Bản Chất Của Tâm
25/08/2026 | Lượt xem: 4
HT.Thích Thông Phương giảng tại Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng - Đà Lạt
Đề tài “Bản Chất Của Tâm” có ý nghĩa để tiến tu. Đề tài này có phần chuyên môn nên cần nghe kỹ, thấm sâu, để sống thật có ý nghĩa.
1. Tâm Là Gì?
Khi mọi người nghe nói đến tâm, ai cũng nghĩ đã hiểu rồi nên không để ý, nhưng sự thật chưa hiểu gì hết!
Chúng ta thường lăng xăng quay cuồng với cuộc sống, nên cứ hướng ra ngoài, đó là cuộc sống hướng ngoại. Nhưng không mấy ai biết tâm mình là gì? Biết cái này biết cái kia, biết đủ thứ bên ngoài, nhưng lại ít có biết về tâm. Nếu ai cũng biết đặt câu hỏi lại tâm là gì? Cũng còn có được chút tỉnh. Nếu không suốt ngày cứ lao theo cảnh bên ngoài, chưa biết tâm là gì?
Tuy nhiên khi hỏi: Tâm là gì? Tức là đang sống trong mê. Tâm mình mà không biết, lại còn phải hỏi. Khi hỏi tâm là gì đó là muốn nắm bắt lấy nó, nghĩ nó là một đối tượng gì đó để nắm lấy, lầm là chỗ đó. Theo thói quen, tâm này gọi là tâm chúng sanh, tâm phan duyên.
Thực tế tâm mà còn là gì nữa hay sao? Nếu lấy theo thế gian biết đặt câu hỏi đó cũng hay. Bởi những nhà trí thức thế gian cũng thường đặt câu hỏi để tìm hiểu cho biết. Thử hỏi tâm mình không biết nó là gì! Phải đặt câu hỏi nó là gì để biết.
Với người mắt sáng trong đạo, nếu tâm mà còn là gì nữa đó là đi xa rồi. Tâm mà còn là gì nữa tức không còn là tâm, mà nó là một vật hay là một đối tượng gì đó nên mới thấy.
Người thế gian có thói quen luôn muốn nắm bắt cái gì đó để hiểu, nên thường người ta hay đặt câu hỏi tưởng đâu như là hay, nhưng biểu lộ là đang sống trong mê. Người hiểu đạo khi nghe người đặt câu hỏi sai vẫn theo đó trả lời, là sai thêm nữa, tức là hai lớp sai.
Cho nên người sáng suốt khi nghe người đặt câu hỏi tâm là gì, phải đặt câu hỏi lại: "Theo anh hiểu tâm là cái gì mà còn hỏi là gì?" Phải hỏi lại, còn cứ theo đó trả lời là đi sai. Bởi đối với tâm, người đời muốn có chỗ để hiểu, để duyên tới, để nắm lấy. Còn người học đạo phải có cái thấy sáng suốt.
Người xưa có bài kệ:
Phật sống chẳng rời tâm,
Tâm, tâm chốn nào tầm,
Buông ra trùm pháp giới,
Thu lại chẳng đầy kim.
Ý nói Phật không ở đâu xa hết, Phật không rời ngoài tâm của người. Còn đã là tâm sao không có chỗ để tìm! Vì tâm ở nơi chúng ta, đâu có ở bên ngoài mà có chỗ để tìm. Muốn có chỗ để tìm là tâm của ai, không phải tâm mình. Tâm mình mà có chỗ để tìm là thuộc về cái của ai rồi, cái khác rồi, đó là chỗ lầm.
Tâm thật khi "buông ra trùm cả pháp giới, nắm thu lại không đầy mũi kim", bởi nó không có hình tướng, không thành một vật, hay một đối tượng để nắm bắt. Người học cần phải tỉnh chỗ này, chớ có lầm theo thói quen suy nghĩ lâu nay bám theo cảnh bên ngoài. Cũng như không phải nghe nói tâm liền cho đã hiểu, chỉ mới chữ tâm còn chưa thấu suốt. Học đạo là phải thấu tột đến cái thể của tâm, không phải chỉ phân biệt trên cái tên, cái chữ, đó là chỗ quan trọng chúng ta cần phải nắm lấy.
Thứ hai, tâm chỉ cho một chữ Biết. Quan trọng là thấu qua một chữ Biết. Khi nói đến cái biết, có thể mỗi người nghĩ là quá thông thường, vì ai cũng cho là mình có biết, tại sao cần phải hiểu nữa! Mỗi ngày đều gặp nó trên giường ngủ, trong nhà bếp, bàn ăn, nhà tắm, trong khi chuyện trò hoặc trong sách vở, trong giao tiếp... đâu có gì xa lạ.
Tuy nhiên, nếu thử đặt câu hỏi lại có ai thật sự một lần chạm đến nghĩa biết này chưa? Đó là chúng ta chỉ hiểu quen trong cái tưởng trên chữ, còn một lần chạm thẳng vào nó thì ít có ai. Vì nếu đụng thẳng vào nó dù một lần chắc là khỏe lắm! Đây là điểm quan trọng cần phải quan tâm.
