Bồ tát Quán Thế Âm và Pháp Tu Nhĩ Căn Viên Thông

12/03/2020 | Lượt xem: 301

Trích "Kinh Thủ Lăng Nghiêm giảng ký"

Mục "Gạn hỏi đại chúng về chỗ viên tu" và "Chỉ chính chỗ Viên tu"

HT.Thích Thông Phương thuyết giảng

CHÁNH VĂN:

Khi ấy Bồ-tát Quán Thế Âm liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con nhớ vô số hằng hà sa kiếp về trước có Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm, từ Đức Phật kia con phát tâm Bồ-đề. Đức Phật kia dạy con do từ nghe, suy nghĩ và tu mà vào Tam-ma-địa.  

  •  

    GIẢNG GIẢI:

    Bồ-tát Quán Thế Âm thuật lại nhân duyên phát tâm Bồ-đề của Ngài cũng từ thời xa xưa, từ hằng hà sa số kiếp về trước. Thời đó cũng có Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm, từ nơi Đức Phật đó mà Ngài phát tâm Bồ-đề. Đức Phật đó dạy Ngài tu từ văn, tư, rồi tu mà vào được Tam-ma-địa tức chánh định. Đây cũng là con đường tu hành của chúng ta nên phải học kỹ. Tức là nghe, suy nghĩ quán chiếu rồi thực hành để chứng thật trong đó, chứ không phải chỉ dừng ở trên cái nghe cho là đủ.


    CHÁNH VĂN:

    Ban đầu ở trong tánh nghe, vào được dòng liền quên tướng bị nghe. Trần tướng đã vắng lặng thì hai tướng động và tịnh rõ thật không sanh. Như vậy dần dần tăng tiến thêm, các tướng năng văn, sở văn đều hết. Không dừng lại chỗ dứt hết năng văn, sở văn mà tiến lên nữa, thì năng giác sở giác đều không. Cái không giác tột bực viên mãn nên các tướng năng không, sở không đều diệt. Sanh diệt đã diệt thì bản tánh tịch diệt hiện tiền.

    GIẢNG GIẢI:

    Bồ-tát Quán Thế Âm trình bày pháp tu theo thứ lớp. Chúng ta học kỹ sẽ thấy được chỗ cạn sâu để trở về nguồn.

    Thứ nhất, ở trong tánh nghe, vào dòng liền quên tướng bị nghe: tướng bị nghe là đối tượng âm thanh; vào dòng tức ngược trở lại trong tánh nghe. Tức là nghe mà quên thanh trần, quên tiếng, quên trần, không theo duyên. Đó gọi là vào dòng, là chỗ khéo tu. Còn nghe mà theo tướng bị nghe là đi vào sanh tử.

    Đây nói vào dòng tức là trở về nguồn, là con đường xuất thế gian. Để thấy con đường thế gian và xuất thế gian đơn giản rõ ràng, không phải xa xôi. Nếu nghe mà theo tướng bị nghe là theo thanh trần thì đó là vào thế gian; còn đây là nghe mà quên tướng bị nghe, ngược trở lại vào dòng đó là xuất thế gian. Hai con đường rõ ràng, hễ đi ra thì vào thế gian tức vào sanh tử, còn nghe trở lại, ngược dòng trở về thì đó là con đường xuất thế gian, đây gọi là vào dòng.

    Thứ hai, trần tướng vắng lặng thì hai tướng động tịnh không sanh, không theo tướng bị nghe nên trần tướng vắng lặng. Là không có tâm duyên theo thì nó tự lặng thôi. Như vậy, hai tướng động tịnh tự nó không sanh. Là bặt duyên bên ngoài.

    Thứ ba, năng văn sở văn đều hết, tức là cái hay nghe và cái bị nghe đều hết, là vượt qua hai tướng năng sở đối đãi.

    Thứ tư, năng giác sở giác đều không. Bởi vì cái hay nghe, cái bị nghe dứt nhưng nhiều khi còn giữ lại cái giác, giác được hai cái năng sở đều dứt đó, thành ra cũng còn có năng sở. Còn thấy chỗ hết tức là còn chỗ để giác, giác cái chỗ hết đó. Mà còn chỗ giác là còn có năng giác, đối với sở giác. Như vậy, cũng lại còn đối đãi vi tế, chưa hết được kia đây, là chưa sạch được dấu vết của tâm duyên. Cho nên tiến lên bước nữa, năng giác sở giác đều không tức là buông luôn cái chỗ hết năng văn sở văn đó.

    Thứ năm, năng không sở không cũng diệt. Bởi vì năng giác sở giác đều không nhưng không khéo lại trụ nơi cái chỗ không đó thành ra cũng còn có cái năng không, sở không. Nên cũng còn có cái năng sở đối đãi vi tế. Do đó, tiến thêm bước nữa là năng không sở không đều diệt tức không còn có cái không để mà không nữa. Nếu còn có cái không để mà không, lại cũng nằm trong cái sanh diệt tạo tác. Đến khi không còn cái không để mà không nữa thì hết chỗ để tâm duyên đến.

    Thứ sáu, sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền, không còn có bóng dáng của sanh diệt tức là không còn cái thấy sanh diệt. Đây vượt qua tất cả đối đãi, hết còn chỗ thấy sanh diệt, gọi là sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền. Sạch hết tướng sanh diệt thì không còn gì để nói nữa, tạm gọi là tịch diệt hiện tiền.

    Như vậy, Bồ-tát Quán Thế Âm tu từng bước kỹ lưỡng chớ không phải nói suông. Ban đầu là từ cái nghe soi trở lại quên cái bị nghe, tức không nghe theo tiếng, quên đối tượng, quên thanh trần, gọi là nhập lưu vong sở, vào dòng quên chỗ bị nghe.

    Cho đến khi năng sở đều hết, rồi cái chỗ hết cũng không luôn, là không còn dấu vết để giác. Nhớ kỹ là không còn dấu vết để mà giác. Nếu còn giác được cái chỗ hết năng sở thì cũng hay, nhưng còn cái chỗ hết để mà giác, thì cái giác đó cũng chưa viên mãn. Rồi đến sạch hết cái không để mà không nữa, là tột hết dấu vết sanh diệt, thì tịch diệt hiện tiền. Người quán kỹ, quán tột chỗ này liền ngay đây chứng Vô sanh nhẫn. Quán vậy đó mới gọi là tột. Đó là con đường để trở về nguồn.

    Điều mà tất cả phải nên chú ý là điểm tột cùng “tịch diệt hiện tiền”. Cuối cùng không phải là hoàn toàn đoạn diệt không còn gì hết, mà đến chỗ cuối cùng hết còn ngôn ngữ để nói, tạm gọi là tịch diệt hiện tiền. Đó là chỗ quan trọng. Cái tịch diệt hiện tiền này không có ngôn ngữ để diễn tả nên người chứng đến đó thì tự biết. Nhưng người chưa chứng đến cũng cần hiểu chỗ vi tế đó để trên đường tu khỏi phải lo sợ.

    Nói là cuối cùng sanh diệt diệt hết, tịch diệt hiện tiền, vậy thế nào là hiện tiền? Trong nhà thiền hét lên một tiếng là xong. Còn giải thích thế này thế kia là đi xa, vì chỗ đó không phải là chỗ lý luận. Đây là gợi ý cho tất cả, cần phải đi đến tột như thế.

    Kế, Bồ-tát Quán Thế Âm nói lên những kết quả tu, khi tu chứng rồi thì thành tựu những quả đức tức những diệu dụng phát ra.


    CHÁNH VĂN:

    Bỗng nhiên siêu vượt thế và xuất thế gian, mười phương tròn sáng được hai pháp thù thắng. Một là trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của Phật, cùng với Phật Như Lai đồng một từ lực; hai là dưới hợp với tất cả lục đạo chúng sanh trong mười phương, cùng với các chúng sanh đồng một bi ngưỡng.

    GIẢNG GIẢI:

    Đến chỗ tột con đường tu là vượt khỏi thế gian và xuất thế gian, không còn nằm trong đối đãi, hết còn dấu vết để tìm. Vậy là không còn chỗ nào để cho cái mê chen vào, sự giác ngộ mới viên mãn. Rồi mười phương tròn sáng được hai pháp thù thắng, trên đồng một từ lực giống với Phật, dưới đồng một bi ngưỡng với chúng sanh. Là thấu suốt cả trên dưới, không còn cách biệt phàm Thánh. Chỗ này tư tưởng làm sao tưởng tới được.


    CHÁNH VĂN:

    Bạch Đức Thế Tôn! Do con cúng dường Đức Quán Thế Âm Như Lai, nhờ Ngài truyền thọ cho con chánh định Kim Cang Như Huyễn, văn huân, văn tu mà được cùng với Như Lai đồng một từ lực, nên làm cho thân con thành ba mươi hai ứng thân vào các cõi nước.

    GIẢNG GIẢI:

    Dùng chánh định Kim Cang Như Huyễn thành tựu các ứng thân. Chánh định này cứng chắc như Kim Cang nên nó chặt đứt hết tất cả những vô minh, phân biệt, đối đãi v.v..., thấu suốt tất cả pháp đều như huyễn. Bởi thấu suốt tất cả như huyễn cho nên mới có thể hiện được các thân, không có thân nào chướng ngại hết. Tuy hiện các thân nhưng không rời chánh định.

    Ngài lại kể:


    CHÁNH VĂN:

    Bạch Thế Tôn! Nếu các Bồ-tát vào Tam-ma-địa tấn tu vô lậu, thắng giải hiện đã viên mãn, con hiện thân Phật mà vì họ thuyết pháp khiến cho được giải thoát.

    GIẢNG GIẢI:

    Đối với các vị Bồ-tát cần hiện thân Phật thì Ngài hiện được thân Phật để giúp cho Bồ-tát ấy được viên mãn giải thoát. Vậy Ngài cần hiện thân Phật là hiện được thân Phật, nên có kinh ghi là các vị Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Văn-thù là những vị cổ Phật, đã thành Phật nhưng không trụ nơi quả Phật mà vẫn hành hạnh Bồ-tát để giáo hóa chúng sanh.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các hàng hữu học được pháp diệu minh vắng lặng, chỗ thắng diệu đã viên mãn, con ở trước người ấy hiện thân Độc Giác vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát.

    GIẢNG GIẢI:

    Với những vị cần hiện thân Độc Giác thì Ngài cũng hiện thân Độc Giác để giúp họ được giải thoát. Độc Giác là những vị ra đời không gặp Phật, nhưng do chủng tử huân tập sâu dày nên tự mình tu được giác ngộ. Thí dụ các Ngài ra đời thấy cảnh mùa xuân cây cối lá xanh tươi, hoa nở tươi đẹp, qua mùa thu thấy lá vàng rụng thì liền ngộ lý vô thường, không có ai dạy mà tự ngộ, tự chứng đạo.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các hàng hữu học đoạn mười hai nhân duyên, do các nhân duyên đã đoạn mà phát ra thắng tánh và thắng tánh đó hiện viên mãn, con ở trước người ấy hiện thân Duyên Giác vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát.

    GIẢNG GIẢI:

    Với người cần hiện thân Duyên Giác thì Ngài cũng hiện ra để thuyết pháp khiến được giải thoát. Duyên Giác do tu pháp Mười hai nhân duyên mà được giải thoát.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các hàng hữu học được pháp không của Tứ đế, tu đạo và diệt đế thắng tịnh hiện ra viên mãn, con ở trước người kia, hiện thân Thanh Văn mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được giải thoát.

    GIẢNG GIẢI:

    Người tu Tứ đế để cầu giải thoát là hàng Thanh Văn, nếu cần thì Ngài cũng hiện thân Thanh Văn mà thuyết pháp. Tuy Ngài hiện thân Thanh Văn nhưng đâu phải Thanh Văn, nên gọi là ngoài hiện tướng Thanh Văn mà trong ẩn hạnh Bồ-tát. Chúng ta phải cẩn thận, đừng thấy như vậy mà phê bình.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh muốn tâm được tỏ ngộ, không phạm vào cảnh ngũ dục và muốn cho thân được thanh tịnh, con ở trước người kia hiện thân Phạm Vương mà vì họ nói pháp, khiến cho được giải thoát.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Phạm Vương thì cũng hiện thân Phạm Vương để độ thoát.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh muốn làm Thiên chủ thống lãnh chư Thiên, con ở trước người kia hiện thân Đế-thích mà vị họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Trời Đế-thích là vị chủ trời của 32 cõi trời thì Ngài cũng hiện thân Đế-thích để thuyết pháp. Trời Đế-thích thuộc về Dục giới, còn Phạm thiên thuộc về Sắc giới.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh muốn thân được tự tại, dạo đi khắp mười phương, con ở trước người kia hiện thân Trời Tự Tại mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Trời Tự Tại thì cũng hiện thân Trời Tự Tại vô ngại.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh muốn thân tự tại, bay đi trong hư không, con ở trước người kia hiện thân Trời Đại Tự Tại mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây, cần hiện thân Trời Đại Tự Tại là cõi trên đảnh Sắc giới thì Ngài cũng hiện được thân Trời Đại Tự Tại.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh ưa thống lĩnh quỷ thần cứu hộ cõi nước, con ở trước người kia hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Các vị Thiên Đại Tướng Quân này thống lãnh các quỷ thần, cần hiện thì Ngài cũng hiện được để làm lợi ích chúng sanh.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh ưa thống lãnh thế giới bảo hộ chúng sanh, con ở trước người kia hiện thân Tứ Thiên Vương mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Trời Tứ Thiên Vương là cõi trời thứ nhất của Dục giới, ở bốn phía nơi eo núi Tu-di, cũng gọi là Hộ Thế Chủ.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh ưa sanh thiên cung để sai khiến quỷ thần, con ở trước người kia hiện thân Thái tử con của Tứ Thiên Vương vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Thái tử con của Tứ Thiên Vương có thế lực lớn, nên thống lãnh và sai khiến các quỷ thần.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh ưa làm Vua trong cõi người, con ở trước người kia hiện thân Vua, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Vua thì hiện thân Vua để làm lợi ích.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh thích làm chủ trong gia đình danh tiếng, người đời kính nhường, con đối trước người kia, hiện thân Trưởng giả vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Trưởng giả là người thuộc gia đình quý tộc, được nhiều người kính nhường, cần hiện thì Ngài liền hiện tự tại.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có chúng sanh thích đàm luận những lời hay, giữ mình trong sạch, con ở trước người kia hiện thân Cư sĩ, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Hiện thân Cư sĩ là những người sống trong thế gian nhưng giữ mình trong sạch.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh ưa trị cõi nước, chia đoán các ban, các ấp, con ở trước người kia hiện thân Tể quan vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Tể quan thì hiện thân Tể quan để làm lợi ích.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh thích các số thuật tự mình nhiếp tâm giữ thân, con ở trước người kia hiện thân Bà-la-môn vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Bà-la-môn thì hiện thân Bà-la-môn.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nam ưa hạnh xuất gia, giữ các giới luật, con ở trước người kia hiện thân Tỳ-kheo vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Tỳ-kheo thì hiện thân Tỳ-kheo.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nữ ưa theo hạnh xuất gia, giữ gìn các giới cấm, con ở trước người kia hiện thân Tỳ-kheo-ni vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện Tỳ-kheo-ni thì cũng hiện thân Tỳ-kheo-ni.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nam ưa giữ năm giới, con ở trước người kia hiện thân Ưu-bà-tắc vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Cư sĩ nam thì hiện thân Cư sĩ nam.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nữ tự giữ năm giới, con ở trước người kia hiện thân Ưu-bà-di vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Cư sĩ nữ thì hiện thân Cư sĩ nữ.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nữ, lập thân trong nội chính để tu sửa nhà nước, con ở trước người kia hiện thân Nữ chúa, hay thân Quốc phu nhân, Mệnh phụ, Đại cô vì họ mà thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân những người nữ quyền quý như Nữ chúa, Quốc phu nhân, Mệnh phụ tức vợ các ông quan lớn thì Ngài đều có thể hiện các thân như thế khiến cho được thành tựu sở nguyện.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có chúng sanh không phá nam căn, con ở trước người kia hiện thân đồng nam, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân người nam sống trong sạch, thanh tịnh thì hiện thân đồng nam.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có người nữ trinh bạch ưa thích thân trinh bạch, không cầu xâm phạm, con ở trước người kia hiện thân đồng nữ vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân người nữ sống đời trinh bạch, thanh tịnh thì cũng hiện đồng nữ.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có chư Thiên muốn ra khỏi loài Trời, con hiện thân trời vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    Nếu có các rồng muốn ra khỏi loài rồng, con hiện thân rồng, vì họ mà thuyết pháp khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Tức hiện Trời, hiện rồng, các thần.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có Dược-xoa muốn ra khỏi loài Dược-xoa, con hiện thân Dược-xoa vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. 

