gọi là được nghe chỗ chẳng nghe.

    Này thiện nam tử! Có chẳng nghe mà nghe, có chẳng nghe mà chẳng nghe, có nghe mà chẳng nghe, có nghe mà nghe.

    Không nên trụ trước đối với tất cả pháp và cũng không nên chấp tất cả pháp tướng. Đối với tất cả các pháp chớ có lòng tham. Pháp là nói chung tất cả pháp tướng, mình đừng có lòng tham. Thường có quan niệm biết pháp thấy pháp. Biết pháp tức là nhận biết đúng mỗi một sự vật. Biết đúng lẽ thật gọi là biết pháp thấy pháp.

    Nghe với một tâm thành khẩn thiết tha như vậy gọi là được nghe chỗ chẳng nghe.

    Này thiện nam tử! Như chẳng sanh mà sanh, chẳng sanh mà chẳng sanh, sanh mà chẳng sanh, sanh mà sanh.

    Như chẳng đến mà đến, chẳng đến mà chẳng đến, đến mà chẳng đến, đến mà đến.” 

    Phật từ cái nghe chuyển qua cái sanh để cho người ta dễ hiểu dễ nhận. Trên là nghe, kế là sanh, sau là đến nhưng cũng cùng một ý.

    “Bạch Thế  Tôn! Thế  nào là  chẳng sanh mà sanh?” 

    “Này thiện nam tử! An trụ nơi thế đế, lúc mới xuất thai đây gọi là chẳng sanh mà sanh.” 

    “Bạch Thế Tôn! Thế nào là chẳng sanh mà chẳng sanh?” 

    “Này thiện nam tử! Đại Niết-bàn đây không có tướng sanh, đây gọi là chẳng sanh mà chẳng sanh.” 

    “Bạch  Thế Tôn! Thế  nào  gọi là sanh mà chẳng sanh?” 

    “Này thiện nam tử! Cứ theo thế đế, lúc chết thời gọi là sanh mà chẳng sanh.” 

    An trụ nơi thế đế tức thế gian, khi lọt lòng mẹ tức trước chưa sanh mà giờ sanh, cho nên gọi là chẳng sanh mà sanh . Chẳng sanh là trước đó chưa sanh mà bây giờ từ mẹ sanh ra gọi là sanh. Vì vậy nên nói chẳng sanh mà sanh.

    Đại Niết-bàn không hình tướng, không hình tướng thì chẳng sanh mà cũng chẳng diệt, không có tướng sanh ra, cũng không phải trước không mà bây giờ có, nên nói chẳng sanh mà chẳng sanh . Lúc còn sống 

    gọi là sanh, khi chết mất thì gọi là chẳng sanh, tức là không còn sống. Như vậy, nói sanh mà chẳng sanh là căn cứ vào thế đế mà nói.

    “Bạch Thế Tôn! Thế nào là sanh mà sanh?”

    “Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu thời gọi là sanh mà sanh. Vì phàm phu sanh, sanh chẳng dứt, vì tất cả hữu lậu niệm niệm sanh luôn, đây gọi là sanh mà sanh. Bậc Tứ trụ Bồ-tát thời gọi là sanh mà chẳng sanh, vì sanh mà tự tại.” 

    Sanh mà sanh có hai ý. Ý thứ nhất, hàng phàm phu gọi là sanh mà sanh, vì phàm phu cứ sanh ra đời này chết rồi tiếp tục sanh đời khác nữa, liên miên không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp bỏ thân mang thân. Cho nên gọi là sanh mà sanh, tức là sanh ra đời này rồi sanh ra đời khác. Ý thứ hai, vì tất cả hữu lậu niệm niệm sanh luôn, đây gọi là sanh mà sanh. Hàng phàm phu trong tâm mỗi niệm mỗi niệm vọng tưởng liên tục. Bởi vọng tưởng liên tục cái này diệt cái kia sanh, niệm niệm sanh luôn, như vậy cũng gọi là sanh mà sanh.

    Bậc Tứ trụ Bồ-tát thời gọi là sanh mà chẳng sanh, vì sanh mà tự tại, cũng có hai ý. Thứ nhất, Bồ-tát Tứ trụ sanh ra là vì sở nguyện độ đời, không bị nghiệp như phàm phu. Các ngài tự tại giáo hóa chúng sanh, không phải mê lầm như chúng ta. Cho nên gọi là sanh mà chẳng sanh. Đó là căn cứ vào ý nghĩa sanh đời này đến đời khác. Ý nghĩa thứ hai, hàng Bồ-tát Tứ trụ còn sống, còn hiện hữu tất nhiên các ngài cũng có tâm niệm như chúng ta, nhưng các ngài làm chủ được nó, cần nghĩ thì nghĩ, không cần nghĩ thì thôi. Không như mình, muốn nghĩ hay không nghĩ, niệm cũng cứ trào ra. Vì các ngài làm chủ được tâm niệm của mình, cho nên nói sanh mà chẳng sanh.

    Này thiện nam tử! Trên đó là nói về nội pháp. Còn về ngoại pháp cũng có chưa sanh mà sanh, chưa sanh mà chưa sanh, sanh mà chưa sanh, sanh mà sanh. Như hột giống lúc chưa mọc mầm, được tứ đại hòa hiệp, công người săn sóc, rồi sau mới mọc lên đây gọi là chưa sanh mà sanh. Như hột giống hư và hột giống chưa gặp đủ duyên, thời gọi là chưa sanh mà chưa sanh. Như mầm đã mọc mà chẳng lớn thêm, thời gọi là sanh mà chưa sanh (tuy có lên mà không tăng trưởng) . Như mầm lớn thêm thời gọi là sanh mà sanh (nghĩa là sanh ra là cứ tăng trưởng mãi mãi) . Tất cả ngoại pháp hữu lậu sanh mà sanh như vậy.

    Nội pháp tức là sự vật bên trong của con người. Ngoại pháp là chỉ cho những sự vật bên ngoài. Phật ví dụ như ươm hột giống xuống đất. Trước đó không có cây lúa hoặc cây bắp mà bây giờ đủ duyên nó nảy mầm lên cây, như vậy gọi là chưa sanh mà sanh.

    “Bạch Thế Tôn! Pháp hữu lậu nếu có sanh, thời là thường hay vô thường?

    Sanh nếu là thường, thời pháp hữu lậu không có sanh, sanh nếu là vô thường thời hữu lậu là thường.

    Bạch Thế Tôn! Nếu sanh có thể tự sanh, thời sanh không tự tánh. Nếu có thể sanh cái khác duyên cớ gì chẳng sanh vô lậu?

    Bạch Thế Tôn! Nếu lúc chưa sanh mà có sanh, sao lại đến nay mới gọi là sanh. Nếu lúc chưa sanh là không sanh, cớ sao chẳng nói hư không là sanh?” 

    Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Chẳng sanh mà sanh không thể nói được, cho đến sanh mà sanh cũng không thể nói được, sanh cùng bất sanh đều không thể nói được. Vì có nhân duyên nên cũng có thể nói được.

    Sanh nếu là thường thời pháp hữu lậu không sanh. Tại sao? Nếu con người là thường thì còn hoài không mất. Có chết rồi mới tiếp tục sanh, mới có thân sau gọi là sanh sanh, chứ nếu còn hoài tức chỉ có đời này không có đời khác, sanh ra một lần thôi, không cần sanh nữa.

    Còn sanh nếu là vô thường thời hữu lậu là thường. Nếu cái sanh này là vô thường, vì có sanh rồi có diệt, thì các pháp hữu lậu sanh ra rồi diệt, diệt rồi sanh, như vậy hữu lậu còn hoài không hết, nên pháp hữu lậu là thường.

    Nếu sanh có thể tự sanh, thời sanh không tự tánh. Cái sanh tự sanh ra nó thời sanh không tự tánh. Ví dụ cây viết này không ai làm, không có cái gì hợp lại, tự nó sanh ra nó. Có cái này sanh ra cái kia thì mới gọi là sanh, còn tự nó thành hình rồi, đã có làm sao gọi là sanh. Sanh không nhất định cho nên nói là không tự tánh.

    Nếu có thể sanh cái khác duyên cớ gì chẳng sanh vô lậu. Ví dụ như bà mẹ sanh ra đứa con, thì như vậy bà mẹ sanh ra cái khác rồi. Con khác mẹ thì hữu lậu lẽ ra sanh vô lậu tại sao không sanh? Nghĩa là cái khác sanh ra nó, như người thợ làm thành cây viết thì hữu lậu có thể sanh ra vô lậu, ngược lại vô lậu cũng có thể sanh ra hữu lậu.

    Nếu lúc chưa sanh mà có sanh, sao lại đến nay mới gọi là sanh. Nói cho dễ hiểu, đây là căn cứ trên thời gian mà vấn nạn. Như cây xoài lúc chưa ra trái mà nói trái xoài đã có sẵn trong cây. Nếu nó có sẵn thì đâu đợi ra trái mới nói có trái, nói vậy là không đúng. Đây cũng vậy, khi chưa sanh mà nói đã có thì khi sanh ra rồi nói sanh là dư. Ở đây là bác trong nhân sẵn có quả, đã có rồi thì không nói sanh nữa. Trong nhân sẵn có quả hay là trong nhân không có quả... đều không phải chân lý.

    Nếu lúc chưa sanh là không sanh cớ sao chẳng nói hư không là sanh? Nếu chưa sanh là không sanh rồi sau mới sanh, thì hư không cũng vốn không sanh sao không nói hư không sau sẽ sanh. Đây ngầm ý bác cái chấp trong nhân có quả, trong nhân không quả. Chấp cố định thì đều sai lầm. Tất cả tùy duyên hợp mà có, không duyên thì không, không có thật tánh đừng chấp cố định. Nếu chấp cố định thì không đúng. Nhưng cũng có duyên cớ để nói được.

    Thế nào là chẳng sanh mà sanh, chẳng thể nói được? Chẳng sanh lại gọi là sanh, làm sao có thể nói được, vì nó sanh.

    Thế nào là sanh mà sanh, chẳng thể nói được? Vì sanh mà sanh nên là sanh, vì sanh mà sanh nên là chẳng sanh, cũng chẳng nói được.

    Thế nào là sanh mà chẳng sanh, chẳng thể nói được? Sanh thời gọi là sanh, sanh chẳng tự sanh, nên chẳng thể nói được.

    Thế nào là chẳng sanh mà chẳng sanh, chẳng thể nói được? Chẳng sanh gọi là Niết-bàn, vì Niết-bàn chẳng sanh nên chẳng thể nói được, vì Niết-bàn do tu mà chứng đặng.

    Thế nào là sanh cũng chẳng thể nói được? Vì sanh vốn là không.

    Thế nào là chẳng sanh không thể nói được? Vì có chứng đặng.

    Thế nào là vì có nhân duyên cũng có thể nói được? Mười pháp nhân duyên làm sanh tác nhân do đây nên cũng có thể nói được.

    Này thiện nam tử! Nay ông chớ nhập thậm thâm không định, vì đại chúng căn trí chậm lụt.

    Thế nào là chẳng sanh mà sanh chẳng thể nói được? Lý do vì nó sanh. Nghĩa là trước không có bây giờ mới có. Căn cứ vào thế đế mà nói, mới ra gọi là sanh. Theo nhân duyên thế tục gọi là sanh nhưng về chân lý thì chưa đúng.

    Những câu này tương tự như Trung Quán luận.

    Thế nào là sanh mà chẳng sanh, chẳng thể nói được? Khi sanh gọi là sanh, sanh chẳng tự sanh. Khi sanh ra như vậy chẳng phải tự nó sanh mà do duyên hợp, không phải tự có, nên không thể nói được. Đủ duyên hợp thì có gọi là sanh, đủ duyên hợp thì có, nên không một cái nào sanh ra. Ví dụ hỏi cái bàn này sanh ra từ đâu? Nói tự cái bàn thành cái bàn thì không được, nên nói sanh mà không tự sanh. Nếu nói từ thợ hay từ gỗ sanh ra cũng không đúng, mà do nhiều duyên hợp lại mới có. Nói một bên đều là phiến diện chưa phải chân lý. Đã do nhiều duyên khác hợp thì không cố định là từ cái nào. Vì vậy nói duyên sanh như huyễn không thật, chẳng nói được.

    Niết-bàn không sanh mà cũng không diệt vì không có hình tướng. Không sanh không diệt cho nên không sanh mà chẳng sanh. Chỗ này thoát ly ngôn ngữ, vì ngôn ngữ chỉ bàn luận được chỗ sanh diệt, còn bất sanh bất diệt thì không thể bàn đến được. Chúng ta nói ra điều gì, diễn tả việc gì thì cũng đều do mắt thấy, tai nghe, do suy nghĩ đến mà nói. Còn Niết-bàn mắt không thấy, tai không nghe, suy nghĩ không đến thì làm sao nói ra được? Cho nên nói Niết-bàn không có thể nói được.

    Chẳng sanh gọi là Niết-bàn, vì Niết-bàn chẳng sanh nên chẳng thể nói được. Không nói được, nhưng không phải hoàn toàn không. Vì Niết-bàn do tu mà chứng đặng. Tuy không nói được mà có chứng được.

    Đáng lẽ sanh là có, tại sao ở đây nói không? Con người hay các loài động vật gọi là sanh, còn các hình tướng sự vật thì gọi là thành. Ví dụ cái bàn gọi là thành,nghĩa là ông thợ đóng gỗ thành cái bàn coi như cái bàn sanh ra. Nhưng cái bàn này chỉ do từng bộ phận ráp lại có hình tướng tạm gọi là cái bàn, thật thể cái bàn không có, chỉ là duyên hợp tạm thành. Con người cũng vậy, nói sanh là nhìn trên hình tướng, còn xét cho tột cùng thì thân này không có thể nhất định, sắc thọ tưởng hành thức hợp lại thì gọi là thân ta. Nhưng thân của ta do năm uẩn duyên hợp không thật, tạm nói là có. Không thật thì không có tự thể hay không có tự tánh. Không có tự tánh mà nói sanh thì không thể được, nên nói vốn là không. Không không phải là không ngơ mà là không có tự tánh nhất định, chỉ do duyên hợp nên có như huyễn.

    Chẳng sanh gọi là Niết-bàn, Niết-bàn chẳng sanh mà có chứng được. Chỗ chẳng sanh này là cứu cánh cùng tột nên không thể nói được.

    Vì có nhân duyên cũng có thể nói được? Mười pháp nhân duyên làm sanh tác nhân do đây nên cũng có thể nói được . Vì có nhân duyên có thể nói được, là căn cứ vào mười pháp làm nhân làm duyên, cho nên các pháp ở thế gian này hiện hữu. Như vậy căn cứ trên nhân duyên hòa hợp, tạm có thể nói được.

    Đây là lối lý luận của Bát-nhã không định, là định của trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả pháp không có tự tánh. Sợ hội chúng căn trí chậm lụt nghe không nổi nên Phật yêu cầu Bồ-tát chớ nhập thậm thâm không định .

    Này thiện nam tử! Pháp hữu vi sanh cũng là thường, do trụ vô thường, nên sanh cũng vô thường. Trụ cũng là thường do sanh mà sanh nên trụ cũng vô thường. Dị cũng là thường, do pháp vô thường nên dị cũng vô thường. Hoại cũng là thường, do trước không nay có nên hoại cũng vô thường.

    Con người có bốn tướng sanh trụ dị diệt, sự vật thì thành trụ hoại không.

    Pháp hữu vi sanh cũng là thường, do trụ vô thường, nên sanh cũng vô thường. Phật muốn nói thấp đi, căn cứ vào căn cơ chậm lụt của những người thường để họ dễ biết dễ hiểu. Vì có chân lý tương đối, chân lý tuyệt đối. Chúng sanh nào cũng phải chịu luật sanh trụ dị diệt hay sanh lão bệnh tử, đó là lẽ thường.

    Do trụ vô thường nên sanh vô thường. Sanh rồi qua trụ, qua dị... trở thành vô thường. Qua trụ là vô thường thì chúng ta thấy sanh đã vô thường, nghĩa là có đổi dời từ sanh qua trụ.

    Trụ cũng là thường, do sanh mà sanh nên trụ cũng vô thường. Từ sanh nên mới có trụ, sanh đã vô thường thì trụ cũng vô thường. Trụ là chỗ dừng lại, sanh và trụ đều là lẽ thường của chúng sanh. Nhưng vì đối đãi có sanh có trụ. Từ sanh chuyển qua trụ là vô thường, từ trụ chuyển qua sanh cũng thành vô thường. Sanh và trụ đều là đắp đổi từ trước qua sau, từ sau qua trước, vì vậy thấy nó cũng vô thường.

    Dị cũng là thường, do pháp vô thường nên dị cũng vô thường. Dị là lẽ thường trong sanh trụ dị diệt. Sanh già bệnh chết là bốn lý thường của chúng sanh ở cõi đời này. Cho nên nói sanh là thường, già là thường, bệnh là thường, chết là thường. Tại sao nó thành vô thường? Vì sanh rồi chuyển qua già, già rồi bệnh, bệnh rồi chết. Từ sanh nhìn qua già thành vô thường, già nhìn qua bệnh là vô thường. Vì vậy từ thường biến thành vô thường.

    Hoại cũng là thường, do trước không nay có nên hoại cũng vô thường. Nếu hiểu ý trước thì sau không khó nữa.

    Này thiện nam tử! Vì cứ nơi tánh, nên sanh, trụ, dị, hoại đều là thường, vì niệm niệm diệt nên không thể nói là thường, vì đại Niết-bàn này có thể dứt diệt được, nên lại gọi là vô thường.

    Bốn tướng sanh trụ dị hoại, tự tánh là thường, nhưng vì niệm niệm sanh diệt nên không thể nói thường, vì đại Niết-bàn này có thể diệt được nên gọi là vô thường.

    Lục Tổ khi hỏi Pháp Đạt, Phật tánh là thường hay vô thường. Ông nói là thường. Tổ nói Phật tánh là vô thường. Ông thắc mắc, trong kinh rõ ràng nói là thường, sao Tổ nói là vô thường? Phật tánh là thường, thông suốt không hình dáng, không sanh diệt, nhưng chúng ta mê, lăn lộn trong sanh tử, khi ngộ phát tâm tu hành tiến tới thành Phật. Phật tánh là thường, nhưng khi mê tạo nghiệp chúng sanh rồi ngộ trở thành Phật, như vậy có đổi thay. Có đổi thay tức là vô thường, nên Tổ nói Phật tánh là vô thường. Nếu Phật tánh là thường thì không phát tâm Bồ-đề được. Phật tánh ở trong mê là thường thì ngày nào ông ra khỏi mê? Nếu là thường thì cứ vậy mê suốt kiếp. Bây giờ phát tâm Bồ-đề tức từ mê chuyển thành giác, tất nhiên là khác trước rồi, nên nói Phật tánh vô thường. Nếu biết, thì nói thường hay vô thường đều đúng. Nếu không biết, nghe nói thường chấp là thường, nghe nói vô thường chấp là vô thường, cái nào cũng sai.

    Như vậy biết trên thể tánh Phật không hình tướng, không sanh diệt, nhưng trên tướng dụng có vô thường. Hiểu tường tận rồi thì không nghi. Cũng vậy, trước Phật nói Niết-bàn là thường lạc ngã tịnh, sao ở đây ngài nói vì đại Niết-bàn này có thể dứt diệt được nên gọi là vô thường ? Vì nương nơi Niết-bàn mình diệt được tất cả phiền não, tất cả những vô minh che đậy. Tánh của Niết-bàn là không sanh, nhưng nương nơi Niết-bàn ta diệt được phiền não nên Niết-bàn cũng là vô thường. Cũng như vậy sanh, trụ, dị, diệt là thường nhưng vì đối đãi với nhau, niệm niệm sanh diệt nên là vô thường.

    Này thiện nam tử! Pháp hữu lậu lúc chưa sanh, đã có tánh sanh, vì thế nên sanh có thể sanh được. Pháp vô lậu vốn không tánh sanh, vì thế nên sanh không thể sanh được. Như lửa có tánh sẵn gặp duyên thời phát. Mắt có tánh thấy đủ duyên thời thấy. Sanh pháp của chúng sanh cũng như vậy, do tánh sẵn có, gặp nhân duyên của nghiệp, cha mẹ hòa hiệp thời bèn có sanh.” 

    Lưu Ly Quang Bồ-tát cùng tám muôn bốn ngàn đại Bồ-tát nghe pháp này rồi, vọt thân lên hư không cao bảy cây đa-la, chắp tay cung kính bạch Phật: “Thế Tôn! Tôi nhờ đức Như Lai ân cần dạy bảo, do đại Niết-bàn mới đặng tỏ ngộ ý nghĩa nghe chỗ chẳng nghe, cũng làm cho tám muôn bốn ngàn Bồ-tát này hiểu rõ những nghĩa chẳng sanh mà sanh v.v... của các pháp.

    Pháp hữu lậu tự thể của nó sanh là diệt, diệt là sanh, sanh diệt liên miên, cho nên nói nó có tánh sanh. Vì có tánh sanh nên nó mới sanh được, nếu không có tánh sanh làm sao nó sanh được. Pháp vô lậu vì không sanh không diệt nên không có tánh sanh, nên sanh không thể sanh được. Bồ-tát đến đây thì ngộ.

    Bạch Thế Tôn! Nay tôi đã tỏ ngộ dứt hết nghi ngờ, nhưng trong hội này có một Bồ-tát hiệu là Vô Úy lại muốn thưa hỏi mong đức Phật cho phép.” 

    Phật bảo Vô Úy Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Tùy ý ông hỏi, ta sẽ vì ông giải nói.” 

    Vô Úy Bồ-tát cùng tám muôn bốn ngàn Bồ-tát đồng đứng dậy nghiêm chỉnh y phục, quỳ chắp tay bạch Phật: “Thế Tôn! Chúng sanh cõi Ta-bà này phải thật hành hạnh nghiệp gì để được sanh về cõi Bất Động? Bồ-tát cõi đó thế nào mà đặng đầy đủ trí huệ, đầy đủ các công hạnh, có oai đức lớn, trí huệ lanh lẹ, nghe liền hiểu rõ?” 

    Bồ-tát Vô Úy cùng các Bồ-tát hỏi Phật. Ở cõi Ta-bà này xấu xa, con người yếu kém nhỏ nhít, tất cả cái khổ dồn dập. Cõi kia thì an lành sung sướng tốt đẹp, trí khôn ngoan, phải tu hạnh nghiệp gì để sanh về cõi đó? Bồ-tát cõi đó thế nào mà đặng đầy đủ trí huệ, đầy đủ các công hạnh, có oai đức lớn, trí huệ lanh lẹ, nghe liền hiểu rõ?

    Đức Phật liền nói kệ rằng: 

    Chẳng hại mạng chúng sanh

    Giữ gìn các cấm giới 

    Bẩm thọ pháp của Phật

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng đoạt của người khác

    Thường ban cho tất cả 

    Tạo chiêu-đề tăng phường

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng phạm vợ con người

    Vợ nhà chẳng phi thời

    Thí trì giới ngọa cụ 

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng vì mình hoặc người

    Cầu lợi và khủng bố 

    Giữ lời chẳng vọng ngữ

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chớ phá thiện tri thức

    Xa lìa quyến thuộc ác

    Thường nói lời hòa hiệp

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Như các bậc Bồ-tát

    Thường lìa lời ác khẩu 

    Nói ra người thích nghe

     Thời sanh cõi Bất Động.

    Nhẫn đến lúc giỡn cười

    Chẳng nói lời phi thời

    Giữ gìn lời chánh pháp

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Thấy người đặng lợi dưỡng

    Thường sanh lòng vui mừng

    Chẳng sanh lòng tật đố

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng não hại chúng sanh

    Thường sanh lòng từ bi

    Chẳng làm phương tiện ác

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Tà kiến bác bố thí

    Không cha mẹ, khứ lai

    Chẳng có tà kiến ấy

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Đường xa làm giếng tốt

    Trồng rừng rậm cây trái

    Thường thí người khất thực

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Đối với Phật, Pháp, Tăng

    Cúng một đèn một hương 

    Nhẫn đến dâng một hoa

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu vì cớ sợ sệt 

    Lợi dưỡng cùng phước đức

    Chép một kệ kinh này

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu vì cầu phước lợi

    Được ở trong một ngày

    Đọc tụng kinh điển này

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu vì đạo vô thượng

    Trong một ngày một đêm

    Thọ trì bát quan trai

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng cùng người phạm tội

    Người hủy báng Đại thừa

    Đồng ở chung một chỗ 

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu thí cho người bệnh

    Nhẫn đến một trái cây

    Vui mừng mà săn sóc

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Chẳng lạm dùng của Tăng

    Khéo giữ vật của Phật 

    Tô quét chỗ Phật Tăng

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Tạo tượng và tháp Phật

    Chừng bằng ngón tay cái

    Thường sanh lòng vui mừng

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu vì kinh điển này

    Đem thân cùng của cải 

    Cúng dường người thuyết pháp

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Nếu nghe và biên chép

    Thọ trì cùng đọc tụng

    Tạng bí mật của Phật

    Thời sanh cõi Bất Động.

    Phật giải thích bằng bài kệ.

    Đoạn thứ nhất, những người giữ giới không sát sanh thì được sanh lên cõi Bất Động. Đoạn thứ hai, những người không cướp giật của người mà còn bố thí, cất chùa, làm nhà tăng... thì được sanh vào cõi Bất Động. Đoạn thứ ba, những người không phạm tà dâm, biết bố thí ngọa cụ cho những vị tăng trì giới thì được sanh về cõi Bất Động.

    Đoạn thứ tư, không nói dối, không khủng bố người thời được sanh về cõi Bất Động. Đoạn thứ năm, không phá hòa hợp tăng, không phá thiện tri thức, xa lìa quyến thuộc ác, thường nói lời hòa hợp thì được sanh về cõi Bất Động. Kế đó là các vị Bồ-tát thường lìa ác khẩu, nói ra người thích nghe thì được sanh về cõi Bất Động. Nhẫn đến lúc giỡn cười, chẳng nói phi thời (ỷ ngữ), gìn giữ lời chánh pháp thì sanh cõi Bất Động.

    Thấy người được lợi dưỡng, thường sanh lòng vui mừng chẳng sanh lòng tật đố thì sanh cõi Bất Động.

    Ở trên theo kinh Thập thiện nói chẳng sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, không tật đố, không não hại chúng sanh, không tà kiến đều là gốc được sanh về cõi Bất Động. Sau đó Phật giải thích thêm tu hạnh bố thí, đào giếng, trồng cây rậm rạp... để bố thí cho những người đi khất thực, đối với Tam bảo cúng đèn hương nhẫn đến dâng hoa, đối với những người sợ hãi, bố thí vô úy, lợi dưỡng cùng phúc đức, chép kinh truyền bá chánh pháp thì được sanh về cõi Bất Động.

    Nếu vì cầu phước lợi, trong một ngày đọc tụng kinh điển này thì sanh cõi Bất Động. Nếu vì đạo vô thượng, trong một ngày một đêm thọ trì bát quan trai, chẳng cùng người phạm tội và người hủy báng Đại thừa ở chung thì sanh cõi Bất Động. Nếu bố thí giúp đỡ cho người bệnh, chẳng lạm dùng của Tam bảo, biết tô tạo tượng Phật, tháp..., nếu vì kinh điển này đem thân cùng của cải cúng dường người thuyết pháp, nếu nghe, biên chép, thọ trì và đọc tụng tạng bí mật của Phật thì sanh cõi Bất Động.

    Đó là những lý do đức Phật nêu ra để được sanh cõi Bất Động. Phần này là phần sự nên dễ hiểu.

    Vô Úy Bồ-tát Bạch Phật: “Thế Tôn! Nay tôi đã biết những công hạnh đặng sanh về cõi nước Bất Động.

    Thế Tôn! Cao Quý Đức Vương Bồ-tát này vì khắp xót thương tất cả chúng sanh nên trước kia có chỗ thưa hỏi, nếu đức Như Lai giải thuyết thời có thể lợi ích an vui cho hàng trời, người, bát bộ.” 

    Đức Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông nên hết lòng lóng nghe, tôi sẽ vì ông phân biệt giải thuyết.

    Vì có nhân duyên nên chưa đến chẳng đến. Vì có nhân duyên nên chẳng đến mà đến, vì có nhân duyên nên đến mà chẳng đến. Vì có nhân duyên nên đến mà đến.

    Này thiện nam tử! Xét về chẳng đến gọi là đại Niết-bàn. Hàng phàm phu chưa đến bởi có tham dục, sân khuể và ngu si. Vì hai nghiệp thân và khẩu chẳng thanh tịnh, cùng lãnh thọ tất cả vật bất tịnh, phạm bốn trọng tội, hủy báng Phương đẳng Đại thừa là hạng nhất-xiển-đề tạo tội ngũ nghịch. Do nghĩa này nên chưa đến chẳng đến.

    Chẳng đến gọi là chẳng đến đại Niết-bàn. Do nghĩa gì mà được đến? Vì dứt hẳn tham dục, sân khuể, ngu si và tội ác của thân khẩu, chẳng thọ tất cả vật bất tịnh, chẳng phạm bốn tội trọng, chẳng hủy báng Phương đẳng Đại thừa, chẳng làm hạng nhất-xiển-đề, chẳng tạo tội ngũ nghịch. Do nghĩa này nên gọi là chẳng đến mà đến.

    Bồ-tát Vô Úy nghe xong liền hiểu, ngài ca ngợi Bồ-tát Cao Quý Đức Vương khéo hay thưa hỏi để đức Như Lai theo đó mà giải thuyết làm lợi ích an vui cho hàng trời người bát bộ.

    Sở dĩ chúng phàm phu không đến Niết-bàn vì do còn ba thứ độc tham sân si và hai nghiệp bất tịnh thân khẩu, lại cộng thêm phạm tội trọng, hủy báng Đại thừa. Vì vậy nên chưa đến chẳng đến.

    Hai phần này rất dễ hiểu, chưa đến mà chẳng đến vì còn những điều xấu trên, chưa đến mà sẽ đến vì đã dứt được những điều xấu đó.

    Bậc Tu-đà-hoàn tám muôn kiếp thì đến, bậc Tư-đà-hàm sáu muôn kiếp thì đến, bậc A-na-hàm bốn muôn kiếp thì đến, bậc A-la-hán hai muôn kiếp thì đến, Bích-chi Phật mười ngàn kiếp thì đến. Do nghĩa này nên gọi là chẳng đến mà đến.

    Đến gọi là hai mươi lăm cõi. Tất cả chúng sanh đều bị vô lượng phiền não che đậy, qua lại chẳng ngừng dường như bánh xe lăn, đây gọi là đến. Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát vì đã đặng lìa hẳn nên gọi là chẳng đến, lại ba bậc này vì muốn hóa độ chúng sanh nên thị hiện ở trong đó, nên cũng gọi là đến.

    Đến chính là hai mươi lăm cõi. Tất cả phàm phu, Tu-đà-hoàn nhẫn đến A-na-hàm, vì phiền não nên gọi là đến mà đến.

    Này thiện nam tử! Nghe chỗ chẳng nghe cũng như vậy. Có chẳng nghe mà nghe, chẳng nghe mà chẳng nghe, nghe mà chẳng nghe, nghe mà nghe.

    Chẳng nghe là đại Niết-bàn vì chẳng phải hữu vi, vì chẳng phải âm thanh, vì chẳng thể nói. Thế nào là cũng nghe?

    Vì đặng nghe danh từ: thường, lạc, ngã và tịnh. Do nghĩa này nên gọi là chẳng nghe mà nghe.” 

    Hàng Tu-đà-hoàn tu thêm tám muôn kiếp thì đến Niết-bàn, bậc Tư-đà-hàm sáu muôn kiếp thì đến... Ở đây nói có khác so với kinh A-hàm. Kinh A-hàm nói Tu-đà-hoàn còn bảy phen sanh tử mới đến Niết-bàn, sao ở đây lại nói tám muôn kiếp? Niết-bàn của kinh A-hàm khác với Niết-bàn của kinh Đại Bát-niết-bàn, Niết-bàn của A-la-hán chỉ là chỗ tạm thời, Niết-bàn của Đại Bát-niết-bàn mới là rốt ráo, là chỗ cứu cánh tận cùng. Một bên nói A-la-hán hai muôn kiếp thì đến, một bên nói A-la-hán là được Niết-bàn rồi.

    Vì đại Niết-bàn không có hình tướng cho nên không phải là pháp hữu vi, không có âm thanh và không thể nói. Vì vậy nên chẳng phải nghe. Nhưng thế nào là cũng nghe? Gốc Niết-bàn là chẳng nghe nhưng nay Phật nói danh từ Niết-bàn thường lạc ngã tịnh thì chúng ta được nghe.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như Phật nói đại Niết-bàn là chẳng thể nghe được, sao lại nói rằng thường, lạc, ngã, tịnh mà có thể nghe được. Vì người đoạn phiền não gọi là đặng Niết-bàn, nếu chưa đoạn gọi là chẳng được. Do nghĩa này tánh Niết-bàn trước không mà nay có. Nếu pháp thế gian trước không mà nay có thời gọi là vô thường. Ví như bình bồn v.v... trước không mà nay có, đã có hoàn không, nên gọi là vô thường. Niết-bàn nếu như vậy, sao lại nói rằng thường, lạc, ngã, tịnh.

    Bạch Thế Tôn! Phàm do trang nghiêm mà được thành đều gọi là vô thường. Niết-bàn nếu như vậy? Lẽ ra là vô thường. Những gì trang nghiêm Niết-bàn? Chính là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu pháp ba-la-mật, bốn tâm vô lượng, quán tướng xương trắng A-na-ba-na, lục niệm xứ, phá tích sáu đại, do những pháp đó mà thành tựu Niết-bàn nên là vô thường.

    Trước chưa đoạn phiền não nên không được, bây giờ đoạn phiền não thì được, là trước không nay có. Như vậy Niết-bàn là vô thường. Ví như bình bồn... trước không mà nay nặn thành có, có mà trở lại không gọi là vô thường. Phật nói như vậy thì Niết-bàn thành vô thường. Đó là nạn vấn thứ nhất.

    Cái gì do sự trang nghiêm đều là vô thường, Niết-bàn là do lấy ba mươi bảy phẩm trợ đạo trang nghiêm, lục độ trang nghiêm... nên Niết-bàn cũng trở thành vô thường. Đó là nạn vấn thứ hai.

    Bạch Thế Tôn! Phàm là có, thời gọi là vô thường. Nếu Niết-bàn là có thời lẽ ra là vô thường. Như ngày trước trong kinh A-hàm Phật nói: Thanh văn, Duyên giác, chư Phật đều có Niết-bàn, do nghĩa này nên gọi là vô thường.

    Bạch Thế Tôn! Pháp có thể thấy thời gọi là vô thường. Như ngày trước đức Phật nói: Người thấy Niết-bàn thời dứt trừ được tất cả phiền não. Ví như hư không chẳng có chướng ngại nên gọi là thường. Giả sử Niết-bàn là thường v.v... cớ sao chúng sanh lại có người được, người chẳng được. Như vậy Niết-bàn đối với chúng sanh chẳng bình đẳng lẽ ra chẳng gọi là thường.

    Nạn vấn thứ ba, cái gì có thì vô thường. Phật bảo Niết-bàn có, vậy nó vô thường.

    Nạn vấn thứ tư, có người được có người không được thì không bình đẳng, mà không bình đẳng là pháp vô thường. Niết-bàn là một thể chung cho tất cả chúng sanh. Một số người trí thức Tây phương cho rằng tất cả đều trở về một. Một là chân lý, là cứu cánh. Họ nhìn đạo Phật cũng tương tự như vậy. Vì quen quan niệm có một đấng tối cao duy nhất. Mọi người cuối cùng trở về với Chúa, trở về một thể. Chúa không còn là một con người nữa mà là một thể đại đồng. Mọi người nhập vào một thể đại đồng duy nhất, một người được, tất cả người cũng phải được. Đây cũng vậy, nếu nói Niết-bàn là thể chung của mọi người, một người được, tất cả người cũng được.

    Ví như trăm người chung có một kẻ oán thù, nếu hại được kẻ này thời nhiều người được an lạc. Giả sử Niết-bàn là pháp bình đẳng, lúc một người được, lẽ ra nhiều người cũng được, một người dứt kiết sử lẽ ra nhiều người cũng dứt, nếu chẳng như vậy sao lại gọi là thường.

    Như có người cung kính cúng dường tôn trọng tán thán quốc vương, vương tử, phụ mẫu, sư trưởng thời được lợi dưỡng, đây chẳng gọi là thường. Niết-bàn cũng vậy, như ngày trước trong kinh A-hàm đức Phật nói với A-nan: Nếu có người cung kính Niết-bàn thời dứt được kiết sử hưởng thọ vô lượng an lạc do đây nên chẳng gọi là thường.

    Bạch Thế Tôn! Nếu trong Niết-bàn có danh từ thường, lạc, ngã, tịnh thời chẳng gọi là thường, như không có, sao lại có thể nói?” 

    Như trăm người chung một kẻ thù, nếu người nào giết được kẻ thù đó thì cả trăm người được an ổn. Giả sử Niết-bàn là pháp bình đẳng, lúc một người được, lẽ ra nhiều người cũng được, đó là bình đẳng. Một người dứt kiết sử lẽ ra nhiều người cũng dứt, nếu chẳng như vậy sao lại gọi là thường. Nếu vì cung kính tôn trọng mà được lợi dưỡng thì đối tượng cung kính không phải là thường.

    Nếu nói Niết-bàn có danh từ thường lạc ngã tịnh thì những danh từ đó chỉ cho giả tướng không thật, thì vô thường, tại sao đức Phật nói là thường. Nếu là thường, sao đức Phật có thể nói ra được.

    Đức Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ-tát: “Thể Niết-bàn chẳng phải trước không nay có. Nếu thể Niết-bàn trước không nay có thời chẳng phải vô lậu. Pháp thường trụ, nay có Phật hay không Phật, tánh tướng vẫn thường trụ. Bởi chúng sanh bị phiền não che đậy nên chẳng thấy Niết-bàn, bèn gọi là không. Đại Bồ-tát dùng giới, định, huệ siêng tu tâm mình, dứt xong phiền não bèn đặng thấy Niết-bàn. Phải biết Niết-bàn là pháp thường trụ chẳng phải trước không nay có nên gọi là thường.

    Như dưới giếng trong nhà tối có các thứ châu báu, người cũng biết là có nhưng vì tối nên không thấy. Người có trí, thắp đèn sáng lớn cầm soi đó thời thấy châu báu rõ ràng. Người trí này trọn chẳng nghĩ rằng: Nước giếng cùng châu báu, trước không mà nay có.

    Cũng vậy, Niết-bàn trước vốn tự có, chẳng phải nay mới có, vì phiền não tối tăm nên chúng sanh chẳng thấy. Đức Như Lai đại trí thắp đèn trí huệ, làm cho Bồ-tát đặng thấy Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Do đây nên người trí chẳng nên nói rằng Niết-bàn trước không mà nay có.

    Nếu trước không mà nay mới sanh thì là cái bị tạo tác, mà bị tạo tác là vô thường không phải vô lậu. Niết-bàn là pháp thường trụ, dù có Phật ra đời hay không Phật ra đời Niết-bàn cũng vẫn như thế, sẵn có mà chúng ta vì phiền não tối tăm nên không thấy. Bồ-tát do tu giới định tuệ, dứt sạch phiền não liền được thấy Niết-bàn thường trụ. Như châu báu nằm sẵn trong giếng, vì tối mình không thấy. Bây giờ chỉ chịu khó thắp đèn lên cho sáng thì sẽ thấy.

    Đây là giải đáp nạn vấn thứ nhất của ngài Cao Quý Đức Vương.

    Này thiện nam tử! Như ông nói do trang nghiêm nên đặng thành Niết-bàn lẽ ra là vô thường, nghĩa này cũng không phải. Vì thể của Niết-bàn chẳng phải sanh, chẳng phải xuất, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải tạo tác mà có, chẳng phải là pháp hữu lậu, hữu vi, chẳng phải nghe, chẳng phải thấy, chẳng phải đọa, chẳng phải chết, chẳng phải tướng biệt dị, cũng chẳng phải tướng đồng, chẳng phải qua, chẳng phải lại, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng phải một và nhiều, chẳng phải dài và vắn, chẳng phải tròn và vuông, chẳng phải nhọn và méo, chẳng phải có tướng và không tướng, chẳng phải danh và sắc, chẳng phải nhân và quả, chẳng phải ngã và ngã sở. Do những nghĩa này nên Niết-bàn là thường không biến đổi. Phải tu tập pháp lành trong vô lượng kiếp để tự trang nghiêm rồi mới được thấy.

    Ví như dưới đất có mạch nước trong mát chúng sanh chẳng thấy được, người trí ra công đào đất, thời đặng nước. Niết-bàn cũng như vậy.

    Ví như người mù chẳng thấy mặt trời mặt trăng, lương y điều trị thời đặng thấy. Mặt trời mặt trăng chẳng phải là trước không mà nay có. Niết-bàn cũng như vậy từ trước đã tự có, chẳng phải mới có ngày nay.

    Như người có tội bị trói nhốt trong khám, lâu ngày mãn tù mới được thả ra, trở về nhà đặng thấy cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc. Niết-bàn cũng như vậy.

    Đến nạn vấn thứ hai, Phật giải thích Niết-bàn không phải là pháp đối đãi có - không, phải - quấy, tròn - vuông, danh - sắc..., làm sao nói là vô thường? Tuy thường nhưng phải do tu tập mới được thấy. Đây là chỗ quan trọng cần phải nhớ. Bởi vì chúng ta có bệnh nghe nói cái gì sẵn có thì không muốn tu: Có rồi thì tu làm gì! Phật nói tuy có sẵn nhưng phải tu tập trong vô lượng kiếp cho nó hiển lộ và dùng ba ví dụ để rõ hơn.

    Ví dụ thứ nhất, nếu có ai chỉ cho chúng ta nơi có mạch nước ngầm, nhưng biết mà không đào xới gì hết thì cũng không có nước. Phải có công phu đào đất bươi đá rồi từ từ mới tới mạch nước, mới dùng được nước. Không đào không có nước, nhưng cũng không thể nói nước do mình đào mà có. Đó là ý nghĩa thật sâu mầu. Lâu nay mình cứ hiểu lầm. Niết-bàn đã sẵn có thì tu làm chi nữa? Tu chẳng có mà không tu cũng chẳng ra. Nói tu được thì không đúng vì Niết-bàn sẵn có không phải do tu mà được, nhưng không tu thì không được. Nghĩa này qua ví dụ thật rõ ràng.

    Ví dụ thứ hai, như người mù chẳng thấy mặt trời mặt trăng, lương y điều trị con mắt lành thì thấy được. Như vậy mặt trời mặt trăng có sẵn, chỉ cần trị hết mắt bệnh là thấy. Không trị con mắt thì suốt kiếp cũng không thấy mặt trời mặt trăng.

    Ví dụ thứ ba, như người có tội bị nhốt trong khám, mãn tù được thả ra, trở về nhà thấy được cha mẹ anh em quyến thuộc. Vậy có phải là anh em cha mẹ mới có hay không? Không phải. Sẵn có nhưng vì không được thấy, khi về tới nhà sẽ thấy.

    Cũng vậy, chúng ta sẵn có tánh Niết-bàn ngay trong tâm, nhưng vì mê lầm không hồi quang phản chiếu nên không thấy. Nếu hồi quang phản chiếu thì liền được thấy. Niết-bàn không phải do trang nghiêm mà được và cũng không phải lìa trang nghiêm mà được.

    Này thiện nam tử! Ông nói vì nhân duyên nên pháp Niết-bàn lẽ ra vô thường, nghĩa này chẳng đúng.

    Này thiện nam tử! Xét về nhân có năm thứ: Một là sanh nhân, hai là hòa hiệp nhân, ba là trụ nhân, bốn là tăng trưởng nhân, năm là viễn nhân.

    Sanh nhân chính là nghiệp phiền não, cũng như hột giống của cây cỏ.

    Hòa hiệp nhân, như pháp lành hòa hiệp với tâm lành, pháp chẳng lành hòa hiệp với tâm chẳng lành, pháp vô ký hòa hiệp cùng tâm vô ký.

    Trụ nhân, như dưới có cột thời nóc nhà chẳng sập, núi, sông, cây cối, nhân mặt đất mà đặng đứng vững, cũng vậy, nhờ có tứ đại cùng vô lượng phiền não mà chúng sanh đặng an trụ.

    Tăng trưởng nhân, do uống ăn, y phục v.v... làm cho chúng sanh tăng trưởng. Ví như lửa chẳng đốt, chim chẳng ăn thời hột giống của cây cỏ được tăng trưởng. Như hàng Sa-môn Bà-la-môn nhờ thầy lành bạn tốt mà được tăng trưởng. Như nhờ cha mẹ mà con được tăng trưởng.

    Viễn nhân, như nhân thần chú mà quỷ chẳng hại được, độc chẳng trúng được, như nhờ quốc vương không có trộm cướp, như nương đất nước mà mầm mọc lên, như nước khuấy, công người là viễn nhân của chất tô. Như ánh sáng màu sắc v.v... là viễn nhân của nhãn thức, tinh huyết của cha mẹ là viễn nhân của chúng sanh. Như thời tiết v.v... đều gọi là viễn nhân.

    Này thiện nam tử! Thể Niết-bàn chẳng phải do nhân như vậy làm thành, sao ông lại nói là vô thường?

    Phật giải thích về năm thứ nhân.

    Nghiệp và phiền não của thời quá khứ làm nhân để đời này sanh ra chịu khổ, đó gọi là sanh nhân, cũng như từ hạt giống sanh ra cây nên hạt giống là sanh nhân của cây.

    Cái xấu hòa hiệp với cái xấu, cái tốt hòa hiệp với cái tốt, có sự chung hợp như vậy gọi là hòa hiệp nhân.

    An trụ ở đây nghĩa là còn hoài chứ không phải như an trụ trong Niết-bàn. Sở dĩ có chúng sanh sanh đời này đời kia, là do tứ đại, vô lượng phiền não làm cho mình mãi mãi ở trên thế gian, mất rồi sanh, tiếp tục luôn luôn. Cũng như đất là chỗ an trụ của nhà cửa cây cối, như cây cột là trụ của nóc nhà... Đó là trụ nhân.

    Tăng trưởng nhân là nhân giúp cho được trưởng thành. Con người nhờ y phục, nhờ uống ăn mà được trưởng thành. Hột giống không có gì phá nên lần lần trưởng thành. Người tu nhờ thầy lành bạn tốt mà được tăng trưởng. Như con nhờ cha mẹ mà được trưởng thành. Đó gọi là tăng trưởng nhân.

    Viễn nhân, như nhân thần chú mà quỷ chẳng hại được, độc chẳng trúng được. Như nhờ quốc vương, chính phủ cai trị, gìn giữ đúng pháp thì không có trộm cướp, đây là viễn nhân giúp cho chúng ta khỏi bị trộm cướp. Như nương đất nước mà mầm mọc lên thì đất nước là viễn nhân của mầm. Như sữa là sanh nhân, nước khuấy với công người là viễn nhân của chất kem. Nhãn thức có nhân chánh của nó, nhờ bên ngoài có ánh sáng, có màu sắc nó mới thấy thì đó là viễn nhân của nhãn thức. Tinh huyết của cha mẹ là viễn nhân của chúng sanh. Như thời tiết v.v... đều gọi là viễn nhân, tức là nhân phụ ở bên ngoài.

    Đó là năm nhân. Cái gì thuộc về năm nhân trên đều là vô thường, còn Niết-bàn không thuộc về năm nhân đó, tại sao nói là vô thường?

    Lại có hai thứ nhân: một là tác nhân, hai là liễu nhân. Như khí cụ của thợ gốm thời gọi là tác nhân, như đèn đuốc v.v... soi vật trong tối thời gọi là liễu nhân.

    Này thiện nam tử! Đại Niết-bàn chẳng do tác nhân mà có, chỉ do liễu nhân. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu pháp ba-la-mật gọi là liễu nhân. Bố thí là nhân của Niết-bàn, chẳng phải là nhân của đại Niết-bàn. Đàn ba-la-mật mới được gọi là nhân của đại Niết-bàn. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nhân của Niết-bàn, chẳng phải nhân của đại Niết-bàn. Vô lượng vô số pháp trợ Bồ-đề mới được gọi là nhân của đại Niết-bàn.”

    Phật giải thích hai thứ nhân.

    Tác nhân là nhân tạo tác, như thợ gốm có bàn, có dụng cụ để tạo ra bình, bồn... Bình, bồn do thợ gốm làm, thợ gốm và những món đồ của ông là vô thường. Còn liễu nhân, ví như trong nhà tối có mõ chuông, đồ đạc đầy đủ sẵn, nhưng không thấy, đốt ngọn đèn thấy rõ chuông mõ và những vật dụng. Như vậy liễu nhân không sanh ra các món đồ mà làm sáng những vật gì sẵn có. Niết-bàn do công phu tu hành mà thấy chứ không phải chúng ta tạo ra Niết-bàn nên Niết-bàn thuộc về liễu nhân.

    Niết-bàn và đại Niết-bàn khác nhau chỗ nào? Niết-bàn là chỉ cho Niết-bàn của A-la-hán, của Nhị thừa. Còn đại Niết-bàn là Niết-bàn của Bồ-tát, của chư Phật. Niết-bàn trong kinh Pháp Hoa gọi là hóa thành, còn đại Niết-bàn gọi là bảo sở. Hình tướng bố thí thông thường là nhân được an ổn, được Niết-bàn theo Nhị thừa. Đàn ba-la-mật là bố thí cứu cánh, là bố thí ba-la-mật. Bố thí cứu cánh mới gọi là nhân của đại Niết-bàn của Bồ-tát và chư Phật.

    Niết-bàn của A-la-hán chỉ cần tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo là được Niết-bàn. Còn vô lượng vô số pháp trợ Bồ-đề là nhân của đại Niết-bàn.

    Phật giản trạch cho chúng ta biết Niết-bàn thuộc về liễu nhân không phải là tác nhân. Nó không nằm trong năm nhân trước đã kể, và đại Niết-bàn này trong các pháp trợ đạo phải vô lượng vô số pháp Bồ-đề mới được gọi là nhân đại Niết-bàn.

    Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Tại sao bố thí chẳng được gọi là Đàn ba-la-mật? Bố thí thế nào mới được gọi là Đàn ba-la-mật, nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật? Thế nào gọi là Niết-bàn và đại Niết-bàn?” 

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát tu hành Đại thừa phương đẳng đại Niết-bàn, chẳng nghe bố thí cũng chẳng thấy bố thí. Chẳng nghe Đàn ba-la-mật, cũng như chẳng thấy nhẫn đến chẳng nghe Bát-nhã, chẳng thấy Bát-nhã, cũng chẳng nghe chẳng thấy Bát-nhã ba-la-mật. Chẳng nghe chẳng thấy Niết-bàn và đại Niết-bàn.

    Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn, biết và thấy pháp giới, hiểu rõ thật tướng không có tất cả tướng.

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương nghe nói bố thí là nhân của Niết-bàn, không phải là nhân của đại Niết-bàn, Bố thí ba-la-mật mới gọi là nhân của đại Niết-bàn..., ngài bèn đặt các câu hỏi trên.

    Phật giải thích, nếu người tu về đại Niết-bàn là chỗ cứu cánh thì không chia bố thí và bố thí ba-la-mật, Niết-bàn và đại Niết-bàn, tức là không thấy có hai, không nghe có hai. Vì đó là chỗ cứu cánh không đối đãi.

    Người tu đại Niết-bàn đạt được tánh của pháp giới là thể chung cùng của tất cả pháp, không thấy tướng sai biệt của nó. Hiểu rõ thật tướng không có tất cả tướng. Như cái bàn này là do nhân duyên hòa hợp không có tự tướng, chỉ là giả hợp của các nhân duyên thôi. Kinh luận thường nói sự vật tánh là không. Tướng thật của cái bàn do giả duyên hòa hợp. Suy ra những thứ khác như cây viết, cây kim, cuốn sách, nhà cửa... cho đến cả thế giới cũng vậy, từ những hạt bụi hợp lại mà thành, đều không có tướng thật.

    Vì không có tướng nhất định nên nói là không có tánh hay tánh không. Biết được tánh không của các pháp tức là biết được tướng thật, gọi là thấy được thật tướng.

    Không có tướng hòa hiệp giác tri. Đặng tướng vô lậu, tướng vô tác, tướng như huyễn hóa, tướng ánh nắng, tướng thành càn-thát-bà, tướng trống không. Bồ-tát thấy được những tướng như vậy thời không tham, sân, si, chẳng nghe chẳng thấy. Đây gọi là đại Bồ-tát an trụ thật tướng.

    Đại Bồ-tát tự biết đây là bố thí, đây là Đàn ba-la-mật nhẫn đến đây là Bát-nhã ba-la-mật, đây là Niết-bàn, đây là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Thế nào là bố thí mà chẳng phải ba-la-mật? Thấy có người xin rồi sau mới cho, đây là bố thí chẳng phải ba-la-mật. Nếu không người xin tâm tự thí xả, thời gọi là Đàn ba-la-mật. Nếu bố thí có thời gian thời gọi là bố thí chẳng phải ba-la-mật. Nếu thường thật hành bố thí thời gọi là Đàn ba-la-mật, nếu bố thí rồi trở lại sanh lòng hối hận đây gọi là bố thí chẳng phải ba-la-mật. Thí rồi chẳng ăn năn thời gọi là Đàn ba-la-mật.

    Đại Bồ-tát đối với của cải có bốn quan niệm lo sợ: một là vua quan tịch thâu, hai là trộm cướp, ba là nước lụt, bốn là lửa cháy, do đó nên vui vẻ đem bố thí, đây gọi là Đàn ba-la-mật, nếu mong được báo đền mà bố thí thời chẳng phải ba-la-mật. Bố thí chẳng mong báo đền thời gọi là Đàn ba-la-mật.

    Nếu vì kính sợ, vì tiếng tăm lợi lộc, vì gia pháp tương truyền, vì cầu vui cõi trời, vì kiêu mạn, vì hơn người, vì quen thân, vì cầu báo đền thời như là buôn bán đổi chác. Như người trồng cây để được bóng mát, được bông, trái, hoặc để được cây gỗ. Nếu người tu hành mà bố thí như vậy thời gọi là bố thí chẳng phải ba-la-mật.

    Khi biết tất cả pháp không tự tướng, do duyên hợp mà tạm có như huyễn như hóa, như ánh nắng, như thành càn-thát-bà, trống không không thật. Hiểu rõ như vậy thì tham sân si theo đó mà hết. Bồ-tát tu đại Niết-bàn thấy như vậy, không có cái gì thật là bố thí, thật là bố thí ba-la-mật, thật Niết-bàn, thật đại Niết-bàn... tất cả chỉ là như huyễn hóa thôi. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, thì tham sân si sẽ không còn. Nếu thấy thân là thật, ai chọc giận mình nổi nóng lên ngay, nhưng khi biết thân là giả, không còn quý tiếc, bảo bọc nó quá đáng thì bỏ được tham, khi bị xúc chạm, chúng ta tha thứ được nên không sân. Vậy nhờ quán đúng lẽ thật, thấy thân như huyễn như hóa, như bóng nắng, như thành càn-thát-bà thì chúng ta dứt được si. Nếu thường quán như vậy gọi là Bồ-tát an trụ thật tướng.

    Khi sống đúng với thật tướng thì tự thấy tự biết thế nào là bố thí, thế nào là bố thí ba-la-mật, thế nào là Bát-nhã, thế nào là Bát-nhã ba-la-mật, thế nào là Niết-bàn, thế nào là đại Niết-bàn..., không cần phải giải thích.

    Không ai tới xin nhưng lúc nào mình cũng nghĩ của cải này không thật, là vô thường, sẵn sàng thí xả, đó gọi là thí ba-la-mật. Bố thí có thời gian tức là định rằng tôi bố thí ba tháng thôi, ngoài ba tháng đó không bố thí nữa. Nhiều người trong túi có vài ngàn, thấy người ta gặp tai nạn khổ sở quá, đem cho hết. Nhưng sau đó hối hận, đó cũng là bố thí không phải ba-la-mật. Đưa rồi không nuối tiếc mới là ba-la-mật. Đó là trường hợp thứ nhất.

    Do trí biết của cải vô thường đem bố thí gọi là bố thí ba-la-mật. Nếu bố thí mà mong người ta đền ơn, hôm nay mình cho họ biết đâu ngày mai họ giúp lại mình bằng hai bằng ba. Nếu họ không đáp trả, sẽ nói đồ vô ơn bạc nghĩa, rồi sanh ra bực bội sân si. Bố thí mong đền ơn dễ bị sân. Bố thí không mong đền ơn, họ biết ơn cũng tốt mà không biết ơn cũng tốt mới gọi là ba-la-mật. Nhưng rất ít người bố thí ba-la-mật. Ví dụ gần nhất, chúng ta cúng chùa, nhưng thắp nhang cầu cả chục việc, như vậy không phải ba-la-mật. Cúng dường Tam bảo mà thắp nhang “cầu cho con khỏi điêu đứng...” đủ thứ việc, thì bố thí chẳng những không ba-la-mật mà còn là mua bán đổi chác.

    Hầu hết chúng ta bố thí đều nằm trong các trường hợp: Hoặc là kính sợ mà bố thí, như trường hợp gặp người có vũ khí tới nói cho tôi mượn cái này cái nọ thì đưa liền không dám chần chừ, đó là vì sợ mà đưa không phải là bố thí. Hoặc vì tiếng tăm lợi lộc, như làm từ thiện để tỏ ra mình có lòng tốt, giúp cho được nhiều để được tiếng tăm. Hoặc gia pháp tương truyền, vì làm theo ông bà cha mẹ, theo thói quen trong gia đình chứ không ý thức gì trong việc bố thí. Hoặc cầu lên cõi trời, trường hợp này nhiều lắm, bố thí cho đời sau, hoặc làm người hoặc sanh lên cõi trời được hưởng thú vui. Hoặc kiêu mạn, muốn tỏ ra ta đây bố thí hơn thiên hạ, người ta cho một đồng mình cho hai đồng, người ta cho một trăm mình cho hai trăm để hơn người ta. Hoặc quen thân, như sư nào quen đến thì giúp, còn lạ thì không giúp. Hoặc cầu báo đền, cho rồi cầu người đền ơn lại mình nhiều hơn hoặc bằng. Như trồng cây mình mong nó lớn để có trái, có bông để ngửi, để ăn hay có gỗ để mình sử dụng. Những bố thí mong được kết quả như vậy Phật nói là buôn bán đổi chác chẳng phải là bố thí ba-la-mật.

    Phật tử phải biết của cải là vô thường, vì cúng dường Tam bảo làm lợi ích chúng sanh nên bố thí, chứ không phải làm để được hưởng, đời sau hưởng cái này cái nọ.

    Đại Bồ-tát tu hành Phương đẳng đại Niết-bàn, chẳng thấy người bố thí, cũng như chẳng thấy kẻ lãnh thọ và của cải, chẳng thấy thời tiết, chẳng thấy phước điền, hay chẳng phải phước điền, chẳng thấy nhân duyên, quả báo, chẳng thấy người làm kẻ thọ, chẳng thấy nhiều hay ít, tịnh hay bất tịnh, chẳng khinh người lãnh thọ cũng như chẳng khinh thân mình hay của cải, chẳng để ý người ngó thấy hay không ngó thấy, chẳng chấp mình cùng người chỉ vì pháp thường trụ Phương đẳng đại Niết-bàn mà thật hành bố thí, chỉ vì lợi ích tất cả chúng sanh mà thật hành bố thí, vì dứt tất cả phiền não cho chúng sanh mà thật hành bố thí, chỉ vì chúng sanh nên chẳng thấy người thí kẻ thọ cùng của cải, mà thật hành bố thí.

    Đoạn này y hệt trong kinh Kim Cang. Bố thí mà không thấy có mình là hay bố thí, có kẻ thọ thí và có vật bố thí. Mấy năm về trước khi dạy đến đây tôi buồn vì cảm thấy mình làm không được. Thấy rõ ràng có mình bố thí, có người thọ bố thí và có đồ vật bố thí, tại sao Phật nói không thấy? Nhưng bây giờ thấy được mấu chốt rồi thì làm được không khó. Chỉ cần dùng trí tuệ Bát-nhã thấy mình không thật, chúng sanh không thật, đời không thật thì có ai bố thí, ai là người thọ thí, có cái gì là vật đem bố thí? Bố thí mà có trí tuệ đó, gọi là bố thí ba-la-mật. Chỉ có Bát-nhã mới có bố thí ba-la-mật, mới có trì giới ba-la-mật, mới có tinh tấn ba-la-mật, nếu thiếu Bát-nhã thì không có Độ nào được ba-la-mật cả.

    Khi làm việc bố thí, luôn luôn quán chiếu mình, vật, người thọ thí không thật duyên sanh như huyễn, đó là bố thí ba-la-mật. Nghĩa là bố thí đi đôi với trí tuệ.

    Ví như có người té xuống biển lớn, ôm lấy tử thi mà được thoát nạn. Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn lúc thật hành bố thí cũng như ôm lấy tử thi để được vào bờ.

    Ví như có người bị nhốt trong ngục kín, cửa nẻo đều đóng chặt, chỉ có lỗ cầu xí, bèn do nơi đó chui ra mà được thong thả, đại Bồ-tát tu hành đại Niết-bàn lúc thật hành bố thí cũng như vậy.

    Ví như người sang quý phải nạn gấp kinh sợ không có chỗ dựa nương, bèn nương nhờ Chiên-đà-la. Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn thật hành bố thí cũng như vậy.

    Ví như người bệnh nặng, vì muốn được lành mạnh nên uống chất thuốc dơ. Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn thật hành bố thí cũng như vậy.

    Như Bà-la-môn gặp lúc mất mùa đói khát vì mạng sống nên ăn thịt chó, đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn thật hành bố thí cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Trong đại Niết-bàn những việc như vậy, từ vô lượng kiếp đến nay chẳng nghe mà được nghe. Giới luật cùng Thi-la ba-la-mật nhẫn đến Bát-nhã cùng Bát-nhã ba-la-mật, như trong kinh Tạp Hoa đức Phật đã giảng rộng.

    Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn lúc thực hành bố thí, biết của cải đem cho là vật tạm, vô thường, không phải là cái xứng đáng, không phải cứu cánh. Nhưng mượn tạm cái vô thường để đi đến chỗ cứu cánh, như bị rớt xuống biển phải ôm tử thi mà được vào bờ an ổn. Bố thí là pháp sanh diệt, nhưng nương bố thí này để được đại Niết-bàn, cũng như nương nơi lỗ cầu xí là nơi hôi hám dơ dáy để thoát ra khỏi ngục tù...

    Trong kinh Tạp Hoa có nói đầy đủ, đây Phật chỉ tóm lược.

    Này thiện nam tử! Thế nào là Bồ-tát tu đại Niết-bàn chẳng nghe mà được nghe? Mười hai bộ kinh nghĩa lý thâm thúy từ trước chẳng nghe, nay nhân kinh này mà được nghe đầy đủ. Trước dầu được nghe nhưng chỉ nghe danh tự, nay ở kinh này mới đặng nghe nghĩa lý. Thanh văn, Duyên giác chỉ nghe danh tự của mười hai bộ kinh mà chẳng nghe nghĩa lý, nay ở kinh này được nghe đầy đủ. Đây gọi là chẳng nghe mà được nghe.

    Trong tất cả kinh của Thanh văn, Duyên giác chẳng nghe đức Phật có thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng rốt ráo nhập diệt, Tam bảo và Phật tánh không có tướng sai khác, người phạm bốn trọng tội, hủy báng kinh điển Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch và nhất-xiển-đề, tất cả đều có Phật tánh. Nay ở kinh này mà đặng nghe đó. Đây gọi là chẳng nghe mà được nghe.”

    Phật giải thích thêm ý nghĩa chẳng nghe mà được nghe. Các kinh kia chưa từng nói đến những điều này, đến kinh Đại Niết-bàn này Phật mới nói ra gọi là chẳng nghe mà được nghe.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu nhất-xiển-đề v.v... mà có Phật tánh, tại sao bọn họ lại đọa địa ngục?

    Bạch Thế Tôn! Giả sử bọn họ có Phật tánh, sao lại nói là không có thường, lạc, ngã, tịnh?

    Nếu dứt căn lành gọi là nhất-xiển-đề, lúc dứt căn lành tại sao Phật tánh lại chẳng dứt? Phật tánh nếu dứt sao lại nói rằng thường, lạc, ngã, tịnh? Như Phật tánh chẳng dứt sao lại gọi là nhất-xiển-đề?

    Bạch Thế Tôn! Phạm bốn tội nặng gọi là bất định, hủy báng kinh Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch cùng nhất-xiển-đề đều gọi là bất định. Những hạng này nếu quyết định làm sao đặng thành vô thượng Bồ-đề? Tu-đà-hoàn nhẫn đến Bích-chi Phật cũng gọi là bất định, vì nếu quyết định lẽ ra Tu-đà-hoàn nhẫn đến Bích-chi Phật đều chẳng được thành vô thượng Bồ-đề.

    Bạch Thế Tôn! Nếu phạm bốn tội nặng là chẳng quyết định, thời Tu-đà-hoàn nhẫn đến Bích-chi Phật cũng là chẳng quyết định, chư Phật Như Lai cũng lại chẳng quyết định. Như thế, thể tánh Niết-bàn cũng lại chẳng quyết định, tất cả pháp cũng chẳng quyết định. Tại sao chẳng quyết định gọi là nhất-xiển-đề. Trừ nhất-xiển-đề thời thành Phật đạo. Chư Phật Như Lai lẽ ra cũng như vậy, nhập Niết-bàn rồi đáng lẽ cũng lại trở ra chẳng nhập Niết-bàn. Nếu như vầy thời tánh Niết-bàn cũng là chẳng nhất định. Vì chẳng nhất định nên biết chẳng có thường, lạc, ngã, tịnh. Sao lại nói rằng: Nhất-xiển-đề v.v... sẽ đặng Niết-bàn?” 

    Ngài Cao Quý Đức Vương sau khi nghe đức Phật nói nhất-xiển-đề cũng có Phật tánh, cũng sẽ thành Phật thì nghi ngờ và vấn nạn Phật. Nếu nói quyết định thì người đoạn thiện căn kiếp kiếp đời đời không bao giờ thành Phật được. Còn tuy đoạn thiện căn mà có Phật tánh, sau này họ ăn năn hối cải tu hành thì cũng sẽ thành Phật. Như vậy là không quyết định.

    Quyết định là không dời đổi, nghĩa là ở ngay nơi vị của mình hoài không tiến lên được, mà tiến lên tức là bất định. Hay nói cách khác Như Lai thành Phật rồi sau cũng trở lại thành chúng sanh. Bởi vì các pháp đều không quyết định. Đã không quyết định thì nhất-xiển-đề đoạn căn lành nhưng sau cũng thành Phật, và Như Lai là Phật rồi cũng sẽ trở lại thành chúng sanh. Nếu không quyết định thì làm gì có thường. Nếu không có thường thì làm gì có lạc ngã tịnh, sao lại nói rằng nhất-xiển-đề v.v... sẽ được Niết-bàn?

    Đức Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Ông vì muốn lợi ích an lạc chúng sanh, vì lòng từ bi xót thương thế gian, vì muốn sách tấn các Bồ-tát phát Bồ-đề tâm, nên hỏi Phật những điều như vậy.

    Ông đã gần gũi vô lượng chư Phật quá khứ trồng những căn lành, từ lâu đã thành tựu công đức Bồ-đề hàng phục các loài ma, đã giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh đưa họ đến Vô thượng Chánh giác, từ lâu đã thông đạt tạng thâm mật của Như Lai, đã từng đem những nghĩa thâm mật như trên thưa hỏi hằng hà sa chư Phật thuở quá khứ. Tất cả thế gian hoặc người hoặc trời hoặc Sa-môn hoặc Bà-la-môn hoặc ma vương, Phạm vương, ta đều không thấy ai có thể hỏi được như vậy. Ông nên thành tâm lóng nghe.

    Phật không lấy làm bực mình vì mấy câu vấn nạn này mà lại hết sức khen Bồ-tát Cao Quý Đức Vương là hỏi hay bậc nhất.

    Này thiện nam tử! Nhất-xiển-đề cũng chẳng nhất định. Vì nếu nhất định thời nhất-xiển-đề trọn không thể đặng thành Vô thượng Chánh giác. Vì chẳng nhất định nên có thể đặng thành.

    Như ông hỏi: Phật tánh chẳng dứt, sao nhất-xiển-đề lại dứt căn lành?