Xét kỹ vấn đề này cũng giống như sóng và nước. Thường người ta thấy sóng khác với nước, sự thật sóng cũng từ nước vươn lên, rồi vẫy vùng ở trong nước, lặn hụp ở trong nước, nên sóng cũng là nước. Nhưng người thường có có ảo giác giống như sóng với nước là hai thứ, chúng ta sống đây cũng vậy.
Sóng từ nước vươn lên rồi vẫy vùng trong nước, lặn hụp trong nước, nhưng lẽ thật sóng lại chưa từng gặp nước bao giờ.
Cũng vậy, chúng ta từ ở trong nước tâm mà dậy thành những làn sóng biết, biết này, biết kia, buồn vui, thương ghét, biết hơn thua phải quấy, v.v…, đó là những đợt sóng từ nước tâm vươn lên, đâu có rời ngoài tâm có.
Khi nó vươn lên thành những làn sóng biết rồi cứ theo đó rượt đuổi bên ngoài, nên cũng chưa một lần bắt gặp được thể biết của nước tâm. Hiện tại học đạo rồi mới thấy, hầu hết con người đều đang sống trong mê, sống theo cái biết hư vọng sanh diệt như những làn sóng.
Thường mọi người thấy như có lượn sóng lớn có lượn sóng nhỏ, giống như có sanh có diệt, nhưng sự thật sóng có lớn có nhỏ, có sanh có diệt gì đâu! Cũng bấy nhiêu nước đó rồi nổi lên nổi xuống, đâu có lớn nhỏ gì, cũng đâu có gì sanh diệt.
Do người ta nhìn làn sóng rồi có cảm giác như là có sanh có diệt, có lớn có nhỏ; lượn sóng này qua rồi lượn sóng sau tiếp nối giống như có trước có sau. Sự thật, đó giống như ảo giác cũng nhiêu nước đó, không có trước có sau gì cả.
Cũng vậy, chúng ta sống đây với những cái biết từ trong nước tâm dậy lên, giống như có sanh có diệt, có trước có sau, thật ra cũng từ một tâm. Người học đạo là phải thấy được cái thể đó.
Đối với người thế gian nhiều khi thấy mình biết nhiều, sáng suốt, mình trí tuệ, v.v…. Nhưng với con mắt của Phật xem như chưa biết gì hết. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói: “Chúng sanh sống trong nghèo cùng không trí tuệ”. Mặc dù ở ngoài thế gian có thể là trí tuệ bác học chẳng hạn, nhưng với con mắt của Phật cũng là nghèo cùng không trí tuệ. Vì biết cái này biết cái kia quá nhiều, nhưng không biết được tâm mình, rõ ràng là thiếu trí tuệ.
Do đó, nhìn theo bên ngoài có thể chúng ta biết rất nhiều, biết đủ thứ chuyện trên đời, có lúc biết đầy cả đầu óc. Có nhiều người học nhiều quá, biết nhiều quá mà chứa không hết thành điên. Trong khi cái biết đó là cái biết theo duyên, có duyên thì biết, mà không duyên không biết. Cũng như có suy nghĩ thì biết, không suy nghĩ thì không biết. Chỗ sống của người đời là vậy, hễ có suy nghĩ thì có biết, không suy nghĩ thì không biết.
Những vị tu tập ngồi thiền có khi tâm yên không suy nghĩ thì hoảng, như là mất mình, vì nó không suy nghĩ nên không có chỗ duyên. Đó là những chỗ lầm của người thế gian.
Trong triết học Tây Phương hay dẫn câu của ông Descartes nói rằng: “Vì tôi tư duy nên biết có tôi”. Nhưng đối với con mắt nhà Phật, câu nói đó chưa phải là chân lý. Vì khi không tư duy thì sao? Không có tôi!
Rõ ràng thấy theo tâm sanh diệt, hễ có tư duy thì có tôi, không có tư duy xem như không có tôi, đó là lầm mê. Sống với tâm theo duyên, tâm sanh diệt, lặn hụp theo những lượn sóng biết trồi lên lặn xuống. Khi nó nổi lên thì có, hụp xuống thì cho là không có, sự thật hụp xuống cũng là mặt nước đó, quên mất mặt nước hiện tiền vẫn luôn luôn còn đó, chưa từng mất bao giờ.
Cho nên, chúng ta không nên lệ thuộc theo những tướng nổi chìm của những lượn sóng đó, để che lấp chính mình. Tánh biết vẫn thường hằng, không vì theo duyên mà thành có thành không. Cũng như tánh nước vẫn thường đó, không có theo những lượn sóng mà thành có thành không, phải thấy được điều đó. Đây là chỗ cần phải sáng tỏ để không lầm mê, học đạo là khéo quán kỹ chỗ này.