    GIẢNG GIẢI:

    Dược-xoa, cũng đọc Dạ-xoa, tên loài quỷ nửa người nửa thần. Có ba hạng: đi trên đất, bay trên không và ở cõi trời.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu Càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài Càn-thát-bà, con hiện thân Càn-thát-bà, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. 

    GIẢNG GIẢI:

    Càn-thát-bà là những thần đánh nhạc cho Trời Đế-thích.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu A-tu-la muốn thoát khỏi loài A-tu-la, con ở trước A-tu-la hiện thân A-tu-la, mà vì họ thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. 

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân A-tu-la thì cũng hiện thân A-tu-la không ngăn ngại.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu Khẩn-na-la muốn thoát khỏi thân loại Khẩn-na-la, con ở trước Khẩn-na-la kia hiện thân Khẩn-na-la, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Cần hiện thân Khẩn-na-la thì cũng hiện thân Khẩn-na-la, hình người nhưng trên đầu có sừng, chuyên ca múa cho Trời Đế-thích.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu Ma-hô-la-già muốn thoát khỏi loài Ma-hô-la-già, con liền hiện thân Ma-hô-la-già, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Ma-hô-la-già tức là thần Mãng xà. Đây là các vị trong Bát bộ.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu các chúng sanh thích làm người, tu cho được thân người, con hiện ra thân người mà thuyết pháp, cho được thành tựu. 

    GIẢNG GIẢI:

    Nếu cần hiện thân người thì cũng hiện thân người.


    CHÁNH VĂN:

    Nếu có loài phi nhân, hoặc có hình, hoặc không hình, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, con ở trước họ đều hiện ra cái thân như họ, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Những loài phi nhân có hình không hình, có tưởng không tưởng v.v... cần thì Ngài cũng đều hiện ra được hết.


    CHÁNH VĂN:

    Ấy gọi là ba mươi hai ứng thân thanh tịnh nhiệm mầu vào trong cõi nước, đều do chánh định văn huân, văn tu, vô tác diệu lực tự tại thành tựu.

    GIẢNG GIẢI:

    Do chánh định vô tác diệu lực mà được hiện thân thành tựu tự tại như vậy. Hiện mà không phải do tạo tác hay do động niệm mà do sức cảm ứng vô tác tự tại. Đó là những ứng thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Ngài hiện đủ hình tướng từ Thánh đến phàm, từ quyền quý, cao sang đến hạng tầm thường cũng đều hiện được hết.

    Bên Trung Hoa, Ngài có hiện những thân tướng mà sau này thành những đề tài cho các vị họa sĩ, thi văn như là Quan Âm Ngư Lam, Quan Âm Mã Lang Phụ v.v...

    Truyện kể ở vùng Thiểm Hữu, là vùng chưa biết Phật pháp, người dân theo nghề nghiệp sát sanh, tạo nhiều tội ác. Vì muốn độ người dân trong vùng, Ngài mới hiện thân người nữ đến đó để độ. Khi ấy, có một người nữ không có cha mẹ thân thuộc, cũng không biết từ đâu đến. Nhiều thanh niên trong vùng thấy cô xinh đẹp nên muốn cưới làm vợ.

    Cô gái ấy ra điều kiện là ai tụng thuộc lòng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa trong một đêm thì sẽ chọn người đó làm chồng. Sáng ra, có đến hơn hai mươi người đọc thuộc, cô gái nói là chồng chỉ một người, đây nhiều quá không biết chọn ai? Cô lại ra điều kiện là đọc thuộc kinh Kim Cang. Sáng ra vẫn có mười người đọc thuộc. Cô lại trao cho kinh Pháp Hoa ước hẹn trong ba ngày. Đúng hẹn chỉ có chàng họ Mã đọc thuộc kinh. Cô thuận theo và hẹn ngày làm lễ.

    Khi đến giờ rước dâu, cô gái tức hóa thân của Bồ-tát mới thị hiện đau bụng xin vào phòng uống thuốc nghỉ ngơi một chút. Chỉ chốc lát cô lăn ra chết, không lâu thân cô sình trướng lên, trong gia đình mới mau đem chôn. Mấy ngày sau, có vị tăng đến đào huyệt lên thì không còn thấy thân đâu hết mà thấy bộ xương hóa thành vàng. Vị tăng báo cho mọi người biết, đây là Bồ-tát thị hiện để hóa độ cho những người ở vùng này. Từ đó, người dân trong vùng mới biết đến Phật pháp và thờ Phật rất đông. Gọi là tích Quan Âm Mã Lang Phụ.

    Như vậy Ngài có nhiều diệu dụng, tùy duyên ứng hiện mà thuyết pháp để giúp chúng sanh được thành tựu những điều cần thiết. Đây cũng là pháp có ý nghĩa để chúng ta quán chiếu. Khi cần hiện thân Phật thì hiện thân Phật, cần hiện thân Độc Giác thì hiện thân Độc Giác, cần hiện thân Duyên Giác thì hiện thân Duyên Giác cho đến hiện thân Trời, người, A-tu-la, cần hiện thân nào thì hiện thân đó. Vậy, thân nào là thân thật của Ngài?

    Đó là chỗ quan trọng. Là chỗ chúng ta phải quán thấu, sáng tỏ được lẽ thật thì ngay đó ngộ lý vô sanh. Học kinh cần phải đạt được ý chứ không phải chấp theo lời, không phải phân biệt theo chữ nghĩa. Chỗ này có liên hệ với câu chuyện:

    Một hôm, Tiệm Nguyên theo hầu Ngài Đạo Ngô đến điếu tang nhà đàn-việt.

    Tiệm Nguyên mới vỗ vào quan tài nói:

    - Sanh ư, tử ư?

    Nghĩa là chết vào quan tài rồi thì đây là sanh hay là tử?

    Ngài Đạo Ngô nói:

    - Sanh cũng chẳng nói mà tử cũng chẳng nói. 

    Lúc đó, Tiệm Nguyên chưa hiểu được ý của Ngài Đạo Ngô nên hỏi lại:

    - Vì sao chẳng nói?

    Ngài Đạo Ngô bảo:

    - Chẳng nói là chẳng nói.

    Tiệm Nguyên cũng chưa ngộ.

    Trên đường đi về, Tiệm Nguyên thưa:

    - Hôm nay, Hòa thượng phải vì con nói mới được. Nếu chẳng nói cho con thì con sẽ đánh Hòa thượng.

    Ngài Đạo Ngô bảo:

     - Đánh thì cứ mặc ông đánh, nhưng nói thì chẳng nói.

    Tiệm Nguyên đánh.

    Khi về đến Viện, Ngài Đạo Ngô bảo:

    - Thôi, ông nên từ giã đi nơi khác, e Tri sự biết được chuyện thì khó cho ông.

    Tiệm Nguyên mới từ giã đi, đến ẩn nơi viện nhỏ trong thôn, trải qua ba năm. Một hôm, nhân nghe một đồng tử tụng kinh Phổ Môn nói về Bồ-tát Quán Thế Âm này, đến câu “nên dùng thân Tỳ-kheo được độ tức dùng thân Tỳ-kheo mà vì đó nói pháp”. Ngay đó bỗng nhiên Tiệm Nguyên đại ngộ. Sau đó, Sư mới thắp hương hướng về Ngài Đạo Ngô lễ bái, nói:

    - Rõ thật lời của Tiên sư để lại trọn chẳng hư dối, tự là ta chẳng lãnh hội lại oán trách Tiên sư.

    Đây là ý nghĩa sâu xa về ứng thân của Bồ-tát Quán Thế Âm, khi cần hiện thân nào thì hiện thân đó.

    Khi Tiệm Nguyên hỏi: “Sanh ư, tử ư?” tức là cái thấy còn kẹt nơi sanh tử. Còn Ngài Đạo Ngô nói rõ: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói”, tức là không thể nói là sanh, cũng không thể nói là tử, hay sanh không cố định là sanh, tử không thể nói cố định là tử. Ngay đó nếu người khéo thì ngộ sanh tử tức vô sanh.

    Nhưng Tiệm Nguyên cũng không ngộ được nên hỏi: “Vì sao chẳng nói?”, Ngài Đạo Ngô xác định lại: “Chẳng nói là chẳng nói”, không có vì sao. Ngay đó Tiệm Nguyên vẫn chưa ngộ. Đến sau này nghe đồng tử tụng phẩm Phổ Môn: “Bồ-tát có 32 ứng thân, hễ cần dùng thân nào thì dùng thân đó để độ”, lúc ấy Tiệm Nguyên liền ngộ. Vậy thân nào là thân của Bồ-tát?

    Hiện thân Tỳ-kheo rồi bỏ thân Tỳ-kheo hiện thân Tỳ-kheo-ni; vậy thân Tỳ-kheo là thật có sanh có tử không? Thân Tỳ-kheo-ni là thật có sanh có tử không? Tức nó không thật có cái ngã sanh tử trong đó. Vậy ngay đó tức vô sanh chứ gì nữa? Sanh tức vô sanh, ngay đó ngộ vô sanh. Việc sanh tử của chúng ta cũng vậy. Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta hiện biết bao nhiêu thân rồi? Khéo thì ngay đó liền ngộ trở lại, còn không khéo thì cứ theo tướng đó mà lưu chuyển.

    Tổng kết lại, Bồ-tát Quán Thế Âm tùy theo cơ cảm mà ứng hiện 32 thân như thế. Đó là do chánh định vô tác diệu lực tự tại thành tựu chứ không phải là do tạo tác. Vô tác là rõ ràng hiện mà không có hiện, hiện mà không có thật sanh, tức là không thuộc sanh diệt, vì thấu suốt tất cả đều như huyễn, không sanh cái ngã trong đó. Nếu người học khéo quán xét thì ngay đây chúng ta ngộ được “ngay sanh tức vô sanh”. Đó là ý nghĩa sâu xa của việc hiện 32 thân của Ngài.

    Kế là mười bốn món công đức vô úy.


    CHÁNH VĂN:

    Bạch Thế Tôn! Lại do con dùng vô tác diệu lực của Tam-muội Kim Cang văn huân, văn tu ấy, cùng với mười phương ba đời tất cả chúng sanh trong sáu đường đồng một bi ngưỡng, nên khiến các chúng sanh, từ nơi thân tâm con được mười bốn món công đức vô úy.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây Ngài nói rằng do vô tác diệu lực của Kim Cang tam-muội văn huân, văn tu nhờ đó cùng với mười phương ba đời chúng sanh đồng một bi ngưỡng. Ngưỡng là ngước lên trên mong muốn được cứu vớt. Bi là lòng thương xót mà cứu vớt. Là sạch hết sự ngăn cách với chúng sanh, không còn cách biệt nữa. Thấy chúng sanh cũng như là mình cho nên thành tựu được mười bốn món vô úy cho các chúng sanh. Công đức vô úy là công đức không có sợ hãi.


    CHÁNH VĂN:

    Một là, do con không tự quán các tướng mà quán cái tâm năng quán, khiến cho chúng sanh khổ não trong mười phương kia, quán âm thanh con, tức liền được giải thoát. 

    GIẢNG GIẢI:

    Đây Ngài không quán theo tướng mà quán trở lại tâm năng quán, còn chúng sanh hay chúng ta quán theo tướng mà quên cái tâm năng quán, chỉ nhớ tướng thôi.

    Như vậy, không theo tướng sanh tâm, mà xoay ngược trở lại cái tâm năng quán theo hướng giải thoát. Do đó đem đến được nhiều công đức khiến chúng sanh trong mười phương khi quán âm thanh Ngài liền được giải thoát. Vì đâu có theo tướng để trói buộc. Chúng ta khéo tu như vậy cũng được giải thoát. Đó là công đức vô úy thứ nhất.


    CHÁNH VĂN:

    Hai là, do con xoay tri kiến trở lại, khiến cho các chúng sanh giả sử vào trong lửa lớn, lửa cũng không thể đốt cháy.

    GIẢNG GIẢI:

    Tri kiến tức là cái thấy biết, xoay trở lại chứ không theo nó để hướng ra ngoài sanh phân biệt. Cho nên khiến chúng sanh giả sử có vào trong lửa lớn thì lửa cũng không đốt cháy được.

    Điều này có sự có lý, sự tức là có những trường hợp chúng sanh quá sức thành tâm hướng về Ngài nên tâm tạm thời không phân biệt, cũng được qua những nạn khổ về lửa.

    Về lý thì xoay cái tri kiến trở lại không theo vào các trần, thì lửa đâu có đốt cháy được trong đó. Nó không theo trần mà lửa cũng thuộc về trần thì trần đâu có vào tới trong đó được mà đốt cháy. Lửa có thể đốt cái thân này thôi chớ đâu có đốt tới chỗ đó được. Thành ra xoay trở lại đó thì lửa không có thể đốt cháy tới. Đó là về lý, trên là về sự.


    CHÁNH VĂN:

    Ba là, do con quán cái nghe xoay trở lại, khiến cho các chúng sanh bị nước lớn cuốn đi mà không bị chết chìm.

    GIẢNG GIẢI:

    Đến đây, vào nước mà không chìm, là do quán cái nghe, xoay trở lại không theo đó mà chìm trong tiếng, nên nước không dính ở trong đó được. Cái nghe thôi mà nước cũng không dính tới rồi, còn cái nghe mà xoay trở lại nữa thì nước đâu có dính tới trong đó được.

    Có vị tăng hỏi Ngài Bảo Phước:

    - Thế nào là vào lửa chẳng cháy, vào nước chẳng chìm?

    Ngài Bảo Phước liền đáp:

    - Nếu là nước lửa thì liền bị cháy chìm.

    Nếu tâm vừa nghĩ đến nước, vừa nghĩ đến lửa thì liền bị cháy, bị chìm ngay. Còn ngay nơi đây xoay trở lại tâm không sanh thì nước lửa đâu có cháy chìm đến trong đó được. Đó là quán về lý.

    Còn về sự, cũng có nhiều trường hợp những người đi biển sắp bị chìm thuyền, liền niệm Quán Âm cũng được qua khỏi. Đó cũng là có sự có lý. Do lúc gặp nạn lòng hết sức chí thành, niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Âm không có tạp niệm. Niệm đến không có tạp niệm thì tâm thành cảm ứng. Tuy chưa biết tu nhưng lúc đó xoay ngay trở lại, đâu nghĩ đến cái gì khác. Vậy là tâm thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh nên mới cảm ứng. Không phải là ai niệm cũng khỏi nạn hết, có người không khỏi là do niệm không có chuyên, không có thành. Rồi cũng do phước của người đó nữa.


    CHÁNH VĂN:

    Bốn là, do con diệt hết các vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến cho các chúng sanh vào các nước quỷ, quỷ không thể hại được. 

    GIẢNG GIẢI:

    Do diệt hết các vọng tưởng không còn có tâm sát hại, mà không có tâm sát hại thì quỷ đâu có hại mình. Không có tâm sát thì cảm đến quỷ, nó cũng đâu khơi dậy lòng sát. Thí dụ như người mà có tâm sát khi đi đến gần chim thú là chúng sợ liền chạy, chúng cảm từ trường sát của người đó. Còn người mà có lòng từ thật sự còn cảm đến cọp nữa. Chúng ta do có tâm sát nên khi nhìn thấy cọp liền sợ nó hại mình, mà nó cũng sợ mình hại nó.

    Chỗ đó là chỗ chúng ta phải khéo để quán trở lại mà chuyển hóa tâm mình. Đây là do diệt hết vọng tưởng nên không có tâm sát hại. Thêm ý sâu nữa là chỗ hết vọng tưởng thì quỷ làm sao thấy đến được trong đó, đâu có thấy được để mà hại. Đó là điều vô úy thứ tư.


    CHÁNH VĂN:

    Năm là, do con huân cái nghe thành tựu nơi tánh nghe, sáu căn đều tiêu về bản tánh, đồng như cái nghe và cái tiếng, hay khiến cho chúng sanh đương lúc bị hại đao gãy từng đoạn, khiến các binh khí chạm vào thân người như cắt dòng nước, như thổi ánh sáng, bản tánh không hề lay động.

    GIẢNG GIẢI:

    Thứ năm là do huân cái nghe thành tựu nơi tánh nghe, sáu căn đồng về bản tánh nên cái nghe đồng với cái tiếng, không còn phân biệt cái nghe cái tiếng riêng biệt nữa (tức không đối đãi), như vậy dao gậy cũng đâu làm sao chặt đến trong đó. Đây dứt tâm phân biệt rồi, không còn thấy có căn có trần nên sáu căn đều tiêu về bản tánh. Đó là về lý.

