Cái Tâm (Phần 01)
25/07/2026 | Lượt xem: 6
HT.Thích Phước Tú
Chữ Tâm tiếng Tâm đã có ở Việt Nam từ rất lâu, không biết từ hồi nào. Người dân Việt Nam đều nói được tiếng Tâm và viết được chữ Tâm nếu có đi học. Đây là một tiếng rất phổ biến trong dân gian từ bình dân cho tới trí thức đều nói được tiếng Tâm. Còn hiểu về tiếng Tâm, nghĩa của chữ Tâm thì còn tuỳ, người thì hiểu ít, người thì hiểu nhiều. Nhưng còn hiểu cho đúng về chữ Tâm, tiếng Tâm thì thật ra rất là giới hạn. Tiếng Tâm, chữ Tâm thường được dùng trong nhà Phật, nhưng người Phật tử vẫn hiểu chưa đúng, kể cả những người xuất gia là Tăng, là Ni cũng còn một số lớn chưa hiểu, chưa dùng được một cách chính xác. Nói rằng:
“Phật tức Tâm, Tâm tức Phật, lòng thành có Phật”.
“Chữ Tâm” nói ra nghe chừng như dễ lắm! Tuy nhiên để hiểu cho đúng và sống được bằng Tâm thì hổng phải dễ.
Chữ Tâm được xuất phát từ chữ Nho (心) và được người Việt Nam dịch ra là lòng, tấm lòng và được hiểu là “bụng”, “dạ”, “ruột”. Và được hiểu là con tim, trái tim, cũng có nghĩa là giữa, ở giữa (trung tim). Chữ Tâm còn chỉ cho đời sống tinh thần (tâm thần, tâm trạng, tâm tính, tâm lý).
Chữ Tâm theo tiếng Việt thì được ghép từ chữ tê (t) hay là tờ (t) cộng với vần âm (âm). Chữ Tâm rất dễ viết nhưng mà khó đúng. Vì rằng theo chữ Hán thì chữ Tâm chỉ có một chữ: (心) chỉ có một chữ như thế này thôi ngoài ra không có chữ nào khác, không có chữ hoa gì. Nhưng chữ Quốc ngữ của Việt Nam ta từ mẫu tự la-tinh a, b, c, nên cách viết có khác hơn là có chữ hoa và chữ thường. Thế nên chữ Tâm của Việt Nam được viết bằng 3 chữ khác nhau:
1- Là chữ tâm t thường (t - tâm).
2- Là Tâm T hoa (T - Tâm).
3- Là chữ TÂM T hoa in, và vần ÂM hoa (T - TÂM).
Chữ Tâm có 3 chữ như vậy cho nên khi viết “chính tả” thì phải hiểu nghĩa của từng chữ Tâm viết mới đúng được.
1- Chữ tâm t thường: (tâm) tâm này có nghĩa là lòng, là dạ, là bụng, là ruột, là con tim, trái tim. Nó là phần tinh thần ở trong con người. Tuy nhiên cái tâm này, cái lòng này có Tham, Sân, Si... có vui buồn thương ghét, có phiền não, có khổ đau, có sinh có diệt, có còn có mất, nó chỉ có trong ta chừng vài tiếng đồng hồ trong 24 giờ. Đây được gọi là cái tâm vọng, cái tâm giả không thiệt là mình, không thiệt là tâm mình. Cái tâm này có bị sanh tử, có bị luân hồi, bị đọa lạc trong ba đường sáu nẻo, có chịu khổ đau.
Đây có thể coi là cái tâm ma mị, cái tâm điên đảo. Là cái tâm của chúng sinh.
2- Tâm T hoa thường: (Tâm). Chữ Tâm này được viết sau dấu chấm (.).
Chữ Tâm này là danh từ riêng chỉ cho người (anh Tâm, chị Tâm, em Tâm, thầy Thiện Tâm hay thầy Tâm Thiện). Hay là chỉ cho một danh từ Phật học nào đó như Tâm A Lại Da, Tâm ý thức, Tâm viên ý mã...
3- Tâm T hoa in: (TÂM). Tâm này còn được gọi là TỰ TÂM: Là cái TÂM chính ở nơi mình, cũng gọi là Bản TÂM hay Bổn TÂM và một từ xác định hơn được gọi là CHƠN TÂM: Là cái TÂM chơn thiệt ở nơi chính mình. Cái TÂM này là cái TÂM cội gốc, là cái TÂM thiệt ở nơi chính mình. Cái TÂM này có suốt 24/24 giờ khi con người còn đang sống. Cái TÂM này không có Tham, Sân, Si, không có phiền não, không có sanh, già, bệnh, chết, không có niềm đau, nỗi khổ. Cái TÂM này không có sinh diệt, nó có trước khi cha, mẹ sinh ra ta và sau khi thân ta chết thì cái TÂM này vẫn mãi còn. Cái TÂM này vượt ngoài địa ngục, vượt ngoài thiên đường, vượt ngoài lục đạo luân hồi.