    Này thiện nam tử! Căn lành có hai thứ: trong và ngoài. Phật tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, nên chẳng dứt.

    Căn lành lại có hai thứ: hữu lậu và vô lậu. Phật tánh chẳng phải hữu lậu vô lậu nên chẳng dứt.

    Lại có hai thứ căn lành: thường và vô thường. Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường nên chẳng dứt.

    Nếu là những thứ bị dứt, thời trở lại đặng. Nếu chẳng trở lại đặng thời gọi là chẳng dứt. Nếu dứt rồi trở lại đặng thời gọi là nhất-xiển-đề. Phạm bốn tội nặng, hủy báng Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch cũng chẳng nhất định như vậy. Vì nếu nhất định thời những hạng này trọn chẳng thể đặng vô thượng Bồ-đề.

    Phật chỉ rõ nhất-xiển-đề không nhất định thì các điều sau cũng đều không nhất định. Căn lành có bên trong bên ngoài, còn Phật tánh không thuộc trong ngoài, cho nên căn lành có dứt mà Phật tánh không dứt. Căn lành hữu lậu vô lậu là đối đãi thuộc về có dứt, Phật tánh không đối đãi cho nên không dứt. Vì căn lành có dứt nên có được, còn Phật tánh chẳng có được nên chẳng dứt. Phật muốn nói những pháp của nhất-xiển-đề đều là bất định, bởi bất định nên từ nhất-xiển-đề trở thành Phật.

    Sắc cùng tướng của sắc, hương, vị, xúc, sanh đến vô minh, ấm, nhập, giới, hai mươi lăm cõi, bốn loài sanh, tất cả pháp cũng đều không có tướng nhất định.

    Ví như nhà ảo thuật ở trong đại chúng biến hóa làm quân lính, chuỗi ngọc đồ trang sức, xóm làng, thành ấp, rừng cây, suối, ao, sông, giếng. Trong đại chúng có bọn trẻ thơ vì không đủ trí, nên lúc xem coi cho đó là thật. Người trí biết đó là hư dối, do sức ảo thuật làm lầm mắt người.

    Tất cả phàm phu nhẫn đến Thanh văn, Bích-chi Phật, đối với tất cả pháp thấy có tướng nhất định. Chư Phật Bồ-tát đối với tất cả pháp chẳng thấy tướng nhất định.

    Ví như mùa hạ thấy ánh nắng gợn, trẻ thơ cho là nước. Người trí trọn chẳng nhận là nước thật, chỉ là ánh nắng gợn làm lầm mắt người.

    Tất cả phàm phu, Thanh văn Duyên giác thấy tất cả pháp đều cho là thật. Chư Phật, Bồ-tát chẳng thấy có tướng nhất định.

    Ví như khe núi, do tiếng mà có vang. Trẻ thơ cho là thật tiếng. Người trí hiểu là không thật, chỉ có tướng tiếng phỉnh dối nơi nhĩ thức.

    Tất cả phàm phu, Thanh văn Duyên giác đối với tất cả pháp thấy có tướng nhất định. Chư Phật, Bồ-tát hiểu rõ đều không tướng nhất định, thấy là tướng vô thường, tướng không tịch, tướng không sanh diệt. Do nghĩa này, đại Bồ-tát thấy tất cả pháp là tướng vô thường.

    Này thiện nam tử! Cũng có định tướng, chính là thường, lạc, ngã, tịnh nơi quả đại Niết-bàn.

    Đây là trả lời tổng quát tất cả pháp hữu lậu hữu vi đều không nhất định vì đều hư giả chẳng khác như huyễn thuật. Chỉ có trẻ thơ mới cho các pháp này là thật. Người trí thấy nó là không thật, là huyễn hóa cho nên đều nói là không quyết định.

    Thanh văn Nhị thừa còn thấy có hai bên, thấy có sanh tử khác Niết-bàn nên thấy có tướng nhất định. Còn Bồ-tát thấy tất cả như sóng nắng, tiếng vang... không thật, cho nên là bất định. Phật xác định lại tất cả tướng đều không nhất định.

    Tất cả pháp thế gian thuộc về hữu vi hữu lậu đều không có tướng nhất định, chỉ có đại Niết-bàn hay Phật tánh mới nhất định. Vì sao? Vì bất sanh bất diệt. Như vậy tất cả pháp thế gian, xuất thế gian trong tương đối cũng đều không nhất định, chỉ có đại Niết-bàn hay Phật tánh vượt ra ngoài đối đãi mới gọi là nhất định.

    Này thiện nam tử! Quả Tu-đà-hoàn cũng chẳng quyết định, vì chẳng quyết định nên trải qua tám muôn kiếp đặng Vô thượng Chánh giác. Quả Tư-đà-hàm cũng chẳng quyết định, vì trải qua sáu muôn kiếp đặng Vô thượng Chánh giác. Quả A-na-hàm cũng chẳng quyết định, vì trải qua bốn muôn kiếp đặng Vô thượng Chánh giác. Quả A-la-hán cũng chẳng quyết định, vì trải qua hai muôn kiếp đặng Vô thượng Chánh giác.

    Bích-chi Phật cũng chẳng quyết định, vì trải qua mười ngàn kiếp đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Các quả của hàng Nhị thừa đều chưa quyết định. Vì sau nhiều muôn kiếp sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

    Này thiện nam tử! Hôm nay Như Lai ở trong rừng ta-la song thọ nơi thành Câu-thi-na, thị hiện nằm dựa trên giường sư tử sắp nhập Niết-bàn, làm cho chúng đệ tử chưa chứng quả A-la-hán cùng các lực sĩ rất lo rầu, cũng làm cho trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu- la-già v.v... trần thiết đồ cúng dường. Muốn khiến mọi người dùng ngàn bức vải lông vấn thân Như Lai, bảy báu làm quan tài, đựng đầy dầu thơm, chất những gỗ thơm để thiêu đó. Chỉ trừ hai thứ chẳng thể cháy được: một là y lót mình, hai là lớp vải vấn phía ngoài hết. Vì chúng sanh nên phân chia xá-lợi làm tám phần.

    Tất cả hàng Thanh văn đệ tử đều cho rằng đức Như Lai nhập Niết-bàn. Phải biết đức Như Lai cũng chẳng quyết định rốt ráo nhập Niết-bàn, vì đức Như Lai thường trụ chẳng biến đổi. Do nghĩa này nên đức Như Lai nhập Niết-bàn cũng chẳng nhất định.

    Này thiện nam tử! Nên biết Như Lai cũng chẳng quyết định. Như Lai chẳng phải Thiên. Có bốn hạng thiên: Một là Thế gian thiên, hai Sanh thiên, ba là Tịnh thiên, bốn Nghĩa thiên.

    Thế gian thiên, lệ như các vị quốc vương. Từ Tứ thiên vương nhẫn đến trời Phi tưởng phi phi tưởng gọi là Sanh thiên. Từ Tu-đà-hoàn đến Bích-chi Phật gọi là Tịnh thiên. Thập trụ Bồ-tát v.v... gọi là Nghĩa thiên, vì có thể hiểu rõ nghĩa của các pháp, chính là thấy nghĩa không của tất cả pháp.

    Này thiện nam tử! Như Lai chẳng phải Quốc vương, chẳng phải Tứ thiên vương, nhẫn đến trời Phi phi tưởng, cũng chẳng phải Tu-đà-hoàn, Bích-chi Phật, Thập trụ Bồ-tát. Do đây nên Như Lai chẳng phải Thiên. Mặc dầu như vậy, nhưng chúng sanh cũng gọi Phật là Thiên trung thiên. Vì thế nên Như Lai chẳng phải là Thiên cũng chẳng phải là chẳng phải Thiên, chẳng phải là người cũng chẳng phải là chẳng phải người, chẳng phải là quỷ cũng chẳng phải là chẳng phải quỷ, chẳng phải là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, cũng chẳng phải là chẳng phải địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, chẳng phải là chúng sanh cũng chẳng phải là chẳng phải chúng sanh, chẳng phải là pháp cũng chẳng phải là chẳng phải pháp, chẳng phải là sắc cũng chẳng phải là chẳng phải sắc, chẳng phải là dài, vắn cũng chẳng phải là chẳng phải dài, vắn. Chẳng phải là tướng cũng chẳng phải là chẳng phải tướng, chẳng phải là tâm cũng chẳng phải là chẳng phải tâm, chẳng phải là hữu lậu, chẳng phải là vô lậu, chẳng phải là hữu vi, chẳng phải là vô vi, chẳng phải là thường, chẳng phải là vô thường, chẳng phải là huyễn hóa cũng chẳng phải là chẳng phải huyễn hóa, chẳng phải là danh cũng chẳng phải là chẳng phải danh, chẳng phải là định cũng chẳng phải là chẳng phải định, chẳng phải có không cũng chẳng phải là chẳng phải có không, chẳng phải ngôn thuyết cũng chẳng phải là chẳng phải ngôn thuyết, chẳng phải Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải Như Lai. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng quyết định.

    Này thiện nam tử! Cớ sao Như Lai chẳng gọi là Thế gian thiên? Thế gian thiên chính là của vị Quốc vương. Đức Như Lai từ vô lượng kiếp đã bỏ ngôi Quốc vương, cho nên Như Lai chẳng phải là Quốc vương. Như Lai giáng sanh nơi nhà vua Tịnh Phạn tại thành Ca-tỳ-la-vệ, nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải Quốc vương.

    Như Lai từ lâu đã lìa khỏi các cõi, nên chẳng phải là Sanh thiên. Như Lai lên trời Đâu-suất xuống Diêm-phù-đề, nên chẳng phải là chẳng phải Sanh thiên.

    Như Lai chẳng phải Tu-đà-hoàn nhẫn đến Bích-chi Phật, nên Như Lai chẳng phải là Tịnh thiên.

    Tám pháp trong đời chẳng ô nhiễm được, dường như liên hoa chẳng dính bụi, nước, nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải Tịnh thiên.

    Như Lai chẳng phải là Thập trụ Bồ-tát, nên Như Lai chẳng phải là Nghĩa thiên. Như Lai thường tu mười tám nghĩa không, nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải Nghĩa thiên.

    Như Lai chẳng phải là người vì Như Lai từ vô lượng kiếp đã lìa quả báo người. Như Lai giáng sanh thành Ca-tỳ-la nên chẳng phải là chẳng phải người.

    Như Lai chẳng phải là quỷ vì chẳng hại tất cả chúng sanh. Như Lai cũng dùng thân quỷ để hóa độ chúng sanh nên chẳng phải là chẳng phải quỷ.

    Như Lai chẳng phải là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ vì từ lâu đã lìa ác nghiệp, cũng hiện thọ thân trong ác đạo để giáo hóa chúng sanh, nên Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.

    Như Lai chẳng phải là chúng sanh vì từ lâu đã lìa tánh chúng sanh.

    Có lúc Như Lai diễn thuyết chúng sanh, nên cũng chẳng phải là chẳng phải chúng sanh.

    Các pháp mỗi mỗi đều có tướng sai khác, Như Lai chỉ có một tướng, nên chẳng phải là pháp. Như Lai là pháp giới nên cũng chẳng phải là chẳng phải pháp.

    Như Lai chẳng nhiếp trong mười sắc pháp, nên chẳng phải là sắc.

    Thân Như Lai có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nên chẳng phải là chẳng phải sắc.

    Vì dứt tất cả sắc nên Như Lai chẳng phải là cao. Tất cả thế gian không ai thấy được đỉnh đầu của Như Lai, nên chẳng phải là chẳng phải cao.

    Từ lâu đã xa lìa kiêu mạn, nên Như Lai chẳng phải là thấp. Vì độ trưởng giả Cù-sư-la, Như Lai hiện thân ba thước, nên chẳng phải là chẳng phải thấp.

    Từ lâu đã xa lìa các hình tướng, nên Như Lai chẳng phải là tướng. Như Lai biết rành tất cả tướng, nên chẳng phải là chẳng phải tướng.

    Như Lai rỗng rang như hư không, nên chẳng phải là tâm. Vì Như Lai có mười tâm trí lực, cũng có thể rõ biết tâm của chúng sanh, nên cũng chẳng phải là chẳng phải tâm.

    Vì Như Lai là thường, lạc, ngã, tịnh, nên chẳng phải là hữu vi. Như Lai thị hiện có đến, đi, ngồi, nằm cùng thị hiện Niết-bàn nên chẳng phải là vô vi.

    Vì có thân phần đoạn nên Như Lai chẳng phải là thường. Lại vì có biết, vì có nói năng, vì có họ tên, vì có cha mẹ, vì có bốn oai nghi, vì có nơi chỗ, do đây nên Như Lai chẳng phải là thường. Phàm pháp có sanh gọi là vô thường. Như Lai là vô sanh nên chẳng phải là chẳng phải thường. Phàm pháp thường trụ thời khắp tất cả chỗ như hư không, không chỗ nào không có, Như Lai khắp tất cả chỗ cũng như vậy nên là thường. Những pháp vô thường thời chỗ này có, chỗ kia không, Như Lai chẳng như vậy nên là thường. Pháp vô thường thời có lúc có, lúc không, Như Lai chẳng như vậy nên là thường. Pháp thường trụ không danh, sắc, không nhân, không quả, Như Lai cũng như vậy nên là thường. Pháp thường trụ chẳng nhiếp trong thời gian ba đời, Như Lai cũng như vậy nên là thường.

    Vì dứt tất cả tâm luống dối, nên Như Lai chẳng phải là huyễn hóa. Như Lai có lúc chia một thân làm vô lượng thân, vô lượng thân hiệp làm một thân, đi thẳng qua núi qua vách không bị chướng ngại, đi trên nước như đất, vào trong đất như nước, đi trên hư không như đất bằng, thân tuôn ra khói lửa, hực hỡ như đống lửa, hiện tiếng mây sấm chấn động, hoặc hiện làm thành ấp, xóm làng nhà cửa, núi sông cây cối, hoặc hiện thân to lớn, hoặc thân nhỏ, thân nam, thân nữ, thân đồng nam, thân đồng nữ, vì thế nên Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải huyễn hóa.

    Trong rừng ta-la nơi thành Câu-thi-na, Như Lai thị hiện nhập Niết-bàn vì thế nên Như Lai chẳng phải quyết định. Do vì thường, lạc, ngã, tịnh nên Như Lai lại cũng chẳng phải là chẳng quyết định.

    Vì đã dứt ba thứ lậu: một là dục lậu tức là tất cả phiền não ở Dục giới trừ vô minh; hai là hữu lậu tức là tất cả phiền não Sắc giới và Vô sắc giới trừ vô minh; ba là vô minh lậu tức là vô minh trong tam giới. Vì thế nên Như Lai chẳng phải hữu lậu.

    Tất cả phàm phu đối với đời vị lai đều có tâm nghi: Trong đời vị lai sẽ có thân hay chẳng có thân? Trong đời quá khứ thân vốn có hay là vốn không? Trong đời hiện tại thân này có hay thân này không? Nếu có ngã, thời ngã ấy là sắc hay là chẳng phải sắc? Là tưởng hay chẳng phải tưởng? Thân này thuộc về cái khác hay chẳng thuộc? Là có mạng có thân hay có thân không mạng? Thân cùng mạng là thường hay vô thường? Thân cùng mạng do Tự Tại thiên tạo ư? Thời tiết tạo ư? Vô nhân tạo ư? Thế tánh tạo ư? Vi trần tạo ư? Pháp cùng phi pháp tạo ư? Sĩ phu tạo ư? Phiền não tạo ư? Cha mẹ tạo ư? Ngã ở nơi tâm hay ở nơi nhãn? Ngã khắp đầy trong thân ư? Ngã từ đâu đến, đi đến chỗ nào? Ai sanh ai chết? Ngã thuở quá khứ là chủng tánh nào? Đời vị lai sẽ thuộc chủng tánh nào? Thuở quá khứ, thân này của ta là nam hay nữ? Nếu ta sát sanh sẽ phải tội hay không tội? Nhẫn đến uống rượu sẽ có tội hay không tội? Ta tự gây tạo hay vì người mà gây tạo? Ngã thọ báo hay thân thọ báo?

    Vô lượng điều nghi chấp như vậy che đậy chúng sanh làm cho tâm phiền muộn. Do những điều nghi chấp này sanh ra sáu thứ quan niệm: một là quyết định có ngã; hai là quyết định không ngã; ba là ngã thấy là ngã; bốn là ngã thấy là không ngã; năm không ngã thấy là ngã; sáu là ngã làm ngã thọ, ngã biết. Những quan niệm trên đây gọi là tà kiến.

    Hôm nay Phật thị hiện nhập Niết-bàn làm đệ tử chưa chứng A-la-hán cũng rúng động, trời người lo buồn, bày lễ cúng dường, lo sắm sửa vải gỗ... trà-tỳ.

    Nhưng Như Lai không quyết định rốt ráo nhập Niết-bàn. Như Lai không phải trời, không phải quốc vương, không phải Thanh văn, Bích-chi, Bồ-tát Thập trụ... nhưng được gọi là Thiên trung thiên.

    Như Lai cũng là trời mà cũng chẳng phải là trời, Như Lai là quỷ cũng chẳng phải là quỷ, là Bồ-tát cũng chẳng phải là Bồ-tát v.v... Tại sao? Vì thân hiện nhập Niết-bàn đây là hóa thân, còn Như Lai là chỉ cho pháp thân. Đối với pháp thân thì tất cả những tướng thị hiện đều chẳng phải, về hóa thân thì đều là phải. Cho nên vì muốn độ loài quỷ nên hóa làm quỷ để hóa độ chứ không phải là quỷ, độ người thì hóa làm người cũng không phải người... Pháp thân thì không phải tất cả, còn hóa thân là tùy duyên hóa độ nên cái gì cũng phải.

    Chúng ta cũng vậy, vì Phật tánh không sanh diệt nên không phải địa ngục, thiên đường, hay người v.v... Do nghiệp duyên huân tập mà chúng ta hiện ra thân người, thân địa ngục, thân ngạ quỷ, thân trời... đủ cả, nên nói Phật tánh lăn lộn trong sáu đường. Tuy lăn lộn trong sáu đường nhưng Phật tánh vẫn là Phật tánh.

    Tất cả cái nghi của phàm phu là nghi thân, nghi mạng, nghi từ đâu mà sanh, từ đâu mà đến... Phật kết luận, vô lượng điều nghi chấp như vậy che đậy làm cho tâm phiền muộn. Do những điều nghi chấp này sanh ra sáu thứ quan niệm. Đây cũng là sáu tà chấp mà lúc xưa ở Ấn Độ cho là quan trọng.

    Một là quyết định có ngã, hai là quyết định không ngã, ba là ngã thấy là ngã, bốn là ngã chẳng thấy là ngã, năm là không ngã thấy là ngã. Sáu là ngã thọ, ngã biết. Đó là sáu quan niệm chấp về ngã. Những quan niệm này đều thuộc về tà kiến. Vì lỗi tại quyết định, quyết định là không, quyết định là có, quyết định là một, quyết định là khác... Tất cả pháp thế gian đều không quyết định mà chấp quyết định nên thành một rừng tà kiến.

    Như Lai đã dứt hẳn vô lượng cội gốc tà kiến hữu lậu như vậy, nên Như Lai chẳng phải hữu lậu. Đại Bồ-tát tu thánh hạnh đại Niết-bàn cũng dứt hẳn được những lậu như vậy. Chư Phật thường tu thánh hạnh nên là vô lậu.

    Này thiện nam tử! Phàm phu chẳng thể khéo nhiếp năm căn thời có ba thứ lậu, bị nghiệp ác kéo dắt đến nơi chỗ chẳng lành. Ví như ngựa dữ tánh hung hăng, có thể làm cho người cưỡi đến chỗ hiểm nạn. Người không khéo nhiếp năm căn cũng như vậy, có thể làm cho người đó xa lìa pháp lành đến những chỗ ác.

    Ví như voi dữ chưa điều thuận, người cưỡi nó chẳng thể tùy ý, nó đưa người xa lìa thành ấp đến nơi rừng sâu. Chẳng khéo điều nhiếp năm căn nó sẽ dắt người xa lìa thành ấp Niết-bàn đến nơi rừng rậm sanh tử. Ví như tôi nịnh bảo vua làm ác, như đứa con hư chẳng tuân lời dạy của cha mẹ sư trưởng, chẳng khéo nhiếp ngũ căn nó sẽ khiến người làm ác chẳng thuận pháp lành.

    Như Lai không còn là hữu lậu, nên không mắc kẹt trong quyết định tà kiến. Phật giải thích, Phật Bồ-tát tu đại Niết-bàn đã dứt hẳn hữu lậu nên là vô lậu. Người không giữ năm căn mắt tai mũi lưỡi thân thì sẽ bị lôi đến chỗ chẳng lành. Ví dụ thứ nhất, như người cưỡi con ngựa dữ tánh hung hăng, có thể đưa đến chỗ hiểm nạn. Ví dụ thứ hai, như giữ con voi dữ chưa có điều thuận, thế nào nó cũng mang mình vào tận rừng sâu. Cũng vậy, nếu không điều phục, không khéo gìn giữ năm căn thì nó sẽ theo nghiệp ác lôi chúng ta tới những chỗ đau khổ, tức là xa lìa thành Niết-bàn đến với rừng rậm sanh tử. Ví dụ thứ ba, như vua gần gũi với nịnh thần thì thế nào rồi có ngày cũng bị mất ngôi. Ví dụ thứ tư, như đứa con không nghe lời cha mẹ dạy dỗ, tức là đứa con hư, thế nào sau này nó cũng chịu khổ.

    Phàm phu chẳng nhiếp ngũ căn thường bị địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ tàn hại, như giặc cướp hại người lành.

    Phàm phu chẳng nhiếp ngũ căn chạy theo ngũ trần, như người chăn trâu chẳng khéo giữ gìn để trâu làm hại lúa mạ.

    Phàm phu chẳng nhiếp ngũ căn nên thường ở trong ba cõi chịu nhiều sự khổ não.

    Đại Bồ-tát lúc tu thánh hạnh đại Niết-bàn, thường có thể khéo nhiếp ngũ căn, dứt trừ tham dục, sân khuể, ngu si, kiêu mạn, tật đố, để được thành tựu tất cả pháp lành.

    Nếu người có thể khéo giữ gìn ngũ căn thời nhiếp được tâm, nếu nhiếp được tâm thời nhiếp ngũ căn. Ví như có người ủng hộ quốc vương thời là ủng hộ quốc gia, ủng hộ quốc gia thời là ủng hộ quốc vương.

    Phàm phu chẳng nhiếp ngũ căn chạy theo ngũ trần, như người chăn trâu chẳng khéo giữ gìn để trâu mình làm hại lúa mạ. Nghĩa là năm căn chạy theo năm trần ở ngoài như trâu dữ chạy trên lúa mạ người. Nếu biết điều phục được năm căn thì sẽ dứt được các căn bản phiền não là tham, sân, si, mạn, tật đố. Tâm loạn là do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà ra. Nếu khéo gìn giữ được năm căn không chạy theo năm trần ở ngoài thì tâm cũng dễ được yên.

    Đại Bồ-tát nếu đặng nghe kinh Đại Niết-bàn này thời được trí huệ vì được trí huệ thời được chuyên niệm. Nếu ngũ căn tán loạn thời chánh niệm có thể nhiếp dừng lại, vì là niệm huệ vậy. Như người chăn giỏi, giả sử trâu sút dây đi ăn lúa mạ của người thời liền bắt lại. Nhờ niệm huệ, nên đại Bồ-tát thâu nhiếp ngũ căn chẳng cho tán loạn. Nhờ có niệm huệ nên đại Bồ-tát chẳng thấy ngã tướng, chẳng thấy tướng ngã sở, chẳng thấy chúng sanh cùng chỗ thọ dụng. Thấy tất cả pháp đồng là pháp tánh, sanh ra tướng đất đá ngói sạn.

    Nghe kinh Đại Niết-bàn thì được trí tuệ, được trí tuệ thì được chuyên niệm . Như kinh Đại Niết-bàn, Phật phân tích cho chúng ta thấy tất cả pháp hữu vi, hữu lậu đều là bất định, là như huyễn như hóa, không thật. Nhìn tất cả cũng đều biết như vậy là tâm luôn luôn có chuyên niệm, có trí tuệ.

    Nếu ngũ căn tán loạn chạy theo trần cảnh, do chánh niệm tức là niệm tuệ biết căn trần là huyễn thì liền dừng lại được. Chúng ta tu nên lấy trí tuệ Bát-nhã làm đầu. Như người chăn giỏi, nếu trâu sút dây đi ăn lúa mạ của người liền bắt lại. Tuy nó có chạy rông nhưng vẫn nắm mũi lôi nó được. Năm căn tán loạn mà có niệm huệ thì cũng trừ được.

    Nhờ có niệm huệ nên đại Bồ-tát chẳng thấy ngã tướng, chẳng thấy tướng ngã sở, chẳng thấy chúng sanh cùng chỗ thọ dụng. Vì có trí tuệ Bát-nhã nên thấy thân người là do ngũ uẩn hợp, không thật, tất cả sự vật cũng do tứ đại hợp không thật. Do đó nên thấy người năng thí, kẻ thọ thí và vật đem ra thí đều là huyễn hóa không thật. Đó là không thấy có mình, có người, có vật. Hiểu kinh điển Đại thừa rồi thì tin mình làm được.

    Thấy tất cả pháp đồng là pháp tánh, sanh ra tướng đất đá ngói sạn. Tức là thấy tất cả pháp như huyễn không thật, đều từ pháp thân biến hiện nên đồng pháp tánh. Từ pháp thân biến hiện ra tướng đất đá ngói sạn...

    Như nhà cửa do nhiều duyên hiệp lại thành không có tánh nhất định. Thấy chúng sanh do tứ đại, ngũ ấm hiệp thành không tánh quyết định. Vì không tánh quyết định nên Bồ-tát ở trong đó chẳng sanh tham đắm. Tất cả phàm phu vì thấy có chúng sanh nên khởi phiền não. Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn vì có niệm huệ nên đối với chúng sanh chẳng sanh tham trước.

    Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn chẳng chấp trước tướng chúng sanh mà hiện làm ra những pháp tướng. Như thợ vẽ dùng các thứ màu vẽ thành những hình tượng: hoặc nam, hoặc nữ, hoặc trâu, hoặc ngựa. Phàm phu không trí huệ thấy đó thời cho rằng có tướng nam nữ v.v... Thợ vẽ rõ biết không có nam nữ. Cũng vậy vì có niệm huệ nên đại Bồ-tát đối với tướng sai khác của các pháp thấy là một tướng, trọn chẳng thấy tướng chúng sanh.

    Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn vì khéo quan sát pháp tướng nên lúc thấy nam nữ đoan chánh trọn chẳng sanh lòng tham trước.

    Chúng sanh thấy tất cả mọi người là thật nên sanh ra phiền não. Bồ-tát có niệm huệ là biết các pháp không có tính nhất định, như huyễn nên không tham đắm. Không chấp trước tướng chúng sanh là thật nhưng giúp ích họ được những gì thì cứ làm.

    Thấy một tướng tức là không tướng, chỉ là tướng không cố định, nên không thấy thật có chúng sanh. Khéo quán sát pháp tướng là nhìn vào mọi hình thức biết là duyên hợp như huyễn. Vì quán sát luôn như vậy nên dù gặp người nam đẹp người nữ đẹp cũng không bị đắm trước, biết đó là ảo mộng huyễn hóa có gì đâu mà mê? Vì vậy nên dứt được tâm tham đắm.

    Đại Bồ-tát biết ngũ dục không có thật vui, chẳng tạm dừng, như chó gặm xương khô, như người cầm lửa đi ngược gió, như rắn độc đựng trong trấp, như trong chiêm bao lượm được trái cây trên đường, như khối thịt bầy chim đuổi theo, như bóng nước, như dấu vẽ trong nước, như dệt hết đường canh chỉ, như người tù dắt ra chợ, như vật mượn tạm. Bồ-tát quan sát ngũ dục nhiều lỗi ác như vậy.

    Đại Bồ-tát quan sát chúng sanh vì sắc, hương, vị, xúc, nên từ vô lượng kiếp đến nay, chịu nhiều khổ não. Trong một kiếp, mỗi chúng sanh, xương nơi thân chất như thành Vương Xá, như núi Tỳ-phú-la. Uống sữa mẹ nhiều như nước trong bốn biển. Máu trong thân chảy ra nhiều hơn nước bốn biển. Nước mắt khóc người chết của cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, nhiều hơn nước bốn biển. Dùng tất cả cỏ cây trên mặt đất làm thẻ dài hơn bốn tấc để đếm cha mẹ cũng không thể hết. Từ vô lượng kiếp, hoặc ở địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ chẳng thể tính đếm. Vò quả đất này bằng trái táo còn có thể dễ hết, nhưng sanh tử rất khó hết.

    Đại Bồ-tát quán sát tất cả chúng sanh vì ngũ dục mà chịu vô lượng sự khổ như vậy, do đây Bồ-tát chẳng mất niệm huệ.

    Như chó gặm xương khô đâu có ăn gì được chỉ là nhai hưởng chút mùi thôi, dục của thế gian cũng vậy.

    Như người cầm lửa đi ngược gió bị phỏng tay không có lợi gì hết, chỉ là tai họa.

    Như rắn độc đựng trong trấp. Như trong rương có bốn năm con rắn hổ, đưa tay vô thì nó mổ.

    Như trong chiêm bao lượm được trái cây trên đường. Trong chiêm bao lượm được trái xoài hay trái ổi ngon quá, giật mình thức dậy thành không.

    Như khối thịt bầy chim đuổi theo. Như một miếng thịt thối, bao nhiêu con vật đuổi theo để giành.

    Như bóng nước, như lằn vẽ trong nước, như dệt hết đường canh chỉ, tức là khi dệt tới cùng rồi thì không còn lối để dệt nữa.

    Như người tù bị dắt ra chợ, không thấy vui chỉ thấy càng tủi nhục thôi.

    Như vật mượn tạm của người khác rồi sau đó cũng bị người ta đòi về, không có cái gì thật. Bởi Bồ-tát luôn thấy ngũ dục có những lỗi, tạm bợ nên các ngài không mến không thích.

    Những hình ảnh trên mô tả sự sanh tử không thể tính đếm được của chúng sanh chỉ vì chạy theo sáu trần mà chịu mang nhiều thân xác, chịu nhiều sanh ly tử biệt, chưa kể chịu bao nhiêu thống khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

    Vì vậy mà Bồ-tát biết lúc nào phải biết quán sát nguy hiểm của ngũ dục, chẳng mất niệm huệ là nhớ các pháp như huyễn không thật để không bị nhiễm ngũ dục như chúng sanh.

    Ví như trong đời có nhóm người đông đầy chật hai mươi lăm dặm. Vua truyền một quan chức cầm một chén dầu đầy đi qua giữa đám đông ấy mà không được làm đổ, nếu đổ rơi một giọt sẽ bị tội chết. Vua lại sai một người cầm gươm theo sau nếu thấy dầu đổ thời chém. Vì sợ chết, nên quan chức ấy hết lòng gìn giữ chén dầu, đi qua khỏi đám đông chẳng làm đổ một giọt.

    Cũng vậy, đại Bồ-tát ở trong sanh tử chẳng mất niệm huệ, nên dầu thấy ngũ dục mà tâm không tham trước. Lúc bấy giờ ngũ căn của Bồ-tát thanh tịnh, vì ngũ căn thanh tịnh nên giữ gìn giới căn đầy đủ.

    Tất cả phàm phu ngũ căn chẳng thanh tịnh chẳng khéo giữ gìn nên gọi là căn lậu. Bồ-tát đã dứt hẳn nên là vô lậu. Như Lai đã dứt hẳn cội gốc nên chẳng phải là lậu.

    Cũng ví dụ đó nhưng kinh A-hàm lấy chén dầu dụ cho pháp Tứ niệm xứ, nghĩa là phải giữ pháp tu của mình không dám sai hở như giữ chén dầu. Nếu đổ một chút thì quỷ vô thường đã chực sẵn, nghĩa là sơ hở phút giây nào thì cái chết đến với mình phút giây đó. Bồ-tát học Đại thừa, học Niết-bàn lúc nào cũng phải dùng trí tuệ Bát-nhã, gìn giữ chánh niệm hay niệm huệ của mình chăm chăm, như gìn giữ chén dầu không dám làm đổ, vì đổ thì chết. Phải ráng giữ như vậy thì không bị sanh tử lôi.

    Không nhiễm ngũ dục thì năm căn thanh tịnh, giới đức đầy đủ. Tuy giới có rất nhiều, nhưng không nhiễm ngũ dục thì mình đã giữ đủ hết giới. Sở dĩ chúng ta nhiễm ngũ dục nên Phật mới chế nhiều giới.

    Căn lậu tức là còn luân hồi. Bồ-tát đã dứt hẳn nên các ngài vô lậu, không còn luân hồi nữa.

    Này thiện nam tử! Lại có ly lậu. Đại Bồ-tát vì muốn được quả Phật vô thượng cam lồ nên lìa các ác lậu.

    Nếu có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn, biên chép, thọ trì, đọc tụng, giải thuyết, tư duy ý nghĩa, đây gọi là xa lìa.

    Tức là xa lìa các ác lậu.

    Này thiện nam tử! Ta chẳng thấy trong mười hai bộ kinh có kinh nào lìa được các ác lậu như kinh Đại thừa đại Niết-bàn này.

    Ví như ông thầy giỏi dạy các đồ đệ, trong hàng đồ đệ người thuận theo lời thầy dạy thời chẳng gây tạo việc ác.

    Cũng vậy đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thời tâm chẳng gây tạo nghiệp ác.

    Ví như trong đời có người giỏi chú thuật, nếu ai một lần nghe được chú này trong bảy năm chẳng bị trúng độc, rắn độc chẳng cắn được, nếu có người tụng thuộc chú này thời trọn đời không có những sự họa hại. Cũng vậy, nếu có chúng sanh một lần nghe kinh Đại Niết-bàn này thời trọn bảy kiếp chẳng bị đọa ác đạo. Nếu có người biên chép, đọc tụng, giải thuyết, tư duy ý nghĩa, thời quyết định thấy Phật tánh đặng vô thượng Bồ-đề.

    Kinh Đại Niết-bàn này có vô lượng công đức như vậy. Nếu người nào biên chép, đọc tụng, giải thuyết, tư duy ý nghĩa của kinh này, thời thật là đệ tử Phật, khéo lãnh thọ giáo pháp của Phật, là người mà Phật thường thấy, thường nhớ, là người biết rõ Phật chẳng nhập Niết-bàn. Người này ở tại chỗ nào thời Phật cũng ở trong đó.

    Ác lậu tức là các ác làm chúng ta luân hồi.

    Nếu biên chép, đọc tụng, giải nói, tư duy kinh này rồi, chúng ta sẽ thấy rõ Phật tánh, pháp thân không có sanh diệt và biết rõ Phật không nhập Niết-bàn. Phật sẽ thường thấy, thường nhớ mình, chúng ta ở đâu thì Phật cũng ở ngay đó. Vì chúng ta nhận được Phật tánh nên Phật luôn ở nơi mình.

    Thường nhận sự cúng dường của người này, hoặc hiện làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Bà-la-môn, Phạm chí, người nghèo khổ ăn xin. Người này hoặc ở trong chiêm bao thấy tượng Phật, hoặc thấy trời, thấy Sa-môn, thánh vương, quốc vương, sư tử vương, hoa sen, hoa ưu-đàm, hoặc thấy núi cao, biển lớn, mặt trời, mặt trăng, hoặc thấy bạch tượng, bạch mã, hoặc thấy cha mẹ, đặng bông, đặng trái, vàng bạc, lưu ly, pha lê những châu báu, thấy sữa, lạc, tô, đề hồ v.v... nên biết chính là Như Lai nhận sự cúng dường. Người này sau khi tỉnh giấc vui mừng liền đặng những đồ vật cần dùng, tâm chẳng nghĩ điều ác, thích thật hành điều lành.

    Này thiện nam tử! Kinh Đại Niết-bàn có vô lượng vô số công đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy, nay ông phải tin lấy lời của Phật.

    Nếu người nào muốn thấy Phật, muốn cung kính Phật, muốn đồng pháp tánh mà thấy Phật, muốn đặng không định, muốn thấy thật tướng, muốn tu tập Thủ-lăng-nghiêm định, Sư tử vương định, muốn phá tám ma: phiền não, ngũ ấm, tử ma, thiên ma, vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, muốn đặng hưởng vui trong loài người hay trên trời, thời phải qua gần gũi học hỏi, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán người thọ trì đọc tụng, biên chép, giải thuyết, tư duy ý nghĩa kinh Đại Niết-bàn, rửa tay chân cho người đó, trải giường chiếu cung cấp đầy đủ tất cả đồ cần dùng. Nếu người đó từ xa đến, phải ra rước ngoài mười do-diên. Vì tôn trọng kinh Đại Niết-bàn nên đem tất cả vật nhu dụng dâng cúng cho người đó. Nếu không có, phải tự bán thân mình để mua sắm. Vì kinh này khó được gặp hơn hoa ưu-đàm.

    Những người đối với kinh Đại Niết-bàn biết suy nghĩ, đọc tụng, giải thuyết và tư duy đúng ý nghĩa, người đó sẽ được phước đức như vậy.

    Kinh Đại Niết-bàn rất quý báu nên người nào y theo kinh tu, y theo kinh mà giáo hóa người khác thì công đức vô lượng vô biên. Vì vậy nên người biết thành kính hướng về kinh Đại Niết-bàn thì phải biết quý trọng người chuyên tu, người chuyên truyền bá kinh Đại Niết-bàn. Phật muốn chúng ta thấy rõ giá trị cụ thể đó nên ngài dẫn sự tích thuở xưa của ngài.

    Này thiện nam tử! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng vô biên na-do-tha kiếp, thuở đó có cõi nước hiệu là Ta-bà, Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni đầy đủ mười hiệu, vì hàng đại chúng tuyên nói kinh Đại Niết-bàn. Thuở đó ta được nghe kinh này nơi các người bạn. Lòng ta vui mừng muốn sắm đồ cúng dường, nhưng vì quá nghèo thiếu nên không có một vật chi đáng giá. Ta tự đem thân đi bán, nhưng vì bạc phước nên chẳng ai chịu mua. Buồn tủi trở về nhà, giữa đường ta gặp một người, bèn đem tâm sự bày tỏ. Người ấy bảo ta: Nếu ông bằng lòng làm theo nhu cầu của người thời người sẽ mua với giá năm đồng tiền vàng. Người ấy có bệnh lạ y sĩ chế thuốc mỗi ngày cần có ba lượng thịt người. Ta vui mừng nhận lời yêu cầu. Người đó trả tiền trước, sau bảy ngày ta sẽ đến nhà để theo đúng nhu cầu của người. Người ấy bằng lòng nhưng chỉ cho một ngày vì bệnh người phải gấp dùng thuốc.

    Sau khi lãnh tiền ta liền đến chỗ Phật đảnh lễ chân Phật, rồi đem tất cả năm đồng tiền vàng dâng lên Phật. Cúng dường xong, ta chí thành lóng nghe Phật giảng kinh Đại Niết-bàn. Lúc đó tâm trí ta quá tối, dầu đặng nghe kinh nhưng chỉ thọ trì được một bài kệ.

    Thuở xưa có đức Phật Thích-ca cũng ở cõi Ta-bà nói kinh Đại Niết-bàn. Chính vì muốn nghe kinh Đại Niết-bàn, nên ngài đã bán thân được mấy đồng tiền vàng đến cúng dường Phật và chỉ nghe nhớ được bốn câu kệ.

    Như Lai chứng Niết-bàn.

    Dứt hẳn nơi sanh tử.

    Nếu người hết lòng nghe.

    Thường được vui vô lượng.

    Sau khi thọ trì bài kệ trên đây rồi, ta liền đến nhà người bệnh. Nhờ ta niệm tưởng bài kệ, nên dầu mỗi ngày cắt lấy ba lượng thịt nơi thân, nhưng ta chẳng lấy làm đau khổ lắm. Trọn một tháng, mỗi ngày ta cắt lấy thịt cho người làm thuốc, do đó bệnh người được lành mà thân của ta cũng được bình phục, ta liền phát tâm vô thượng Bồ-đề, nguyện đời vị lai đặng thành Phật hiệu Thích-ca-mâu-ni.

    Này thiện nam tử! Do công đức của một bài kệ ấy làm cho ta ngày nay được thành Phật, ở trong đại chúng tuyên nói kinh Đại Niết-bàn này.

    Chỉ nghe có bốn câu kệ mà ngài đã cắt thịt hòa với thuốc đem cho người uống, đến khi người ta hết bệnh thì ngài được bình phục như xưa. Chính công đức hy sinh thân mạng để cúng dường kinh Đại Niết-bàn mà sau này ngài cũng được thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni và cũng đem kinh Đại Niết-bàn để truyền bá. Như vậy thấy rõ nhân với quả không khác nhau.

    Này thiện nam tử! Kinh Đại Niết-bàn thành tựu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy, đây là tạng bí mật rất sâu của chư Phật. Do nghĩa này nên người thọ trì dứt lìa được những ác lậu. Chính là voi ác, ngựa ác, trâu ác, chó ác, rắn độc, chỗ đất nhiều gai, gộp cao, bờ biển, nước xoáy chảy xiết, người ác, nước ác, thành ác, nhà ác, bạn ác v.v...

    Những nơi đó nếu là nhân ác lậu thời Bồ-tát liền xa lìa, nếu chẳng phải nhân ác lậu thời Bồ-tát chẳng xa lìa. Nếu thêm hữu lậu thời xa lìa, nếu chẳng thêm thời chẳng xa lìa. Nếu là pháp ác thời bèn xa lìa, nếu có thể làm lành thời chẳng xa lìa. Xa lìa như thế nào? Chẳng cầm dao gậy, thường dùng trí huệ phương tiện mà xa lìa đó, đây gọi là chánh huệ viễn ly, vì muốn thêm lớn pháp lành thời phải xa lìa pháp ác.

    Thọ trì kinh này sẽ xa lìa được những ác lậu, tâm được an ổn. Như mình tìm một chỗ để tu hành cho yên ổn, nhưng lại tìm đến những nơi tai nạn dồn dập, những chuyện phiền toái thì tất nhiên mình ở không yên, tu không được. Đó gọi là chỗ ác. Như vậy cần phải có chỗ thuận duyên thuận cảnh, sự tu hành không bị chướng ngại thì việc tu mới tiến. Chỗ ác lậu làm mình lo sợ, tu không tiến. Nếu tu không tiến thì sanh tử luân hồi. Những vị Bồ-tát thường xa lìa những ác này.

    Đại Bồ-tát quán sát thân tướng của mình, xem như ghẻ, như nhọt, như oán thù, như tên độc, là chỗ khổ, là cội gốc của tất cả thiện ác.

    Thân này dầu bất tịnh như vậy, Bồ-tát vẫn săn sóc nuôi dưỡng, chẳng phải vì tham thân, chính là vì pháp lành; chẳng phải vì sanh tử, chính là vì Niết-bàn; vì thường, lạc, ngã, tịnh; vì đạo Bồ-đề; vì Nhất thừa; vì ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, vì Pháp vương.

    Bồ-tát nhìn thẳng vào thân xem nó như ghẻ nhọt. Nếu người nào ngồi lắng lại thì thấy cái thân này thật là ghẻ, thật là nhọt. Ví dụ mỗi bữa đúng mười hai giờ trưa ăn cơm, nhưng bữa nay đến một giờ chiều vẫn chưa ăn thì thấy xót xa, bào bọt trong bụng chịu không nổi, không khác nào mụt nhọt chảy mủ nên đau nhức khó chịu. Còn khi thân này bài tiết ra những chất hôi thối thì cũng như ghẻ nhọt bài tiết mủ máu, là chỗ làm mình khổ não.

    Thân tứ đại bất hòa, đối nghịch nhau làm cho mình đau lên đau xuống, hiếm có ai nói tôi không bệnh. Không bệnh này thì cũng bệnh kia, hoặc bệnh ngầm ngầm chưa phát, hoặc bệnh đã phát. Vì vậy nên nói như kẻ oán thù. Như tên độc là tên độc cắm vào mình làm lúc nào cũng nhức nhối. Thân là cội gốc của thiện và ác.

    Thân này dầu bất tịnh như vậy, Bồ-tát vẫn săn sóc nuôi dưỡng. Săn sóc nuôi dưỡng chẳng phải vì tham thân, mà lợi dụng nó để tiến tu theo chánh pháp, mượn nó để đưa mình tới Niết-bàn.

    Đại Bồ-tát thường phải giữ gìn thân thể cho được an toàn để biên chép, thọ trì, đọc tụng, giải thuyết, tư duy ý nghĩa kinh Đại Niết-bàn này. Vì thế nên Bồ-tát phải khéo giữ gìn thân thể. Do nghĩa này nên Bồ-tát đặng xa lìa tất cả ác lậu.

    Như người muốn qua sông phải khéo giữ gìn thuyền bè. Người đi đường xa khéo giữ gìn ngựa hay. Như nhà trồng tỉa khéo giữ gìn phân tro. Như vì chữa độc nên khéo giữ gìn rắn độc. Như người vì của cải nên nuôi dưỡng Chiên-đà-la. Như vì muốn phá giặc nên nuôi dưỡng dũng sĩ. Như người lạnh giữ gìn ngọn lửa. Như người bệnh hủi tìm cầu thuốc độc. Cũng vậy, đại Bồ-tát dầu thấy thân này đầy vô lượng nhớp nhơ, nhưng vì muốn thọ trì kinh Đại Niết-bàn nên vẫn giữ gìn nuôi dưỡng.

    Khi có quan niệm chân chính thì tu chân chính, nếu quan niệm sai lầm thì tu sai lầm. Nếu xem thân này là nguồn gốc hạnh phúc, thì còn sống là còn vui vẻ, nếu mất đi thì sẽ đau khổ, nên kiếm đủ cách để bổ dưỡng nó. Đó là quan niệm sai lầm của hàng phàm phu. Hàng Nhị thừa khi quán bất tịnh, nhiều vị thấy thân nhơ nhớp quá muốn tự tử. Như vậy cũng sai lầm.

    Chỉ Bồ-tát có quan niệm đúng đắn, tuy biết thân này như ghẻ nhọt, như oán thù... nhưng không hủy hoại mà lợi dụng nó để tiến tới Niết-bàn đạt được quả Bồ-đề. Chúng ta cần biết rõ và nuôi dưỡng quan niệm đúng đắn để sống đúng với tư cách của người tu theo tinh thần Đại thừa. Biết thân này là gốc của khổ, nhưng lợi dụng nó để được Bồ-đề, để đến Niết-bàn, không hủy hoại thân mà cũng không cưng yêu thân, như vậy mới là Trung đạo.

    Phật dùng những ví dụ: Thuyền bè không quan trọng nhưng vì cần qua sông nên phải giữ thuyền bè. Muốn đi đường xa thì buộc lòng phải nuôi ngựa ăn uống cho no đủ. Như nhà trồng tỉa khéo giữ gìn phân tro vì muốn có trái bắp lớn, trái dưa tốt. Như khéo giữ gìn rắn độc để lấy nọc độc chữa những thứ độc khác. Như người vì của cải nên nuôi dưỡng Chiên-đà-la, là hạng nô lệ bị khinh bỉ, hèn hạ nhất.

    Đại Bồ-tát xem voi ác cùng bạn ác đồng nhau không khác, vì đều làm hại thân. Đối với voi ác, Bồ-tát chẳng sợ bằng sợ bạn ác. Vì voi ác chỉ hại thân mà chẳng hại được tâm. Bạn ác thời hại cả hai thứ thân và tâm. Voi ác chỉ làm hại một thân. Bạn ác có thể làm hại vô lượng thân lành vô lượng tâm lành. Voi ác chỉ có thể phá hoại thân hôi nhơ. Bạn ác có thể phá hoại tịnh thân cùng tịnh tâm. Voi ác chỉ có thể làm hại nhục thân. Bạn ác làm hại đến pháp thân. Bị voi ác giết chẳng sa đến ba đường ác. Bị bạn ác giết tất sa đến ba đường ác. Voi ác chỉ là kẻ oán thù của thân. Bạn ác là kẻ oán thù của pháp lành. Do đây nên Bồ-tát thường phải xa lìa bạn ác.

    Những ác lậu như vậy, phàm phu chẳng xa lìa nên sanh ác lậu, Bồ-tát xa lìa thời chẳng sanh ác lậu. Bồ-tát còn không có ác lậu như vậy huống là Như Lai.

    Bồ-tát nói rằng voi ác cùng bạn ác đồng nhau không khác. Nhưng bạn ác hại hơn voi ác. Vì voi ác chỉ phá hoại được thân thể, còn bạn ác có thể phá hoại cả pháp thân, làm cho mình phải đời đời luân hồi, nên xa lìa bạn ác hơn là xa lìa voi ác. Chúng ta sợ rắn độc vì nó có thể cắn được mình. Nhưng những người tà kiến sai lầm rủ rê mình vào những chỗ hư hèn lại không sợ, rốt cuộc bị nhiễm những cái dở. Bồ-tát quan niệm những thú dữ tuy hại được thân, nhưng không hại được tâm mình. Bạn ác có thể làm hại cả tâm mình. Thân bị hại không thể đọa địa ngục mà tâm bị hại thành xấu xa, đó là gốc của địa ngục khổ hơn.

    Bồ-tát còn không có ác lậu như vậy huống là Như Lai.

    Thế nào là gần gũi ác lậu? Tất cả phàm phu lãnh lấy y phục, vật thực, đồ nằm, thuốc thang, họ vì sự đòi hỏi của thân tâm mà tìm cầu những vật như vậy, nên gây tạo nhiều tội ác, chẳng biết là lỗi lầm, phải luân hồi trong ba đường ác, do đây nên gọi là ác lậu. Đại Bồ-tát thấy những lỗi như vậy thời bèn xa lìa.

    Lúc cầu y phục Bồ-tát bèn nhận lấy. Chẳng phải vì thân mục đích chỉ vì pháp lành; chẳng kiêu mạn, thường khiêm tốn, chẳng vì phục sức tốt đẹp, chỉ vì hổ thẹn, để che lạnh, che nắng, che gió mưa, ngăn muỗi mòng.

    Y phục, vật thực, đồ nằm và thuốc thang là bốn nhu cầu trong cuộc sống. Phàm phu vì những nhu cầu này mà làm nhiều tội ác, không biết lỗi lầm nên phải luân hồi, gọi là ác lậu. Còn Bồ-tát thì thấy những lỗi trên bèn xa lìa.

    Bồ-tát nhận y phục không phải vì thân mà vì pháp lành. Nếu vì thân thì không phải vì pháp lành. Mua vải cho tốt và lựa người may khéo, như vậy là vì pháp lành hay vì thân? Nếu không học thì chúng ta nhiều khi bị lệch mà không thấy.

    Mặc y phục lành lẽ cũng không kiêu mạn, luôn luôn khiêm tốn. Chúng ta mặc áo không phải để cho người ta khen, mà mặc vì hổ thẹn và để che lạnh nóng, gió mưa, ngăn muỗi mòng chứ không phải mặc cho tốt. Nếu nhận cúng mà cho cái này mặc coi được, cái kia coi không được... như vậy thì đã lệch rồi.

    Bồ-tát dầu lãnh thọ vật thực, nhưng lòng chẳng tham đắm, chẳng vì thân chỉ vì chánh pháp, chẳng vì da thịt chỉ vì chúng sanh, để trị bệnh đói, dầu đặng món ăn ngon cũng vẫn không tham đắm.

    Bồ-tát lúc nhận lấy phòng nhà cũng như vậy, chẳng để quan niệm tham đắm ở nơi lòng, vì che mưa gió, vì Bồ-đề mà nhận lấy phòng nhà.

    Lúc cầu thuốc thang lòng Bồ-tát không tham đắm, chẳng phải vì mạng sống chỉ vì chánh pháp, vì pháp thân huệ mạng.

    Ăn chẳng phải vì cho thân bổ khỏe mà cốt là vì chánh pháp, ăn để sống còn mà tiến tu, để làm lợi ích chúng sanh. Ngon cũng ăn nhưng không tham đắm,dở cũng ăn mà không phiền muộn, đó là quan niệm của Bồ-tát. Người cúng dường và người thọ cúng dường thường có hai bệnh. Phật tử mời thầy về nhà cúng dường bữa cơm, dĩ nhiên họ muốn nấu ngon cho thầy ăn. Khi ăn xong họ hay hỏi, thưa Thầy ăn có ngon không? Nếu nói ngon là mình thích, lần sau họ sẽ nấu cho mình ăn nữa, nếu nói không ngon thì sợ họ buồn. Có khi họ không đặt câu hỏi, mà thầy ăn rồi trầm trồ món này ngon quá, món kia ngon quá. Không nên. Vì trầm trồ ngon thì đã tham đắm rồi, cho nên phải dè dặt.

    Thấy nhà nào thuận tiện cho chuyện tu hành thì mình nhận. Vì đạo lý chứ không phải vì tốt xấu. Vì che mưa che gió để tu hành tiến đến đạo quả Bồ-đề cho nên nhận lấy phòng nhà.

    Khi cần có thuốc thang trị bệnh, Bồ-tát không tham đắm thuốc, cũng chẳng phải vì mạng sống. Không phải nghe nói thuốc này trường sanh bất tử rồi tham quá, uống để được sống hoài; mà chính uống thuốc là chỉ vì chánh pháp, vì pháp thân tuệ mạng . Uống thuốc để sống, để tiến tu theo đường lối của Phật Bồ-tát thì đó là vì chánh pháp. Vì pháp thân tuệ mạng là thế nào? Nếu sống mình tiến tu dẹp trừ được phiền não thì pháp thân hiện bày, nếu không dẹp trừ được phiền não thì pháp thân làm sao hiện? Tuệ mạng cũng vậy, nhờ thuốc thang để mạnh khỏe tiến tu cho trí tuệ càng ngày càng tăng trưởng. Trí tuệ đó là mạng sống vĩnh viễn sau này. Nếu đời này trí tuệ chưa tăng trưởng mà chết đi thì không nuôi lớn được tuệ mạng, cho nên uống thuốc không phải vì mạng sống mà chỉ vì chánh pháp, vì pháp thân tuệ mạng.

    Như người bị ung nhọt, dùng thuốc đắp lên lấy vải bó đó, như vậy là chỉ vì để rút máu mủ cho bệnh được lành. Vì tránh gió độc, nên ở trong nhà kín. Cũng vậy, đại Bồ-tát xem thân thể là ung nhọt nên lấy y phục che đậy, vì cửu khiếu máu mủ mà tìm cầu món ăn vật uống, vì mưa gió độc nên nhận lấy phòng nhà, vì bốn độc phát bệnh nên tìm cầu thuốc thang. Vì đạo Bồ-đề mà Bồ-tát lãnh lấy bốn thứ cúng dường, chẳng vì mạng sống.

    Thân như ung nhọt, sợ ruồi muỗi đậu sanh giòi tửa nên phải lấy y phục che đậy. Cửu khiếu là chín lỗ: mũi, tai, mắt, miệng... Nếu thiếu ăn nó sẽ khô kiệt, hoặc sẽ không còn đủ nuôi dưỡng ung nhọt này cho nên phải ráng mà ăn. Vì mưa gió nhận phòng nhà, vì bệnh mà tìm thuốc.

    Chúng ta ráng tập, khi nào thọ những cúng dường không phải muốn sống đến tám chín mươi tuổi, mà chính vì muốn sống để tu hành cho đạt được đạo quả Bồ-đề.

    Bồ-tát suy nghĩ như vầy: Nếu tôi chẳng nhận lấy bốn thứ cúng dường này, thời thân thể phải chết mất, chẳng thể nhẫn thọ khổ nhọc; nếu không kham sự khổ nhọc thời không thể tu tập pháp lành; nếu kham sự khổ nhọc thời có thể tu tập vô lượng pháp lành; nếu tôi chẳng kham nhẫn các sự khổ, thời sẽ sanh lòng giận hờn đối với việc nghịch trái, và sẽ sanh lòng tham đắm đối với cảnh thuận vui; nếu tìm cầu sự vui mà chẳng đặng thời sanh lớn vô minh mê muội.

    Do đây nên phàm phu sanh những ác lậu đối với bốn thứ cần dùng. Bồ-tát vì có thể quan sát như vậy nên chẳng sanh những ác lậu, do đây nên gọi là vô lậu. Bồ-tát còn vô lậu như vậy huống là Như Lai. Vì thế nên Như Lai chẳng gọi là hữu lậu.

    Chúng ta nhận bốn thứ cúng dường để cho thân thể này sống còn để nhận chịu những khổ nhọc mà tiến tu. Nếu không nhẫn nổi sự khổ nhọc thì pháp lành không có, gặp thuận thì sanh đắm, gặp nghịch thì sanh hờn... Sanh tham sân si thì sự tu hành không tới nơi tới chốn được.

    Tu đúng tinh thần thiền thì đi đứng nằm ngồi đều tu được, không phải ngồi kiết già mới tu. Nhưng vào Thiền viện phải ngồi kiết già, đau đến méo mặt mà cũng ráng ngồi. Ngồi như vậy là để tập chịu đựng, những cái khó khổ mà nhẫn nổi thì mọi việc khác tới, mình có thể thắng được dễ dàng. Nếu nuôi dưỡng lười biếng thì dễ hư. Chịu cực chịu khó giúp cho mình trở thành con người có ý chí mạnh mẽ, gặp khó cũng vươn lên được, gặp vừa ý cũng không đắm mến, đó là khéo léo.

    Phàm phu sanh ác lậu vì ham thích bốn thứ cần dùng là y phục, uống ăn, đồ nằm, thuốc thang nên chìm đắm trong sanh tử. Bồ-tát bởi khéo nhận xét đúng nên không vì bốn thứ đó mà phải chìm đắm trong sanh tử. Trái lại, nhờ chúng lại được đi tới chỗ giải thoát thanh tịnh, cho nên nói do đây được vô lậu. Bồ-tát còn vô lậu huống là Như Lai, vì thế Như Lai chẳng gọi là hữu lậu.

    Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu dầu khéo giữ gìn thân tâm nhưng vẫn còn sanh ba thứ ác giác, do cớ này nên dầu phục trừ phiền não đặng sanh cõi trời Phi phi tưởng, nhưng vẫn trở lại đọa trong ba đường dữ. Ví như có người đi qua biển lớn, sắp đến bờ mà bị chết đuối. Phàm phu trên đây cũng vậy, sắp ra khỏi ba cõi trở lại đọa nơi tam đồ. Đó là do vì không có thiện giác, chính là không có sáu chánh niệm.

    Ba thứ ác giác là gì? Ác giác là quán sát, xem xét, hiểu biết ác. Hiểu biết cộng với tham với sân với si là ba cái hiểu biết ác, làm cho người ta dù cố gắng tu hành được tới cõi trời Phi phi tưởng, rồi cũng phải đọa trở lại trong ba đường dữ chưa ra khỏi vòng sanh tử.

    Chúng ta phải có chánh niệm, phải nhận xét cho đúng đắn đối với thân, với đồ ăn mặc, thuốc thang... đừng có lầm lẫn. Mỗi bữa ăn cơm, vị Duy-na xướng: “Phật chế Tỳ-kheo thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại tín thí nan tiêu, đại chúng văn khánh thinh các chánh niệm.” Chánh niệm ở đây là “thực tồn ngũ quán”. Trong khi ăn phải gìn giữ năm điều quán xét, phối hợp với chỗ này, nghĩa là khi thọ dụng bốn thứ cúng dường, chúng ta giữ cho đúng quan niệm của Bồ-tát thì gọi là chánh quán, chánh niệm. Nếu không sẽ bị ác quán hay là ác giác.

    Phàm phu tâm lành kém yếu, tâm ác lại lẫy lừng. Vì tâm lành kém nên trí huệ cũng kém. Vì trí huệ kém nên thêm lớn những ác lậu.

    Bồ-tát nhờ huệ nhãn thanh tịnh thấy lỗi của ba thứ giác quán, biết ba thứ giác quán này có những họa hoạn thường làm oán thù đối với ba thừa. Do ba thứ giác quán này làm cho vô lượng phàm phu chẳng thấy Phật tánh, trong vô lượng kiếp điên đảo cho rằng Phật Thế Tôn không có thường, lạc và ngã, chỉ có tịnh thôi; lại cho rằng Như Lai rốt ráo nhập Niết-bàn. Tất cả chúng sanh là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, mà điên đảo cho là có thường, lạc, ngã, tịnh. Thật không có tam thừa mà điên đảo cho là thật có tam thừa. Đạo Nhất thừa chân thật mà điên đảo cho là không có Nhất thừa.

    Ba thứ giác quán này thường bị chư Phật và Bồ-tát quở trách. Ba thứ giác quán này thường hại nơi mình cũng hại đến kẻ khác. Có ba thứ giác quán này thời sanh ra tất cả điều ác. Ba thứ giác quán này chính là ba sợi dây trói liền chúng sanh trong sanh tử vô biên.

    Bồ-tát thường quán sát ba thứ giác quán này. Hoặc có lúc vì nhân duyên đáng lẽ phải sanh dục giác Bồ-tát yên lặng chẳng lãnh thọ. Ví như người xinh đẹp sạch sẽ chẳng nhận lãnh tất cả phẩn nhơ, như hoàn sắt nóng không ai cầm lấy, như giòng Bà-la-môn chẳng nhận thịt bò; như người no bụng chẳng nhận đồ ăn dở. Như vua Chuyển luân chẳng ngồi chung một giường với Chiên-đà-la. Bồ-tát khinh ghét ba thứ ác giác chẳng nhận chẳng ham.

    Đó là ba giác quán khiến mình thấy lộn ngược, không biết sự thật. Nếu còn có những nghĩ niệm do tham sân si lôi cuốn, đó là gốc của luân hồi. Chúng ta ai cũng còn những tập lậu của đời hiện tại hoặc quá khứ, nên tuy tu chứ thỉnh thoảng những niệm, những giác quán ác vẫn nảy sanh. Khi nó nảy sanh phải nhớ đừng chấp nhận, nếu theo là đi con đường luân hồi.

    Bồ-tát thường quán sát ba thứ giác quán này . Thứ nhất là giác quán tham, hoặc có lúc vì nhân duyên đáng lẽ phải sanh dục giác, Bồ-tát yên lặng chẳng lãnh thọ, tức là xả bỏ, như người xinh đẹp chẳng nhận những món đồ dơ. Như không cầm hoàn sắt nóng, như Bà-la-môn không nhận thịt bò... Còn nếu nhận thì sao? Như người mặc áo trắng mà nhận phân dơ, đó là chịu nhơ nhớp. Khi tham có suy nghĩ theo cái tham, ví dụ suy nghĩ món này ngon, thứ kia đẹp, tăng thêm ưa thích thì gọi là giác quán tham.

    Thứ hai là giác quán sân. Gặp điều trái ý, giác quán sân dấy lên: cái này đáng giận, cái này là họ nói bậy!... Bởi chúng ta cho họ bậy, họ xấu nên mới giận, tức bị ác giác quán sân xâm chiếm. Như thế chẳng khác nào kẻ ăn mặc sạch sẽ mà nhận lấy những đồ dơ để bôi vô mình. Có người nói “Những điều đáng giận như vậy, không giận sao được!” Không có cái gì là đáng giận hết, chỉ tại chúng ta nhẫn không được mà thôi. Như bị chửi thật đáng giận mà Phật vẫn không giận chút nào. Tại chúng ta nhẫn không được, cứ ôm trong bụng hoài, nói đáng giận nên cứ giận, tức là đã chấp nhận đã nuôi dưỡng ác giác quán sân. Khi có những ác giác quán về sân thì phải xả bỏ đừng dính mắc. Điều này không phải dễ, vì là tập quán nhiều đời nhiều kiếp. Chúng ta không phải thánh nhân, nghe xong lời tuy trôi mất mà bóng dáng nó vẫn còn lảng vảng. Dù không nổi giận, không tức tối, không oán thù, nhưng nó vẫn còn lảng vảng, chưa bỏ sạch được.

    Phật dạy thêm một phương tiện, biết giận là xấu, là tự chuốc luân hồi. Thấy xa hơn nữa, mình phải ráng tiến hơn, là người thì ai cũng có tham sân si. Bởi có sẵn nên động vào thì nó nổi lên. Nhờ dùng trí quán nó tạm êm, nghe người ta chửi, trong bụng cũng hơi khó chịu, nhưng mình dằn được, gọi là không giận. Dằn được sau này chúng ta bỏ mau, xả được, đó là tiến rồi.

    Cũng như vậy, Bồ-tát thường suy nghĩ: Chúng sanh biết rằng ta là ruộng phước tốt, ta đâu nên nhận pháp ác ấy, nếu ta nhận pháp ác thời chẳng đáng là ruộng phước của chúng sanh. Dầu ta chẳng tự nói mình là ruộng phước tốt, nhưng chúng sanh thấy hình tướng bèn nói ta là ruộng phước. Nếu ta sanh ác giác như vậy thời là khi dối tất cả chúng sanh. Thuở quá khứ, vì khi dối nên trong vô lượng kiếp đọa ba đường ác trôi lăn trong sanh tử. Nếu ta có ác tâm nhận của người cúng thí, tất cả thiên nhân và ngũ thông tiên đều sẽ rõ biết, sẽ bị quở trách.

    Chúng sanh thấy Bồ-tát hoặc Tỳ-kheo tu hành là ruộng phước của mình, nên họ mới cúng dường, mới gieo phước. Nếu chúng ta ôm lòng giận, ôm lòng tham thì đâu phải là ruộng phước. Gieo mà không gặp ruộng phước thì người gieo bị mất phước. Cho nên chúng ta phải bỏ, không nên nuôi dưỡng những ác giác quán.

    Chúng sanh xem chúng ta là ruộng phước của họ, mà chúng ta lại tham sân si thì thật là lừa thiên hạ. Cho nên nhớ câu này thì tu dễ lắm. Nhớ mình là ruộng phước của chúng sanh, nếu sân tức là mình lừa bịp chúng sanh. Quá khứ chúng ta khi dối thiên hạ nên phải đọa trong ba đường ác, trôi lăn trong sanh tử cho tới bây giờ. Nếu còn khi dối nữa thì biết đọa đến chừng nào? Nên phải dừng đi, đừng có khi dối thiên hạ nữa. Nếu trong lòng còn có những niệm ác xấu, thọ của thí chủ cúng dường, tuy người phàm không thấy, nhưng chư thiên và những vị tu được ngũ thần thông thấy tâm niệm chúng ta, các vị sẽ quở trách. Khi tâm niệm xấu dấy lên, ma quỷ cũng thấy, nhân đó dẫn mình đi trong con đường xấu.

    Nếu ta có ác giác nhận sự cúng thí của người, sẽ làm cho thí chủ được phước đức kém ít, hoặc không phước đức, như thế ta là kẻ thù oán của thí chủ. Tất cả thí chủ thường mến kính ta, sao ta lại khi dối họ mà cho làm kẻ oán thù của họ, vì ta làm cho họ được ít phước đức, hoặc không phước đức.

    Bồ-tát thường suy nghĩ: Ta thường tự xưng là người xuất gia. Luận về người xuất gia chẳng sanh ác giác, nếu sanh ác giác thời chẳng phải xuất gia. Người xuất gia thân cùng miệng phải tương ưng, nếu chẳng tương ưng thời chẳng phải xuất gia. Ta bỏ cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè để xuất gia tu hành, chính là thời kỳ tu tập những thiện giác, chẳng phải là thời gian sanh ác giác.

    Thí chủ cúng dường thường để cầu phước, nếu chúng ta cứ ôm tâm niệm xấu, người ta gieo phước trên đất chai thì làm sao có kết quả. Nếu gieo hạt giống xuống đất mà nó không ra hoa ra trái thì mình có giận không? Đất gì mà hư xấu quá, gieo gì cũng không lên. Cũng vậy, chúng ta thọ của thí chủ mà còn ôm những tâm niệm xấu thì thí chủ không được phước, sẽ oán trách và chúng ta trở thành kẻ oán thù của họ.

    Thí chủ kính mến quý trọng mình tại sao mình lại làm cho họ bớt phước đức hoặc mất phước đức, sanh ra oán thù? Nhớ như vậy, khi có niệm ác dấy lên thì phải đuổi đi cấp tốc, không chứa không nuôi. Nếu còn nghĩ ác thì đâu phải là người xuất gia. Nói cách khác, người tu mà còn nghĩ ác thì sao gọi là người tu!

    Phật dạy: Người xuất gia thân cùng miệng phải tương ưng, nếu chẳng tương ưng thời chẳng phải xuất gia. Chúng ta nhiều khi thân và miệng không tương ưng, làm một đường mà nói một nẻo. Phải ráng nói sao làm vậy, còn không làm thì đừng nói.