    Còn về sự thì cũng có những trường hợp những người gặp nạn đao binh, do tâm hết sức chí thành niệm Quán Âm, lúc đó tâm quá thành khẩn, không còn tạp niệm nào nữa thì cũng cảm được mà qua nạn đao gậy.


    CHÁNH VĂN:

    Sáu là, con huân tập tánh nghe được sáng suốt thấu khắp cả pháp giới, thì các tối tăm không thể được toàn, hay khiến cho chúng sanh, tuy quỷ Dạ-xoa, La-sát, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-giá, Phú-đơn-na v.v... ở gần bên cạnh mà mắt chúng vẫn không thể thấy được.

    GIẢNG GIẢI:

    Do huân tập tánh nghe sáng thấu khắp pháp giới, cho nên không còn có chỗ bóng tối ẩn núp. Còn quỷ là sống nương chỗ tối, chỗ tối chúng mới nhìn thấy, chúng sống theo cõi âm. Cái tánh nghe mà sáng khắp pháp giới thì bóng tối hết chỗ ẩn, quỷ cũng đâu có chỗ để mà nhìn được là như thế.

    Chúng ta giữ được tâm thanh tịnh, sáng suốt, không động niệm thì quỷ cũng không thấy đến được. Cho nên đọc câu chuyện của Ngài Động Sơn, thổ địa tìm không thấy. Hoặc như ông Chủ sự mấy năm lo làm việc chúng, đến chừng sắp chết thấy quỷ vô thường hiện đến, ông mới xin: “Tôi lâu nay bận làm Chủ sự tu không kịp, xin hoãn lại bảy ngày”.

    Quỷ nói:

    - Cái này tôi không có quyền nhưng với tâm thành khẩn của Ngài thì tôi trình với Diêm vương. Được thì bảy ngày nữa sẽ tới, còn nếu không được thì tôi sẽ bắt ngay.

    Trong vòng bảy ngày đó Ngài tu quyết liệt, tâm được vào đạo. Cho nên đến ngày thứ bảy, quỷ đến tìm không thấy, bắt không được. Tâm đâu còn chỗ cho thấy nữa.

    Do đó, người biết tu là phải hết sức cẩn thận trên từng tâm niệm. Vừa động niệm tính toán, suy tưởng nhiều quá thì bị ma quỷ thấy. Nếu suy tưởng, tính toán theo chiều tà thì bị quỷ xen vào dẫn chúng ta đi theo chiều tà.

    Còn tâm chánh thì tà không vào được, huống nữa là tâm thanh tịnh. Tâm mà thanh tịnh không có động niệm thì quỷ đâu có thấy được mà vào. Khi ngồi thiền tu tập chúng ta phải giữ tâm niệm là vậy đó. Thí dụ như ngồi thiền mà tưởng về tham, mong cầu được cái này cái kia, hoặc nghĩ về sân chẳng hạn. Chính những tâm niệm đó mới chiêu cảm ma quỷ đến, còn tâm chân chánh thì đâu có chỗ nào để vào.

    Ở đây cũng vậy, do huân tập được tánh nghe sáng thấu suốt cả pháp giới, không còn có chỗ tối tăm nào để ẩn nữa do đó mà quỷ không thấy được. Ngược lại sanh tâm quỷ thì đi vào cõi quỷ.

    Trong nhà thiền có câu chuyện ông Tướng công Vu Địch hỏi Thiền sư Đạo Thông:

     - Thế nào là gió đen thổi thuyền bè trôi vào nước quỷ La-sát?

    Dẫn trong kinh Phổ Môn người đi vào biển gặp gió lớn thổi thuyền bè trôi vào nước quỷ La-sát mà niệm Quán Âm thì được qua khỏi, quỷ La-sát không có hại.

    Thiền sư Đạo Thông mới lên giọng nói:

    - Cái gã khách Vu Địch này! Hỏi việc ấy làm gì?

    Là ông tướng mà bị nói xem thường như thế có chịu nổi không? 

    Ông chạm tự ái, đỏ mặt lên muốn sân. Sư mới chỉ nói:

    - Chính cái đó là trôi dạt vào nước quỷ La-sát. 

    Khỏi tìm đâu xa, động niệm lên thì chính đó là trôi dạt vào nước quỷ La-sát, là bị hại ngay. Nếu tâm thanh tịnh thì đâu có trôi, đâu có bị hại.

    Ở đây Dạ-xoa hay Dược-xoa, La-sát đều là những loài quỷ. Dược-xoa tức loài quỷ nam, còn La-sát là quỷ nữ; cả hai đều là quỷ ăn thịt người. Loài Dược-xoa, La-sát này thuộc Vua Trời Đa Văn cai quản (hay Đa Văn Thiên Vương). Còn Cưu-bàn-trà dịch là Ủng Hình hay là Yểm Quỷ, quỷ này thường gây ác mộng hay gây bóng đè, thuộc về Vua Trời Tăng Trưởng cai quản. Tỳ-xá-giá là quỷ ăn tinh khí của người cũng như tinh khí của ngũ cốc, quỷ này thuộc về Vua Trời Trì Quốc cai quản. Phú-đơn-na là quỷ gây những bệnh nhiệt, như bệnh sốt, quỷ này thuộc về Vua Trời Quảng Mục cai quản. Đó là nói qua xuất xứ của những loài quỷ.

    Chúng ta học hiểu biết rồi cũng phải khéo luôn giữ gìn thân tâm thanh tịnh, tránh những tư tưởng, vọng tưởng lung tung nhất là những tà tưởng. Đó là niệm nguy hiểm. Tà tưởng liền chiêu cảm quỷ vào.


    CHÁNH VĂN:

    Bảy là, các tiếng hoàn toàn tiêu diệt hết, thấy nghe xoay vào tự tánh, rời các trần cảnh hư vọng, nên hay khiến cho chúng sanh những thứ cùm trói gông xiềng không thể dính vào mình được.

    GIẢNG GIẢI:

    Các tiếng đều tiêu hết, thấy nghe đã xoay trở lại vào tự tánh, là rời các trần cảnh hư vọng. Như vậy thì gông cùmg làm sao trói được trong đó, bất quá trói là trói thân này thôi, chớ đâu có trói trong đó được. Cho nên nếu khéo thấu được chỗ này, thấy nghe xoay vào tự tánh, rời các trần cảnh hư vọng thì gông cùm không trói được.

    Đây cũng có sự có lý. Về sự cũng có những trường hợp do người gặp nạn gông cùm, tâm hết sức chí thành niệm danh hiệu Quán Âm đến không còn tạp niệm, cũng có những cảm ứng mà thoát khỏi gông cùm.


    CHÁNH VĂN:

    Tám là, do con diệt hết tướng âm thanh viên thông tánh nghe, sức từ phát sanh trùm khắp, hay khiến cho chúng sanh trải qua đường hiểm, giặc không thể cướp hại.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây do diệt hết tướng âm thanh, không theo tướng âm thanh rồi viên thông tánh nghe mà sức từ rộng lớn trùm khắp. Tức là không thấy có ai là đối nghịch, dù cho đối trước giặc cướp mà vẫn không mất lòng từ nên gọi là lòng từ rộng khắp, thì giặc đâu có làm hại được.

    Chỗ này nếu chúng ta có tu tập về lòng từ thật sự mạnh mẽ rộng khắp, thì có sức mạnh cảm ứng lớn lao. Như Đức Phật, Ngài cũng từng nói: “Khi Ta tu một mình ở trong rừng, do lòng từ mà Ta không thấy sợ sệt”. Chim muông, thú dữ cũng cảm với Ngài mà thành gần gũi. Đây cũng vậy, lòng từ mà rộng khắp chân thật, dù đối trước giặc cướp vẫn không mất lòng từ thì lúc đó giặc cũng đâu có cảm được sự đối nghịch với nó. Còn chúng ta nhiều khi huynh đệ tu ở trong chùa còn thấy đối nghịch, nếu gặp giặc cướp là nó hại ngay thôi.


    CHÁNH VĂN:

    Chín là, do con huân tập tánh nghe rời các trần tướng, sắc không thể cướp hại được, có thể khiến cho tất cả chúng sanh nhiều dâm dục, xa lìa lòng tham dục.

    GIẢNG GIẢI:

    Huân tập tánh nghe rời các trần tướng, tức là không có theo trần thì sắc đâu có chỗ để bám. Như vậy tham dục làm sao sanh ở trong đó được. Cho nên gọi là khiến chúng sanh xa lìa lòng tham dục.


    CHÁNH VĂN:

    Mười là, do âm thanh của con thuần thục không tướng, căn và cảnh viên dung, không có năng đối và sở đối, có thể khiến cho tất cả chúng sanh giận hờn lìa các nóng giận.

    GIẢNG GIẢI:

    Âm thanh thuần thục không tiếng là không dính với trần. Rồi căn cảnh viên dung, không có năng sở đối đãi với nhau thì nóng giận bám vào đâu để sanh? Không thấy có năng sở, là không thấy có mình có người, thì lấy ai để mà sân, rồi sân với ai? Tức là xa lìa lòng sân chứ gì nữa.


    CHÁNH VĂN:

    Mười một là, do con tiêu diệt trần tướng, xoay trở lại tánh bản minh thì pháp giới và thân tâm đều như ngọc lưu ly sáng suốt không ngăn ngại, khiến cho những kẻ ngu ngốc u mê tánh chướng, xa lìa hẳn sự si mê tối tăm.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây là tiêu diệt trần tướng xoay về cái bản minh là tánh sáng suốt sẵn có thì si mê chứa chỗ nào? Si mê là theo chỗ tối tăm, còn giờ xoay trở lại tánh bản minh. Trong tánh bản minh thì đâu có chỗ cho si mê ẩn núp. Nên khiến cho những kẻ ngu ngốc, u mê cũng xa lìa sự u mê, tối tăm.


    CHÁNH VĂN:

    Mười hai là, do con tiêu dung các hình tướng, trở về tánh nghe, không động đạo tràng mà lẫn vào thế gian, nhưng không hủy hoại thế giới. Cúng dường chư Phật Như Lai như số vi trần, cùng khắp mười phương làm vị Pháp Vương tử gần bên mỗi Đức Phật, có thể khiến cho những chúng sanh trong pháp giới không có con, muốn cầu con trai, liền sanh được con trai có đủ phước đức trí tuệ.

    GIẢNG GIẢI:

    Do tiêu dung các tướng xoay về tánh nghe, không động đạo tràng mà lẫn vào các thế giới, tức vào trong các thế giới mà chẳng rời tâm bất động, ở trong động mà không động. Nhưng cũng không hủy hoại các tướng của thế giới, tức vào thế giới nhưng không có rời thật tướng, như vậy là không kẹt có không.

    Rồi cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần tức là luôn thấy Phật, gặp Phật cúng dường, thì sở nguyện đâu còn ngăn trái; mỗi mỗi đều được tùy thuận cho nên gọi là cầu con trai được con trai.


    CHÁNH VĂN:

    Mười ba là, do sáu căn của con viên thông soi sáng không hai, trùm khắp mười phương thế giới, thành lập Đại Viên Cảnh Không Như Lai Tạng, vâng lãnh pháp môn bí mật của vi trần Như Lai không thiếu sót, có thể khiến cho trong pháp giới những chúng sanh không con gái muốn cầu con gái liền sanh con gái, có tướng tốt đoan chính phước đức, dịu dàng được mọi người yêu kính.

    GIẢNG GIẢI:

    Sáu căn được viên thông rồi soi sáng không hai, là không còn kẹt bên này bên kia. Trùm khắp thế giới mười phương, thành Đại Viên Cảnh Không Như Lai Tạng. Đại Viên Cảnh là giống như cái gương lớn, Không Như Lai Tạng là Kho Như Lai lìa sạch các tướng, tức như cái gương sáng sạch hết các tướng, không có tướng nào dính được trong đó. Vâng lãnh pháp môn bí mật của vi trần chư Phật, tức không có một mảy bụi nào có thể che mờ thì tâm đâu còn gì để trái nghịch nữa, tức là được tùy thuận vô ngại, cho nên nói là cầu con gái được con gái. Đó là tùy thuận vô ngại.


    CHÁNH VĂN:

    Mười bốn là, trong tam thiên đại thiên thế giới này có trăm ức mặt trời mặt trăng hiện ở thế gian, các vị Pháp Vương tử hiện trong thế gian số lượng có đến sáu mươi hai số cát sông Hằng đều tu theo Phật pháp, nêu gương mẫu giáo hóa chúng sanh, tùy thuận chúnh sanh mà phương tiện và trí tuệ mỗi vị không đồng nhau.

    Do con được bản căn viên thông nên phát sanh diệu tánh của nhĩ căn, sau đó thân tâm nhiệm mầu bao trùm cùng khắp pháp giới nên có thể khiến cho chúng sanh chấp trì danh hiệu của con, so với những người chấp trì danh hiệu tất cả các vị Pháp Vương tử số lượng bằng sáu mươi hai số cát sông Hằng kia, phước đức hai bên bằng nhau không sai khác.

    Bạch Thế Tôn! Một danh hiệu của con cùng với rất nhiều danh hiệu kia không khác là do con tu tập được tánh viên thông chân thật. Ấy gọi là mười bốn đức thí vô úy đem phước khắp cho chúng sanh.

    GIẢNG GIẢI:

    Thứ mười bốn này là trì một danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm thì công đức bằng với trì danh hiệu của các vị Bồ-tát bằng sáu mươi hai số cát sông Hằng trong mười phương.

    Trước, Bồ-tát Quán Thế Âm nói được căn bản viên thông nên phát sanh diệu tánh của nhĩ căn, tức không dính kẹt nơi lỗ tai. Mà không kẹt lỗ tai này tức là cũng không kẹt theo danh tự, rồi thân tâm nhiệm mầu bao trùm khắp pháp giới, không giới hạn ở thân tâm này, nên không còn ngăn ngại, không có thấy đây kia sai khác. Do đó trì một danh hiệu thì thông hết nhiều danh hiệu.

    Nói trì ở đây không phải là đọc danh hiệu “Nam-mô Quán Thế Âm”, không phải trì như vậy. Mà trì là quán thấu tánh nghe rỗng suốt qua các tên của danh hiệu. Tên này là tên rỗng, là tự tánh không. Như vậy mọi thứ tên đều là rỗng suốt, không hai thì đâu có thấy sai biệt. Trì như vậy thì công đức mới bình đẳng. Còn chỉ niệm thì đâu thấu đến chỗ đó. Nếu người niệm Quán Âm mà thấu được như vậy thì đúng là tâm đã thanh tịnh, sáng suốt, vô ngại được công đức rộng lớn.

    Đó gọi là mười bốn đức thí vô úy ban đến khắp chúng sanh được hết lo sợ.

    Ở phần trước, ba mươi hai ứng thân của Ngài là trên khắp đồng một từ lực với chư Phật mười phương, ứng hiện ba mươi hai ứng thân để làm lợi ích chúng sanh. Còn mười bốn đức thí vô úy này là đồng một bi ngưỡng cứu khắp chúng sanh. Thông suốt cả trên dưới, thông với chư Phật mà cũng thông với chúng sanh là tâm đâu còn hai, không còn phân biệt Thánh phàm.

    Nhưng cũng do chúng sanh có cảm thì có ứng. Lòng từ bi của Bồ-tát rộng khắp, không phân biệt nhưng cũng tùy theo lòng thành của chúng sanh. Nếu tâm chúng sanh chuyên nhất không tán loạn, là có cảm. Còn nếu tâm chúng sanh không có cảm thì Ngài không ứng. Ngài sẵn sàng ứng hết ba mươi hai thân, sẵn sàng chan rải mười bốn đức vô úy cho chúng sanh, nhưng nhiều chúng sanh không được hưởng là do không có cảm.


    CHÁNH VĂN:

    Bạch Thế Tôn! Do con được đạo Vô thượng tu chứng viên thông ấy, nên lại khéo được bốn món Vô tác diệu đức không thể nghĩ bàn.

    Một là, do con ban đầu chứng được tánh nghe chí diệu, nơi tâm tánh không còn có tướng năng văn, các sự thấy nghe hiểu biết không còn cách biệt và thành một Bảo Giác Viên Dung Thanh Tịnh, nên con có thể hiện ra rất nhiều hình dung nhiệm mầu, nói ra vô số thần chú bí mật.