Cái TÂM này không có Nhân, không có Quả, không có Nghiệp cũng không có Nghiệp báo. Cái TÂM này hoàn toàn rỗng lặng nó không có một vật ở trong đó. Nó không có Ngũ uẩn, không có Ngũ ấm, không có Lục căn, không có Lục trần, cũng chẳng có Lục thức, không Thập nhị xứ, cũng không Thập bát giới. Không Thiện, không Ác, không giới tính, không nam, không nữ, nó là ADN của khắp loài chúng sinh. Nó không là không.
Nó hoàn toàn không có một vật, không người cũng không Phật. Tánh nó là Rỗng là KHÔNG. Tuy nó là KHÔNG nhưng có sự hay biết rõ ràng. Nó biết thấy, nó biết nghe, nó biết thở, biết ngửi, biết nói, biết nếm, biết ăn, biết uống, biết đi lại, biết làm việc, biết suy tư.
Nó cũng không có cảnh giới nào, không có cảnh giới Chúng Sanh, không có cảnh giới Địa Ngục, không có cảnh giới Thiên Đường, không cảnh giới Thanh Văn, không cảnh giới Duyên Giác, không cảnh giới Bích Chi, không cảnh giới Bồ Tát, kể cả không cảnh giới Phật. Cái TÂM này có trước Trời Đất và rộng rãi như hư không, bao la như vũ trụ. Đặc biệt cái Tâm này không có thời gian và cũng không có không gian. Tất cả các vận tốc đều triệt tiêu trong cái TÂM này. Cái TÂM này...
...lại là nguồn lực của cuộc sống. Không có TÂM này không có cuộc sống cũng không có đời sống, không TÂM này không có ra con người, không có ra sinh vật. Khi con người sống mà không có cái TÂM này thì được gọi là chết. Thế nên hiện tượng gọi là chết đó là khi cái TÂM này không có ở trong tấm thân nữa.
Cái TÂM này nó là sự thật nhất giữa trần gian, tuy nhiên nó gần như vô hình nên không thể rờ nó được, đụng nó được, sờ mó gì được hết. Nó không màu sắc, không hình tượng, không mùi vị gì. Tuy nhiên nó là cái thực nhất ở trong cuộc sống này. Nó là cái “NĂNG LỰC SỐNG”. Năng lực này Nó được hiểu như là năng lực điện vậy.
Điện không thấy. Nhưng nếu không có điện thì các thứ dụng cụ điện đều tê liệt như một Robot (con người máy), mà không có điện thì sẽ hoàn toàn tê liệt không hoạt động gì được cả. Cái TÂM này hãy được hiểu như là nguồn điện vậy. Cái năng lực TÂM này nó chi phối tất cả những sinh hoạt trong cuộc sống này. Không có cái TÂM này con người không thể sinh ra được, không thể học tập được, không thể phát minh sáng chế gì được cả. Và như vậy cũng không có ra được “Khoa học”. Thế nên biết tất cả sản phẩm khoa học có được là từ nơi nguồn TÂM này mà ra. Cho nên có thể nói rằng cái TÂM này là đấng tạo hóa là Ông Trời, là Mụ Bà, là Mẹ sanh, Mẹ độ theo dân gian Việt Nam đã nói.
Cái TÂM này như vậy nó rất là linh thiêng, rất là mầu nhiệm. Trong cuộc sống nó là siêu tuyệt nhất. Thế nên cái TÂM này phải được đặc biệt viết hoa in và viết đậm lên, lớn lên, (TÂM) để thấy rõ giá trị siêu việt của nó.
Cái TÂM này muốn được có khái niệm một chút thì hãy nhìn qua đôi mắt. Con “ngươi” có thể coi như là hình ảnh của cái TÂM này, nên khi mắt không bệnh lại không có con ngươi thì coi như người đó đã chết. Cái TÂM này coi như vô hình không thể thấy được. Không thể thấy qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xác, kể cả trong các thứ máy móc, trong quang tuyến không thể ghi nhận được nó, kể cả trên màn hình, dù là màn hình điện tử đi nữa.