Ngài Nam Tuyền khai thị cho Ngài Triệu Châu Tùng Thẩm rằng: “Biết là vọng giác, còn không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì không còn nghi, cũng ví như hư không thênh thang, rỗng rang, đâu thể nói là phải hay quấy”.
Ngài nói biết là vọng giác, còn không biết là vô ký, cả hai đều lầm hết. Biết là vọng giác có nghĩa trên cái biết rồi thêm cái biết, đó là vọng giác. Thí dụ nhìn cây đèn liền biết nhưng lại khởi tưởng thêm niệm phân biệt trên đó, gọi là trên cái biết sanh thêm cái biết, đó là vọng giác. Còn không biết gì hết là vô ký, lờ mờ. Người học đạo phải vượt qua hai tình trạng trên. Vì vậy, mới nói giống như hư không rỗng rang thênh thang không nghi ngại, dù có duyên hay không duyên vẫn thường sáng.
Đây là chỗ thường tỉnh sáng của người tu thiền, lúc nào cũng thường biết, không mê. Thí dụ như có tưởng thì biết có tưởng, còn không có tưởng biết không có tưởng. Như vậy cái tưởng khi có, khi không, còn tánh biết xưa nay vẫn luôn luôn hiện hữu, không phải theo cái tưởng mà thành có, thành không.
Đa số mọi người sống đều nghĩ có tưởng thì có, không tưởng thì không có, nên bị nó dẫn đi hoài. Chúng ta ngồi thiền bị vọng tưởng dẫn đi cũng như thế, do đồng hóa mình với cái tưởng, khi nó tưởng cứ theo nó mà đi. Ngồi đây mà chạy xuống tới miền Tây, trong khi nó chỉ là cái tưởng, nó đi đâu đi còn mình vẫn ngồi đây, khi nó không còn mình cũng vẫn ngồi đây. Còn cứ theo nó đi, khi hết tưởng thì chới với, đó là bị tưởng làm che mờ. Phải nhớ rõ tánh biết xưa nay chính mình vẫn luôn hiện hữu, không theo đối tượng mà thành có thành không.
Nhân đó, chúng ta càng rõ được lối tu thiết thật ngay trong cuộc sống hằng ngày. Khi nhìn cành hoa biết rõ là cành hoa, không lầm. Nhìn cái nhà, chiếc xe cũng biết rõ đó là cái nhà, chiếc xe cũng không lầm; nên cái nhà, chiếc xe có mất cũng không sao. Nhìn người đi, nhìn thú chạy cũng biết rõ người đi, thú chạy nhưng không lầm. Nghe tiếng cũng vậy, nghe tiếng chim, nghe tiếng nhạc cũng biết rõ nghe tiếng chim, nghe tiếng nhạc mà không lầm. Ứng dụng luôn luôn lúc nào cũng biết, lúc nào cũng tỉnh sáng; cho đến vào bếp ngửi mùi cơm canh, cũng biết rõ mùi cơm canh mà không lầm. Đó mới là làm chủ.
Được vậy, khi đọc sách thiền, đến Ngài Linh Vân thấy hoa đào nở liền ngộ đạo thì không nghi. Rõ ràng đó chứ có gì đâu! Ngài Hoàng Bá gọi ông Bùi Hưu, ông “Dạ” xong liền tỉnh, thì cũng rõ ràng thôi, đều sáng tỏ lẽ thật này không gì nghi ngờ.
Nhờ vậy, chúng ta cũng không còn nghi chỗ Hòa Thượng dạy về Chơn Tâm Hiện Tiền. Ngài nói Chơn Tâm Hiện Tiền là biết thấy, biết nghe, biết ngửi..., lúc nào cũng tỉnh sáng rõ ràng, gọi là đi thẳng vào tánh thể không quanh co.
Chúng ta biết vọng là còn thấy theo tướng sanh diệt. Biết cái này là vọng, cái kia là vọng, đó là theo sanh diệt, phải nhận lại cái biết luôn luôn hiện hữu. Còn nói về Chơn Tâm Hiện Tiền là đi thẳng vào nó, lúc nào nó cũng hiện tiền, mấy cái kia có lên có xuống mặc kệ. Nắm vững vậy không có nghi ngờ.
Nhiều vị không hiểu rồi nghi sao lúc xưa Hòa Thượng dạy Biết Vọng, giờ nói Chân Tâm Hiện Tiền giống như ngược nhau. Sự thật hiểu rõ thì không thấy ngược. Người hiểu đạo phải thấy được chỗ nhắm của người xưa hay của bậc thầy, không lầm không bị người chuyển, vậy mới đúng là người thật sự có niềm tin.
Giống như Ngài Đại Mai, lúc nghe Mã Tổ nói “Tức tâm Tức Phật”, Ngài tỉnh ngộ về núi tu. Sau Mã Tổ sai người đến thử, nói rằng giờ Mã Tổ không nói vậy nữa, Mã Tổ nói là “Phi tâm Phi Phật”. Ngài nói: Mặc cho ông già đó làm loạn thiên hạ, tôi chỉ biết “Tức tâm Tức Phật”. Đúng là có niềm tin chắc chắn.