    Nhiều người không tu thiền định gì hết, tâm chạy như ngựa, như khỉ. Ai hỏi “sao Thầy không ngồi thiền” thì đáp “đứng cũng thiền, đi cũng thiền, nói cũng thiền, nín cũng thiền đợi gì phải ngồi?” Đó là nói một đằng mà làm một nẻo. Nếu thật đi đứng nằm ngồi đều thiền thì nói được, còn tâm như khỉ vượn mà nói đi đứng nằm ngồi đều là thiền, cần gì phải ngồi, đó là nói dóc. Hoặc lâu lâu ghé tiệm kêu vài chai bia, người ta nói “ủa, sao Thầy vô quán, tu đâu được vô quán!” thì nói: “Dâm phòng tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng.” Như vậy là thân và miệng không hợp nhau, phải dè dặt! Nhiều người hay coi thường điều này, nói sao cho qua thôi mà không nghĩ hậu quả, nói không đúng với việc làm. Cho nên, thà làm mười mà nói tám chứ đừng làm ít nói nhiều, nói quá, đừng như vậy!

    Bỏ cha mẹ, bỏ anh em tu hành để làm gì? Để sanh những tâm niệm thiện tâm niệm lành, chứ đâu phải để dính những tâm niệm xấu ác. Nếu có những tâm niệm xấu tâm niệm ác, ấy thật là trái với việc xuất gia rồi.

    Ví như có người vào biển tìm châu báu, chẳng lấy chân châu mà lại lấy thủy tinh. Cũng như có người bỏ âm nhạc mà đi chơi giỡn trên đống phẩn nhơ. Như bỏ bảo nữ mà giao thông với tớ gái. Như bỏ bồn vàng mà dùng chậu sành. Như bỏ vị cam lộ mà uống thuốc độc. Như bỏ y sĩ thân thiện tài giỏi mà cầu thuốc với y sĩ oán thù dở. Cũng vậy, ta bỏ lìa pháp vị cam lồ của đại sư Như Lai Thế Tôn, mà nhận lấy các thứ ác giác của ma oán. Thân người khó đặng như hoa ưu-đàm mà ta đã được. Như Lai khó gặp như hoa ưu-đàm mà ta đã gặp. Pháp bảo thanh tịnh khó được thấy nghe mà ta được nghe. Như con rùa đui gặp được bông cây nổi. Mạng người chẳng dừng qua mau hơn thác nước đổ, ngày nay dầu còn khó bảo đảm được ngày mai, sao lại buông lung ở nơi pháp ác?

    Cực khổ đi vào biển, coi như vào sanh ra tử để cốt tìm châu báu, vào rồi không chịu lấy ngọc thật mà lấy thủy tinh, uổng công biết mấy! Chúng ta cũng vậy, xuất gia bỏ cha mẹ anh em cốt để được điều lành mà vào chùa còn nuôi dưỡng tâm ác thật là trái lý.

    Chỗ có âm nhạc hay ho không chịu, lại chạy lăn trong đống phẩn nhơ mà chơi. Bỏ vị cam lồ ngon ngọt của đại sư Như Lai Thế Tôn dạy, mà lại đi theo cái ác giác quán của ma oán.

    Những lời răn nhắc này thật thống thiết. Phật khó được gặp như hoa ưu-đàm quý, ít có ít thấy. Giáo pháp của Phật khó được nghe, khó được thấy mà bây giờ được nghe, như con rùa mù tìm được bông cây. Mạng sống của chúng ta chẳng dừng, qua mau hơn thác nước đổ, cứ ầm ầm tuôn chảy, ngày nay khó bảo đảm được ngày mai. Vậy mà vẫn lơ là, tưởng mình sống lâu. Tại sao hời hợt quá vậy? Ngày nay còn đây chưa chắc có ngày mai, vậy mà còn tính thong thả đã, để năm năm nữa rồi tu rút, giờ còn sớm lo gì. Đó là những quan niệm hời hợt, quá hời hợt! Phải nhớ mạng mình qua mau, không dừng chút nào, tu được thì ráng tu, đừng chờ tới vài ba năm nữa tu rút thì không được.

    Thời tráng kiện chẳng dừng qua mau như ngựa chạy, sao lại tự thị sanh lòng kiêu mạn? Bốn ác ma rình rập tìm cầu lỗi lầm của ta, sao lại để cho ác giác sanh khởi! Ví như nhà hư mục sắp sập, mạng sống của ta cũng vậy, đâu nên sanh việc ác. Phàm Sa-môn gọi là tỏ ngộ nơi thiện giác, ta là Sa-môn sao lại sanh ác giác? Người xuất gia phải tu đạo lành, nay ta làm ác đâu đáng gọi là xuất gia. Bà-la-môn gọi là người tu hạnh thanh tịnh, nay ta thật hành ác giác chẳng thanh tịnh đâu gọi là chân thật Bà-la-môn. Nay ta cũng gọi là giòng Sát-đế-lợi. Luận về giòng Sát-đế-lợi thời hay trừ được kẻ oán địch, nay ta chẳng trừ được oán địch ác giác, đâu đáng gọi là giòng Sát-đế-lợi. Tỳ-kheo gọi là phá phiền não, nay ta chẳng phá được ác giác phiền não đâu đáng gọi là Tỳ-kheo.

    Mấy chú thanh niên, cứ tự kiêu ta còn trẻ, không biết thời tráng kiện qua nhanh như ngựa chạy qua cửa sổ, thoáng qua là mất. Bốn ác ma rình rập tìm cầu lỗi lầm của ta, sao lại để cho ác giác sanh khởi! Sa-môn là người nghĩ lành nghĩ thiện, tại sao chúng ta là Sa-môn lại nghĩ ác? Nếu khi nào nổi sân với ai, mà nhớ mình là Sa-môn sao lại nghĩ ác, thì hết sân liền.

    Tỳ-kheo cũng có nghĩa là phá ác, tức là phá các phiền não ác; còn nghĩ ác không phải là Tỳ-kheo. Khi nào than “lúc này tôi phiền não quá”, hãy tự nói “lúc này tôi không phải Tỳ-kheo”. Như vậy, chúng ta phải phá hết phiền não, không cho nó làm chủ mình, nếu để nó làm chủ tức là mất nghĩa Tỳ-kheo.

    Trong đời có sáu chỗ khó được gặp gỡ, nay ta đã được, đâu nên để ác giác ở nơi lòng. Những gì là sáu chỗ khó được? Một là Phật ra đời khó gặp, hai là chánh pháp khó nghe, ba là tâm lo sợ khó sanh, bốn là khó được ở trung quốc, năm là khó được thân người, sáu là năm căn khó đầy đủ. Sáu việc như vậy khó được mà ta đã được, vì thế nên chẳng nên sanh ác giác.

    Trước tiên, Phật khuyên chúng ta biết những ác giác dấy lên, cũng như những đồ dơ bẩn thỉu phải hủy đi. Thứ hai, nhắc chúng ta là người bỏ cha mẹ đi tu, luôn luôn phải nuôi dưỡng niệm lành, tại sao lại có niệm ác? Có niệm ác thì chẳng khác nào như bỏ thuốc cam lồ mà uống thuốc độc, bỏ châu báu mà lấy thủy tinh... Đó là để răn nhắc mình nhớ tư cách của người xuất gia để ráng tu. Thứ ba, Phật răn nhắc chúng ta đã được điều khó được, ráng nỗ lực mà tu..

    Những điều khó gặp gỡ có sáu: Một là Phật ra đời mình không gặp. Hai là chánh pháp khó nghe mà chúng ta được nghe kinh học đạo. Ba là tâm lo sợ khó sanh, chúng ta có lo sợ nên mới đi tu. Bốn là khó được ở trung quốc, trung quốc là chỉ cho những chỗ thị tứ, chỗ có giảng kinh học đạo, mà bây giờ chúng ta lại được. Năm là khó được thân người, bây giờ chúng ta được thân người. Sáu là năm căn khó đầy đủ, bây giờ chúng ta có được năm căn là mắt tai mũi lưỡi thân đầy đủ. Sáu cái khó được mà chúng ta đã được năm cái rồi, như vậy hy hữu quá, tại sao lại không cố gắng gìn giữ để tu! Phật rất tế nhị, dạy chúng ta đủ cách như thế.

    Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn này thường siêng quán sát những ác giác như vậy.

    Hàng phàm phu chẳng thấy lỗi họa của ác giác, nên lãnh thọ ba thứ ác giác, gọi đó là lãnh thọ ác lậu.

    Bồ-tát thấy như thế nên chẳng lãnh chẳng ham, nương nơi tám thánh đạo để trừ bỏ đó, để chặt đứt đó. Do đây nên Bồ-tát không thọ ác lậu. Sao lại nói rằng Như Lai có ác lậu? Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải là hữu lậu.

    Này thiện nam tử! Phàm phu nếu gặp lúc thân tâm khổ não thời sanh các sự ác. Lúc bị thân bệnh hay tâm bệnh, khiến thân, khẩu, ý, tạo những nghiệp ác. Vì tạo nghiệp ác nên luân hồi trong ba đường dữ thọ những sự khổ. Tại sao vậy? Vì phàm phu không có niệm huệ.

    Bồ-tát thường tự suy xét rằng: Ta từ vô số kiếp xưa đến nay, vì thân tâm này mà gây tạo những nghiệp ác, nên phải lưu chuyển trong sanh tử đọa nơi ác đạo chịu đủ sự khổ, làm cho ta xa lìa con đường chân chánh ba thừa. Suy nghĩ như vậy rồi Bồ-tát rất sợ sệt đối với thân tâm của mình, lìa bỏ việc ác mà thẳng đến đạo lành.

    Vì người đời không cho tham sân si là xấu, lãnh thọ nó cho nên cứ phải chịu luân hồi bởi ba ác giác này. Bồ-tát dùng tám thánh đạo để trừ bỏ nên không thọ ác lậu. Bồ-tát còn như thế huống là Như Lai, Như Lai làm sao lại có ác lậu, do đó Như Lai là vô lậu.

    Bồ-tát khác với phàm phu, vì có niệm huệ, thường suy nghĩ tội lỗi của thân tâm, nên sợ sệt không dám tạo những nghiệp ác mà phải trôi lăn trong sanh tử chịu nhiều khổ não, các ngài lìa bỏ việc ác, thẳng đến đạo lành.

    Ví như có quốc vương đem bốn con rắn độc đựng chung trong một cái trấp, sai người nuôi dưỡng cho ăn, tắm rửa. Vua ra lệnh nếu để một con rắn giận dữ không vừa lòng, thời ta sẽ xử tử nhà ngươi.

    Người đó nghe lệnh nghiêm khắc của quốc vương, sợ quá bỏ trấp rắn chạy trốn. Vua liền sai năm Chiên-đà-la cầm dao rượt theo. Người ấy ngó ngoái lại thấy phía sau năm người rượt gấp bèn vội chạy đi. Năm người lập kế giấu dao, rồi bí mật sai một người giả dạng hiền lành đến khuyên bảo người ấy trở lại. Người ấy chẳng tin chạy thẳng đến một tụ lạc kia để ẩn trốn. Lúc đã vào trong tụ lạc, xem thấy những nhà cửa đều không có người, cũng không có đồ vật, bèn ngồi trên đất. Thoạt nghe trên không có tiếng nói: Này nam tử! Tụ lạc này hoang vắng không có cư dân, đêm nay sẽ có sáu tên cướp đến. Nếu người gặp cướp thời khó bảo tồn tánh mạng. Người ấy nghe tiếng trên hư không bảo như vậy sợ hãi quá bèn bỏ tụ lạc mà đi. Dọc đường gặp một con sông nước chảy gấp. Tìm không có thuyền bè, vì sợ nên lấy các thứ cỏ cây kết làm bè. Tự nghĩ rằng: Nếu ta dừng ở nơi đây tất sẽ bị rắn độc, năm Chiên-đà-la, một người dối hiền lành và sáu tên cướp làm nguy hại. Còn nếu qua sông thời chiếc bè này không bảo đảm có thể sẽ phải chìm chết. Nhưng thà chết đuối, trọn chẳng để kẻ ác kia làm hại. Suy nghĩ xong, kéo bè cỏ xuống nước, thân nằm trên bè, tay ôm bè, chân đạp nước vượt dòng nước chảy xiết mà qua sông.

    Lúc đã được qua đến bờ bên kia an ổn không họa hoạn, hết kinh sợ trong lòng rất thơ thới vui vẻ.

    Bồ-tát đặng nghe và thọ trì kinh Đại Niết-bàn suy xét thân này như cái trấp, địa, thủy, hỏa, phong như bốn rắn độc: kiến độc, xúc độc, khí độc, nọc độc. Tất cả chúng sanh gặp bốn rắn độc này thời phải mất thân mạng. Tứ đại cũng như vậy: hoặc kiến chấp làm độc, hoặc chạm xúc làm độc, hoặc hà khí làm độc, hoặc cắn nọc làm độc, do đây nên xa lìa những điều lành.

    Bồ-tát suy xét bốn rắn độc có bốn giòng họ: Giòng Sát-đế-lợi, giòng Bà-la-môn, giòng Tỳ-xá, giòng Thủ-đà. Tứ đại cũng có bốn chủng tánh: tánh cứng, tánh ướt, tánh nóng, tánh động. Vì thế nên Bồ-tát xem tứ đại đồng chủng tánh với bốn rắn độc.

    Bồ-tát lại suy xét bốn rắn độc này thường rình hại người: lúc nào sẽ nhìn ngó, lúc nào sẽ chạm xúc, lúc nào sẽ hà hơi, lúc nào sẽ cắn. Tứ đại cũng như vậy thường rình chờ dịp để hại chúng sanh.

    Nếu bị bốn rắn độc hại chết chẳng đến nỗi phải đọa trong ba đường ác. Nếu bị tứ đại giết hại tất sa vào ba đường ác. Bốn rắn độc này dầu săn sóc nuôi dưỡng nó nhưng nó cũng thường muốn giết người. Cũng vậy, dầu thường cung cấp, nhưng tứ đại cũng luôn kéo dắt người tạo những nghiệp ác. Bốn rắn độc ấy nếu một con sân giận thời sẽ giết người. Tánh tứ đại nếu một đại phát lên cũng có thể hại người. Bốn rắn độc ấy dầu ở chung một chỗ, nhưng tâm tánh của nó đều riêng khác. Tứ đại dầu đồng ở một thân mà tánh của mỗi đại khác nhau. Bốn rắn độc ấy dầu có cung kính nó cũng khó có thể gần gũi nó, tứ đại cũng như vậy. Bốn rắn độc ấy nếu lúc hại người, có được phù chú thuốc men của Sa-môn hay Bà-la-môn thời có thể chữa trị. Tứ đại giết người dầu có Sa-môn hay Bà-la-môn dùng thần chú phép tắc cũng chẳng trị được. Như người trí nghe hơi tanh của rắn độc liền tránh xa. Chư Phật, Bồ-tát nghe hơi hôi của tứ đại cũng liền tránh xa.

    Bồ-tát lại suy nghĩ tứ đại như rắn độc, nên rất sợ sệt chạy đi lo tu tám thánh đạo.

    Năm Chiên-đà-la dùng lệ cho năm ấm. Bồ-tát quán sát năm ấm như Chiên-đà-la.

    Chiên-đà-la thường hay làm cho người phải xa lìa ân ái mà hội họp với oán thù. Cũng vậy năm ấm khiến người tham gần pháp ác mà xa lìa những pháp lành.

    Như Chiên-đà-la võ trang để tự vệ: hoặc dao, gậy, cung tên hoặc thuẫn giáp, họ có thể hại người. Cũng vậy, năm ấm dùng các thứ phiền não để tự võ trang, hại những người ngu si làm cho sa vào trong ba cõi.

    Như Chiên-đà-la bắt được người có tội lỗi bèn giết hại. Cũng vậy, năm ấm có những kiết sử thường hay hại người.

    Do nghĩa này nên Bồ-tát quán sát năm ấm như Chiên-đà-la.

    Lại như Chiên-đà-la không tâm từ mẫn họ hại cả người thân cũng như kẻ thù. Cũng vậy, năm ấm hại cả pháp lành, pháp ác, không lòng từ mẫn.

    Như Chiên-đà-la não hại tất cả mọi người, ngũ ấm dùng các thứ phiền não thường não hại tất cả chúng sanh trong dòng sanh tử.

    Chiên-đà-la luôn luôn có tâm niệm muốn giết hại, năm ấm cũng thường có những kiết sử não hại.

    Như người cụt chân lại không dao gậy không người hộ vệ, phải biết người này ắt bị Chiên-đà-la giết hại. Cũng vậy, chúng sanh không chân, không dao, không hộ vệ, thời bị giặc năm ấm làm hại. Chân lệ cho giới, dao lệ cho trí huệ, người hộ vệ lệ cho thiện tri thức. Nếu không ba điều này tất bị năm ấm làm hại. Do dây nên Bồ-tát xem năm ấm như Chiên-đà-la.

    Bồ-tát lại quán sát năm ấm còn hơn Chiên-đà-la. Vì người bị Chiên-đà-la giết hại chẳng đọa địa ngục, còn bị năm ấm giết hại thời đọa địa ngục. Do đây nên Bồ-tát lập thệ rằng: Tôi thà trọn đời gần Chiên-đà-la, chứ chẳng gần năm ấm dầu chỉ tạm thời.

    Chiên-đà-la chỉ có thể hại nơi người ngu si ở cõi Dục. Giặc ngũ ấm hại khắp tất cả phàm phu chúng sanh trong ba cõi.

    Chiên-đà-la chỉ có thể giết hại người có tội, năm ấm giết hại chúng sanh không luận có tội hay không tội.

    Chiên-đà-la chẳng giết hại người già cả, phụ nữ và trẻ thơ, năm ấm giết tất cả chúng sanh không luận già trẻ cùng phụ nữ.

    Vì thế nên Bồ-tát quán sát năm ấm còn hơn Chiên-đà-la, lập thệ trọn đời thà ở gần Chiên-đà-la chứ chẳng gần gũi năm ấm dầu chỉ tạm thời.

    Chiên-đà-la chỉ hại người khác không bao giờ tự hại mình, giặc năm ấm hại mình hại người hơn Chiên-đà-la.

    Chiên-đà-la có thể dùng lời lành, tiền của, châu báu lo lót mà được thoát khỏi. Năm ấm chẳng như vậy, không thể dùng lời lành để khuyến dụ cũng không thể dùng tiền của châu báu lo lót mà được thoát khỏi.

    Trong ngày đêm Chiên-đà-la chẳng ắt luôn luôn giết hại, năm ấm thời niệm niệm thường giết hại chúng sanh.

    Chiên-đà-la chỉ ở một chỗ, có thể trốn lánh khỏi, năm ấm thời ở khắp tất cả chỗ nên không thể trốn lánh.

    Chiên-đà-la dầu hại người, lúc hại xong, thời chẳng theo nữa. Năm ấm khi đã giết hại chúng sanh lại theo dõi luôn chẳng rời.

    Do đây nên Bồ-tát lập thệ thà trọn đời ở gần Chiên-đà-la, quyết không gần gũi năm ấm dầu chỉ tạm thời.

    Người có trí huệ dùng phương tiện lành khéo thoát khỏi đặng năm ấm. Chính là thật hành tám thánh đạo, sáu ba-la-mật, bốn vô lượng tâm mà được giải thoát, thân tâm chẳng bị năm ấm làm hại. Vì thân như kim cương, tâm như hư không.

    Do nghĩa này nên Bồ-tát quán sát năm ấm có những điều chẳng lành, lòng rất sợ sệt lo tu tám thánh đạo. Cũng như người kia sợ bốn rắn độc cùng năm Chiên-đà-la, kiếm đường chạy trốn không dám ngó ngoái lại.

    Kẻ giả làm bạn thân chính là để lệ cho tham ái. Bồ-tát quán sát kỹ tham ái như kẻ địch giả làm người thân. Nếu đã biết được là giả thời không bị hại, còn nếu chẳng rõ biết tất sẽ bị hại. Cũng vậy, nếu biết được tánh của tham ái thời nó chẳng thể làm cho chúng sanh luân chuyển sanh tử, như không rõ biết thời phải luân hồi trong sáu loài chịu đủ mọi sự khổ. Vì tham ái làm hại khó bỏ lìa, như kẻ địch giả làm người thân nên khó xa lìa. Kẻ oán địch giả làm người thân, luôn rình chờ có dịp để hại người, tham ái làm cho người xa lìa tất cả pháp lành gần gũi tất cả pháp ác cũng như vậy. Bồ-tát quán sát kỹ tham ái như kẻ địch giả người thân, vì thấy mà chẳng thấy, vì nghe mà chẳng nghe, như người phàm phu thấy lỗi sanh tử, dầu có trí huệ nhưng vì si mê che đậy nên rồi lại chẳng thấy lỗi. Hàng Thanh văn, Duyên giác cũng như vậy: dầu thấy nhưng chẳng thấy, dầu nghe nhưng chẳng nghe. Do tâm tham ái nên dầu thấy lỗi sanh tử mà không thể mau đến vô thượng Bồ-đề. Do nghĩa này nên Bồ-tát xem tham ái như kẻ địch giả người thân.

    Như kẻ oán địch chẳng thân mà giả là người thật thân, chẳng thể gần gũi mà giả gần gũi, là ác mà giả là lành, chẳng thân yêu mà giả là thân yêu, để luôn luôn chờ dịp hại người. Tham ái cũng như vậy.

    Kẻ địch giả người thân, chỉ thấy được thân và miệng của họ mà chẳng biết được tâm của họ, nên họ có thể phỉnh gạt. Tham ái hư dối khó biết nên nó có thể làm mê lầm tất cả chúng sanh.

    Kẻ địch giả người thân thời có trước, có sau có thể dễ xa lìa, tham ái không trước, không sau nên khó xa lìa được.

    Kẻ địch giả người thân, ở xa thời khó biết, gần gũi thời dễ biết. Tham ái gần gũi còn khó rõ biết huống là ở xa.

    Tất cả chúng sanh vì tham ái mà xa đại Niết-bàn gần gũi sanh tử, xa thường, lạc, ngã, tịnh mà gần vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Do đây nên trong các kinh Phật nói là nhơ nhớp trong ba cõi. Nơi việc hiện tại vì vô minh nên chẳng thấy lỗi họa chẳng xa lìa được. Kẻ địch giả người thân trọn chẳng hại được người có trí. Do đây nên Bồ-tát quán sát kỹ tham ái này, lòng rất sợ lo tu tám thánh đạo. Như người kia sợ bốn rắn độc, năm Chiên-đà-la và một kẻ giả người thân nên kiếm đường chạy trốn chẳng trở lại.

    Tụ lạc trống rỗng không cư dân chính là lệ cho lục nhập. Bồ-tát quán sát nội lục nhập trống rỗng không chỗ có như tụ lạc trống. Như người sợ chết kia đã vào tụ lạc nhẫn đến chẳng thấy có một người ở, tìm khắp nơi cũng chẳng gặp được một món đồ. Cũng vậy, Bồ-tát quán sát kỹ lục nhập trống rỗng không chỗ có, chẳng thấy chúng sanh, chẳng thấy một vật thật có.

    Tụ lạc trống rỗng đó, đảng cướp ở xa trọn chẳng tưởng là trống rỗng. Phàm phu cũng như vậy, đối với lục nhập chẳng nghĩ là trống rỗng, do đó nên luân chuyển trong sanh tử thọ vô lượng sự khổ. Bồ-tát quán sát lục nhập này luôn nghĩ tưởng là trống rỗng, nên chẳng bị khổ luân hồi sanh tử. Bồ-tát đối với lục nhập thường không có quan niệm điên đảo, nên chẳng còn luân hồi sanh tử. Như đảng cướp, lúc vào tụ lạc trống rỗng này thời được an vui. Giặc phiền não cũng như vậy, lúc vào trong lục nhập thời được an vui. Như đảng cướp vào tụ lạc này thời không lòng sợ sệt.

    Giặc phiền não ở nơi lục nhập này cũng không sợ sệt như vậy. Như tụ lạc trống rỗng là chỗ ở của các loài ác thú: sư tử, cọp, sói. Lục nhập này cũng là chỗ ở của tất cả phiền não ác.

    Do đây nên Bồ-tát quán sát kỹ lục nhập trống rỗng không chỗ có là chỗ ở của tất cả việc ác. Tụ lạc này trống rỗng không vui, mà đảng cướp tưởng là có người, có vật là an vui. Đối với lục nhập trống rỗng không chỗ có, mà người ngu tưởng là có, là vui, chỉ có người trí mới biết được sự thật.

    Tụ lạc kia lúc thời có người, lúc thời không người. Lục nhập một mặt luôn không người, vì tánh nó vốn là không, chỉ có người trí rõ biết, chẳng phải là mắt thấy được. Do đây nên Bồ-tát quán sát lục nhập nhiều sự oán thù tai hại, lo tu tám đạo thánh chẳng thôi chẳng nghỉ. Như người kia sợ bốn rắn độc, năm Chiên-đà-la, một kẻ giả bạn thân cùng sáu tên cướp mà vội vã lên đường chạy thẳng.

    Sáu tên cướp dùng lệ cho sáu trần: Bồ-tát quan sát sáu trần này như sáu tên cướp hung dữ, vì chúng nó có thể cướp tất cả những pháp lành, như sáu tên cướp có thể cướp tài vật của tất cả nhân dân.

    Như sáu tên cướp vào nhà người thời có thể cướp đoạt tất cả tài sản hiện có trong nhà chẳng chọn tốt xấu, làm cho người giàu to thoạt vậy nghèo cùng. Giặc sáu trần này lúc vào nơi sáu căn thời nó có thể cướp giật tất cả pháp lành của người, làm cho người hết lành hết phước thành kẻ bần cùng nhất-xiển-đề. Vì thế nên Bồ-tát quán sát sáu trần như sáu tên cướp.

    Như sáu tên cướp lúc muốn cướp nhà người phải nhờ người trong nhà làm nội ứng, nếu không người nội ứng thời bọn cướp bèn trở lại. Giặc sáu trần này cũng như vậy, lúc muốn cướp pháp lành cần phải do bề trong chúng sanh có những tướng tri kiến: thường, lạc, ngã, tịnh, bất không v.v... Nếu không có những tướng bề trong như vậy, thời giặc sáu trần chẳng thể cướp được pháp lành.

    Người trí trong tâm không có những tướng như vậy, phàm phu thời có, nên sáu trần thường đến xâm đoạt pháp lành của phàm phu.

    Người trí có thể khéo dùng trí huệ đề phòng giữ gìn nên chẳng bị cướp đoạt. Do đây nên Bồ-tát quán sát sáu trần này như sáu tên cướp.

    Như sáu tên cướp có thể làm khổ não thân tâm của nhân dân, giặc sáu trần thường làm thân tâm chúng sanh khổ não cũng như vậy.

    Sáu tên cướp chỉ có thể đoạt tài sản hiện có của người, giặc sáu trần thường cướp đoạt pháp lành của chúng sanh cả ba đời.

    Sáu tên cướp đến đêm tối thời vui mừng, giặc sáu trần ở trong vô minh hắc ám thời nó vui thích. Sáu tên cướp chỉ có nhà vua mới có thể dẹp bắt, giặc sáu trần chỉ có Phật, Bồ-tát mới ngăn dứt được nó.

    Sáu tên cướp này, lúc muốn cướp giật, chẳng lựa chọn người xinh đẹp, thông minh, học rộng, giàu sang hay nghèo hèn. Giặc sáu trần lúc muốn cướp pháp lành cũng chẳng lựa chọn người xinh đẹp nhẫn đến nghèo hèn.

    Sáu tên cướp này, dầu nhà vua bắt được, chặt tay chân, nhưng vẫn không thể làm cho tâm chúng nó hết hung ác. Giặc sáu trần cũng như vậy, dầu Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, chặt đứt nó, cũng chẳng thể làm cho nó chẳng cướp pháp lành. Như người dũng kiện mới có thể dẹp hẳn sáu tên cướp này. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát mới có thể dẹp hẳn giặc sáu trần.

    Như có người quyến thuộc đông, giòng họ lớn, bà con nhiều, thời chẳng bị sáu tên cướp xâm đoạt tài sản. Cũng vậy, chúng sanh nếu có thiện tri thức thời chẳng bị giặc sáu trần cướp hại.

    Sáu tên cướp này nếu thấy tài vật của người, thời có thể trộm cướp. Giặc sáu trần nếu thấy, nếu biết, nếu nghe, nếu ngửi, nếu chạm, nếu hay biết, thời đều có thể cướp đoạt.

    Sáu tên cướp chỉ có thể cướp đoạt tài sản của người cõi Dục, giặc sáu trần có thể cướp đoạt tất cả của báu pháp lành ba cõi.

    Do đây nên Bồ-tát quán sát kỹ sáu trần còn hơn sáu tên cướp kia, do đây nên lo tu tám thánh đạo thẳng tiến chẳng trở lại. Như người kia sợ bốn rắn độc, năm Chiên-đà-la, một kẻ giả bạn thân, cùng sáu tên cướp, rời bỏ tụ lạc trống rỗng theo đường thẳng chạy đi.

    Dọc đường gặp một con sông, chính là lệ cho phiền não.

    Bồ-tát quán sát phiền não này như sông lớn, nước sông chảy xiết có thể làm trôi hương tượng. Phiền não cũng có thể làm trôi bậc Duyên giác.

    Sâu khó đến đáy nên gọi là “sông”, bờ xa khó qua đến nên gọi là “lớn”. Giữa sông có nhiều loài cá hung dữ. Phiền não cũng như vậy, chỉ có Phật và Bồ-tát mới có thể cùng tột nên gọi là rất sâu, chỉ có Phật và Bồ-tát mới qua đến bờ nên gọi là rộng lớn, thường hại tất cả chúng sanh si mê nên gọi là hung dữ. Do đây nên Bồ-tát quán sát phiền não này dường như sông lớn.

    Như nước sông lớn có thể sanh trưởng tất cả cỏ cây, lùm rừng, phiền não cũng có thể sanh trưởng chúng sanh hai mươi lăm cõi. Như có người té xuống sông lớn mà không hổ thẹn, chúng sanh sa vào trong phiền não cũng không hổ thẹn, như té xuống sông chìm chưa đến đáy mà đã chết, chúng sanh sa vào phiền não luân hồi trong hai mươi lăm cõi vẫn chưa đến đáy. Trên đây nói đáy sông là lệ cho tướng không, nếu chẳng tu tướng không này, thời chẳng đặng ra khỏi hai mươi lăm cõi. Tất cả chúng sanh vì chẳng thể khéo tu tướng không nên thường bị phiền não nhận chìm. Do đây nên Bồ-tát quán sát phiền não này dường như sông lớn.

    Như sông lớn kia chỉ có thể làm hại thân mạng mà chẳng phá được pháp lành, phiền não thời có thể phá hoại tất cả pháp lành của thân tâm.

    Sông lớn kia chỉ có thể làm trôi chìm người trong cõi Dục, phiền não thời có thể hại tất cả nhân thiên trong ba cõi.

    Sông lớn trong đời nếu tay ôm phao, vịn bè, chân đạp, thời có thể đến bờ bên kia. Với phiền não thời chỉ có Bồ-tát tu sáu pháp ba-la-mật mới qua khỏi được.

    Như sông lớn người khó lội qua, chúng sanh cũng khó thoát qua khỏi phiền não. Thế nào gọi là khó? Đến bậc Thập trụ Bồ-tát vẫn còn chưa rốt ráo thoát khỏi hẳn phiền não, chỉ có chư Phật mới rốt ráo. Do đây nên gọi là khó qua khỏi được.

    Như có người bị nước sông đẩy trôi chẳng có thể làm được việc gì, chúng sanh bị phiền não lôi cuốn cũng không thể tu tập pháp lành. Như người té sông bị nước cuốn đi, người có đủ sức thời cứu vớt được. Chúng sanh sa vào phiền não làm nhất-xiển-đề, hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, chư Phật đều không cứu tế được. Sông lớn trong đời phải khô cạn lúc kiếp tận. Với phiền não hàng Thanh văn, Duyên giác dầu tu thất giác chi vẫn còn chẳng làm khô được. Vì thế nên Bồ-tát quán sát các phiền não dường như sông lớn.

    Như người kia sợ bốn rắn độc, năm Chiên-đà-la, một kẻ giả bạn thân, cùng sáu tên cướp mà bỏ tụ lạc trống rỗng thẳng đường chạy đi đến bên sông lớn, rồi lấy cỏ kết làm bè. Cũng vậy, Bồ-tát sợ tứ đại, ngũ ấm, tham ái, lục nhập, lục trần, đến sông phiền não, rồi tu giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, sáu môn ba-la-mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, dùng đây làm thuyền bè để vượt qua sông phiền não đến bờ Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh kia.

    Phật dùng ví dụ, ông vua bảo một người bỏ bốn con rắn độc vào trong rương. Bắt người đó điều hòa, làm sao đừng để cho bốn con rắn độc nổi sân. Nếu để nó nổi sân thì người đó sẽ bị xử tử. Bốn rắn này tượng trưng cho tứ đại đất nước gió lửa. Gió có hợp với đất hay không? Lửa có hợp với nước hay không? Nước với lửa tối kỵ nhau, nước thì làm tắt lửa, lửa làm khô nước. Gió với đất, gió mạnh thì tan đất... Vậy mà thân mình lại gồm cả bốn thứ đó. Chúng ta cố tình dung hòa nó cách này cách nọ, nhưng nó có chịu không? Một thứ thắng thế thì đã rên rỉ rồi, nếu nó thắng tột tức nhiên là chết. Nên nói nếu một con phát sân lên thì bị tử hình. Nuôi bốn con rắn độc trong một cái rương thì làm sao không nổi sân, thật là chuyện hết sức khó.

    Như khi nghe trong người hơi nóng thì kiếm cái gì mát uống vô để điều hòa. Hơi rêm rêm trong mình tức là bị phong làm cho mình đau, gió động đất nên nghe đau, phải cạo gió cho nó tan. Cả ngày cứ lo điều bốn thứ đó, nghe thứ nào hơi lấn một chút là kiếm cái khác để điều hòa. Bất hòa ít ít thì ráng, tự mình điều hòa không được thì kiếm ông thầy giúp để điều hòa. Điều hòa đến khi nào bất hòa rồi lúc đó tử. Như vậy cuộc sống của nhân gian chỉ là điều hòa bốn con rắn độc, giữ gìn bốn con rắn độc đừng cho con nào lấn con nào. Mà nó là rắn độc thì làm sao nó không lấn! Lúc nào nó cũng chực sân, chực hại nhau. Chúng ta đang nuôi bốn con rắn độc, vậy mà cứ cưng yêu thì chuyện vô lý quá.

    Người này nghe nói nuôi bốn con rắn độc mà nổi sân lên là tử hình, sợ quá bỏ chạy. Chúng ta nghe Phật nói thân này do tứ đại giả hợp, không bền lâu, không chắc thật; nghe vậy rồi ráng đi tu để giải thoát, đừng mang thân nữa. Đó là ví dụ cho người bỏ chạy không dám lãnh trách nhiệm điều hòa bốn con rắn.

    Khi chạy thì có năm Chiên-đà-la đuổi theo dụ cho năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức của mình. Năm uẩn là hợp cả sắc và tâm; sắc là chỉ cho thân vật chất; thọ, tưởng, hành và thức chỉ cho tâm. Năm uẩn luôn luôn sanh diệt, gây ra bao nhiêu thứ phiền não, cho nên ví dụ như năm Chiên-đà-la. Thọ có thọ khổ thọ vui, thọ khổ thì buồn, thọ vui thì thích thì ham. Sắc, tưởng, hành, thức cũng vậy. Đó là gốc của phiền não.

    Năm Chiên-đà-la đuổi theo, một người giấu dao rồi giả làm bạn thân tới dụ dỗ. Kẻ giả người thân chỉ cho tham ái. Ví dụ, thấy món ăn ngon, làm mình thèm rồi thích ăn, nhưng vì không có tiền nên nghĩ kế này mưu nọ, dấy lên những ý niệm xấu. Như vậy tham ái là kẻ thù giả làm người thân đeo đuổi giết hại, dẫn mình đến bao nhiêu đau khổ chết chóc kiếp này tới kiếp nọ.

    Chạy đến tụ lạc trống rỗng, tụ lạc trống rỗng đó chỉ cho sáu căn. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phàm phu thấy sáu căn là thật có, nhưng với Bồ-tát quán sát sáu căn chỉ là giả dối, trống rỗng không thật. Như đối với mắt, ở trong tứ đại hợp lại cộng thêm thức và thêm duyên bên ngoài: hư không, ánh sáng... mới thành cái thấy của mắt. Như vậy mắt thấy chỉ là duyên hợp không có tự tánh hay không có tướng thật của nó. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng chỉ là duyên hợp như huyễn không thật, không có tự tánh, không phải là chỗ đáng nương tựa.

    Kế đó được báo có sáu tên cướp chỉ cho sáu trần. Sáu trần ở bên ngoài đối với sáu căn làm cho loạn tâm loạn tưởng, rồi dấy lên những tham đắm sân hận si mê. Đó là sáu tên cướp luôn phá hoại của báu pháp thân của mình.

    Người đó bỏ tụ lạc trống rỗng chạy tới con sông lớn. Sông lớn là chỉ cho con sông chứa đầy tất cả phiền não, qua khỏi con sông phiền não đó là một mất một còn. Nhưng qua khỏi sông lớn này thì phải nhờ thuyền bè, nên chặt cây lấy cỏ kết làm bè. Cái bè dụ cho bát chánh đạo hoặc lục độ..., nương nơi đó để ta qua con sông lớn phiền não. Như vậy nếu người nào muốn thoát khỏi đau khổ của vòng sanh tử luân hồi hay của phiền não thì phải nương nhờ vào bát chánh đạo hoặc vào lục độ để qua khỏi bờ sanh tử này đến bờ an vui Niết-bàn.

    Phật nhắc tới nhắc lui nhiều lần, nhưng chúng ta có thể tóm tắt mấy ví dụ như bốn rắn độc, năm Chiên-đà-la, kẻ giả người thân, sáu tên cướp, tụ lạc trống rỗng, sông lớn và kết bè đến bờ kia. Như vậy chúng ta đã rõ ý nghĩa của đoạn kinh này. Người tu phải chịu cực chịu khổ vượt qua những khó khăn mới đến Niết-bàn an ổn, nếu không thì không bao giờ an ổn được.

    Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn suy nghĩ như vầy: Nếu tôi không suy nghĩ nhận lấy sự khổ nơi thân, sự khổ nơi tâm, thời không thể làm cho tất cả chúng sanh qua khỏi sông phiền não. Nhờ suy nghĩ như vậy nên dầu có khổ não, Bồ-tát vẫn yên lặng nhẫn thọ. Vì nhẫn thọ thời chẳng sanh ác lậu. Bồ-tát còn không có những ác lậu, huống là Như Lai. Do đây nên chư Phật là vô lậu. Vì Như Lai thường đi trong hữu lậu, chính là hiện thân trong hai mươi lăm cõi, nên hàng Thanh văn cùng kẻ phàm phu cho rằng Phật là hữu lậu. Thật ra chư Phật Như Lai chân thật vô lậu. Do nhân duyên trên đây nên chư Phật Như Lai không có tướng quyết định. Và cũng do những cớ trên đây nên người phạm bốn tội nặng, hủy báng kinh Đại thừa và nhất-xiển-đề đều không quyết định.”

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát nói: “Phải lắm! Phải lắm! Đúng như lời đức Phật dạy, tất cả pháp đều không quyết định, do đây nên biết Như Lai cũng chẳng rốt ráo nhập Niết-bàn.

    Như vừa rồi đức Phật nói trong đoạn đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn nghe chỗ chẳng nghe, có nói đến Niết-bàn cùng đại Niết-bàn. Bạch Thế Tôn! Thế nào là Niết-bàn? Thế nào là đại Niết-bàn?”

    Đức Phật khen: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Nếu Bồ-tát đặng niệm tổng trì, mới có thể thưa hỏi như ông.

    Này thiện nam tử! Như người đời nói: có biển, có biển lớn; có sông, có sông lớn; có núi, có núi lớn; có thành, có thành lớn; có chúng sanh, có chúng sanh lớn; có vua, có vua lớn; có người, có người lớn; có trời, có trời lớn; có đạo, có đạo lớn; Niết-bàn cũng vậy: có Niết-bàn và có đại Niết-bàn.

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương ca ngợi lời Phật: Tất cả pháp không quyết định, do đây nên biết Như Lai cũng chẳng rốt ráo nhập Niết-bàn. Nhân đó Bồ-tát hỏi về Niết-bàn và đại Niết-bàn.

    Phật khen ngợi Bồ-tát được đại tổng trì mới có thể hỏi được như vậy, và dùng ví dụ như nói sông thì có sông nhỏ sông lớn, biển có biển nhỏ biển lớn, thành có thành nhỏ thành lớn, chúng sanh có chúng sanh nhỏ chúng sanh lớn, vua có vua nhỏ vua lớn, người có người nhỏ người lớn... Và Niết-bàn cũng có Niết-bàn và đại Niết-bàn. Niết-bàn của Nhị thừa là Niết-bàn nhỏ, Niết-bàn của Đại thừa là Niết-bàn lớn.

    Thế nào là Niết-bàn?

    Như người đói đặng chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bệnh được lành thời gọi là an vui. Như người kinh sợ đặng chỗ nương dựa thời được an vui. Như người nghèo cùng đặng châu báu thời được an vui. Như người quán xương trắng chẳng sanh lòng tham dục thời được an vui. Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết-bàn, nhưng chẳng được gọi là đại Niết-bàn, vì còn trong phạm vi tương đối.

    Nghĩa của Niết-bàn là an vui. Nhưng những an vui trên là Niết-bàn chứ chẳng phải là đại Niết-bàn, vì chỉ là cái an vui tạm, chưa phải là an vui cứu cánh. Ở Ấn Độ được an vui người ta gọi là Niết-bàn. Nhưng Niết-bàn của phàm phu khác, Niết-bàn của hàng Nhị thừa khác, Niết-bàn của chư Phật và Bồ-tát cũng khác. Những an vui trên đây đều là an vui của phàm phu, nên gọi là Niết-bàn của phàm phu.

    Này thiện nam tử! Nếu người phàm phu nhẫn đến hàng Thanh văn, hoặc nhân thế tục, hoặc nhân thánh đạo, mà dứt được kiết sử cõi Dục thời được an vui. Có thể dứt kiết sử cõi Sơ thiền nhẫn đến có thể dứt kiết sử cõi Phi phi tưởng thời được an vui. Những sự an vui này cũng gọi là Niết-bàn, nhưng chẳng được gọi là đại Niết-bàn, vì còn tập khí phiền não.

    Thế nào gọi là tập khí phiền não?

    Hàng Thanh văn, Duyên giác còn có tập khí phiền não, chính là những quan niệm: thân tôi, áo tôi, tôi đi, tôi đến, tôi nói, tôi nghe, chư Phật Như Lai nhập Niết-bàn, bản tánh Niết-bàn không ngã, không lạc, chỉ có thường và tịnh, Phật, Pháp, và Tăng có tướng sai khác, Như Lai rốt ráo nhập Niết-bàn, chỗ chứng đặng Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác cùng chư Phật đồng nhau không sai khác, những quan niệm trên đây là tập khí phiền não. Vì thế nên chỗ chứng đặng của hàng Nhị thừa chẳng phải là đại Niết-bàn, vì không có thường, lạc, ngã, tịnh. Có thường, lạc, ngã, tịnh mới được gọi là đại Niết-bàn.

    An vui này là của hàng Nhị thừa do dẹp trừ kiết sử mà được Niết-bàn, chưa được gọi là đại Niết-bàn. Tại sao? Vì còn những tập khí phiền não nhỏ nhiệm chưa sạch.

    Hàng Thanh văn Duyên giác có tập khí về ngã chưa hết, chưa sạch. Nói thân tôi, áo tôi đó là nói ngã sở. Tôi đi, tôi đến, tôi nói, tôi nghe là ngã. Như vậy ngã và ngã sở của hàng Thanh văn chưa sạch, nên tập khí phiền não chưa dứt. Niết-bàn các ngài được chỉ có thường và tịnh, mà không có lạc và ngã. Các ngài tưởng Niết-bàn của chư Phật cũng như Niết-bàn của các ngài. Nếu dứt hết các tập khí đó mới được thường lạc ngã tịnh, mới gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Ví như vùng nào có thể chứa đựng tất cả những dòng nước thời gọi là biển lớn. Chỗ nào Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và chư Phật chứng nhập thời gọi là đại Niết-bàn. Tứ thiền, ba môn tam-muội, tám pháp bội xả, tám pháp thắng xứ, mười pháp nhất thiết xứ, vị nào có thể nhiếp thủ vô lượng pháp lành như vậy thời gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Ví như có con sông, hương tượng lớn nhất lội không đến đáy thời gọi là sông lớn. Hàng Thanh văn, Duyên giác nhẫn đến Thập trụ Bồ-tát chẳng thấy Phật tánh thời gọi là Niết-bàn, chẳng phải đại Niết-bàn. Nếu có thể thấy rõ Phật tánh thời được gọi là đại Niết-bàn.

    Vì đại Niết-bàn là chỗ dung hội được tất cả từ Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đến Phật nên mới gọi là Đại. Còn Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác không dung hội được Bồ-tát và Phật nên không gọi là Đại. Có thể nhiếp thủ vô lượng pháp lành như vậy thời gọi là đại Niết-bàn, nếu chưa nhiếp thủ hết thì chưa gọi là đại Niết-bàn.

    Phật dùng lối so sánh Niết-bàn và đại Niết-bàn qua nhiều bậc. Thứ nhất là Niết-bàn do dung hội được tất cả từ thấp đến cao gọi là Đại. Niết-bàn do chứa đầy đủ tất cả công đức gọi là Đại. Ở đây Niết-bàn do thấy được Phật tánh thì gọi là Đại, chưa thấy thì không gọi là Đại.

    Chỉ có đại tượng vương mới có thể tột đến đáy sông lớn đại Niết-bàn. Đại tượng vương đây là lệ cho chư Phật.

    Chỉ có chư Phật mới đi tới chỗ đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Nếu các đại lực sĩ trải qua nhiều thời gian không thể leo lên được, mới gọi là núi lớn. Hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát không thể thấy được mới gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Nơi trấn giữ của các vị tiểu vương thời gọi là thành nhỏ, chỗ của vua Chuyển luân vương trấn đóng mới gọi là thành lớn. Chỗ chứng nhập của Thanh văn, Duyên giác: tám muôn, sáu muôn, bốn muôn, hai muôn, một muôn kiếp, thời gọi là Niết-bàn. Chỗ chứng nhập của Như Lai vô thượng Pháp vương mới được gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Ví như có người thấy bốn đội binh lòng chẳng sợ sệt, nên biết người này gọi là đại chúng sanh. Nếu có chúng sanh đối với ác đạo phiền não ác nghiệp mà chẳng sợ sệt, có thể ở trong đó rộng độ chúng sanh, nên biết người này đặng đại Niết-bàn.

    Nếu có người cúng dường cha mẹ, cung kính Sa-môn và Bà-la-môn thật hành pháp lành, lời nói thành thật không có khi dối, có thể nhẫn những sự ác hại, lại hay bố thí cho kẻ nghèo thiếu, thời gọi là bậc đại trượng phu. Cũng vậy, Bồ-tát có đại từ bi thương xót tất cả, xem chúng sanh như cha mẹ, đưa chúng sanh qua khỏi sông sanh tử, đem đạo Nhất thừa chân thật chỉ dạy cho chúng sanh, đây gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Chữ Đại là nói chẳng thể nghĩ bàn, nếu chẳng thể nghĩ bàn mà chúng sanh chẳng thể tin được, thời gọi là đại Niết-bàn, chỉ có Phật và Bồ-tát thấy được. Lại do vô lượng nhân duyên rồi sau mới có thể được nên gọi là đại. Vì có đại ngã nên gọi là đại Niết-bàn. Vì Niết-bàn không có ngã, vì đại tự tại nên gọi là đại ngã.

    Niết-bàn của Phật gọi là đại Niết-bàn, Niết-bàn của Nhị thừa gọi là Niết-bàn. Hàng đại trượng phu thì mới chứng được đại Niết-bàn. Cũng như trên, đại chúng sanh thì mới chứng được đại Niết-bàn

    Niết-bàn không có ngã, đại tự tại gọi là đại ngã, có đại ngã nên gọi là đại Niết-bàn.

    Đại tự tại vì có tám điều tự tại: Một là có thể thị hiện một thân làm nhiều thân, số thân lớn nhỏ nhiều như vi trần đầy khắp mười phương vô lượng thế giới. Thân Như Lai thật chẳng phải vi trần vì sức đại tự tại mà thị hiện vi trần thân. Tự tại như vậy thời gọi là đại ngã.

    Hai là thị hiện một thân vi trần đầy khắp cõi đại thiên, thật ra thân Như Lai chẳng đầy nơi cõi đại thiên, vì là vô biên, do sức tự tại nên thị hiện đầy khắp nơi cõi đại thiên. Tự tại như vậy gọi là đại ngã.

    Ba là có thể đem thân khắp cõi đại thiên này, bay trên hư không nhẹ nhàng đến nơi hai mươi hằng hà sa thế giới mà không chướng ngại. Thật ra thân Như Lai không có nặng nhẹ, do sức tự tại nên làm có nhẹ có nặng, đây gọi là đại ngã.

    Bốn là Như Lai chỉ có nhất tâm an trụ chẳng động, do sức tự tại, vô lượng thân hình hóa hiện ra đều làm cho có tâm. Cũng do sức tự tại, có lúc Như Lai làm một việc mà khiến cho tất cả chúng sanh đều được thành tựu. Do sức tự tại thân Như Lai thường ở một cõi mà làm cho tất cả chúng sanh ở cõi khác đều thấy. Tự tại như vậy gọi là đại ngã.

    Năm là căn tự tại, với một căn Như Lai có thể thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, cảm xúc, hay biết. Sáu căn của Như Lai thật ra chẳng thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm biết, do sức tự tại nên làm cho sáu căn đều tự tại, do đây gọi là đại ngã.

    Sáu là vì tự tại nên chứng đặng tất cả pháp, thật ra tâm Như Lai không có quan niệm chứng đặng, vì là vô sở đắc. Phật thời không có sở đắc nhưng đắc được tất cả. Nếu pháp là có thời có thể gọi là chứng đắc, pháp vẫn không thật có, đâu được gọi là chứng đắc. Giả sử Như Lai có quan niệm chứng đắc thời chư Phật chẳng được Niết-bàn. Do vì không chứng đắc nên gọi là được Niết-bàn. Do tự tại mà chứng được tất cả pháp nên gọi là đại ngã.

    Một là do sức đại tự tại thị hiện tự do không ngăn ngại, biến hiện thân lớn nhỏ rất nhiều, gọi là đại ngã. Hai là biến hiện thân trùm khắp đại thiên gọi là đại ngã. Ba là do sức tự tại dời đi không thấy nặng, không bị chướng ngại. Bốn là như trong kinh có nêu, khi Phật phóng quang thấy mười phương thế giới đều rõ ràng. Nhiều chúng sanh nương đó mà thấy các cõi Phật, hoặc các chúng sanh nơi các cõi khác được thấy đức Phật ở cõi này... Đó là sức tự tại. Bởi tự tại nên gọi là đại ngã.

    Năm là căn tự tại . Sáu căn tự tại này trong kinh Lăng-nghiêm gọi là lục căn hỗ dụng. Nghe thật khó hiểu. Lỗ mũi làm sao nếm mùi, nghe tiếng được? Lỗ mũi làm sao xúc chạm được? Tay xúc chạm thì chỉ biết nóng, biết lạnh, biết vuông, biết tròn... Nhưng có nhiều người chạm tay mà biết được là ai hay vật gì, lỗ mũi có thể biết được mùi và có thể biết được vật đó có vị chua, có vị ngọt hay có vị mặn thay cho lưỡi. Có khi không cần mắt thấy mà vẫn biết có người ở trước mình, như nghe âm thanh gõ cọc cọc, tôi biết thợ đá đang ở phía trước này; người điếc, chỉ cần thấy miệng người ta nhép nhép là đoán được nói cái gì. Như vậy căn này ẩn thì căn kia sáng. Tóm lại, các căn đều có công dụng đặc biệt của nó. Phàm phu thì chỉ xài được công dụng của từng căn, nên chưa gọi là tự tại. Chư Phật sáu căn hỗ dụng thì không còn chướng ngại, có thể dùng các căn thay nhau vô cùng tự tại.

    Sáu là vì tự tại nên chứng đặng tất cả pháp, Như Lai không có quan niệm chứng đặng, vì là vô sở đắc . Chúng ta luôn cho tu là phải chứng phải đắc. Ai chứng? Mình chứng. Chứng cái gì? Chứng pháp tu. Như vậy phải có mình và có pháp mới chứng được. Vậy nếu không thấy thật có mình, không thấy thật có pháp thì không có chứng đắc. Trong Bát-nhã Tâm Kinh có câu vì không có sở đắc cho nên Bồ-tát y theo Bát-nhã đắc vô thượng Bồ-đề, có vẻ mâu thuẫn. Nhưng không đắc mà đắc là chỗ đặc biệt. Vì không thấy ngã pháp là thật nên nói không đắc, như thế mới được vô thượng Bồ-đề, mới thành Phật. Nếu chúng ta còn thấy có chứng có đắc thì chưa được Niết-bàn, vì còn có ngã có pháp.

    Cho nên người tu, nhất là tu thiền mà nói có chứng đắc là tối kỵ, vì nói chứng đắc đó là bệnh, là không đắc gì hết.

    Bảy là diễn thuyết tự tại. Như Lai diễn thuyết nghĩa một bài kệ trải qua vô lượng kiếp cũng chẳng hết như nói về giới, định, thí, huệ v.v... Đức Như Lai chẳng có quan niệm rằng ta nói người nghe, cũng chẳng nghĩ là một bài kệ. Người đời dùng bốn câu làm một bài kệ, Như Lai thuận theo thế tục nên cũng nói là bài kệ. Tất cả pháp tánh cũng không có ngôn thuyết, do sức tự tại nên Như Lai diễn thuyết, vì diễn thuyết nên gọi là đại ngã.

    Tám là Như Lai khắp đầy tất cả chỗ như hư không. Tánh hư không chẳng thể thấy được, Như Lai thật cũng chẳng thể thấy được, vì tự tại nên làm cho chúng sanh được thấy. Tự tại như vậy gọi là đại ngã.

    Do nghĩa tự tại này nên gọi là đại Niết-bàn.

    Bảy là Phật có thể diễn thuyết một bài kệ thời gian không biết bao lâu. Có khi một pháp mà Phật dùng đến bảy tám ví dụ, còn chúng ta ráng tìm một ví dụ nói ra cũng khó, không nói thêm được. Đại sư Trí Giả khi được tam-muội rồi, chỉ năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, ngài giảng một tuần. Người đạt được tự tại, nói năng không bị ngăn trệ, một nghĩa giảng ra rất nhiều nghĩa và dẫn rất nhiều ví dụ để cho người ta hiểu, vì vậy nói là đại ngã.

    Tám là Như Lai đầy khắp tất cả như hư không, khiến cho chúng sanh được ngộ được thấy, đó gọi là đại ngã.

    Đại Niết-bàn là do đại ngã, đại ngã là do tự tại, tự tại gọi là đại ngã. Không phải như thế gian, người nào chấp ngã lớn gọi là đại ngã, ngã đó là ngã của trầm luân, không phải là ngã của Niết-bàn. Ngã của Niết-bàn là do sức tự tại nên gọi là đại ngã.

    Này thiện nam tử! Như kho báu chứa nhiều thứ châu báu lạ kỳ nên gọi là đại tạng. Cũng vậy, tạng pháp rất sâu, rất diệu của Như Lai chứa đầy những pháp kỳ lạ chẳng thể nghĩ bàn, nên gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Phật nhiều vô biên mới gọi là đại, Niết-bàn vô biên, vô lượng nên gọi là đại. Này thiện nam tử! Lại vì có đại lạc nên gọi là đại Niết-bàn. Niết-bàn vốn không sự vui, do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết-bàn. Một là vì dứt những sự vui, chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thật vui. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết-bàn không khổ không vui nên Niết-bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa này mà gọi là Niết-bàn.

    Bởi chứa kho báu vô tận nên gọi là đại Niết-bàn.

    Đây là chỗ đặc biệt của Niết-bàn. Niết-bàn là vui, mà chứng Niết-bàn là dứt tất cả cái vui. Tại sao? Nếu người nào tu hành tâm có tí xíu an ổn cảm thấy vui. Nhưng được cái vui an ổn thanh tịnh đó là do dứt tất cả vui của thế gian như ca nhạc, chợ búa... Chúng ta nhiều khi tưởng chúng là vui, nhưng sự thật không phải là vui. Tất cả vui thế gian không bao giờ có vui an tịnh được. Dứt chúng đi thì mới biết được vui của an tịnh. Ví dụ như nghe nhạc thấy vui, khi hết nghe thì buồn. Hoặc xem thấy những cảnh thích thú là vui, cảnh qua mất cảm thấy buồn. Như vậy vui đó là mầm của khổ, là gốc của vô thường. Dứt những cái vui tạm bợ kia sẽ được cái vui thuần thanh tịnh, cái vui đó gọi là vui Niết-bàn, là đại lạc.

    Thế gian vì muốn vui nên khổ. Như nghe quảng cáo mời coi xiếc, coi ca vũ nhạc kịch..., những đứa bé đứng ngoài ao ước vào xem mà không có tiền thì buồn, thì khổ. Hoặc xin được tiền ba má để vào coi thì vui, mai lại nghe rao nữa, xin được một lần đâu xin được hoài, vào coi không được thì khổ. Tất cả vui đó thật là gốc của khổ. Tất cả cái vui thế gian đều như vậy, có rồi mất, lại chạy theo cái khác, cứ vậy nó dẫn mình chạy hoài hoài. Nếu chạy theo thì hết làm ăn, hết cơm hết gạo, không có cái vui an ổn. Người ta thường nhắm vào sở thích của mình, làm chúng ta nôn nao mà chạy theo, chỉ khi nào dứt được những cái vui đó thì mới được an vui thật sự.

    Niết-bàn vì không khổ không vui nên gọi là rất vui, là đại lạc. Như có người tới Tu viện hỏi quý thầy ở đây có an ổn vui vẻ không, chúng ta nói an vui. Nói vui là vui của mình, người ta đâu thấy gì vui. Chính cái an tịnh không vui đó mới thật là vui, không khổ không vui mới là cái vui thật, cái vui Niết-bàn, cho nên ngày nào chúng ta cũng chúm chím cười được. Còn những người chạy theo cái vui ồn náo thì không phải là vui, đó là gốc của khổ.

    Vui có hai thứ: vui của phàm phu và vui của chư Phật. Vui của phàm phu là vô thường bại hoại, nên không có thật vui. Vui của chư Phật là thường là không biến đổi nên gọi là đại lạc. Lại có ba thứ thọ: một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Bất khổ bất lạc đây cũng là khổ. Niết-bàn dầu cũng chẳng khổ, chẳng vui nhưng là thật vui, do đây nên gọi là đại Niết-bàn.

    Hai là vì đại tịch tịnh gọi là đại lạc. Tánh Niết-bàn là đại tịch tịnh, vì xa lìa tất cả sự ồn náo, do đại tịch tịnh nên gọi là đại Niết-bàn.

    Ba là vì biết tất cả nên gọi là đại lạc. Như Lai biết tất cả nên gọi là đại Niết-bàn.

    Bốn là vì thân chẳng hư hoại nên gọi là đại lạc. Thân Như Lai là thân kim cương không hư hoại, chẳng phải thân phiền não, chẳng phải thân vô thường, nên gọi là đại lạc, là đại Niết-bàn.

    Tất cả vui của phàm phu đều vô thường, bại hoại. Như mấy người đi đánh bạc, bữa nào thắng tiền đầy túi về vui hớn hở, mà đâu phải bữa nào cũng thắng, lúc thua lại buồn rầu quạu quọ với người trong nhà. Danh lợi, ăn uống... cũng đều là cái vui vô thường bại hoại không lâu bền. Vui của chư Phật là vui an tịnh, dứt hết những phiền não, những xấu xa trong tâm, thuần thanh tịnh, thuần giác ngộ. Vui này thường còn không biến đổi, đó là đại lạc.

    Xúc chạm sanh ra thọ của thân gồm ba thứ: khổ, lạc, không khổ không lạc. Khổ thì đành là khổ rồi, lạc thọ cũng vô thường nên khổ. Còn bất khổ bất lạc thấy như tương tự với không khổ không vui của Niết-bàn nhưng khác vì có thọ. Như uống nước ngọt, lưỡi chúng ta xúc chạm vị ngọt mình thích, gọi là lạc thọ. Còn nếu uống ly nước có thuốc ký-ninh đắng, không thích, gọi là khổ thọ. Uống một ly nước lạnh không đắng không ngọt thì gọi là thọ không khổ không lạc. Ba thọ này đều là vô thường nên nói thuộc khổ, bại hoại. Cái vui Niết-bàn không phải vậy, không khổ không lạc đây nghĩa là tâm hoàn toàn an lành thanh tịnh, là đại Niết-bàn.

    Hai là đại tịch tịnh nên gọi là đại Niết-bàn. Người đời thích vui chán khổ, tìm những cái vui ồn náo, đông người chung hợp. Cái vui ồn náo, khi tụ họp lại đông thì vui, ly tán thì buồn. Vui đó là vô thường, là gốc của khổ. Còn người tu hay chư Phật, chư Bồ-tát cũng không thích khổ mà hướng về vui, nhưng vui của các ngài hướng về là cái vui tịch tịnh. Bởi tịch tịnh nên xa lìa mọi sự ồn náo, là cái vui an lành của tự tâm, nên lúc nào vui đó cũng còn mãi gọi là đại Niết-bàn. Đó mới là cái vui chân thật. Cho nên người tu ở chỗ vắng vẻ một mình vẫn thấy vui, thấy an lành thanh tịnh, cái vui này không ai đổi được, cũng không làm mất được.

    Tại sao biết tất cả là đại lạc? Chợt tìm được cái lạ chúng ta đã vui, huống nữa là biết tất cả cái mà thế gian chưa biết thì làm sao không vui được. Vì vậy nói do biết tất cả nên gọi là đại lạc. Đại lạc cho nên gọi là đại Niết-bàn.

    Sao là thân kim cương? Thân tứ đại hòa hợp này gọi là nhục thân. Nếu hướng về thân thịt, thân máu mủ này tìm cái vui thì không bền, là cái vui của bại hoại nên không thật vui. Còn người lanh lợi sáng suốt, nhận được Phật tánh không sanh không diệt không hình không tướng, nhận biết rõ ràng không ngờ vực nữa. Phật tánh đó gọi là pháp thân hằng còn, không gì xúc não được, nên ví như kim cương, chứ không phải là thân bằng ngọc hay kim cương. Ai biết trở về thân kim cương không phải thân vô thường, là đại lạc, là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Danh tự của thế gian hoặc có nhân duyên đặt ra, hoặc không nhân duyên đặt ra. Có nhân duyên đặt ra, như Xá-lợi-phất, vì bà mẹ tên là Xá-lợi, nhân tên mẹ mà đặt tên ông là Xá-lợi-phất. Như Ma-vu-la đạo nhân, vì sanh quán tại nước Ma-vu-la, nhân tên nước mà đặt tên cho đạo nhân. Như Mục-kiền-liên, Mục-kiền-liên chính là họ, nhân họ đặt tên gọi là Mục-kiền-liên. Như ta sanh trong giòng Cù-đàm, nhân giòng họ đặt tên gọi ta là Cù-đàm. Như nhà thông thái Tỳ-xá-khư, Tỳ-xá-khư chính là tên một ngôi sao, nhân ngôi sao này đặt tên là Tỳ-xá-khư. Như người có sáu ngón tay, nhân đây gọi là người sáu ngón. Như danh từ Phật nô, Thiên nô, nhân nơi Phật, nhân nơi Thiên, mà gọi là Phật nô, Thiên nô. Như nhân nơi ẩm ướt sanh ra nên gọi là loài thấp sanh. Như nhân nơi tiếng mà gọi là Ca-ca-la, gọi là Cứu-cứu-la. Những danh từ như vậy là có nhân duyên mà đặt tên.

    Không nhân duyên mà đặt ra, như hoa sen, như đất, nước, gió, lửa, hư không. Như một danh từ mạn-đà-bà chỉ cho hai vật: điện đường và uống nước, điện đường chẳng phải uống nước nhưng cũng đều được gọi là mạn-đà-bà. Như tát-bà-sa-đa gọi là xà cái, thật chẳng phải là xà cái. Như trên đây gọi là không nhân mà lập danh tự.

    Thế gian đặt tên tùy theo duyên, do nhân duyên cha mẹ mà đặt tên con, hoặc nhân duyên xứ sở, hoặc tùy thuộc giòng họ, hoặc nhân duyên nào đó mà đặt tên. Ví dụ Phật nô, Thiên nô tức là kẻ tôi tớ của Phật, tôi tớ của chư thiên. Vì có Phật có chư thiên mới đặt ra tên đó để chỉ cho sự lệ thuộc.

    Lại có những danh từ đặt ra mà không tùy thuộc vào cái gì. Ví dụ như hoa sen, như đất nước gió lửa hư không, những thứ này không tùy thuộc cái gì nên gọi là không nhân duyên. Hoặc những danh từ Ấn Độ như mạn-đà-bà, chỉ cho nhà cửa điện đường, hay chỉ cho uống nước, một danh từ có hai nghĩa, tùy chỗ mà dùng.

    Này thiện nam tử! Đại Niết-bàn đây cũng không có nhân duyên mà lập danh tự. Như hư không chẳng nhân sự trống rỗng nhỏ mà gọi là đại không, Niết-bàn cũng chẳng nhân nơi tướng nhỏ mà gọi là đại Niết-bàn. Ví như có một vật chẳng thể cân lường chẳng thể nghĩ bàn thời gọi là đại, Niết-bàn cũng chẳng thể cân lường chẳng thể nghĩ bàn nên gọi là đại Niết-bàn.

    Do vì thuần thanh tịnh nên gọi là đại Niết-bàn. Thanh tịnh có bốn thứ: Một là hai mươi lăm cõi gọi là bất tịnh, vì có thể dứt hẳn nên gọi là thanh tịnh. Thanh tịnh đây tức là Niết-bàn. Niết-bàn này cũng đặng gọi là có. Nhưng thật ra Niết-bàn chẳng phải là có, Như Lai thuận theo thế tục nên nói Niết-bàn là có. Ví như người đời chẳng phải cha gọi là cha, chẳng phải mẹ gọi là mẹ, chẳng phải thật cha mẹ mà nói là cha mẹ. Cũng vậy, tùy thuận theo thế tục nên nói chư Phật có đại Niết-bàn.

    Phật muốn chúng ta thoát ngoài đối đãi. Nghe nói đại Niết-bàn thì chúng ta sẽ so sánh với tiểu Niết-bàn. Nếu có đại có tiểu thì Niết-bàn đó cũng nằm trong tương đối. Đại Niết-bàn là chỉ cho Niết-bàn tuyệt đối không thể nghĩ bàn, không thể cân lường, vượt ngoài tương đối.

    Danh từ thanh tịnh có nhiều nghĩa khác nhau. Ví dụ nói tu hành cho được thanh tịnh nghĩa là mình không phạm tội nói dối, ăn cắp, hay không phạm giới luật gọi là thanh tịnh. Đây Phật nói thanh tịnh là dứt hết hai mươi lăm cõi. Nếu còn chủng tử phiền não để sanh trong hai mươi lăm cõi, hay nói cách khác là còn chủng tử để luân hồi gọi là bất tịnh. Người nào dứt hết chủng tử luân hồi gọi là thanh tịnh.

    Có hình tướng mới gọi là có, nếu không hình tướng thì gọi là không. Niết-bàn không hình tướng nên không, nhưng chứng được nên gọi là có. Đó là tùy thuận theo thế tục mà nói. Niết-bàn là tự khế hợp nên không nói có không nói không, nếu nói có nói không thì nằm trong tương đối rồi.

    Hai là vì nghiệp thanh tịnh. Tất cả phàm phu vì nghiệp chẳng thanh tịnh nên không có Niết-bàn. Như Lai vì nghiệp thanh tịnh nên gọi là đại tịnh, do đại tịnh nên gọi là đại Niết-bàn.

    Ba là vì thân thanh tịnh. Thân vô thường thời gọi là chẳng thanh tịnh. Thân Như Lai thường trụ không biến đổi nên gọi là đại tịnh, vì đại tịnh nên gọi là đại Niết-bàn.