    Trong đó hoặc hiện ra một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, như vậy cho đến một trăm lẻ tám đầu, một ngàn đầu, mười ngàn đầu, tám mươi bốn ngàn cái đầu kim cang; hoặc hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, mười hai tay, mười bốn tay, mười sáu tay, mười tám tay, hai mươi tay, hai mươi bốn tay, như thế cho đến một trăm lẻ tám tay, một ngàn tay, mười ngàn tay, tám mươi bốn ngàn cái tay bắt ấn (Mẫu-đà-la); hoặc hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, như thế cho đến một trăm lẻ tám mắt, một ngàn mắt, mười ngàn mắt, tám mươi bốn ngàn mắt báu thanh tịnh; hoặc hiện từ, hoặc hiện oai; hoặc định hoặc tuệ cứu độ chúng sanh được đại tự tại.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây nói đến bốn món vô tác diệu đức không thể nghĩ bàn.

    Ngài Hàm Thị có giải thích bốn món không thể nghĩ bàn là từ cực quả mà được: “Đây là công đức sau khi đã thành tựu đạo quả tột cùng, nên gọi là tu chứng đạo Vô thượng. Đây căn cứ sau khi bi và trí đã viên mãn, đại bi hiển hiện, cơ cảm đồng thời, không do tâm niệm, tự nhiên như vậy, gọi là không thể nghĩ bàn”. Chỗ này không phải là do khởi tâm tạo tác mà có được. Là tự nhiên, không khởi tâm động niệm, tính toán, suy tư, cho nên gọi là không thể nghĩ bàn. Bởi vì đây là do Ngài tu Tam-muội Kim Cang Như Huyễn. Từ đó thấy tất cả pháp như huyễn, không thấy có một pháp thật, vượt qua tất cả âm thanh, trần tướng, dứt hết những tưởng sai biệt, thì đâu còn có gì để mà sợ hãi.

    Rồi từ trong đó mới hiện được các thứ tự tại. Là cần hiện nhiều đầu thì hiện nhiều đầu, hiện nhiều tay thì hiện nhiều tay, hiện nhiều mắt cũng hiện nhiều mắt. Tuy nhiên, chỗ này nếu người hiểu theo chữ nghĩa thì sẽ thấy trở ngại? Giả sử hôm nào đó vào đêm tối âm u quý vị đi gặp Ngài ứng thân kiểu ba bốn đầu, nhiều tay v.v..., như vậy chắc là hoảng hồn, sợ hãi có khi bất tỉnh luôn. Hơn nữa, một người mà 84.000 cái đầu, 84.000 cái tay, rồi 84.000 con mắt thì chứa chỗ nào cho hết? Vậy là dưới bàn chân cũng có mắt luôn, nếu vậy khi đi mắt có dính bụi không? Thành ra nếu hiểu theo chữ nghĩa là thấy có chướng ngại.

    Bởi vì đây là Ngài chứng được tánh nghe chí diệu, tột cái nhiệm mầu, không còn kẹt nơi căn nên không còn thấy có tướng năng văn, tức không có tướng hay nghe. Vậy là cái nghe không cuộc hạn nơi nhĩ căn, và sáu căn được lẫn thông với nhau, không còn trở ngại nữa, cho nên nói là sự thấy, nghe, hiểu, biết không còn cách biệt.

    Lại hợp với bảo giác viên dung thanh tịnh, tức trở về tánh giác không hai nên được diệu dụng tự tại. Trong nhà thiền nói là đại dụng hiện tiền. Nghĩa là sẵn sàng cứu giúp chúng sanh kịp thời, kịp lúc, không bỏ sót ai hết. Hễ cần ứng là ứng liền, không qua suy nghĩ, nên gọi là nhiều tay, nhiều mắt, nhiều đầu là vậy đó. Đúng là điều ngoài sức nghĩ bàn của tình thức phân biệt. Hiểu theo ý đó thì chúng ta thấy không có chướng ngại. Còn nghĩ theo chữ nghĩa là thấy có chỗ ngại.


    CHÁNH VĂN:

    Hai là, do cái nghe, cái suy nghĩ của con thoát ra ngoài sáu trần, như tiếng đi qua tường vách không bị ngăn ngại, nên diệu dụng của con có thể hiện mỗi mỗi thân, tụng mỗi mỗi chú; hình đó, chú đó có thể đem sức vô úy thí cho các chúng sanh. Thế nên cõi nước mười phương như vi trần đều gọi con là vị Thí Vô Úy.

    GIẢNG GIẢI:

    Vậy cái nghe, cái suy nghĩ đó không bị vật làm ngăn ngại, nên là tự tại hiện thân tụng chú, và đem đến cho chúng sanh sự không lo sợ, không sợ hãi. Chúng ta mà khéo tu tập cũng sẽ được như vậy.


    CHÁNH VĂN:

    Ba là, do con tu tập phát ra căn tánh diệu viên thông thanh tịnh, nên đi qua trong thế giới nào, đều khiến cho chúng sanh xả thân và đồ trân bảo cầu con thương xót.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây là phát ra căn tánh diệu viên thông thanh tịnh không nhiễm cái gì hết. Do đó khi đi qua các thế giới khiến chúng sanh sẵn sàng xả thân, xả của báu để cầu thương xót. Bởi thân này và của báu đâu sánh bằng với chỗ căn tánh diệu viên thông thanh tịnh kia, cái kia quý báu hơn.


    CHÁNH VĂN:

    Bốn là, do con được tâm Phật, chứng quả rốt ráo, có thể từng đem các thứ quý báu cúng dường mười phương Như Lai, cả đến lục đạo chúng sanh trong pháp giới, ai cầu vợ thì được vợ, cầu con thì được con, cầu Tam-muội thì được Tam-muội, cầu sống lâu thì được sống lâu; như thế cho đến cầu Đại Niết-bàn thì được Đại Niết-bàn.

    GIẢNG GIẢI:

    Đây do được tâm Phật, rồi chứng quả rốt ráo, đã từng đem của báu cúng dường mười phương Như Lai không tiếc, cho nên đâu còn tâm phân biệt chúng sanh đây kia, cũng như đâu còn tâm tham cầu của chúng sanh nữa. Chính vì đã từng xả nên mới khiến cho chúng sanh mong cầu đều được như ý.

    Nhưng quan trọng là được tâm Phật rồi thì mới khiến cho chúng sanh cầu gì được đó, cho đến cầu Đại Niết-bàn được Đại Niết-bàn, vậy Ngài là cổ Phật rồi. Đó gọi là bốn công đức không thể nghĩ bàn, ngoài sức suy nghĩ của chúng sanh. Phần này thuộc về quả đức.


    CHÁNH VĂN:

    Kết lại, Phật hỏi về viên thông, con do viên chiếu Tam-muội nơi nhĩ căn mà tâm duyên tự tại, nhân nơi tướng nhập lưu mà được Tam-ma-địa, thành tựu quả Bồ-đề, đó là bậc nhất.

    Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai kia khen con khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại hội thọ ký cho con hiệu gọi là Quán Thế Âm; do con quán tánh nghe thấu suốt mười phương, nên danh tiếng Quán Thế Âm cùng khắp cả mười phương thế giới.

    GIẢNG GIẢI:

    Bồ-tát Quán Thế Âm từ nơi nhĩ căn chiếu soi tròn khắp, tuy chiếu soi tròn khắp nhưng vẫn ở trong chánh định, tức không mất mình nên mới được viên thông. Còn chúng ta duyên cái gì dính cái đó thì đâu được chánh định, đâu được tự tại. Đây gọi tâm duyên tự tại không kẹt nơi trần.

    Nhân tướng vào dòng, là ngược với các trần cảnh. Trong kinh Kim Cang nói: “Không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp” tức là vào dòng Thánh. Còn vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là vào sanh tử. Như vậy, nhân tướng vào dòng mà được chánh định, vượt khỏi năng sở, không còn thấy có đây có kia, có mình có người, được quả Bồ-đề, rồi căn trần không còn che chướng, tánh nghe thấu suốt mười phương, được tên là Quán Thế Âm, danh tiếng vang khắp mười phương. Nếu người nghe mà khéo soi lại nơi tự tánh, không theo tiếng theo trần, cũng sẽ cảm thông cùng chư Phật mà cũng thấu đến chúng sanh, là đến chỗ Thánh phàm không hai.

    Đây kết lại, Bồ-tát Quán Thế Âm tu về nhĩ căn viên thông được vô lượng công đức không thể nghĩ bàn như vậy. Đến phần Ngài Văn-thù chọn căn viên thông thì Ngài Văn-thù đã chọn nhĩ căn viên thông là căn thích hợp với căn cơ chúng sanh ở cõi này.

    Đối với những bậc tu tập sâu dày thì căn nào hay giới nào cũng có thể tu chứng đạo. Nhưng pháp nhĩ căn viên thông này là phương tiện thích hợp để thành tựu chớ không phải là hơn kém. Bởi chúng sanh cõi này thường nhân pháp âm mà được vào đạo, nghe pháp là thuận với nhĩ căn. Nhưng nếu ở cõi khác thì không hẳn. Thí dụ như cõi Phật Hương Tích thì thích hợp với mùi hương, nhân ngửi mùi hương mà tỉnh giác thì vào đạo.

    Kết lại, đây dẫn một vài nhân duyên từ nơi Bồ-tát Quán Thế Âm qua cái nhìn trong nhà thiền, nhất là Thiền tông, để giúp cho tất cả khai sáng thêm.

    Như có vị tăng hỏi Hòa thượng Trường Sa - Cảnh Sầm:

    - Thế nào là Quán Âm?

    Ngài Trường Sa đáp:

    - Âm thanh, lời nói.

    Hỏi: “Thế nào là Quán Âm?” thì Ngài đáp: “Âm thanh, lời nói”. Vậy là sao? Người khéo thì ngay đó thấy được Quán Âm, còn không khéo thì chỉ thấy là âm thanh, lời nói. Với Ngài Cảnh Sầm, thấy Quán Âm không phải là có đầu, có mắt, có tai; mà ngay âm thanh, lời nói là thấy Quán Âm.

    ***

    Có vị tăng hỏi Thiền sư Cư Tố - Minh Chiếu ở Viện Cảnh Thanh:

    - Thế nào là cửa Quán Âm nhập lý? (tức cửa Quán Âm vào lý)

    Thiền sư Cư Tố đáp:

     - Chim quạ kêu, chim khách hót.

    Đó là cửa Quán Âm nhập lý. Ngay khi nghe chim quạ kêu, chim khách hót thì Quán Âm ngồi ngay cửa chứ còn gì nữa. Khéo thì ngay cửa cái nghe đó mà vào lý liền, còn không thì chỉ là nghe tiếng chim quạ, chim khách, thành mờ mịt không hiểu gì.

    ***

    Có vị tăng hỏi Thiền sư Tiếu Nham:

    - Thế nào là Tam-muội Quán Âm nghe khắp?

    Thiền sư Tiếu Nham đáp:

    - Cái lỗ tai người chết.

    Làm sao cái lỗ tai người chết mà là Tam-muội Quán Âm nghe khắp? Cho nên đối với các Thiền sư, các Ngài luôn có cái nhìn đặc biệt. Người học cần phải đạt ý quên lời, chứ không thể chấp theo ngôn ngữ. Lỗ tai người sống quá lanh lợi nên không thể đạt được Tam-muội Quán Âm nghe khắp, vừa nghe liền dính trần thì đâu có nghe khắp được. Còn lỗ tai người chết thì nghe cái gì? Nghe mà không chỗ để nghe thì mới nghe khắp, mới thấu được Tam-muội Quán Âm nghe khắp.

    Kế, Bồ-tát Văn-thù chọn căn viên thông.

    ***

CHÁNH VĂN:

Khi ấy, Đức Thế Tôn nơi tòa sư tử, từ năm vóc đồng thời phóng ra hào quang báu, xa rọi đến trên đảnh mười phương các Đức Như Lai như số vi trần và trên đảnh các vị Pháp Vương tử, các vị Bồ-tát. Các Đức Như Lai kia cũng từ năm vóc đồng phóng ra hào quang báu, từ các thế giới như số vi trần đến rọi trên đảnh Phật và trên đảnh các vị đại Bồ-tát cùng A-la-hán trong hội, rừng cây, ao hồ đều diễn ra pháp âm, ánh hào quang giao xen lẫn nhau, cùng nhau như lưới tơ báu.

Cả trong đại chúng đây được việc chưa từng có, tất cả đều được Kim Cang Tam-muội. Liền khi ấy, trên trời mưa hoa sen trăm báu: màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng xen lẫn nhau, mười phương hư không hóa thành sắc bảy báu. Trong cõi Ta-bà này, nào đất liền, núi, sông đồng thời chẳng hiện, chỉ thấy các cõi nước như số vi trần trong mười phương hợp thành một cõi, tiếng hát ca ngợi tự nhiên nổi lên.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây, Đức Thế Tôn từ năm vóc phóng hào quang. Năm vóc là từ tay chân và đầu. Vậy là từ đầu tới chân đồng thời phóng hào quang soi đến trên đảnh của mười phương các Đức Phật nhiều như số vi trần và đảnh của các vị Pháp Vương tử, các vị Bồ-tát các cõi nước kia.

Các Đức Phật ở các cõi kia cũng từ nơi năm vóc phóng hào quang soi đến trên đảnh của Đức Phật và đảnh các vị Bồ-tát, A-la-hán trong hội này. Rồi rừng cây, ao hồ v.v... tất cả đều diễn pháp âm (nói pháp). Hào quang thì giao xen lẫn nhau, không còn phân biệt đây kia nữa. Đúng là không còn ngôn ngữ nào nói hết được. Đến đây chỉ còn trực tiếp nhận thấy mới biết thôi. Như vậy, lúc này trong pháp hội là tâm tâm thầm cảm với nhau, không còn ngăn cách kia đây. Nhìn đến đâu cũng thấy hào quang Phật, cũng gặp Phật, thấy Phật. Rồi nghe cái gì cũng thành nghe pháp, cho nên rừng cây, ao hồ gì cũng nói pháp hết. Như vậy, đâu còn chỗ nào để niệm tạp xen vào! Quả thật vượt qua cảnh giới của ngôn ngữ luận bàn.

Bấy giờ, trong chúng được việc chưa từng có, đều được Kim Cang Tam-muội. Tâm vững chắc không còn lay động.

Rồi trời mưa hoa sen báu, mười phương hư không đều thành sắc bảy báu, đất đai, núi, sông ở cõi Ta-bà này đều ẩn mất, các cõi nước mười phương đều thông làm một cõi, tiếng ca hát khen ngợi tự nhiên nổi lên. Đến đây cõi Ta-bà này không còn thấy núi sông, chỗ cao, chỗ thấp, chỗ lồi, chỗ lõm gì nữa; ngay đây đều thành Tịnh độ. Vậy núi sông, đất liền lúc này ẩn đi đâu? Ai thấy được chỗ đó mới hay.

Trong hội lúc ấy, tâm của đại chúng đều thanh tịnh, chứng Kim Cang Tam-muội, không có các tưởng niệm sai biệt. Do không có những tưởng niệm sai biệt, không có tạp niệm xen vào nên thấy tất cả đều thanh tịnh, xóa tan ranh giới kia đây, chỉ còn một tâm thanh tịnh, sáng suốt. Vậy là những cái kia ẩn hết. Để chứng minh lời Phật dạy “tâm tịnh tức cõi tịnh”, khi tâm chúng ta thanh tịnh thì cõi thanh tịnh, còn nếu tâm không thanh tịnh thì dù cho ở cõi Phật cũng thấy thành cõi chúng sanh. Trái lại, tâm thanh tịnh thì ở cõi Ta-bà cũng thấy thành Tịnh độ.

Người chứng đến thì mới biết rõ ràng lẽ thật này không nghi. Chỗ này dù có tưởng tượng thì tưởng cũng không ra nổi. Suy tưởng là chỉ suy tưởng theo tâm chúng sanh. Tâm chúng sanh tức là tâm sai biệt, mà tâm sai biệt thì tưởng sao nổi chỗ tâm thanh tịnh này. Tức đem tâm không thanh tịnh mà tưởng cái chỗ thanh tịnh thì tưởng sao ra nổi? Tưởng không ra nhiều khi còn hiểu thành lệch lạc. Cho nên, nhiều khi chúng ta không khéo đọc kinh, đem tâm suy nghĩ phân biệt của mình mà bóp méo lời Phật dạy, hoặc phê phán theo ý riêng của chúng ta thì càng đi xa nữa. Bởi vậy, đừng quá ỷ lại vào tâm phân biệt này. Đó là chỗ chúng ta phải cẩn thận!

 

CHÁNH VĂN:

Bấy giờ, Đức Như Lai bảo Ngài Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương tử: “Ông hãy xét trong hai mươi lăm vị Vô học gồm các vị đại Bồ-tát và A-la-hán, mỗi mỗi đều trình bày phương tiện thành đạo lúc ban đầu, đều nói tu tập tánh viên thông chân thật, chỗ tu hành của các vị kia thật không có hơn kém, trước sau khác nhau.