Còn người không có niềm tin, nghe vậy liền nghi ngờ sao ông thầy nói mâu thuẫn, hồi nói vầy hồi nói khác. Người học đạo nếu chưa đủ niềm tin, lâu lâu nghe ở trên núi Cấm, có ông thầy nào mới xuất hiện nói hay cũng chạy theo, đó là vì chưa đủ niềm tin. Còn người đủ niềm tin rồi có nói gì nói cũng nhiêu đó, nếu ngoài đó đi riêng là thành cái khác rồi. Đó là một ý nghĩa để nhắc cho tất cả phải thấy để nắm vững, không lầm.
2- Ý Nghĩa Của Tâm
Tâm đầy đủ ý nghĩa tịch mà chiếu hay tịch mà tri, không nghiêng lệch một bên. Thấu rõ được chỗ này tu không lầm. Nếu chỉ nghiêng trên cái biết là có tri mà không có tịch là động, động là theo duyên. Còn nghiêng một bên tịch là lặng lẽ mà không biết, lờ mờ là tịch mà thiếu sáng suốt, thiếu sáng suốt có khi ngồi thiền một lúc là gật đầu với Phật. Do đó, phải đầy đủ hai nghĩa lúc nào cũng sáng, biết rõ ràng nhưng lặng lẽ. Biết mà lặng lẽ là đâu có bị duyên chi phối. Còn lặng lẽ mà biết rõ ràng đâu có lờ mờ. Thấy đủ hai nghĩa đó ngồi thiền là sáng suốt.
Câu chuyện của Thầy Tri Viên hỏi Thiền sư Duyên Quán: “Khi giặc nhà khó giữ thì sao?”.
Thiền sư Duyên Quán đáp:
- Biết được chẳng phải là oan gia.
Giặc nhà khó giữ là gì? Chỉ cho những vọng tưởng phân biệt, là giặc ở trong không phải bên ngoài đến, làm chúng ta bất an, tâm bất an giống như giặc. Chúng ta cứ tưởng nó từ đâu phát sinh nên cố để dẹp, không ngờ nó cũng từ ở trong tâm hiện.
Vọng tưởng cũng từ tâm hiện, đâu có ngoài tâm có. Kiểm lại cho thật kỹ ngoài tâm làm sao có vọng tưởng! Đất, nước, gió, lửa có thể sanh vọng tưởng được không? Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh vọng tưởng được không? Mấy cái đó làm sao sanh vọng tưởng được!
Từ tâm khởi mà còn khởi thêm nên là vọng. Đã là vọng nên nó không có thật tánh. Giống như nước dậy sóng nên sóng đâu có thật, vì nó cũng là nước. Do đó, chỉ ngay cái thấy nghe, hiểu biết của chúng ta hiện tại không đâu khác, nếu sanh thêm cái biết nữa liền thành tà, thành vọng tưởng, gây rắc rối.
Cũng ngay cái thấy nghe, hiểu biết này mà chúng ta soi trở lại để không sanh thêm cái biết theo duyên, ngay đó liền ngộ tri kiến Phật. Tri kiến Phật là cái thấy biết giác, cái kia thấy biết là thấy biết vọng. Cái trước là tri kiến chúng sanh nếu chuyển lại thành tri kiến Phật, không rời đâu khác, không ngoài đây riêng có, cũng như sóng không ngoài nước. Vì vậy, biết được nó cũng là việc trong nhà, không phải oan gia.
Ông Tăng hỏi thêm:
- Sau khi biết được thì sao?
Thiền sư Duyên Quán đáp:
- Liền biến đến nước vô sanh.
Biết được liền biếm đến nước vô sanh. Biết được là nó không có ai khác, không có gì từ bên ngoài xen vào, liền buông không theo duyên thì tâm tự dừng lặng, an trụ vô sanh.
Trước là do vọng tưởng nên chúng ta tưởng có gì bên ngoài, nên cứ vọng tưởng theo duyên. Giờ biết được nó không phải từ bên ngoài mà từ tâm sanh, buông không còn theo duyên nữa tự nó dừng lại an trụ vô sanh. Do sợ người mắc kẹt trong chỗ vô sanh, lầm vô sanh là một thế giới riêng biệt cách với thế giới bên ngoài. Nghĩ thế giới bên ngoài là động, thế giới vô sanh là thế giới im lìm bên trong, thành có hai thế giới cách biệt nhau, sẽ bị chìm trong chỗ lặng lẽ im lìm, không biết gì đối với cảnh bên ngoài. Đó là lầm lẫn. Như vậy là thiếu sức sống nhiệm mầu, sáng suốt, lấp bít con đường trí tuệ viên thông, vô sanh mà không biết gì là thiếu trí tuệ.