Điều đặc biệt: Cái TÂM này như vậy. Nó là cái TÂM không có niềm đau, nỗi khổ, không có Niệm nên được gọi là TÂM Niết Bàn. Nhận ra được cái TÂM này gọi là Giác Ngộ. Sống được bằng cái TÂM này gọi là TÂM Bồ Đề. Từ TÂM Bồ Đề mà sống trọn vẹn 24/24 giờ, sống suốt ngày này, qua ngày khác thì gọi là thành Phật. Thế nên cái TÂM này cũng được gọi là TÂM Phật. “TÂM tức PHẬT” tức là cái TÂM này (Tâm T hoa in TÂM). Còn nếu nói TÂM tức Phật mà chữ tâm lại viết t thường (tâm) “thì không phải là tức Phật”, mà lại là tức “cành hông” hay tức “ói máu” hoặc là tức “hộc máu”. Vì “tức” không có nghĩa là “là” mà là tức giận, tức tối, tức bực. Thế nên phải hết sức cẩn thận về chính tả t thường (tâm) hay T hoa (T). TÂM.
Tâm tờ thường (t) có đủ Tham, Sân, Si... đủ mười tập nhân gây đau khổ, cho nên khi sống bằng tâm tê thường (Phật tức tâm) thì Phật này sẽ tức ói máu mà thôi. Vì Phật này đã bị đọa rồi. Ông Phật này có đủ mười tập nhân nên là Ông Phật đầy đau khổ. Thế nên những người tu bằng tâm này sẽ vẫn còn khổ như, khổ đã đời thôi. Thế nên ở trong xã hội nói Phật tức “tâm” hay “tâm” tức Phật thì nhất định vẫn còn phải bị đau khổ mà thôi. Sống không phải dễ như nói!
TÂM
*
* *
CÁC THỂ LOẠI VỀ TÂM
Trong Đạo Phật sử dụng chữ Tâm rất nhiều. Nhưng từ trước không có quan trọng về chính tả cho nên chữ Tâm được viết tùy tiện không hoa gì cả. Nhất là chữ Tâm trong tiếng Việt được dịch từ chữ Tâm trong chữ Hán, mà chữ Hán không có viết bông viết hoa cho nên không phân biệt được tâm nào và tâm nào, tâm Phật và tâm chúng sanh, tâm tốt và tâm xấu. Thế nên khiến cho người đọc rất dễ hiểu lầm tâm này qua tâm kia từ tâm tốt sang tâm xấu hay ngược lại để rồi theo đó hiểu lầm rồi ứng dụng tu sai thế nên việc tu có bị trục trặc kể cả sai lệch đi kết quả bị tréo ngoe, rất là đáng tiếc. Thế nên để tránh tình trạng lẫn lộn, ở đây tạm phân ra làm 3 nhóm tâm:
* Tâm nhóm Hiện Tượng.
* Tâm nhóm Bản Thể.
* Tâm nhóm Chung (vừa có nghĩa Hiện Tượng vừa có nghĩa Bản Thể).
I- TÂM NHÓM HIỆN TƯỢNG:
Tâm nhóm này được viết bằng tờ thường (t) hay T hoa (T). Tâm này là thứ Tâm sinh diệt khi có khi không, khi còn khi mất. Nó có sinh, có già, có bệnh (có thay đổi), có chết (có diệt đi). Tâm này có Tham, Sân, Si có Niệm, có niềm đau nỗi khổ. (Hiện tượng là những hình ảnh có thể thấy được bằng mắt thường).
Khi tu không nên tu bằng nhóm tâm này, nếu có phải nhờ tâm này mà tu thì nên biết đây là chuyện tạm thời, là trợ tu chứ không phải là chính tu. Dùng tâm này mà tu không thể thành Phật được. Tâm này là tâm mà ta có thể thấy được, nó có hình tướng giống như mây ở trên trời. Ta có thể thấy được mây rõ ràng thì ta có thể thấy được tâm này rõ ràng ở trên mặt mày, có màu sắc khi mặt xanh, khi mặt đỏ, khi mặt trắng, khi mặt tím. Ở trên mắt, ở trên mũi, mắt thì lộ hung quang, khi trắng khi xanh (Mắt xanh, trắng dối nhằm bao khách tục - Thi sĩ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu), mũi thì nở ra phồng lên hay híp, miệng thì méo sệt hay chu ra, hoặc cười, hoặc nói, lỗ tai đỏ hay trắng… Tất cả đây là những hiện tượng của tâm, nó còn hiện trên bộ tướng của người, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, bộ tướng ung dung hay bặm trợn, ịch đụi hay nhẹ nhàng, để biết rõ tình trạng trong lòng của người như thế nào. Đây là chỗ mà thầy tướng số nói rằng “Tâm lộ kỳ tướng hay tướng lộ kỳ tâm”. Là muốn nói lên cái tâm nó hiện trên cái tướng hay cái tướng bày hiện cái tâm. Và đây là thể loại tâm này.