Nay Tôi muốn khiến cho ông A-nan được khai ngộ, trong hai mươi lăm pháp tu, pháp nào hợp với căn cơ của ông ấy; và gồm sau khi Tôi diệt độ, chúng sanh trong thế giới này muốn vào Bồ-tát thừa để cầu đạo Vô thượng, sẽ dùng môn phương tiện nào dễ được thành tựu hơn?”.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi chọn căn viên thông thích hợp cho Ngài A-nan và chúng sanh đời sau ở thế giới này để làm phương tiện vào Bồ-tát thừa. Như vậy, đây là chọn pháp môn hợp với căn cơ chúng sanh ở cõi này.

Ở trước, Phật bảo các vị đại Bồ-tát cũng như các vị A-la-hán, mỗi vị trình bày phương tiện tu tập tánh viên thông chân thật của từng vị. Có vị từ căn mắt, có vị từ căn mũi v.v..., nhưng đều là tu tập tánh viên thông chân thật không có hơn kém. Đây chính là điểm chúng ta cần phải nhận cho kỹ. Tức là phương tiện thì có sai khác nhưng chỗ tu chứng chân thật thì không có hơn kém, sai khác.

Nghĩa là lối vào thì có nhiều nhưng đạo chân thật đó không có hai. Đó là để trừ niệm sai lầm tưởng đâu là có hai đạo chân thật. Bởi vì nếu còn thấy có ta tu được đạo đặc biệt hơn, thấy chỗ được của mình đặc biệt hơn người khác thì thành ra kẹt vào sở đắc, thành bệnh. Đây chỉ là phương tiện tu, mỗi người thích hợp phương tiện nào thì ứng dụng pháp tu ấy. Pháp nào thích hợp với mình thì pháp đó hay với mình, nhưng với người khác thì cũng chưa hẳn là hay. Đó là chỗ chúng ta phải nhận cho kỹ.

Ở đây, Ngài Văn-thù chọn căn viên thông hợp với căn cơ chúng sanh cõi này để giúp phương tiện cho người cõi này tu tập dễ thành tựu hơn, không phải Ngài cho là pháp này hay hơn pháp kia, pháp này hay pháp kia dở, không phải chê khen như thế. Nếu sanh tâm phân biệt, chê khen trong đó thì cách xa với đạo.

 

CHÁNH VĂN:

Ngài Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương tử vâng từ chỉ của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ nơi chân Phật, nương vào oai thần của Phật, nói kệ đáp lại:

     Bản tánh biển giác khắp đứng lặng,

     Tánh khắp đứng lặng vốn nhiệm mầu.

GIẢNG GIẢI:

Đây Ngài Văn-thù-sư-lợi nương oai thần của Phật, dùng kệ đáp lời Phật, không phải tự ý Ngài đặt ra. Mở đầu Ngài nói rõ:

    Bản tánh biển giác khắp đứng lặng,

    Tánh khắp đứng lặng vốn nhiệm mầu.

Trước khi chọn căn viên thông, Ngài nói thẳng về cái gốc chân thật ban đầu để trừ niệm phân biệt hơn kém sau này. Bởi vì bản tánh biển giác tức là tánh giác chân thật sẵn có không phải là cái tạo tác, không phải là cái do tu chứng mới thành nên gọi là bản tánh vốn tròn đầy, đứng lặng, không có thêm bớt, không có các tướng gì khác ở trong đó.

Rồi trong tánh tròn đầy, trong lặng đó, không phải nó hoàn toàn không ngơ, mà nó vốn là nhiệm mầu, đầy đủ diệu dụng. Như Quốc sư Trúc Lâm chỉ cho Vua Trần Thái Tông: “Nếu tâm bệ hạ lặng mà biết rõ ràng, thì chính đó là tâm Phật”. Ở đây thì nói là trong lặng mà nhiệm mầu, chớ không phải trong lặng mà không ngơ, không phải chết cứng ở một chỗ, đúng như nghĩa thể dụng đầy đủ, không nghiêng lệch một bên.

 

CHÁNH VĂN:

     Bản minh chiếu ra hình như sở

     Sở lập thì mất đi tánh chiếu.

GIẢNG GIẢI:

Bản minh tức là cái gốc sáng suốt sẵn có. Nó là cái sáng suốt sẵn có rồi, không cần thêm gì nữa nên là bản minh, không cần cái minh thêm nữa. Nhưng do bất giác rồi quên cái gốc, cái vốn sẵn có của nó mà theo cái minh chiếu ra. Do theo cái minh chiếu ra thành như có cái sở, tức thành có đối tượng. Ban đầu vốn không có thêm cái gì khác, nhưng giờ đây biến ra có thêm cái sở, là đối tượng. Mà đã có sở rồi tức là đánh mất đi tánh chiếu của nó.

Tánh chiếu là cái chiếu soi sẵn có. Nó vốn lìa các duyên nhưng giờ thành có chỗ để duyên, là lệ thuộc vào đối tượng, là chỗ vi tế bất giác khó thấy ban đầu đó. Cho nên tu là ngộ trở lại ngay cái chỗ bất giác đó, là thấy tột về nguồn giác.

 

CHÁNH VĂN:

     Do mê vọng mà có hư không,

     Nương hư không lập thành thế giới.

     Tư tưởng lóng lặng thành cõi nước,

     Phân biệt hiểu biết là chúng sanh.

GIẢNG GIẢI:

Như vậy cái gốc sáng suốt sẵn có đã mê rồi, thành vọng có cái hư không mênh mang, không bờ mé. Ban đầu gốc là sáng suốt sẵn có nhưng mê mất gốc rồi thành mờ mờ mịt mịt. Cái mờ mờ mịt mịt thì mênh mang thành hư không không bờ mé, không biết đâu là điểm trụ. Kiểm lại sẽ thấy rõ khi tâm đang tỉnh táo sáng suốt, bỗng mơ mơ màng màng giống như hư không mênh mang vậy đó, không rõ ràng đâu là bờ mé hết. Cho nên nói do mê vọng mà có hư không, rồi nương hư không mới thành lập thế giới. Tức là thế giới được thành lập ở trên hư không.

Như ở trước đã nói rõ. Do cái giác sáng soi, và hư không mờ tối, hai cái đối đãi với nhau thành có dao động nên có phong luân giữ gìn thế giới. Vậy tức là trong cái chưa từng động mà vọng thành có động. Nhưng động ở trong hư không mênh mang, không có điểm tựa. Thế giới còn trụ là do phong luân giữ gìn. Mà phong luân là động cho nên chúng ta sống trong thế giới này là sống trong cái luôn luôn động; mà lại động trong hư không mênh mang không có điểm tựa. Như vậy cái động đó cũng không có thật tánh, không có chắc chắn. Nếu quán kỹ thì ngay đó liền có chỗ tỏ ngộ.

Tư tưởng lóng lặng thành cõi nước, Phân biệt hiểu biết là chúng sanh. Tức là từ cái thể giác mà chợt mê đi thành ra có vọng giác. Rồi cái vọng giác do mê mờ nên nó lóng lặng thành như cõi nước vô tình làm chỗ nương tựa. Mặc dù nó đã thành cái vọng giác mê mờ, lóng lặng thành cõi nước vô tình nhưng trong đó vẫn không rời tánh chân. Thành ra trong đó vẫn còn có chúng sanh phân biệt hiểu biết. Trong cái cõi nước vô tình đó có chúng sanh hữu tình. Tuy nó phân biệt, hiểu biết nhưng vẫn còn mang tánh giác trong đó, chớ không phải là nó hoại hết.

Do đó, nếu ngay cái chúng sanh này khéo giác ngộ trở lại thì bản giác xưa nay vẫn không có mất. Đó là chỗ mỗi người cần phải tỉnh ngộ trở lại. Cho nên đây Ngài Văn-thù trước khi lựa chọn, Ngài chỉ ra những lẽ thật sâu xa này.

 

CHÁNH VĂN:

     Hư không sanh trong biển Đại Giác,

     Như hòn bọt nổi trên biển cả.

     Các cõi hữu lậu như vi trần,

     Đều nương hư không mà phát sanh.

     Bọt nổi diệt hư không vốn không,

     Huống nữa là hình tướng ba cõi.

GIẢNG GIẢI:

Quán thấu chỗ này rồi liền thấy thế giới chúng ta đang sống không có ý nghĩa gì hết. Xét cho rõ thì hư không là cái vọng sanh ở trong biển Đại Giác thênh thang rộng lớn. Hư không giống như hòn bọt nổi, vậy có nghĩa lý gì đâu! Bởi nó là thứ vọng sanh trong cái mê mờ nên không có chắc chắn.

Rồi các cõi nước nhiều như vi trần, tức nhiều như hạt bụi thì lại nương nơi hư không phát sanh. Có cõi nước nào ngoài hư không mà có được, vậy thì bao nhiêu cõi nước đó có chắc chắn gì? Có chỗ nào để chúng ta bám trụ? Quán đến chỗ này là không còn chỗ nào để chúng ta mong cầu sanh đến, thì ngay đó là vô sanh, là giải thoát! Sở dĩ người ta còn sanh tử là còn thấy có chỗ để sanh đến, mới cầu sanh đến đó cho nên còn sanh tử, tức còn chỗ sanh. Giờ hết chỗ để sanh thì ngay đó là vô sanh, là giải thoát.

Đây chính là chỗ mỗi người cần phải thấy trở lại, mà không chịu thấy, lo đi tìm thấy cái gì! Tìm thấy những cái hư dối, vọng tưởng đâu đâu, thật đáng tiếc! Thấy trở lại biển Đại Giác này mới là quan trọng. Chính từ chỗ này mới vọng sanh ra hư không, rồi bao nhiêu tinh tú, thiên hà, bao nhiêu thiên thể chỉ nằm trong hòn bọt nổi hư không này thôi. Sống được trong biển Đại Giác rồi thì đối với thế giới này, với những trần cảnh, văn minh vật chất này, thấy không có gì đáng để tham luyến, không có gì đáng để mong cầu. Đó là con đường giải thoát. Đây là lời chân thật nhưng ít ai chịu nghe, lại muốn đi nghe những lời hư vọng. Đó là chỗ muốn nhắc cho tất cả.

 

CHÁNH VĂN:

     Trở về nguồn tánh vốn không hai,

     Phương tiện tu chứng có nhiều cách,

     Cách nào cũng thông vào bản tánh,

     Nói thuận nói nghịch đều phương tiện,

     Do hàng sơ tâm vào Tam-muội,

     Bên mau bên chậm không đồng nhau.

GIẢNG GIẢI:

Xoay trở lại tột nơi nguồn chân ban đầu, chỉ một thể giác chớ đâu có gì khác, đâu có hai. Nhưng phương tiện tu chứng để sống trở về nguồn chân thật thì có nhiều cách. Cho nên 25 vị Thánh trình ra 25 pháp tu, đó là những phương tiện chớ có chấp vào để thành ngăn ngại.

Quan trọng là thấu tột nguồn “không hai” đó mới là chỗ quý. Chớ có phân biệt trệ ngại ở trên pháp tu, vì pháp nào cũng thông vào bản tánh. Do hàng sơ tâm vào Tam-muội có bên mau, bên chậm không đồng mới có nói thuận nói ngịch, nói phương tiện này phương tiện kia cốt để dẫn vào nguồn tánh không hai đó thôi. Đây là ngăn ngừa trước.

Kế lựa ra pháp tu, trước lựa ra sáu trần:

 

CHÁNH VĂN:

     Vọng tưởng kết lại thành sắc trần,

     Hay biết không thể thông suốt được,

     Làm sao chính chỗ không thông suốt

     Tu hành lại được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Đây lựa về sắc trần. Trước, ông Ưu-ba-ni-sa-đà quán về xương trắng, quán thành vi trần cho đến chẻ sắc gần với hư không, đến khi vi trần và sắc tướng hết thì diệu sắc thầm tròn mà tự chứng viên thông. Như vậy, ông Ưu-ba-ni-sa-đà quán về sắc trần cũng vào được đạo, tu chứng đến Vô lậu. Nhưng với người sơ tâm thì pháp tu này không phải dễ dàng, làm sao thấy thấu qua sắc ngại đó để chứng viên thông? Bởi vì sắc trần có tướng ngăn ngại, thì cái hay biết không dễ gì thông suốt được. Ngài không phải chê pháp đó không vào được viên thông, nhưng đó là chỗ khó với người sơ tâm. Cho nên Ngài lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Âm thanh xen lộn với lời nói,

     Chỉ nương theo ý vị danh từ,

     Nếu một, không trùm được tất cả,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Kiều-trần-na từ âm thanh chứng được đạo. Nhưng âm thanh lại thường xen với lời nói, mà lời nói có danh từ, có ý vị cho nên người nghe dễ bám theo lời nói rồi theo ý vị. Ý vị tức là những nghĩa lý của danh từ, dễ mắc kẹt trong đó. Hơn nữa, danh từ, ý vị cùng lời nói có giới hạn, đâu nói hết được ý nghĩa. Nếu không thấu suốt qua được thì làm sao thông được một nghĩa trùm hết tất cả nghĩa, vậy mới được viên thông. Còn nếu cái nghĩa thuộc về chữ nghĩa tất nhiên nó giới hạn, mà giới hạn thì không viên thông. Như vậy tức là nó có giới hạn ngăn ngại, thì sơ tâm khó được viên thông. Đó là chỗ khó của người sơ tâm cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Hương chỉ lúc hợp mới rõ biết,

      Lúc rời ra thì vốn là không.

      Nếu chỉ biết không được thường hằng,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Đồng tử Hương Nghiêm do từ hương trần mà chứng đạo. Nhưng lúc mùi hương hợp với lỗ mũi thì mới rõ biết được, chưa hợp với lỗ mũi thì đâu biết. Như vậy, nếu rời ra thì nó vốn là không, tức là không thành hương trần. Do chỗ biết với hương trần không được thường hằng, có hợp lại mới biết, rời ra thành không cho nên người sơ tâm cũng khó chứng viên thông. Do đó Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Vị không phải bản nhiên tự có,

     Cần phải nếm mới biết có vị,

     Nếu giác quan không thường duy nhất,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Dược Vương, Dược Thượng từ vị trần chứng viên thông. Nhưng xét cho kỹ thì cái vị không phải là cái vốn sẵn có mà cần phải hợp với cái nếm mới có biết vị, mới thành vị trần. Có nếm mới biết vị, còn không nếm làm sao biết vị! Khi rời ra thì cái vị nó cũng thành không. Như vậy, nó cũng không phải là cái thường hằng duy nhất, mà lúc có lúc không. Đối với người sơ tâm thì chỗ đó cũng là chỗ khó nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Xúc do các vật chạm mà biết.

     Không vật chạm thì không thành xúc.

     Khi hợp, khi ly không nhất định.

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Bạt-đà-bà-la tu về cái xúc mà chứng đạo. Nhưng xúc cũng không thường hằng, lúc chạm với thân mới có, mới thành xúc, còn không chạm thì không có, tức không nhất định, mà không nhất định thì làm sao y đó để tu chứng được viên thông? Cho nên đó cũng là chỗ khó của hàng sơ tâm, do đó mà cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Pháp cũng có tên là nội trần,

     Nương theo trần tất phải có sở,

     Năng sở, không viên dung nhập một.