Ông Tăng hỏi thêm:
- Nước vô sanh đâu phải là chỗ an thân lập mạng?
Thiền sư Duyên Quán đáp:
- Nước chết không chứa được rồng.
Chỗ đó chưa phải là chỗ chúng ta an trụ. Đó là chỗ nước chết, mà nước chết không có chứa được rồng. Rồng là phải bay lên trời làm mây làm mưa, đâu phải chết cứng chỗ đó.
Thiền sư Duyên Quán cảnh tỉnh những chỗ lầm cho có một bên vô sanh, là chỗ im lìm không biết gì phía bên ngoài, đó là nước chết.
Thường thường người tu thiền ban đầu hay mắc kẹt chỗ đó. Vì tâm động quen nên khi ngồi thiền, ai cũng muốn cho tâm yên mà không biết gì về nước chết. Thiền đúng là im nhưng mà biết, sáng suốt không phải im mà không biết gì, nhớ kỹ điều đó!
Bởi vì thường khi thấy tâm yên là sung sướng nên cho nó im luôn, là không sáng suốt. Đây Ngài ngăn để chúng ta không bị cái lầm đó, không chết cứng trong chỗ vô sanh im lìm thiếu trí tuệ.
Ông Tăng hỏi thêm:
- Vậy thế nào là nước sống mà chứa rồng?
Ngài đáp:
- Dậy mồi mà chẳng thành sóng.
Dù nước nổi dậy nhưng không thành sóng mới thật. Dậy sóng mà không thành sóng, trong động mà không động mới là thật. Còn bỏ động để không động nhưng gặp cái động liền động trở lại, là chưa phải. Còn ở ngay trong động mà không động mới thật gọi là dậy sóng mà không thành sóng.
Dù ở trong chỗ động vẫn không theo đó để thành biến đổi, khiến đánh mất chỗ bất động kia, vậy mới thật có sức làm chủ ở trong động.
Ông Tăng hỏi thêm:
- Vậy bỗng khi đầm nghiêng, núi đổ thì sao?
Thiền sư Duyên Quán bảo:
- Chớ nói ướt góc ca-sa của lão Tăng.
Dù cho gặp cảnh đầm nghiêng, núi đổ mà vẫn không dính dáng gì, đây mới thật tự tại ở trong động. Ở trong sanh diệt mà chưa từng động đến chỗ chân thật đó mới là thật, vậy mới luôn sáng ngời, không có gì che hết.
Đôi khi ở trong chỗ im lìm đó là sáng, nhưng gặp động, sấm chớp ầm ầm là hết sáng. Bình thường ngồi trong thiền đường là sáng, nhưng ra ngoài gặp ai nói động là hết sáng, đó chưa phải thật. Đây dù cho gặp cảnh bức ngặt mà vẫn không mất, vẫn sáng ngời mới là thật, vậy mới đúng là một cái biết luôn luôn sáng ngời suốt qua cả động và tịnh, trong động cũng sáng mà trong tịnh cũng sáng, vậy mới là cái biết thường sáng gọi là thường biết.
Ngài Động Sơn khi sắp tịch có chút bệnh, một ông Tăng đến thăm và hỏi:
- Hòa Thượng bệnh, có cái chẳng bệnh không?
Ngài Động Sơn đáp:
- Có.
Ông Tăng hỏi:
- Cái chẳng bệnh đó có thấy Hòa Thượng hay không?
Ngài đáp:
- Lão tăng xem y có phần.
Tăng lại hỏi thêm:
- Chưa biết Hòa Thượng làm sao xem y?
Ngài đáp:
- Khi lão Tăng xem chẳng thấy có bệnh.
Đây là chỗ sống chân thật, vượt qua cả động tịnh. Trong bệnh, nhưng Ngài cũng thấu được cái không bệnh, vậy là trong động mà không động. Tuy bệnh nhưng có cái không bệnh, Ngài vẫn xem y có phần, không có dính dáng gì đến bệnh. Vậy chết là cũng thân này chết, không dính dáng gì cái kia, vì nó là không bệnh, còn bệnh là thân này.
Nếu người khi gần chết mà nhớ được vậy là tốt. Nhớ chết là cái thân này chết, còn cái kia không chết nên đâu có sợ. Do đó, Ngài Động Sơn chẳng thấy có bệnh hay nói gọn hơn Ngài chẳng thấy có chết, chết chỉ là cái thân này. Tâm sáng tỏ không phải lo sợ, vẫn thường biết rõ ràng mà không rơi vào sanh diệt, không có đồng hóa nó với bệnh, đó là chỗ sáng suốt.
Chúng ta học để nhận rõ rằng mỗi người còn có chỗ cao quý như vậy, không phải chỉ có bao nhiêu đây thôi. Thường đa số người thế gian chỉ biết có nhiêu đây, học đạo rồi mới thấy cái biết của mình lâu nay còn rất hạn hẹp, còn có nhiều cái chưa biết tới mà vẫn tự hào. Còn nhiều điều vẫn chưa biết tới, vậy nói gì đến cảnh giới Phật.