    Bốn là vì tâm thanh tịnh. Tâm nếu có ác lậu thời gọi là chẳng thanh tịnh. Tâm của Phật vô lậu nên gọi là đại tịnh, vì đại tịnh nên gọi là đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Đây gọi là nam tử, nữ nhân tu hành kinh Đại Niết-bàn này thành tựu đầy đủ phần công đức thứ nhất.

    Tất cả nghiệp đều trong sạch nên gọi là đại Niết-bàn. Thân thanh tịnh là chỉ pháp thân hay Phật tánh. Thân đó thường hằng nên thanh tịnh, thân chúng ta là thân vô thường nên bất tịnh. Vì vậy nên nói thân thanh tịnh đó là đại Niết-bàn. Tâm thanh tịnh là tâm không còn một chút nhiễm ác, gọi là tâm thanh tịnh vô lậu, là đại Niết-bàn.

    Tu đại Niết-bàn có năm công đức. Một là chỗ chẳng nghe có thể đặng nghe, hai là nghe rồi có thể làm lợi ích, ba là có thể dứt tâm nghi hoặc, bốn là được trí tuệ chánh trực, năm là có thể biết tạng bí mật của Như Lai. Trên đây là thành tựu phần công đức thứ nhất.

    Này thiện nam tử! Kế đây là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ hai.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, xưa chỗ chẳng được mà nay được, xưa chỗ chẳng thấy mà nay được thấy, xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe, xưa chỗ chẳng đến mà nay được đến, xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Thế nào gọi là xưa chẳng được mà nay được? Chính là nói về thần thông. Thần thông có hai thứ: một là ngoài, hai là trong. Thần thông ngoài thời cùng ngoại đạo giống nhau. Thần thông trong lại có hai thứ: một là của Nhị thừa, hai là của Bồ-tát. Thần thông của Bồ-tát, hàng Thanh văn Bích-chi Phật chẳng có được. Hàng Nhị thừa biến hóa một tâm hiện làm một chẳng hiện được nhiều. Bồ-tát ở trong một tâm thời có thể hiện đủ tất cả thân trong lục đạo, do vì được thế lực của kinh Đại Niết-bàn. Đây gọi là xưa chỗ chẳng được mà nay được. Lại Bồ-tát được thân tự tại, tâm tự tại. Tất cả phàm phu thân cũng như tâm đều chẳng tự tại hoặc tâm theo nơi thân, hoặc thân theo nơi tâm. Ví như người say, rượu ở trong thân, lúc bấy giờ thân động tâm cũng động theo, cũng như thân mỏi mệt thì tâm cũng mỏi mệt theo, đây thời gọi là tâm theo nơi thân. Lại như trẻ thơ, thân nó nhỏ bé, tâm nó nhỏ theo, người lớn thân lớn thì tâm cũng lớn theo. Lại như có người thân thể thô rít, tâm họ thường nghĩ đến dầu mỡ muốn thoa cho được trơn nhuyễn, đây cũng gọi là tâm theo nơi thân.

    Phần công đức thứ hai cũng có năm: xưa chỗ chẳng được mà nay được, xưa chỗ chẳng thấy mà nay được thấy, xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe, xưa chỗ chẳng đến mà nay được đến, xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Một là xưa chỗ chẳng được mà nay được tức là thần thông. Bồ-tát do vì được thế lực của kinh Đại Niết-bàn, ở trong một tâm có thể hiện đủ tất cả thân trong lục đạo, hàng Nhị thừa không bằng. Đây gọi là xưa chỗ chẳng được mà nay được.

    Bồ-tát lại được thân tâm tự tại. Chúng ta thì hoặc tâm theo nơi thân, hoặc thân theo nơi tâm. Ngồi thiền bữa nào mệt nhọc quá, muốn giữ cho tỉnh táo nhưng một hồi lại gục, tâm cũng bị mờ mịt yếu đuối. Thân mỏi mệt tâm cũng mỏi mệt theo. Và thân có gì bực bội thì tâm cũng luôn nghĩ tới, ví dụ khi người rít rắm thì tâm nghĩ đến nước muốn tắm. Đây gọi là tâm theo nơi thân.

    Thế nào gọi là thân theo nơi tâm? Chính là đi, đến, ngồi, nằm, thật hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, người sầu não thời thân gầy héo, người vui mừng thời thân tươi nở, người kinh sợ thời thân run rẩy, chuyên tâm thính pháp thời thân vui vẻ, người buồn khóc thời nước mũi, nước mắt chảy tuôn đây thời gọi là thân theo nơi tâm.

    Tâm muốn đi thì thân theo đó cất bước. Tâm vừa nghĩ nằm thì thân theo đó mà nằm. Muốn ngồi, muốn đứng cũng vậy. Tâm muốn làm việc bố thí, trì giới, thân cũng tùy thuận theo. Ví dụ như bị người đánh, lúc đó tâm nghĩ phải nhẫn nhục, thì thân theo đó mà nhịn. Đó là thân theo tâm.

    Chúng ta thấy rõ bệnh là gốc tại tâm, tâm buồn sanh ra bệnh hoạn. Biết thân theo tâm, nên muốn ít bệnh hoạn thì phải vui vẻ tươi tỉnh. Nếu người nào sầu não mặt nhăn nhó hoài thì dễ đau tim, hoặc đau gan đau phổi, là gốc của bệnh. Đó là nghĩa thân theo tâm.

    Cho nên khi tu được tâm vững rồi, thì thân cũng theo đó mà khỏe. Việc này tôi đã kinh nghiệm nhiều. Khi tôi đau nằm nhà thương, bệnh phổi kỵ ở xứ lạnh mà tôi trái lời bác sĩ lên Bảo Lộc ở. Vì tôi tin rằng nếu tâm không lo, không phiền não thì bệnh hết. Quả thật tôi lên ở có hai năm thì hết bệnh. Như vậy tức là thân theo tâm. Tâm được an ổn thì hết bệnh, nếu bệnh mà ở chỗ nào cũng bực bội làm sao hết bệnh.

    Bồ-tát thời chẳng như vậy thân tâm đều được tự tại. Đại Bồ-tát hiện thân tướng như vi trần, thân vi trần này có thể khắp đến vô lượng vô biên hằng hà sa thế giới không bị chướng ngại, mà tâm Bồ-tát thường định vẫn không di động, đây thời gọi là tâm chẳng theo nơi thân và cũng gọi là xưa chỗ chẳng đến mà nay được đến, vì tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật chẳng thể đến được mà Bồ-tát đến được. Tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật dầu dùng thần thông chẳng có thể biến thân nhỏ như vi trần khắp đến vô lượng hằng hà sa thế giới. Thanh văn, Bích-chi Phật lúc thân động thời tâm cũng động theo.

    Đại Bồ-tát thân tâm đều được tự tại, hiện thân tướng như vi trần, đến vô lượng vô biên hằng hà sa thế giới không bị chướng ngại, mà tâm Bồ-tát thường định vẫn không di động . Đây là tâm chẳng theo nơi thân, và cũng gọi là xưa chỗ chẳng đến mà nay được đến . Nhị thừa không được vậy, thân động tâm cũng động theo.

    Thường thường trong thiền tông, ai chú trọng ngồi nhiều quá bị quý ngài quở là Nhị thừa. Tại sao? Vì Thanh văn, Duyên giác khi ngồi, thân yên tâm mới định. Khi thân yên tâm mới định thì khi thân động tâm sẽ loạn, đó là thân tâm chưa tự tại. Cho nên thiền sư tập định trong cái động, đi đứng nằm ngồi, làm tất cả các việc, đi chăn trâu, cày ruộng, cuốc đất, bửa củi đều định. Như Lục Tổ bửa củi giã gạo trong cái động mà tâm định. Thân tâm tự tại thì thân động mà tâm vẫn yên. Đó mới thật là hạnh của Bồ-tát. Cho nên ráng tập, đi cuốc đất cũng thiền, nấu cơm cũng thiền chứ không phải chỉ ngồi thiền, cái đó chưa được. Sơ cơ thì ngồi là tốt, không phải nói vậy rồi bỏ ngồi. Khi ngồi được yên, khi làm cũng phải tập cho yên nữa, như vậy mới tốt, mới tự tại.

    Bồ-tát chẳng như vậy, tâm dầu chẳng động mà thân đến khắp tất cả chỗ, đây gọi là tâm chẳng theo nơi thân. Lại Bồ-tát hóa thân lớn bằng đại thiên thế giới, đem thân to lớn này chui vào thân nhỏ như vi trần, tâm của Bồ-tát cũng chẳng nhỏ theo. Thanh văn, Bích-chi Phật dầu có thể hóa thân to lớn như đại thiên thế giới nhưng chẳng thể đem thân to lớn này chui vào thân nhỏ như vi trần.

    Trong việc này Nhị thừa còn chẳng làm được huống là có thể khiến tâm chẳng động theo. Đây gọi là Bồ-tát tâm chẳng theo nơi thân.

    Đại Bồ-tát dùng một âm thanh có thể làm cho tất cả chúng sanh trong đại thiên thế giới đều nghe, trong tâm Bồ-tát trọn chẳng nghĩ rằng khiến âm thanh này khắp đến các thế giới làm cho chúng sanh được nghe, Bồ-tát nói rằng do tôi thuyết pháp làm cho chúng sanh được nghe, nên biết người này trọn chẳng thể đặng Vô thượng Chánh giác. Vì tâm tưởng như trên đây là tâm sanh tử. Tất cả đại Bồ-tát đã hết tâm sanh tử này vì thế nên thân tâm của Bồ-tát chẳng theo dõi nhau.

    Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu thân tâm theo nhau. Bồ-tát chẳng như vậy, vì hóa độ chúng sanh nên dầu hiện thân nhỏ nhưng tâm chẳng bé nhỏ vì tâm tánh của Bồ-tát luôn rộng lớn. Dầu lúc hiện thân lớn như đại thiên thế giới, nhưng tâm cũng chẳng lớn. Do nghĩa này nên tâm của Bồ-tát chẳng theo nơi thân. Đại Bồ-tát đã từ vô lượng, vô số kiếp xa lìa rượu chẳng uống, nhưng tâm cũng động, tâm không buồn khổ mà thân cũng rơi lệ, thật không kinh sợ mà thân cũng run rẩy, do đây nên biết rằng Bồ-tát thân tâm tự tại, chẳng theo dõi nhau. Đại Bồ-tát dầu hiện một thân, mà các chúng sanh mỗi người tự thấy sai khác.

    Bồ-tát tự tại hiện lớn cũng được mà nhỏ cũng được, thân biến hóa lớn nhỏ mà tâm vẫn an nhiên. Trong các kinh như kinh Pháp Hoa..., các vị Bồ-tát ở cõi nước khác đi đến cõi này nghe kinh mà tâm vẫn ở trong đại định, thân có dời đổi mà tâm luôn luôn trong định. Chúng ta làm sao đi đâu làm gì tâm vẫn ở trong định thì nấu cơm nấu nước... cũng là đạo hết, không có chỗ nào không phải đạo. Nhị thừa làm lớn được mà làm nhỏ không được, nên không thể khiến tâm chẳng động theo.

    Phàm phu uống rượu vào thì tâm bị kích động, thân liền bị loạn. Bồ-tát thân vẫn động, cũng đến cũng đi,

    cũng làm công việc, nhưng thân động không phải vì tâm động. Thân động mà tâm vẫn an định. Tâm không buồn khổ mà thân cũng rơi lệ, trong kinh thường nói, Bồ-tát khi có người đến xin mà không có gì để cho thì các ngài rơi lệ dầm dề. Khóc như vậy không phải buồn thảm phiền não mà khóc. Tâm vẫn yên, thấy sự đau khổ của chúng sanh thì rơi lệ nhưng không phải vì phiền não.

    Chỗ này tế nhị khó hiểu. Bồ-tát, La-hán lẽ ra không còn đau khổ, không còn rơi nước mắt, nhưng trong phẩm Ai Thán, các ngài khóc sướt mướt khi nghe Phật sắp Niết-bàn. Bồ-tát, La-hán cũng xúc động chứ không phải không. Xúc động do từ bi thương xót chứ không phải vì phiền não đau khổ. Nhiều người tu, khi xúc động cũng chảy nước mắt, người khác cười “tu lâu mà còn rơi nước mắt, tôi mới tu mà tôi không rơi nước mắt”, nói vậy nghe như là hay nhưng không phải. Thấy cảnh đau khổ của chúng sanh có khi phải xúc động, đó là vì từ bi chứ không phải do ái trước. Chúng ta thường khóc vì ái trước, như thương con quá, khi con đi xa thì khóc, đó là vì ái. Các ngài khóc do lòng từ bi thấy người ta khổ mà không giúp được.

    Khi Tứ Tổ đi đến chỗ ngài Pháp Dung, đến gần am bất chợt có một con cọp nhảy ra, Tứ Tổ giật mình. Ngài Pháp Dung hỏi: “Ngài cũng còn cái đó sao?” Cái đó không phải do tâm kinh sợ mà chỉ là một phản xạ tự nhiên của con người. Tứ Tổ hỏi lại: “Cái đó là cái gì?” Ngài Pháp Dung không trả lời được. Như vậy không phải vì kinh sợ nhưng bất thình lình thì giật mình. Cho nên nói thật không kinh sợ mà thân cũng run rẩy .

    Thế nào là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe? Đại Bồ-tát trước lấy tướng các thứ tiếng: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng người, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng ống tiêu, tiếng ca, tiếng cười, v.v... mà luyện tập đó, do luyện tập nên có thể nghe tất cả tiếng của những địa ngục trong vô lượng đại thiên thế giới, lại càng tu tập thêm nên được nhĩ căn khác lạ, khác hơn thiên nhĩ của Thanh văn, Bích-chi Phật. Vì nhĩ căn thanh tịnh của Nhị thừa nếu nương tứ đại tịnh diệu của Sơ thiền thời chỉ nghe tiếng cõi Sơ thiền chẳng nghe được cõi Nhị thiền, nhẫn đến Tứ thiền cũng như vậy, dầu có thể trong một lúc được nghe tất cả tiếng trong đại thiên thế giới nhưng chẳng thể nghe được tiếng trong vô lượng vô biên hằng sa thế giới. Do nghĩa này nên gọi là Bồ-tát xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe, Bồ-tát dầu nghe tiếng tâm mà trong lòng vẫn không có tướng nghe tiếng, chẳng có tướng thường, lạc, ngã, tịnh, tướng chủ, tướng y, tướng tác, tướng nhân, tướng định, tướng quả. Do nghĩa này nên các vị Bồ-tát xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe.”

    Xưa chỗ chẳng nghe mà nay được nghe là chỉ cho cái định của Bồ-tát, do đối tất cả tiếng các ngài đã luyện tập thuần thục cho nên sau này các ngài nghe được tất cả các tiếng đồng một lúc. Còn như hàng Thanh văn Bích-chi Phật, khi tu về nhĩ căn thanh tịnh của Nhị thiền thì chỉ nghe được tiếng của Nhị thiền, nhĩ căn thanh tịnh của Sơ thiền thì chỉ nghe được tiếng của Sơ thiền... còn những tiếng của các cõi kia thì không nghe được. Định của Bồ-tát vượt hơn tất cả định của hàng Thanh văn Bích-chi Phật.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch rằng: “Thế Tôn! Như Phật nói Bồ-tát chẳng thấy có tướng định, không tướng quả thời không được đúng. Vì trước kia Như Lai nói: Nếu có người nghe một chữ một câu kinh Đại Niết-bàn này quyết định được thành vô thượng Bồ-đề. Giờ đây sao Như Lai lại nói là không định không quả? Nếu được vô thượng Bồ-đề thời chính là tướng quyết định, chính là tướng quả sao lại nói rằng không định không quả? Vì nghe tiếng ác thời sanh tâm ác vì sanh tâm ác thời đọa tam đồ, nếu đọa tam đồ thời là định quả, sao lại nói rằng không định không quả?”

    Như Lai khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Ông có thể thưa hỏi như vậy. Giả sử chư Phật nói các âm thanh là có tướng định quả, đây thời chẳng phải là tướng chư Phật, mà là tướng ma vương, là tướng sanh tử, là tướng xa lìa Niết-bàn. Vì tất cả chư Phật chỗ nói ra không có tướng định quả. Ví như dùng lưỡi dao sáng soi mặt người: dựng đứng thời thấy mặt dài, để ngang thời thấy mặt rộng (tướng nó không cố định, tùy duyên hiện ra) . Do nghĩa đây nên chư Phật phàm nói ra không có tướng định quả. Đại Niết-bàn thật chẳng phải kết quả của tiếng. Giả sử Niết-bàn là quả của tiếng thời Niết-bàn chẳng phải là pháp thường trụ. Ví như những pháp trong đời theo nhân mà sanh, có nhân thời có quả, không nhân thời không quả, vì nhân vô thường nên quả cũng vô thường, nhân cũng làm quả, quả cũng làm nhân, do nghĩa này nên tất cả pháp không có tướng nhất định. Giả sử Niết-bàn từ nhân mà sanh, vì nhân vô thường nên quả cũng vô thường. Nhưng Niết-bàn chẳng từ nhân mà sanh, thể Niết-bàn chẳng phải là quả, vì thế nên Niết-bàn là thường trụ. Do nghĩa đây nên thể của Niết-bàn là không định không quả.

    Này thiện nam tử! Luận về Niết-bàn, cũng có thể nói là định, cũng có thể nói là quả. Niết-bàn của tất cả chư Phật là thường, lạc, ngã, tịnh nên nói là định, không sanh già hư hoại nên nói là định. Nhất-xiển-đề phạm bốn tội nặng, hủy báng Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch, rời bỏ bản tâm (tức là khi đã rời bỏ tâm trước) thời quyết định chứng đặng Niết-bàn, nên gọi là định.

    Nếu nói nghe một tiếng kinh Đại Niết-bàn liền được kết quả thì Niết-bàn là kết quả của tiếng, nếu là do tiếng thì đó là Niết-bàn lệ thuộc bên ngoài chứ không phải trong tâm tu. Đó là ma vương nói.

    Vì tất cả pháp thế gian nhân quả nương nhau, nhân làm quả quả làm nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy nên không có tướng nhất định.

    Giả sử người xấu cho nên mang tội, bây giờ họ rời bỏ những nết xấu thì nhất định hết tội. Do bỏ hết những cái xấu cũ, tiến tu được Niết-bàn, nên nói là định.

    Này thiện nam tử! Như ông vừa nói: Nếu có người nghe một chữ, một câu kinh Đại Niết-bàn, thời đặng vô thượng Bồ-đề. Đối với nghĩa này, ông còn chưa hiểu rõ. Ông nên lóng nghe! Nếu có người nghe một câu, một chữ kinh Đại Niết-bàn, trong tâm chẳng có quan niệm tướng chữ, tướng câu, chẳng có tướng nghe, tướng Phật, tướng nói pháp, đây gọi là tướng vô tướng. Do tướng vô tướng nên đặng vô thượng Bồ-đề.

    Nếu nói nhân nơi tiếng mà được vô thượng Bồ-đề là lầm. Nghe một câu mà không thấy tướng chữ tức không chấp nơi chữ, không thấy tướng câu tức không chấp nơi câu, chẳng có tướng nghe thì không chấp nơi mình, không thấy tướng Phật tức không chấp nơi Phật, không thấy tướng nói pháp tức không chấp nơi pháp. Không chấp mình, không chấp Phật, không chấp pháp, không chấp lời, như vậy là tướng mà vô tướng. Đó là được vô thượng Bồ-đề.

    Này thiện nam tử! Như ông vừa nói vì nghe tiếng ác, mà đến tam đồ, nghĩa đó không phải. Vì chẳng phải tiếng ác mà đến tam đồ. Phải biết quả này là do tâm ác. Vì như có người nghe tiếng ác mà tâm chẳng sanh ác, do đây nên biết chẳng phải do tiếng ác mà đọa trong tam đồ. Nhưng chúng sanh do nơi phiền não ác tâm quá nhiều mà phải sanh vào ba đường ác, chẳng phải là do nơi tiếng ác. Nếu tiếng có tướng quyết định, những người nghe tiếng ác, lẽ ra tất cả đều sanh tâm ác. Nay nghe tiếng ác, mà có người sanh tâm ác, có người chẳng sanh tâm ác, nên biết rằng tiếng không có tướng quyết định. Do vì không tướng quyết định nên dầu nghe tiếng ác mà chẳng sanh tâm ác.”

    Ví dụ người ta nói “mày là đồ súc sanh”, chúng ta có thành súc sanh hay không? Không. Do tâm nghĩ theo tâm niệm súc sanh cho nên mới đọa làm súc sanh chứ đâu phải người ta chửi mà mình thành súc sanh. Điều này rất rõ ràng. Như có người bị mắng liền nổi sân lên và mắng lại, đó là nghe tiếng ác mà sanh tâm ác. Nhưng cũng có người nghe tiếng mắng chỉ cười, nghĩ rằng người ta đang thử mình nên không buồn phiền. Đó là do tiếng ác mà không sanh tâm ác, nên biết tiếng không có tướng quyết định.

    Ngài Cao Quý Đức Vương Bồ-tát lại hỏi rằng:

    “Bạch Thế Tôn! Tiếng nếu không quyết định, cớ sao Bồ-tát nay đặng nghe chỗ xưa chẳng nghe?”

    “Này thiện nam tử! Tiếng không có tướng quyết định nên làm cho Bồ-tát nay được nghe chỗ xưa chẳng nghe. Do nghĩa này nên Như Lai nói xưa chỗ chẳng nghe, mà nay được nghe.

    Này thiện nam tử! Thế nào là chỗ xưa chẳng thấy mà nay được thấy? Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn, trước lấy tướng sáng: những ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đèn đuốc, bảo châu, lửa. Do tu tập ánh sáng mà đặng nhãn căn khác lạ, khác hơn thiên nhãn của Thanh văn Duyên giác. Thiên nhãn của Nhị thừa nếu nương nơi nhãn căn tứ đại cõi Dục thời chẳng thấy Sơ thiền, nếu nương nơi nhãn căn Sơ thiền thời chẳng thấy cõi trên, cũng chẳng thấy nhãn căn của chính mình, nhiều lắm là thấy tột đến đại thiên thế giới. Đại Bồ-tát chẳng tu thiên nhãn, thấy sắc thân tốt đẹp đều là tướng xương trắng, dầu thấy sắc tướng trong hằng hà sa thế giới khác, nhưng chẳng tưởng là sắc tướng, chẳng tưởng là tướng thường, tướng có, tướng vật, tướng danh tự, chẳng tưởng là tướng thấy, cũng chẳng nói nhãn căn này có tướng thanh tịnh vi diệu, chỉ thấy là tướng nhân duyên cùng tướng chẳng phải nhân duyên. Thế nào là nhân duyên? Sắc là cảnh duyên của nhãn căn. Giả sử sắc chẳng phải là nhân duyên, thời tất cả phàm phu lẽ ra chẳng thấy tướng sắc. Thế nào là chẳng phải nhân duyên? Đại Bồ-tát dầu thấy sắc nhưng chẳng tưởng là tướng sắc, do đây nên chẳng phải là duyên. Vì thế nên thiên nhãn thanh tịnh của Bồ-tát khác với thiên nhãn của Thanh văn Duyên giác. Trong một lúc, Bồ-tát thấy khắp chư Phật hiện tại ở mười phương thế giới. Cũng có thể thấy vi trần. Hàng Thanh văn Duyên giác chẳng thấy được như thế. Bồ-tát dầu thấy nhãn căn của mình mà vẫn không có tướng thấy, thấy tướng vô thường, thấy thân của phàm phu có ba mươi sáu vật, chứa đầy những thứ bất tịnh, thấy rõ như xem trái a-ma-lặc trong bàn tay. Nếu thấy sắc tướng của chúng sanh, Bồ-tát biết người này là căn tánh Đại thừa hay Tiểu thừa. Đụng chạm đến y phục của họ, Bồ-tát cũng biết người đó có những căn lành hay căn chẳng lành. Do đây nên gọi là xưa chỗ chẳng thấy mà nay được thấy cũng gọi là xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết. Vì khi thấy thời biết chỗ xưa chẳng biết, do vì biết nên thấy chỗ xưa chẳng thấy.

    Bởi tiếng không có tướng quyết định nên mới nghe được cái ngày xưa chẳng nghe. Các vị Bồ-tát khi tu định của nhãn căn đối trước tất cả những ánh sáng đều định được, nên thấy xa hơn tất cả các hàng Thanh văn và Duyên giác. Còn hàng Thanh văn Duyên giác y cứ vào định nào thì chỉ thấy chừng ngằn ấy, ngoài cái đó thì không thấy. Bồ-tát tu tập tất cả các ánh sáng nên chỗ nào các ngài cũng thấy nên thù thắng hơn. Đó là nói chỗ xưa chẳng thấy mà nay được thấy.

    Này thiện nam tử! Thế nào là Bồ-tát xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết? Đại Bồ-tát dầu biết tâm tham, sân, si của phàm phu, nhưng vẫn chẳng tưởng là tâm và tâm sở, chẳng tưởng là chúng sanh cùng vật. Thường tu tướng rốt ráo không đệ nhất nghĩa, do tu tập tướng không, nên biết được chỗ xưa chẳng biết.

    Biết như thế nào? Biết không có ngã không có ngã sở, biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Vì có Phật tánh nên hàng nhất-xiển-đề rời bỏ được bản tâm thời sẽ đặng Vô thượng Chánh giác. Những điều trên đây hàng Thanh văn Duyên giác chẳng biết được mà Bồ-tát có thể biết. Vì thế nên gọi là xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Sở dĩ đại Bồ-tát biết được chỗ xưa chẳng biết là do Bồ-tát đối với tâm của chúng sanh không thấy là thật. Và cũng thường sống trong định Đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không là thấy tất cả tướng không tự tánh, an định trong đó nên những chỗ xưa không biết mà nay được biết.

    Tâm tham sân si của phàm phu có thật hay không? Nếu có thật thì tham phải tham hoài, sân phải sân hoài. Nhưng có khi tham có khi không tham, có khi sân có khi không sân, nó không thật. Bởi không thật nên biết tham sân si là do nhân duyên mà có nên không tự tánh. Bồ-tát không chấp đó là thật, vì vậy các ngài an trụ trong trong định Không, tức là thấy tất cả các pháp không có tự tánh. Biết rõ như vậy nên không cố chấp. Biết như vậy gọi là biết chỗ xưa chẳng biết.

    Chính kinh Đại Niết-bàn này làm cho chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng mình có Phật tánh và quả quyết mình tu rồi cũng sẽ thành Phật, như có hạt giống thì sẽ ươm thành cây, chắc chắn như vậy. Đối với người, kinh này giúp cho chúng ta có một tâm lượng rộng rãi bao dung. Như đối với hạng nhất-xiển-đề hủy báng Đại thừa, tạo tội ngũ nghịch, là người xấu ác bậc nhất không còn một chút thiện căn, theo kinh điển Tiểu thừa thì chắc chắn họ sẽ xuống địa ngục. Nhưng kinh này Phật nói những người xấu ác như vậy nếu bỏ tâm xấu ác đi, hối hận ăn năn tu thì cũng được thành Phật. Chúng ta nghe lời này rồi nên nghĩ những người xấu ác nhưng mình hóa độ họ bỏ được tâm xấu, họ cũng thành Phật được, nếu loại họ ra không giáo hóa thì chúng ta chưa bao dung được tất cả.

    Những điều trên đây hàng Thanh văn Duyên giác chẳng biết được mà Bồ-tát có thể biết. Vì thế nên gọi là xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn nhớ đời quá khứ tất cả chúng sanh bao nhiêu những giòng họ cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn thân, kẻ thù. Trong một niệm Bồ-tát đặng trí khác lạ, khác với trí huệ của Thanh văn, Duyên giác. Thế nào là khác? Trí huệ của Thanh văn, Duyên giác nhớ đến giòng họ cha mẹ v.v... của chúng sanh đời quá khứ mà có tướng giòng họ cha mẹ v.v... Bồ-tát dầu nghĩ nhớ giòng họ cha mẹ thuở quá khứ, nhưng trọn chẳng tưởng có tướng giòng họ cha mẹ v.v... mà thường thấy tướng không tịch. Đây gọi là Bồ-tát xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn đặng tha tâm trí khác với Thanh văn, Duyên giác. Thế nào là khác? Hàng Thanh văn Duyên giác lúc dùng một niệm trí biết tâm của người, thời chẳng thể biết tâm của chư thiên, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Trong một niệm Bồ-tát biết khắp tất cả tâm của lục đạo chúng sanh. Đây gọi là Bồ-tát xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết. Bồ-tát lại ở nơi trong một tâm rõ biết từ sơ tâm đến tâm thứ mười sáu của Tu-đà-hoàn. Do đây nên gọi là xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Đây là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ hai.

    Bồ-tát dù cũng nhớ cha mẹ anh em nhưng thấy đều là duyên hợp như huyễn, tự tánh là không cho nên luôn luôn không tịch, còn Thanh văn thì thấy thật nên có khác nhau.

    Thanh văn, Duyên giác trong một niệm trí chỉ biết tâm của người, còn Bồ-tát thì biết khắp tâm của ba cõi. Tại sao vậy? Một là tâm lượng các ngài rộng lớn nên các ngài biết được khắp. Hai là các ngài biết tất cả tâm lượng đều không thật nên không có gì là chướng ngại, Nhị thừa thấy là thật nên có chướng ngại. Đây gọi là Bồ-tát xưa chỗ chẳng biết mà nay được biết.

    Này thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ ba? Đại Bồ-tát bỏ lòng từ đặng lòng từ, lúc đặng lòng từ chẳng do nhân duyên. Thế nào là bỏ lòng từ đặng lòng từ? Từ gọi là thế đế. Đại Bồ-tát bỏ lòng từ thế đế đặng lòng từ đệ nhất nghĩa. Lòng từ đệ nhất nghĩa chẳng do nhân duyên. Lòng từ nếu là có thể bỏ thời gọi là lòng từ của phàm phu, lòng từ nếu có thể được thời gọi là lòng từ vô duyên của Bồ-tát, đặng lòng từ lân mẫn, đặng lòng từ của Như Lai, lòng từ này là lòng từ không nhân duyên. Lại bỏ lòng từ của hoàng môn, của người không căn, hai căn, nữ nhân, đồ tể, thợ săn v.v... cũng bỏ lòng từ của Thanh văn, Duyên giác, đặng lòng từ vô duyên của Bồ-tát. Chẳng còn thấy lòng từ của mình cũng chẳng thấy lòng từ của người, cũng chẳng thấy trì giới phá giới.

    Như vậy lòng từ đó đi đôi với cái trí biết các pháp tự tánh vốn là không.

    Dầu tự thấy lòng bi nhưng chẳng thấy tướng chúng sanh. Dầu có chịu khổ nhưng chẳng thấy người chịu khổ. Vì Bồ-tát tu hành chân thật không đệ nhất nghĩa nên thành tựu đầy đủ phần công đức thứ ba như vậy.

    Lòng từ thế đế là lòng thương của phàm tục, lòng từ đệ nhất nghĩa đế là được lòng thương phù hợp với trí quán các pháp không tự tánh của Bồ-tát. Lòng từ bi của phàm tục là hiện thân của ái, lòng từ của Bồ-tát, của Phật hiện thân của trí tuệ, nên gọi là lòng từ đệ nhất nghĩa.

    Ví như bà mẹ thương con, đứa con nào có hiếu thì thương nhiều, đứa con nào bất hiếu thì ít thương, có khi còn giận nữa. Như vậy gọi là lòng từ có nhân duyên, còn lòng từ đệ nhất nghĩa thì chẳng do nhân duyên.

    Lòng thương còn có thể bỏ được là lòng thương của phàm phu tức là có khi thương có khi không. Ví dụ như hôm nay có người biết tuân theo lời giáo hóa của mình thì mình thương, còn khi nào họ không còn tuân theo nữa mình cũng hết thương. Như vậy lòng từ đó có thể bỏ được. Đối với chư Phật, chư Bồ-tát thì dù thuận cũng thương, nghịch cũng thương, nên lòng từ đó không thể bỏ được, là lòng từ sẵn có, đó là lòng từ vô duyên, tức là không có nhân duyên.

    Lòng từ sở dĩ được đầy đủ là do các Bồ-tát dùng đệ nhất nghĩa không, tức là quán các pháp không có tự tánh, duyên khởi như huyễn, do đó thành tựu được lòng từ, thành tựu được công đức thứ ba.

    Này thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ-tát tu hành  kinh  Đại  Niết-bàn  thành  tựu  đầy  đủ  phần công đức thứ tư? Nơi đây có mười việc: một là căn lành sâu không bị lay động, hai là đối với thân mình có quan niệm quyết định, ba là chẳng thấy phước điền và chẳng phải phước điền, bốn là tu tập công hạnh thanh tịnh Phật độ, năm là diệt trừ ba thứ hữu dư, sáu là dứt trừ nghiệp duyên, bảy là tu thân thanh tịnh, tám là rõ biết các duyên, chín là lìa những oán địch, mười là dứt trừ nhị biên.

    Thế nào là căn lành sâu khó lay động. Căn lành đây là nói chẳng phóng dật, chẳng phóng dật là căn lành của vô thượng Bồ-đề. Cội gốc pháp lành của tất cả chư Phật đều do chẳng phóng dật. Vì chẳng phóng dật nên những căn lành khác lần lần được tăng trưởng. Như trong các thứ dấu chân, dấu chân của voi là hơn hết, ở trong các pháp lành chẳng phóng dật cũng là hơn hết. Như trong các thứ ánh sáng, ánh sáng mặt trời là hơn hết, chẳng phóng dật cũng là hơn hết các pháp lành khác. Như vua Chuyển luân là bậc nhất trong các vua chúa, chẳng phóng dật cũng là bậc nhất trong các pháp lành. Như trong các dòng nước, bốn sông là hơn hết, chẳng phóng dật cũng là hơn hết trong các pháp lành. Như núi Tu-di là bậc nhất trong các núi, chẳng phóng dật cũng là hạng bậc nhất trong các pháp lành. Như hoa sen xanh hơn tất cả những hoa mọc trong nước, chẳng phóng dật cũng là hơn hết trong các pháp lành. Như hoa bà-lợi-sư-ca hơn tất cả thứ hoa mọc trên đất, chẳng phóng dật cũng hơn hết các pháp lành khác. Như trong các loài thú, sư tử là hơn hết, chẳng phóng dật hơn những pháp lành khác. Như trong các loài chim, kim sí điểu là bậc nhất, chẳng phóng dật cũng là bậc nhất trong các pháp lành. Như trong loài thân to lớn, vua a-tu-la, la-hầu-la, là to hơn cả, chẳng phóng dật cũng là hơn hết trong các pháp lành. Như trong tất cả chúng sanh, đức Như Lai là tôn quý nhất, chẳng phóng dật cũng là bậc nhất trong các pháp lành. Như trong các đoàn thể, chư tăng là hơn hết, chẳng phóng dật cũng hơn hết trong các pháp lành. Như trong giáo pháp của Phật, kinh Đại Niết-bàn là hơn hết, chẳng phóng dật cũng là hơn hết trong các pháp lành. Do những nghĩa này nên căn lành chẳng phóng dật sâu bền khó lay động.

    Thế nào là do chẳng phóng dật mà được thêm lớn các căn lành? Những căn lành: tín, giới, bố thí, trí huệ, nhẫn nhục, đa văn, tinh tấn, niệm, định, thiện tri thức đều do chẳng phóng dật mà được thêm lớn.

    Công đức thứ tư của người trì kinh Đại Niết-bàn, có mười phần.

    Một là căn lành sâu khó lay động, không phóng dật . Phóng dật là buông lung chạy theo sáu trần, ngũ dục. Nếu người buông lung thì sẽ mất hết gốc lành, không buông lung thì sẽ đầy đủ tất cả căn lành.

    Như Phật tử tại gia, mỗi tối đều tụng kinh sám hối, nhưng đến tối thứ bảy có ca nhạc hay cải lương, họ ngưng tụng kinh để nghe. Vậy họ vì phóng dật nơi lỗ tai mà buông lung mất đi căn lành. Ngược lại, dù có cải lương, ca nhạc rất hay đi nữa cũng nhất định tụng thời kinh, công đức lành ngày càng tăng trưởng, căn lành ngày càng đầy đủ. Đó là trường hợp thứ nhất.

    Trường hợp thứ hai, là người đã xuất gia nhưng bản tánh thích xem những cảnh đẹp, thích ngao du sơn thủy. Trong ba tháng an cư có ai tổ chức hành hương ngoài Huế hay đâu đó, nghe nói có những cảnh đẹp. Người này liền khởi tâm thích đi để được xem cho vừa mắt. Đó là vì buông lung con mắt theo trần cảnh mà mất công đức lành. Nếu buông lung sáu căn chạy theo sáu trần ngũ dục, người ta sẽ mất hết những gốc lành. Vì vậy đức Phật nói không buông lung là căn lành của vô thượng Bồ-đề .

    Này thiện nam tử! Thế nào là đối với thân mình Bồ-tát có quan niệm quyết định? Bồ-tát quyết định biết rằng thân của ta đây quyết định sẽ làm pháp khí vô thượng Bồ-đề ở đời vị lai, chẳng có tâm hẹp nhỏ, chẳng có tâm biến đổi, chẳng sanh tâm Thanh văn, Bích-chi Phật, chẳng sanh tâm ma, tâm tự hưởng vui, tâm sanh tử. Thường vì chúng sanh cầu tâm từ bi. Đây gọi là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn đối với thân mình sanh lòng quyết định.

    Này thiện nam tử! Thế nào là Bồ-tát chẳng thấy phước điền và chẳng phải phước điền? Những gì là phước điền? Ngoại đạo trì giới trên đến chư Phật đây gọi là phước điền. Nếu có người nghĩ rằng những bậc này thuộc về phước điền nên biết tâm niệm này hẹp kém.

    Đại Bồ-tát quán sát tất cả chúng sanh không ai chẳng phải là phước điền, do vì Bồ-tát khéo tu tập niệm xứ khác lạ, nên quán sát chúng sanh không thấy có trì giới cùng hủy giới. Thường quán sát bốn pháp bố thí của Phật nói ra đều đặng quả báo thanh tịnh. Những gì là bốn thứ bố thí? Một là thí chủ thanh tịnh, người thọ chẳng thanh tịnh. Hai là thí chủ chẳng thanh tịnh, người thọ thanh tịnh. Ba là thí chủ cùng người thọ đều thanh tịnh. Bốn là thí chủ cùng người thọ đều chẳng thanh tịnh.

    Thí chủ có đủ trì giới đa văn trí huệ rõ biết nhân cùng quả bố thí, người thọ thời phá giới tà kiến không tin bố thí cùng quả báo, đây gọi thí chủ thanh tịnh mà người thọ chẳng thanh tịnh.

    Nếu thí chủ phá giới tà kiến không tin bố thí cùng quả báo, người thọ thời trì giới đa văn trí huệ biết có nhân cùng quả bố thí, đây gọi là thí chủ chẳng thanh tịnh người thọ thời thanh tịnh.

    Nếu người bố thí cùng người thọ đều trì giới đa văn trí huệ biết có bố thí cùng quả báo, đây gọi là người thí người thọ đều thanh tịnh.

    Nếu người thí người thọ đều phá giới tà kiến không tin nhân cùng quả bố thí, đây gọi là người thí kẻ thọ đều chẳng thanh tịnh.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát thưa rằng:

    “Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy, tại sao lại nói Bồ-tát được quả báo thanh tịnh, vì không thí, không báo nên gọi là thanh tịnh?”

    “Này thiện nam tử! Nếu có người chẳng thấy bố thí cùng quả báo bố thí, nên biết rằng, người này chẳng gọi là phá giới tà kiến.

    Này thiện nam tử! Nếu y theo Nhị thừa nói rằng chẳng thấy bố thí cùng quả báo, đây gọi là phá giới tà kiến. Nếu nương kinh Đại Niết-bàn này mà chẳng thấy bố thí cùng quả báo thời gọi là trì giới chánh kiến. Đại Bồ-tát có niệm xứ khác lạ, do tu tập niệm xứ này nên chẳng thấy chúng sanh trì giới, phá giới, người thí, người thọ và quả báo bố thí, nên được gọi là trì giới chánh kiến. Vì những nghĩa trên đây nên đại Bồ-tát chẳng thấy phước điền và chẳng phải phước điền.

    Hai là Bồ-tát quyết định thân hiện tại của mình sẽ là món đồ hữu ích trong Phật pháp để được vô thượng Bồ-đề ở đời sau . Qua đây chúng ta thấy được tâm lượng rộng lớn của Bồ-tát, quyết định mình sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, để đều được thành vô thượng Bồ-đề.

    Ba là Bồ-tát chẳng thấy phước điền và chẳng phải phước điền . Kinh A-hàm dạy chúng ta bố thí thì phải chọn phước điền mà rải, không nên rải dưới đất hoang. Phước điền là ruộng tốt, như chọn những người trì giới, tinh tấn tu hành, chứng tứ thánh quả cho đến chư Phật chư Bồ-tát. Những người phá giới, những người không tinh tấn tu hành... thì không phải phước điền. Nếu nghĩ như thế là tâm niệm còn hẹp kém chưa bình đẳng.

    Đức Phật dạy có bốn thứ bố thí: Người thí kẻ thọ, có người thanh tịnh có người không thanh tịnh, hoặc tất cả thanh tịnh, hoặc tất cả không thanh tịnh.

    Tại sao ở trên nói rằng nếu người bố thí mà tin được bố thí cùng tin quả báo thì người đó được gọi là người thí thanh tịnh hoặc là người thọ thanh tịnh, còn ở đây nói rằng người không bố thí và không báo mà không gọi là tà kiến? Phật giải thích: Nói như trên là y theo Nhị thừa. Nếu nương kinh Đại Niết-bàn này mà chẳng thấy bố thí cùng quả báo thời gọi là trì giới chánh kiến. Đại Bồ-tát có niệm xứ khác lạ, do tu tập niệm xứ này nên chẳng thấy chúng sanh trì giới phá giới, người thí người thọ và quả báo bố thí, nên được gọi là trì giới chánh kiến.

    Như vậy sự tu tập niệm xứ khác lạ của Bồ-tát là quán không. Vì quán tất cả pháp do duyên hợp mà có như huyễn, không tự tánh. Không tự tánh thì làm gì có người thí, làm gì có quả báo bố thí. Luôn luôn dùng trí quán như vậy thì gọi đó là trì giới chánh kiến.

    Bồ-tát lúc nào cũng dùng trí tuệ quán sát các pháp hiện có ở nhân gian đều không tự tánh. Không tự tánh thì làm sao quyết định đây là phước điền kia không phải phước điền. Nếu thấy đây là phước điền kia không phải phước điền tức là đã có tánh quyết định rồi. Nên từ bi mà được thành công viên mãn cũng do trí quán Không của Bồ-tát. Được tới chỗ bố thí, trì giới viên mãn cũng do trí quán Không của Bồ-tát. Nếu tu các hạnh mà thiếu trí tuệ Bát-nhã thì vẫn không đầy đủ. Tu tập niệm xứ khác lạ của Bồ-tát nghĩa là quán chúng sanh, mình và vật đều không có tự tánh, vì không tự tánh nên không có người thí, không có vật đem ra thí, không có người thọ thí, tuy thấy không có như vậy mà lúc nào cũng làm việc bố thí, đó là đặc điểm của Bồ-tát, cho nên gọi là niệm xứ khác lạ.

    Thế nào gọi là thanh tịnh cõi Phật? Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh, nên lìa tâm giết hại. Do căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật, nguyện chúng sanh đặng thọ mạng dài lâu có thế lực lớn được thần thông lớn. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, tất cả chúng trong cõi nước được thọ mạng dài lâu có thế lực lớn và thần thông lớn.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh, nên lìa tâm trộm cướp. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh, đồng thành Phật. Nguyện cõi nước thuần là bảy báu, chúng sanh đầy đủ vật cần dùng tùy theo ý muốn. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, cõi nước thuần là bảy báu, chúng sanh giàu đủ tùy ý tự tại.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề, vì độ chúng sanh, nên lìa tâm tham dục. Đem căn lành này nguyện cùng chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện tất cả chúng sanh không có tham dục, sân khuể, ngu si, cũng không có người đói khát, khổ não. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, chúng sanh trong cõi nước xa lìa tâm tham dục, sân khuể, ngu si, không có người đói khát khổ não.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh nên lìa tâm vọng ngữ. Đem căn lành này nguyện tất cả chúng sanh cùng thành Phật. Nguyện các cõi nước thường có cây bông, cây trái, cây mùi thơm, chúng sanh đều được tiếng nói tốt. Do sức thệ nguyện này nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, cõi nước thường có cây bông, cây trái, cây mùi thơm, chúng sanh đều được tiếng nói tốt thanh tịnh.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh nên xa lìa tâm lưỡng thiệt. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện các cõi nước tất cả chúng sanh thường hòa hiệp nhau, cùng nhau giảng nói chánh pháp. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, tất cả chúng sanh trong cõi nước đều hòa hiệp nhau cùng nhau giảng luận pháp yếu.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề, vì độ chúng sanh nên xa lìa tâm ác khẩu. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật, nguyện các cõi nước mặt đất bằng thẳng, không có sạn sỏi gai góc, chúng sanh đều có tâm bình đẳng. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, cõi nước bằng thẳng không có sạn sỏi gai góc, tâm chúng sanh đều bình đẳng.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề, vì độ chúng sanh nên lìa lời nói vô nghĩa. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện chúng sanh không có khổ não. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, tất cả chúng sanh trong cõi nước không có khổ não.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh nên xa lìa tâm tham lam tật đố. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện chúng sanh không có tham lam tật đố, não hại, tà kiến. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, chúng sanh trong cõi nước đều không có tâm tham lam, tật đố, não hại, tà kiến.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn vì vô thượng Bồ-đề, vì độ chúng sanh nên xa lìa tâm não hại. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện chúng sanh đồng tu tập đại từ đại bi, đặng bâc nhất tử. Do sức thệ nguyện này nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, chúng sanh trong cõi nước đều tu tập đại từ đại bi, được bậc nhất tử.

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn vì vô thượng Bồ-đề vì độ chúng sanh nên xa lìa tà kiến. Đem căn lành này nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Nguyện chúng sanh đều được Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật. Do sức thệ nguyện này, nên đời vị lai lúc Bồ-tát thành Phật, chúng sanh trong cõi nước đều được thọ trì Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật, đây gọi là Bồ-tát tu hành thanh tịnh cõi Phật.

    Bốn là muốn trang nghiêm cõi Phật trước hết Bồ-tát phải giữ giới sát sanh và nguyện cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật, đồng được thọ mạng lâu dài, vì giữ giới sát sanh thì được quả báo thọ mạng lâu dài.

    Lìa trộm cướp nên Bồ-tát nguyện tất cả chúng sanh đồng thành Phật. Do không trộm cướp nên được quả báo giàu sang, sau khi thành Phật chúng sanh ở cõi nước của mình cũng được giàu sang, đầy đủ bảy báu.

    Lìa tham dục nên nguyện chúng sanh ở cõi nước của mình không có tham dục, sân khuể và ngu si. Vì sân si do tham mà khởi, dứt được tham thì ba thứ kia liền theo đó hết, nên không đói khát khổ não.

    Lìa vọng ngữ . Do giữ giới vọng ngữ nên sau khi thành Phật lại nguyện cho tất cả chúng sanh ở cõi nước mình đều được cây trái có mùi thơm ngon.

    Lìa tâm lưỡng thiệt . Tức là giữ được giới hai lưỡi cho nên sau khi thành Phật thì ở cõi nước của mình chúng sanh đều hòa hợp với nhau. Vì hai lưỡi hay lưỡng thiệt làm cho hai bên đấu tranh nhau, thưa kiện nhau, giữ được giới này thì khiến cho mọi người được hòa hợp.

    Lìa ác khẩu nên khi thành Phật, cõi nước mình không có sạn sỏi gai góc, còn cõi này không bằng phẳng đầy gai góc sạn sỏi là do con người ác khẩu thích chửi nhau.

    Không nói lời vô nghĩa . Lời nói vô nghĩa là ỷ ngữ, tức là những lời nói đùa vô nghĩa. Đem công đức này nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật. Sau khi thành Phật rồi thì những chúng sanh trong cõi nước mình không có những thứ khổ não.

    Lìa tham lam tật đố nên kết quả là sau này cõi nước mình dứt được tham lam, tật đố, não hại, tà kiến.

    Lìa tâm não hại nên sau này thành Phật, ở cõi nước đó người ta đều tu tập tâm đại từ đại bi.

    Lìa tà kiến . Do xa lìa tà kiến nên sau này ở xứ mình mọi người đều trì Bát-nhã ba-la-mật.

    Mười điều này gọi là tu Thập thiện. Bồ-tát dùng Thập thiện để trang nghiêm cõi Phật được thanh tịnh. Nếu không khéo tu khéo giữ Thập thiện thì cõi nước không được thanh tịnh. Vậy muốn trang nghiêm Phật độ phải lấy Thập thiện để trang nghiêm, không phải lấy tiền của, vật liệu mà được.

    Thế nào đại Bồ-tát dứt trừ hữu dư? Hữu dư có ba thứ: một là phiền não dư báo, hai là dư nghiệp, ba là dư hữu.

    Nếu có chúng sanh quen gần tham dục (sắc dục) , báo này thành thục phải đọa nơi địa ngục, ra khỏi địa ngục phải thọ thân súc sanh: bồ câu, se sẻ v.v... các loài chim, cá, trạch cùng khỉ, vượn, cheo, nai v.v... Nếu được làm người, thời phải thọ thân hoàng môn, phụ nữ, hai căn, không căn, dâm nữ. Nếu được xuất gia thời phạm giới trọng ban đầu. Đây gọi là dư báo.

    Nếu có chúng sanh quen gần sân khuể, báo này thành thục phải đọa địa ngục. Ra khỏi địa ngục phải thọ thân súc sanh: rắn độc, sư tử, cọp, sói, beo, gấu, mèo, chồn, ó, diều v.v... Nếu được làm người thời đủ cả mười sáu nghiệp ác. Nếu được xuất gia thời phạm giới trọng thứ ba. Đây gọi là dư báo.

    Nếu có chúng sanh quen gần ngu si, báo này thành thục sẽ đọa địa ngục. Ra khỏi địa ngục phải thọ thân súc sanh: voi, heo, bò, trâu, dê, rận, rệp, muỗi, ruồi, kiến, mối v.v... Nếu được làm người thời bị đui, điếc, câm, ngọng, lưng gù, tàn tật, thời không thể học tập. Nếu được xuất gia thời ưa phạm giới trọng. Đây gọi là dư báo.

    Nếu có người quen gần kiêu mạn, báo này thành thục sẽ đọa địa ngục. Ra khỏi địa ngục thọ thân súc sanh: lạc đà, lừa, ngựa, chó v.v... Nếu được làm người thọ thân tôi tớ nghèo cùng ăn xin. Nếu được xuất gia thường bị chúng sanh khinh tiện, phạm giới thứ tư. Đây gọi là dư báo.

    Như trên đây gọi là phiền não dư báo, đại Bồ-tát do tu tập kinh Đại Niết-bàn đều có thể trừ diệt.

    Năm là đại Bồ-tát dứt trừ ba thứ hữu dư, nghĩa là dứt trừ được dư báo, dư nghiệp, dư hữu.

    Người nhiều tham dục chịu tội ở địa ngục rồi, còn dư báo nhẹ thì làm cầm thú, hết loài cầm thú thì trở lên được làm người như những hạng người kể trên. Khá thì được xuất gia lại bị phạm giới ban đầu, đó là chỉ cho dư báo của tham.

    Người nhiều nóng giận khi quả báo thành thục phải đọa địa ngục. Khi hết tội địa ngục còn dư báo phải thọ thân rắn độc, sư tử, cọp sói, beo gấu, mèo chồn, ó diều... những loài thú dữ, thứ nào cũng có thể hại người hoặc ăn tươi nuốt sống người. Đó là dư báo trong loài súc sanh. Hết dư báo trong loài súc sanh lại còn dư báo làm người đủ cả mười sáu điều ác. Nếu người đó có chút duyên lành đời trước được xuất gia thì phạm giới trọng thứ ba.

    Nếu lấy đây làm thước đo thì nhìn rồi biết dư báo của mình thuở trước ra sao, hoặc biết dư báo của những người chung quanh, nghĩa là mình xét lại hành động hiện tại thì biết đó là dư báo.

    Bồ-tát tu theo kinh Đại Niết-bàn thì dứt trừ được dư báo.

    Thế nào là dư nghiệp? Tất cả nghiệp của phàm phu, nghiệp của Thanh văn: Tu-đà-hoàn có nghiệp bảy lần thọ thân, Tư-đà-hàm có nghiệp hai lần thọ thân, A-na-hàm có nghiệp thọ thân cõi Sắc, đây gọi là dư nghiệp. Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn đều có thể dứt trừ những nghiệp dư này.

    Thế nào là dư hữu? A-la-hán đặng quả A-la-hán, Bích-chi Phật đặng quả Bích-chi Phật, không nghiệp, không kiết sử, mà còn hai quả, đây gọi là dư hữu.

    Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn đều có thể trừ diệt ba thứ hữu dư trên đây, nên gọi là đại Bồ-tát diệt trừ hữu dư.

    Sáu là Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn dứt trừ được nghiệp duyên, dư nghiệp đó là chỉ cho trong hàng Nhị thừa tu còn phải thọ thân hoặc bảy lần, hoặc hai lần, hoặc thọ thân cõi Sắc... tức là còn có quả báo để thọ gọi là dư hữu.

    Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn đều có thể trừ diệt ba thứ hữu dư trên đây, nên gọi là đại Bồ-tát diệt trừ hữu dư.

    Thế nào là Bồ-tát tu thân thanh tịnh? Đại Bồ-tát tu giới bất sát có năm thứ tâm: hạ, trung, thượng, thượng thượng, thượng trung thượng, nhẫn đến chánh kiến cũng lại như vậy. Năm mươi tâm này gọi là sơ phát tâm. Quyết định đầy đủ thành tựu năm mươi tâm này đây gọi là viên mãn. Một trăm tâm như vậy gọi là một trăm phước đức. Đầy đủ một trăm phước làm thành một tướng tốt. Lần lượt đầy đủ thành tựu ba mươi hai tướng tốt, thời gọi là thân thanh tịnh.

    Sở dĩ lại tu tám mươi vẻ đẹp, vì trong đời có chúng sanh phụng thờ tám mươi vị thiên thần: thập nhị nhật thần, mười hai vị trời lớn, năm ngôi sao lớn, sao Bắc đẩu, Mã thiên, Hành Đạo thiên, Bà-la-đọa- bạt-xà thiên, Công Đức thiên, nhị thập bát tú, Địa thiên, Phong thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phạm thiên, Lâu-đà thiên, Nhân-đề thiên, Câu-ma-la thiên, Bát Tý thiên, Ma-hê-thủ-la thiên, Bàn-xà-la thiên, Quỷ Tử Mẫu thiên, Tứ thiên vương thiên, Tạo Thư thiên, Bà-tẩu thiên, đây gọi là tám mươi. Vì những chúng sanh này mà Bồ-tát tu tập tám mươi vẻ đẹp để trang nghiêm nơi thân. Đây gọi là Bồ-tát tu thân thanh tịnh. Vì tám mươi thiên thần này được chúng sanh kính trọng, nên Bồ-tát tu tập tám mươi vẻ đẹp, thân thể không đổi dời, làm cho chúng sanh, tùy theo lòng tin, đều được thấy, sanh lòng tôn kính mà phát tâm vô thượng Bồ-đề.

    Ví như có người muốn thỉnh Quốc vương, thời phải sửa sang trần thiết nhà cửa cho thật sạch sẽ khéo léo, sắm đủ trăm thứ thực phẩm thơm ngon rồi sau mới rước Quốc vương ngự đến nhà. Cũng vậy, đại Bồ-tát muốn thỉnh đấng Pháp vương vô thượng Bồ-đề, thời phải trước tu thân cho thật thanh tịnh, rồi sau Pháp vương mới đến ngự.

    Ví như có người muốn uống chất cam lộ thời phải trước rửa thân thật sạch. Cũng vậy, đại Bồ-tát muốn uống pháp vị vô thượng Bát-nhã ba-la-mật, trước phải tu tám mươi vẻ đẹp để trang nghiêm nơi thân.

    Ví như đem bình vàng, chậu bạc đựng nước trong sạch thời cả trong lẫn ngoài đều trong sạch. Cũng vậy, đại Bồ-tát dùng thân thanh tịnh chứa vô thượng Bồ-đề, thời trong ngoài đều thanh tịnh.

    Như y trắng Ba-la-nại dễ ăn màu thuốc nhuộm, vì chất y vốn trắng sạch. Cũng vậy, đại Bồ-tát do thân thanh tịnh nên mau thành vô thượng Bồ-đề.

    Do nghĩa này nên đại Bồ-tát tu thân thanh tịnh.

    Bảy là đại Bồ-tát tu thân thanh tịnh. Ở trên là trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh phải dùng Thập thiện. Bây giờ tu thân thanh tịnh cũng là Thập thiện.

    Đại Bồ-tát tu giới bất sát có năm thứ tâm: hạ, trung, thượng, thượng thượng, thượng trung thượng, nhẫn đến chánh kiến cũng lại như vậy . Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi v.v... cho đến tà kiến thứ mười cũng đều có mười tâm như vậy hết. Năm tâm qua mười giới cộng lại thành năm mươi.

    Thập thiện qua năm tâm này nữa thì gọi là sơ phát tâm. Khi mới tập tu gọi là sơ phát tâm, khi đầy đủ hết thì gọi là viên mãn. Như vậy thân thanh tịnh là cũng do tu Thập thiện từ bậc thấp lên cao mà thân được từ từ thanh tịnh.

    Ấn Độ thờ tám mươi vị thiên thần, họ cho rằng mỗi vị có một nét đẹp riêng. Bồ-tát muốn cho họ kính trọng, đầy đủ niềm tin đối với mình nên mới tu tám mươi vẻ đẹp. Bồ-tát tu ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp là vì để chúng sanh phát tâm, chứ không phải muốn mình được tốt đẹp.

    Chúng ta muốn được thấy rõ Pháp vương của mình tức pháp thân, thì trước hết phải tu thân có đủ ba mươi hai tướng tốt thanh tịnh rồi sau mới thấy pháp thân. Cũng như ở thế gian muốn thỉnh quốc vương thì trước phải sửa sang nhà cửa cho đẹp, thực phẩm cho ngon.

    Nói tóm lại, muốn chứa đựng được vô thượng Bồ-đề, tức là giác viên mãn thì trước hết phải tu thân thanh tịnh, muốn tu thân thanh tịnh phải hành Thập thiện cho đến viên mãn đầy đủ.

    Thế nào là Bồ-tát khéo biết các duyên?

    Đại Bồ-tát chẳng thấy sắc tướng, chẳng thấy sắc duyên, chẳng thấy sắc thể, chẳng thấy sắc sanh, chẳng thấy sắc diệt, chẳng thấy một tướng, chẳng thấy nhiều tướng, chẳng thấy người thấy, chẳng thấy tướng mạo, chẳng thấy người thọ, vì đã rõ nhân duyên. Như đối với sắc, tất cả pháp cũng như vậy. Đây gọi là Bồ-tát rõ biết các duyên.

    Thế nào là Bồ-tát lìa các thù địch?

    Bậc Ngũ trụ Bồ-tát chẳng xem phiền não là oán thù. Vì do phiền não mà Bồ-tát có thọ sanh, do thọ sanh nên có thể xoay vần giáo hóa chúng sanh.

    Những gì là oán thù đối với Bồ-tát?

    Chính là kẻ hủy báng kinh điển Đại thừa, Bồ-tát thọ sanh không sợ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, chỉ sợ kẻ hủy báng kinh điển Đại thừa. Có tám thứ ma là oán thù của Bồ-tát, xa lìa được tám thứ ma này thời gọi là lìa thù địch.

    Thế nào là Bồ-tát xa lìa hai bên?

    Hai bên là hai mươi lăm cõi và ái phiền não. Bồ-tát luôn xa lìa hai mươi lăm cõi cùng ái phiền não.

    Đây gọi là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tư.

    Tám là Bồ-tát khéo biết các duyên . Thế nào là rõ biết các duyên? Tức là đối với sắc thanh hương vị xúc pháp, hoặc là sắc thọ tưởng hành thức, đều không thấy sắc tướng, sắc duyên, sắc thể... Nghĩa là đối với tất cả pháp hiện hữu đều không còn chấp một pháp nào, vì pháp nào cũng do nhân duyên sanh khởi nên không có một pháp thật. Bởi không có một pháp thật cho nên không tướng, không duyên, không thể, không sanh, không diệt, không một, không nhiều, tất cả đều do nhân duyên sanh như huyễn, không có thật. Như vậy là rõ biết nhân duyên sanh.

    Chín là Bồ-tát lìa các thù địch . Chúng ta xem phiền não là oán thù, bởi phiền não lôi mình đi thọ sanh. Bồ-tát coi nó không phải là oán thù, vì nhờ phiền não các ngài đi thọ sanh mới có thể giáo hóa được người.

    A-hàm có một bài kinh, đại ý Phật nói: Vàng bạc là thứ rắn độc, người tu phải rời bỏ, nuôi trong nhà nó sẽ cắn chết mình. Tuy nhiên nếu chúng ta có quan niệm rộng rãi vì muốn bố thí, muốn xây dựng ngôi Tam bảo và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, phải cần có vàng bạc. Vậy vàng bạc đâu phải là rắn độc. Nếu tâm tự lợi có vàng giữ bo bo, sợ người biết sẽ cướp giật thì nó sẽ trở thành rắn độc.

    Cũng vậy, sự thọ sanh đối với Nhị thừa là đau khổ, vì còn ra đời là còn đau khổ, nhưng với các vị Bồ-tát thọ sanh là giáo hóa được chúng sanh, tức là được thêm phước đức. Các ngài không còn thấy sự trở lại là khổ nữa, mà mang ơn là được trở lại cứu độ chúng sanh. Hai quan niệm khác nhau như thế. Vì vậy chỉ cần chúng ta sanh trở lại mà không mê muội để tiếp tục giáo hóa thì không có lỗi gì.

    Mười là Bồ-tát xa lìa hai bên. Hai bên là hai mươi lăm cõi và ái phiền não. Bồ-tát luôn xa lìa hai mươi lăm cõi cùng ái phiền não.

    Đây gọi là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tư.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như lời đức Phật vừa nói: Nếu Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thời thành tựu mười công đức như vậy. Cớ sao đức Như Lai chỉ tu có chín điều mà không tu tịnh độ?”

    Phật nói: “Này thiện nam tử! Từ xưa ta thường tu tập đủ cả mười điều. Tất cả đại Bồ-tát cùng tất cả Như Lai không có ai là chẳng tu tập trọn cả mười điều như vậy.

    Giả sử thế giới đầy dẫy nhơ uế, không bao giờ Như Lai xuất hiện nơi ấy.

    Này thiện nam tử! Ông chớ cho rằng chư Phật xuất hiện nơi thế giới nhơ uế. Nên biết rằng tâm tưởng như vậy là kém hẹp chẳng tốt. Ông nên biết rằng thật ra ta không có xuất hiện nơi Diêm-phù-đề.

    Như có người nói riêng cõi này có mặt nhật, mặt nguyệt, cõi khác không có. Lời nói này không có nghĩa lý.

    Nếu có Bồ-tát nói cõi này nhơ uế xấu xa, cõi khác thanh tịnh xinh đẹp, đây cũng là lời không có nghĩa lý.

    Này thiện nam tử! Về phương tây, cách cõi Ta-bà này bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Vô Thắng, những sự trang nghiêm xinh đẹp trong cõi đó đều bình đẳng, như cõi Cực Lạc, như cõi Mãn Nguyệt. Hiện tại ta xuất hiện trong cõi Vô Thắng đó. Vì hóa độ chúng sanh nên ta thị hiện chuyển pháp luân nơi Diêm-phù-đề này.

    Chẳng phải riêng gì thân ta thị hiện chuyển pháp luân nơi cõi này, mà tất cả chư Phật cũng chuyển pháp luân trong cõi này.

    Do nghĩa này nên chư Phật đều tu đủ cả mười điều như vậy.

    Này thiện nam tử! Do thệ nguyện, nên đời đương lai, Từ Thị Bồ-tát làm cho cõi này trở thành thanh tịnh trang nghiêm.

    Do nghĩa này nên tất cả thế giới của chư Phật đều thanh tịnh trang nghiêm.

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương sau khi nghe đức Phật nói mười công đức trên, ngài nghi vì trong đó có công đức trang nghiêm tịnh độ thì được cõi nước đẹp đẽ. Nhưng cõi của Phật Thích-ca đang giáo hóa thì gai góc nhơ nhớp, như vậy Phật chỉ tu có chín công đức. Nên Bồ-tát mới hỏi Phật rằng: Cớ sao đức Như Lai chỉ tu có chín điều mà không tu tịnh độ? Trong kinh thường nói cõi này là uế độ, chúng ta cũng thấy trước mắt nào là rác rưởi, đất đai lồi lõm, ít bằng phẳng. Tại sao Phật lại hiện ra đây?

    Phật nói ngài không có hiện cõi này. Phật có ba thân: pháp thân thì không có hình tướng cho nên không nơi chốn, báo thân có hình tướng, theo phước báo tu hành có cõi nước là cõi nước của báo thân an trụ, còn hóa thân là tùy duyên hóa hiện, vì tùy duyên nên không thật. Vậy sở dĩ Phật nói không sanh ở cõi ô uế vì sanh ở cõi Ta-bà là hóa thân thôi, hóa thân thì đâu có thật. Vậy nên ngài nói ngài trụ ở cõi Vô Thắng, đó là báo thân của Phật Thích-ca. Thị hiện tức là hóa thân. Thị hiện là sanh, thị tịch là tử, sanh và tử đây là do hóa hiện ra chứ không phải thật, đến và đi đều không thật. Như vậy Phật đã xác định rằng ngài chỉ thị hiện ở cõi Ta-bà này vì giáo hóa chúng sanh chứ không phải là cõi quả báo của ngài. Ngài tu trang nghiêm cõi Phật cho nên cõi của Ngài là Vô Thắng, thành ra trang nghiêm đó là chỉ cho báo thân ở, còn hóa độ thì tùy duyên. Tuy cõi mình bây giờ xấu xa nhơ uế, các hóa thân Phật tới thôi, nhưng trong tương lai sẽ có một vị Phật làm cho cõi này biến thành cõi của báo thân trang nghiêm xinh đẹp như cõi Cực Lạc, cõi Vô Thắng, cõi Mãn Nguyệt vậy. Vị Phật ấy là Từ Thị Bồ-tát hay đức Phật Di-lặc.

    Này thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn, thành tựu đầy đủ phần công đức thứ năm? Nơi đây có năm điều công đức: một là nơi thân các căn đều toàn vẹn; hai là chẳng sanh chốn biên địa; ba là chư thiên thần mến tưởng; bốn là thường được chư thiên, ma vương, Sa-môn, Bà-la-môn v.v... cung kính; năm là được trí túc mạng. Do năng lực kinh Đại Niết-bàn mà Bồ-tát đồng đủ năm công đức như vậy.”

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Ngày trước Phật dạy: Nếu có người bố thí thời được năm công đức. Sao nay Như Lai lại bảo nhân kinh Đại Niết-bàn mà đặng năm công đức?”

    Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Các công đức ấy đều có nghĩa sai khác. Nay ta sẽ vì ông mà giải nói.

    Năm điều công đức do bố thí mà được là không định, không thường, không tịnh, không thắng, không lạ, không phải vô lậu, không thể lợi ích an lạc xót thương tất cả chúng sanh.

    Nếu là năm điều công đức do y theo kinh Đại Niết-bàn mà được thời là định, là thường, là tịnh, là thắng, là lạ, là vô lậu, có thể lợi ích an lạc xót thương tất cả chúng sanh.

    Này thiện nam tử! Xét về người bố thí thời xa lìa đói khát. Kinh Đại Niết-bàn có thể làm cho chúng sanh đều được xa lìa bệnh khát ái trong hai mươi lăm cõi. Do bố thí làm cho sanh tử nối luôn, kinh Đại Niết-bàn có thể làm cho sanh tử phải dứt. Nhân bố thí nên thọ lấy pháp phàm phu, nhân kinh Đại Niết-bàn mà được pháp Bồ-tát. Do bố thí nên dứt được sự nghèo cùng khổ não, kinh Đại Niết-bàn có thể dứt tất cả sự nghèo thiếu về pháp. Do bố thí mà có phần, có quả, do kinh Đại Niết-bàn mà được vô thượng Bồ-đề không phần không quả.