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Ma-ha Ca-diếp từ pháp trần mà vào, nhưng pháp trần là do năm thứ tiền trần bên ngoài đọng lại thành bóng dáng ở bên trong. Bóng dáng bên trong đó nó làm duyên cho ý căn, ý căn duyên với bóng dáng gọi là nội trần. Nương theo đó thì phải có sở, phải có đối tượng, là có sở có năng. Như vậy làm sao viên dung nhập một không còn năng sở được? Hàng sơ tâm cũng khó vào, cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

Đến đây là lựa ra năm căn:

 

CHÁNH VĂN:

     Cái thấy tuy rỗng suốt rất xa,

     Nhưng thấy trước mà chẳng thấy sau;

     Bốn bề còn thiếu mất một nửa,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài A-na-luật từ nhãn căn vào đạo. Cái thấy thuộc về nhãn căn thì không được viên dung; tức thấy trước mà không thấy sau; còn bốn bên thì thấy bên này mà không thấy được hết bốn hướng, thấy chỉ có một phần nên nói bốn bề vẫn còn thiếu một nửa, nên không được tròn đủ. Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm chứng viên thông. Nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Mũi có thở ra và thở vào,

     Chặng giữa hiện không có hơi thở;

     Nếu không viên dung sự cách bức,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Châu-lợi-bàn-đặc-ca từ tỷ căn mà tu chứng. Tỷ căn tức hơi thở ra thở vào. Mũi thở ra thở vào thì khoảng giữa có cách hở. Vậy làm sao viên dung được chỗ cách hở đó? Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Ngoài sở nhập, tánh nếm không thành,

      Nhân vị trần mà sanh hay biết;

      Không có vị, cái biết không có,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Kiều-phạm-bát-đề từ thiệt căn vào đạo. Nhưng thiệt căn đối với vị trần mà sanh cái hay biết, thì cái hay biết nơi thiệt căn khi đối với vị trần nó mới sanh; không có vị trần thì cái hay biết đó cũng không thể hiện. Không có vị trần thì cái biết vị đó là biết vị gì? Tức cái hay biết đó cũng không thể hiện được. Như vậy nương theo đó làm sao được viên thông? Cho nên cũng là chỗ khó cho hàng sơ tâm vào viên thông. Do đó mà Ngài Văn-thù lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Thân biết xúc đồng với cảnh sở xúc,

     Đều có hạn không phải cùng khắp,

     Nếu không nhận tánh không bờ bến,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Tất-lăng-già-bà-ta từ thân xúc mà tu chứng. Nhưng thân biết xúc với cảnh bị xúc, mỗi cái có giới hạn của nó nên không đến kịp với nhau. Vậy trong cái thân biết xúc với cảnh bị xúc đó làm sao nhận ra được tánh không bờ bến thì mới vào được viên thông. Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm, nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Ý căn xen với các loạn tưởng,

     Đứng lặng, rốt cuộc không thấy gì;

     Nếu không thoát được các tưởng niệm,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Tu-bồ-đề từ ý căn mà chứng quả Vô lậu. Nhưng ý căn đi với loạn tưởng, khi loạn tưởng đứng lặng, dừng lại hết thì ý căn bám vào đâu mà hiện? Làm sao biết có ý căn? Như vậy phải bám vào các tưởng niệm mới biết được ý căn, ý căn mới hiện. Tuy nhiên, nếu mãi bám vào các tưởng niệm thì làm sao buông được duyên, làm sao chứng viên thông? Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

Đến đây lựa ra sáu thức:

 

CHÁNH VĂN:

      Nhãn thức phát khởi nhờ căn trần,

      Gạn cùng vốn không có tự tướng;

      Cả tự thể còn không nhất định,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Xá-lợi-phất từ nhãn thức vào đạo. Nhưng ở đây xét kỹ thì nhãn thức có được là phải nương vào nhãn căn và sắc trần, chớ không thể tự có. Đã nương vào căn trần mới có thì nó không có tự thể của nó, vì phải nương vào cái khác. Vậy tức là nó không có tự thể nhất định, thì làm sao nương vào đó để được viên thông? Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm nên Ngài Văn-thù lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Tâm nghe thông suốt cả mười phương,

     Là do sức hoằng thệ rộng lớn;

     Sơ tâm không thể đến chỗ ấy,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Phổ Hiền dùng tâm nghe nghe thông suốt cả mười phương thành hạnh Phổ Hiền. Nhưng với người sơ tâm thì không dễ, làm sao dùng tâm nghe mà nghe khắp mười phương. Cho nên, đây mới nói đó là do sức thệ nguyện rộng lớn của Bồ-tát Phổ Hiền mà được, hàng sơ tâm đâu được dễ dàng. Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm, do đó Ngài Văn-thù lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Tưởng chót mũi, vốn là quyền cơ,

     Chỉ để nhiếp tâm được an trụ;

     Nếu cảnh quán lại thành sở trụ,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Tôn-đà-la Nan-đà từ nơi tỷ thức vào đạo. Do Ngài quán từ chót mũi thấy cái tướng hơi trắng, có khói, rồi từ từ đi sâu vào. Nhưng đây Bồ-tát Văn-thù nói đó là quyền cơ tức là phương tiện tạm thời để nhiếp tâm an trụ. Nếu người không khéo biết, không buông được cảnh sở quán, cứ bám vào cảnh đó hoài thì cũng không được viên thông. Tức là tạm mượn chỗ quán đó để tâm an trụ nhưng không khéo thấy có cảnh sở quán đó rồi kẹt nơi cảnh sở quán, thì làm sao thấu suốt được viên thông? Đó là chỗ lo ngại cho hàng sơ tâm dễ mắc kẹt. Cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Nói pháp khéo dùng các danh từ,

      Cốt yếu trước phải được khai ngộ,

      Nếu lời nói không phải vô lậu,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Phú-lâu-na từ nơi thiệt thức vào viên thông. Do biện tài vô ngại nên Ngài tuyên nói lý khổ không rồi thâm đạt được thật tướng. Với Ngài Phú-lâu-na thì dễ nhưng mà với người sơ tâm thì không dễ. Tuyên nói lý khổ-không, rồi thâm đạt được thật tướng thì đây Ngài Văn-thù nói là do căn cơ đã thuần thục rồi mới được như vậy, chớ không phải dễ với hàng sơ tâm. Tức là trước phải được khai ngộ, vượt qua lời nói, đạt được ý sâu ngoài lời, mới thông suốt được. Còn không khéo mắc kẹt trên chữ nghĩa thì làm sao được viên thông. Đây là chỗ khó cho hàng sơ tâm, do đó Bồ-tát Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Giữ giới chỉ câu thúc cái thân,

      Ngoài thân ra lấy gì câu thúc?

      Vốn không phải cùng khắp tất cả,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Ưu-ba-ly nơi thân thức trì giới thanh tịnh được tu chứng. Nhưng nếu chỉ bám vào sự câu thúc của thân thì ngoài thân ra lấy gì câu thúc? Giới là bám vào thân, giờ ngoài thân lấy gì mà câu thúc? Chỗ giải thoát chân thật đâu phải ở thân mà giữ thân, đó là chỗ khó cho người sơ tâm. Nếu không vượt qua chỗ này thì làm sao được viên thông tự tại cùng khắp? Cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Thần thông bởi túc tập từ trước,

      Nào dính gì ý thức phân biệt;

      Tưởng niệm không thoát ly sự vật,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Mục-kiền-liên tu về ý thức như đã trình ở trước. Do xoay ý niệm trở về tánh yên lặng nên tâm tánh sáng suốt, như lóng nước đục, lóng càng lâu thì nước càng trong sáng. Từ tâm lặng lẽ, tròn sáng nhiệm mầu phát ra các thần thông diệu dụng. Đây là do túc tập từ trước, không phải do pháp phân biệt của ý thức mà có được. Giải thoát không phải ở thần thông. Bởi vì ý thức phân biệt luôn đi đôi với căn và trần; nếu không có ý căn thì đâu thành ý thức, rồi không có pháp trần thì phân biệt cái gì! Cho nên, không có căn trần thì ý thức phân biệt cũng không thành, làm sao trong đó khiến được viên thông? Chẳng lẽ phải nương với căn trần mãi hay sao? Hàng sơ tâm cũng khó tu tập, cho nên Ngài Văn-thù lựa ra.

Kế là lựa ra bảy đại:

 

CHÁNH VĂN:

     Nếu quán về tánh của địa đại,

     Thì nó ngăn ngại không thông suốt,

     Pháp hữu vi không phải chân tánh,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Trì Địa quán thông địa đại vượt lên thành viên thông. Nhưng đây Bồ-tát Văn-thù nói là người sơ tâm cũng không phải dễ tu tập. Địa đại thì tánh là ngăn ngại, không thông suốt. Nó thuộc về pháp hữu vi chớ không phải chân tánh. Người sơ tâm làm sao ở trong đó mà thành viên thông được? Làm sao vượt qua được ngăn ngại đó? Đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm, nên Bồ-tát Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Nếu quán về tánh của thủy đại,

     Quán tưởng đâu phải là chân thật;

     Thể như như không do giác quán,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Đồng tử Nguyệt Quang quán tưởng về nước mà thành tựu Vô sanh nhẫn. Quán về nước được trùm khắp hết, cả căn phòng thành đầy nước. Nhưng Bồ-tát Văn-thù nói là thuộc về quán tưởng, mà quán tưởng thì không phải chân thật. Còn thể như như đó thì không thuộc về giác quán, tức giác quán không quán đến, không có tưởng đến trong đó được. Cái thể như như làm sao quán tưởng đến trong đó? Thành ra đó là chỗ khó cho hàng sơ tâm, làm sao vượt qua được chỗ quán tưởng đó? Cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

      Nếu quán hỏa đại, trừ dâm dục,

      Chán cái có không phải thật ly;

      Phương tiện không hợp với sơ tâm,

      Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Ngài Ô-sô-sắt-ma quán về hơi ấm nơi thân tâm đều lưu thông không ngăn ngại, các lậu được tiêu, phát sanh ngọn lửa đại trí quý báu, lên bậc Vô thượng Giác. Do chán ghét lửa dâm dục, bỏ tướng hữu vi chuyển thành lửa trí tuệ, mới vượt lên thành Thánh đạo. Ngài Văn-thù nói đó là thuộc về ưa chán, lấy bỏ; chán lửa dâm dục mà chuyển thành lửa trí tuệ, thành ra có ưa chán. Mà ưa chán, lấy bỏ thì đó là thuộc về phương tiện, sơ tâm cũng khó khế hợp. Cho nên Ngài Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Nếu quán về tánh của phong đại,

     Động tịnh đâu phải không đối đãi;

     Đối đãi trái với Vô thượng Giác,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Lưu Ly Quang tu quán Phong đại. Từ quán tướng động của gió rồi phát minh ra tánh bất động, ngộ được thật tướng. Nhưng Bồ-tát Văn-thù cũng chỉ ra: Có động có tịnh cũng thuộc về pháp đối đãi, là trái với Vô thượng Giác. Hàng sơ tâm đâu dễ gì ở trong đó mà vượt qua để thành viên thông. Cho nên Bồ-tát Văn-thù cũng lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Nếu quán về tánh của không đại,

     Hư không vô tri không hay biết;

     Không biết khác hẳn với Bồ-đề,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Hư Không Tạng do quán thấu hư không không bờ mé, vào Tam-ma-địa, rồi sức nhiệm mầu được viên mãn sáng suốt. Đối với Bồ-tát Hư Không Tạng tu được thành tựu, nhưng với hàng sơ tâm cũng không phải dễ. Đây Bồ-tát Văn-thù nói rõ: Hư không vốn vô tri, không biết gì; còn Bồ-đề là giác, là rõ biết sáng suốt, nên hư không khác hẳn với Bồ-đề. Vậy thì người sơ tâm đâu dễ gì ở trong đó mà quán vượt lên hư không để thành viên thông. Đó cũng là chỗ khó cho hàng sơ tâm, nên Bồ-tát Văn-thù lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Nếu quán về tánh của thức đại,

     Thức sanh diệt đâu phải thường trụ;

     Để tâm trong phân biệt hư vọng,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Di-lặc tu về định Duy Tâm Thức mà thành tựu các Tam-muội diệu viên thức tâm, cho đến được Phật thọ ký. Đây Bồ-tát Văn-thù nói thức thuộc về sanh diệt. Giờ quán duy thức tức là không thấy có một pháp thật, tất cả đều là duy tâm. Nhưng nếu rời cảnh còn tâm thì chưa qua khỏi sanh diệt. Hàng sơ tâm làm sao ở trong đó để xoay về cho hợp với tánh giác, vượt qua cái sanh diệt? Đó cũng không phải dễ, nên Ngài Văn-thù lựa ra.

 

CHÁNH VĂN:

     Tất cả hành đều vô thường,

     Tưởng niệm vốn trong vòng sanh diệt,

     Nhân và quả khác nhau như thế,

     Thì làm sao được tánh viên thông?

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Đại Thế Chí tu về niệm Phật Tam-muội, thu nhiếp cả sáu căn cho niệm niệm được liên tục mà vào được Tam-ma-địa. Nhưng đây Bồ-tát Văn-thù nói các hành đều vô thường; hành tức là hành động tạo tác, đều thuộc vô thường, còn niệm thì cũng thuộc về sanh diệt. Cái nhân sanh diệt làm sao khế hợp với quả thường trụ. Vậy, làm sao vượt qua được cái đó để khế hợp? Đó là chỗ khó của người sơ tâm phải vượt qua, Bồ-tát Văn-thù cũng lựa ra.

Bồ-tát Văn-thù lựa ra hết căn, trần, thức, cho tới bảy đại trừ nhĩ căn. Đến sau cùng Ngài mới chọn ra nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Thế Âm là hợp với giáo thể cõi Ta-bà này.

 

CHÁNH VĂN:

      Nay con kính bạch Đức Thế Tôn,

      Phật ra đời nơi cõi Ta-bà,

      Trong cõi này lối dạy chân thật,

      Thanh tịnh do chỗ nói và nghe;

      Nay muốn tu chứng Tam-ma-đề

      Thật nên do cái nghe mà vào.

GIẢNG GIẢI:

Ngài Văn-thù phân tích rằng trong cõi này lối dạy chân thật, thanh tịnh là do chỗ nói và nghe. Cho nên nay muốn tu chứng Tam-ma-đề thì nên do cái nghe mà vào. Đó là hợp với giáo thể ở cõi này.

Trong nhà thiền, có vị tăng hỏi Hòa thượng Huyền Sa:

- Con mới vào tùng lâm, xin thầy chỉ cho con đường vào?

Ngài Huyền Sa bảo:

- Ông có nghe tiếng nước suối Yển chăng?

Ông tăng thưa:

- Dạ nghe.

Ngài Huyền Sa bảo:

- Hãy từ trong ấy mà vào.

Đó là Thiền sư chỉ thẳng từ cái nghe vào. Nhưng quan trọng là “biết vào”. Nếu kẹt ở trên cái nghe và âm thanh là không vào được.

Đây Ngài Văn-thù mới tán thán về pháp tu của Bồ-tát Quán Thế Âm:

 

CHÁNH VĂN:

     Xa rời khổ não, được giải thoát,

     Rất hay thay! Ngài Quán Thế Âm.

     Trong nhiều kiếp như cát sông Hằng,

     Vào cõi Phật như số vi trần.

     Được sức tự tại rất rộng lớn,

     Bố thí vô úy cho chúng sanh.

     Ngài Quán Thế Âm tiếng nhiệm mầu.

     Tiếng trong sạch và tiếng hải triều;

     Cứu đời mọi việc thảy an lành,

     Xuất thế gian được quả thường trụ.

GIẢNG GIẢI:

Hai câu đầu là khen ngợi Bồ-tát Quán Thế Âm được sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, cho nên nói: “Xa rời khổ não được giải thoát. Rất hay thay! Ngài Quán Thế Âm”. Ngài xa hết những khổ não, dứt sạch được hai thứ tử: tức phần đoạn tử và biến dịch tử, mới giải thoát hết những khổ não. Nên Ngài Văn-thù nói hay thay đó là chỗ chúng sanh cần phải đạt đến.

Hai câu kế: “Trong nhiều kiếp như cát sông Hằng. Vào cõi Phật như số vi trần”, khen ngợi 32 ứng thân của Bồ-tát Quán Âm hiện khắp các cõi Phật, gọi là vào cõi Phật như số vi trần.

Tiếp đến: “Được sức tự tại rất rộng lớn. Bố thí vô úy cho chúng sanh”, là khen ngợi 14 món vô úy, Bồ-tát Quán Âm sẵn sàng thí khắp cho chúng sanh để trừ sợ hãi, qua nội dung 14 món vô úy Ngài trình bày ở trước.

Rồi: “Ngài Quán Thế Âm tiếng nhiệm mầu. Tiếng trong sạch và tiếng hải triều”. Đây là khen ngợi về đức tướng và danh hiệu cảm đến chúng sanh, tức là danh hiệu của Bồ-tát Quán Âm có công đức lớn lao, ai niệm danh hiệu của Ngài thì tương đương với niệm danh hiệu của các Bồ-tát khác bằng với số lượng 62 ức sông Hằng.

Hai câu cuối: “Cứu đời mọi việc thảy an lành. Xuất thế gian được quả thường trụ”. Khen ngợi về việc cứu đời của Bồ-tát Quán Thế Âm được thành tựu rốt ráo.

Bồ-tát Quán Âm tu đạt quả thường trụ xuất thế gian cũng khiến cho người cũng được thành tựu quả xuất thế gian thường trụ.

Trước khi chọn pháp nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Văn-thù tán thán công đức của Bồ-tát Quán Thế Âm.

 

CHÁNH VĂN:

    Nay con kính bạch Đức Như Lai,

    Như lời Ngài Quán Âm vừa nói:

    Thí như có người ở chỗ vắng, 

    Chung quanh mười phương đều đánh trống 

    Mười chỗ đồng thời đều được nghe,

    Như thế mới chân thật viên thông. 

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Văn-thù xưng tán pháp tu nhĩ căn viên thông.