Để thấy cái biết của chúng ta còn rất hạn hẹp, và chúng ta có thêm niềm tin là trong mỗi người còn có cả một kho tàng chưa biết tới. Vậy bỏ bớt những cái này thấy có tiếc gì đâu!
Đây muốn nhắc cho tất cả thấy chỗ vi diệu, chỗ không thể nghĩ bàn của cái biết. Chúng ta cần phải thấy đến nghĩa sâu xa này, không phải chỉ dừng trên ngôn ngữ, văn tự cho là đủ thì chưa phải. Biết đó mới là cái tưởng biết, chưa phải là thật biết.
Trong Kinh A Hàm, Phật chia ra Tưởng tri và Thắng tri. Cái biết thông thường của chúng ta chỉ là Tưởng tri, chưa phải cái biết Thắng tri là cái biết thù thắng. Cái biết thù thắng vượt qua cả cái biết và không biết, vậy mới thấu được bản chất thật của tâm.
Học rồi nghiên cứu kỹ, sẽ thấy sáng tỏ nhiều về con đường chúng ta đang đi. Con đường học Phật là con đường mở sáng trí tuệ, có sáng trí tuệ mới thấy được những mê lầm, thấy được những lẽ thật và có sức sống vươn lên.
3- Tóm Kết
Tóm lại, nói bản chất của tâm là nói theo ngôn từ của thế gian, hay lẽ thật của quy ước, ngôn ngữ quy ước phổ thông. Vì người thế gian nghe nói gì cũng phải có tướng, có bản chất. Chúng ta cũng theo ngôn ngữ quy ước đó nói về bản chất của tâm, để gợi ý cho mọi người đi sâu vào. Thật ra tâm mà có bản chất hay sao? Nếu tâm có bản chất nó thành ra một vật gì rồi đâu còn là tâm. Vật mới có bản chất.
Thí dụ như bản chất của cái ly là sanh, còn tâm mà có bản chất sao? Nhưng nói bản chất của tâm là để cho người ta đi sâu vào vấn đề, không phải hời hợt trên chữ nghĩa, đó là gợi ý bằng ngôn ngữ quy ước không phải là lẽ thật. Học đạo phải hiểu được như vậy, không phải nghe nói bản chất của tâm nghĩ rằng tâm có bản chất, nên lầm theo ngôn ngữ. Người học đạo là phải thấy được điều đó.
Ở chùa, trong thời công phu khuya trong bài tựa Kinh Lăng Nghiêm có tụng: “Nhị đế dung thông tam-muội ấn”. Nhị đế là Tục đế và Chân đế. Tục đế là chân lý tương đối, nói về những ngôn ngữ quy ước, là chân lý nhưng thuộc về tương đối, phổ thông. Còn Chân đế là chân lý tuyệt đối. Những điều nêu đây thuộc về Tục đế là ngôn ngữ quy ước. Phải tạm nói vậy để biết là còn có một cái gì đó, vượt ngoài ý thức không phải chỉ dừng ở đó.
Nói bản chất của tâm nhưng thật ra tâm không có bản chất. Tâm vốn không là cái gì hết, bất đắc dĩ phải nói tâm không là gì, có là gì là không phải nó. Nếu có một bản chất gì, nó không còn là tâm chân thật, là một lớp vọng nữa. Đây chỉ tạm gợi ý bản chất của tâm là Biết, cho mọi người tỉnh trở lại. Nếu không nói gì thì đâu ai biết nên phải tạm nói để gợi ý, nhưng người học phải biết đạt được ý không chấp theo lời.
Thấy được chỗ này, sẽ hiểu rõ thêm ý nghĩa quan trọng của sự tỉnh sáng trong nhà thiền. Nói thường biết là để nói luôn tỉnh sáng, biết rõ ràng không mê. Các Thiền sư thường hay nhắc: “Các ông nếu tạm thời rời việc này trong giây lát, cũng giống như là người chết rồi”, nếu tạm thời rời việc này trong giây lát, cũng giống như người chết rồi.
Cũng vậy, chúng ta sống mà quên cái này giây lát, là thiếu mất sức tỉnh sáng giống như người chết, sống mà như chết. Còn có sức tỉnh sáng này mới đúng thật là sống, sống mà có tỉnh sáng đàng hoàng, còn không, sống cũng như chết, gọi là thây ma nhưng biết cử động, khi hết cử động là trở lại thây ma. Còn có sức sống này mới có ý nghĩa, không thể thiếu mất cái biết sáng suốt thấu cả xưa nay.