    Đây gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ năm.

    Chúng ta lưu ý khát ái khác với đói khát; đói là đói cơm, khát là khát nước, còn khát ái tức là khát khao lòng yêu thương. Như vậy tu bố thí là để cho đời sau mình khỏi bị đói khát, còn tu đại Niết-bàn là chấm dứt bệnh luyến ái, dứt sanh tử trong hai mươi lăm cõi.

    Bố thí làm cho sanh tử nối luôn là sao? Chúng ta giúp đỡ người khác mong đời sau được quả báo phước đức, như thế bố thí để làm duyên đời sau sanh ra được giàu sang, người ta đền ơn mình... Đó là gốc của sanh tử. Kinh Đại Niết-bàn dạy mình biết thế nào là hữu lậu, thế nào là vô lậu, thế nào là sanh diệt, thế nào là không sanh diệt để chúng ta thoát ly sanh diệt cho nên nói rằng do kinh Đại Niết-bàn làm cho sanh tử phải dứt.

    Bố thí chỉ là pháp quả báo trong cõi người cõi trời nên gọi là pháp phàm phu, còn nhân nơi kinh Đại Niết-bàn mà phát tâm Bồ-đề nên gọi là Bồ-tát.

    Bố thí thì dứt được sự nghèo cùng về tài sản, kinh Đại Niết-bàn này thì dứt tất cả sự nghèo cùng thiếu thốn về pháp bảo.

    Có phần là có từng phần, có quả là có quả báo. Kinh Đại Niết-bàn này là cứu cánh viên mãn vượt ra phần đối đãi, không còn có nhân quả theo thế thường nữa, nên nói không phần không quả .

    Thế nào là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ sáu?

    Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn được Kim cang tam-muội. An trụ trong chánh định này thời phá tan được tất cả pháp. Thấy tất cả pháp đều là vô thường, đều là tướng lay động, là nhân duyên của sự khủng bố, bệnh khổ, cướp trộm, niệm niệm dứt hoại không chân thật. Tất cả đều là cảnh giới của ma, không có tướng đáng thấy.

    Đại Bồ-tát an trụ trong tam-muội này, nhẫn đến không thấy một chúng sanh thật. Vì chúng sanh mà Bồ-tát tinh cần tu tập Thi-la ba-la-mật, nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật. Nếu Bồ-tát còn thấy có một chúng sanh thời không thể rốt ráo đầy đủ Đàn ba-la-mật nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật.

    Đó là diệu dụng của Kim cang tam-muội, được Kim cang tam-muội rồi thì thấy tất cả các pháp đều không có tướng đáng thấy.

    Bồ-tát tu theo kinh Đại Niết-bàn, trụ trong Kim cang tam-muội thì không thấy có một pháp thật, nhưng vì thương xót chúng sanh mà phải tu lục độ ba-la-mật. Kim cang tam-muội là gì? Từ trước đến sau Phật không giải thích mà chỉ đưa ra ví dụ, như kim cang hay làm cho người ta giàu, hết khổ, phá hoại tất cả pháp khác...

    Muốn hiểu Kim cang tam-muội thì chúng ta phải hiểu thân kim cang của Phật, đó chính là pháp thân. An trụ trong pháp thân gọi là Kim cang tam-muội. Pháp thân là quả, còn nhân là Phật tánh. Phật tánh bất sanh bất diệt, là thể của tất cả nên an trụ được Phật tánh, sống trở về Phật tánh thì gọi là được Kim cang tam-muội. Phật tánh không có hình tướng nên không có cái gì hủy hoại được, nó là gốc của muôn pháp, hay diệt trừ được muôn pháp nhưng không một pháp nào phá được nó nên dụ là Kim cang tam-muội. Chính kinh Đại Niết-bàn cốt chỉ cho chúng ta nhận ra được Phật tánh, y theo đó mà an trụ thì thành tựu được pháp thân viên mãn vô lượng công đức, gọi là trụ Kim cang tam-muội.

    Này thiện nam tử! Ví như vật gì bị chất kim cang dóa đập thời đều bể tan, mà chất kim cang này không hề hư tổn. Cũng vậy, pháp gì bị Kim cang tam-muội chiếu đến thời đều nát rã, mà tam-muội này không hề hao tổn.

    Trong các thứ châu báu, chất kim cang là hơn tất cả. Cũng vậy, trong các tam-muội, Kim cang tam-muội là thứ nhất. Vì Bồ-tát tu tập tam-muội này thời tất cả tam-muội đều đến quy thuộc.

    Như các vua chúa nhỏ đều đến quy thuộc Chuyển luân thánh vương, tất cả chánh định đều đến quy thuộc Kim cang tam-muội.

    Ví như có người là kẻ thù địch của quốc gia mọi người đều nhàm ghét, ai giết được người này thời cả nước đều ngợi khen công lao. Cũng vậy, Bồ-tát tu tập Kim cang tam-muội có thể phá hoại oán thù của tất cả chúng sanh, thế nên thường được tất cả tam-muội tôn kính.

    Ví như có người mạnh mẽ không ai cự lại, nếu có người thắng được người này thời được người đời khen tặng. Cũng vậy, Kim cang tam-muội có sức phá dẹp những pháp khó phá, nên được tất cả tam-muội đến quy thuộc.

    Như người đến tắm nơi biển lớn, phải biết rằng người này đã dùng nước của các sông ngòi suối ao. Cũng vậy, Bồ-tát tu tập Kim cang tam-muội, thời là đã tu tập tất cả tam-muội khác.

    Như trong Hương Sơn có một suối nước tên A-na-bà-đạp-đa, người nào được uống nước suối này thời không có những bệnh hoạn, vì nước suối này đủ tám vị. Cũng vậy, Kim cang tam-muội đủ tám chánh đạo, Bồ-tát tu tập tam-muội này thời dứt sạch những bệnh nặng phiền não tội lỗi.

    Như người cúng dường trời Ma-hê-thủ-la, thời là đã cúng dường tất cả chư thiên. Cũng vậy, người tu tập Kim cang tam-muội thời là đã tu tập tất cả tam-muội khác.

    Này thiện nam tử! Nếu Bồ-tát an trụ trong Kim cang tam-muội thời thấy tất cả pháp không bị chướng ngại, như xem trái a-ma-lặc trong bàn tay. Bồ-tát này dầu được thấy như vậy, nhưng trọn không có quan niệm là thấy tất cả pháp.

    Như có người ngồi nơi ngã tư đường, thấy mọi người đi, đứng, ngồi, nằm. Cũng vậy, Bồ-tát an trụ Kim cang tam-muội thời thấy sự sanh diệt mọc lặn của tất cả pháp.

    Như người lên núi cao trông xa thấy rõ tất cả cảnh vật. Cũng vậy, Bồ-tát lên núi Kim cang chánh định thời thấy rõ tất cả pháp.

    Như mùa xuân, trời mưa láy pháy, giọt mưa li ti không có chỗ hở trống, người mắt sáng thời thấy rõ ràng. Cũng vậy, Bồ-tát đặng mắt thanh tịnh Kim cang tam-muội, thấy rõ những thế giới thành hoại ở mười phương, không chướng ngại.

    Như do núi Càn-đà, bảy mặt trời đồng mọc, bao nhiêu cây cối nơi núi ấy đều cháy cả. Cũng vậy, Bồ-tát tu tập Kim cang tam-muội thời bao nhiêu rừng rậm phiền não liền tiêu diệt.

    Như chất kim cang dầu có thể phá nát tất cả vật, nhưng trọn không có quan niệm rằng ta hay phá nát. Cũng vậy, Bồ-tát tu tập Kim cang tam-muội có thể phá phiền não mà trọn chẳng có quan niệm rằng ta hay phá hoại phiền não. Như quả đất có thể giữ gìn muôn vật nhưng trọn chẳng có quan niệm rằng sức ta có thể giữ gìn; lửa cũng chẳng nghĩ rằng ta hay đốt cháy; nước cũng chẳng nghĩ rằng ta hay thấm nhuần; gió cũng chẳng nghĩ rằng ta hay thổi động; hư không cũng chẳng nghĩ rằng ta hay dung chứa; Niết-bàn cũng chẳng nghĩ rằng ta làm cho chúng sanh đặng diệt độ. Cũng vậy, Kim cang tam-muội dầu có thể diệt trừ tất cả phiền não, nhưng vẫn không nghĩ rằng ta hay diệt trừ.

    Nếu chúng ta sống được với Phật tánh của mình thì nhìn pháp nào cũng là giả, cũng là pháp sanh diệt không thật, Kim cang tam-muội chiếu đến đâu tan rã đến đó. Trụ được Phật tánh thì đó là định tột cùng, không có định nào khác hơn nữa.

    Bao nhiêu ví dụ cũng đều nói lên một ý là Kim cang tam-muội hay phá dẹp được tất cả, và tất cả đều quy tụ về Kim cang tam-muội.

    Nếu có Bồ-tát an trụ nơi Kim cang tam-muội này, trong khoảng một niệm biến vô lượng thân như Phật, khắp cả hằng hà sa thế giới ở mười phương, dầu biến hóa như vậy nhưng Bồ-tát vẫn không có lòng kiêu mạn. Vì Bồ-tát thường nghĩ rằng: Ai có chánh định này và biến hóa được như vậy? Chỉ có Bồ-tát an trụ Kim cang tam-muội này mới có thể biến hóa như vậy. Bồ-tát này trong một niệm đi khắp hằng hà sa thế giới ở mười phương rồi trở về bản xứ, dầu có thần lực như vậy nhưng cũng chẳng nghĩ rằng ta được thần lực ấy đó là do sức của Kim cang tam-muội. Bồ-tát này lại ở trong một niệm có thể dứt những phiền não của chúng sanh trong hằng hà sa thế giới ở mười phương, mà vẫn không có quan niệm rằng ta hay dứt phiền não của chúng sanh, đó là do sức Kim cang tam-muội. Bồ-tát này dùng một tiếng nói để thuyết pháp làm cho tất cả chúng sanh riêng theo loài của mình mà đặng hiểu rõ, lại thị hiện một sắc thân mà làm cho tất cả chúng sanh đều riêng thấy sắc thân riêng khác. Bồ-tát ở an một chỗ thân không dời đổi mà có thể làm cho chúng sanh theo chỗ ở của nó đều đặng thấy Bồ-tát diễn nói một pháp: hoặc giới, hoặc nhập, mà tất cả chúng sanh đều riêng theo chỗ đã hiểu biết mà đặng nghe đó.

    Khi vào được Kim cang tam-muội là có diệu dụng như hằng sa, tức là đầy đủ mọi diệu dụng. Thiền tông thường nói mình có một kho báu đầy đủ nhưng vì chưa vào được, kinh Pháp Hoa nói khi nhập được Phật tri kiến thì đồng với chư Phật... Vì Phật tánh bất sanh bất diệt thường trụ trùm khắp tất cả nên khi nhận và sống được với Phật tánh rồi thì có đầy đủ tất cả diệu dụng, còn tất cả pháp đều là pháp sanh diệt cho nên không có pháp nào qua được Phật tánh.

    Bồ-tát an trụ Kim cang tam-muội dầu thấy chúng sanh mà vẫn không có tướng chúng sanh, dầu thấy nam nữ nhưng không có tướng nam nữ, dầu thấy sắc thọ vị nhưng không có tướng sắc thọ vị, dầu thấy ngày đêm mà không có tướng ngày đêm, dầu thấy tất cả pháp nhưng không có tướng tất cả pháp, dầu thấy tất cả phiền não kiết sử cũng không có tướng tất cả phiền não, dầu thấy tám thánh đạo mà không có tướng tám thánh đạo, dầu thấy Bồ-đề thấy Niết-bàn nhưng không có tướng Bồ-đề, Niết-bàn, vì tất cả pháp vốn không có tướng. Bồ-tát này do sức Kim cang tam-muội nên thấy tất cả pháp bản lai không có tướng.

    Này thiện nam tử! Thế nào gọi là Kim cang tam-muội? Như chất kim cang nếu ở trong ánh nắng thời màu sắc chẳng nhất định. Cũng vậy, Kim cang tam-muội ở trong đại chúng cũng chẳng nhất định, vì thế nên gọi là Kim cang tam-muội.

    Như chất kim cang tất cả người đời không thể bình luận giá cả. Cũng vậy, Kim cang tam-muội có bao nhiêu công đức tất cả trời người không thể nghĩ lường được, do đây nên lại gọi là Kim cang tam-muội.

    Như người nghèo đặng báu kim cang thời hết nghèo cùng khốn khổ, lại khỏi ác quỷ tà độc. Cũng vậy, đại Bồ-tát được tam-muội này thời có thể dứt hết phiền não khổ hoạn xa lìa các ma tà độc, do đây nên gọi là Kim cang tam-muội.

    Đây gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ sáu.

    Chúng ta đang sống với hình tướng nên còn thấy có chúng sanh, có nam nữ... sai khác. Khi an trụ Kim cang tam-muội, sống được với Phật tánh rồi thì không còn mắc kẹt trên hình tướng nên không còn thấy thật có chúng sanh, không thấy thật có nam có nữ. Vì vậy nói an trụ trong Kim cang tam-muội rồi thì thấy tất cả các pháp bản lai không có tướng, vì là pháp sanh diệt biến hóa không thật, chỉ có Phật tánh là chân thật.

    Phật giải thích Kim cang tam-muội nhưng không giải thích gì cả, chỉ nói diệu dụng của nó mà thôi. Như chất kim cang ở trong ánh nắng người ta thấy hiện ra những màu sắc xanh vàng đỏ trắng... không nhất định, tùy chỗ phản chiếu. Cũng như vậy, an trụ trong Phật tánh rồi thì mới thấy chúng sanh do mê lầm Phật tánh mà hiện ra không biết bao nhiêu tướng trạng.

    Kinh Đại Niết-bàn chỉ cho Phật tánh, an trụ Phật tánh thì được Kim cang tam-muội.

    Thế nào là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ bảy?

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát này nghĩ rằng: Pháp gì có thể làm nhân duyên gần với đại Niết-bàn? Bồ-tát này liền biết có bốn điều làm nhân duyên gần, nếu rời bốn pháp này thời không thể được đại Niết-bàn. Vì thế nên nếu nói rằng siêng tu tất cả khổ hạnh mà được đại Niết-bàn, thời không đúng.

    Đây là bốn điều: một là gần gũi bạn lành, hai là chuyên tâm nghe pháp, ba là nhiếp niệm tư duy, bốn là tu hành đúng pháp.

    Bốn điều này là bốn điều gần được đại Niết-bàn.

    Như có người mang bệnh: hoặc nóng, hoặc lạnh, hư lao, các tà quỷ độc, người bệnh này tìm đến lương y, lương y liền theo bệnh cho thuốc. Người bệnh này hết lòng y theo lời chỉ dẫn của lương y, uống thuốc đúng cách, bệnh được lành, thân được an. Người bệnh dụ cho Bồ-tát. Lương y dụ cho thiện tri thức (Có thiện tri thức giúp cho Bồ-tát được Niết-bàn) . Phương thuốc của lương y nói dụ cho kinh Đại thừa. Y theo lời chỉ dẫn của lương y dụ cho khéo suy nghĩ nghĩa lý của kinh Đại thừa. Hiệp thuốc uống đúng cách dụ cho tu hành đúng pháp. Bệnh lành dụ cho dứt hết phiền não. Thân an dụ cho đặng Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

    Qua ví dụ này chúng ta thấy bốn điều Phật nói rất rõ ràng: gần thiện tri thức, chí tâm lắng nghe, nghe rồi suy nghĩ đúng pháp, suy nghĩ rồi thực hành đúng pháp. Bốn điều đó cần thiết cho người học đạo. Ví dụ như người bệnh tìm lương y, lương y cho thuốc, rồi chỉ dạy cách dùng thuốc, sắc thuốc uống. Lương y dụ cho thiện tri thức, gần gũi thiện tri thức. Cho thuốc dụ cho nghe pháp. Cho thuốc rồi dạy dùng cho đúng cách đó là dụ cho suy nghĩ. Sắc thuốc uống cho hết bệnh, đó là thực hành đúng pháp. Chúng ta có đầy đủ bốn điều này thì thân an, được thường lạc ngã tịnh của đại Niết-bàn.

    Ví như có Quốc vương muốn cai trị đúng pháp, làm cho nhân dân được an vui, nhà vua hỏi cách cai trị nơi các quan. Các quan bèn đem cách thức của tiên vương tâu với Quốc vương. Quốc vương liền chí tâm tin tưởng thật hành theo, đúng như pháp cai trị nước nhà, làm cho cả nước không giặc cướp, nhân dân an vui. Quốc vương dụ cho Bồ-tát, các quan dụ cho bạn lành. Cách thức cai trị của các quan tâu dụ cho mười hai bộ kinh. Quốc vương hết lòng tin tưởng thật hành dụ cho Bồ-tát nhiếp tâm tư duy nghĩa lý của mười hai bộ kinh. Quốc vương cai trị đúng pháp dụ cho Bồ-tát tu hành đúng theo sáu môn ba-la-mật. Cả nước không giặc cướp dụ cho Bồ-tát đã lìa phiền não kiết sử. Nhân dân được an vui dụ cho Bồ-tát chứng được đại Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

    Như có người bị bệnh phong hủi, có thiện tri thức bảo rằng: Nếu ông đến được bên núi Tu-di thời bệnh có thể lành. Vì nơi đó có vị thuốc hay như cam lộ, uống được thuốc đó thời bệnh gì cũng lành. Người bệnh tin theo lời đi đến bên núi hái lấy thuốc cam lồ mà uống, tật bệnh liền hết, thân được an vui. Người bệnh dụ cho phàm phu. Thiện tri thức dụ cho đại Bồ-tát. Tin theo lời bảo dụ cho bốn tâm vô lượng. Núi Tu-di dụ tám thánh đạo. Vị thuốc cam lồ dụ cho Phật tánh. Bệnh hủi được lành dụ lìa phiền não. Đặng an vui dụ đặng Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh.

    Ví như có người nuôi những đệ tử thông minh trí huệ, ngày đêm người này luôn dạy dỗ chẳng biết mỏi. Bồ-tát cũng như vậy, tất cả chúng sanh hoặc tin, hoặc chẳng tin, Bồ-tát luôn giáo hóa không biết nhàm mỏi.

    Ví dụ thứ hai, một ông vua muốn cai trị đúng pháp cho dân được an vui, bèn hỏi cách cai trị nơi các quan. Các quan đem cách cai trị của nhà vua trước nói lại. Vua nghe rồi chí tâm tin tưởng thực hành theo, đúng như pháp mà cai trị nước nhà, cả nước được an vui.

    Quốc vương dụ cho Bồ-tát, bá quan dụ cho bạn lành. Cách thức cai trị của tiên vương dụ cho mười hai bộ kinh. Hết lòng tin tưởng thực hành dụ cho nghe rồi nhiếp tâm suy nghĩ. Cai trị đúng pháp chỉ cho Bồ-tát tu hành đúng theo sáu môn ba-la-mật. Như vậy trong nước được an ổn, nhân dân được vui vẻ, dụ cho Bồ-tát đã lìa phiền não kiết sử, được Niết-bàn an lạc.

    Lòng của Bồ-tát lúc nào cũng luôn giáo hóa không mệt mỏi.

    Này thiện nam tử! Thiện tri thức là nói chư Phật Bồ-tát và hàng Thanh văn, Bích-chi Phật, cùng những người tin kinh Đại thừa. Thế nào gọi là thiện tri thức? Hàng thiện tri thức có thể chỉ dạy cho chúng sanh xa lìa mười điều ác, tu hành mười điều lành, do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại hàng thiện tri thức lời nói đúng như pháp thật hành đúng như lời nói, chính là tự mình chẳng sát sanh cũng bảo người chẳng sát sanh, nhẫn đến tự mình có chánh kiến, cũng đem chánh kiến dạy cho người.

    Nếu có thể được như đây thời gọi là chân thật thiện tri thức. Tự mình tu tập Bồ-đề cũng có thể dạy người tu hành Bồ-đề. Tự mình tu hành chánh tín, trì giới, bố thí, đa văn, trí huệ, cũng có thể dạy người như vậy, do đây nên gọi là thiện tri thức.

    Thiện tri thức là Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Bích-chi Phật, cùng những người tin được kinh điển Đại thừa. Thiện tri thức dạy chúng sanh xa lìa mười điều ác, tu mười điều lành.

    Trong số chúng ta có nhiều người không quý trọng chánh kiến, mà dạy người cũng không đúng chánh kiến. Chánh kiến là phải tin vào nhân quả, tin vào Tam bảo... Nếu dạy coi tướng coi tay, coi địa lý, xin xăm, coi ngày coi giờ..., không phải là chánh kiến. Nếu không có chánh kiến thì dạy đệ tử cũng mất chánh kiến. Thiện tri thức là người có lời nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói, chính tự mình chẳng sát sanh, chẳng trộm cướp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng nói hai lưỡi..., cho đến thứ mười là chẳng tà kiến, luôn luôn giữ chánh kiến. Thiện tri thức là vậy.

    Này thiện nam tử! Hàng thiện tri thức có thiện pháp. Những gì là thiện pháp? Những việc của mình thật hành chẳng mong cầu tự vui, mà thường vì chúng sanh cầu an vui, thấy người khác có lỗi chẳng rao nói, miệng thường tuyên nói những việc thuần thiện, do đây nên gọi là thiện tri thức.

    Này thiện nam tử! Như mặt trăng từ đêm mùng một đến đêm rằm lần lần thêm lớn đầy đủ. Cũng vậy, thiện tri thức làm cho những người học đạo lần lần xa lìa pháp ác, thêm lớn pháp lành. Nếu người gần gũi thiện tri thức, từ trước chưa có giới định huệ giải thoát giải thoát tri kiến nay bèn có đó, người chưa đầy đủ thời được thêm rộng, do vì gần gũi thiện tri thức. Sự gần gũi này làm cho người lại được rõ thấu nghĩa sâu của mười hai bộ kinh. Nếu có thể chăm nghe nghĩa sâu của mười hai bộ kinh thời gọi là thính pháp. Nghe kinh Đại thừa thời gọi là chân thật thính pháp. Chân thật thính pháp chính là nghe kinh Đại Niết-bàn, nghe có Phật tánh, Như Lai rốt ráo chẳng nhập Niết-bàn, do đây nên gọi là chuyên tâm thính pháp. Chuyên tâm thính pháp gọi là tám thánh đạo, do tám thánh đạo có thể dứt tham dục, sân khuể, ngu si nên gọi là thính pháp. Xét về người thính pháp gọi là mười một pháp không, do pháp không này đối với tất cả pháp chẳng thấy có tướng mạo. Xét về người thính pháp gọi là sơ phát tâm nhẫn đến rốt ráo tâm vô thượng Bồ-đề, nhân nơi sơ tâm mà đặng đại Niết-bàn, chẳng phải do nghe pháp mà đặng đại Niết-bàn. Chính là do tu tập nên chứng đại Niết-bàn. Như người bệnh dầu nghe lời chỉ dẫn của lương y cùng tên của món thuốc nhưng chẳng thể lành bệnh, phải do uống thuốc bệnh mới được lành. Dầu nghe mười hai nhân duyên nhưng chẳng thể dứt được tất cả phiền não, cần phải nhiếp niệm khéo tư duy mới dứt được phiền não. Đây gọi là pháp nhiếp niệm tư duy thứ ba.

    Bởi vì thiện tri thức là những người có pháp lành, vì thương chúng sanh trước chứ không phải vì mình, lúc nào cũng đem những lời lành để khuyên dạy mọi người.

    Phật đã dùng ví dụ trong kinh A-hàm. Gần gũi thiện tri thức cũng như mặt trăng từ mùng một đến rằm, mỗi đêm mỗi sáng, đến đúng ngày rằm thì tròn. Cũng vậy, gần gũi thiện tri thức thì giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, trước không có rồi từ từ có, mà có chưa đầy đủ rồi lần lần thêm lớn, được đầy đủ. Đó là lợi ích của sự gần gũi thiện tri thức.

    Xét về người thính pháp, gần gũi thiện tri thức, đối với mười hai bộ kinh chưa nghe thì được nghe, nếu đã nghe thì nghe thêm rất đầy đủ, đó là nói chung. Nói riêng, người mà thật tình nghe mười hai bộ kinh mới gọi là thính pháp, người nghe kinh Đại thừa mới gọi là chân thật thính pháp, người nghe kinh Đại Niết-bàn mới là chân thật thính pháp, chuyên tâm thính pháp. Người chuyên tâm thính pháp chân thật thì có tám thánh đạo dứt được tham sân si.

    Xét về pháp được nghe gọi là mười một pháp không. Pháp không này có chỗ nói là mười một pháp, có chỗ nói mười tám pháp, có chỗ nói hai mươi pháp, nhưng đại ý không ngoài thấy các pháp tướng không, tánh không, thể không, dụng không... nghĩa là không chấp pháp nào. Mỗi pháp đều không chấp là thật, gọi đó là thấy tất cả pháp không. Chỉ nghe pháp thì không được đại Niết-bàn, nhân nghe pháp rồi phát tâm tu hành mới được.

    Nhiều người học Phật khi nghe hỏi Phật nghĩa là gì, liền định nghĩa Phật là giác giả, tức người giác ngộ. Giác có ba: một là tự giác, hai là giác tha, ba là giác hạnh viên mãn. Như thế cho rằng hiểu Phật rồi, nhưng có thật học và hiểu Phật chưa? Đó chỉ là định nghĩa suông, hiểu biết suông chứ chưa phải là giác, chỉ ôm một mớ danh từ như vậy rồi nói tôi thông suốt Phật pháp. Đó chỉ là ngôn ngữ mà không có lẽ thật. Như ví dụ sau của Phật: người bị bệnh muốn hết bệnh phải rước ông thầy tới cho toa thuốc, rồi mua thuốc sắc uống mới hết. Chúng ta tu mười năm, hai mươi năm mà tham sân si vẫn chưa hết. Tại sao? Vì chỉ thuộc danh từ thôi chứ không có thực hành.

    Nghe nói người nào nặng về sắc dục nên quán bất tịnh, tức là quán ba mươi sáu vật như tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân xương... Học thuộc lòng mấy danh từ đó, rồi nói tôi biết quán bất tịnh, nhưng sau thấy sắc cũng vẫn nhiễm như thường. Nếu mình học Phật mà chỉ nói suông thì tham sân si cũng vẫn là tham sân si, không bao giờ hết được. Cho nên không thể nói tu lâu mà không hết tham sân si, đó là vì không thực hành. Người nặng về việc học quá, rốt cuộc cũng không tới đâu, chỉ là đếm của báu cho người hay đọc toa thuốc làu làu mà không uống, nên bệnh nào cũng còn nguyên bệnh nấy. Vì vậy kế phần thính pháp, Phật dạy phải chánh tư duy, tức là suy nghĩ thật kỹ, nghe pháp rồi phải nhiếp niệm tư duy .

    Lại do nghĩa gì gọi là nhiếp niệm tư duy? Đây là nói ba môn tam-muội: Không tam-muội, Vô tướng tam-muội, Vô tác tam-muội. Không là đối với hai mươi lăm cõi chẳng thấy một cõi nào là có thật. Vô tác là đối với hai mươi lăm cõi chẳng mong cầu. Vô tướng là không có mười tướng, chính là không có sắc tướng, thanh tướng, hương tướng, vị tướng, xúc tướng, sanh tướng, trụ tướng, diệt tướng, nam tướng, nữ tướng. Tu tập ba môn tam-muội như vậy thời gọi là Bồ-tát nhiếp niệm tư duy.

    Không tam-muội nghĩa là đối với hai mươi lăm cõi không thấy cõi nào là thật, tức là dùng trí quán hai mươi lăm cõi ấy chỉ là nhân duyên giả hợp không có thật. Trong hai mươi lăm cõi đó không có tâm mong cầu thì gọi là Vô tác tam-muội.

    Không tam-muội tức là đối với hai mươi lăm cõi không thấy có thật, vì biết nó là do nhân duyên hợp, có như huyễn như hóa, như trong kinh Kim Cang nói: Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, hai mươi lăm cõi cũng là pháp hữu vi cho nên thấy không thật.

    Sao gọi là Vô tướng tam-muội? Tức là đối với mười tướng cũng không thấy có thật. Mười tướng đó trước hết là sáu trần, sau là ba tướng sanh trụ diệt và hai tướng nam nữ. Mười tướng đó không thấy là thật nên gọi là vô tướng.

    Vô tác là đối với hai mươi lăm cõi không có tâm mong cầu, không nghĩ tưởng. Như khi nghe nói cõi Sắc giới người sống tuổi thọ dài, ăn uống sung sướng thì có tâm muốn sanh về Sắc giới. Dù cho có cõi nào sung sướng mấy trong hai mươi lăm cõi này, cũng đều không nhiễm không cầu gọi là vô tác.

    Như vậy, công đức thứ bảy này thật quan trọng. Gần gũi bạn lành là điều đầu tiên, kế đó là nghe pháp của những bạn lành chỉ dạy, kế nữa là phải nhiếp tâm suy nghĩ nghĩa là trở về công dụng của mình. Mình phải dùng trí quán. Nhiếp niệm tư duy là phải chánh quán, quán đúng theo tinh thần Đại thừa.

    Thế nào gọi là tu hành đúng pháp? Chính là tu hành Đàn ba-la-mật nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật, biết tướng chân thật của ấm nhập giới, cũng biết Thanh văn, Duyên giác, cũng chư Phật đồng một đạo mà nhập Niết-bàn, chính là thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng sanh, già, bệnh, chết, chẳng đói khát, khổ não, chẳng thối chuyển chẳng hư mất.

    Này thiện nam tử! Người hiểu nghĩa sâu của đại Niết-bàn, thời biết chư Phật trọn chẳng rốt ráo nhập Niết-bàn.

    Đàn ba-la-mật là bố thí ba-la-mật, nhẫn đến Bát-nhã ba-la-mật tức là trong lục độ mỗi độ đều tu đến cứu cánh viên mãn thì gọi là tu hành đúng pháp. Biết tướng chân thật của ấm nhập giới. Ấm là ngũ ấm, nhập là thập nhị nhập, giới là thập bát giới.

    Như vậy tu hành đúng pháp là tu hành lục độ đến viên mãn cứu cánh, biết rằng năm ấm, thập nhị nhập, thập bát giới đều không có thật, biết rằng chư Phật, Thanh văn và Duyên giác muốn đến đại Niết-bàn thì chỉ có một đường thôi. Khi được đại Niết-bàn thì được thường lạc ngã tịnh hết sanh già bệnh chết...

    Từ đây về sau đức Phật giải lại bốn phần trên: gần gũi thiện tri thức, chí tâm nghe pháp, chánh niệm tư duy, tu hành đúng pháp. Trước hết là giải thích gần gũi thiện tri thức.

    Này thiện nam tử! Bậc thiện tri thức chân thật thứ nhất là Bồ-tát và chư Phật, vì bậc này thường dùng ba pháp khéo điều ngự: một là lời nói hoàn toàn dịu hòa, hai là hoàn toàn quở trách, ba là dịu hòa cùng quở trách. Do đây nên Bồ-tát và chư Phật là bậc thiện tri thức chân thật. Phật và Bồ-tát là bậc đại lương y nên gọi là thiện tri thức, vì biết bệnh, biết thuốc, cho thuốc đúng bệnh.

    Ví như lương y thông thạo tám môn trị bệnh xem bệnh có ba tướng: phong, nhiệt, hàn. Người bệnh phong cho uống dầu tô, người bệnh nhiệt cho uống thạch mật, người bệnh hàn cho uống nước gừng. Do biết gốc bệnh cho thuốc được lành nên gọi là lương y. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát biết phàm phu có ba thứ bệnh: tham dục, sân khuể, ngu si. Người tham dục dạy quán tướng xương trắng, người sân khuể dạy quán từ bi, người ngu si dạy quán mười hai nhân duyên. Do đây nên chư Phật và Bồ-tát gọi là thiện tri thức.

    Như thuyền chủ vì giỏi đưa người nên gọi là đại thuyền chủ. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát đưa chúng sanh khỏi biển sanh tử nên gọi là thiện tri thức.

    Này thiện nam tử! Do Phật và Bồ-tát làm cho chúng sanh được tu hành đầy đủ những căn lành. Ví như núi Tuyết là nơi sản xuất những cội gốc thuốc hay vi diệu. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát là chỗ xuất sanh tất cả căn lành, do đây nên gọi là thiện tri thức.

    Trong núi Tuyết có vị hương dược tên là Ta-ha, người  nào  thấy  thuốc  này  thời  được  sống  lâu, không có bệnh khổ, bốn thứ độc không làm hại được. Người nào rờ đụng thuốc này thời sống lâu đủ một trăm hai mươi tuổi. Người nào nhớ thuốc này thời được trí túc mạng. Đó là do thế lực của vị thuốc này. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát, nếu ai được thấy thời tất cả phiền não đều trừ, bốn ma chẳng nhiễu loạn được. Người nào gần gũi chư Phật và Bồ-tát, vì được nghe pháp, nên được trường thọ chẳng bị sanh tử. Người nào tưởng niệm chư Phật và Bồ-tát thời được vô thượng Bồ-đề. Do đây nên chư Phật và Bồ-tát gọi là thiện tri thức.

    Như trong Hương Sơn có ao A-na-bà-đạp-đa, từ ao này thành nguồn bốn con sông lớn: sông Hằng, sông Tân-đầu, sông Tư-đà, sông Bác-xoa. Người đời thường nói rằng: Nếu người có tội tắm nơi bốn con sông này thời tội đều tiêu diệt. Nên biết lời nói này là hư vọng chẳng thật. Chỉ có chư Phật và Bồ-tát mới là chân thật. Vì người nào được gần gũi thời tất cả tội chướng đều tiêu trừ. Do đây nên chư Phật và Bồ-tát gọi là thiện tri thức.

    Ví như trên mặt đất có bao nhiêu cỏ thuốc, rừng cây, trăm giống lúa, mía, nho, các thứ bông trái. Gặp trời nắng hạn sắp khô chết, Nan-đà long vương vì xót thương chúng sanh nên ra khỏi biển lớn làm mưa xối xuống, nhờ đó tất cả cỏ cây bông trái đều được tươi tốt. Cũng vậy, tất cả chúng sanh có bao nhiêu căn lành sắp tiêu diệt, chư Phật và Bồ-tát sanh lòng đại bi, từ biển trí huệ rưới pháp cam lồ, làm cho chúng sanh được mười hai pháp lành. Do đây nên chư Phật và Bồ-tát gọi là thiện tri thức.

    Ví như lương y thông thạo tám môn trị bệnh, thấy những người bệnh thời lo chữa trị, không ngó đến giòng họ, đẹp xấu, cũng không nghĩ đến châu báu, do đây nên người đời xưng tặng là đại lương y. Cũng vậy, chư Phật và Bồ-tát thấy chúng sanh có bệnh phiền não, liền sanh lòng từ mẫn mà thuyết pháp, không ngó đến giòng họ đẹp xấu cùng của cải, chúng sanh được nghe pháp, phiền não liền trừ diệt. Do đây nên chư Phật và Bồ-tát gọi là thiện tri thức. Do vì gần gũi thiện hữu nên được gần đại Niết-bàn.

    Thường thường giáo dục phải nghiêm mà cũng phải khoan, tức là phải nghiêm nghị mà cũng phải khoan dung; dung hòa cả nghiêm và khoan, nếu nghiêm không thì khắt khe, khoan quá thì trở thành dung dị, dễ quá. Khi cần hiền phải hiền, cần dữ phải dữ, có khi phải hợp cả hiền lẫn dữ. Người khéo dạy đệ tử, ban đầu thì rầy, biết lỗi rồi thì dỗ. Đó là dùng cả hai, dịu hòa và quở trách. Còn có khi chỉ quở trách không, có khi chỉ nói lời dịu hòa. Cái khéo léo của Phật và Bồ-tát là dùng cả ba cách để giáo hóa chúng sanh vì vậy gọi là bậc thiện tri thức chân thật.

    Người làm cho mình xuất sanh tất cả căn lành và làm cho mình qua khỏi biển sanh tử đó gọi là thiện tri thức. Mà người nào làm được như thế? Chỉ Bồ-tát và Phật.

    Trên đây là những ví dụ để chỉ thiện hữu tri thức làm cho chúng sanh qua khỏi biển sanh tử, ra khỏi khổ não, được an ổn, đầy đủ căn lành. Gần thiện tri thức mới được gần đại Niết-bàn, nếu không gần thiện tri thức thì khó được gần đại Niết-bàn, mà thiện tri thức là Phật, là Bồ-tát.

    Thế nào là Bồ-tát nhờ nghe pháp mà đặng gần với đại Niết-bàn? Tất cả chúng sanh do nghe pháp mà có tín căn, vì có tín căn nên thích thật hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ, được quả Tu-đà-hoàn nhẫn đến quả Phật. Do đây nên biết rằng được những pháp lành đều là thế lực của sự nghe pháp.

    Ví như Trưởng giả chỉ có một con trai, ông sai con đến nước khác buôn bán đổi chác. Ông chỉ rành đường sá, rồi lại dặn rằng: Nếu gặp dâm nữ thời con phải cẩn thận, chớ gần gũi, nếu thương yêu gần gũi thời mất tiền của và thân mạng cũng khó bảo toàn, cũng chớ giao du với người tệ ác. Người con kính thuận theo lời dạy của cha, thân tâm an ổn được nhiều của báu mang về.

    Đại Bồ-tát giáo hóa chúng sanh cũng như vậy, chỉ rành đường đạo cùng những pháp chướng ác. Nhờ nghe pháp mà chúng sanh xa lìa những điều ác, đầy đủ những pháp lành, đây là do sự thính pháp mà được gần với đại Niết-bàn.

    Ví như gương sáng soi rõ mặt người. Cũng vậy, người được nghe pháp thời thấy rõ pháp lành, pháp ác, do đây nên được gần đại Niết-bàn.

    Tín căn tức là gốc tin. Nghe pháp có niềm tin, nếu không nghe pháp thì làm sao hiểu, không hiểu thì làm sao tin, nên nghe pháp rồi mới có lòng tin. Có lòng tin mới biết trì giới, bố thí... thực hành lục độ và chứng được các quả, nên nói tất cả pháp lành đều do nghe pháp mà được.

    Như trưởng giả sai con trai độc nhất đến nước khác buôn bán đổi chác. Khi đi ông dặn phải cẩn thận đừng gần gũi với dâm nữ, bạn ác. Người đó nghe lời cha, mua bán rồi đem tiền của về, không mất. Cũng vậy những người nghe pháp biết việc lành việc dữ, tránh dữ làm lành được đầy đủ tất cả công đức.

    Nghe pháp chẳng khác nào như người xem gương, nhờ gương mà biết rõ mặt mình. Phật dạy việc nào là thiện, việc nào là ác, đâu là hữu lậu, đâu là vô lậu..., nhờ nghe pháp mà biết rõ tâm mình thiện hay ác, hành động mình lành hay dữ v.v... Biết rồi làm thiện chừa ác, bỏ hữu lậu theo vô lậu thì mới đạt được sở nguyện. Như soi gương thấy trên mặt có vết dơ thì mau mau chùi cho sạch. Nếu không nghe pháp học đạo thì thích gì làm nấy, muốn được giải thoát cũng không có cách nào.

    Ví như nhà tìm châu bảo chẳng biết đường sá, có người hiểu biết chỉ đường, bèn đến được chỗ châu báu. Cũng vậy, tất cả chúng sanh muốn đến chỗ lành để lấy pháp bảo, chẳng biết phương pháp tu hành, nhờ Bồ-tát chỉ dạy, chúng sanh tuân theo mà được đến chỗ lành đặng pháp bảo vô thượng đại Niết-bàn. Đây là do nghe pháp mà đặng gần với đại Niết-bàn.

    Ví như voi say hung dữ, có nhà điều tượng dùng móc sắt móc rách da đầu, voi say liền điều thuận hết tâm hung dữ. Cũng vậy, tất cả chúng sanh do tham, sân, si nên muốn gây tạo nhiều tội ác, Bồ-tát vì họ thuyết pháp, làm cho họ dứt hết tâm ác, do đây nên gần được đại Niết-bàn. Vì thế nên Như Lai ở trong các kinh bảo hàng đệ tử phải nhiếp tâm lóng nghe và lãnh thọ mười hai bộ kinh, tu bảy giác chi, lìa năm thứ cái chướng. Do tu tập bảy giác chi thời được gần đại Niết-bàn.

    Do thính pháp mà Tu-đà-hoàn lìa những sự khủng bố.

    Trưởng giả Tu-đạt-đa trước kia mang bệnh nặng, ông rất lo rầu sợ sệt. Sau khi được nghe Xá-lợi-phất nói bậc Tu-đà-hoàn có bốn công đức, dùng mười thứ ví dụ để an ủi. Trưởng giả nghe rồi liền hết sợ sệt. Đây cũng là do thính pháp mà được gần đại Niết-bàn, vì được mở thông pháp nhãn.

    Trong đời có ba người: một là không con mắt, hai là một con mắt, ba là đủ hai mắt. Người không con mắt dụ cho thường chẳng được nghe pháp. Người một con mắt dụ cho được tạm thời nghe pháp mà tâm không được an trụ. Người đủ hai con mắt dụ cho chuyên tâm nghe pháp lãnh thọ và thật hành, do đây được gần đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Ngày trước lúc ta ở thành Câu-thi-na, Xá-lợi-phất đương bệnh khổ. Ta sai A-nan đến thuyết pháp. Lúc đó Xá-lợi-phất nghe A-nan thuyết pháp, bèn bảo bốn người đệ tử khiêng giường bệnh đến chỗ Phật để nghe pháp. Do phước lực nghe Phật thuyết pháp nên Xá-lợi-phất được lành bệnh thân thể an ổn. Vì thế nên nghe chánh pháp thời được gần đại Niết-bàn.

    Đó là do nghe kinh mà được lợi ích như vậy. Đức Phật dẫn chứng: Ông Tu-đạt-đa (trưởng giả Cấp Cô Độc) sau khi thọ giới quy y Phật, tu các pháp lành chứng được Tu-đà-hoàn. Một hôm ông bệnh nặng, trong lòng lo sợ. Ngài Xá-lợi-phất đến thăm, giải thích về bốn công đức của bậc Tu-đà-hoàn, ngay đó ông hết sợ sệt, liền lành bệnh.

    Chẳng nghe pháp thì không nhận ra được tà chánh thiện ác, nên ví dụ như không mắt.

    Có lúc ngài Xá-lợi-phất bệnh, Phật sai ngài A-nan đến thuyết pháp. Ngài Xá-lợi-phất nghe xong đến chỗ Phật, nương pháp lực Phật mà lành bệnh. Các vị đệ tử lớn của Phật ngày xưa cũng bệnh, chúng ta nhiều khi nghe các vị tu mà bị bệnh lại phàn nàn tu sao còn bệnh? Sự thật có thân thì phải bệnh thôi.

    Thế nào là Bồ-tát do tư duy mà được gần đại Niết-bàn? Nhân sự tư duy này mà tâm được giải thoát. Vì tất cả chúng sanh thường bị ngũ dục ràng buộc, do tư duy nên đều được giải thoát. Đây là do tư duy mà được gần đại Niết-bàn.

    Tất cả chúng sanh thường bị thường, lạc, ngã, tịnh làm điên đảo. Do tư duy nên được thấy các pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Nhờ sự thấy này mà hết điên đảo. Đây cũng là do tư duy mà được gần đại Niết-bàn.

    Tất cả pháp có bốn tướng: sanh tướng, lão tướng, bệnh tướng, diệt tướng. Do bốn tướng này làm cho phàm phu đến Tu-đà-hoàn bị nhiều sự khổ não. Nếu người có thể nhiếp niệm khéo tư duy, dầu gặp bốn tướng này nhưng chẳng bị khổ não. Đây cũng là do tư duy mà được gần đại Niết-bàn.

    Tư duy là quán xét. Ngũ dục làm người ta mê đắm, nếu tu mà không quán xét thì làm sao trừ được ngũ dục. Đối với tài thì quán tiền của không thật, thuộc năm nhà: con bất hiếu, vua quan, trộm cướp, lửa cháy, nước trôi. Tiền của đều vô thường, nay còn mai mất... Cho tới những cái dục khác như sắc, danh, thực, thùy cũng đều quán như vậy. Nhờ quán như thế chúng ta không còn mê đắm. Đó là quán vô thường, vô ngã... theo Nhị thừa. Nếu quán theo Đại thừa thì tất cả tiền của hay danh lợi cũng đều là pháp huyễn hóa do nhân duyên hợp mà có, không thật. Ví dụ như tấm giấy một ngàn, hai ngàn đồng có thể mua được món này món nọ, nhưng thật ra nó chỉ là một tờ giấy được mọi người cùng ước định đặt cho giá trị tạm thời, tùy chỗ tùy lúc mà thay đổi, không có giá trị thật. Quán xét như vậy gọi là tư duy. Do tư duy như vậy nên không còn đắm mến ngũ dục được giải thoát, gần được đại Niết-bàn.

    Cho thân mình là thường lạc ngã tịnh là điên đảo. Nếu suy nghĩ chân chánh thấy thân này thay đổi từng ngày, biết thân là vô thường, không vui gọi là vô lạc. Vô thường vô lạc nên cũng không có ta, không có chủ tể duy nhất nên gọi là vô ngã. Lại chính thân này có ba mươi sáu vật đều bất tịnh. Do tư duy như vậy mà phá trừ được bốn thứ điên đảo, gần được đại Niết-bàn.

    Sanh già bệnh chết là bốn tướng chung của mọi người, cho tới Tu-đà-hoàn cũng còn chưa thoát khỏi. Nếu biết chánh tư duy thì hết sợ bốn tướng đó. Quán thân này do nhân duyên hợp, sớm còn chiều mất, đủ duyên thì còn thiếu duyên thì mất. Biết thân không thật, chuyện còn mất bệnh hoạn không quan trọng nữa thì hết khổ, gần được đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Tất cả pháp lành đều do tư duy mà được. Vì có người dầu trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp chuyên tâm thính pháp, nếu chẳng tư duy thời trọn không thể được vô thượng Bồ-đề. Đây cũng là do tư duy mà được gần đại Niết-bàn.

    Nếu có chúng sanh tin Phật, Pháp, Tăng không biến đổi nên sanh lòng cung kính. Nên biết rằng đây là do năng lực của sự nhiếp niệm tư duy mới được dứt trừ tất cả phiền não. Đây cũng là do tư duy mà được gần đại Niết-bàn.

    Chúng ta nghe rất nhiều bộ kinh nhưng không có chánh tư duy thì không được lợi ích. Như kinh nói thân này là vô thường là huyễn hóa, nhưng mình lại không biết quán xét về thân thì làm sao hết khổ não. Phải xét lại ngày xưa còn nhỏ, bây giờ đã già rồi mai mốt chết... Hoặc quán xét thân này do nhân duyên hòa hợp mà có, quán xét cho thật kỹ thì mới thật có lợi ích. Phật nói dù mình nghe pháp trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp mà không tư duy thì cũng không được vô thượng Bồ-đề. Cho nên người tu phải thường ở chỗ vắng yên lặng suy nghĩ những lời Phật dạy, trí tuệ khai mở mới thoát được đau khổ. Còn nghe suông thì dù nghe bao nhiêu đời cũng không được lợi ích. Văn rồi phải tư, rồi tu mới có lợi ích.

    Nếu nghe Phật pháp tăng không biến đổi, nghe rồi cung kính. Suy nghĩ nhận xét đúng đắn thì lòng tin mạnh mẽ, lòng tin mạnh mẽ thì được gần đại Niết-bàn. Đó chính là do nhiếp tâm tư duy mà được, học đạo mà không suy xét nhận định thì không được như thế. Đó là lợi ích của chánh tư duy.

    Thế nào là Bồ-tát tu hành đúng chánh pháp? Này thiện nam tử! Dứt những pháp ác tu các pháp lành thời gọi là Bồ-tát tu hành đúng pháp. Lại thấy tất cả pháp trống rỗng không chỗ có, không thường, không lạc, không ngã, không tịnh, do sự thấy biết này nên thà bỏ thân mạng chẳng phạm cấm giới. Đây gọi là Bồ-tát tu hành đúng pháp.

    Tu có hai thứ: chân thật và chẳng thật. Chẳng biết tướng của Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, tướng hư không v.v... đây gọi là chẳng thật. Nếu biết thời gọi là chân thật.

    Thế nào gọi là biết tướng của Niết-bàn? Niết-bàn có tám điều: một là sạch hết, hai là tánh lành, ba là thật, bốn là chân, năm là thường, sáu là lạc, bảy là ngã, tám là tịnh.

    Tu hành đúng pháp cũng là do trí quán biết các pháp không có tự tánh, trống rỗng, không có một tự thể thật, cho nên nó không phải là thường lạc ngã tịnh. Đã không có tướng thật thì tại sao phải vì nó mà phạm giới. Vì lẽ đó thà bỏ thân mạng mà không phạm cấm giới. Đó gọi là tu hành đúng pháp.

    Nếu người tu không biết tướng của Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai... gọi là tu hành chẳng thật. Biết được Niết-bàn, Phật tánh là bất sanh bất diệt, nên tu tiến đến Niết-bàn được bất sanh bất diệt, đó mới là chân thật.

    Chỗ khác nói Niết-bàn chỉ có bốn đức: thường lạc ngã tịnh, ở đây nói tám đức: diệt sạch, tánh lành, thật, chân, thường, lạc, ngã, tịnh. Thật ra nói tám là Phật mở rộng, chứ bốn là đã đủ. Diệt sạch, tánh lành cũng nằm trong tịnh. Thật và chân nằm trong thường.

    Niết-bàn lại có tám điều: một là giải thoát, hai là tánh lành, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là vô thường, sáu là vô lạc, bảy là vô ngã, tám là vô tịnh.

    Niết-bàn lại có sáu tướng: một là giải thoát, hai là tánh lành, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là an lạc, sáu là thanh tịnh.

    Nếu chúng sanh y theo đạo thế tục mà dứt phiền não, thời Niết-bàn đó có tám điều giải thoát chẳng chân thật, vì là vô thường. Vì vô thường nên là không thật, vì không thật thời không chân. Dầu dứt phiền não nhưng rồi sẽ khổ trở lại, do đây nên không có thường lạc ngã tịnh. Đây gọi là Niết-bàn có tám điều giải thoát không thật.

    Thanh văn Duyên giác vì dứt phiền não nên gọi là giải thoát nhưng chưa được vô thượng Bồ-đề, đây gọi là chẳng thật vì chẳng thật nên chẳng chân. Đời vị lai sẽ được vô thượng Bồ-đề nên là vô thường. Vì được tám thánh đạo vô lậu nên gọi là thanh tịnh an lạc. Đây gọi là Niết-bàn có sáu tướng.

    Này thiện nam tử! Nếu biết như vậy đó là biết Niết-bàn, chẳng gọi là biết Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, hư không.

    Phật tánh có sáu điều: một là thường, hai là tịnh, ba là thật, bốn là thiện, năm là sẽ thấy, sáu là chân. Phật tánh lại có bảy điều: sáu điều như trên, bảy là có thể chứng. Đây gọi là Bồ-tát biết Phật tánh.

    Người y theo đạo thế tục mà dứt được phiền não thì có thể được Niết-bàn. Niết-bàn của họ có tám điều giải thoát chẳng thật. Như tu được Phi phi tưởng định theo đạo thế tục, tưởng là an tĩnh Niết-bàn, nhưng thật ra còn vô thường, khi hết sức định thì sanh trở lại, cho nên gọi là vô thường, vì vô thường nên không thật.

    Tám tướng trước thuộc Niết-bàn chân thật. Còn tám tướng kế là Niết-bàn của phàm phu. Niết-bàn sáu tướng sau là Niết-bàn của Thanh văn Duyên giác. Hai Niết-bàn sau chẳng thật, gọi là biết Niết-bàn mà không biết Phật tánh. Bởi vì Phật tánh không có hình tướng cho nên là thường. Vì không hình tướng nên không nhiễm ô là tịnh. Nhưng không như hư không nên là thật. Phật tánh là giác nên thuộc về thiện. Người tu sẽ thấy được Phật tánh nên nói sẽ thấy. Phật tánh là thường nên nói là chân không phải giả. Đó là sáu điều. Điều thứ bảy là có thể chứng nên nói là bảy điều. Hiểu được như vậy là nhận được Phật tánh.

    Như Lai chính là tướng giác ngộ, tướng lành, là thường, lạc, ngã, tịnh, là giải thoát chân thật, dạy đạo có thể thấy được. Đây gọi là Bồ-tát biết tướng Như Lai.

    Pháp là hoặc lành chẳng lành, hoặc thường chẳng thường, hoặc lạc chẳng lạc, hoặc ngã chẳng ngã, hoặc tịnh chẳng tịnh, hoặc tri chẳng tri, hoặc giải chẳng giải, hoặc chân chẳng chân, hoặc tu chẳng tu, hoặc sư chẳng phải sư, hoặc thật chẳng thật. Đây gọi là Bồ-tát biết pháp tướng.

    Thế nào là Bồ-tát biết Tăng tướng?

    Tăng là thường, lạc, ngã, tịnh, là tướng đệ tử, tướng có thể thấy, là thiện, là chân, chẳng thật, vì tất cả Thanh văn sẽ được thành Phật, vì tỏ ngộ chân tánh nên gọi là chân. Đây gọi là Bồ-tát biết tướng của Tăng.

    Đạo Phật dạy có thể chứng được thấy được không phải lời nói suông. Trong kinh A-hàm, đức Phật thường hay bác những vấn đề người ta chỉ nói mà không biết. Như Bà-la-môn nói đến Phạm thiên. Phật bác, ông nói Phạm thiên mà chính ông đã thấy được Phạm thiên hay là ông nghe cha mẹ, ông bà, tổ tiên thấy thuật lại? Bà-la-môn đáp, chỉ nghe nói Phạm thiên chứ không nghe ai thấy rồi thuật lại. Đức Phật ví dụ như có người làm cái thang bắc ngoài hư không. Có người hỏi, ông bắc thang đi đâu vậy? Ông nói, tôi bắc lên lầu mà không có lầu. Như vậy bắc thang có lên được lầu hay không? Vì không có lầu thật, có bắc thang cũng lên không được. Cũng vậy, ông nói Phạm thiên mà chính ông không thấy, rồi cha mẹ ông cũng không thấy không biết, tổ tiên cũng không thấy không biết, mà cứ nói tu theo Phạm thiên, như vậy có phải là nói gạt, như bắc thang lên lầu mà không có lầu, chỉ có thang không.

    Phật nói pháp là phải có thật chứng, thật ngộ, chứ không phải nói suông. Nói Niết-bàn thì mình tu chứng được Niết-bàn, nói Phật tánh mình tu thấy Phật tánh. Vì vậy ở đây dạy đạo có thể thấy được . Đó gọi là thấy được tướng Như Lai.

    Pháp là chỉ cho thiện, ác, thường, vô thường, lạc, bất lạc, ngã, vô ngã... tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian chung lại gọi là pháp. Biết tất cả pháp thế gian pháp xuất thế gian, gọi là biết pháp.

    Tăng ở đây có nghĩa là thánh tăng. Tại sao? Vì các hàng thánh tăng tu hành chứng được đạo quả từ Thanh văn đến Bồ-tát. Bởi chứng được đạo quả nên các ngài mới thường lạc ngã tịnh. Các ngài là tướng thật chứng cho nên có thể thấy được. Các ngài tu tất cả pháp lành nên là thiện . Các ngài chứng chỗ không sanh không diệt nên là chân . Chẳng thật là sao? Vì tất cả Thanh văn sẽ được thành Phật . Các ngài chứng quả A-la-hán tới mười muôn kiếp nữa thì thành Phật, quả A-la-hán bị dời đổi nên gọi chẳng thật. Vì tỏ ngộ chân tánh nên gọi là chân . Biết rành rẽ như vậy là biết Tăng.

    Thật tướng là: hoặc thường, vô thường, hoặc lạc, vô lạc, hoặc ngã, vô ngã, hoặc tịnh, vô tịnh, hoặc thiện, bất thiện, hoặc có, hoặc không, hoặc Niết-bàn, hoặc chẳng phải Niết-bàn, hoặc giải thoát, hoặc chẳng phải giải thoát, hoặc tri, hoặc bất tri, hoặc đoạn, hoặc bất đoạn, hoặc chứng, hoặc chẳng chứng, hoặc tu, hoặc chẳng tu, hoặc thấy, hoặc chẳng thấy. Đây gọi là thật tướng, chẳng phải là Niết-bàn Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, hư không.

    Đây gọi là Bồ-tát nhân tu kinh Đại Niết-bàn này biết tướng sai khác của Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, hư không.

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn chẳng thấy hư không, vì Phật và Bồ-tát dầu có ngũ nhãn nhưng chẳng thấy, chỉ có huệ nhãn mới thấy được. Chỗ thấy của huệ nhãn là không có pháp thấy được nên gọi là thấy. Nếu là không có vật gọi là hư không, thời hư không ấy gọi là thật, do vì thật thời gọi là thường không, vì thường không nên không có lạc, ngã và tịnh.

    Biết thật tướng là biết tất cả các pháp có thường vô thường, lạc vô lạc... Biết tất cả các pháp không có tướng cố định, như vậy là biết tướng thật của các pháp. Tướng thật đó không phải là tướng quyết định của Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng...

    Người thế gian có cái lầm, thấy trống rỗng nói thấy có hư không, chứ thật ra hư không có gì đâu mà thấy. Ở đây Phật giảng cho chúng ta thấy, có ngũ nhãn cũng không thấy hư không, chỉ có tuệ nhãn mới thấy được hư không. Thấy mà không phải thấy, tuệ tức là trí tuệ, biết chỗ trống là hư không, chứ đâu có gì mà thấy. Phàm thấy là phải có vật mới thấy được, cái trống rỗng biết là hư không chứ không phải thấy. Cho nên phải hiểu cho thật rõ, nghe nói Niết-bàn không có hình trạng, giống như hư không rồi tưởng Niết-bàn đồng với hư không là không có gì hết, đó là lầm. Niết-bàn không có hình trạng nhưng còn thường lạc ngã tịnh, hư không thì không có gì hết, vì thường không nên không có lạc, ngã, tịnh.

    Này thiện nam tử! Trống không gọi là không có pháp, không có pháp gọi là trống không. Như trong đời chỗ không có vật gọi là trống không, tánh hư không cũng như vậy, vì không chỗ có nên gọi là hư không.

    Này thiện nam tử! Tánh chúng sanh cùng tánh hư không đều không có thật tánh. Như có người nói rằng: Trừ dứt những vật có rồi sau mới là không. Nhưng hư không này thật chẳng thể làm ra, vì là không chỗ có, đã không chỗ có nên biết là không có hư không. Tánh hư không này nếu có thể làm ra thời gọi là vô thường, nếu là vô thường thời chẳng gọi là hư không.

    Này thiện nam tử! Như người đời nói rằng hư không là không sắc chất, không cách ngại, là thường chẳng biến đổi, do đây nên trong đời gọi tánh hư không là đại chủng thứ năm. Nhưng hư không này thật ra không có tánh, do ánh sáng nên gọi là hư không, thật ra không có hư không. Như thế đế thật ra không có tánh vì thuận theo chúng sanh mà nói là có thế đế.

    Không có một hình tướng gì thì gọi là hư không. Ví dụ cái tách trước mặt chúng ta, khi có tách thì chỗ này không phải là hư không. Cái tách bị bể nát thì chỗ này thành hư không. Người ta tưởng là do cái tách bể mà thành hư không. Nếu tách bể thành hư không thì hư không bị làm ra. Sự thật không phải vậy. Vì không có vật mà gọi là hư không, chứ không phải cái tách biến thành hư không. Chúng ta dẹp sự vật thì hết sự vật, gọi đó là hư không. Nếu nói hư không do cái này cái kia làm ra thì hư không vô thường, vô thường thì không gọi là hư không, thật ra thì hư không không có.

    Tánh của chúng sanh cũng vậy, không có thật cũng đồng như hư không. Bởi vì chúng sanh do nhân duyên hợp lại mà thành, bản lai là không thật, cũng giống như hư không vậy, nên nói rằng tánh chúng sanh cùng hư không đều không có thật tánh. Người ta gọi hư không là đại chủng thứ năm, sau tứ đại là không đại. Nhưng hư không không có tánh gì hết, nó rỗng không, do ánh sáng nên mình gọi là hư không. Hư không chỉ là một danh từ suông.

    Thế đế tức là các pháp hữu vi, không có tánh thật nhưng thuận theo chúng sanh mà nói có thế đế. Vì vậy nói rằng tất cả pháp đều không có tự tánh. Không có tự tánh bởi nó không có thật, cũng như hư không không có thật.

    Này thiện nam tử! Thể Niết-bàn cũng không có chỗ trụ, chính nơi chư Phật dứt sạch phiền não mà gọi là Niết-bàn. Niết-bàn chính là thường, lạc, ngã, tịnh. Niết-bàn dầu là lạc nhưng chẳng phải là thọ lạc, bèn là sự vui tịch diệt vi diệu vô thượng. Chư Phật có hai thứ vui: một là tịch diệt lạc, hai là giác tri lạc. Thể thật tướng có ba thứ vui: một là thọ lạc, hai là tịch diệt lạc, ba là giác tri lạc. Phật tánh có một thứ vui, vì sẽ được thấy, lúc chứng vô thượng Bồ-đề thời gọi là Bồ-đề lạc.”

    Niết-bàn ở đâu? Nếu có chỗ ở thì có chỗ trụ, mà có chỗ trụ thì không phải Niết-bàn. Niết-bàn là không có chỗ trụ, chỉ dứt sạch phiền não gọi là Niết-bàn. Phật giản trạch có lạc thọ, khổ thọ và không khổ không lạc thọ. Cái lạc của Niết-bàn không phải lạc trong ba thứ, khổ lạc và không khổ không lạc kia.

    Trong Pháp Bảo Đàn, có vị hỏi Lục Tổ: “Chư hạnh vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc. Nói tịch diệt là vui, tịch diệt là không còn thân, không còn thân thì cái gì vui?” Lục Tổ nói: “Ông tu theo đạo giải thoát mà nói theo người trần tục.” Vì cái vui này không phải do thân thọ mà do sự lặng lẽ thanh tịnh, dứt được phiền não. Tổ chỉ rất rành rõ mà nhiều khi mình hiểu lầm, tưởng có thân là thọ vui, không có thân là không có thọ vui. Cái vui này là cái vui tịch diệt, cái vui vi diệu chứ không phải cái vui do thọ lạc.

    Ví dụ trẻ con khi được cho bánh kẹo, khi được cho hát, khi được giỡn cười với nhau thì lúc đó vui. Cái vui của nó là nhận được những gì nó thích, vui khi được đông đảo đùa giỡn. Còn người lớn và nhất là người biết tu hành, nhiều khi ngồi lặng lẽ một mình, suy nghĩ đạo lý hiểu ra điều gì hay thì đó là vui, là giác tri lạc. Cái vui đó là vui trong tịch diệt. Chúng ta tu tuy chưa thấm vào đâu, nhưng vẫn có một chút vui về tịch diệt và tri lạc.

    Phật tánh chỉ có một cái vui sẽ được thấy, lúc chứng vô thượng Bồ-đề, tức là đạt được Phật quả mới gọi là Bồ-đề lạc.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chỗ phiền não dứt là Niết-bàn thời không phải. Vì xưa kia lúc đức Như Lai mới thành Phật, đi đến bờ sông Ni-liên-thiền, Ma vương cùng quyến thuộc đến chỗ Phật thưa rằng: Thời kỳ Niết-bàn đã đến sao Thế Tôn chẳng nhập?

    Phật bảo Ma vương: Nay ta chưa có hàng đa văn đệ tử giới hạnh tinh nghiêm trí huệ thông minh, có thể giáo hóa chúng sanh, nên ta chẳng nhập Niết-bàn.

    Nếu nói rằng chỗ phiền não dứt là Niết-bàn, Bồ-tát từ vô lượng kiếp đã dứt phiền não, cớ sao chẳng đặng gọi là Niết-bàn? Đều đồng dứt, cớ sao gọi riêng chư Phật có Niết-bàn, còn Bồ-tát thời không? Nếu dứt phiền não chẳng phải là Niết-bàn cớ sao ngày trước đức Như Lai bảo ông Sanh Danh: Chính thân của ta đây là Niết-bàn?

    Lúc Như Lai ở nước Tỳ-xá-ly, Ma vương lại đến thưa: Thế Tôn ngày trước nói rằng vì chưa có hàng đệ tử đa văn trì giới thông minh trí huệ có thể giáo hóa chúng sanh, nên Thế Tôn chẳng nhập Niết-bàn. Nay đã đầy đủ cớ sao Thế Tôn chẳng nhập? Như Lai bảo Ma vương: Sau đây ba tháng ta sẽ nhập Niết-bàn.

    Bạch Thế Tôn! Giả sử diệt độ chẳng phải nhập Niết-bàn, tại sao đức Như Lai lại hẹn ba tháng sẽ nhập Niết-bàn?

    Bạch Thế Tôn! Nếu dứt phiền não là Niết-bàn, ngày trước lúc đức Như Lai ngồi nơi đạo tràng Bồ-đề dứt hết phiền não bèn là Niết-bàn, sao lại nói với Ma vương sau ba tháng sẽ nhập Niết-bàn?

    Bạch Thế Tôn! Nếu lúc đó là Niết-bàn, tại sao lại tuyên bố đến cuối đêm sẽ nhập Niết-bàn?

    Đức Như Lai là đấng thành thật, cớ sao lại nói những lời hư vọng như vậy?”

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương nghi ngờ về việc nhập Niết-bàn của đức Phật, nên đặt ra những câu hỏi, gồm hai ý chính.

    Thứ nhất, Phật nói rằng dứt hết phiền não gọi là Niết-bàn. Khi Phật vừa thành Phật, Ma vương xin ngài nhập Niết-bàn, ngài nói chưa có đệ tử có thể giáo hóa chúng sanh nên chưa nhập. Lúc thành Phật là dứt hết phiền não, lẽ ra đã là Niết-bàn. Như vậy, lúc đó ngài chưa dứt hết phiền não hay sao?

    Lần sau ngài nói đợi ba tháng... mới nhập. Nếu dứt hết phiền não thì tất nhiên lúc nào cũng là Niết-bàn, sao phải đợi ba tháng nữa mới nhập Niết-bàn trong rừng ta-la này. Vậy là tới bây giờ ngài mới có Niết-bàn, còn ngày xưa là chưa có Niết-bàn hay sao? Đó là Bồ-tát Cao Quý Đức Vương nghi ngờ nghĩa Phật nói ở trên và lời Phật nói với Ma vương.

    Thứ hai, Niết-bàn là dứt phiền não, Bồ-tát đã dứt phiền não lẽ ra cũng được Niết-bàn, sao nói Phật nhập Niết-bàn mà không nói Bồ-tát nhập Niết-bàn?

    Ngài đặt rất nhiều câu hỏi nhưng không ngoài hai ý chính đó. Kết luận Như Lai là đấng thành thật cớ sao lại nói những lời hư vọng, là lời không quyết định như vậy.

    Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ-tát: “Này thiện nam tử! Như Lai đã đặng tướng lưỡi rộng dài, phải biết rằng Như Lai từ vô lượng kiếp đã lìa vọng ngữ. Tất cả chư Phật và Bồ-tát phàm có nói ra đều là lời thành thật chắc chắn không hư dối.

    Này thiện nam tử! Ngày trước ma Ba-tuần thỉnh Phật nhập Niết-bàn, mà Ma vương chẳng biết tướng Niết-bàn. Ý Ma vương cho rằng chẳng giáo hóa chúng sanh yên lặng bất động đó là Niết-bàn. Ví như người đời thấy có ai chẳng nói chẳng làm, bèn cho rằng người này như chết. Ý Ma vương cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Như Lai chẳng nói Phật, pháp và chúng tăng không có tướng sai khác. Chỉ nói thường trụ và thanh tịnh hai pháp này không sai khác. Phật cũng chẳng nói Phật cùng Phật tánh và Niết-bàn không có tướng sai khác, chỉ nói thường hằng bất biến là không sai khác. Phật cũng chẳng nói Niết-bàn và thật tướng không có tướng sai khác, chỉ nói thường trụ và thật chẳng biến đổi không có sai khác.

    Phật xác nhận ngài không nói lời hư dối và giải thích sao lại là ba tháng.