Như người ở nơi vắng vẻ, khi ấy mười phương đồng thời đánh trống, tuy mười chỗ đánh trống nhưng ngay đó đều nghe được hết, dù có vách tường ngăn cách cũng vẫn nghe. Để thấy rằng tánh nghe thông hết cả mười chỗ không có ngăn ngại trước sau hay xa gần, thành ra nhĩ căn có tánh viên thông. Ngài nói như thế mới là chân thật viên thông.

Người khéo thì có thể ngay nơi đó liền ngộ trở lại tánh nghe viên thông. Đây chính là chỗ đáng học, cần học cho thấu đáo. Kế Ngài mới chỉ ra nơi các căn không bằng:

 

CHÁNH VĂN:

   Mắt bị ngăn che, không thấy được,

   Thiệt căn, tỷ căn, cũng như vậy.

   Thân căn lúc hợp mới biết xúc,

   Ý căn lăng xăng không mối manh.

   Cách vách nhĩ căn vẫn nghe tiếng,

   Dầu xa dầu gần đều nghe được.

   Năm căn so sánh thật không bằng,

   Như thế mới chân thật viên thông.

GIẢNG GIẢI:

Năm căn kia đều có giới hạn không bằng nhĩ căn. Mắt bị ngăn che thấy trước không thấy sau; thiệt căn, tỷ căn có hợp thì mới biết; thân căn cũng vậy khi hợp thì mới có biết xúc, ly ra thì không. Ý căn thường lăng xăng, không rõ mối manh. Nhĩ căn thì dù xa dù gần dù ngăn bít nó cũng nghe, so với năm căn kia, nhĩ căn viên thông hơn. Ngài nói như thế mới chân thật viên thông. Đó là chỗ Bồ-tát Văn-thù so sánh để thấy rõ nhĩ căn này có ưu điểm viên thông.

 

CHÁNH VĂN:

    Tánh thanh trần có động có tĩnh,

     Trong tánh nghe thành có, thành không. 

    Khi không tiếng gọi là không nghe,

    Đâu phải thật không còn tánh nghe;

    Không tiếng tánh nghe đã không diệt, 

    Có tiếng tánh nghe đâu phải sanh;

    Trọn rời cả hai thứ sanh diệt,

    Như thế mới là thường chân thật.

GIẢNG GIẢI:

Tánh nghe nơi nhĩ căn không lệ thuộc thanh trần. Thanh trần thì có động có tịnh, khi phát ra hay nói lên thì nó động, nhưng khi để im thì nó lặng thành tịnh, mà có động có tịnh là có sanh có diệt, cũng là khi có khi không. Nhưng tánh nghe thì không phải theo đó mà thành có thành không.

Đây chỉ rõ: Khi không tiếng nhiều người gọi là không nghe, nhưng đâu phải thật là không có tánh nghe; không tiếng chỉ là thanh trần im lặng thôi, còn tánh nghe vẫn không thiếu vắng. Chúng ta quán kỹ sẽ cảm nhận rõ ràng tánh nghe viên thông, vượt cả sanh diệt. Thanh trần tức là tiếng, khi nghe tiếng thì tiếng có, qua rồi nó lặng thì tiếng thành không, nhưng tánh nghe vẫn không phải vì tiếng có tiếng không mà nó thành có thành không hay nó thành sanh thành diệt.

Tiếng thì có sanh có diệt, có động có tịnh nhưng tánh nghe vẫn không hai nên nó thường chân thật, không thiếu vắng. Vậy mà người ta lại không chịu xoay trở về tánh nghe thường chân thật này, lại lo chạy theo thanh trần để thành có thành không theo cái sanh diệt. Đó là chỗ mà Ngài muốn nhắc cho tất cả biết để xoay trở lại. Và cũng chính vì vậy mà Ngài chọn nhĩ căn viên thông.

 

CHÁNH VĂN:

     Dẫu cho trong lúc đang ngủ mê,

     Chẳng vì không nghĩ mà không nghe.

     Tánh nghe ra ngoài sự suy nghĩ,

     Thân, ý không thể so lường được.

GIẢNG GIẢI:

Đây là chỗ đặc biệt nữa. Tức là trong lúc ngủ mê không có suy nghĩ, mà cái nghe vẫn không mất. Để thấy tánh nghe còn vượt ngoài cái suy nghĩ, không phải do suy nghĩ mà có, suy nghĩ cũng không thể suy nghĩ đến được nó. Như ở trước, Phật dẫn chứng người ngủ mê nghe tiếng chày giã gạo thành như tiếng chuông tiếng trống. Lúc ngủ mê không suy nghĩ mà vẫn nghe được tiếng chày giã gạo, là tánh nghe không thiếu vắng; cũng chứng minh là nó vượt ngoài cái ý suy nghĩ. Đây như hồi chuông cảnh tỉnh cho những người có duyên được nghe những lời chân thật này phải khéo nhận trở lại tánh nghe thường hằng đó.

 

CHÁNH VĂN:

      Hiện nay, trong cõi Ta-bà này,

      Các thứ thanh luận được truyền bá,

      Do chúng sanh quên mất tánh nghe,

      Theo thanh trần nên bị lưu chuyển.

GIẢNG GIẢI:

Nói lên sự đua chen của người mê trong cõi Ta-bà. Quên mất tánh nghe mà chạy theo những lời nói, những luận bàn, bị ngôn ngữ chuyển nên đành phải đánh mất cái chân thật sâu xa nơi chính mình. Đó là theo thanh trần nên bị lưu chuyển, là đi theo đường chết mà xa với đạo chân thật.

 

CHÁNH VĂN:

      A-nan tuy có tánh nhớ dai,

      Vẫn không khỏi mắc các tà niệm;

      Há không phải tùy chỗ đắm chìm,

      Xoay ngược dòng thoát khỏi hư vọng.

GIẢNG GIẢI:

Đây dẫn lời Đức Phật trách Ngài A-nan nhớ dai nhưng vẫn không khỏi tà niệm là vướng vào nạn Ma-đăng-già. Đó cũng là nhắc chung cho những người khác, chớ không phải riêng Ngài A-nan. Tuy có sức thông minh lanh lợi nhớ dai nhưng mà cái nhớ đó đâu có qua khỏi các tà niệm, vì vậy phải thực tu.

Vết chân sai lầm đó nhắc người khác thấy rõ, để tránh không dẫm vào đó nữa. Cái hay nhất là “Há không phải tùy chỗ đắm chìm, Xoay ngược dòng thì thoát khỏi hư vọng”, là khéo ngay nơi chỗ đắm chìm đó mà xoay ngược dòng trở lại. Đó mới là con đường sống, là cá nhảy khỏi lưới. Ngay chỗ đắm chìm đó mà xoay ngược trở lại là vượt ra, còn theo đó là chìm luôn. Cho nên ai là người sáng suốt phải khéo xoay ngược lại, tức là buông chỗ mê đó mà xoay trở về thì đó là cái hay và cũng là không cô phụ lời chân thật của Như Lai. Đây là điều muốn nhắc cho tất cả.

 

CHÁNH VĂN:

     Thanh luận vốn dùng chỉ tánh nghe

     A-nan ông hãy chín chắn nghe,

     Nay tôi nương oai lực của Phật,

     Tuyên nói pháp Tam-muội chân thật,

      Chắc như Kim Cương Vương Như Huyễn, 

     Không nghĩ bàn xuất sanh chư Phật.

GIẢNG GIẢI:

Đây muốn nhắc là hãy nhân nơi tiếng nói, lời dạy mà nhận rõ trở lại tánh nghe luôn có mặt. Thanh luận là những lời dạy, những ngôn ngữ luận bàn, dùng để chỉ rõ tánh nghe, chớ mắc kẹt theo đó. Chúng ta phải nhân đó để nhận trở lại tánh nghe, chớ đừng theo nó mà bị chìm.

Cho nên Ngài nhắc: “A-nan ông hãy chín chắn nghe, nay tôi nương oai lực của Phật, tuyên nói pháp Tam-muội chân thật, vững chắc như Kim Cương Vương Như Huyễn”. Kim Cương Vương Như Huyễn thì chém đứt tất cả những thứ hư vọng. Từ chỗ đó mà xuất sanh ra chư Phật. Người khéo xoay trở lại sẽ thấy được cái gốc mà chư Phật thành Phật, chớ không phải tầm thường.

 

CHÁNH VĂN:

     Ông nghe tất cả pháp bí mật,

     Của chư Phật số như vi trần,

     Nếu trước hết không trừ dục lậu,

     Chứa nghe nhiều chỉ thành lầm lỗi,

GIẢNG GIẢI:

Đó là những chỗ chúng ta cần kinh nghiệm, xét lại mình để thấy rõ đường đi. Dù có nghe nhiều mà không trừ dục lậu thì cũng không ra khỏi lỗi lầm. Cho nên, vị nào lanh lợi cũng phải cẩn thận, không có ỷ lại, đừng để cho những ham muốn đi trước mình. Dục lậu, chữ lậu tức là rơi rớt trở lại trong sanh tử, trong ba cõi, nó dẫn chúng ta đi vào trong lầm lỗi.

 

CHÁNH VĂN:

     Dùng cái nghe thọ trì Phật pháp,

     Sao ông không tự nghe cái nghe?

     Tánh nghe không phải tự nhiên sanh,

     Nhân thanh trần mà có danh hiệu.

     Xoay cái nghe thoát ly thanh trần;

     Cái hay thoát ấy gọi là gì?

GIẢNG GIẢI:

“Dùng cái nghe thọ trì Phật pháp, sao ông không tự nghe cái nghe?”. Tức nghe trở lại tánh nghe, thì tánh nghe không phải tự nhiên sanh, nó chỉ là nhân thanh trần mà có danh hiệu. Như vậy, nếu xoay cái nghe thoát ly thanh trần, thì cái hay thoát đó gọi là cái gì? Chỗ đó đó! Chỉ cần bao nhiêu đó mà quán kỹ là đủ tỏ ngộ thấy đường đi. Cái bí quyết mà Ngài Văn-thù chỉ ra đây quá rõ ràng, là hãy dùng cái nghe thọ trì Phật pháp mà tự nghe trở lại cái đang nghe đây. Thay vì nghe cái bên ngoài thì nghe trở lại tánh đang nghe, đó mới là quan trọng.

Nghe trở lại thì tánh nghe này không phải tự nhiên sanh hay bỗng nhiên mà có, nó nhân thanh trần mà có danh hiệu. Tức là tánh nghe vốn không có tên, nhưng nhân đối với thanh trần tạm lập tên. Khi xoay cái nghe trở lại nó thoát khỏi thanh trần rồi, tức nó không vướng trong thanh trần nữa, thì cái mà hay thoát đó muốn gọi nó là cái gì? Nó đã thoát khỏi thanh trần rồi thì đâu có dùng tiếng mà gán cho nó. Thấy được chỗ đó là thấy chỗ thoát luân hồi! Tức là do có thanh trần nên tạm mượn danh hiệu gọi nói là “tánh nghe”, đó là lúc còn đối đãi. Giờ nó thoát khỏi thanh trần rồi thì muốn gọi nó là cái gì đây? Ngay đó ngộ là tự biết liền. Còn mắc kẹt nơi chữ nghĩa, ngôn ngữ tức không rời khỏi thanh trần thì không thấy được.

Quả đúng là Ngài chỉ rất cặn kẽ, đây gọi là bí quyết.

Nhà thiền, có lần có vị tăng hỏi Thiền sư Quang Mục:

 - Thế nào là cái chánh nghe?

Thiền sư Quang Mục đáp:

- Chẳng từ lỗ tai mà vào.

Cái chánh nghe đó là không phải từ lỗ tai vào, từ lỗ tai là còn đối với thanh trần, là không phải chánh nghe.

Ông tăng hỏi:

- Vậy thì làm thế nào?

Ngài Quang Mục đáp:

- Ông lại nghe chăng?

Hỏi: “Đã không từ lỗ tai vào thì làm thế nào?”, Ngài gạn trở lại: “Vậy ông lại nghe chăng?”. Cái này đâu phải lệ thuộc vào trong lỗ tai với căn trần. Chỉ thẳng như vậy! Chúng ta thấy được chỗ này là thấy được chỗ chân thật vượt căn trần. Đó cũng là con đường về của chúng ta.

Đoạn kinh này là đoạn kinh rất quan trọng, gọi là bí quyết.

 

CHÁNH VĂN:

     Một căn đã trở về bản tánh,

     Thì cả sáu căn thành giải thoát.

GIẢNG GIẢI:

Một căn đã trở về bản tánh tức là trở về nguồn, là nó đã được nhổ lên, thì sáu căn liền thành giải thoát. Bởi vì sáu căn cũng đồng một thể tinh minh, khi mê nó chia thành sáu, giờ một căn này nhổ lên rồi thì trở về bản tánh không hai, đâu còn chia cách ngăn ngại nữa. Mới thấy mê làm chi ở sáu căn này để cho khổ? Trong khi lẽ thật không hai, không phải lệ thuộc vào trong căn này. Đó là chỗ chúng ta phải khéo nhận để trở về.

 

CHÁNH VĂN:

      Thấy nghe như bệnh lòa huyễn hóa,

      Ba cõi tợ hoa đốm trong không.

      Xoay cái nghe gốc lòa tiêu dứt,

      Trần tướng tiêu tánh giác viên tịch.

GIẢNG GIẢI:

Đây là chỗ cần nên nhớ: Cái thấy nghe như bệnh lòa, không có thật, còn ba cõi giống như hoa đốm trong hư không, không có cái gì đáng để bám luyến. Tức là cái thấy-nghe-hiểu-biết ngay sáu căn, đây nói gọn là cái thấy-nghe này như bệnh lòa huyễn hóa từ một thể giác nguyên thủy không hai, chưa từng có sanh có diệt, do bất giác quên cái thể không hai đó, biến thành có thấy, nghe, hiểu, biết, rồi cột nó với các trần. Đó là điều đáng buồn, đáng tiếc! Từ một thể giác nguyên thủy không hai, chưa từng có sanh diệt, bây giờ sao bỗng nhiên bất giác quên nó đi rồi biến thành có thấy, nghe, hiểu, biết ngăn cách với nhau, cột với sáu trần. Đây nhắc lại cho mỗi người cần phải thức tỉnh, chớ có đắm mê trong đó nữa!

Rồi ba cõi giống như hoa đốm trong hư không, không có chắc thật gì hết. Thế gian này thì chỉ là một phần nhỏ trong ba cõi. Vậy có đáng gì để chúng ta mê trong đó? Cho nên cần phải dõng mãnh để xoay cái nghe trở lại tánh chân thật. Ngài muốn nhắc là nhắc chỗ đó.

Xoay cái nghe trở lại thì gốc bệnh lòa tiêu dứt. Gốc lòa tiêu dứt thì trần tướng hết chỗ để nương. Trần tướng tiêu thì tánh giác sẽ viên tịch. Bởi gốc lòa nơi sáu căn đã tiêu rồi thì trần tướng nương vào đâu? Trần tướng nương là nương mấy cái lòa của sáu căn này, tức cái thấy-nghe-hiểu-biết thành lòa này. Trần tướng hết sạch thì tánh giác thành lặng lẽ tròn đầy, đâu còn mắc kẹt kia đây nữa. Đây mới là chỗ trở về và cũng là niềm vui lớn nhất.

 

CHÁNH VĂN:

     Tột thanh tịnh trí quang thông suốt,

     Thể tịch chiếu cùng khắp hư không.

     Trở lại xem các việc thế gian,

     Thật giống như chiêm bao không khác.

GIẢNG GIẢI:

Đối với người giác ngộ, với người trí nói thì nghe rất thoải mái, trong khi chúng ta vẫn còn nặng nề ở trong chiêm bao. Nghĩa là khi đã trở về rồi, tánh giác được lặng lẽ tròn đầy, khi nó tột chỗ thanh tịnh, căn trần không còn che thì ánh sáng trí tuệ thông suốt không che mờ, cái thấy suốt xưa nay không còn mê lầm, trong đó nó chiếu khắp mà vẫn thường tịch, cho nên nó không có mê theo chỗ chiếu. Nó thường tịch mà hay chiếu khắp nên không có gì làm mờ được nó. Gọi là thể tịch chiếu rộng khắp, đầy đủ cả hai nghĩa tịch và chiếu. Chúng ta tu tập phải nhớ kỹ, nếu nó nghiêng một bên thì chưa phải.

Từ cái thể tịch chiếu đó nhìn trở lại các việc trong thế gian thì giống như trong chiêm bao có gì đâu, không đáng bận tâm!