Đó là một sự tỉnh sáng chân thật, sự tỉnh sáng này nói thẳng ra là không ai có thể truyền được, cũng không có ngòi bút nào ghi chép được, hay đi đâu để cầu người truyền cho sự tỉnh sáng này. Phật, Tổ cũng chỉ gợi ý cho mọi người tự mình nhận lại, còn Phật, Tổ không có truyền cho được cái này. Kinh điển cũng không ghi được cái này. Cả thời đại vật chất văn minh điện tử hiện nay, những máy móc siêu điện tử cũng không ghi được cái này. Hiểu được rồi cần phải quay trở lại.
Khi học thiền chạy đến các Ngài để hỏi, để cầu muốn biết, nhưng thường được các Ngài trả lời không biết. Hoặc nếu từ bi hơn nữa sẽ bảo tha cho ông ba gậy. Tức là để nhắc cho ông tỉnh trở lại, cái đó là ở ngay nơi ông không phải ở bên ngoài mà cầu. Làm sao các Ngài đem cho được! Nên các Ngài nói không biết để chỉ cho ông phải tự biết, phải soi trở lại.
Câu chuyện ông Tăng ở Tân La sang tham học, bị Ngài Đức Sơn đánh.
Một hôm giờ tối tham thiền, Ngài Đức Sơn ra lệnh trong chúng: “Hôm nay trời tối cấm không ai được thưa hỏi, nếu ai thưa hỏi sẽ bị ăn ba gậy”.
Có ông Tăng liền bước ra lễ bái, như trình kiến giải. Mới lễ bái chưa đứng dậy là bị đánh ba gậy, ông thắc mắc nói:
- Bạch Hòa Thượng! Hòa Thượng nói là hôm nay ai thưa hỏi sẽ bị ăn ba gậy, nhưng con mới lễ chưa thưa hỏi, sao Hòa Thượng đánh con?
Ngài Đức Sơn hỏi lại:
- Ông là người ở đâu, ở xứ nào vậy?
- Ông nói:
- Ở xứ Tân La. (Tân La tức là Triều Tiên)
Ngài Đức Sơn nói:
- À! Như vậy khi ông chưa bước chân xuống thuyền là đã đáng ăn ba gậy rồi, huống nữa tới đây lễ.
Từ bên kia chạy qua bên đây cầu, đó là đáng ăn gậy rồi. Các Ngài muốn nhắc chúng ta phải quay trở lại chính mình, cái này không thể cầu bên ngoài, không ai có thể cho mình được, không ai truyền cho mình được, chỉ là gợi ý. Nếu là người lanh lợi nghe nói thí dụ không biết, ngay đó phải chuyển trở lại từ cái không biết thành tự biết, là chuyển hóa được cuộc đời mê lầm của mình.
Như vậy, nghĩa Biết ở đây là phải tỉnh sáng. Nói Biết là nhằm vào chỗ tỉnh sáng sâu xa ở trong tự tâm của mỗi người, chúng ta sống trở lại chỗ này sẽ sáng tỏ được bản chất của tâm không lầm, hay không cần phải giải thích bằng chữ nghĩa, vì giải thích bằng chữ nghĩa cũng không giải thích hết được. Đó chính là chỗ trở về cội nguồn của tất cả chúng sanh, mong rằng mỗi người khéo học kỹ để sáng tỏ được cội nguồn này, vươn lên khỏi cái biết lầm mê nhiều đời. Cũng thật sự là người sống có tâm, không phải chỉ trên ngôn ngữ hay chữ nghĩa. Cũng như để thấy rằng sự lầm mê lâu nay của mình, sự hiểu biết lâu nay của mình còn rất hạn hẹp, còn nhiều chỗ chưa biết tới.
Đây dẫn một đoạn trong Nguồn Thiền của Ngài Khuê Phong để sáng tỏ thêm: “Giả sử có người hỏi nghe nói lóng lặng thì trong, lẫn lộn đó thì đục, còn để yên đó thì dừng, quậy đó thì chảy. Nó hay thấm nhuần vạn vật, rửa sạch tất cả ô uế, đây là vật gì?”.
Liền đáp đó là nước. Người đời thấy nhiêu đó coi như đủ rồi. Nhưng đây đối với Ngài nói vậy là chưa hiểu.
Ngài nói rằng: “Người ngu nhận danh bèn cho là đã hiểu. Nhưng người trí lẽ nên còn phải hỏi lại rằng thế nào là nước?”. Nghe nói là nước cho hiểu rồi, nhưng với người trí còn phải hỏi thêm câu nữa thế nào là nước, không phải nghe nói nước xem như hiểu rồi, mới hiểu cái danh thôi.
Cũng như chúng ta nghe nói tâm mới là cái danh. Thế nào là tâm? Đa số người thường nghe nói tâm xem như hiểu rồi, đó là chỗ lầm. Nên Ngài nói với người trí, lẽ nên phải hỏi rằng thế nào là nước? Đáp ướt tức là nước. Nước chỉ mới là cái tên, cái danh thôi.
Phật pháp cũng như vậy, giả sử có người hỏi: Trong các kinh nói: "Mê đó thì cấu, ngộ đó thì tịnh; buông lung theo đó lầm thì phàm, tu hành đó thì thánh. Hay sanh tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, đây là vật gì?" Đáp là tâm.