    Ma vương cho Niết-bàn là không làm gì hết, là yên lặng, là chết nên khuyên Phật nhập Niết-bàn. Phật cũng tùy theo lời nói Ma vương mà đáp. Như vậy ý nghĩa Phật đáp Niết-bàn tương tự như chỗ không thấy, không nói, không làm... như chết.

    Mỗi danh từ có nghĩa khác nhau, có khi một danh từ có nhiều nghĩa. Phật không chỉ một bề nói Phật pháp và tăng không có tướng sai khác, mà có trường hợp ngài cũng nói Phật pháp tăng có tướng sai khác. Ngài chỉ nói thường trụ và thanh tịnh, hai pháp này không sai khác. Bởi vì đứng về đồng thể Tam bảo chỉ cho Phật tánh thường trụ, Phật tánh thanh tịnh nên không sai khác. Nếu đứng về tướng, về danh tự thì Phật Pháp Tăng có sai khác.

    Phật là chỉ cho quả, Phật tánh là chỉ cho nhân và Niết-bàn cũng chỉ cho quả. Ba tướng đó về tướng thì có sai khác, nhưng về tánh bất sanh bất diệt thường hằng chẳng biến đổi thì không sai khác.

    Trên tướng của các pháp thì có sai biệt, nhưng phần tánh của các pháp thì không có sai biệt. Đừng nghe một danh từ rồi cố chấp theo một bên tướng hoặc tánh rồi sanh nghi ngờ. Vì có khi Phật nhìn vào tướng mà nói, có khi căn cứ trên tánh mà nói nên có khác biệt mà không hư vọng.

    Này thiện nam tử! Có lúc hàng Thanh văn đệ tử của ta sanh sự tranh tụng, như các Tỳ-kheo ở nước Câu-thiểm-di trái lời dạy của Phật phạm nhiều cấm giới, chẳng kính trọng Phật pháp tăng, giới luật hòa thượng. Những Tỳ-kheo ác này chẳng tin lời dạy của Phật. Vì những người này mà ta bảo ma Ba-tuần ông chớ lo rằng chậm. Sau ba tháng ta sẽ nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Nhân vì các Tỳ-kheo ác này, khiến hàng Thanh văn chẳng thấy thân của ta, chẳng nghe ta thuyết pháp, bèn cho rằng Như Lai nhập Niết-bàn. Chỉ hàng Bồ-tát thấy được thân ta, thường nghe ta thuyết pháp, nên chẳng cho rằng Phật nhập Niết-bàn.

    Dầu hàng Thanh văn nói rằng Như Lai nhập Niết-bàn, nhưng thật ra ta chẳng nhập Niết-bàn.

    Nếu Thanh văn đệ tử của ta nói rằng Như Lai nhập Niết-bàn, phải biết người này chẳng phải đệ tử của Phật, là bè đảng của ma, là người tà kiến chẳng phải chánh kiến. Nếu nói Như Lai chẳng nhập Niết-bàn, phải biết người này thật là đệ tử Phật, là người chánh kiến chẳng phải bè đảng của ma.

    Phật nói lý do hẹn ba tháng nhập Niết-bàn, vì răn dạy các vị Tỳ-kheo tranh tụng ở Câu-thiểm-di.

    Thanh văn không thấy Phật nên cho rằng Phật đã nhập Niết-bàn. Bồ-tát lúc nào cũng thấy Phật nên không thấy Phật nhập Niết-bàn.

    Nếu nói Phật nhập Niết-bàn thì thuộc Thanh văn, đó là nhìn theo hình tướng. Nhìn vào tự tánh, mỗi người đều có Phật tánh thì thân có sanh có diệt chứ Phật tánh đâu có sanh diệt. Huống nữa Phật đã viên mãn Phật tánh mà nói ngài diệt thì vô lý. Vì vậy Phật nói người nào nói Phật nhập Niết-bàn, người đó là bè đảng của ma, là người tà kiến chẳng phải chánh kiến, nếu người nào biết Phật không nhập Niết-bàn, đó mới thật là đệ tử Phật.

    Này thiện nam tử! Ta chẳng thấy trong hàng đệ tử có người nào cho rằng Như Lai chẳng giáo hóa chúng sanh yên lặng bất động gọi là Niết-bàn.

    Ví như trưởng giả có đông con cái, đi đến xứ khác chưa trở về. Những người con đều cho rằng cha mình đã chết. Nhưng trưởng giả này thật chẳng chết, mà những người con điên đảo tưởng rằng chết. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử vì chẳng thấy Phật, bèn cho rằng Như Lai đã nhập Niết-bàn trong rừng ta-la nơi thành Câu-thi-na, nhưng thật ra ta chẳng nhập Niết-bàn, mà hàng Thanh văn tưởng là nhập Niết-bàn.

    Đệ tử Phật không ai cho rằng Phật không giáo hóa chúng sanh, yên lặng bất động là Niết-bàn. Đức Phật ví dụ một trưởng giả đông con, ông đi xa chưa về, những người con cho rằng ông đã chết. Như hàng đệ tử Thanh văn thấy Phật không hiện, bèn cho Phật nhập Niết-bàn, mà không ngờ Phật không hiện chứ không phải Phật nhập Niết-bàn, cũng như trưởng giả kia chưa về chứ không phải chết.

    Ví như ngọn đèn sáng, có người che kín đó, những kẻ không biết cho rằng đèn đã tắt, nhưng đèn sáng này thật chẳng tắt, vì không biết nên cho là tắt. Cũng vậy hàng Thanh văn đệ tử dầu có huệ nhãn nhưng bị phiền não che đậy làm cho tâm điên đảo chẳng thấy được thân chân thật của Phật, bèn tưởng là Phật diệt độ, nhưng thật ra ta chẳng diệt độ.

    Như người sanh manh chẳng thấy mặt trời mặt trăng, chẳng biết ngày đêm sáng tối, vì chẳng biết bèn nói rằng không có mặt trời mặt trăng thật, do vì không thấy nên sanh tưởng điên đảo. Cũng vậy hàng Thanh văn đệ tử, vì chẳng thấy Như Lai bèn cho rằng Phật nhập Niết-bàn. Nhưng thật ra Như Lai chẳng nhập Niết-bàn.

    Ví như mây mù che khuất mặt trời mặt trăng, kẻ ngu si cho rằng không có mặt trời mặt trăng. Cũng vậy, vì các phiền não che đôi mắt trí huệ nên hàng Thanh văn chẳng thấy Như Lai bèn cho rằng Như Lai nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Đây là đức Như Lai thị hiện anh nhi hạnh chứ chẳng phải diệt độ.

    Này thiện nam tử! Như lúc mặt trời lặn, vì hắc sơn che khuất mặt trời, nên chúng sanh Diêm-phù-đề chẳng thấy, nhưng thật ra mặt trời không có lặn, vì không thấy nên chúng sanh tưởng là lặn. Cũng vậy, hàng Thanh văn đệ tử bị phiền não che ngăn chẳng thấy thân Phật, vì chẳng thấy nên cho rằng Như Lai nhập Niết-bàn, nhưng thật ra Phật chẳng nhập Niết-bàn.

    Do đây nên Phật ở nước Tỳ-da-ly bảo ma Ba-tuần: Sau ba tháng ta sẽ nhập Niết-bàn.

    Ví dụ thứ hai là ngọn đèn bị che kín, người ở ngoài nhìn không thấy cho rằng đèn tắt, nhưng sự thật đèn không tắt. Con mắt phàm phu và Thanh văn không thấy được pháp thân Phật rõ ràng nên nói Phật nhập Niết-bàn, các vị Bồ-tát do thấy được pháp thân của Phật nên nói rằng Phật không nhập Niết-bàn.

    Ví dụ thứ ba, như người mù từ thuở bé, không thấy mặt trời mặt trăng, chẳng biết ngày đêm sáng tối, nghe nói có mặt trời mặt trăng thì không tin, cho rằng nói dối. Các hàng Thanh văn đệ tử Phật cũng vậy, Phật nói ngài không nhập Niết-bàn thì không tin cho rằng lời nói đó không đúng sự thật.

    Ví dụ thứ tư, mây mù che khuất mặt trời mặt trăng, người ngu si cho rằng không có mặt trời mặt trăng. Cũng vậy, người thiếu con mắt trí tuệ không thấy được Phật tánh hay pháp thân Như Lai thì cho rằng Như Lai nhập Niết-bàn nhưng sự thật không phải vậy.

    Ví dụ thứ năm, như mặt trời qua phía tây rồi khuất, chúng ta cho là mặt trời lặn. Sự thật mặt trời không lặn, không mọc. Nói theo thời xưa bị hắc sơn che khuất, nói theo bây giờ thì do trái đất quay nên mình không thấy sáng chứ không phải mặt trời lặn hay mọc. Phật cũng vậy, pháp thân bất sanh bất diệt nên không sanh cũng không tử. Bởi không sanh không tử nên không thể nói Phật nhập Niết-bàn. Nhưng vì những người ít trí tuệ không thấy được cho là Phật có nhập Niết-bàn.

    Đó là những ví dụ để chỉ Phật không nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Đây là đức Như Lai thị hiện anh nhi hạnh chứ chẳng phải diệt độ. “Anh nhi” tức là không đến, không đứng, không đi, không làm, không nói, yên lặng, yên ở một chỗ. Như Lai tức thể pháp thân không đến, không đi, không tới, không lui v.v... gọi đó là nhập Niết-bàn nhưng sự thật không phải nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Như Lai thấy trước rằng Ca-diếp Bồ-tát sau ba tháng căn lành sẽ thành thục, cũng thấy núi Hương Sơn ông Tu-bạt-đà-la an cư xong sẽ đến chỗ ta, nên ta bảo ma Ba-tuần sau ba tháng sẽ nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Có năm trăm lực sĩ mãn ba tháng cũng sẽ phát tâm vô thượng Bồ-đề, vì họ nên ta bảo ma Ba-tuần sau ba tháng Phật sẽ nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Bọn ông Thuần-đà năm trăm Lê-xa tử, và Am-la nữ sau ba tháng thời đạo tâm vô thượng sẽ thành thục, vì những người này nên ta bảo ma Ba-tuần sau ba tháng Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Ông Tu-na-sát-đa theo hàng ngoại đạo Ni-kiền tử, ta vì ông thuyết pháp trọn mười hai năm, ông chẳng tin chẳng thọ, chẳng bỏ tà kiến, ta biết ác tâm tà kiến của ông sau ba tháng quyết định có thể dứt trừ, nên ta bảo ma Ba-tuần sau ba tháng Phật sẽ nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Do nhân duyên gì mà ngày trước ở bên sông Ni-liên, ta bảo ma Ba-tuần vì chưa có hàng đệ tử đa văn trí huệ nên Phật chẳng nhập Niết-bàn?

    Lúc đó ta muốn chuyển pháp luân độ các ông Kiều-trần-như v.v..., cũng muốn độ các ông Da-xá, muốn độ bọn ông Úc-già trưởng giả, muốn độ vua Tần-bà-sa-la nước Ma-già-đà cùng vô lượng nhân thiên, muốn độ thầy trò Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, cũng muốn độ các ông Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên v.v... Vì thế nên ta bảo ma Ba-tuần: Như Lai chẳng nhập Niết-bàn.

    Sở dĩ Phật nói sẽ nhập Niết-bàn sau ba tháng, vì ngài thấy căn cơ trước hết là Bồ-tát Ca-diếp, kế đó là ông Tu-bạt-đà-la, năm trăm lực sĩ, ông Thuần-đà, năm trăm Lê-xa tử, và Am-la nữ, Tu-na-sát-đa... Phật biết rằng sau ba tháng, những người đó căn cơ thuần thục, dứt trừ được các phiền não.

    Tới phần sau nói về nhân duyên. Tại sao ở sông Ni-liên, Phật bảo ma Ba-tuần vì chưa có hàng đệ tử đa văn trí tuệ nên Phật chẳng nhập Niết-bàn? Đó là vì Phật muốn độ năm anh em ông Kiều-trần-như, ông Da-xá, ông trưởng giả Úc-già, vua Tần-bà-sa-la cho tới độ ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... nên nói rằng ngài chưa nhập Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Có Niết-bàn chẳng phải là đại Niết-bàn. Chẳng thấy Phật tánh mà dứt phiền não thời gọi là Niết-bàn chẳng phải đại Niết-bàn. Bởi chẳng thấy Phật tánh nên không có thường, ngã, chỉ có lạc và tịnh, do đây nên dầu dứt phiền não mà chẳng được gọi là đại Niết-bàn. Nếu thấy Phật tánh dứt phiền não thời gọi là đại Niết-bàn, vì thấy Phật tánh nên được gọi là thường, lạc, ngã, tịnh.

    Này thiện nam tử! “Niết” nghĩa là chẳng, “Bàn” nghĩa là dệt, nghĩa chẳng dệt gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là che, chẳng bị che bèn gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là đi đến, chẳng đi chẳng đến gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là bất định, không bất định gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là mới cũ, không mới cũ gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là chướng ngại, không chướng ngại gọi là Niết-bàn.

    Phật giản trạch nghĩa Niết-bàn và đại Niết-bàn. Những vị tu theo Nhị thừa tuy dứt trừ được phiền não mà không thấy được Phật tánh cho nên có lạc tịnh mà không có thường ngã, gọi là Niết-bàn mà chẳng được gọi là đại Niết-bàn. Nếu nhận ra được Phật tánh mà tu mới được gọi là đại Niết-bàn.

    Chẳng dệt gọi là Niết-bàn, ví dụ như khung cửi mắc chỉ vô rồi dệt, cũng như vòng luân hồi, cứ tiếp tục liên miên thì gọi là dệt. Nếu dừng lại thì gọi chẳng dệt.

    Kinh điển Nhị thừa cũng định nghĩa giống hệt như vậy. “Niết” nghĩa là chẳng, không có nhiều nghĩa, chỉ có “Bàn” mới có nhiều nghĩa.

    Thứ hai, Niết-bàn là chẳng bị che.

    Thứ ba, Niết-bàn là không đi không đến, nghĩa là nằm im lặng, gọi đây là chết.

    Thứ tư, nói cho dễ hiểu chẳng bất định gọi là Niết-bàn. Chẳng bất định là quyết định, tức là thường. Niết-bàn là thường hằng.

    Thứ năm, chẳng mới cũ, nghĩa là xưa nay cũng như một, gọi là Niết-bàn.

    Thứ sáu, chẳng chướng ngại gọi là Niết-bàn.

    Như vậy Niết-bàn có sáu nghĩa: Một, chẳng dệt. Hai, chẳng che. Ba, chẳng đi đến. Bốn, chẳng bất định. Năm, chẳng mới cũ. Sáu, chẳng chướng ngại. Tùy chỗ mà dùng, có khi dùng nghĩa cạn, có khi dùng nghĩa sâu. Đó là nghĩa thông thường về Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Có hàng đệ tử của phái Ưu-lâu-khư, phái Ca-tỳ-la nói “Bàn” là danh tướng, không danh tướng gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là có, không có thời gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là hòa hiệp, không hòa hiệp gọi là Niết-bàn. “Bàn” lại có nghĩa là khổ, không khổ gọi là Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Người dứt phiền não chẳng gọi là tu Niết-bàn, chẳng sanh phiền não thời gọi là Niết-bàn. Chư Phật Như Lai vĩnh viễn chẳng khởi phiền não nên gọi là Niết-bàn.

    Những phái này nói Niết-bàn có bốn nghĩa: Một, không tướng. Hai, không có. Ba, không hòa hợp. Bốn, không khổ.

    Như vậy nghĩa Niết-bàn rất nhiều và rộng.

    Niết-bàn là chẳng sanh phiền não, như vậy tu để dứt trừ phiền não thì không phải là Niết-bàn. Vì dụng công để tiêu diệt phiền não, nghĩa là còn có phiền não để chiến đấu thì đâu gọi là Niết-bàn. Niết-bàn là chẳng sanh, nên phiền não chẳng sanh mới gọi là Niết-bàn.

    Có trí huệ ở nơi tất cả pháp không có chướng ngại thời gọi là Như Lai. Như Lai chẳng phải phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Đây gọi là Phật tánh.

    Thân tâm trí huệ của Như Lai khắp đầy vô lượng vô biên, vô số cõi, không bị chướng ngại, đây gọi là hư không.

    Như Lai thường trụ không có biến đổi, đây gọi là thật tướng.

    Do nghĩa này nên Như Lai thật chẳng rốt ráo nhập Niết-bàn.

    Đây gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ bảy.

    Trên nói về Niết-bàn, đây nói về Phật tánh.

    Như Lai là Phật tánh vì không phải phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Như Lai là hư không vì thân tâm trí tuệ trùm khắp vô lượng vô biên vô số cõi, không bị chướng ngại.

    Thế nào là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tám?

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn: trừ dứt năm việc, xa lìa năm việc, thành tựu sáu việc, tu tập năm việc, giữ gìn một việc, gần gũi bốn việc, tin thuận nhất thật, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát.

    Trừ dứt năm việc, chính là trừ năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; năm thứ này hay làm chúng sanh sống chết nối mãi, chẳng rời gánh nặng chia lìa tụ họp, buộc ràng trong ba đời, không thể cầu tìm cho ra nghĩa lý; do những lẽ này nên gọi là “ấm”.

    Đại Bồ-tát dầu thấy sắc ấm, nhưng chẳng thấy tướng của nó, vì trong mười món sắc suy tìm tánh của nó trọn không thể được, vì thuận theo thế tục mà gọi là “ấm”.

    Người giác ngộ rồi nhìn vào thân thấy sắc ấm là thể chất, thọ ấm là lãnh thọ khổ vui không khổ không vui, tưởng ấm là tâm tưởng tượng, hành ấm là tâm sanh diệt, thức ấm là tâm phân biệt. Năm ấm này làm cho chúng ta chết đi sống lại không cùng, chẳng rời nổi gánh nặng chia lìa và tụ họp . Chia lìa là chết, tụ họp là sống. Sống chết như mang một gánh nặng, bỏ cái này xuống gánh cái kia, gánh hoài không thể dừng. Người thế gian sống thì mừng vui, chết buồn khổ. Bồ-tát dùng mắt trí tuệ thấy thân này chỉ là một gánh nặng. Gánh nặng về tứ đại, rồi thêm thọ tưởng hành thức nữa, cứ xoay vần tụ tan mãi mãi. Nếu nhận chân được Phật tánh rồi nhìn lại thân của mình rõ ràng không đáng chi. Chúng ta mang thân này, khổ nhọc nặng nề, không biết làm gì, mang một lúc rồi bỏ, bỏ rồi lại mang nữa. Khi sống ráng tìm chút ý nghĩa như hiếu với cha mẹ, trung với quốc gia v.v... để làm theo cho đến chết. Nhưng những ý nghĩa này không có tánh nhất định, tùy xứ tùy thời mà thay đổi. Cuối cùng nhìn lại, cái nổi nhất vẫn là giành ăn giành sống với nhau rồi chết.

    Lịch sử thế giới chứng minh, chỉ toàn là tranh đấu giành đất giành nước, giành địa vị quyền thế, tình cảm... mạnh được yếu thua; giành ăn, giành sống chứ có gì đâu! Chúng ta đề cao, kính trọng, quý mến những anh hùng rồi dặn người sau bắt chước, tranh giành triền miên. Xét kỹ thì không biết tại sao con người sanh ra, để rồi chết! Răng mọc mấy chục năm rồi phải rụng, tóc cũng vậy. Sao cứ phải ăn hoài, không ăn một lần cho khỏe? Hơi thở cũng khì khịt khì khịt, khi ngồi nghỉ nói cười tưởng mình khỏe mà cứ thở khì khịt khì khịt mãi không lúc nào nghỉ hết. Cái máy chạy lâu thì phải nóng, phải hư. Từ lúc lọt lòng mẹ tới giờ thân của chúng ta có khi nào được nghỉ không? Chạy hoài, chạy mãi đến ngày nào mỏi mệt, nó nghỉ luôn.

    Như vậy khi mang thân năm ấm này là mang một gánh nặng. Phật tánh thì rỗng suốt không chướng ngại, lại sáng sủa không nặng nề, không sanh diệt, an lạc biết chừng nào! Nhưng mình lại không chịu sống với nó mà sống với thân luôn tụ họp chia lìa rồi tham đắm vào đó, nên Phật quở là ngu si.

    Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói chúng ta chấp bọt nước là biển cả. Bọt biển lúc hiện lúc tan, biển cả vẫn bao la. Cũng vậy, Phật tánh mênh mông rỗng suốt sáng sủa, không chịu nhận lại chấp thân ngũ uẩn này là mình, rồi lăn trong luân hồi sanh đi tử lại. Phật nói đó là ba khổ trong vòng luân hồi. Thế mà mình không nhận đó là khổ, còn hài lòng sung sướng được thân này nữa. Cho thân là quý, không ngờ chính là đang mang một mớ tạm hợp rồi sẽ tan mà không hay. Khi thân này sắp rã mình buồn rầu lo sợ, không biết sẽ ra sao. Nếu nhận ra Phật tánh thì sự mất còn của thân này đâu có nghĩa lý gì.

    Vì vậy Tuệ Trung thượng sĩ khi có người hỏi ngài đối với vấn đề sanh tử như thế nào, ngài trả lời:

    Trường không túng sử song phi cốc, 

    Cự hải hà phòng nhất điểm âu.

    Dịch:

    Giữa trời phỏng có đôi vành chuyển, 

    Biển cả ngại gì bọt nước xao.

    Bồ-tát có mắt trí tuệ nên các ngài nhìn thấy thân sắc ấm này, chẳng thấy tướng của nó, chỉ thấy duyên hợp như huyễn mà thôi. Chẳng những sắc ấm mà cả mười món sắc đều như thế. Vậy nên thuận theo thế tục các ngài cũng nói là sắc... chứ sự thật là các ngài thấy nó không có thật.

    Có một trăm lẻ tám thứ thọ, Bồ-tát dầu thấy thọ ấm, nhưng vẫn không thấy tướng của thọ. Vì thọ dầu có một trăm lẻ tám, nhưng tất cả không có nghĩa lý quyết định thật.

    Như sắc và thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

    Vì thấy rõ năm ấm là cội gốc sanh ra phiền não, nên đại Bồ-tát dùng phương tiện làm cho dứt.

    Một trăm lẻ tám thọ - chúng ta cũng không biết hết, chỉ thường biết ba tho: khổ, lạc, không khổ không lạc - Bồ-tát cũng thấy không có tướng thật. Ví dụ như một món ăn, để vô lưỡi mình thấy ngon đó là thọ lạc. Nuốt xong, không biết cái ngon đi đâu, nó không có tánh thật. Bởi không thật nên chợt có rồi chợt mất, duyên họp thì có, duyên qua thì mất. Thọ khổ, thọ không khổ không lạc cũng vậy. Vậy mà chúng ta lại tưởng là thật rồi theo sự đòi hỏi của cảm thọ, nó muốn thọ cái gì thì mình kiếm cái đó. Thân muốn mát mẻ nên khi mua vải lựa vải cho thật mát. Lưỡi muốn ngon thì khi đi chợ lựa món cho thật ngon. Tai muốn nghe êm ái nên tìm những bản nhạc cho hay. Như vậy lệ thuộc vào cái huyễn hóa nên phải khổ. Nếu được con mắt trí tuệ như Bồ-tát thì dù có một trăm lẻ tám thọ, cũng thấy nó không thật, không có nghĩa quyết định. Lấy sắc và thọ để hiểu tưởng, hành, thức cũng vậy, đều không thật.

    Bồ-tát tìm phương tiện làm cho dứt năm ấm. Dứt bằng cách nào? Nghĩa là tìm phương tiện dứt cái nhân đừng cho tiếp tục nữa, khi thân này rã thì đừng tiếp tục thân kế tiếp. Chúng ta nương cái dở này để tiến tu đạo Bồ-đề, khi nào viên mãn hết nghiệp thân tan rã, không tiếp tục thân khác là được, chứ không phải dùng phương tiện hủy hoại thân này.

    Đại Bồ-tát xa lìa năm việc, chính là xa lìa năm kiến chấp: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới thủ. Do năm kiến chấp này sanh ra sáu mươi hai thứ kiến chấp. Vì những thứ kiến chấp này mà sanh tử nối mãi chẳng dứt, nên Bồ-tát ngăn ngừa không gần gũi.

    Thân kiến là chấp thân hoặc là thường hoặc vô thường... Biên kiến là chấp một bên, hoặc có hoặc không, phải hoặc chẳng phải... Tà kiến là chấp không nhân không quả... Kiến thủ là chấp chặt cái thấy của mình cho là cứu cánh. Giới thủ nói đủ là giới cấm thủ, là giữ theo các tà giới, những giới của ngoại đạo của quỷ thần, cho là cứu cánh. Cố chấp giữ gọi là năm kiến chấp, từ đây sanh ra sáu mươi hai kiến chấp của ngoại đạo. Bồ-tát ngăn ngừa không gần gũi năm thứ kiến chấp là nhân gây sanh tử tiếp nối.

    Đại Bồ-tát thành tựu sáu việc, chính là thành tựu sáu chánh niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thiên, niệm Thí, niệm Giới.

    Đại Bồ-tát tu tập năm việc, chính là tu tập năm định: Tri định, Tịch định, Thân tâm thọ khoái lạc định, Vô lạc định, Thủ-lăng-nghiêm định. Tu tập năm thứ định tâm này thời gần với đại Niết-bàn, vì thế nên đại Bồ-tát chuyên cần tu tập.

    Bồ-tát giữ gìn một việc, chính là giữ gìn tâm Bồ-đề. Đại Bồ-tát luôn siêng năng gìn giữ tâm Bồ-đề, như người đời săn sóc đứa con một, như người chột mắt giữ gìn một mắt còn lại, như đi giữa rừng hoang vắng giữ gìn người dẫn đường. Do gìn giữ tâm Bồ-đề mà được vô thượng Bồ-đề, do được vô thượng Bồ-đề nên có đủ thường, lạc, ngã và tịnh, chính là đại Niết-bàn, do đây nên Bồ-tát gìn giữ một tâm Bồ-đề này.

    Niệm Thiên là niệm thế nào? Trong kinh nói, người tu mười điều lành sẽ được sanh ở cõi trời. Tuy cõi trời là chỗ vui sướng nhưng không phải là cứu cánh dứt sanh tử luân hồi. Vì vậy niệm Thiên, một là niệm nhân của thiên là Thập thiện, nhớ pháp Thập thiện của chư thiên tu. Hai là nhớ chư thiên chưa phải chỗ cứu cánh, dù được vui nhưng chưa phải là giải thoát, nên nhớ các cõi trời chưa giải thoát mà tiến tu để cầu giải thoát. Niệm Thí tức là niệm nhớ bố thí. Niệm Giới tức là nhớ giữ giới luật của Phật.

    Tri định là định luôn luôn có biết. Tịch định là định vắng lặng không xao động. Thân tâm thọ khoái lạc định là định khiến thân tâm đều vui thích. Vô lạc định là định không vui. Thủ-lăng-nghiêm định là cái định vững chắc lâu bền giống như định Kim cang.

    Tâm Bồ-đề là phát tâm xuất gia. Tu là tìm cầu giải thoát, cầu thành Phật, tâm đó gọi là tâm Bồ-đề. Cho nên xuất gia rồi thì nhớ giữ tâm này, đừng bao giờ quên, đừng bao giờ xao lãng. Tại sao chúng ta bỏ ngũ dục đi tu? Vì cầu giải thoát, cầu giác ngộ, tâm đó là tâm Bồ-đề. Phật dạy người xuất gia sáng thức dậy, khi rửa mặt nhớ sờ đầu để nhớ rằng đầu mình đã cạo là hủy bỏ cái đẹp cái tốt ở thế gian mà cầu giải thoát. Phải nhớ tâm cầu giải thoát, nhớ tâm Bồ-đề. Nếu không, tu một lúc thì quên mất tâm Bồ-đề. Lúc xuất gia cương quyết bỏ nhà, có khi còn trốn lên trốn xuống, nhưng tu chừng ba bốn chục năm thì lững lững lờ lờ, chiều chiều uống trà nghe nhạc, tâm Bồ-đề biến mất. Phải nhớ gìn giữ tâm Bồ-đề quý hóa ít có từ buổi đầu. Đừng có ban đầu mới tu thì Phật tại tiền, chừng vài ba năm Phật thăng thiên, vài chục năm Phật đi về Cực lạc không còn thấy nữa. Chư Phật chư tổ thường nhắc mình “nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật”. Hết tu thì hết thấy Phật. Ban đầu thì sốt sắng hăng hái lắm, bỏ hết những việc thế tục, nhưng sau đó quay lại bắt chước những cái vui thế gian.

    Chúng ta phải chịu khó gan dạ nhận xét kỹ lại. Không tụng kinh thì ngồi thiền, không ngồi thiền thì đi kinh hành để quán tưởng chứ đừng nằm nghỉ, đó là việc trái đạo lý. Phải luôn luôn nuôi giữ tâm này.

    Phật chỉ dạy mình giữ một thứ thôi, đó là giữ tâm Bồ-đề không cho xao lãng. Như người bị hư con mắt, còn lại một con phải ráng khéo giữ, đừng để hư luôn. Như người chỉ có một đứa con, ráng giữ không cho chết, sợ bị tuyệt tự. Như đi lạc trong rừng, ráng theo cho kịp người dẫn đường, vì nếu lạc sẽ không biết đường ra. Nhớ gìn giữ như vậy thì khả dĩ không bị lỗi là hai năm Phật thăng thiên, bảy tám năm thì Phật về Cực lạc.

    Bồ-tát gần gũi bốn việc, chính là gần bốn tâm vô lượng: đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Do bốn tâm này có thể làm cho vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề, nên Bồ-tát luôn gần gũi.

    Bồ-tát tin thuận nhất thật, chính là rõ biết tất cả chúng sanh đều về nơi đạo duy nhất, đạo duy nhất này là Đại thừa. Nơi Đại thừa này, chư Phật và Bồ-tát chia ra làm ba thừa để dụ dẫn chúng sanh.

    Bồ-tát tâm thiện giải thoát chính là đã dứt hẳn tham, sân, si.

    Bồ-tát huệ thiện giải thoát, chính là đại Bồ-tát rõ biết tất cả pháp không chướng ngại. Do huệ giải thoát nên những pháp từ xưa chưa nghe mà nay được nghe, từ xưa chưa thấy mà nay được thấy, từ xưa chưa đến mà nay được đến.”

    Tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả có thể khiến vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề nên Bồ-tát luôn gần gũi bốn việc này.

    Bồ-tát tin biết có một đạo duy nhất là Đại thừa, kinh Pháp Hoa gọi là Nhất thừa hay là Phật thừa. Ba thừa là phương tiện của Phật Bồ-tát dụ dẫn chúng sanh.

    Tâm thiện giải thoát là dứt tham sân si. Tuệ thiện giải thoát là biết tất cả pháp không chướng ngại. Do tuệ giải thoát nên những pháp từ xưa chưa nghe mà nay được nghe, từ xưa chưa thấy mà nay được thấy, từ xưa chưa đến mà nay được đến.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Như lời Phật nói: “Tâm giải thoát”, xét ra không đúng nghĩa. Vì tâm vốn không hệ phược. Bản tánh của tâm không bị tham, sân, si, hệ phược. Đã là vốn không hệ phược, sao lại nói là giải thoát?

    Thế Tôn! Nếu bản tánh của tâm chẳng bị tham kiết hệ phược, do nhân duyên gì mà có thể hệ phược được tâm? Ví như vắt sừng, vì vốn không sữa nên dầu tốn nhiều công lực vẫn không do đâu có sữa chảy ra. Nếu vắt vú bò, tốn công ít mà được nhiều sữa. Cũng vậy, tâm vốn không tham, sao nay lại có. Nếu trước vốn không mà sau mới có, thời chư Phật và Bồ-tát vốn không tham, nay đáng lẽ đều có.

    Ngài Cao Quý Đức Vương đặt nhiều câu hỏi thật hay. Trước hết ngài nói Như lời Phật nói tâm giải thoát xét ra không đúng nghĩa. Vì sao? Bị trói thì mới cởi còn nếu không bị trói thì sao nói cởi. Bản tánh của tâm vốn không bị tham sân si hệ phược thì làm sao nói giải thoát? Nếu trước không tham bây giờ có, thì Phật và Bồ-tát vốn không tham, bây giờ lẽ ra cũng có.

    Thế Tôn! Như thạch nữ vốn không con, dầu tốn nhiều công lực, nhiều nhân duyên vẫn không thể có con. Cũng vậy, tâm vốn không tham, dầu gây tạo nhiều duyên, cũng không do đâu sanh được tham.

    Thế Tôn! Như dùi cây ướt không thể được lửa. Cũng vậy, dầu dùi tìm nơi tâm vẫn không thể có tham. Tại sao tham kiết hệ phược được tâm?

    Thế Tôn! Ví như ép cát không thể có dầu. Cũng vậy, dầu ép nơi tâm vẫn không có tham. Phải biết rằng tham cùng tâm, lý nghĩa của hai thứ riêng khác nhau. Thiết sử có tham, đâu nhiễm ô được tâm.

    Thế Tôn! Ví như đem nọc cắm giữa hư không trọn không thể đứng cứng được. Cũng vậy, đem tham cắm vào tâm, trọn không thể hệ phược được tâm, dầu dùng nhiều nhân duyên.

    Thế Tôn! Nếu tâm vốn không tham mà lại gọi là giải thoát, thời chư Phật và Bồ-tát sao chẳng nhổ gai trong hư không?

    Thế Tôn! Tâm quá khứ không gọi là giải thoát. Tâm vị lai cũng không giải thoát, tâm hiện tại chẳng cùng chung với đạo, thế thời tâm nào gọi là được giải thoát?

    Thế Tôn! Như ngọn đèn quá khứ không thể diệt tối, ngọn đèn vị lai cũng không thể diệt tối, ngọn đèn hiện tại lại không thể diệt tối, vì sáng cùng tối, hai thứ ấy không đồng thời có. Tâm cũng như vậy, sao lại nói rằng tâm được giải thoát?

    Như thạch nữ vốn không con, tâm vốn giải thoát thì đâu thể nhiễm ô được, sao lại nói rằng giải thoát? Tâm không hình tướng mà nói tham hệ phược tâm thì vô lý, cũng như đem nọc cắm giữa hư không, chỗ đâu mà cắm? Nếu nói không có tham dính được tâm, bây giờ nói rằng giải thoát thì chẳng khác nào nhổ gai trong hư không, điều đó không bao giờ làm được.

    Ba tâm đều không thật hết thì tâm nào giải thoát? Chúng ta nói đang tối thì đốt đèn lên diệt hết tối thành sáng, nhưng sự thật có diệt không? Đèn vừa đốt lên, có ánh sáng thì bóng tối không, chứ có cái nào diệt cái nào đâu. Ví dụ có hai người sát phạt với nhau, người này còn sống người kia chết, đó mới có nghĩa là diệt. Còn ánh sáng với bóng tối có đụng độ với nhau không? Có tối là không có sáng, có sáng là không có tối thì sao gọi là diệt?

    Câu hỏi này nhắm vào chỗ trong tâm không có tham. Vì tham với tâm khác nhau nên tham không thể dính được tâm, nên không có nghĩa là tâm giải thoát tham.

    Thế Tôn! Tham cũng là có. Nếu tham là không, thời lúc thấy người nữ lẽ ra chẳng sanh tham. Nếu do người nữ mà sanh tham, thời tham là có thật. Vì có tham nên đọa ba đường ác.

    Thế Tôn! Như có kẻ thấy tượng vẽ người nữ cũng sanh tham, vì sanh tham nên thành có nhiều tội lỗi. Nếu vốn không tham, tại sao thấy tướng vẽ lại sanh tham? Nếu tâm không tham, tại sao Như Lai nói Bồ-tát tâm được giải thoát? Nếu tâm có tham, sao lại phải chờ thấy người nữ rồi sau mới sanh. Người không thấy thời không sanh? Hiện tại tôi thấy có quả báo ác do tham gây ra, nên biết tham là có. Sân và si cũng như vậy.

    Ở trên ngài nói tham không có trong tâm. Nếu có tham thì lẽ ra lúc nào cũng có, tại sao lúc không có cảnh lại không tham? Bình thường mình không tham tiền bạc, bây giờ có ai để quên một triệu đồng trước mặt, thấy tiền đó chúng ta có hơi tham, nghĩ tham. Có vật thì khởi tham, do khởi tham mới sanh trộm cướp nên đọa ba đường ác. Có đọa ba đường ác tức là có thật tham. Có quả tức là có nhân, thừa nhận quả phải thừa nhận nhân. Vì có quả nên biết có nhân, vì thấy có quả báo ác tham sân si nên biết cái nhân tham sân si cũng là có.

    Thế Tôn! Như chúng sanh có thân không ngã, mà phàm phu chấp có ngã, dầu chấp có ngã nhưng không vì thế mà đọa ba ác đạo. Tại sao người tham đối với không tướng nữ sanh tưởng là nữ mà phải đọa ba ác đạo?

    Thế Tôn! Ví như dùi cây sanh lửa, nhưng tánh lửa này trong các duyên đều không có, cớ gì mà được sanh ra lửa?

    Thế Tôn! Cũng vậy, trong sắc không có tham, trong thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều không có tham, tại sao nơi sắc v.v... lại sanh ra tham? Nếu trong các duyên đều không có tham, tại sao riêng chúng sanh có tham, mà chư Phật và Bồ-tát không sanh tham?

    Thế Tôn! Tâm cũng là bất định. Nếu tâm là nhất định thời không có tham, sân, si. Nếu tâm đã là bất định, sao lại nói rằng tâm được giải thoát? Tham cũng là bất định, nếu đã là bất định, tại sao lại nhân nơi tham mà sanh ra ba ác đạo? Kẻ tham cùng cảnh giới, cả hai đều bất định. Vì đồng chung duyên một cảnh sắc, hoặc sanh tham, hoặc sanh sân, hoặc sanh si. Nếu cả hai đều bất định, tại sao đức Như Lai nói rằng Bồ-tát tu đại Niết-bàn thời tâm được giải thoát?”

    Bồ-tát dùng lý để giải thích rồi đặt thành nạn vấn. Ngài nói thân của chúng sanh không thật là ngã, nhưng phàm phu chấp là ngã. Cái không thật có mà lầm chấp là có, nhưng không vì cái chấp đó mà đọa ba đường ác. Tại sao đối với không tướng nữ, tưởng là nữ mà đọa ba đường ác? Tướng nữ đó đâu phải là tướng thật, tại sao phạm tội đọa ba đường ác?

    Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều không có tham, tại sao nơi đó mình khởi tham?

    Kẻ tham cùng cảnh giới tức là người và cảnh, cả hai đều bất định thì tại sao nói là giải thoát? Ví dụ như năm ba người đồng xem một cái tủ, người cho là đẹp người cho là xấu, người khen người chê. Như vậy cảnh không nhất định, mà không nhất định thì không thật, không thật tại sao nói tâm giải thoát? Đó là những nghi vấn ngài đặt ra.

    Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ-tát: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Tâm cũng chẳng bị tham kiết hệ phược, cũng chẳng phải chẳng bị hệ phược; chẳng phải giải thoát, cũng chẳng phải chẳng giải thoát; chẳng phải có, chẳng phải không; chẳng phải hiện tại, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai. Vì tất cả pháp đều không tự tánh.

    Này thiện nam tử! Có các nhà ngoại đạo cho rằng: Nhân duyên hòa hiệp thời có quả sanh ra.

    Nếu trong các duyên vốn không tánh sanh mà có thể sanh ra, thời hư không vốn chẳng sanh lẽ ra cũng sanh được quả. Nhưng hư không vẫn chẳng sanh vì chẳng phải là nhân.

    Do vì trong các duyên vốn có tánh của quả, nên hòa hiệp thời sanh được quả.

    Như người đời khi muốn xây vách thời dùng bùn đất mà không dùng cọ màu, lúc muốn vẽ vời thời dùng cọ màu mà chẳng dùng cỏ cây, may áo thời dùng kim chỉ mà chẳng dùng cây bùn, cất nhà thời dùng bùn cây mà chẳng dùng kim chỉ. Người dùng đến vật đó là vì nó có thể sanh ra quả, vì sanh được quả nên biết trong các nhân tất đã có tánh. Nếu là không tánh, thời trong một vật lẽ ra phải xuất sanh tất cả vật.

    Nếu là đáng lấy, đáng làm, đáng đem ra, nên biết rằng trong đó tất đã trước có tánh của quả. Nếu là không có tánh của quả thời người chẳng lấy, chẳng làm, chẳng đem ra. Chỉ có hư không là chẳng lấy, chẳng làm nên có thể xuất sanh tất cả muôn vật, do vì có nhân.

    Như hột ni-câu-đà mọc lên cây ni-câu-đà, trong sữa có tánh chất đề hồ, trong sợi chỉ có tánh của vải, trong đất sét có tánh của cái bình.

    Các pháp không có quyết định, vì không tự tánh, có thể có cũng có thể không, có thể giải thoát có thể không giải thoát, có thể bị hệ phược mà cũng có thể không bị hệ phược. Cho nên không tự tánh là một triết lý của Đại thừa. Nếu biết tất cả các pháp không tự tánh nên không cố định, đó là trí tuệ Bát-nhã, là đúng với lý trung đạo. Trung Quán cốt giải thích cho mình hiểu tất cả pháp đều không có tự tánh, không quyết định, do nhân duyên.

    Ngoại đạo lý luận nghe cũng có lý, phàm có tánh mới sanh ra được, nếu không có tánh thì hư không không có tánh lẽ ra cũng sanh được quả. Ví dụ cây xoài có tánh của trái xoài mới sanh được trái xoài, còn cây ổi không có tánh của trái xoài nên không sanh được trái xoài. Cho nên cái sanh ra phải có tánh, trong nhân quyết định có tánh của quả, các ví dụ khác đều cùng một ý. Đó là lối chấp của ngoại đạo.

    Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu bị vô minh làm mù lòa nên bày ra định thuyết: sắc có nghĩa tham luyến, tâm có tánh tham. Họ lại cho rằng: tâm phàm phu có tánh tham, cũng có tánh giải thoát, gặp duyên tham thời tâm sanh tham, nếu gặp được duyên giải thoát thời tâm giải thoát.

    Những thuyết này đều không đúng nghĩa.

    Có hạng phàm phu lại cho rằng: trong tất cả nhân đều không có quả; nhân có hai thứ: vi tế và thô đại; tế thời là thường, thô thời vô thường. Từ nhân vi tế chuyển thành nhân thô, từ nhân thô này lại chuyển thành quả. Vì nhân thô vô thường nên quả cũng vô thường.

    Có hạng phàm phu lại cho rằng: tâm không có nhân, tham cũng không có nhân, do thời tiết thời sanh tâm tham.

    Vì không biết được tâm nhân duyên, nên những hạng này luân hồi trong sáu đường, chịu đủ mọi sự sanh tử.

    Ví như con chó bị xiềng, trọn ngày đi quanh cột không thể thoát lìa. Cũng vậy, tất cả phàm phu bị xiềng vô minh cột vào cột sanh tử, cứ vòng quanh mãi ở hai mươi lăm cõi không thoát ly được.

    Có hạng phàm phu lại cho rằng tâm không có nhân, tham cũng không có nhân. Do gặp duyên tham thì sanh tâm tham, cũng do gặp duyên giải thoát mà giải thoát, tức là trong tâm có đủ các tánh đó. Chúng ta cũng hay nói tánh tôi nóng, tánh tôi ưa cái đó, chấp trong tâm mình có tánh tham thật, có tánh sân thật.

    Phật nói thuyết của phàm phu và ngoại đạo đều không đúng nghĩa, vì không biết nhân duyên.

    Phật ví dụ như con chó bị xiềng, chạy loanh quanh cũng không lìa khỏi cột. Chúng ta cũng giống hệt, bị xiềng trong hai mươi lăm cõi, chạy lên chạy xuống, chạy ngược chạy xuôi cũng loanh quanh lẩn quẩn bao nhiêu đó.

    Ví như có kẻ sa vào hầm xí, đã được ra khỏi rồi lại té vào hầm. Như người bệnh được lành trở lại làm nhân cho bệnh. Như người đi đường xa gặp phải chỗ hoang vắng, đã đi qua được rồi trở lại nữa. Như đã tắm rửa sạch sẽ trở lại lấy bùn đất trét vào. Cũng vậy, tất cả phàm phu đã được thoát khỏi cõi Vô sở hữu, chỉ chưa thoát khỏi cõi Phi phi tưởng, trở lại sa vào đến ba ác đạo. Vì tất cả phàm phu chỉ biết quán sát nơi quả, mà chẳng suy gẫm nhân duyên.

    Như con chó đuổi theo cục đất chẳng chạy theo người. Cũng vậy, hạng phàm phu chỉ nhìn nơi quả mà chẳng nhìn nơi nhân duyên. Do chẳng thấy biết nhân duyên nên từ cõi Phi phi tưởng sa đến ba ác đạo.

    Này thiện nam tử! Chư Phật và Bồ-tát trọn không bảo nhất định rằng: trong nhân có quả, trong nhân không quả, trong nhân cũng có cũng không quả, trong nhân chẳng phải có chẳng phải không quả.

    Nếu kẻ nào cho rằng trong nhân quyết định có quả, không quả, cũng có cũng không quả, chẳng phải có chẳng phải không quả, nên biết rằng đây là bè lũ của ma, là thuộc về loài ma, là người tham ái, chẳng thể dứt hẳn sự hệ phược của sanh tử, người này chẳng rõ biết tâm tướng và tham tướng.

    Này thiện nam tử! Chư Phật và Bồ-tát hiển bày lý trung đạo: dầu nói các pháp là chẳng phải có, chẳng phải không, nhưng chẳng quyết định. Vì nhân nơi nhãn, sắc, minh, tâm và niệm mà có thức sanh ra. Thức này quyết định chẳng ở trong nhãn, chẳng ở trong sắc, chẳng ở trong minh, chẳng ở trong tâm, chẳng ở trong niệm, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng phải có chẳng phải không. Vì từ các duyên sanh ra nên gọi là có. Vì không tự tánh nên gọi là không. Do đây nên Như Lai nói các pháp là chẳng phải có chẳng phải không.

    Phàm phu cứ xét trên quả rồi nói có cái nhân quyết định, đó là lầm lẫn, nên Phật nói rằng không hiểu được lý nhân duyên. Đức Phật không nói nhất định theo tứ cú của ngoại đạo. Đứng về trí tuệ nhìn thấy các pháp hư giả cho nên nói chẳng phải có. Nói chẳng có chẳng không mà không bao giờ cố định là có hay là không.

    Ví dụ như tôi thấy cái chuông thì trước là nhân con mắt, nhân cái chuông ở ngoài, nhân khoảng trống và ánh sáng, nhân nơi tâm niệm ở trong tôi mới biết phân biệt đây là cái chuông. Cái biết phân biệt này là do cộng tất cả các nhân đó mới có.

    Thức này quyết định chẳng ở trong nhãn, chẳng ở trong sắc, chẳng ở trong minh, chẳng ở trong tâm, chẳng ở trong niệm, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng phải có chẳng phải không. Đó là cứu cánh. Chẳng phải có tức là không, chẳng phải không tức là có. Do các duyên hợp thì có nên nói có, vì không tự tánh nên nói là không.

    Như vậy không có cố định. Chẳng phải có vì tự tánh nó là không, nhưng chẳng phải không vì duyên hợp huyễn có. Đó là cái xác định của trí tuệ Trung đạo hay gọi là trí tuệ Bát-nhã hay trí tuệ của Trung Quán. Cho nên Đại thừa lúc nào cũng dùng con mắt trí tuệ đó mà nhìn xét sự vật không cố chấp một chiều, không nhất định một chiều.

    Này thiện nam tử! Chư Phật và Bồ-tát trọn không quyết định nói tâm có tánh thanh tịnh và tánh chẳng thanh tịnh, tánh tịnh cùng bất tịnh, vì tâm vốn vô trụ.

    Do từ nơi duyên sanh ra tham nên nói là chẳng phải không, lại vì vốn không có tánh tham nên nói là chẳng phải có.

    Này thiện nam tử! Do từ nơi nhân duyên mà tâm sanh ra tham, do từ nơi nhân duyên mà tâm được giải thoát. Nhân duyên có hai thứ: một là theo sanh tử, hai là theo đại Niết-bàn.

    Này thiện nam tử! Vì có nhân duyên mà tâm cùng với tham sanh ra, chung với tham cùng diệt. Có nhân duyên tâm cùng với tham sanh mà chẳng chung với tham cùng diệt. Có nhân duyên tâm chẳng cùng với tham sanh mà chung với tham cùng diệt. Có nhân duyên tâm chẳng cùng với tham sanh cũng chẳng cùng với tham diệt.

    Vì tâm vốn vô trụ, không cố định nên không thể nói thuần thanh tịnh hay thuần bất tịnh. Phật và Bồ-tát không bao giờ nói một chiều. Tuy không có tánh tham nhưng nhân duyên hợp thì có, nên nói rằng chẳng phải không, nhưng tự tánh nó không thật nên chẳng phải có.

    Như vậy đây nói bốn mà sự thật chỉ có hai. Do nhân duyên mà tâm sanh ra tham, đó là phù hợp theo sanh tử. Do từ nhân duyên mà tâm được giải thoát, đó là phù hợp với đại Niết-bàn. Như vậy sanh tử cũng do nhân duyên mà có, giải thoát cũng do nhân duyên mà được.

    Này thiện nam tử! Có hạng phàm phu chưa dứt tâm tham, huân tập tâm tham, những kẻ này, tâm của họ chung với tham cùng sanh cùng diệt.

    Như chúng sanh cõi Dục, tất cả đều có khí vị Sơ thiền, hoặc tu hay chẳng tu, gặp nhân duyên thời bèn được; nơi đây nói nhân duyên chính là chỉ cho hỏa tai. Cũng vậy, tất cả phàm phu hoặc huân tập hay không huân tập, tâm của họ chung với tham cùng sanh, chung với tham cùng diệt, vì họ chẳng dứt tham vậy.

    Hạng phàm phu có nhân duyên mà tâm cùng với tham sanh, cùng với tham diệt, hằng ngày cứ tham cái này muốn cái kia, tâm cũng theo ham muốn đó mà sanh diệt. Vì vậy nói tâm họ chung với tham cùng sanh cùng diệt.

    Trong kinh Phật nói rằng thế giới tới thời kỳ hoại, trước hết bị hỏa tai thiêu đốt. Tất cả chúng sanh ở cõi Dục này đều có khí vị Sơ thiền, nên dù có tu hay không tu, lúc ấy cũng được sanh về cõi Sơ thiền, nhân duyên chính là do hỏa tai. Phàm phu tâm dầu có huân tập hay không huân tập, vẫn luôn luôn cùng với tham sanh rồi cùng tham diệt, vì chưa dứt tham.

    Hàng Thanh văn vì có nhân duyên nên sanh tâm tham, vì sợ tâm tham nên tu tập quán bạch cốt, đây gọi là tâm cùng tham sanh mà chẳng cùng tham diệt. Lại hàng Thanh văn chưa chứng quả A-la-hán vì có nhân duyên nên sanh tâm tham, lúc đã chứng A-la-hán thời tham liền diệt, đây cũng gọi là tâm cùng tham sanh mà chẳng chung với tham cùng diệt.

    Hàng Thanh văn vì có nhân duyên nên sanh tâm tham, như khi tiếp xúc người nữ họ sanh tâm dục, vì sợ tâm tham đó nên liền tu tập phép quán bất tịnh. Quán bạch cốt tức là quán xương trắng. Thân mình khi da thịt rã rời thì chỉ còn bộ xương trắng. Họ cứ quán từng phần, từng phần của bộ xương, để thấy thân này không có nghĩa lý gì hết. Đó gọi là phép quán bất tịnh. Bởi vì quán bất tịnh nên tâm tham này hết. Nên đây nói đây gọi là tâm cùng tham sanh mà chẳng cùng tham diệt. Khi tham dục hết rồi, tâm họ không diệt, nghĩa là tâm còn mà tham hết, cho nên nói tâm cùng tham sanh mà chẳng cùng tham diệt.

    Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật nói: Các ông không nên tin tâm các ông, khi nào chứng A-la-hán rồi hãy tin . Ba quả trước là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm còn thuộc hữu lậu. Còn hữu lậu là còn những mầm trầm luân chưa diệt sạch nên có khi cũng dấy tham. Ví dụ có người thấy số tiền năm mười ngàn họ tham. Người khá hơn thấy năm mười ngàn không tham nhưng thấy vài trăm ngàn thì tham, khá hơn chút nữa thấy vài ba triệu mới tham, khá hơn nữa thấy vài tỷ thì tham. Nghĩa là thắng cái nhỏ, cái lớn thì thắng không nổi. Đó là vì gốc phiền não diệt chưa sạch. Khi chứng A-la-hán thì không còn tham nữa nên không cùng diệt theo tham.

    Đại Bồ-tát lúc chứng bậc Bất Động cũng như vậy.

    Thế nào là tâm chẳng cùng tham sanh mà chung với tham cùng diệt?

    Đại Bồ-tát đã dứt tâm tham, vì độ chúng sanh mà thị hiện có tham, vì thị hiện nên có thể làm cho vô lượng chúng sanh học tập thành tựu pháp lành. Đây gọi là tâm chẳng cùng tham sanh mà với tham cùng diệt.

    A-la-hán, Duyên giác, chư Phật, chư Bồ-tát trừ Bất động địa, gọi là tâm chẳng chung với tham cùng sanh cùng diệt.

    Do những nghĩa trên đây, nên chư Phật và Bồ-tát chẳng quyết định nói tâm tánh vốn thanh tịnh, tâm tánh vốn không thanh tịnh.

    Tâm cùng tham sanh tức là do nhân duyên cùng tham sanh nhưng không theo tham mà diệt. Tâm của Bồ-tát không cùng tham sanh mà cùng tham diệt, vì các ngài thị hiện tham chứ đâu có thật trong tâm, nên nói không cùng tham sanh. Bởi thị hiện nên lúc tham diệt thì tâm theo đó mà lặng lẽ. A-la-hán, Duyên giác, chư Phật, chư Bồ-tát trừ Bất động địa, tâm không bao giờ dính vô cái tham, cũng không có sanh diệt với tham.

    Vì những lý do trên mà Phật không nói tâm quyết là thanh tịnh hay không thanh tịnh. Bởi vì do nhân duyên mà có bất tịnh, cũng do nhân duyên mà được tịnh cho nên không có nói một chiều.

    Này thiện nam tử! Tâm này chẳng cùng với tham hòa hiệp, cũng chẳng cùng với sân, si hòa hiệp.

    Như mặt trời, mặt trăng dầu bị khói, bụi, mây mù và La-hầu a-tu-la che chướng, làm cho chúng sanh không thấy, nhưng tánh mặt trời mặt trăng trọn chẳng cùng hòa hiệp với năm thứ ấy.

    Cũng vậy, do nhân duyên mà tâm sanh tham, nhưng thật ra tâm tánh chẳng cùng tham hòa hiệp.

    Nếu là tâm tham thời chính là tánh tham. Nếu là tâm chẳng tham thời chính là tánh chẳng tham. Tâm chẳng tham không thể làm tham. Tâm tham không thể chẳng tham.

    Ở trên Phật chỉ cho duyên tu và duyên nhiễm. Từ đây Phật nói thẳng vào tâm chân thật tức là thể tánh chân tâm, bởi thể tánh chân tâm không có hòa hiệp với tham sân và si.

    A-tu-la che chướng là nhật thực, nguyệt thực. Ví dụ như nhìn lên mặt trời mặt trăng thấy có khi mờ, có khi sáng, có khi tối. Đó là hoặc bị mây che, bị khói, bị sương mù, bị nhật thực hay nguyệt thực. Nhưng sự thật những cái đó không làm hại mặt trời và mặt trăng, mà chỉ che con mắt phàm tục không nhìn thấy được. Cũng vậy, tất cả tham sân si không làm hại được Phật tánh, mà nó chỉ che mất làm mình không thấy, nên nói là không có Phật tánh, không có chân tâm. Sự thật không phải.

    Tánh của tâm, chỗ khác gọi là chân tâm, hoặc nói thể tánh chân tâm. Như vậy nếu nói tâm tham tức là tánh thuộc về tham. Tâm chẳng tham thì nói tánh chẳng tham. Nếu tánh của tâm không tham thì ai làm cho nó tham được. Nếu tánh của tâm quyết định tham thì không ai làm cho nó không tham được. Tham, sân, si đều là do nhân duyên chứ không cố định, không phải là tánh. Nếu nói tánh tức là không chuyển được, còn do nhân duyên nên chuyển được, chỉ cần thay đổi nhân duyên thì nó sẽ chuyển từ cái này sang cái khác. Như chúng ta nếu gần những bạn ác thì cũng thành người xấu, gần những bạn lành thì thành người tốt. Như vậy do nhân duyên mà thành xấu, cũng do nhân duyên mà thành tốt.

    Do nghĩa trên đây nên kiết sử tham dục không thể làm nhiễm ô được tâm.

    Chư Phật và Bồ-tát đã phá hẳn tham kiết, nên gọi là tâm được giải thoát.

    Tất cả chúng sanh vì do nhân duyên mà sanh tham kiết, vì do nhân duyên mà được giải thoát.

    Tâm tánh không bị tham sân si làm hại được, chỉ là bị che lấp bên ngoài thôi. Vì vậy nói kiết sử tham dục không thể làm nhiễm ô được tâm.

    Như cái đèn bị chụp đèn che bốn phía thấy tối nói đèn tắt, khi giở chụp đèn ra thì sáng. Đèn vẫn thế nhưng bị che thì thấy tối, giở chụp đèn ra thì thấy sáng. Cũng vậy, tâm bị tham sân si gọi là bị kiết sử che lấp. Nếu phá được những cái che đó thì gọi là giải thoát. Phá những duyên che bên ngoài mà trở nên an ổn hay sáng suốt thì gọi là giải thoát.

    Chúng sanh nếu có tánh quyết định là tham thì không bao giờ hết tham được. Nếu không tham thì tham không thể làm nhiễm ô được. Phật kết thúc bằng câu: Tất cả chúng sanh vì do nhân duyên mà sanh tham kiết, vì do nhân duyên mà được giải thoát. Thế nên chúng sanh không cố định là có tánh tham, cũng không cố định không có tánh tham.

    Này thiện nam tử! Như núi Tuyết, chỗ cao vót, người cùng khỉ vượn đều không đi được, hoặc có chỗ vượn đi được mà người không đi được, hoặc có chỗ vượn cùng người đều đi được.

    Chỗ mà người cùng vượn đều đi được đó, như thợ săn dùng keo nhựa bày trên bàn để bắt vượn. Vì ngu si, vượn đến lấy bàn tay rờ bốc, tay dính vào nhựa. Muốn gỡ tay vượn dùng chân đạp lại dính luôn chân. Muốn gỡ chân vượn dùng miệng cạp, lại dính cả miệng. Hai tay, hai chân cùng miệng của vượn đều dính khắn vào nhựa không thể thoát được. Bấy giờ thợ lấy gậy xỏ vượn mang về nhà.

    Chỗ cao vót của núi Tuyết dùng dụ cho chánh đạo của Phật và Bồ-tát chứng. Khỉ vượn dụ cho phàm phu. Thợ săn dụ cho ma Ba-tuần. Keo nhựa dụ cho tham dục.

    Người cùng khỉ vượn đều không thể đi là dụ cho phàm phu và ma vương Ba-tuần đều không thể đi đến.

    Khỉ vượn đi được mà người thời không, dụ hàng ngoại đạo có trí huệ, các ác ma dầu có dùng ngũ dục cũng không hệ phược được họ.

    Người cùng khỉ vượn đều đi được là dụ cho tất cả phàm phu cùng ma Ba-tuần luôn ở trong sanh tử không thể tu hành. Hàng phàm phu bị ngũ dục hệ phược nên ma Ba-tuần tha hồ mang đi. Như thợ săn kia bắt khỉ vượn mang về nhà.

    Đức Phật ví dụ, chót vót trên đỉnh núi Tuyết, khỉ vượn và người đều không đi tới được. Những chỗ thấp ở dưới thì có chỗ khỉ vượn đi tới được mà người không đi được, hoặc có chỗ khỉ vượn cùng người đều đi tới được. Chỗ mà khỉ vượn đi tới được, có người khôn ngoan đánh nhựa làm bẫy. Mấy con khỉ vượn đến đó, thấy nhựa lấy tay bốc thử thì dính vô tay. Lấy chân cạy ra lại dính luôn chân. Hai tay, hai chân đều mắc kẹt hết. Lấy miệng cạp vô thì dính vô miệng, đuôi cọ lại dính cả cái đuôi. Sáu bộ phận dính mắc trong nhựa. Bấy giờ thợ săn lấy gậy xỏ chúng mang về nhà dễ dàng.

    Trên đỉnh núi Tuyết cao vót là để chỉ cho đạo Đại thừa chân thật của chư Phật, tất cả ngoại đạo và phàm phu không thể tới được, ma Ba-tuần cũng không tới được. Khỉ vượn để chỉ cho hàng phàm phu, thợ săn là chỉ cho ma Ba-tuần, nhựa dụ cho tham dục. Tham dục là từ mắt tai mũi lưỡi thân ý, sáu căn đó theo ngũ dục thì ma Ba-tuần dẫn đi, như sáu bộ phận con khỉ bị dính nhựa thì thợ săn dẫn đi một cách dễ dàng.

    Này thiện nam tử! Như quốc vương ở trong nước mình thời thân tâm an lạc, nếu qua đến nước khác thời tất phải gặp nhiều sự khổ não. Cũng vậy, tất cả chúng sanh nếu có thể tự trụ nơi cảnh giới của mình thời được an lạc, nếu đến cảnh giới khác tất gặp ác ma bị những khổ não.

    Tự cảnh giới là chỉ tứ niệm xứ. Cảnh giới khác là nói ngũ dục.

    Như ông vua ở trong nước thì tâm yên ổn, nếu qua nước khác thì có nhiều chuyện phiền muộn lo sầu, vì tai họa có thể xảy ra. Người tu trụ tâm ở trong tứ niệm xứ, như vua ở trong nước mình. Nếu tâm chạy theo ngũ dục sẽ đau khổ vì gặp ác ma, như vua đi đến nước khác. Tu hành nếu trụ cảnh giới của mình tức tứ niệm xứ thì an lạc, nếu còn chạy theo ngũ dục phải chịu nhiều khổ não, chẳng khác nào như nhà vua không ở nước mình mà đi ở xứ khác gặp chuyện bất ổn.

    Thế nào gọi là hệ thuộc nơi ma? Có những chúng sanh nơi vô thường thấy là thường, nơi thường lại thấy là vô thường; nơi khổ thấy là lạc, nơi lạc lại thấy là khổ; nơi bất tịnh thấy là tịnh, nơi tịnh lại thấy là bất tịnh; nơi vô ngã thấy là ngã, nơi ngã lại thấy là vô ngã. Nơi chẳng phải giải thoát thấy là giải thoát, nơi thật giải thoát lại thấy là chẳng giải thoát. Nơi chẳng phải thừa thấy là thừa, nơi thừa lại thấy là chẳng phải thừa. Những hạng này gọi là kẻ hệ thuộc nơi ma. Phàm kẻ hệ thuộc nơi ma thời tâm họ không thanh tịnh.

    Nói một thứ rồi tất cả thứ khác cũng như vậy: khổ, không, bất tịnh, vô ngã, thừa, không phải thừa. Thừa là chỗ nương tựa chỉ cho ngũ thừa, tam thừa hay nhất thừa của Phật giáo. Chỗ nương tựa thấy không phải là chỗ nương tựa, chỗ không phải nương tựa lại thấy là chỗ nương tựa. Tất cả hạng người có cái thấy điên đảo sai lầm này là tâm không thanh tịnh, nên họ lệ thuộc vào ma. Đó là trường hợp thứ nhất.

    Này thiện nam tử! Nếu thấy các pháp thật có tướng nhất định là tổng là biệt, nên biết rằng người này lúc thấy sắc liền chấp tướng sắc, nhẫn đến lúc thấy thức cũng chấp tướng thức. Lúc thấy nam, nữ, nhật, nguyệt, ấm, nhập, giới v.v... liền chấp tướng nam, tướng nữ nhẫn đến tướng nhập, tướng giới. Kẻ có kiến chấp này gọi là hệ thuộc nơi ma. Kẻ hệ thuộc nơi ma thời tâm họ không thanh tịnh.

    Này thiện nam tử! Nếu thấy ngã là sắc, trong sắc có ngã, trong ngã có sắc, sắc thuộc nơi ngã; nhẫn đến thấy ngã là thức, trong thức có ngã, trong ngã có thức, thức thuộc nơi ngã. Kiến chấp này hệ thuộc nơi ma, người này không phải đệ tử Phật.

    Tướng chung gọi là tổng, tướng riêng gọi là biệt. Những người cố chấp cho tướng chung, tướng riêng là cố định, họ chấp thân này là thật, tất cả hình tướng bên ngoài là thật. Người cố chấp như vậy là lệ thuộc vào ma, tâm họ không bao giờ thanh tịnh.

    Thấy sắc là ngã, tức là nhìn vào phần vật chất của thân rồi cho là mình thật. Trong sắc có ngã, tức là thấy trong phần vật chất tứ đại hợp này có ngã. Trong ngã có sắc, tức là cái ngã bao trùm tứ đại này. Sắc thuộc nơi ngã, tức là cho rằng tứ đại này thuộc về ngã. Họ thấy thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Hoặc là nói ngã ở trong sắc hoặc ngoài sắc..., trong thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Nếu mỗi bộ phận chấp riêng trong đó đều có ngã thì không đúng. Thấy như vậy là thấy thiên chấp lệch lạc. Người như thế Phật gọi là thuộc về ma, không phải đệ tử Phật.

    Này thiện nam tử! Hàng Thanh văn đệ tử của ta xa lìa mười hai bộ kinh của Như Lai, mà tu tập theo sách vở của những ngoại đạo, chẳng tu công hạnh tịch diệt xuất gia, thuần kinh doanh sự vụ tại gia thế tục. Những gì là sự vụ tại gia thế tục? Nhận chứa tất cả vật bất tịnh, tôi tớ, ruộng, nhà, voi, ngựa, xe cộ, lạc đà, lừa, gà, chó, khỉ, vượn, heo, dê, các thứ lúa bắp; xa lìa sư trưởng, chúng tăng, gần gũi cư sĩ bạch y, trái phản thánh giáo. Bảo hàng bạch y rằng: Đức Phật cho phép Tỳ-kheo nhận chứa những vật bất tịnh. Đây gọi là sự vụ tại gia.

    Tu mà không học tập kinh điển của Phật, lại theo sách vở ngoại đạo. Không học tâm hạnh của người xuất gia, lại đua đòi theo thế tục. Tức là không gần gũi thầy lành bạn tốt để học hỏi chúng tăng; gần gũi cư sĩ bạch y, trái phản thánh giáo, đi ngược lại với lời Phật dạy. Đó là người tuy hình thức là đệ tử của Phật mà không phải đệ tử Phật.

    Có các đệ tử chẳng vì Niết-bàn, chỉ vì lợi dưỡng mà nghe thọ mười hai bộ kinh, ăn dùng của thường trụ như của riêng mình, tham tiếc nhà người cùng danh tiếng, gần gũi quốc vương và các vương tử, bói xủ lành dữ, suy tính đầy vơi, bài bạc, thân thiện Tỳ-kheo-ni cùng các xử nữ, chứa hai hạng Sa-di (Sa-di và Sa-di-ni) , thường đến nhà hàng thịt, thợ săn, quán rượu, và chỗ ở của Chiên-đà-la, buôn bán các loại, tự tay làm đồ ăn, nhận đi sứ lân quốc, lãnh lệnh đi thư. Nên biết rằng người như trên đây là quyến thuộc của ma, không phải đệ tử Phật. Do nhân duyên này mà tâm cùng tham chung sanh, chung diệt. Sân và si cũng như vậy.

    Này thiện nam tử! Do đây nên tâm tánh chẳng phải tịnh, cũng chẳng phải bất tịnh. Vì thế nên ta nói rằng tâm được giải thoát.

    Đệ tử Phật đi tu không vì Niết-bàn mà chỉ vì lợi dưỡng, cũng đi học kinh nhưng mà học kinh để mong lợi dưỡng. Của trong chùa là của Tam bảo mà xài như của riêng mình vậy, muốn làm gì thì làm. Thấy người ta có nghề coi tay, bói xủ gì hay, được tín đồ đông rồi mình bắt chước theo mà đâu ngờ những người đó là bè đảng của ma, phải tránh phải xa không nên học, không nên gần. Vậy mà bây giờ có người hay a tùng theo. Đó là sai lầm.