Người giác ngộ, giống như thức tỉnh giấc mê từ vô thủy. Khi tỉnh giấc mê từ vô thủy rồi, nhìn trở lại thế gian này thấy như giấc mộng, do đó các Ngài hết còn gì để ham muốn, để tham luyến. Còn chúng ta thấy thật cho nên mới còn ham muốn, còn tham luyến này nọ! Đây là điểm nhắc nhở, mong mỗi người đều thấy được để thức tỉnh mở mắt ra xem! Mỗi người hãy tự xét lại xem mình còn ham muốn nhiều hay ít, liền biết được tâm của mình thế nào rồi tự sách tấn mình. Thấy được con đường, chúng ta phải đi như thế nào để tu tiến hơn nữa, chớ đừng có tự mãn.

 

CHÁNH VĂN:

     Ma-đăng-già ở trong mộng kia,

     Còn ai đâu bắt ông được nữa?

     Như các huyễn sư khéo trong đời,

     Làm trò hóa ra các trai gái;

     Tuy thấy các căn đều cử động,

     Cốt yếu do cái máy giựt dây,

     Máy dừng tất cả đều yên lặng,

     Các trò huyễn trở thành không tánh.

GIẢNG GIẢI:

Khi sức thanh tịnh đã tột, trí quang thông suốt, có thể chiếu khắp, rồi nhìn trở lại thế gian giống như chiêm bao không gì khác, thì lúc đó Ma-đăng-già trong mộng đâu còn bắt mình được nữa. Bởi vì trước kia Ngài A-nan thấy thật cho nên mới bắt được, giờ thấy như người trong mộng tức nhiên Ngài A-nan tự giải thoát.

Cũng giống như huyễn sư khéo làm trò hóa ra trai gái. Tuy thấy các căn có cử động nhưng do người máy ở trong giật dây chứ có gì đâu. Đây cốt yếu là do cái máy giật dây, nếu cái máy dừng thì tất cả đều yên lặng, các trò huyễn trở thành không tánh, có cái gì thật ở trong đó đâu?

Vậy thấy rằng thân này tuy có cử động, có tới lui hoặc là có vui buồn nhưng sự thật vốn không có thật ngã. Do có nghiệp thức gá ở trong nên tạm còn hoạt động, khi nghiệp thức đi rồi thì nằm cứng đơ thôi, lúc đó mặc tình cho ai chửi bới. Rõ ràng nó vốn không thật ngã, trống rỗng không có tự tánh, không thật có ai ở trong đó. Quán kỹ như vậy thì chúng ta sẽ bớt lầm chấp. Và như vậy tất cả chúng ta sống ở đây, nói là sống chứ sự thật nếu nhìn theo con mắt này thì là diễn trò với nhau thôi. Mỗi người là mỗi con rối có hình tướng khác, và mỗi con rối có vai diễn khác. Khi hạ màn thì đồng ra nghĩa địa như nhau.

Thấy được chỗ đó rồi mới thấy cuộc đời không có ý nghĩa gì! Chỉ còn một việc là làm sao sáng tỏ trở lại tự tánh chân thật của mình, là cái thể thật chiếu rộng khắp, để sống trở lại mới là có ý nghĩa. Nhưng vì chúng ta còn mang nó, tức là cũng còn lệ thuộc vào nó thì còn mượn nó tạm sống để tu. Khi hết hạn rồi thì buông chớ không có gì luyến tiếc. Nhớ kỹ như vậy để bớt tham luyến vào thân này. Đừng tham cái gì trong đó để rồi chìm đắm không ra khỏi. Có gì để mà tham đắm trong đó! Tham đắm một cái trống rỗng rồi phải đành chịu nô lệ, chịu khổ trầm luân. Có đau không? Quán kỹ sẽ có sức tỉnh giác rất lớn.

 

CHÁNH VĂN:

    Cả sáu căn cũng giống như thế,

    Vốn đều nương một tánh Tinh Minh,

    Chia ra thành sáu thứ hòa hợp;

    Một nơi đã rời bỏ quay về,

    Thì cả sáu đều không thành lập;

    Liền ngay đó trần cấu đều tiêu;

    Chuyển thành tánh viên minh tịch diệu. 

GIẢNG GIẢI:

Từ một tánh Tinh Minh sáng suốt không hai, nhưng mê chia thành ra sáu thứ hòa hợp, tức là thấy, nghe, hiểu, biết nơi sáu căn. Nếu ngộ trở lại, ngay một căn mà quay trở về tánh nhất Tinh Minh thì cả sáu nơi đều thành rỗng suốt, tức là không thành lập. Sáu nơi đều thành rỗng suốt tức căn đã không thì trần bám vào đâu mà khởi? Ngay đó căn trần đều tiêu thì chuyển thành giải thoát. Ngay đó chuyển thành tánh viên minh tịch diệu. Tức là tánh sáng tròn, lặng lẽ, nhiệm mầu, không có gì che mờ được, là ngay vọng chuyển thành chân.

Khi xưa ngay sáu căn thấy-nghe-hiểu-biết là vọng, giờ chuyển nó thành tánh viên minh tịch diệu, chứ không phải là có cái chân nào khác ngoài nó. Thấy hiểu như vậy, chúng ta càng có thêm niềm tin tiến tu. Bởi vì khi mê thì một Tinh Minh chuyển thành sáu hòa hợp, là “giống như” sáu chứ không phải thật thành sáu. Khi giác thì sáu hòa hợp chuyển thành một Tinh Minh. Nói chuyển trở lại chứ thật không chuyển gì hết, nó sẵn vậy rồi nhưng do mê vọng tưởng rồi quên vậy thôi. Như vậy, con đường mê-giác ngay trước mắt, chớ không có đâu xa!

Trong nhà thiền, Thiền sư Pháp Viễn - Ngũ Tổ nói về câu chuyện cái rạp hát có người gỗ. Câu chuyện này ai mà chịu lắng lòng quán kỹ sẽ có chỗ nhận rất lý thú và sáng tỏ.

Một hôm, Sư thượng đường bảo:

- Hôm qua Lão Tăng đi vào trong thành, thấy một rạp hát, bên trong là người gỗ múa rối (có người giật dây ở trong đó).

Thấy vậy, nên mới đến gần xem. Thấy nó đẹp đẽ lạ kỳ, hoặc thấy xấu xa vô kể (tức là xem thấy các con rối có con hình dáng đẹp đẽ, có con hình dáng xấu xa). Hoặc nó chuyển động đi ngồi, hoặc là xanh vàng, đỏ trắng, mỗi mỗi thấy rõ. Nhưng đến khi xem kỹ lại thì vốn là miếng vải xanh bọc lại, bên trong có người giật dây. Lão Tăng nhịn không được mới đến hỏi: 

- Ông tên gì vậy?

Hỏi cái người giật dây bên trong thì làm sao nói? Đó là chuyện làm ăn của người ta mà hỏi làm bể mánh người ta sao? Cho nên khi hỏi ông tên gì thì kẻ kia liền nói:

- Cái ông Hòa thượng này! Xem thấy là xong rồi, hỏi tên làm gì nữa!

Xem thấy là biết rồi còn hỏi tên làm gì nữa? Bấy nhiêu đó là đủ cho mình ngộ rồi. Cho nên:

Sư bảo đại chúng:

- Lão Tăng bị kẻ kia nói một câu khiến không lời có thể đáp, không lý có thể bày. Lại có người vì Sơn Tăng nói được chăng?

Đây là chỗ cần lắng lòng, quán cho kỹ thì sáng tỏ. Thấy người cử động tới lui rõ ràng đó nhưng lại gần nhìn kỹ xem cho rõ thì bên ngoài chỉ là lớp vải bọc, bên trong có người giật dây. Ngài thấy người đó rồi, nhịn không được nên lại hỏi: “Ông tên gì vậy?’. Người kia nói rằng: “Ông thấy là được rồi, còn hỏi tên làm gì nữa!”. Thấy là xong, nhận ra là xong rồi, còn hỏi tên là bị ăn đòn. Rõ ràng vậy thôi, chuyện đó là như vậy.

 

CHÁNH VĂN:

     Còn trần cấu tức còn học vị,

     Sáng suốt cùng tột tức Như Lai.

GIẢNG GIẢI:

Rất đơn giản. Khi còn trần cấu là còn trụ nơi học vị, còn là hữu học. Nếu sáng suốt cùng tột tức Như Lai, hết còn gì để học. Như Lai không phải từ nơi nào khác đến. Đó là chỗ cần phải tỉnh, cũng là chỗ muốn nhắc cho tất cả, khuyên tất cả phải hết sức chú tâm nghe kỹ, thức tỉnh trở về, đừng quá đắm mê theo trò mộng huyễn. Đây Ngài Văn-thù kêu gọi:

 

CHÁNH VĂN:

     Hỡi đại chúng và ông A-nan!

     Hãy xoay lại cái nghe điên đảo,

     Xoay cái nghe về nghe tự tánh,

     Nhận tự tánh thành đạo Vô thượng;

     Thật tánh Viên Thông là như thế.

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Văn-thù thiết tha kêu gọi mọi người hãy thức tỉnh trở lại, hãy xoay cái nghe điên đảo theo thanh trần mà nghe trở lại tự tánh. Cái nghe mà lâu nay theo thanh trần đó, gọi là cái nghe điên đảo. Giờ xoay trở lại để nghe trở về tự tánh, tức nghe trở lại cái đang nghe đây là vượt khỏi thanh trần.

Cần sáng tỏ, thanh trần là cái tiếng không biết nghe, lỗ tai là hai miếng thịt cũng đâu biết nghe. Vậy cái gì nghe? Phải xoay trở lại chỗ đó, chớ có lầm theo thanh trần, lầm theo lỗ tai! Nghe trở lại tự tánh là vậy, nhận ra tự tánh đó là chỗ thành đạo Vô thượng, là chỗ vượt thoát cả thế gian mộng ảo.

 

CHÁNH VĂN:

     Đây chính là một đường thẳng tiến;

     Vào Niết-bàn của vi trần Phật.

     Các Đức Như Lai thuở quá khứ,

     Đã thành tựu đều từ môn này;

     Các vị Bồ-tát trong hiện tại,

     Nay mỗi vị đều vào viên minh,

     Cùng những người tu học đời sau,

     Đều phải nương theo pháp môn đó,

     Tôi cũng do pháp ấy mà chứng,

     Không riêng gì Ngài Quán Thế Âm.

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Văn-thù tán thán: “Đây là con đường thẳng tiến vào Niết-bàn của vi trần chư Phật”, chứ không phải thường. “Chư Phật quá khứ, chư Bồ-tát hiện tại và người học về sau cũng đều nương theo đó mà tiến vào chứ không riêng gì Bồ-tát Quán Thế Âm”.

Vậy chúng ta còn chưa chịu tin sao? Chỉ ngay đó xoay trở lại, đó là con đường trở về chung cho tất cả.

CHÁNH VĂN:

     Thật như lời Đức Phật Thế Tôn,

     Đã hỏi con về các phương tiện,

     Để cứu giúp trong đời mạt pháp,

     Những người cầu ra khỏi thế gian,

     Thành tựu được tâm tánh Niết-bàn,

     Ngài Quán Âm chính là hơn cả.

     Ngoài ra còn các phương tiện khác,

     Đều là nhờ uy thần của Phật,

     Từ sự tướng rời bỏ trần lao.

     Không phải pháp tu học thường xuyên,

     Cạn hay sâu cũng đồng nghe được.

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát Văn-thù chọn “Pháp môn Quán Âm” này là phương tiện tốt nhất cho chúng sanh trong đời mạt pháp cầu ra khỏi thế gian. Một số căn cơ thích hợp với pháp môn nào thì họ tu cũng có kết quả chứ không phải không, nhưng không phải chung cho đa số. Còn pháp nhĩ căn viên thông này là pháp thích hợp với nhiều người, cho nên Ngài tán thán.

 

CHÁNH VĂN:

     Xin đảnh lễ tánh Như Lai Tạng,

     Vô lậu không còn sự nghĩ bàn,

     Nguyện gia bị cho đời vị lai,

     Nơi pháp môn này không lầm lẫn.

     Đây là phương tiện dễ thành tựu,

     Nên đem dạy cho ông A-nan,

     Và những kẻ trầm luân mạt kiếp;

     Chỉ dùng nhĩ căn mà tu tập,

     Thì viên thông chóng hơn pháp khác,

     Tâm tánh chân thật là như thế.

GIẢNG GIẢI:

Đây Ngài không phải lễ bên ngoài mà lễ cái tánh Như Lai Tạng vô lậu. Bởi đây là chỗ xuất sanh ba đời chư Phật. Ngài đảnh lễ tánh này tức là cũng nhắc cho tất cả hãy nhớ để quay về tánh Như Lai Tạng. Đây vừa là chỗ xuất sanh ba đời chư Phật, mà cũng là chỗ tất cả chúng sanh chưa từng rời khỏi nhưng lại bỏ quên. Quay về tánh này mới là điều quan trọng, đừng để chìm trong văn tự rồi mê đắm trong các trần lao. Tâm tánh chân thật này vốn ở ngay đây, ai cũng có thể tự chứng nghiệm được tánh này, là lẽ thật nơi mỗi người, không phải nhọc nhằn tìm cầu đâu xa.

Học đây rồi chúng ta thấy mình được duyên lớn mà cũng nhớ ơn lớn của chư Phật, Bồ-tát. Tức là chúng ta không phải nhọc nhằn cầu tìm mà được Phật, Bồ-tát chỉ ra sẵn. Vậy mà chúng ta không biết quý trọng để tiến tu là sao? Cái đáng quý trọng vậy đó mà không quý trọng, lại thường quý trọng thân này, thích diễn trò rồi quý trọng tài sản, của cải, chùa chiền, vật chất, thế này thế kia v.v... để rồi cuối cùng đều thành trắng tay! Đó là chỗ điên đảo của thế gian, mà người tu nhiều khi cũng mắc kẹt. Cho nên, học kỹ chúng ta mới thấy được những lầm mê của mình để biết mà chuyển trở lại, mà chọn hướng đi và thấy được đường trở về.

Một hôm, Thiền sư Trí Bổn thượng đường, lớn tiếng gọi:

- Thị giả.

Vị thị giả:

- Dạ.

Sư hỏi:

- Đại chúng đã nhóm họp hay chưa?

Thị giả thưa:

- Đại chúng đã nhóm họp xong rồi.

Sư bảo:

- Còn một cái kia sao không đến dự tham?

Thị giả câm miệng không đáp được.

Vậy thì ai đáp được? Đại chúng nhóm họp hết rồi nhưng Ngài hỏi còn cái kia không đến dự. Cái kia là cái gì? Cái đó là cái để mỗi người cần phải thấy được. Mỗi người trả lời sao cho xứng đáng thì đó mới là chỗ quan trọng để trở về. Đó là Bồ-tát Văn-thù vâng lời Đức Phật, chọn ra căn viên thông thích hợp cho chúng sanh cõi này cũng như đời mạt pháp.

CHÁNH VĂN:

Khi ấy, ông A-nan và đại chúng thân tâm tỏ rõ nhận được sự chỉ dạy rộng lớn, xem quả Bồ-đề và đại Niết-bàn của Phật cũng như người nhân có việc đi xa chưa trở về, song đã biết rõ con đường về nhà. Khắp trong hội chúng Thiên, Long, Bát Bộ cùng hàng Nhị thừa hữu học và tất cả các vị Bồ-tát mới phát tâm, số lượng bằng mười số cát sông Hằng đều nhận ra bản tâm, xa lìa trần cấu được pháp nhãn thanh tịnh. Bà Tánh Tỳ-kheo-ni nghe nói bài kệ xong thành quả A-la-hán, không lường chúng sanh đều phát tâm vô đẳng đẳng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

GIẢNG GIẢI:

Xưa, một thời pháp của Phật là hằng sa người tỏ ngộ. Mới thấy công đức, năng lực của Phật quá hy hữu! Đến đây, Bồ-tát Văn-thù chọn căn viên thông đã xong, Ngài A-nan và đại chúng nhận sự chỉ dạy, được tỏ rõ đều được lợi ích rộng lớn, đã biết được con đường về, tin chắc không nghi, chỉ còn ứng dụng tu thôi. Để chúng ta thấy rõ là ngộ rồi còn phải tu, có tu mới đến nơi.

Rồi hằng sa chúng nhận ra được bản tâm, đây nói bằng mười số cát sông Hằng, là biết bao nhiêu người nhận ra được bản tâm của mình. Nhận ra được bản tâm tức là vượt qua bao nhiêu kiếp lầm mê. Cho nên mỗi vị phải khéo tin chắc rồi tu tập, để ngay đây sáng được bản tâm rồi thì thấy là một niềm vui lớn, là đã vượt qua không biết bao nhiêu kiếp lầm mê của mình. Cái đó mới gọi là công đức lớn lao hy hữu, là việc đáng quý mà không lo làm, lại lo những cái không quan trọng thì thật đáng tiếc!


Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 02292
  • Online: 19