Người ngu liền nhận danh nghe nói tâm cho là hiểu rồi, nhưng sự thật mới hiểu được cái danh. Còn người trí lẽ nên phải hỏi lại thế nào là tâm? Đáp chữ tâm mới là cái danh, biết mới là tâm.
"Lấy đây mà xét thì danh là thể của nước, mỗi cái chỉ một chữ, ngoài ra đều là nghĩa dụng. Danh thể của tâm cũng vậy, một chữ ướt gồm thâu trong, đục”. Một chữ ướt gồm thâu cả trong cả đục, cả dừng cả chảy, v.v…, muôn dụng muôn nghĩa thâu hết trong đó. Một chữ Biết cũng gồm thâu cả tham, sân, từ bi, nhẫn nhục, thiện, ác, khổ, vui, muôn dụng muôn nghĩa nơi đó.
Người học thiền thời nay đa số nghi "Tổ Đạt Ma chỉ nói Tâm, còn Hà Trạch sao lại nói Biết?". Ngày xưa Tổ Đạt Ma chỉ nói Tâm truyền Tâm, gọi là "Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Tại sao đến Ngài Hà Trạch tức ngài Thần Hội, lại nói thêm là Biết nên có người nghi?
Cái nghi này đâu có khác gì người nghi khi nghe nói trong giếng có nước. Tại sao giờ lại chợt biết là trong giếng lại ướt? Nghi vậy là chưa sáng suốt. Vậy là chỉ chấp vào danh, nên nghe nói tới cái thể lại không biết, cái nghi đó là thiếu sáng suốt.
Cũng như Ngài nói trước sao nghe nói Tâm, giờ nghe nói Biết giống như là ngược nhau. Suy nghĩ đó cần phải ngộ được nước là danh không phải ướt, ướt là nước không phải danh, thế là trong, đục, nước, sóng, ngừng, chảy, v.v…, không nghĩa nào mà chẳng suốt.
Rõ được thể ướt của nó là gồm thâu hết những nghĩa như là trong, đục, nước, sóng, ngừng, chảy... Tâm là danh không phải biết, Biết là tâm không phải danh, thế là chơn vọng, cấu tịnh, thiện, ác, không nghĩa nào mà chẳng thấu suốt qua hết. Một nghĩa Biết là suốt qua hết tất cả, mới là thấu được cái thể.
Quán kỹ để thấu rõ, không phải nghe nói tâm là hiểu rồi, đó mới chỉ cái danh, phải hiểu rõ thế nào là tâm. Cũng như thấu được nghĩa Biết trong đó, biết rõ ràng như thế nào mới thấu được bản chất của tâm. Được vậy sẽ thấu suốt qua hết những nghĩa chơn, vọng, thiện, ác không còn nghi, Chưa thấu được cái thể, nghe những cái tên sai liền nghi ngờ.
Làm sao khéo nhận rõ lẽ thật của tâm nơi chính mình. Đó là việc quan trọng nhất trong cuộc đời. Thường ở đời lo quan trọng thân này, nhà cửa, sự nghiệp... nhưng những thứ đó tắt thở là bỏ hết, còn chính cái Tâm này mới là quan trọng mà ít ai để ý.
Học đạo thấy được Tâm này mới là quan trọng. Chúc tất cả khéo học kỹ thấu suốt được lẽ thật này, để luôn luôn Rõ Ràng Thường Biết không mê, đó là đủ./.
Các bài mới
- Trở lại nguồn tâm - 13/08/2026
- Học Thiền Như Thế Nào - 21/07/2026
- Cùng Tử Nhận Lại Cha - 20/06/2026
- Lời khai thị đầu hạ 2026 (Phần 02) - 02/06/2026
- Lời khai thị đầu hạ 2026 (Phần 01) - 30/05/2026
Các bài đã đăng
- Yếu chỉ minh tâm - 22/04/2026
- Lời Sách Tấn Tại Lễ Tự Tứ 2025 - 11/09/2025
- Sống Trở Về - 02/09/2025
- Cửa thiền hé mở - 05/07/2025
- Lời Nhắc Nhở Mùa An Cư - 29/05/2025
Pháp Thoại
Video giới thiệu
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
Tìm kiếm
Sách mới
- Thanh Từ Toàn Tập - Quyển 14: Luận Bộ Giảng Giải 3 - Phật Thừa Tông Yếu Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 13: Luận Bộ Giảng Giải 2 - Đại Thừa Khởi Tín Luận, Thập Nhị Môn Luận Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 12: Luận Bộ Giảng Giải 1 - Trung Luận giảng giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 11: Kinh Bộ Giảng Giải 11 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 02)
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 10: Kinh Bộ Giảng Giải 10 - Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Tập 01)
Tin mới
Đọc nhiều
Ảnh đẹp
Lịch
Thống kê truy cập
- Lượt truy cập: 18455
- Online: 26