    Bài bạc, thân thiện Tỳ-kheo-ni cùng các xử nữ. Cờ bạc và thích gần Tỳ-kheo-ni hay các cô gái..., là quyến thuộc của ma.

    Do những nhân duyên như vậy thành ra tâm bất tịnh, còn nhân duyên khác thì tâm sẽ tịnh.

    Nếu có người không nhận, không chứa tất cả vật bất tịnh, vì đại Niết-bàn mà thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, biên chép giải thuyết. Nên biết rằng người này thật là đệ tử Phật. Người này không đi nơi cảnh giới của ác ma Ba-tuần. Người này chính là tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Vì tu tập nên chẳng cùng tham mà sanh, cũng chẳng cùng với tham mà diệt.

    Đây gọi là đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tám.

    Người không nhận không chứa tất cả vật bất tịnh, vì đại Niết-bàn mà thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, biên chép giải thuyết. Nên biết rằng người này thật là đệ tử Phật. Tâm họ không cùng tham mà sanh cũng không cùng tham mà diệt.

    Đó là thành tựu đầy đủ phần công đức thứ tám.

    Thế nào là thành tựu đầy đủ phần công đức thứ chín?

    Này thiện nam tử! Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn, đầu tiên phát năm điều thời được thành tựu phần công đức này: một là tín tâm, hai là trực tâm, ba là giới, bốn là gần gũi bạn lành, năm là học rộng nghe nhiều.

    Thế nào là tín tâm?

    Bồ-tát tin nơi Tam bảo, bố thí cúng dường thời có quả báo. Tin nơi hai đế lý, đạo nhất thừa không có nẻo nào khác, vì muốn chúng sanh mau được giải thoát mà chư Phật và Bồ-tát phân biệt làm ba thừa. Tin đế lý đệ nhất nghĩa. Tin thiện phương tiện. Đây gọi là tin.

    Người có lòng tin như trên đây, không ai phá hoại được. Do đức tin này mà được tánh thánh nhân. Người này tu hành bố thí không luận ít nhiều đều được gần nơi đại Niết-bàn, chẳng đọa nơi sanh tử. Như bố thí, trì giới, đa văn và trí huệ cũng vậy. Dầu có tín tâm này nhưng cũng chẳng chấp. Đây là Bồ-tát tu đại Niết-bàn thành tựu điều ban đầu.

    Trước hết giải thích về tín tâm. Bồ-tát tin Tam bảo, tin nhân quả, tin hai đế lý là tin đệ nhất nghĩa đế và tin phương tiện, tin chỉ có đạo nhất thừa, Phật vì giáo hóa chúng sanh mà lập làm ba. Nếu có lòng tin chắc chắn như vậy thì không gì phá hoại được.

    Nếu mình có lòng tin như vậy thì bố thí ít nhiều cũng được gần Niết-bàn, trì giới ít nhiều cũng được gần Niết-bàn, đa văn ít nhiều cũng được gần Niết-bàn, trí tuệ ít nhiều cũng được gần Niết-bàn.

    Thế nào là trực tâm?

    Đại Bồ-tát đối với chúng sanh, có lòng chất trực.

    Tất cả chúng sanh nếu gặp nhân duyên thời móng lòng dua vạy. Bồ-tát thời không như vậy, vì hiểu rõ các pháp đều là nhân duyên. Bồ-tát dầu thấy chúng sanh có những lỗi lầm, mà trọn không nói đến, vì sợ sanh phiền não, nếu sanh phiền não thời phải đọa ác thú.

    Bồ-tát này nếu thấy chúng sanh có chút ít điều lành liền tán thán đó. Gì là lành? Chính là Phật tánh. Do Bồ-tát tán thán Phật tánh nên chúng sanh phát tâm Bồ-đề.”

    Đây là thành tựu thứ hai, trực tâm.

    Tất cả chúng sanh nếu gặp nhân duyên thời móng lòng dua vạy. Chúng ta khi gặp nhân duyên thì nói sai sự thật. Ví dụ như mình bây giờ có lỗi gì bị chính quyền mời, họ nói nếu Thầy hay Cô bệnh thì không phạt, nếu mạnh thì sẽ phạt. Mình trả lời sao? Ôi lúc này tôi bệnh quá, nào nóng lạnh, nào nhức đầu... Mình nói dối liền. Còn Bồ-tát chất trực, dù có nhân duyên cũng không dua vạy. Tâm niệm của phàm và thánh khác nhau như vậy đó.

    Bồ-tát này nếu thấy chúng sanh biết tin chút ít về Phật tánh liền tán thán cho người ta phát tâm Bồ-đề để rồi chứng được Phật quả.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như đức Phật vừa nói: Bồ-tát tán thán Phật tánh làm cho chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Lời đây không đúng nghĩa. Vì đức Như Lai lúc mới khai kinh Niết-bàn nói có ba hạng: một là nếu có người bệnh gặp được thầy giỏi thuốc hay, người khán bệnh khéo thời được lành mạnh, nếu không được như trên thời bệnh không lành; hai là được gặp hay không được gặp đều không được lành; ba là được gặp hay không được gặp bệnh đều lành.

    Tất cả chúng sanh cũng có ba hạng như vậy: Một là hạng gặp bạn lành, gặp Phật, Bồ-tát, nghe nói diệu pháp thời được phát tâm Bồ-đề, nếu không gặp thời không phát, đây là chỉ cho các bậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán và Bích-chi Phật.

    Hai là hạng dầu được gặp bạn lành, gặp Phật, Bồ-tát, được nghe diệu pháp cũng chẳng phát tâm Bồ-đề, đây là nói hạng nhất-xiển-đề.

    Ba là hạng hoặc gặp hay chẳng gặp, tất cả đều có thể phát tâm Bồ-đề, đây là nói Bồ-tát.

    Nếu đã nói rằng gặp cùng chẳng gặp tất cả đều phát tâm vô thượng Bồ-đề, giờ đây tại sao đức Như Lai lại nói: Do tán thán Phật tánh làm cho chúng sanh phát tâm vô thượng Bồ-đề?

    Thế Tôn! Nếu nói rằng gặp cùng chẳng gặp đều không thể phát tâm Bồ-đề cả, lời này cũng không đúng nghĩa, vì hạng này sẽ được vô thượng Bồ-đề. Hạng nhất-xiển-đề do vì có Phật tánh, nên hoặc được gặp hay không được gặp, cũng đều sẽ được vô thượng Bồ-đề.

    Thế Tôn! Như đức Phật định nghĩa nhất-xiển-đề là dứt thiện căn, cũng không đúng. Vì hạng này không dứt Phật tánh. Cứ lý thời Phật tánh không thể dứt, sao đức Phật nói là dứt thiện căn?

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương dẫn đoạn trước Phật nói có ba hạng người: Hạng thứ nhất nếu gặp thầy thuốc, khán bệnh giỏi được lành thì khả dĩ nói rằng tán thán Phật tánh thì phát tâm Bồ-đề. Hạng người thứ hai dù gặp thầy hay không gặp thầy hay, đều cũng chết hết, đâu có nói Bồ-tát tán thán Phật tánh người ta phát tâm Bồ-đề được. Hạng người thứ ba dù họ không gặp hay gặp thầy cũng mạnh, vì vậy tán thán hay không tán thán họ cũng phát tâm Bồ-đề được. Vậy lời nói của Phật không có nghĩa cứu cánh.

    Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, dù hạng nhất-xiển-đề tức là hạng không còn chút căn lành cũng có Phật tánh. Đã có Phật tánh nhất định sẽ được Bồ-đề, đợi gì phải tán thán.

    Nhất-xiển-đề là dứt thiện căn mà lại nói có Phật tánh, chuyện này nghe khó hiểu. Dứt thiện căn tức là không còn Phật tánh, có Phật tánh thì không dứt thiện căn.

    Như trong mười hai bộ kinh của Phật nói ngày trước, có hai thứ thiện căn: thường và vô thường. Thiện căn thường thời không dứt, còn vô thường thời dứt.

    Thiện căn vô thường có thể dứt nên đọa địa ngục. Còn thường chẳng thể dứt, cớ sao đức Phật chẳng có lời ngăn?

    Chẳng dứt Phật tánh chẳng phải nhất-xiển-đề, cớ sao đức Phật lại nói là nhất-xiển-đề?

    Thế Tôn! Nếu nhân Phật tánh mà phát tâm vô thượng Bồ-đề, cớ sao đức Như Lai lại vì chúng sanh nói rộng mười hai bộ kinh?

    Thế Tôn! Như bốn con sông lớn từ ao A-na-bà- đạp-đa chảy ra, nếu có trời, người cùng chư Phật cũng không thể bảo rằng nước sông lớn này không chảy vào biển cả sẽ trở lại nguồn.

    Cũng vậy, người có Phật tánh, không luận nghe pháp hay không nghe, có giới hay không giới, có bố thí hay không bố thí, có tu hay không tu, có trí hay không trí, tất cả lẽ ra đều được vô thượng Bồ-đề.

    Thế Tôn! Như từ núi A-đà-diên, mặt trời mọc lên đến hướng chánh nam, không bao giờ mặt trời có thể nghĩ rằng ta không đến hướng tây, ta trở lại phương đông. Cũng vậy, đã có Phật tánh không có lẽ chẳng được vô thượng Bồ-đề mặc dầu không nghe pháp, không trì giới, không bố thí, không tu, không trí huệ.

    Thế Tôn! Như Lai nói tánh nhân quả là chẳng phải có chẳng phải không. Nghĩa này cũng chẳng đúng.

    Vì như trong sữa không có tánh của chất lạc, thời tất không có lạc. Như hột ni-câu-đà không có tánh cây năm trượng cao, thời tất không mọc lên cây cao năm trượng. Nếu trong Phật tánh không có cội vô thượng Bồ-đề, sao lại có thể sanh cội Bồ-đề vô thượng. Cứ như nghĩa này, thời làm sao hiệp với nghĩa nhân quả chẳng phải có chẳng phải không của Phật đã nói?”

    Phật nói dứt thiện căn mà không nói dứt thiện căn vô thường thì còn thiện căn thường. Ngài chỉ nói dứt thiện căn thôi, tức là thiếu lời ngăn ngừa.

    Nếu nhân Phật tánh mà phát tâm Bồ-đề thì tại sao Phật nói kinh chi cho nhiều vậy? Như bốn con sông lớn từ ao A-na-bà-đạp-đa chảy ra. Bốn con sông đó dù cho trời, người hay đức Phật cũng không thể bảo bốn con sông chảy ngược về nguồn mà nhất định nó phải chảy ra biển. Như có Phật tánh thì nhất định phải có vô thượng Bồ-đề, không ai ngăn được hết, như vậy còn dạy, còn giáo hóa làm chi?

    Như mặt trời sáng ở phương đông chiều qua phương tây chứ không đi ngược được, đó là nhất định vậy.

    Ngài vấn nạn tuy nhiều câu nhưng có thể tóm lại có ba ý chính:

    Ý thứ nhất, tại sao Phật nói rằng do Bồ-tát tán thán Phật tánh mà chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Vì trước Phật đã nói chúng sanh có ba hạng, có hạng dù cho gặp thầy gặp thuốc, gặp Bồ-tát giáo hóa họ cũng không phát tâm được, đó là nhất-xiển-đề. Bây giờ nói tán thán Phật tánh thì họ phát tâm Bồ-đề, như vậy là trái.

    Ý thứ hai, trong kinh đức Phật nói về Phật tánh, thiện căn có hai: thường và vô thường. Cái vô thường có thể dứt, cái thường không dứt, tại sao Phật nói nhất-xiển-đề dứt thiện căn?

    Ý thứ ba, không có nhân làm sao thành quả. Ví dụ như trong chất lạc, nếu không có sữa thì làm sao thành lạc được, nên trong sữa nhất định có chất lạc. Cũng như trong hột cây ni-câu-đà có tính chất của cây ni-câu-đà, trong Phật tánh nhất định có tính chất vô thượng Bồ-đề. Vậy làm sao nói là nghĩa nhân quả chẳng phải có chẳng phải không. Đó là ba câu hỏi chính.

    Đức Thế Tôn tán thán rằng: “Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Trong đời có hai hạng người rất là hy hữu như hoa ưu-đàm: một là người không phạm tội ác, hai là người có tội biết hối cải.

    Một là làm ơn, hai là nhớ ơn.

    Lại có hai hạng người rất hy hữu: một là học hỏi điều mới, hai là ôn nhuần điều học cũ không quên.

    Lại có hai hạng người rất hy hữu: một là tạo ra mới, hai là tu sửa chỗ cũ.

    Lại có hai hạng người rất hy hữu: một là thích nghe pháp, hai là thích thuyết pháp.

    Lại có hai hạng người rất hy hữu: một là khéo gạn hỏi, hai là khéo giải đáp.

    Người khéo gạn hỏi chính là ông vậy. Người khéo giải đáp chính là Như Lai vậy.

    Phật khen ngợi Bồ-tát Cao Quý Đức Vương là một người khéo hỏi, hy hữu trong số hai hạng người.

    Một là người không phạm tội, hoặc có người phạm tội biết hối cải cũng là hy hữu.

    Hai là mình sẵn sàng làm ơn tất cả, đó là người tốt, người ít có. Người biết nhớ ơn cũng là người hy hữu, chứ chịu ơn thì dễ quên lắm.

    Ba là ví dụ như nghe kinh tới đây mà nhớ đoạn đầu Phật nói cái gì thì đó là một điều hy hữu.

    Cuối là người khéo gạn hỏi và người khéo giải đáp rất là hy hữu. Phật khen Bồ-tát là người khéo gạn hỏi.

    Này thiện nam tử! Do nơi khéo gạn hỏi bèn chuyển được pháp luân vô thượng, có thể làm khô cây do mười hai nhân duyên, có thể qua khỏi sông lớn sanh tử vô biên, có thể chiến đấu với ma vương Ba-tuần, có thể xô ngã thắng tràng của Ba-tuần dựng.

    Phật khen nếu người khéo hỏi thì có thể được công dụng nhiều như vậy. Có thể làm khô cây do mười hai nhân duyên là cây gì? Tức là cây luân hồi, do mười hai nhân duyên kéo mình luân hồi. Người hỏi khéo có thể nhân vì đó mà giúp người nghe ngộ đạo, dứt được vòng luân hồi, tức là làm khô cây mười hai nhân duyên . Có thể chiến đấu với ma vương Ba-tuần tức là nhân câu hỏi đó mà biết được tà chánh, cái nào là sanh tử, cái nào không sanh tử, không bị lầm lẫn nữa. Có thể xô ngã thắng tràng của Ba-tuần dựng, tức là thắng được ma Ba-tuần.

    Này thiện nam tử! Như trước kia Phật nói ba hạng bệnh nhân, hạng gặp thầy giỏi, thuốc hay, khán bệnh khéo, cùng không gặp đều được lành mạnh, đó là vì thọ mạng quyết định, do vì người này trong vô lượng đời đã tu ba thứ thiện căn: Thượng, Trung và Hạ, nên được thọ mạng quyết định. Như người Uất-đơn-việt tuổi thọ ngàn năm, nếu mắc phải bệnh, dầu gặp thầy, gặp thuốc, được săn sóc kỹ, cùng không gặp đều sẽ được lành mạnh cả, vì họ đã được tuổi thọ quyết định.

    Hạng người thọ mạng quyết định ở đâu? Tức là chỉ cho hạng người ở Uất-đơn-việt. Người Uất-đơn-việt tuổi thọ tới một ngàn năm, dầu bệnh gặp có thầy hay không thầy họ vẫn sống đúng một ngàn năm. Hạng người này mình cũng hay gặp, họ đau không cần thuốc men gì hết rồi cũng mạnh. Tuổi thọ họ cố định, dù có duyên ngược lại cũng có thể qua được, còn có người đau không có duyên thì chết.

    Hạng bệnh nhân nếu gặp thầy giỏi thuốc hay, khán bệnh khéo thời được lành, bằng không gặp thời chẳng lành, đây là những người thọ mạng không quyết định. Hạng người này dầu thọ mạng chưa hết, song có chín nhân duyên có thể làm họ chết yểu: một là biết ăn sẽ không an mà cứ ăn; hai là ăn quá nhiều; ba là ăn chưa tiêu mà lại ăn nữa; bốn là đại tiểu không điều hòa; năm là lúc bệnh không nghe theo lời chỉ dẫn của y sĩ; sáu là chẳng nghe lời dặn bảo của người khán bệnh; bảy là cố nín nhẫn không chịu ói; tám là đi đêm, vì đi đêm sẽ bị ác quỷ, ác trùng làm hại; chín là phòng thất quá độ. Do đây nên Phật nói hạng bệnh nhân này gặp thầy gặp thuốc thời lành, nếu không gặp thời không lành.

    Hạng bệnh nhân gặp thầy gặp thuốc hay không gặp đều không được lành mạnh, đây là những người tuổi thọ đã hết.

    Hạng người thứ hai, thọ mạng không quyết định do chín nhân duyên mà tuổi thọ bị thay đổi không quyết định, bị chết yểu.

    Một là biết ăn sẽ không an mà cứ ăn. Tức là gặp những món ăn ngon biết nó có chất độc ăn vô có thể thành bệnh mà cứ ăn. Hai là ăn quá nhiều. Đây cũng là nhân duyên làm cho mình bệnh. Bởi vì bao tử của mình có chừng mực, ăn nhiều là nó phải làm quá sức. Ba là ăn chưa tiêu mà lại ăn nữa. Đây là bệnh của người giàu, giàu chừng nào bệnh chừng ấy. Ăn chưa tiêu lại dồn món khác, bao tử không bao giờ rảnh rang, không kịp tiêu hóa dễ sanh bệnh. Đừng nghĩ ăn nhiều là tốt.

    Ba nhân duyên này gọi là bệnh tùng khẩu nhập.

    Bốn là đại tiểu không điều hòa. Nghĩa là không có chừng mực, bất thường. Đó cũng là gốc sanh bệnh. Những người đi đường xa đại tiểu bất thường dễ thành bệnh.

    Năm là lúc bệnh không nghe theo lời chỉ dẫn của y sĩ. Nghĩa là ông thầy dặn mình phải ngừa phải cấm cái gì, mình không chịu nghe.

    Sáu là chẳng nghe lời dặn bảo của người khán bệnh. Người nuôi bệnh dặn gì cũng không chịu nghe.

    Bảy là cố nín nhẫn không chịu ói. Ví dụ như khi ăn trúng thực mắc ói, ói ra được thì nhẹ, mà kìm không cho ói, nó ứ lại bên trong sanh ra bệnh.

    Tám là đi đêm, vì đi đêm sẽ bị ác quỷ, ác trùng làm hại . Ác trùng là rắn rết... Thành ra người ít đi đêm thì tốt.

    Chín là phòng thất quá độ. Tức là nếp sống bất thường trong gia đình của người đời.

    Đó là chín điều làm cho người ta chết yểu. Có nhiều khi tuổi thọ không quyết định, mình khéo biết sống thì nó kéo dài, nếu không biết sống thì nó yểu, rồi cứ đổ thừa tại số.

    Hạng người thứ ba là tuổi thọ đã cùng rồi, gặp thầy hay không gặp thầy cũng chết. Như có nhiều người danh vọng, giàu có, thầy thuốc sẵn một bên nhưng tới chừng chết cũng không cứu được vì tuổi thọ đã hết.

    Chúng sanh cũng như vậy. Người phát tâm Bồ-đề, nếu gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát, được học hỏi pháp cao sâu, hoặc không được gặp được học, tất cả đều sẽ được thành, vì người này đã có thể phát tâm vô thượng Bồ-đề. Như người Uất-đơn-việt có thọ mạng quyết định.

    Bây giờ có người phát tâm tu cũng gần như có cái quyết định. Như thường thì do gặp được thầy được bạn khuyến nhủ, nhắc nhở, dạy bảo rồi sau mới phát tâm tu. Nhưng có người không gặp ai hết, gặp hoàn cảnh gì đó họ phát tâm tu, sau mới tìm thầy kiếm bạn. Dường như có cái gì cố định khiến đến lúc đó họ phải đi, phải ngộ, phải tỉnh. Có người cha mẹ hiền lành nên con nhân đó bắt chước hiền lành, nhưng có người cha mẹ hung dữ mà con lại hiền lành, đó là vì cái căn quyết định của họ. Người có căn quyết định dù gặp thầy gặp bạn hay không, vẫn phát tâm Bồ-đề được. Đây là do đã trồng sâu chủng tử, còn những người mà chủng tử sơ sơ thì gặp thầy gặp bạn mới phát được, không gặp thì chưa phát.

    Hàng Nhị thừa từ Tu-đà-hoàn đến Bích-chi Phật, nếu được nghe thiện hữu, chư Phật, Bồ-tát giảng nói pháp Đại thừa thời có thể phát tâm Bồ-đề, nếu không gặp không nghe thời không thể phát tâm Bồ-đề vô thượng. Như người thọ mạng không quyết định, do chín duyên làm cho họ phải yểu thọ, nếu gặp thầy gặp thuốc thời lành, không gặp thời bệnh không lành.

    Hạng nhất-xiển-đề, dầu có gặp thiện hữu, chư Phật, Bồ-tát, có nghe pháp cao sâu, hay không nghe không gặp, đều không thể lìa tâm nhất-xiển-đề, vì họ đã dứt thiện căn. Hạng nhất-xiển-đề cũng được thành vô thượng Bồ-đề, vì nếu có thể phát tâm Bồ-đề vô thượng thời chẳng còn gọi là nhất-xiển-đề.

    Hàng Thanh văn, La-hán hay Bích-chi Phật thì chưa gọi là phát tâm Bồ-đề. Những vị tu chứng tới quả đó nếu gặp Phật Bồ-tát giảng pháp Đại thừa thì họ liền phát tâm tiến lên gọi là phát tâm Bồ-đề, còn không gặp thiện hữu không nghe pháp Đại thừa thì không phát tâm. Như hạng người thọ mạng không quyết định, bệnh gặp thầy thì lành, không gặp thì không lành.

    Nhất-xiển-đề là dứt thiện căn bởi vì họ không có lòng tin đối với Tam bảo và họ không nghĩ tưởng điều lành. Dù họ có nghe pháp hay không cũng không lìa tâm nhất-xiển-đề, và không thể phát tâm Bồ-đề được. Nhưng nếu họ bỏ niệm xấu ác thì lúc đó không còn gọi là nhất-xiển-đề nữa. Họ bỏ ác kiến tin vào Tam bảo thì làm sao không thành Phật? Danh từ không tu không còn khi họ đã chuyển qua tu, cũng như danh từ nhất-xiển-đề không còn khi họ chuyển tâm hướng về Bồ-đề.

    Này thiện nam tử! Tại sao nói hạng nhất-xiển-đề được vô thượng Bồ-đề?

    Hạng nhất-xiển-đề, thật ra không thể được vô thượng Bồ-đề, như người tuổi thọ đã hết, dầu gặp thầy gặp thuốc, cũng không lành bệnh được.

    Này thiện nam tử! “Nhất-xiển” gọi “tín”, “đề” là bất cụ, bất cụ tín gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là tín, chúng sanh chẳng phải là cụ, bởi bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là thiện phương tiện, “đề” là bất cụ, vì tu thiện phương tiện chẳng đầy đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là tu thiện phương tiện, chúng sanh chẳng phải là cụ, bởi bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là tiến, “đề” là bất cụ, vì tinh tiến chẳng đầy đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là tiến, chúng sanh chẳng phải là cụ, vì bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là niệm, “đề” là bất cụ, vì niệm chẳng đầy đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là niệm, chúng sanh chẳng phải là cụ, vì bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là định, “đề” là bất cụ, vì định chẳng đầy đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là định, chúng sanh chẳng phải là cụ, vì bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là huệ, “đề” là bất cụ, vì huệ chẳng đầy đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Phật tánh chẳng phải là huệ, chúng sanh chẳng phải là cụ, vì bất cụ nên thế nào dứt được.

    “Nhất-xiển” gọi là vô thường thiện, “đề” là bất cụ, vì vô thường thiện chẳng đủ nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Nếu họ còn mang tên nhất-xiển-đề thì nhất định không bao giờ thành Phật, không bao giờ phát tâm; nếu phát tâm thì họ đã mất tên nhất-xiển-đề. Ở đây Phật phương tiện định nghĩa nhất-xiển-đề.

    “Nhất-xiển” Trung Quốc dịch là “tín”, “đề” là “bất cụ”. Tín là tin, bất cụ là không đủ, tức là không đủ lòng tin gọi là nhất-xiển-đề. Không đủ lòng tin là không tin Tam bảo, mà không tin Phật thì làm sao thành Phật được nên nhất định nhất-xiển-đề là không thành Phật. Khi nào họ tin là hết nhất-xiển-đề, lúc đó họ thành Phật. Nên nói rằng nhất-xiển-đề là không đủ niềm tin nên không thể phát tâm Bồ-đề .

    Phật định nghĩa nhất-xiển-đề rồi mới giải thích Phật tánh vượt ra ngoài nghĩa nhất-xiển-đề, nên nói nhất-xiển-đề dứt thiện căn mà Phật tánh không bao giờ dứt. Phần định nghĩa trên đây nhiều mà tôi lược bớt. Từ không đủ niềm tin cho đến sau chót, nói vô thường thiện chẳng đủ là nhất-xiển-đề. Thành ra từ cái không đủ niềm tin mà đức Phật nói rộng ra, tu mà không có chánh niệm, không tinh tấn, không đủ tất cả điều lành, chưa thành vô thượng Bồ-đề cũng thuộc về nhất-xiển-đề.

    Phật tánh là thường, chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện. Vì thiện pháp là từ phương tiện mà được, mà Phật tánh chẳng phải từ phương tiện được, nên gọi là chẳng phải thiện.

    Do Phật tánh có thể được thiện quả vô thượng Bồ-đề, nên nói là chẳng phải bất thiện.

    Lại vì thiện pháp sanh rồi mà được, còn Phật tánh không phải sanh rồi mà được nên nói là chẳng phải thiện.

    Bởi dứt cả thiện pháp sanh và được, nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Này thiện nam tử! Như ông gạn hỏi nếu nhất-xiển-đề có Phật tánh, tại sao không ngăn tội địa ngục?

    Này thiện nam tử! Trong nhất-xiển-đề không có Phật tánh.

    Ví như nhà vua nghe tiếng đờn véo von thánh thót, quá thích thú say sưa, bèn bảo đại thần: Tiếng quá hay như thế từ đâu mà có?

    Đại thần tâu là từ cây đờn phát ra tiếng ấy.

    Nhà vua truyền đem đờn đến trước mặt, rồi bảo cây đờn kêu đi! Kêu đi! Cây đờn vẫn không kêu. Nhà vua bèn bứt dây, rọc da, chẻ cây, tìm mãi vẫn không có tiếng. Nhà vua nổi giận trách đại thần là tâu dối.

    Đại thần phân trần: Nếu muốn cho đờn kêu ra tiếng thời phải khéo khảy đánh, chứ không phải làm cách như vậy.

    Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, vốn không chỗ trụ. Dùng phương tiện khéo thời thấy được. Vì được thấy nên được vô thượng Bồ-đề.

    Đó là hai nghĩa Phật tánh không phải thiện mà không phải bất thiện. Nếu đã có Phật tánh thì không đọa địa ngục, vì có Phật tánh là sáng suốt đâu chịu đến chỗ tối tăm.

    Phật giải thích trong nhất-xiển-đề không có Phật tánh . Ví dụ như nhà vua nghe tiếng đàn hay, bèn bảo đại thần đem tiếng hay đó lại. Đại thần ôm cái đàn lại, vua bảo đàn kêu đi, đàn không kêu. Vua bứt dây, chẻ đàn tìm tiếng vẫn không có. Đại thần giải thích, tuy cây đàn có tiếng hay nhưng phải nhờ tay khéo khảy mới được.

    Phật tánh cũng thế, không có chỗ trụ, phải nhờ phương tiện mới hiện. Nếu mình không tìm nhân duyên thấy được Phật tánh thì Phật tánh không phát, gọi là không có. Vì vậy nói nhất-xiển-đề không có Phật tánh. Không có Phật tánh là trường hợp có mà không phát ra cũng như không có. Ví dụ như cây đàn có tiếng hay mà không biết khảy thì không có tiếng, không có tiếng cho nên nói cây đàn không tiếng. Nếu biết khảy thì ra tiếng hay.

    Người tu nếu lăng xăng lộn xộn năm này tháng nọ cứ chạy theo vọng tưởng điên đảo thì lúc nào biết được Phật tánh? Chắc chắn suốt kiếp không bao giờ thấy được. Nếu chịu khó dừng lại, chặn đứng vọng tưởng thì lúc đó Phật tánh hiển lộ. Cũng như cây đàn dù có đủ dây đủ phím, đủ tất cả mà không khéo khảy thì cũng không ra tiếng. Cho nên biết Phật tánh nhờ nhân duyên mà hiển lộ.

    Hạng nhất-xiển-đề không thấy Phật tánh, làm thế nào ngăn được tội ba ác đạo!

    Này thiện nam tử! Nếu nhất-xiển-đề tin có Phật tánh, nên biết rằng người này không bị sa vào ba ác đạo, cũng chẳng còn gọi là nhất-xiển-đề.

    Vì không tin có Phật tánh nên phải đọa ác đạo, vì đọa ác đạo nên gọi là nhất-xiển-đề.

    Này thiện nam tử! Như lời ông gạn, nếu trong sữa không có tánh của chất lạc thời lẽ ra chẳng có lạc; nếu trong hột ni-câu-đà không có tánh cao năm trượng thời lẽ ra không mọc lên cây cao năm trượng?

    Kẻ ngu si mới nói như thế, người trí không bao giờ nói như thế, vì là không có tánh vậy.

    Này thiện nam tử! Nếu trong sữa có tánh của chất lạc lẽ ra chẳng cần nhờ công lực các duyên. Như nước và sữa trộn lộn, rồi nằm chờ đến mãn tháng trọn không thành lạc. Nếu dùng một giọt sữa rồi tìm nước cây nhiễu vào bèn thành lạc. Nếu vốn đã có lạc sao lại phải nhờ duyên.

    Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, nhờ các nhân duyên thời được thấy, nhờ các nhân duyên thành vô thượng Bồ-đề. Nếu phải chờ các nhân duyên rồi sau mới thành thời chính là vô tánh vậy. Do vô tánh nên có thể thành vô thượng Bồ-đề.

    Bởi vì không thấy Phật tánh nên phải đọa ba ác đạo, nếu thấy thì tất nhiên khỏi đọa. Nếu tin rồi thì họ đâu còn là nhất-xiển-đề nữa. Vì không tự tin có Phật tánh, phải đọa ba ác đạo, nên gọi là nhất-xiển-đề. Chúng ta là người tu, nói tin Tam bảo nhưng nếu không tin mình có Phật tánh thì cũng là nhất-xiển-đề, tu mà vẫn phải đọa như thường, nên phải tin mình có Phật tánh mới có thể ngăn được tội ba ác đạo.

    Trước Phật khen thật là hy hữu, giờ Phật quở. Phật và Bồ-tát thường có ba cách, có khi thì quở trách, có khi an ủi dịu dàng, có khi dùng cả hai. Đây dùng cả hai, đoạn trước khen, đây quở là ngu si.

    Phật quở Bồ-tát Cao Quý Đức Vương, nếu nói trong sữa không có tánh của chất lạc, thời lẽ ra chẳng có lạc. Nếu trong hột ni-câu-đà không có tánh cao năm trượng thời lẽ ra không mọc lên cây cao năm trượng. Kẻ ngu si mới nói như thế, người trí không bao giờ nói như thế, vì là không có tánh vậy.

    Nếu đã có tánh thì tự nhiên nó thành, tại làm sao mà phải nhờ công lực, nhờ các duyên. Như trộn sữa với nước rồi bỏ đó coi nó thành lạc được không? Phải nhiễu nước cây vào mới thành.

    Bởi vô tánh nên mới có thể từ cái này chuyển thành cái kia được. Nếu có tánh cố định thì phàm phu là phàm phu suốt kiếp, Bồ-tát là Bồ-tát mãn đời. Phàm phu có thể thành Bồ-tát thì có nghĩa là vô tánh. Vô tánh mà không phải là vô tánh. Chúng ta đọc sách Phật thường nghe nói chẳng phải có chẳng phải không, đó là những điều khó hiểu. Chúng ta nói hoặc có, hoặc không, nhất định là như vậy, còn Phật thì không phải nói như vậy. Nếu nhân duyên hợp thì có mà nhân duyên không hợp thì không, như vậy làm sao mà cố định, chính cái đó làm cho chúng ta thấy ý nghĩa cao sâu của Phật giáo.

    Này thiện nam tử! Do cớ trên đây nên đại Bồ-tát thường tán thán điều lành của người, chẳng rao nói lỗi xấu của kẻ khác, đây gọi là chất trực tâm.

    Lại thế nào là Bồ-tát có tâm chất trực? Bồ-tát thường không phạm lỗi ác. Thiết sử có lầm lỗi thời liền sám hối với thầy, với bạn đồng học, trọn chẳng che giấu. Tự hổ thẹn, tự trách, chẳng dám tái phạm. Nơi tội khinh xem dường rất nặng. Nếu người gạn hỏi liền đáp rằng thật có phạm, là chẳng tốt, là chẳng lành, tội này là quả ác, là chính tôi gây tạo đây là do phiền não cấu tập.

    Tâm chân thật ngay thẳng là tâm khen ngợi điều lành mà không nói lỗi xấu của người, tâm đó là tâm chất trực. Người ta ưa nói những lỗi mà không khen những điều tốt, tâm đó là tâm cong vẹo, không ngay thẳng. Bồ-tát thường không phạm lỗi ác. Nếu có lầm lỗi liền sám hối với thầy, với bạn đồng học, chẳng che giấu. Tự hổ thẹn, tự trách, chẳng dám tái phạm. Phạm tội nhẹ cũng xem như rất nặng.

    Tâm đầy đủ điều dở lẫn điều hay. Tu là nuôi dưỡng điều hay, tiêu diệt điều dở. Đôi khi vô minh che lấp rồi mình quên, làm một hai điều dở, biết rồi phải thành tâm sám hối với thầy, với bạn. Ví dụ ở trong chúng cấm không được nghe nhạc ca múa. Nếu hôm nào đó có người phát hứng lên hát vài câu, sau nhớ lại mình đã hứa không phạm điều này sao bây giờ mình làm. Nếu không sám hối với thầy thì đến những người bạn, nói tôi tệ quá, ngu quá, nên lỡ hát xin sám hối, Thầy chứng minh giùm, từ nay về sau tôi nguyện chừa cải. Nên sám hối chứ đừng che giấu. Những việc lớn hơn cũng vậy. Còn người cứ giấu biệt lỗi của mình không cho ai biết, điều đó không nên. Theo tinh thần sám hối này các Thiền viện mỗi nửa tháng thỉnh nguyện, chúng ta lỡ có làm gì thì sẵn sàng sám hối trước thầy bạn để chừa bỏ. Đó là gan dạ mà cũng là tâm chất trực của mình, có như vậy mình mới tiến. Nếu chỉ sám hối với Phật, cứ mỗi nửa tháng lên lạy Phật, kể dài dòng với Phật, không ai biết mình có lỗi gì. Sám hối đó chưa phải là tâm chất trực. Sám hối ngay với thầy bạn, những người hiện có mặt, đó mới là gan dạ, mới là chân chính chất trực.

    Khi sám hối rồi chúng ta cảm thấy hổ thẹn, tự trách mình sao mà hư như vậy, từ đó về sau không dám tái phạm nữa. Những tội nhẹ, tội phụ coi như là rất nặng, không dám phạm. Nếu người gạn hỏi liền đáp rằng thật có phạm. Ví dụ như người ta nói: Hôm đó tôi thấy Thầy hay là thấy Huynh, làm những điều đó phải không? Mình liền đáp thật: Phải, hôm đó tôi có phạm, đó là điều không tốt. Nhận như vậy, chịu như vậy chính là chất trực.

    Do trực tâm nên tin có Phật tánh, vì tin Phật tánh nên không gọi là nhất-xiển-đề. Do trực tâm nên gọi là đệ tử Phật. Nếu lãnh thọ đồ cúng dường của người, dầu mỗi thứ cả ngàn muôn cũng chẳng đủ làm nhiều.

    Đây gọi là Bồ-tát tâm chất trực.

    Những người có tâm chất trực dù nhận cúng dường bao nhiêu cũng không gọi là nhiều, còn tâm gian trá thọ một chút cũng gọi là nhiều, vì người đó không xứng đáng đệ tử Phật, đâu có nên thọ dụng của tín đồ.

    Thế nào là Bồ-tát tu trì giới luật?

    Bồ-tát tu trì cấm giới, chẳng cầu sanh thiên, chẳng vì khủng bố, nhẫn đến chẳng thọ cẩu giới, kê giới, ngưu giới, trĩ giới. Chẳng thật hành phá giới, giới khuyết điểm, giới tỳ vết, giới tạp, giới Thanh văn, mà thọ trì giới đại Bồ-tát, thọ trì giới thi-la ba-la-mật được giới đầy đủ chẳng sanh kiêu mạn.

    Đây gọi là Bồ-tát tu đại Niết-bàn trọn nên công hạnh thứ ba là giới.

    Điều thành tựu của Bồ-tát là trì giới . Có nhiều người tu ở núi non, giữ giới không ăn giấm, có người không ăn khế, những cái giới không phải là đạo lý mà vẫn cho là giới rồi giữ. Gần đây nghe có người giữ giới không uống thuốc, đâu phải là giới mà cứ giữ, thật phi lý.

    Bồ-tát nên giữ giới không cầu sanh thiên, chẳng vì sợ hãi, không thọ những giới tà, chẳng phá giới... mà thọ trì giới đại Bồ-tát, thọ trì giới ba-la-mật được giới đầy đủ chẳng sanh kiêu mạn.

    Thế nào là Bồ-tát gần gũi thiện hữu?

    Đại Bồ-tát thường vì chúng sanh nói thiện đạo chẳng nói ác đạo. Nói ác đạo chẳng phải quả báo lành tốt.

    Này thiện nam tử! Thân của Phật đây là chân thiện tri thức của tất cả chúng sanh, vì thế nên có thể dứt tà kiến của Bà-la-môn Phú-già-la. Nếu có chúng sanh nào gần gũi Phật, dầu có tội địa ngục cũng liền được sanh thiên, như gã Tu-na-sát-đa-la v.v... đáng lẽ đọa địa ngục, do gặp được Phật tội liền tiêu trừ mà sanh lên trời cõi Sắc.

    Dầu có các ông Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên v.v..., nhưng chẳng gọi là chân thiện tri thức của chúng sanh, vì các ông ấy là nhân duyên sanh tâm nhất-xiển-đề vậy.

    Này thiện nam tử! Ngày trước lúc Phật ở nước Ba-la-nại, ông Xá-lợi-phất có dạy hai đệ tử: một người tu bạch cốt quán, một người tu sổ tức quán. Trải qua nhiều năm tu tập, cả hai người đều không được chánh định bèn sanh tà kiến cho rằng không Niết-bàn vô lậu, giả sử có thời lẽ ra chúng tôi đã được, vì chúng tôi khéo trì giới, tinh tấn tu.

    Phật rõ việc này bèn gọi Xá-lợi-phất mà quở rằng: Ông không khéo dạy dỗ. Sao ông thuyết pháp điên đảo cho hai đệ tử như vậy. Hai đệ tử của ông đó, căn tánh đều khác nhau: một người vốn là thợ giặt, một người vốn là thợ kim hoàn. Thợ kim hoàn nên truyền pháp sổ tức quán, người thợ giặt phải dạy bạch cốt quán. Vì ông dạy lầm nên làm cho cả hai sanh tà kiến.

    Quở xong, Phật chỉ dạy cho hai người đệ tử tu quán như đã bảo với ông Xá-lợi-phất. Sau đó, hai người đều chứng quả A-la-hán. Vì thế nên Phật là chân thiện tri thức của tất cả chúng sanh.

    Điều thành tựu thứ tư là gần gũi thiện hữu. Bồ-tát giáo hóa lúc nào cũng nói điều lành, không bao giờ nói điều ác.

    Phật đầy đủ tư cách của thiện tri thức. Các vị đệ tử lớn như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên v.v... Phật nói chưa xứng đáng là thiện hữu tri thức. Vì các ngài còn có những sai lầm.

    Phật dẫn chi tiết, ở nước Ba-la-nại, ngài Xá-lợi-phất có hai đệ tử, ngài dạy một người quán bất tịnh, một người quán sổ tức. Hai người đó gốc một người là thợ kim hoàn, một người là thợ giặt. Người thợ bạc dạy quán bất tịnh, người thợ giặt dạy quán sổ tức, quán hoài không kết quả. Phật biết, liền quở ngài Xá-lợi-phất, Phật dạy người thợ bạc quán sổ tức, người thợ giặt quán bất tịnh. Vì thợ bạc có ống bễ thổi phì phì, nhân đó quán hơi thở ra vô dễ thuần, mau đạt được kết quả. Người thợ giặt đồ dơ nên quán bất tịnh hợp hơn. Họ quán theo Phật dạy được kết quả. Người biết đúng bệnh mà dạy thì gọi là chân thiện tri thức. Người dạy mà chưa đúng bệnh thì chưa phải là chân thiện tri thức. Vì vậy Phật nói chỉ có Phật là chân thiện tri thức.

    Giả sử có chúng sanh nào kiết sử cực trọng mà được gặp Phật, Phật liền dùng phương tiện dứt trừ được cả.

    Như em Phật, ông Nan-đà, có dục vọng rất nặng, Phật dùng phương tiện khéo làm cho Nan-đà hết dục vọng.

    Như gã Ương-quật-ma-la có lòng sân rất nặng, do gặp Phật mà hết sân.

    Vua A-xà-thế có ngu si dày, đến ra mắt Phật liền hết ngu si.

    Như trưởng giả Bà-hi-già từ vô lượng kiếp quen tập phiền não rất nặng, quy y với Phật liền sạch phiền não.

    Giả sử có kẻ tệ ác hèn hạ, được gần gũi Phật làm đệ tử, thời tất cả trời người đều cung kính mến tưởng.

    Ông Thi-hội-cúc-đa tà kiến rất nặng, nhân gặp Phật mà hết tà kiến.

    Do gặp Phật nên tiêu tội địa ngục thành duyên sanh thiện, như gã Chiên-đà-la Khí Hứ.

    Do gặp Phật, nên lúc sắp chết trở lại được sống lâu, như Thiên đế Kiều-thi-ca.

    Do gặp Phật, nên hết điên cuồng, như Sấu Cù-đàm-di.

    Do gặp Phật, nên bỏ nghề giết thịt, như Tỳ-kheo Xiển-đề.

    Do gặp Phật, nên thà chết chứ không phạm cấm giới, như các Tỳ-kheo bị trói bằng dây cỏ tươi.

    Do nghĩa trên đây, nên A-nan nói nửa phần Phạm hạnh là thiện tri thức, Phật bảo là không phải. Đầy đủ Phạm hạnh mới gọi là thiện tri thức.

    Đây là Bồ-tát tu đại Niết-bàn trọn nên điều thứ tư là gần gũi thiện tri thức.

    Phật dẫn thêm những trường hợp nhờ gặp Phật và đã được độ. Những người nào có kiết sử trọng mà được gặp Phật liền hết vì Phật khéo dùng nhiều phương tiện mà dứt trừ. Như Phật độ Nan-đà, Ương-quật-ma-la, vua A-xà-thế v.v... Đó là Phật đầy đủ phương tiện nên gặp người khó độ mấy ngài độ cũng được, vì vậy nên ngài là chân thiện tri thức. Gần được những vị như vậy là gần gũi chân thiện tri thức.

    Thế nào là Bồ-tát đầy đủ đa văn?

    Đại Bồ-tát vì đại Niết-bàn, mười hai bộ kinh mà biên chép, đọc tụng, giải thuyết, thời gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn.

    Trừ mười một bộ kinh, chỉ thọ trì, đọc tụng, biên chép, giải thuyết bộ Tỳ-phật-lược, cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn.

    Trừ cả mười hai bộ kinh, nếu có thể thọ trì, đọc tụng, biên chép, giải thuyết kinh điển vi diệu đại Niết-bàn này thời gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn.

    Không đợi thọ trì toàn bộ kinh này, chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, hoặc chỉ có thể thọ trì câu. “Như Lai thường trụ tánh không biến đổi”, đây gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn.

    Không đợi như trên, hoặc chỉ biết rằng Như Lai thường không thuyết pháp, cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn, vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.

    Đây gọi là Bồ-tát tu tập đại Niết-bàn trọn nên điều thứ năm là đầy đủ đa văn.

    Đại Bồ-tát vì đại Niết-bàn, mười hai bộ kinh mà biên chép, đọc tụng, giải thuyết, thời gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn.

    Phật chia ra từng lớp mà nói. Lớp thứ nhất; nghĩa là hàng Bồ-tát vì cầu quả Niết-bàn nên đối với mười hai bộ kinh biên chép, học tập, giải thuyết, đó là đa văn. Lớp thứ hai; nếu không biên hết mười hai bộ, mà chỉ bộ Tỳ-phật-lược , Phật cũng gọi là đầy đủ đa văn. Lớp thứ ba; chỉ biên riêng bộ Đại Niết-bàn , Phật cũng gọi là đầy đủ đa văn. Lớp thứ tư; chỉ cần nhớ một câu Như Lai thường trụ tánh không biến đổi là thành đa văn rồi. Lại thêm một lớp nữa; không đợi như trên, chỉ biết Như Lai thường không thuyết pháp, cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn, vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.

    Như vậy Phật đi từ rộng lần lần tới hẹp. Rộng là mười hai bộ kinh, lần lần chỉ cần có một câu Như Lai thường trụ tánh không biến đổi. Chúng ta thừa nhận Phật là bất sanh bất diệt không biến đổi, thừa nhận pháp thân của chư Phật, thừa nhận Phật tánh, như vậy gọi là đa văn. Nhưng lớp cuối, chỉ biết Như Lai không thuyết pháp, cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn thì hơi khó hiểu. Đây là sống đúng với tinh thần Bát-nhã. Tại sao không thuyết pháp? pháp vốn vô tánh . Đã là vô tánh thì có gì để nói, nhưng có nói không? Bát-nhã là nhìn thấy tất cả các pháp vô tánh, không có pháp nào thật có tự tánh. Bởi không có tự tánh nên Phật nói mà không nói. Như vậy sống đúng với trí tuệ Bát-nhã cũng gọi là đa văn.

    Kinh Đại Niết-bàn lúc nào cũng nêu cao hai trường hợp này. Trường hợp thứ nhất là nêu cao tánh thường trụ của Như Lai, của đại Niết-bàn, của Phật tánh. Trường hợp thứ hai là phải dùng trí tuệ Bát-nhã xét thấy tất cả các pháp không có tự tánh. Phật nói chỉ cần nhớ một câu như vậy cũng gọi là đa văn rồi.

    Chủ trương của thiền tông là kiến tánh thành Phật, thấy được Phật tánh gọi là kiến tánh. Nếu thấy được Phật tánh thì biết Như Lai thường trụ tánh không biến đổi . Chỉ cần thấy tánh thì người đó có thể tiến lên được thành Phật. Trường hợp thứ hai là thấy tất cả các pháp vô tánh, không có một pháp thật, gọi đó là cửa Không. Cửa Không là không có một pháp nào thật có tự tánh nên nói là không. Người tu thiền bước đầu là nhận được lý không, nhận điều này thì Phật tánh dễ hiển bày. Do đó mà tổ Huệ Năng ngộ được lý không, ngài liền được truyền y bát.

    Này thiện nam tử! Nếu có nam tử cùng nữ nhân nào vì đại Niết-bàn mà trọn nên năm điều như trên thời làm được việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, thí được việc khó thí.

    Thế nào Bồ-tát làm được việc khó làm?

    Nếu nghe có người mỗi ngày ăn một hột mè mà được thành vô thượng Bồ-đề, vì tin theo đây, Bồ-tát có thể trong vô lượng vô số kiếp, mỗi ngày thường ăn một hột mè.

    Nếu nghe rằng vào lửa mà được thành vô thượng Bồ-đề, Bồ-tát có thể trong vô lượng kiếp vào trong lửa dữ ở ngục A-tỳ.

    Thế nào là Bồ-tát nhẫn được việc khó nhẫn?

    Nếu nghe rằng chịu những đau khổ: tay đánh, gậy đập, đá ném, dao chém mà được đại Niết-bàn, Bồ-tát có thể chịu đủ tất cả sự khổ ấy trong vô lượng kiếp mà không thấy là đau khổ.

    Thế nào là Bồ-tát thí được việc khó thí?

    Nếu nghe rằng đem vợ con, nhà nước, đầu mắt tủy não bố thí cho người thời được thành vô thượng Bồ-đề, Bồ-tát liền ở trong vô lượng vô số kiếp đem những thứ ấy bố thí cho người, không một niệm hối tiếc.

    Năm điều ở trên nhắc lại cho nhớ, tức là: tín tâm, trực tâm, trì giới, gần gũi thiện tri thức, đa văn. Người nào đầy đủ năm điều này thì sẽ làm được việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, thí được điều khó thí. Vì người đầy đủ niềm tin, có tâm chất trực, người biết gìn giữ giới luật, biết gần gũi thiện tri thức, đa văn, thì người đó không còn nghi ngờ sợ sệt.

    Vì đạo Bồ-đề dù khổ cách mấy nhọc cách mấy, nguy hiểm cách mấy người ta cũng không từ nan, sẵn sàng liều chết để được đạo, nên nói rằng hay làm được việc khó làm. Đây là những ví dụ nói lên chuyện khó, để biết Bồ-tát sẵn sàng chịu những nguy hiểm để đạt được vô thượng Bồ-đề. Trường hợp thứ hai là Bồ-tát nhẫn được việc khó nhẫn . Nhẫn được việc khó nhẫn là nhẫn cái gì? Ví dụ bị đánh bằng tay, đập bằng gậy, bị ném đá, bị dao chém mà được đại Niết-bàn, Bồ-tát cũng có thể chịu đủ tất cả sự khổ ấy trong vô lượng kiếp mà không thấy đau khổ . Bồ-tát vì đại Niết-bàn sẵn sàng chịu chứ không có thấy đau khổ. Tại sao các ngài gan dạ quá vậy? Vì bỏ bọt nước để được biển cả thì hy sinh bọt nước đâu có gì quan trọng. Nếu thấy bọt nước là biển cả thì không bao giờ dám hy sinh. Đó gọi là thí những việc khó thí. Người đời có gì quyến luyến bằng vợ con, nhà cửa, đầu mắt tủy não, thế mà Bồ-tát thí những cái đó một cách không hối tiếc.

    Bồ-tát dầu làm, dầu nhẫn, dầu bố thí như vậy, song trọn không có quan niệm rằng tôi làm, tôi nhẫn, tôi bố thí.

    Ví như cha mẹ chỉ có một con trai, rất mến yêu con, cho con ăn ngon, mặc đẹp. Nếu bị con khinh khi mắng hỗn, cha mẹ cũng không hờn giận, cũng chẳng nghĩ công nuôi dưỡng.

    Cũng vậy, Bồ-tát xem chúng sanh như con một.

    Nếu con phải bệnh, thời cha mẹ cũng bệnh, lo tìm thầy chạy thuốc; khi con đã được lành mạnh, cha mẹ cũng chẳng nghĩ rằng ta lo chạy chữa cho con.

    Cũng vậy, Bồ-tát thấy chúng sanh bị mắc bệnh phiền não, thương xót đem chánh pháp dạy cho. Nhờ nghe chánh pháp mà chúng sanh dứt được phiền não. Bồ-tát trọn không nghĩ rằng ta làm cho chúng sanh hết phiền não. Nếu có quan niệm chúng sanh được độ thời không thể thành vô thượng Bồ-đề. Chỉ có quan niệm rằng không có một chúng sanh nào được nghe ta thuyết pháp mà dứt phiền não.

    Tuy làm, tuy nhẫn, tuy bố thí mà vẫn không có quan niệm tôi làm, tôi nhẫn, tôi bố thí. Bởi vì Bồ-tát không thật thấy có mình, có người, có vật thì cứ làm tất cả mà không thấy mình làm, người kia là kẻ bị mình làm, vật nọ là vật của mình đang làm v.v...

    Bồ-tát vì vô thượng Bồ-đề mà quên tất cả khó khổ nguy hiểm. Cũng như vì người con được cha mẹ cưng quá, cha mẹ cũng quên tất cả những chuyện cực khổ vì con, quên tất cả những chuyện hỗn mắng cha mẹ của con, mà chỉ một bề lo nuôi dưỡng con mà không nhớ công.

    Chính điều này phù hợp với kinh Kim Cang là độ chúng sanh mà không thấy chúng sanh được độ . Vì Bồ-tát không bao giờ quên trí Bát-nhã nên không chấp năng độ sở độ, do đó Bồ-tát mới thành vô thượng Bồ-đề, nếu thấy mình là người hay độ, chúng sanh được độ thì phiền não không bao giờ hết. Bồ-tát chỉ có quan niệm rằng “không có chúng sanh nào được nghe ta thuyết pháp” mà dứt phiền não.

    Bồ-tát đối với chúng sanh không có lòng sân hận, không có lòng hỷ lạc, vì Bồ-tát khéo tu tập Không tam-muội. Nếu là tu tập Không tam-muội, thời Bồ-tát còn sanh sân, sanh hỷ đối với ai?

    Ví như cụm rừng kia bị người chặt đốn, bị lửa cháy, bị nước ngập, cụm rừng sẽ sanh sân hỷ với ai? Cũng vậy, đối với chúng sanh Bồ-tát không có lòng sân hỷ, vì đã khéo tu tập Không tam-muội vậy.”

    Không tam-muội tức là ở hai mươi lăm cõi đều thấy không thật. Không có tự tánh thì cõi không thật, người cũng không thật. Bồ-tát dùng trí tuệ Bát-nhã thấy thân này do năm uẩn v.v... hợp thành, chẳng khác nào như nhiều cây hợp thành cụm rừng, vô chủ, không có thật. Như rừng bị đốn, bị cháy, bị ngập không sanh sân hỷ với ai, Bồ-tát có bị chúng sanh bức hại cũng không sanh sân sanh hỷ.

    Không tam-muội tức là tam-muội quán tất cả tướng không có tự tánh. Người nào thường dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu thân mình thì biết ngay năm uẩn không thật, hợp lại thì có, ly tán thì không. Mỗi uẩn riêng rẽ chứ đâu có thật. Như nhiều cây hợp lại thì nói là vườn là rừng, nếu chặt hết cây thì vườn cũng không mà rừng cũng không. Vườn rừng chỉ là sự giả hợp của duyên mà thôi. Chúng ta dùng Không tam-muội quán chiếu thì thấy tất cả pháp cũng vậy, còn gì mà sân mà hỷ. Sở dĩ sân hay hỷ là khi cho người khinh mình, người khen mình. Nếu không thấy mình thật, không thấy người thật thì sanh sân sanh hỷ với ai.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Tất cả các pháp là tánh nó tự không, hay là vì chẳng không nên không?

    Nếu tánh nó tự không thời chẳng nên tu không rồi sau mới thấy được không. Tại sao đức Như Lai nói do tu không mà được thấy không?

    Nếu tánh nó tự chẳng không, thời dầu có tu không, cũng chẳng thể làm cho nó thành không?”

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát hỏi tánh của các pháp tự không nên mình thấy nó là không hay là mình quán rồi nó biến thành không. Cũng như cỏ mọc mình nhổ hết gọi là không hay là chỗ đó không có cỏ mà nói là không. Ngài còn gạn thêm: Không thì cần gì phải tu! Dù mình tu hay không cũng biết là không, đợi gì phải tu, sao Như Lai nói do tu mà thấy không? Nếu nó đã có dù mình tu không nó cũng thành có.

    Phật bảo: “Này thiện nam tử! Tất cả các pháp tánh của nó tự không, vì tánh của tất cả pháp vốn là bất khả đắc vậy.

    Như sắc tánh bất khả đắc. Thế nào là sắc tánh? Xét nơi sắc, chẳng phải là địa, thủy, hỏa, phong, cũng chẳng rời ngoài địa, thủy, hỏa, phong; chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, cũng chẳng rời ngoài xanh, vàng, đỏ, trắng; chẳng phải có, chẳng phải không, đâu có thể nói là sắc có tự tánh. Vì tánh bất khả đắc nên gọi là không.

    Tất cả pháp khác cũng như vậy.

    Đó là câu trả lời duy nhất. Tất cả các pháp tánh của nó tự không . Như cây viết này chúng ta thấy là có, nhưng nếu đem mở ra từng phần vỏ, quai, ruột, mỗi cái mỗi nơi thì cây viết không có. Như vậy cây viết không có tánh quyết định, đủ các phần hợp lại thì gọi là cây viết, nếu các phần rời ra thì đâu thành cây viết nữa. Nếu nó tự có tánh quyết định thì không lúc nào không là cây viết. Như vậy rõ ràng cây viết không có tự tánh, chỉ do duyên hợp giả có hình tướng, người ta đặt tên là cây viết. Nếu dùng mắt trí tuệ phân tích, chúng ta mới thấy nó không có tánh thật. Tánh của tất cả pháp tánh, tự không, là bất khả đắc .

    Tại sao chúng ta cần phải tu? Vì chúng ta luôn thấy cây viết là thật có, khi nó hư hay mất thì buồn, phiền não theo. Nếu quán kỹ biết tánh nó là không, duyên hợp tạm có, là huyễn thì không phiễn não. Chúng ta luôn nhớ thì mới có tác dụng, nếu quên thì thấy thật như cũ. Tu là huân tập, xông ướp. Chúng ta muốn dùng trí tuệ Bát-nhã huân vào đầu mình thì cứ phân tích nó mãi, năm này tháng kia sẽ có trí tuệ ấy.

    Nghe một bài thơ thật hay, nhưng nghe qua thôi thì không tài nào nhớ được. Nếu mình thích, biên ra đọc tới đọc lui. Đọc chừng năm lần mười lần, hai chục lần nếu chậm lắm một trăm lần thì tự nhiên bài thơ thành của mình. Nếu một trăm lần đó mình còn nghi ngờ nữa thì mai về đọc thêm một trăm lần nữa. Bài thơ mình viết có thể quăng vô sọt rác, nhưng hỏi tới mình ứng khẩu đọc được liền. Cũng vậy, trí Bát-nhã Phật Bồ-tát dùng, nói mãi như vậy nên thấy được các pháp không tự tánh. Nếu mình biết bắt chước theo cái hạnh Phật Bồ-tát mình cũng quán như vậy lâu ngày mình cũng thấy được. Đó là tu. Tụng kinh cũng là huân lời của Phật Bồ-tát để cho tâm mình thuần. Lỗi là mình tụng kinh mà mình không biết Phật nói gì, chỉ tụng như để cầu phước, điều đó nặng về tín ngưỡng, chứ nếu đọc tới đâu mình thông được tới đó thì tốt quá. Còn nếu không đọc kinh mà chúng ta cứ dùng những phương pháp Phật dạy mình tu, quán tới quán lui, huân hoài cho thuần thành cái của mình thì chúng ta sẽ có trí ngang với các vị Bồ-tát.

    Lại như học trò mới đi học với thầy giáo, tưởng tượng biết bao giờ mình mới bằng thầy. Thầy trò coi như cách nhau như trời với đất. Nhưng nếu muốn trở thành thầy giáo thì trò phải làm sao? Phải chăm học. Thầy giáo trước phải trải qua bảy năm hay là mười hai năm học hành thì bây giờ trò nếu năm nào cũng tiến, bài nào cũng thuộc thì đúng thời gian cũng sẽ bằng thầy giáo. Muốn thành thầy giáo thì không có cách nào khác hơn là phải học những gì mà thầy giáo đã làm đã học. Có trình độ bằng thầy giáo thì lúc đó ngang nhiên thành thầy giáo, đâu có cách nào khác hơn nữa.

    Người tu cũng vậy, khi nào trình độ mình ngang bằng Phật, Bồ-tát thì mình thành Phật, Bồ-tát. Mà Bồ-tát, Phật làm gì? Bồ-tát chỉ thấy như vậy, quán như vậy đó thì thành Bồ-tát. Mình cũng tập như vậy, quán như vậy, thấy như vậy thì lâu ngày mình thành Bồ-tát. Đó là lối tu thiết thực vô cùng chứ đâu có gì mờ ám hay khó hiểu. Nhưng mà tại mình lỳ, nghe rồi mình không chịu huân, không chịu nhắc nên mình quên rồi lâu ngày cũng trở lại phàm tình.

    Đây Phật giảng thêm, sắc là chỉ cho hình hài của chúng ta, là sắc chất. Phật thường nói hình hài của chúng ta do đất, nước, gió, lửa kết hợp mà thành. Nếu hỏi hình hài này là đất phải không? Không phải. Hỏi, nó có phải là nước không? Không phải. Gió cũng không phải, lửa cũng không phải. Chỉ thẳng nó là từng cái một thì không đúng, nhưng nó cũng không rời đất nước gió lửa. Nó không thuộc về cái nào, nếu thuộc về một cái thì nó có tánh của cái đó, nó không thuộc về cái nào tất nhiên nó không có tánh, nên mới nói nó là không thể được, là không.

    Sắc thuộc về màu gì? Xanh, vàng, đỏ, trắng đều không phải mà nó cũng không rời sắc xanh, vàng, đỏ, trắng. Ví dụ như mình da thì vàng, thịt thì đỏ, mỡ trắng, tóc đen... Không cố định một màu nào, không cố định một đại nào trong bốn đại nên nói rằng nó không có tánh quyết định. Vì không có tánh quyết định nên gọi là không tự tánh, bởi không tự tánh nên gọi là không. Đó là lẽ thật mà tại mình không thường xét nên không biết.

    Nhìn mọi vật khác cũng như vậy, không cái nào cố định. Như cái cây do cái gì mà thành? Người ta nói do cái hột mà thành. Nghe như trúng mà đâu có trúng thật. Nếu cái hột mình bỏ trong hộp làm sao nó lên thành cây được. Hột phải có đất, đất phải có nước v.v... Như vậy mình nói quyết định từ cái hột mà lên là sai, không đúng chân lý. Phải biết tất cả các pháp không có tự tánh.

    Bởi tương tợ tương tục nên phàm phu theo kiến thức của mình mà cho là các pháp tánh chẳng không tịch. Còn đại Bồ-tát nhờ đầy đủ năm công hạnh nên thấy tất cả pháp, tánh vốn không tịch.

    Tương tợ tức là có hình dáng giống nhau. Tương tục tức là tiếp nối trong một thời gian bao nhiêu. Như cây viết có thể dùng năm mười năm nữa, thời gian đó luôn luôn có sự thay đổi tương tục trong đó, chứ không phải là nguyên vẹn như cũ, nó tương tợ thôi nhưng tại mắt phàm mình không thấy sự sanh diệt của nó. Thân mình sống tới năm năm mười năm, năm chục năm hay bảy chục năm chẳng hạn, trong thời gian đó, nó tương tợ và tương tục. Bởi có cái tương tợ tương tục mà người ta nói mình thật, nói sự vật thật nhưng không ngờ chính thân đó nó không có tánh thật, mà do sự hợp của các duyên có hình tướng tương tợ và trong đó nó từng phút giây sanh diệt tiếp nối luôn luôn, gọi là tương tục. Chỉ có cái tương tợ và tương tục chứ không có cái thật nguyên vẹn thủy chung duy nhất; không có tự tánh. Nếu có tự tánh thì thủy chung, duy nhất. Không tự tánh nên nó chỉ là một giả tướng tương tợ tương tục, nên nói tánh nó là không, là lặng lẽ. Tuy hiện thật có mà không thật có.

    Bồ-tát có đủ năm công hạnh ở trước nên thấy tất cả các pháp nó là không tịch.

    Này thiện nam tử! Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào thấy tất cả pháp, tánh chẳng không, phải biết rằng người đó không phải là Sa-môn, Bà-la-môn, người đó không tu tập Bát-nhã ba-la-mật, chẳng được vào đại Niết-bàn, chẳng được hiện tiền thấy Phật, Bồ-tát; người đó là quyến thuộc của ma.

    Này thiện nam tử! Tất cả các pháp, tánh nó vốn tự không, cũng do Bồ-tát tu tập không mà thấy các pháp là không.

    Này thiện nam tử! Như tất cả pháp vì tánh nó vô thường nên diệt có thể diệt được. Nếu chẳng phải là vô thường thời diệt chẳng thể diệt được.

    Pháp hữu vi, vì có sanh tướng nên sanh có thể sanh nó, vì có diệt tướng nên diệt có thể diệt nó. Các pháp vì có tướng khổ nên khổ có thể làm cho khổ.

    Phật nhấn mạnh, người không dùng trí tuệ Bát-nhã để quán chiếu các pháp không tự tánh, thì dù có cạo đầu xuất gia cũng không phải là Sa-môn, dù cho tu hành ở trong chùa của Bà-la-môn cũng không phải là Bà-la-môn, mà là bè lũ của ma chứ không phải đệ tử của Phật. Cho nên là đệ tử của Phật thì phải quán chiếu các pháp tánh không thật, không có tự tánh.

    Các pháp tánh vốn tự không, nhưng nếu mình không quán không chiếu thì không biết nó là không, cho nên cũng phải do tu tập. Tự tánh là không là một, mà cũng phải do tu tập là hai, hai pháp gộp lại mới thấy được.

    Tánh nóng tánh giận của mình nó là vô thường, vì vô thường nên nếu mình áp dụng pháp từ bi quán thì diệt nó được, nếu nó là thường thì không diệt được.

    Các pháp hữu vi là các pháp do tạo tác có hình có tướng; hay nói cách khác, pháp nào, sự vật nào có hình tướng, có động tác đều là hữu vi. Như cái bàn, cái tủ mình thấy có hình tướng đều là hữu vi; cái tâm suy nghĩ của mình không có hình tướng nhưng có động tác thì cũng thuộc hữu vi. Cho nên những cái đó mình phải định nghĩa cho thật rõ, có hình tướng, có động tác đều thuộc về hữu vi. Ví dụ cái bàn, khi người ta đóng thành thì gọi là sanh. Như tâm niệm mình bởi có động tác cho nên khi nó dấy lên gọi là sanh, khi nó chìm xuống gọi là diệt. Bởi nó có hình tướng, có động tác nên nó có sanh, vì có sanh nên có diệt, cho nên nói vì có sanh tướng nên sanh có thể sanh nó , vì có diệt tướng nên diệt có thể diệt nó. Bởi vì nó có tướng sanh cho nên hợp đủ thì nó sanh, vì nó có tướng diệt cho nên mình dùng cái duyên ngược lại thì nó diệt. Như cái bàn này, có thợ mộc, có đủ vật liệu, đóng thì thành cái bàn, đó gọi là tướng sanh cái bàn. Nếu mình đem búa đập nó bể nát ra thì hết thành cái bàn; hoặc nếu mình nhóm lửa đốt cháy tiêu, hết thành cái bàn. Bởi pháp hữu vi thì có tướng sanh và tướng diệt, nên đủ duyên thì sanh, ngược lại thì diệt.

    Các pháp vì có tướng khổ nên khổ có thể làm cho khổ . Vì các pháp nó đã có tính sanh diệt, vô thường đến thì cảm thấy rất là đau khổ, nên nói khổ làm cho khổ.

    Như tánh muối là mặn nên có thể ướp mặn vật khác. Vì tánh mật là ngọt nên có thể ướp ngọt vật khác. Vì tánh giấm là chua nên có thể ướp chua vật khác. Vì tánh gừng là cay nên có thể ướp cay vật khác. Vì A-lê-lặc đắng nên có thể ướp đắng vật khác. Vì trái am-la lạt nên có thể ướp lạt vật khác. Tánh chất độc có thể làm hại, nên ướp vật khác thành độc có thể làm hại. Tánh cam lộ làm cho người không chết, nếu đem hiệp với vật khác cũng có thể thành vị bất tử.

    Bồ-tát tu không cũng như vậy. Vì tu không nên thấy tất cả pháp, tánh của nó đều không tịch.”

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát lại bạch: “Thế Tôn! Nếu như muối có thể làm cho vật không phải mặn thành ra mặn. Tu Không tam-muội cũng như vậy, thời chánh định này không lành, không diệu, tánh cách điên đảo. Nếu Không tam-muội chỉ thấy không, không là không có pháp thời là thấy những gì?”

    Phật bảo: “Này thiện nam tử! Không tam-muội này thấy nơi pháp chẳng phải không, mà có thể làm thành không tịch, nhưng vẫn chẳng phải là điên đảo. Như muối làm vật không mặn thành mặn. Cũng vậy, Không tam-muội làm pháp chẳng không thành không.

    Này thiện nam tử! Tham là tánh có chẳng phải tánh không. Nếu tham là tánh không thời lẽ ra chúng sanh chẳng vì tham mà phải đọa địa ngục. Nếu bị đọa địa ngục, thời tham tánh đâu phải là Không!

    Đức Phật nêu lên những vật có tánh mặn, ngọt, chua, cay, đắng, lạt có thể ướp vào các vật khác làm chúng cũng mặn, ngọt, chua, cay... Bồ-tát tu không cũng thế, thấy các pháp đều không tịch.

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương không bằng lòng, cho rằng tu không như thế là không lành, không diệu, tánh cách điên đảo. Tại sao? Ví dụ như cây viết này nó có, nhưng tôi quán một hồi nó biến thành không. Như vậy có nghĩa là đổi ngược nó rồi, làm trái với sự thật. Cũng như một vật không mặn nhưng ướp riết nó trở thành mặn như vậy là mình làm đổi ngược cái sự thật của nó rồi. Cho nên mới nói là có tánh cách điên đảo, như vậy là không lành. Các vị Bồ-tát tùy theo nhận định của mình cho cái gì sai, cái gì đúng thì hỏi thẳng chứ không sợ.

    Phật giải thích tánh mà đức Phật nói ở trường hợp như muối. Trước Phật nói tất cả pháp tự tánh là không. Ở trước đức Phật nói tham là không có tánh, nếu có tánh thì không thể nào hết tham. Tại sao đức Phật lại nói tham có tánh, không có tánh sao đọa địa ngục? Phật nói tánh theo đệ nhất nghĩa là chỉ cho cái chân thật, bất di bất dịch như Phật tánh. Nói các pháp không tánh, đó là nói về đệ nhất nghĩa. Còn nói tánh tham v.v... mà đọa địa ngục, tánh đó là nói theo thế tục đế hay là thế đế. Về đệ nhất nghĩa đế thì nói tất cả pháp không tánh, để các Bồ-tát quán chiếu đúng sự thật. Về thế đế, phàm phu họ nói có tánh này, có tánh kia, nên ngài nói có theo để mà giải bày, dạy dỗ họ. Nói như vậy gọi là tùy thuận theo thế đế mà nói. Thành thử khi mình đọc nếu không nhận ra sẽ thấy lộn xộn, rối đầu, không hiểu Phật nói cái gì, cái nào là chân lý.

    Này thiện nam tử! Sắc tánh là có. Gì là sắc tánh? Chính là điên đảo. Do điên đảo nên chúng sanh tham đắm. Nếu sắc tánh chẳng phải điên đảo thời đâu có thể làm cho chúng sanh tham đắm! Vì sanh tham nên biết rằng sắc tánh chẳng phải là không có. Do cớ trên đây nên tu Không tam-muội chẳng phải là điên đảo vậy.

    Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu nếu thấy người nữ liền sanh tướng nữ.

    Bồ-tát thời không như vậy, dầu thấy người nữ nhưng không sanh tướng nữ, vì không sanh tướng nữ nên không sanh tham; tham không sanh chẳng phải là điên đảo vậy.

    Tại vì người ta thấy có nên sanh điên đảo, bây giờ quán không là hết điên đảo. Đó là đức Phật nói cái có của phàm phu, phàm phu thấy sắc tánh là có nên sanh tham đắm điên đảo, còn Bồ-tát thì ngược lại quán sắc tánh là không nên hết tham đắm điên đảo. Như vậy có nghĩa quán không là không điên đảo.

    Phàm phu nhìn theo giả tướng bên ngoài, cho nên phân biệt tướng nam tướng nữ và cho đó là thật nên sanh ra điên đảo. Còn Bồ-tát thì không phải vậy, các ngài nhìn thấy mỗi người đều do duyên hợp, là tứ đại, ngũ uẩn. Mà nếu đều là tứ đại ngũ uẩn thì có nói nam, nữ được không? Biết rõ tất cả chúng sanh duyên hợp như huyễn, tự tánh là không, cho nên không có nam nữ gì hết.

    Vì người đời thấy có tướng người nữ, nên Bồ-tát tùy thuận nói có người nữ. Nếu lúc thấy người nam mà nói là nữ, thời là điên đảo.

    Do đây nên Phật bảo Xà-đề rằng: Này Bà-la-môn! Nếu cho ngày là đêm, thời là điên đảo. Cho đêm là ngày cũng là điên đảo.

    Này thiện nam tử! Tất cả Bồ-tát trụ bậc Cửu địa thấy pháp có tánh, do đây nên không thấy Phật tánh, nếu đã thấy Phật tánh thời chẳng còn thấy tánh tất cả pháp. Do tu tập Không tam-muội nên chẳng thấy pháp tánh. Vì không thấy pháp tánh nên thấy Phật tánh.

    Chư Phật và Bồ-tát có hai thuyết: một là có tánh, hai là không tánh.

    Vì chúng sanh nên nói có pháp tánh, vì các bậc hiền thánh nên nói không pháp tánh.

    Vì người đời thấy có tướng người nữ nên Bồ-tát tùy thuận nói có người nữ, chứ sự thật các ngài không thấy như vậy.

    Phật chỉ thật là tường tận. Người nào thấy pháp có tánh thật, người đó không thấy Phật tánh. Nếu thấy các pháp có tánh thật, thân thật, sự vật thật, cái gì cũng thật hết thì sẽ nhiễm đắm, mà nhiễm đắm tức là vô minh, vô minh che đậy thì làm sao thấy Phật tánh được. Người nào thấy các pháp không có tánh thật, người đó dễ thấy Phật tánh. Thấy thân không thật, sự vật không thật, nên mình không đắm không nhiễm phiền não theo đó mà nhẹ, phiền não nhẹ cũng giống như mây trống thì trăng hiện, cho nên thấy Phật tánh. Đó là trường hợp thứ nhất.

    Trường hợp thứ hai, khi nhận ra được Phật tánh bất sanh bất diệt lúc nào cũng hiện có nơi mình, không hình tướng, không động tác mà không phải là không. Nghĩa là chúng ta thấy được cái thật thì tất cả các pháp có hình tướng, có động tác tự nhiên mình biết nó không thật. Người tu khi nhận được có Phật tánh thì thấy các pháp như hoa đốm giữa hư không, không thật. Và con mắt đó chính là con mắt mà các vị Bồ-tát thường nói, các vị thiền sư thuở xưa cũng vậy, các ngài lúc nào luôn luôn mở miệng cũng nói tam giới không thật, như huyễn như hóa.

    Chư Phật và Bồ-tát có hai thuyết: một là có tánh, hai là không tánh. Vậy khi Phật nói có là vì theo chúng sanh mà gọi, đó là thế đế; còn khi vì hàng Bồ-tát thì nói là không, tức là để chỉ thẳng cái đệ nhất nghĩa đế.

    Vì muốn người không thấy được pháp không, nên tu Không tam-muội khiến thấy được không. Người không thấy pháp tánh cũng do tu không nên không. Do nghĩa này nên tu không thời thấy được không.

    Này thiện nam tử! Ông gạn rằng: Người thấy không đó, không là không có pháp thời thấy những gì?

    Này thiện nam tử! Đúng như vậy, đại Bồ-tát thật không chỗ thấy, không chỗ thấy chính là không chỗ có, không chỗ có chính là tất cả pháp.

    Vì những người mà hồi đó giờ chưa thấy được tự tánh các pháp là không, nên dạy họ tu tam-muội, tức là quán không để khiến cho họ thấy được không. Tức là người mà không thấy được tánh của các pháp là không cũng do tu quán không mà thấy được là không.

    Bồ-tát thật không chỗ thấy, không chỗ thấy chính là không chỗ có, không chỗ có chính là tất cả pháp .

    Đại Bồ-tát tu đại Niết-bàn nơi tất cả pháp đều không chỗ thấy. Nếu có chỗ thấy thời không thấy Phật tánh, không thể tu tập Bát-nhã ba-la-mật. Chẳng được vào nơi đại Niết-bàn. Vì thế nên Bồ-tát thấy tất cả pháp, tánh vô sở đắc.

    Này thiện nam tử! Bồ-tát chẳng những nhân tu tam-muội mà thấy không, Bát-nhã ba-la-mật cũng không, Thiền ba-la-mật cũng không, Tỳ-lê-gia ba-la-mật cũng không, Sằn-đề ba-la-mật cũng không, Thi-la ba-la-mật cũng không, Đàn ba-la-mật cũng không, sắc cũng không, nhãn cũng không, thức cũng không, Như  Lai  cũng  không,  đại  Niết-bàn  cũng  không. Vì thế nên Bồ-tát thấy tất cả pháp đều là không.

    Như vậy chúng ta càng hiểu thêm Bát-nhã. Bát-nhã nói các pháp không có thật, bởi không thật cho nên không có sở đắc, bởi không có sở đắc cho nên mới được Niết-bàn. Còn thấy sở đắc là còn thấy các pháp thật, thì còn mê muội, sao được Niết-bàn? Vì vậy trong kinh Bát-nhã nói vì không có sở đắc nên Bồ-tát y Bát-nhã mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác .

    Các pháp thế gian, Bồ-tát thấy nó là không, không thật, còn các pháp xuất thế gian các ngài thấy nó là thật hay không? Lục độ tức là trí tuệ, thiền định, tỳ-lê-gia là tinh tấn, sằn-đề là nhẫn nhục, thi-la là trì giới, đàn là bố thí, cũng là không. Như vậy lục độ thấy cũng không thật. Cho tới Như Lai, đại Niết-bàn v.v... cũng không thật. Bởi vì đối với pháp thế gian, mà lập ra pháp xuất thế gian. Đó là pháp đối đãi. Mà thấy pháp thế gian không tự tánh thì pháp xuất thế gian cũng không thật. Miễn còn cái danh từ lập ra đều là không thật. Tới chỗ cứu cánh tuyệt đối là không ngôn ngữ không văn tự, không còn có một hình tướng sanh diệt nữa. Vì thế Bồ-tát thấy tất cả pháp đều là không.

    Do đây nên lúc ở thành Ca-tỳ-la, Phật bảo A-nan: “Ông chớ sầu não khóc lóc!” A-nan bạch: “Thế Tôn! Nay quyến thuộc của tôi đều bị giết chết cả, làm sao tôi không sầu não khóc lóc được! Như Lai cùng tôi đồng sanh trưởng tại thành này, đồng là thân thích của giòng Thích-ca, tại sao chỉ riêng có Như Lai là không sầu não, dung nhan lại tươi sáng như vậy?” - “Này A-nan! Ông thấy thành Ca-tỳ-la là có thật, còn Phật thời thấy là không tịch trọn không chỗ có. Ông thấy giòng Thích-ca là thân thích, còn Phật vì tu không nên đều không chỗ thấy. Vì thế nên ông sanh lòng sầu khổ, còn dung nhan của Phật càng thêm tươi sáng.”

    Này thiện nam tử! Vì chư Phật và Bồ-tát tu tập Không tam-muội như vậy nên chẳng sanh sầu não.

    Đây gọi là Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn, thành tựu đầy đủ phần công đức thứ chín.

    Câu chuyện nguyên thế này: Vua Lưu Ly cũng là Phật tử, khi ông dẫn binh đánh giòng họ Thích ở thành Ca-tỳ-la-vệ, Phật đón đường khuyên, ông rút về. Được vài ngày, bá quan thúc giục, ông lại kéo quân đi lần nữa. Phật cũng đón đường khuyên ông lần thứ hai, ông cũng rút về. Đến lần thứ ba, Phật biết rằng định nghiệp của giòng họ Thích không thể chuyển, cho nên Phật không đón đường nữa, và giòng họ Thích bị vua Lưu Ly giết sạch. Ngài A-nan khổ não khóc lóc, vì vậy Phật mới khuyên ngài A-nan đừng có sầu não khóc lóc. Khi đó ngài A-nan mới bạch Phật:

    Nay quyến thuộc của tôi đều bị giết chết cả, làm sao tôi không sầu não khóc lóc được! Như Lai cùng tôi đồng sanh trưởng tại thành này, đồng là thân thích của giòng Thích-ca, tại sao chỉ riêng có Như Lai là không sầu não, dung nhan lại tươi sáng như vậy?

    Lời này là lời khen hay lời trách? Ngài thấy quyến thuộc bị giết, ngài đau khổ quá, trong khi Phật cũng là con của giòng họ Thích sao lại không có vẻ buồn mà lại tươi tỉnh như thường? Khi ấy Phật mới bảo A-nan, bởi vì Phật thấy không thật, nên Phật không có đau buồn, còn ngài A-nan vì thấy có thật nên ngài đau buồn.

    Như vậy, đau khổ có, khi chúng ta thấy các pháp là thật; đau khổ sẽ hết khi mình thấy các pháp không thật.

    Người tu muốn hết đau khổ thì không thể thiếu trí tuệ Bát-nhã được, nếu thiếu trí tuệ Bát-nhã thì dầu tu nghìn năm cũng vẫn còn khổ. Nếu quán thật kỹ các pháp không thật thì còn mất chỉ là trò chơi thôi. Đó là trí tuệ Bát-nhã, có công dụng rất lớn lao trong sự tu hành giải thoát đau khổ.

    Này thiện nam tử! Thế nào là Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn, thành tựu đầy đủ phần công đức thứ mười rốt sau cả?

    Bồ-tát tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo vào đại Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Vì các chúng sanh phân biệt giải thuyết kinh Đại Niết-bàn hiển thị Phật tánh.

    Nếu Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát tin lời trên đây thời đều được vào đại Niết-bàn. Nếu người không tin thời luân hồi sanh tử.”

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: “Thế Tôn! Những chúng sanh nào ở trong kinh này chẳng sanh lòng cung kính?”

    Phật bảo: “Này thiện nam tử! Sau khi ta nhập Niết-bàn có hàng Thanh văn đệ tử ngu si phá giới ưa sanh sự đấu tranh, bỏ mười hai bộ kinh, mà đi đọc tụng văn kệ sách vở của ngoại đạo, nhận chứa tất cả vật bất tịnh, nói rằng Phật cho phép. Những người ngu si này đem chiên-đàn tốt đổi lấy gỗ tạp, đem vàng đổi lấy thau, đem bạc đổi lấy nhôm, hàng lụa đổi lấy bố gai, đem vị cam lộ đổi lấy chất độc.

    Thế nào là chiên-đàn đổi lấy gỗ tạp?

    Như các đệ tử vì cúng dường mà thuyết kinh pháp cho hàng bạch y. Hàng bạch y phóng dật không thích nghe pháp. Bạch y ngồi cao, Tỳ-kheo ngồi thấp. Nhẫn đến đem những đồ ăn uống ngon để cung cấp mà họ vẫn chẳng bằng lòng nghe. Đây gọi là đem chiên-đàn đổi lấy gỗ tạp.

    Thế nào là đem vàng đổi lấy thau?

    Thau là dụ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc năm dục trần, vàng là dụ cho giới. Đệ tử của ta vì sắc mà phá giới đã thọ. Đây là đem vàng đổi lấy thau.

    Phần công đức thứ mười, Phật dạy y theo kinh Đại Niết-bàn mà tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo để đạt Niết-bàn thường lạc ngã tịnh . Sau khi được rồi, mình giải nói cho tất cả chúng sanh nghe, để họ biết có Phật tánh.

    Bồ-tát Cao Quý Đức Vương hỏi, không biết ai lại không cung kính kinh này? Phật nói: Có hàng Thanh văn đệ tử ngu si phá giới ưa sanh sự đấu tranh... Đem chiên-đàn tốt đổi lấy gỗ tạp, đem vàng đổi lấy thau, đem bạc đổi lấy nhôm, hàng lụa đổi lấy bố gai, đem vị cam lộ đổi lấy chất độc.

    Thế nào là chiên-đàn đổi lấy gỗ tạp? Là những người vì cúng dường mà thuyết pháp cho bạch y không đúng pháp, cầu cạnh chiều chuộng mà họ không thèm nghe. Thời bây giờ cũng hay có những điều đó, mời những vị quan trọng lại ngồi đãi ăn đãi uống đàng hoàng tử tế nhưng nghe pháp họ không thèm nghe gì hết. Tất nhiên là mình đem chiên-đàn đổi gỗ tạp.

    Thế nào là đem vàng đổi lấy thau? Vàng dụ cho giới, thau là dụ cho sắc thanh hương vị xúc, sáu trần. Bỏ giới luật để chạy theo sáu trần là đem vàng đổi thau.

    Thế nào là đem bạc đổi lấy nhôm?

    Bạc dụ cho thập thiện, nhôm dụ cho thập ác. Đệ tử của ta vất bỏ mười hạnh lành mà làm mười điều ác. Đây là đem bạc đổi nhôm vậy.

    Thế nào là đem lụa đổi gai bố?

    Gai bố dụ cho vô tàm vô quý. Lụa dụ cho tàm quý. Đệ tử của ta bỏ tàm quý quen tập vô tàm vô quý. Đây là đem lụa đổi gai vậy.

    Thế nào là vị cam lồ đổi chất độc?

    Chất độc dụ cho các thứ lợi dưỡng. Cam lồ dụ cho pháp vô lậu. Đệ tử của ta vì lợi dưỡng mà tự khoe với hàng bạch y rằng mình được vô lậu. Đây là cam lồ đổi chất độc.

    Thế nào là đem bạc đổi lấy nhôm? Bạc là chỉ thập thiện, nhôm là chỉ thập ác. Bỏ thập thiện làm thập ác là đem bạc đổi nhôm.

    Thế nào là đem lụa đổi gai bố? Lụa là chỉ tàm quý, gai là chỉ vô tàm vô quý, không hổ thẹn. Bỏ cái hổ thẹn để đem đổi cái không hổ thẹn là đem lụa đổi gai.

    Thế nào là vị cam lồ đổi chất độc? Chất độc là gì? Chất độc là chỉ cho các thứ lợi dưỡng, còn cam lồ chỉ cho các pháp vô lậu, tức là các pháp giải thoát. Đệ tử Phật vì lợi dưỡng mà không cố gắng tu hành theo các pháp vô lậu, gọi là đem cam lồ đổi chất độc.

    Sau này kinh Đại Niết-bàn lưu hành ở Diêm-phù-đề, có các đệ tử Phật thọ trì, đọc tụng, biên chép, diễn thuyết sẽ bị các ác Tỳ-kheo đây giết hại.

    Lúc đó các ác Tỳ-kheo nhóm họp nhau lập chế ước nghiệm rằng: Vị nào đọc tụng thọ trì biên chép diễn thuyết kinh Đại Niết-bàn, đều chẳng được cùng ở, cùng ngồi, cùng đàm luận chuyện trò. Vì kinh Đại Niết-bàn chẳng phải của Phật nói, do người tà kiến tạo ra. Người tà kiến là lục sư, kinh điển của lục sư chẳng phải kinh điển của Phật. Vì tất cả chư Phật đều nói các pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Nếu nói các pháp là thường, lạc, ngã, tịnh thời đâu phải là kinh do Phật nói.

    Chư Phật cho các đệ tử chứa các thứ vật, còn lục sư chẳng cho các đệ tử cất chứa tất cả vật. Nếu cấm chứa thời thế nào lại là lời của Phật?

    Chư Phật chẳng cấm đệ tử dứt hẳn năm vị sữa bò và ăn thịt. Còn lục sư chẳng cho ăn năm thứ muối, năm thứ vị sữa bò và huyết mỡ. Nếu cấm những thứ này thời đâu phải là kinh điển chánh của Phật!

    Phật giải thích thêm, giải những nghi ngờ của người sau. Vì người sau nghi ngờ rằng kinh này không phải Phật nói vì những điều kiện: Thứ nhất, căn cứ trong các bộ A-hàm sẽ thấy rằng trong kinh A-hàm nói các pháp vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh mà ở đây Phật nói thường lạc ngã tịnh , cho nên nói là không phải Phật nói. Điểm thứ hai đáng chú ý đó là trong A-hàm, giới luật Phật còn cho Tỳ-kheo được ăn ngũ tịnh nhục, được ăn sữa, nhưng qua kinh Đại Niết-bàn này Phật thường hay quở, cấm không cho ăn thịt cá, ăn thịt cũng như ăn thịt con, rồi sữa cũng phải bớt. Như vậy họ nói kinh này không hợp, không phải Phật dạy, giống như ngoại đạo, vì như Bà-la-môn dạy ăn chay, kinh này cũng dạy ăn chay nên kinh này không phải là kinh Phật, là kinh ngoại đạo mà ở đây nói là lục sư. Đó là những nghi ngờ của người sau.

    Chư Phật nói ba thừa, mà kinh này thuần nói nhất thừa và đại Niết-bàn, thời đâu gọi là kinh điển chánh của Phật được!

    Chư Phật rốt ráo nhập Niết-bàn, còn kinh này nói Phật là thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng nhập Niết-bàn.

    Kinh này không ở trong số mười hai bộ, chính là ma thuyết, chẳng phải Phật thuyết.

    Này thiện nam tử! Người như trên đây dầu là đệ tử Phật mà chẳng thể tin thuận kinh Đại Niết-bàn này.

    Này thiện nam tử! Trong thời kỳ như vậy, nếu có chúng sanh tin kinh điển này nhẫn đến nửa câu, phải biết rằng người này thật là đệ tử của Phật, do sự tin này mà thấy Phật tánh nhập đại Niết-bàn.”

    Nghi ngờ thứ ba, trong kinh A-hàm nói tam thừa, mà ở đây nói có nhất thừa, nói chỉ có Phật thừa thôi không có gì khác nữa, thì e đây không phải Phật nói.

    Nghi thứ tư, trong mười hai bộ kinh thì kinh Đại Niết-bàn không nằm trong đó, cho nên nghi không phải Phật nói.

    Ở đây Phật nói, sau này những ai đối với kinh điển này, nếu tin được một câu hoặc nửa câu, người đó thật là đệ tử Phật, có thể thấy được Phật tánh và có thể nhập được Niết-bàn.

    Cao Quý Đức Vương Bồ-tát nói: “Lành thay! Lành thay! Ngày nay đức Như Lai khéo khai thị kinh Đại Niết-bàn.

    Thế Tôn! Tôi nhân việc này bèn được giải ngộ kinh Đại Niết-bàn một câu nửa câu. Do hiểu một câu đến nửa câu nên thấy chút phần Phật tánh. Cứ như lời Phật nói, tôi cũng sẽ được vào đại Niết-bàn.

    Đây gọi là Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ phần công đức thứ mười.

    Cuối cùng Bồ-tát Cao Quý Đức Vương nói, căn cứ theo lời Phật nói, con đối với kinh này tin được một câu nửa câu, như vậy con cũng sẽ được đại Niết-bàn.

  • 13. Phẩm Di Giáo

    Lúc bấy giờ đức Phật bảo A-nan và đại chúng: “Sau khi ta diệt độ, hàng tứ chúng phải siêng hộ trì kinh Đại Bát-niết-bàn của ta. Trong vô lượng vô số kiếp ta tu tập pháp đại Niết-bàn khó đặng này, nay đã giải thuyết rõ ràng cho đại chúng.

    Các người nên biết pháp đại Niết-bàn này là bảo tạng Kim cang thường, lạc, ngã, tịnh hoàn toàn viên mãn của tất cả chư Phật. Tất cả chư Phật đều ở nơi pháp đại Niết-bàn này mà nhập Niết-bàn. Pháp này là pháp tối hậu rốt ráo chí lý cùng tột không thiếu sót. Chư Phật đều phóng xả thân mạng nơi đây, do đó nên gọi là đại Niết-bàn. Đại chúng muốn đặng chân thật báo ân Phật, mau chứng Bồ-đề, được chư Phật rờ đầu, đời đời sanh ra chẳng mất chánh niệm, thập phương chư Phật thường hiện trước mình ngày đêm giữ gìn làm cho tất cả mọi người được pháp xuất thế, thời phải siêng năng tu tập kinh Đại Niết-bàn này."

    Phẩm Di Giáo là phẩm thứ hai mươi sáu. Đây là những lời dạy tối hậu của Phật, chúng ta phải ráng mà nhớ. Trước hết Phật dạy phải hộ trì kinh Đại Niết-bàn, tức là làm sao cho mọi người nhận được Phật tánh để tiến tu chứng được đạo Niết-bàn.

    Phật dạy A-nan và đại chúng phải siêng năng hộ trì kinh Đại Niết-bàn, kinh mà Phật đã tu trong vô lượng kiếp. Ngài ca ngợi pháp đại Niết-bàn để cho chúng ta phải cố gắng gìn giữ. Pháp đại Niết-bàn là bảo tạng kim cang , tức là kho tàng kim cang quý báu không gì phá hoại được. Niết-bàn là thường lạc ngã tịnh, hoàn toàn viên mãn của tất cả chư Phật. Tất cả chư Phật đều ở nơi đại Niết-bàn này mà nhập Niết-bàn , tức là vào chỗ cứu cánh. Pháp Niết-bàn là tối hậu, là rốt ráo, là chí lý, là cùng tột, là không thiếu sót. Chư Phật đều phóng xả thân mạng nơi đây, do đó nên gọi là đại Niết-bàn . Trong nhà thiền thường có những câu tương tự, như vị thiền sư hỏi đệ tử chỗ tột cùng, đệ tử trả lời: “Đây là chỗ buông xả thân mạng của con.” Chỗ các ngài buông xả thân mạng tức là pháp thân hay Phật tánh. Tất cả chúng ta muốn được gần Phật, được Phật nhắc nhở để cho mình tiến tới giải thoát thì phải cố gắng tu theo kinh Đại Niết-bàn.

    Phật bảo A-nan: “Lúc ta chưa thành Phật thị hiện vào trong pháp ngoại đạo của Uất-đầu-lam-phất, tu học tứ thiền bát định. Từ khi ta thành Phật đến nay bác bỏ những pháp ấy khuyến dụ lần lần các phái ngoại đạo, cuối cùng đến ông Tu-bạt-đà-la, cho họ đều vào Phật đạo.

    Tuy ban đầu Phật có tu theo chúng ngoại đạo, nhưng đó là thị hiện. Nhớ điều này! Nếu nói Phật thật tình thọ giáo với ngoại đạo thì đối với kinh Niết-bàn mình mắc lỗi phỉ báng Như Lai. Phật chỉ nói ngài thị hiện vào chúng ngoại đạo tu tứ thiền bát định. Nhưng sau khi tu, ngài bác bỏ chúng và khuyến dụ những người ngoại đạo trở về với Phật đạo.

    Đức Như Lai dùng đuốc đại trí đốt tràng tà kiến, như đem lá cỏ khô ném vào trong ngọn lửa lớn.

    Này A-nan! Nay những người giòng Thích-ca ta rất lo nghĩ đến họ. Sau khi ta Niết-bàn, ông phải siêng năng đem điều lành dạy răn hàng quyến thuộc của ta, hết lòng dạy dỗ cho họ được diệu pháp. Chớ để họ phóng dật tán tâm chơi bời hoặc theo tà pháp.

    Người chưa thoát khỏi sự thống khổ trong ba cõi phải sớm cầu giải thoát. Phải lo sợ chốn ngũ trược ái dục này, một khi mất thân người rất khó được lại, trọn đời phải thường soi xét. Khó lấy tình để cầu thoát khỏi quỷ vô thường.

    Phật nghĩ đến quyến thuộc của ngài cũng là quyến thuộc của ngài A-nan, nhắc ngài A-nan phải chỉ dạy họ đừng phóng dật, đừng tán tâm chơi bời, đừng theo tà pháp, cố gắng tu hành. Nhiều khi lo giáo hóa nơi này nơi kia mà quê mình chưa giáo hóa kịp, cho nên phải dạy dỗ đồ đệ giáo hóa những chỗ chưa giáo hóa hết.

    Phật dạy rất thiết tha. Người nào chưa thoát khỏi sự thống khổ trong ba cõi, phải nỗ lực cầu giải thoát, phải lo sợ chốn ngũ trược ái dục đầy bùn lầy này làm cho người ta phải dính mắc leo lên không nổi. Một khi mất thân người rất khó được lại. Trọn đời phải thường soi xét như vậy. Xét tới xét lui để nỗ lực lên.

    Câu cuối: Khó lấy tình để cầu thoát khỏi quỷ vô thường . Khi quỷ vô thường tới nắm cổ, mình chắp tay năn nỉ xin tha, tôi còn nhiều chuyện bề bộn sắp xếp chưa xong, cho tôi ở lại năm ba năm để sắp xếp, được không? Dù lạy lục năn nỉ, nó cũng không tha. Dù có bao nhiêu lượng vàng lo lót cũng không được. Quỷ vô thường tới đem tình cầu xin nó cũng không được.

    Phải thương xót chúng sanh, chớ giết hại dầu là côn trùng nhỏ nhít.

    Thân nghiệp thanh tịnh thường sanh cõi tốt đẹp. Khẩu nghiệp thanh tịnh xa lìa những lỗi ác. Chớ ăn thịt, chớ uống rượu. Điều phục con rắn tâm cho nó vào đạo quả.

    Phật dạy phải thương xót chúng sanh, chớ giết hại dù là vật nhỏ nhất. Những lời dạy thật thấm thía.

    Thân thanh tịnh được sanh vào những cõi đẹp. Khẩu thanh tịnh lìa được những lỗi ác. Vì vậy đừng ăn thịt đừng uống rượu. Ăn thịt uống rượu làm cho thân, miệng ô uế.

    Tâm mình như rắn độc, nó lè lưỡi muốn chụp cắn người này, người kia. Ráng điều phục để chứng nhập đạo quả.

    Phải suy nghĩ kỹ nghiệp nhân thiện ác cảm báo tốt xấu. Nhân quả trong ba đời tuần hoàn chẳng mất, như bóng theo hình. Đời này luống qua về sau ăn năn không kịp.

    Giờ Niết-bàn đã đến, ta tóm tắt dạy bảo như vậy.” 

    Nhân quả liên hệ với nhau chặt chẽ chẳng mất. Chỉ có người biết chuyển mới mất. Nếu để trôi đi sau này hối hận cũng không kịp.

    Sắp đến giờ Niết-bàn rồi, đây là những lời Phật dạy bảo tóm tắt.

    A-nan nghe lời Phật dạy, thân rung, tâm động, buồn khóc nghẹn ngào, mê muộn té xuống trước mặt Phật như người chết.

    Lúc đó ngài A-nậu-lâu-đà an ủi A-nan rằng: “Đâu nên quá sầu khổ như vậy! Đã đến giờ đức Như Lai nhập Niết-bàn, ngày nay dầu có Phật, sáng mai thời đã không. Ông y theo lời tôi để thưa hỏi đức Như Lai bốn điều.

    Sau khi Phật nhập Niết-bàn, lục quần Tỳ-kheo làm việc ô tha gia, cùng Xa-nặc ác tánh, các Tỳ-kheo làm thế nào để cùng họ cộng trụ và chỉ dạy họ?

    Đức Như Lai còn thời dùng Phật làm thầy, đức Như Lai diệt độ rồi lấy gì để làm thầy?

    Lúc Phật còn nương nơi Phật mà trụ, Như Lai đã diệt độ nương gì để trụ?

    Sau khi Phật diệt độ, lúc kết tập pháp tạng, đầu các kinh phải để những lời gì?” 

    Ngài A-nan khi nghe Phật nói tóm tắt những lời dạy dỗ cuối, thân run tâm động, buồn khóc nghẹn ngào, mê muội té xuống trước mặt Phật, ngất xỉu như người chết. Ngài đã chứng Sơ quả rồi nhưng còn chút hữu lậu, ngài cũng còn buồn khổ huống nữa mình còn là phàm phu, lúc đó chắc mình cũng vậy không hơn.

    Ngài A-nậu-lâu-đà an ủi ngài A-nan và thúc hối ngài hỏi Phật bốn điều.

    Thứ nhất, lục quần Tỳ-kheo và ngài Xa-nặc phạm tội ô tha gia, có những tánh ác làm sao mà ở chung. Thứ hai, khi Phật còn thì tôn Phật làm thầy, khi Phật nhập Niết-bàn rồi lấy ai làm thầy. Thứ ba, sau khi Phật nhập Niết-bàn thì nương đâu mà trụ. Thứ tư, sau khi Phật nhập Niết-bàn, kết tập kinh điển đầu kinh để những lời gì.

    A-nan như ở trong mộng nghe ngài A-nậu-lâu-đà khuyên bảo hỏi Phật bốn điều. Lần lần được tỉnh ngộ chẳng xiết buồn thảm, A-nan đem bốn điều trên hỏi Phật.

    Đức Như Lai bảo A-nan: “Sao lại quá buồn khổ như vậy! Chư Phật thuyết pháp giáo hóa việc làm đã xong, theo phép phải về nơi đây.

    Lành thay! Lành thay! Bốn điều ông vừa hỏi, là lời hỏi tối hậu, có lợi ích lớn cho tất cả thế gian. Các ông lóng nghe và khéo suy nghĩ ghi nhớ.

    Sau khi Phật nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo Xa-nặc tâm tánh sẽ lần lần điều phục nhu hòa bỏ ác tánh cũ.

    Này A-nan! Ông Nan-đà trước kia rất nặng ái dục, tánh rất xấu ác, đức Như Lai dùng thiện phương tiện chỉ dạy cho ông ấy được lợi ích vui mừng. Phật rõ biết căn tánh của ông ấy, dùng huệ Bát-nhã mà giảng thuyết mười hai nhân duyên.

    Ngài A-nan nghe vậy giật mình, thấy còn bỏ sót bổn phận nên mới đứng ra thưa hỏi. Phật khen ngợi và dạy, Tỳ-kheo Xa-nặc sẽ dễ dạy không có gì khó. Ngài Nan-đà nhờ Phật biết rõ căn tánh của ngài, giảng mười hai nhân duyên khiến ngài được lợi ích. Nếu chúng ta hiểu cho đúng mười hai nhân duyên thì có trí tuệ Bát-nhã thuộc về Đại thừa.

    Chính là vô minh duyên hành, hành duyên thức, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não, đều là rừng bụi vô minh yêu ghét, tất cả hành khổ đầy tràn trong ba cõi, chạy khắp trong lục đạo. Cội gốc sự khổ từ vô minh khởi lên. Dùng huệ Bát-nhã hiển bày tánh tịnh, quán sát kỹ cội gốc thời dứt được tội lỗi trong ba cõi.

    Khổ gốc từ vô minh. Vô minh là giả mà tưởng lầm là thật. Nhớ như vậy. Đừng định nghĩa dài dòng, giả mà tưởng là thật gọi là vô minh. Như chúng ta ra chợ muốn mua vàng, người ta đưa vàng giả, chúng ta tưởng thật mua về nhà. Có người biết, nói đây là đồ giả. Mình nói “tôi bị lầm”. Lầm nghĩa là đồ giả tưởng là đồ thật. Ngã và pháp đều là giả mà mình chấp là thật.

    Sau khi xét mười hai nhân duyên tường tận thấy nó không thật, lúc đó được thấy tánh tịnh. Khi chúng ta biết vô minh duyên hành, hành duyên thức v.v... thì dứt mê lầm. Mê lầm không thật thì hành cũng không thật, hành không thật thì thức cũng không thật, danh sắc cũng không thật, cho tới lão tử cũng không thật. Xét đáo để chúng ta thấy nó không thật thì liền được thấy cái thanh tịnh. Do trí tuệ Bát-nhã mà xét kỹ mười hai nhân duyên, bởi xét kỹ mười hai nhân duyên cho nên được tánh tịnh, được tánh tịnh thì dứt được cội rễ sanh tử trong ba cõi.

    Vì cội gốc vô minh dứt nên vô minh dứt, vô minh dứt thời hành dứt, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não đều dứt.

    Lúc được quán niệm này nhiếp tâm đứng dừng thời được nhập tam-muội, do sức tam-muội được nhập Sơ thiền, lần lượt nhập Tứ thiền, không rời chánh niệm luôn tu tập như vậy, rồi sau tự sẽ được chứng thượng quả thoát khỏi khổ trong ba cõi. Nan-đà Tỳ-kheo tin sâu lời dạy của Phật, siêng năng tu tập trong một ít lâu được chứng quả A-la-hán.

    Theo Nhị thừa quán mười hai nhân duyên là quán từ lão tử đến vô minh, Đại thừa quán phải xét kỹ vô minh. Vô minh là mê lầm, vô minh không thật thì hành là hành động sanh diệt cũng không thật. Hành không thật thì thức cũng không thật. Thức không thật thì danh và sắc là duyên hợp cũng không thật. Danh sắc không thật thì xúc cũng không thật... Tóm lại xét tường tận mười hai nhân duyên đều thấy không thật thì lúc đó mình được tánh tịnh. Đó là quán Đại thừa, tất cả pháp đều không có tự tánh.

    Phật dạy do quán mười hai nhân duyên mà chứng được Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền cho đến chứng được A-la-hán tức là Diệt tận định.

    Có một thầy Nguyên thủy, mỗi năm mở ba tháng tham thiền cho cả tăng ni cư sĩ. Người nào tu tinh tấn thì trong ba tháng có thể chứng từ Sơ thiền đến Nhị thiền. Còn chúng ta tu mấy năm được thiền gì, như vậy mình tu không có kết quả gì hết sao? Đây là chỗ mà tôi thấy cần phải chú ý, nếu không chúng ta sẽ bị ngơ ngác, tuy chúng ta không cầu sự tu chứng nhưng phải biết.

    Sơ thiền là Ly sanh hỷ lạc, tức là lìa ngũ dục mà lòng mình có vui thích, vui vẻ lên thì đó là trạng thái của Sơ thiền. Dù tu theo pháp thiền nào, tới lúc đối với ngũ dục mình chán không thích nữa, tâm được an lành vui vẻ tức là đã có trạng thái Sơ thiền.

    Nhị thiền là Định sanh hỷ lạc, nghĩa là tâm được yên cảm thấy vui vẻ, mừng lên. Qua trạng thái Sơ thiền đến lúc thấy tâm định không tán loạn, mình thấy vui thích, đó là trạng thái của Nhị thiền.

    Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc, chúng ta tu định lâu, cái mừng trong Nhị thiền không còn nữa mà có cái vui rất nhẹ nhàng thầm lặng ở trong.

    Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh, khi vui nhẹ nhàng thầm lặng ở trong xả hết, tâm mình hoàn toàn thanh tịnh.

    Trong kinh nói thiền Nhị thừa căn cứ vào bốn điều đó, những người tu chứng từ Sơ thiền trở lên thì da của họ bóng lên, sáng lên. Chúng ta phải biết để khi dạy người khác tu thiền, được các trạng thái đó, họ hỏi thì giải thích là đang ở trạng thái nào và phải tiến lên sao. Nhất là dạy người ta tu pháp quán sổ tức hay quán từ bi v.v... đều phải qua những trạng thái của Tứ thiền, nếu mình không khéo, không biết thì không thể dạy được.

    Này A-nan! Sau khi ta nhập Niết-bàn, các ông nên y theo giáo pháp chánh quán của ta mà chỉ dạy cho lục quần cùng Xa-nặc, hết lòng nương theo chánh pháp thanh tịnh này, tự sẽ được chứng thượng quả.

    Này A-nan! Phải biết rằng đều do nơi vô minh mà tăng trưởng cây sanh tử trong ba cõi, nên mãi trôi chìm trong ái hà, chịu khổ mãi dưới vực tối tăm, vòng quanh cột sanh tử. Sáu thức là nhánh, vọng niệm là gốc, lượn sóng vô minh xúc khiến tâm thức dạo chơi theo lục trần, sanh mầm các sự khổ não. Vô minh nó tự tại như vua, không ai chế ngự được. Do đây nên ta nói ông chủ vô minh niệm niệm làm hại, chúng sanh chẳng hay biết, mãi luân chuyển trong sanh tử.

    Này A-nan! Tất cả chúng sanh vì vô minh này mà khởi những tham ái, bị ngã kiến che đậy, tám muôn bốn ngàn phiền não sai sử thân họ, làm cho thân tâm họ tan vỡ không được tự tại.

    Này A-nan! Nếu vô minh dứt thời ba cõi đều hết, nên gọi là người xuất thế.

    Này A-nan! Nếu có thể quán sát kỹ mười hai nhân duyên rốt ráo không có ngã, sâu vào nơi bản tánh thanh tịnh, thời có thể xa lìa ngọn lửa lớn ba cõi.

    Này A-nan! Đức Như Lai là đấng chân ngữ nói lời thành thật, đây là lời phó chúc tối hậu, các ông phải y theo tu hành.

    Vô minh tăng trưởng chìm trong phân biệt sanh ái. Vô minh khiến chúng ta quay mãi trong sanh tử như con bò con trâu cột vào cọc, đi qua đi lại cũng lẩn quẩn quanh cọc chứ không đi đâu khỏi. Chỉ có Phật biết, ngài dạy mình cách trị vô minh.

    Khi chúng ta nhìn thân nhìn cảnh này cho là thật, đó là vô minh. Vì tưởng thân thật nên tham ái. Ái thân ái cảnh đó là chấp ngã chấp pháp, bị ngã kiến che đậy nên có tám muôn bốn ngàn phiền não dấy lên sai sử làm cho thân tâm không được tự tại.

    Nếu ai nhận ra căn bản này thì tu thật dễ chứ không khó. Cứ nhớ thân không thật, cảnh không thật, quán tới xét lui. Quán lời Phật dạy cảnh không thật, thân không thật. Nhớ biết rõ ràng thì có trí tuệ, mà có trí tuệ thì vô minh hết sạch, như vậy là người xuất thế.

    Khi xét rõ mười hai nhân duyên không thật thì tâm được thanh tịnh, tâm được thanh tịnh thì xa lìa ngọn lửa lớn sanh tử ba cõi.

    Này A-nan! Ông hỏi sau khi Phật diệt độ lấy gì làm thầy? Nên biết giới ba-la-đề-mộc-xoa là Đại sư của các ông. Nương theo đó tu hành thời có thể được định huệ xuất thế.

    Này A-nan! Ông hỏi sau khi Phật nhập Niết-bàn nương gì để trụ? Phải nương pháp tứ niệm xứ mà trụ: quán sát tánh tướng của thân đồng như hư không gọi là thân niệm xứ, quán sát sự cảm thọ chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa, gọi là thọ niệm xứ, quán sát tâm chỉ có danh tự tánh danh tự rời rạc gọi là tâm niệm xứ, quán sát pháp thiện chẳng thể được, pháp bất thiện cũng chẳng thể được, gọi là pháp niệm xứ. Tất cả người tu hành phải nương theo pháp tứ niệm xứ này mà trụ.

    Quán tứ niệm xứ theo Nhị thừa thì: một là quán thân bất tịnh, thân mình từ đầu đến chân đều do ba mươi sáu vật kết hợp, khi chia ra thì thấy nó nhơ nhớp bẩn thỉu, đó là quán thân niệm xứ. Hai là quán thọ là khổ, thọ khổ thọ lạc cũng đều là khổ. Tại sao? Vì là vô thường nên khổ. Vừa xúc chạm, mình nhận là vui, xúc chạm khác thì mình buồn, thọ vui thọ buồn luôn luôn thay đổi. Thọ vui sanh ra thích nên có ái, thọ buồn sanh ra ghét cho nên có tắng, tắng ái tức là gốc của thọ, biết thọ vô thường thì hết tắng ái. Đó là quán thọ là khổ.

    Ba là quán tâm vô thường, tâm luôn đổi thay, hết nghĩ cái này lại nghĩ cái khác, hết chuyện quá khứ đến chuyện tương lai nên gọi là tâm vô thường. Bốn là quán pháp vô ngã, quán tất cả pháp không có chủ tể, pháp cũng nhắm vào tâm sở hữu pháp, nói rộng ra tất cả sự vật ở ngoài không có chủ tể, nó chỉ là duyên hợp không thật. Đó là quán bốn pháp theo Nhị thừa.

    Theo Đại thừa, một là quán tánh tướng tức là thân tứ đại của mình đồng như hư không gọi là thân niệm xứ. Tại sao quán như vậy? Vì biết thân tướng này do tứ đại giả hợp cho nên không có tự tánh, đồng như hư không. Mình biết thân tướng này do duyên hợp không có tự tánh, thân không thật, sắc tức là không , theo Bát-nhã quán.

    Kế đến quán cảm thọ, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa, ba nơi không có thì không thật, không thật cho nên không tự tánh, nên nó cũng là không. Như vậy quán thọ không tự tánh thì đó là quán thọ niệm xứ.

    Quán tâm chỉ có danh tự, tánh danh tự rời rạc gọi là tâm niệm xứ. Nếu nói tâm vương, là nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức cho đến a-lại-da thức. Nếu nói tâm sở thì có năm mươi mốt thứ, chỉ có danh tự rời rạc không thật. Tâm niệm xứ là thấy tâm không tự tánh chỉ là một mớ giả danh thôi.

    Quán pháp niệm xứ, pháp thiện pháp ác, thiện cũng không thật ác cũng không thật, đều do duyên hợp. Duyên hợp thì gọi là thiện ác nên thiện ác đều không có tự tánh.

    Ba pháp quán đó đều căn cứ vào trí tuệ Bát-nhã quán, hay nói cách khác đều quán theo Trung quán, thân tâm hoàn cảnh đều không có tự tánh, không chấp nó thật thì phá vô minh, mà phá vô minh thì ái hết, bao nhiêu phiền não đều sạch, được tự tại giải thoát, đó là quán dùng trí tuệ Bát-nhã soi bốn pháp.

    Này A-nan! Ông hỏi sau khi Như Lai diệt độ lúc kết tập pháp tạng, đầu tất cả kinh để những lời gì?

    Này A-nan! Sau khi Như Lai diệt độ lúc kết tập pháp tạng đầu tất cả kinh nên để như vầy: Như thị ngã văn nhất thời Phật trụ mỗ phương mỗ xứ, cùng hàng tứ chúng mà nói kinh này.”

    A-nan lại bạch Phật: “Lúc Phật ở đời, hoặc sau khi Phật nhập Niết-bàn, có tín tâm đàn-việt đem vàng bạc bảy báu cùng tất cả đồ cần dùng dâng cúng cho Như Lai thời phải xử trí thế nào?”

    Phật nói: “Lúc Phật còn, những vật cúng dường Phật, thời chúng tăng nên biết. Sau khi Phật diệt độ những vật cúng dường Phật, thời nên dùng tạo tượng Phật và tạo y của Phật, phan lọng bảy báu, sắm các thứ hương dầu bông để cúng dường Phật. Trừ việc cúng dường Phật ngoài ra chẳng được dùng. Người lạm dụng thời phạm tội lấy trộm vật của Phật.”

    A-nan lại bạch: “Lúc Phật còn có người đem vàng bạc bảy báu điện đường phòng nhà y phục đồ uống ăn tất cả đồ cần dùng, hoặc vợ con tôi tớ mà  cung  kính  cúng  dường  Như  Lai. Sau  khi  Phật nhập diệt nếu có người đem những vật như trên mà cung kính cúng dường tượng Phật. Bạch Thế Tôn! Phước đức của hai người này ai nhiều hơn?”

    Phật nói: “Vì đều cung kính cúng dường cả nên phước đức của hai người được đồng nhau. Dầu Phật diệt độ nhưng pháp thân vẫn thường còn, nên cung kính cúng dường được phước vẫn đồng như Phật hiện tại.”

    A-nan lại bạch: “Lúc Phật hiện tại nếu có người đem những vật như trên cung kính cúng dường Phật, sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, nếu có người đem những vật như trên cung kính cúng dường toàn thân xá-lợi, phước đức của hai người này, ai nhiều hơn?”

    Phật nói: “Hai người này được phước đồng nhau công đức rộng lớn vô lượng vô biên nhẫn đến hết khổ, phước đó chẳng hết.”

    A-nan lại bạch: “Lúc Phật hiện tại, nếu có người cung kính cúng dường Phật như trên, sau khi Phật nhập Niết-bàn nếu có người cung kính cúng dường nửa thân xá-lợi ai được phước nhiều hơn?”

    Phật nói: “Vì hai người đều cung kính cúng dường nên được phước đồng nhau phước đức này vô lượng vô biên.

    Này A-nan! Nhẫn đến cung kính cúng dường một phần tư xá-lợi, một phần tám, một phần trăm, một phần ngàn, một phần muôn, một phần hằng hà sa, hoặc chừng bằng hột cải, người này được phước cũng đồng như người cung kính cúng dường đức Như Lai hiện tại.

    A-nan nên biết rằng hoặc Phật hiện tại hoặc đã nhập Niết-bàn, nếu có người cung kính cúng dường lễ bái tán thán, được phước đức đồng nhau không khác.”

    Phật bảo A-nan cùng đại chúng: “Sau khi ta nhập Niết-bàn, tất cả chúng sanh hoặc thiên thượng hay nhân gian, được xá-lợi của ta mà vui mừng thương cảm cung kính lễ bái cúng dường, thời được vô lượng vô biên công đức.

    Này A-nan! Nếu thấy xá-lợi của Như Lai thời là thấy Phật, thấy Phật là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Tăng, thấy Tăng là thấy Niết-bàn.

    A-nan nên biết rằng do nhân duyên trên đây mà Tam bảo thường trụ không biến đổi, có thể làm chỗ quy y cho tất cả chúng sanh.”

    A-nan bạch Phật: “Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, tất cả đại chúng y theo phép tắc nào để trà-tỳ thân Như Lai để được xá-lợi cung kính cúng dường.”

    Phật nói: “Khi ta nhập Niết-bàn rồi, đại chúng nên y theo phương pháp trà-tỳ Chuyển luân thánh vương.”

    A-nan bạch Phật: “Pháp tắc trà-tỳ Chuyển luân thánh vương như thế nào?”

    Phật nói: “Sau khi Chuyển luân thánh vương mạng chung, đình thi hài bảy ngày mới để vào quan tài vàng, rồi lấy dầu thơm vi diệu đổ đầy quan tài đậy lại thật kín. Đủ bảy ngày đem thi hài ra, dùng nước thơm tắm rửa, đốt hương thơm cúng dường. Dùng bông đâu-la-miên bao khắp thân thể, sau đó dùng ngàn bức bạch điệp tốt đẹp vô giá thứ tự vấn chồng lên nhau khắp thi hài của Luân vương. Vấn xong đổ dầu thơm đầy trong kim quan rồi mới để thi hài Luân vương vào. Đậy kín quan tài xong, chở trên xe thất bảo, bốn mặt treo các chuỗi ngọc, dùng châu báu trang nghiêm xe ấy, vô số phan lọng bằng châu báu tốt đẹp giăng treo trên xe. Đốt hương thơm, trổi đại nhạc để cúng dường. Sau đó dùng thuần những gỗ thơm cùng những dầu thơm mà trà-tỳ. Trà-tỳ xong hốt lấy xá-lợi, xây tháp thất bảo giữa đường ngã tư trong thành, bốn phía tháp có bốn cửa an trí xá-lợi trong đó, để cho tất cả mọi người đồng chiêm ngưỡng.

    Này A-nan! Chuyển luân thánh vương kia, do chút ít phước đức được nối ngôi vua, chưa thoát khỏi ba cõi, còn đủ ngũ dục thê thiếp, ác kiến tham, sân, si, tất cả phiền não kiết sử chưa dứt được một mảy. Sau khi mạng chung mà thế gian còn theo cách thức như vậy, dựng tháp cúng dường để mọi người chiêm ngưỡng, huống là đức Như Lai đã trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp bỏ hẳn ngũ dục, tinh tấn thật hành tất cả khổ hạnh xuất thế của Bồ-tát, đã thành tựu đạo hạnh thậm thâm vi diệu thanh tịnh, giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, sáu môn ba-la-mật, tu tập thập lực, đại bi, bốn vô sở úy, ba môn giải thoát, mười tám đại không, lục thông, ngũ nhãn, ba mươi bảy phẩm, mười tám bất cộng, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thọ mạng của tất cả chư Phật, tất cả cõi Phật thanh tịnh, tất cả pháp thành tựu chúng sanh, tất cả khổ hạnh khó làm, tất cả nhiếp luật nghi giới, tất cả nhiếp thiện pháp giới, tất cả nhiếp chúng sanh giới, tất cả công đức, tất cả trí huệ, tất cả trang nghiêm, tất cả đại nguyện, tất cả phương tiện, tất cả trí huệ phước đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy, đều đã thành tựu đầy đủ, dứt trừ tất cả ác, dứt trừ tất cả phiền não, dứt trừ tất cả phiền não tập khí, thông đạt tứ đế, thập nhị nhân duyên, nơi cội bồ-đề hàng phục bốn ma thành tựu Nhất thiết chủng trí. Được tất cả chư Phật xướng lời khen lành thay! Lành thay! Đồng lấy nước trí pháp tánh rưới trên đỉnh pháp thân, mới thành vô thượng Bồ-đề. Do nhân duyên như vậy nên nay ta hiệu là Thiên nhân sư thập lực đẳng giác, Thế Tôn vô thượng, nhân gian thiên thượng không ai bằng, bình đẳng xem chúng sanh như La-hầu-la, do đó ta hiệu là Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

    Duyên giáo hóa thế gian đã xong, ta vì chúng sanh nên hôm nay thị hiện nhập Niết-bàn. Vì muốn cho chúng sanh khắp được cúng dường, nên ta theo pháp thế gian như vua Chuyển luân, mà tẩn táng cùng trà-tỳ.

    Tứ chúng nhân thiên đem xá-lợi của Như Lai đựng trong bình thất bảo xây dựng tháp thất bảo để cúng dường xá-lợi, có thể làm cho chúng sanh được công đức lớn, lìa khổ ba cõi đến vui Niết-bàn.

    Này A-nan! Hàng tứ chúng xây tháp thất bảo cúng dường xá-lợi của Phật rồi, lại nên xây ba thứ tháp để cúng dường: tháp Bích-chi Phật, tháp A-la-hán, tháp Chuyển luân thánh vương, vì muốn cho mọi người biết chỗ quy y vậy.”

    A-nan bạch Phật: “Đức Như Lai ra đời thương xót chúng sanh, hiển bày thập lực, đại bi, bốn vô sở úy, ba môn giải thoát, tứ đế, mười hai nhân duyên, tám thứ Phạm âm vang rền ba cõi, từ quang ngũ sắc soi khắp lục đạo, tùy thuận tâm nghiệp của chúng sanh mà chuyển pháp luân, có người chứng được bốn quả của Nhị thừa tu tập, hoặc chứng đạo Duyên giác vô lậu vô vi, hoặc nhập bậc Bồ-tát bất diệt bất sanh, hoặc được vô lượng đà-la-ni, hoặc được ngũ nhãn, hoặc được lục thông, hoặc thoát ba ác đạo, hoặc ra khỏi tám nạn, hoặc lìa khổ trời người ba cõi. Đức từ thanh tịnh của Như Lai, pháp môn giải thoát của Như Lai đều chẳng thể nghĩ bàn.

    Sau khi nhập diệt, hàng tứ chúng dựng tháp bảy báu cúng dường xá-lợi được công đức lớn, có thể làm cho chúng sanh thoát khổ ba cõi, được chánh giải thoát. Do nhân duyên này nên khi Phật nhập Niết-bàn, tất cả thế gian vì báo đáp từ ân vô lượng của Phật mà xây tháp thất bảo để cúng dường xá-lợi, theo lẽ phải như vậy. Ba thứ tháp kia có những lợi ích gì đối với chúng sanh mà đức Phật bảo dựng tháp cúng dường?”

    Phật nói: “Bích-chi Phật tỏ ngộ nhân duyên của các pháp chứng nhập pháp tánh, đã thoát tất cả khổ hoạn trong tam giới, có thể làm phước điền cho nhân thiên. Do đây nên xây tháp cúng dường Bích-chi Phật được phước đức kế nơi sự cúng dường Như Lai, có thể làm cho chúng sanh đều được diệu quả.

    Này A-nan! A-la-hán kia đối với ba cõi đã hết sanh tử chẳng thọ thân đời sau, Phạm hạnh đã lập có thể làm phước điền cho thế gian, nên xây tháp cúng dường được phước đức kế sự cúng dường Bích-chi Phật, cũng làm cho chúng sanh được nhân duyên giải thoát.

    Này A-nan! Chuyển luân thánh vương dầu chưa dứt phiền não, chưa giải thoát ba cõi, nhưng do phước đức mà cai trị bốn thiên hạ, đem pháp thập thiện giáo hóa nhân dân, là bậc tôn kính của mọi người, nên tứ chúng dựng tháp cúng dường, được phước đức cũng là vô lượng.”

    A-nan bạch Phật: “Sau khi Phật nhập Niết-bàn, hàng tứ chúng nên làm lễ trà-tỳ đức Như Lai tại chỗ nào?”

    Phật nói: “Sau khi ta nhập Niết-bàn, nếu tứ chúng làm lễ trà-tỳ ở trong thành Câu-thi-na này, người trong thành tất tranh giành đánh đập nhau, và cũng làm cho tất cả mọi người được phước chẳng đồng nhau. Nên tứ chúng phải làm lễ trà-tỳ ở ngoài thành, cho mọi người đều bình đẳng được phước.”

    A-nan bạch Phật: “Trà-tỳ xong, tứ chúng dùng bình báu để đựng xá-lợi, thời nên dựng tháp thất bảo ở tại chỗ nào để cho tất cả mọi người đều được cung kính cúng dường?”

    Phật nói: “Nên ở trong thành Câu-thi-na, nơi ngã tư đường mà xây tháp cao mười ba tầng, trước tháp có tướng pháp luân, phan lọng, lan can đều bằng thất bảo, bốn mặt tháp đều mở một cửa, từng lớp cửa nẻo xứng nhau an trí bình báu đựng xá-lợi của Như Lai trong đó cho tất cả trời người chiêm ngưỡng cúng dường.

    Tháp của Bích-chi Phật nên mười một tầng. Tháp của A-la-hán nên bốn tầng. Cũng đều dùng các thứ báu mà trang nghiêm.

    Tháp của Chuyển luân vương cũng xây bằng bảy báu nhưng không có tầng cấp, vì Luân vương chưa thoát khổ sanh tử trong ba cõi.”

    A-nậu-lâu-đà bạch Phật: “Khi trà-tỳ xong, tất cả trời người cùng bốn bộ chúng phân chia xá-lợi của Phật như thế nào?”

    Phật nói: “Nên dùng tâm bình đẳng phân chia xá-lợi của Phật khắp ba cõi để tất cả thế gian đều được cúng dường.”

    Thiên đế Thích-đề-hoàn-nhân bạch Phật: “Nay tôi xin cung kính thỉnh nửa thân xá-lợi của Như Lai để cúng dường.”

    Phật bảo Thiên đế: “Đức Như Lai bình đẳng xem chúng sanh như La-hầu-la, ông chẳng nên thỉnh nửa thân xá-lợi, vì phải để cho chúng sanh bình đẳng được lợi ích. Nay ta cho ông một cái răng nanh xá-lợi hàm trên bên hữu, có thể xây tháp cúng dường ở trên trời, làm cho ông được phước đức vô tận.”

    Lúc đó tất cả đại chúng trời người buồn thương rơi lệ không tự dằn được.

    Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng: “Khi Phật nhập Niết-bàn rồi, đại chúng chớ quá sầu não. Vì dầu Phật nhập Niết-bàn mà xá-lợi vẫn thường còn để cúng dường. Lại có những pháp bảo vô thượng, tạng Tu-đa-la, tạng Tỳ-nại-da, tạng Ma-ha đạt-ma, do đây Tam bảo và tứ đế vẫn thường trụ ở thế gian, làm chỗ quy y cho chúng sanh. Vì cúng dường xá-lợi tức là Phật bảo, thấy Phật bảo là thấy pháp thân, thấy pháp thân là thấy hiền thánh, thấy hiền thánh là thấy tứ đế, thấy tứ đế là thấy Niết-bàn. Do đây nên biết rằng Tam bảo thường trụ không biến đổi, có thể làm chỗ quy y cho thế gian.

    Đại chúng chớ quá sầu khổ. Nay ta ở đây sắp nhập Niết-bàn. Trong những pháp: quy y, giới luật, thường, vô thường, tam bảo, tứ đế, lục độ, mười hai nhân duyên v.v..., nếu ai có điều chi nghi phải mau thưa hỏi, đây là lời hỏi rốt ráo cuối cùng, để sau khi Phật nhập Niết-bàn không còn nghi hối.”

    Đức Phật phổ cáo trong đại chúng ba lần như vậy.

    Tất cả đại chúng không ai thưa hỏi, vì ai nấy đều thông đạt hiểu rõ không còn nghi ngờ.

    Đức Thế Tôn khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Đại chúng đã có thể thông đạt các pháp không còn nghi ngờ, như nước sạch rửa hết bụi nhơ nơi thân. Đại chúng phải tinh tấn sớm được giải thoát, chớ sầu não mê muộn loạn tâm.”

    Lúc đó đức Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, lấy tay vàng vạch y tăng-già-lê để lộ ngực huỳnh kim cho đại chúng thấy rồi bảo rằng: “Tất cả đại chúng trời người nên chí tâm nhìn xem sắc thân huỳnh kim của Như Lai!”

    Đại chúng chiêm ngưỡng sắc thân vàng ròng của Phật thảy đều sung sướng như Tỳ-kheo nhập đệ tam thiền.

    Sau đó đức Thế Tôn phóng vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức ánh sáng đại Niết-bàn chiếu khắp tất cả thế giới mười phương, che khuất ánh sáng của tất cả mặt trời mặt trăng.

    Phóng ánh sáng trên đây rồi đức Phật bảo đại chúng: “Mọi người nên biết rằng đức Như Lai vì tất cả đại chúng mà cần khổ trong nhiều kiếp, đến chặt tay chân lóc da thịt, đại bi đại nguyện thành bậc Vô thượng Chánh giác nơi đời ngũ trược này, được sắc thân kim cang bất hoại đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, vô lượng ánh sáng chiếu khắp tất cả. Ai thấy được hình, gặp được ánh sáng của Phật, đều được giải thoát cả.

    Này đại chúng! Phật ra đời rất khó gặp khó thấy như hoa ưu-đàm. Đại chúng gặp ta đây là lần sau cùng, đối với thân này chớ để luống qua. Do sức thệ nguyện mà ta sanh nơi cõi uế ác này. Duyên giáo hóa đã hoàn tất, nay ta muốn nhập Niết-bàn. Đại chúng nên chí thành nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta, cố gắng tu tập nghiệp thanh tịnh như vậy, đời vị lai sẽ được quả báo này.”

    Đức Thế Tôn ba phen ân cần khuyên bảo như vậy, đồng thời bày thân chân kim cho đại chúng thấy.

    Sau đó đức Phật từ trên giường thất bảo sư tử bay lên hư không cao bằng một cây đa-la, bảo một lần rằng: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta!”

    Lần lượt đức Phật bay trên cao bằng bảy cây đa-la, bảy lần bảo rằng: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta!”

    Từ hư không xuống ngồi trên giường sư tử đức Phật lại bảo: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta!”

    Đức Thế Tôn từ trên giường sư tử lại bay lên hư không cao bằng một cây đa-la, thời một lần bảo đại chúng, lần lượt bay cao bằng bảy cây đa-la, bảy lần bảo rằng: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta!”

    Từ hư không xuống ngồi trên giường sư tử, đức Phật lại kêu đại chúng mà bảo rằng: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem sắc thân huỳnh kim của ta!”

    Lần thứ ba, đức Thế Tôn cũng từ trên giường sư tử bay lên hư không cao bằng bảy cây đa-la, đồng thời cũng bảy lần bảo đại chúng như vậy. Từ hư không xuống ngồi trên giường thất bảo đức Phật lại bảo: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem nơi sắc thân của ta!”

    Đức Phật hai mươi bốn lần ân cần bảo đại chúng như vậy, rồi lại bảo rằng: “Ta sắp nhập Niết-bàn, đại chúng nên chí tâm nhìn xem sắc thân vô úy kim cang bất hoại của ta rất khó gặp gỡ như hoa ưu-đàm, như người quá khát gặp nước trong mát thời uống đến no không còn khao khát, đại chúng cũng phải như vậy, nên chí tâm chiêm ngưỡng sắc thân của Như Lai lần sau cùng, sau lần thấy này không còn thấy lại nữa. Đại chúng nên chiêm ngưỡng cho thỏa mãn để về sau khỏi ăn năn.

    Sau khi ta nhập Niết-bàn, đại chúng phải tinh tấn tu hành sớm ra khỏi ba cõi, chớ có giải đãi phóng dật tán tâm.”

    Lúc đó tất cả đại chúng trời người trong tất cả thế giới mười phương được gặp ánh sáng Niết-bàn, được chiêm ngưỡng đức Phật đều được giải thoát. Những chúng sanh được gặp được thấy đều được dứt hẳn tam đồ bát nạn, bốn tội trọng, năm tội nghịch, đến tất cả phiền não đều dứt hẳn không còn thừa.

    Sau khi lộ bày sắc thân huỳnh kim cho tứ chúng chiêm ngưỡng và ân cần khuyến cáo xong, đức Thế Tôn kéo y tăng-già đắp lại như cũ.

    Đoạn này chỉ là những câu hỏi khi sắp nhập Niết-bàn Phật tuần tự theo câu hỏi của ngài A-nan mà trả lời từng câu, về cách phải trà-tỳ nơi nào, phải tẩn liệm làm sao và xá-lợi Phật phải thờ cách nào v.v... Đoạn sau Phật bay lên hư không bảy lần, vạch ngực bày thân sắc huỳnh kim bảo mọi người ngắm cho kỹ, không để hối hận về sau. Phật đã nói rõ thân ba mươi hai tướng là do công đức tu hành, ba mươi hai tướng đều là nhân tu thiện, tu nhân nào thì được quả nấy. Bây giờ chúng sanh chiêm ngưỡng các tướng tốt đó, cố gắng tu thiện gọi là phát thiện tâm.

    Lại nữa đức Phật không kể gì đến thân, thấy thân là vô ngã, khi chết ngài lại nói cách thờ xá-lợi một cách kỹ lưỡng, liệm kỹ càng, phải có dầu thơm... là có ý nghĩa gì? Vì chúng sanh quen theo hình thức, thấy ai được tôn trọng, họ bắt chước hùa theo. Nếu Phật chết rồi, thiêu xong đổ xuống biển, họ tưởng Phật rất tầm thường. Phật dạy phải xây tháp, làm lễ phải long trọng, để họ biết là người đáng tôn đáng kính, phước đức vô lượng vô biên v.v... Họ sẽ tìm nguyên nhân Phật do tu thế này, do cứu giúp chúng sanh thế kia rồi họ bắt chước theo. Mỗi khi chúng ta đảnh lễ tháp của Phật, khởi niềm cung kính, thì bắt chước theo hạnh của Phật. Đó là gốc của phước đức. Nếu chúng ta bỏ hết thì không ai còn cơ duyên để nhớ tưởng đến Phật. Như trong gia đình, nếu người ta muốn con cái trở thành anh hùng liệt sĩ, thì họ phải trưng bày những hình anh hùng liệt sĩ trong nhà, để ghi sâu vào tâm trí con cái, lớn lên sẽ học đòi theo gương đó, đó là phương pháp giáo dục trẻ con.

    Phật biết tâm lý chúng sanh quá rõ, cái gì gợi lại còn nhớ, bỏ luôn họ quên, nên Phật bảo xây tháp ngã tư đường, tháp phải quý, phải cao để họ thấy, để họ có lòng quý trọng, đảnh lễ nhân đó phát tâm. Chùa chiền xây tháp thờ, tượng Phật đẹp v.v... cũng là duyên cớ gợi lên cho mọi người nhớ, để trong lòng có những ảnh tượng tốt, nghĩ về công hạnh đức Phật, đó là phước điền. Hiểu như vậy thì chúng ta biết ý lưu xá-lợi v.v... để thế gian tôn thờ là gây duyên lành cho những đời sau. Đó là lòng từ bi của Phật, lợi ích cho người hiện tại và cho cả người sau, chứ không phải vì muốn tôn trọng mình mà bảo thờ xá-lợi cho kỹ.

Mục lục

Thanh Từ Toàn Tập Quyển 9: Kinh Bộ Giảng Giải 9 - Kinh Đại Bát-niết-bàn Trích Giảng
  • 1. Đại Cương Kinh Đại Bát-niết-bàn
  • 2. Phẩm Thuần-đà
  • 3. Phẩm Ai Thán
  • 4. Phẩm Trường Thọ
  • 5. Phẩm Thân Kim Cang
  • 6. Phẩm Tứ Y
  • 7. Phẩm Tà Chánh
  • 8. Phẩm Tứ Đế
  • 9. Phẩm Tứ Đảo
  • 10. Phẩm Như Lai Tánh
  • 11. Phẩm Anh Nhi Hạnh
  • 12. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát
  • 13. Phẩm Di Giáo

Tìm kiếm

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 07480
  • Online: 15