Chữ Tâm này là thể loại được thuyết minh trong hệ kinh, được gọi là Bất Liễu Nghĩa (là kinh chưa rốt ráo). Những tâm này gồm:
1- Nhục đoàn tâm: Trái tim thịt tròn trong lồng ngực.
2- Tâm: (Nhân tâm), là lòng người, tấm lòng, lòng dạ, ruột. Niệm nghĩ, ý nghĩ, ý niệm (tâm = ý = niệm) tâm này có Tham, Sân, Si. Là thứ tâm niệm (tam tâm bất khả đắc: ba tâm không thể được: tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được - Kinh Kim Cang).
3- Phan duyên Tâm: Tâm lăng xăng, lăng nhăng. Trong lòng có nhiều niệm rối bù, dẫy đầy Tham, Sân, Si. (Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật dạy Ngài A Nan: Điều căn bản thứ nhất là cái “Sinh tử vô thỉ” đây là điều mà ông và chúng sinh hiện nay dùng cái “tâm phan duyên” làm Tự TÁNH)
4- Duyên lự Tâm: Là tâm lo toan tính toán rối bời. Lòng lo nghĩ chẳng chịt, mất ăn mất ngủ. Tâm này cũng đầy phiền não, đầy Tham, Sân, Si.
5- Đột khởi (khỉ) tâm: Tâm chợt dậy, niệm chợt khởi lúc nào không hay, không biết giống như mặt nước đang phẳng lặng chợt có cá ục. Từ sự chợt khởi này mà có niệm nổi lên, để rồi tiếp theo đó là Tham, Sân, Si, có ra phiền não.
6- Vọng Tâm: Vọng là giả, đây là cái tâm giả là cái niệm không thật. Niệm chợt khởi không vào đâu, khởi một cách tùy tiện không do ý muốn. Giống như một chiếc xe chạy trên đường mà không theo len không theo làn gì hết, muốn xẹt đâu thì xẹt, muốn đâm đâu thì đâm không theo luật lệ giao thông. Là một thứ lòng vô đường lối, nhưng trong đó cũng có Tham, Sân, Si.
7- Tâm ý - Tâm thức - Tâm ý thức: Tâm niệm có ra từ sự phân biệt, từ sự suy nghĩ, có tính toán, có Tham, Sân, Si.
8- Tâm viên ý mã: (tâm = ý): Lòng khỉ vượn, lòng ngựa. Tức là cõi lòng giống như con khỉ, con vượn đu chuyền hết cành này qua cành khác, không bao giờ đứng yên, hay như con ngựa giậm chân, giậm cẳng lăng xăng không lúc nào đứng yên được một chỗ. Trong lòng niệm cứ chợt khởi lung tung, lúc vậy lúc khác và cũng đầy Tham, Sân, Si. (Đây được thí dụ như con khỉ Tề Thiên Đại Thánh quậy Trời, quậy Đất, quậy Long Vương, quậy khắp thiên hạ, khó có ai kiềm chế được, kể cả Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng phải chịu thua, chui xuống gầm bàn mà trốn, khi con khỉ này nổi loạn, các tướng trời đều bó tay. Chỉ có Phật Tổ Như Lai mới thu phục được và nhốt trong Ngũ Hành Sơn).
9- Tâm niệm: (niệm = nhớ nghĩ). Lòng nhớ mãi một điều gì. Nhớ đến người hay nhớ đến vật cũng có Tham, Sân, Si.
10. Tâm Thiện: Tâm lành, tấm lòng hiền, tấm lòng hiền lương, cũng có Tham, Sân, Si nhưng mà ít.
11. Ác Tâm: Tâm ác. Lòng hung dữ độc ác lòng nguy hiểm, lòng xấu đầy đầy Tham, Sân, Si. (Tâm này có trong Kinh Phật Di Giáo). (Phẩm Tâm trong Kinh Pháp Cú nói về Tâm Thiện Ác này).
12. Tâm vương hay Tâm pháp: Tâm này là vua vì hay sinh ra các tâm khác. Tâm này có 8 món: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Mạt na thức, A lại da thức. (Duy thức học)
13- Tâm sở hay Tâm sở hữu pháp: Tâm này theo quanh Tâm vương, có 51 món (Tâm vương - Tâm sở thuộc về Tâm thức. Đây được dùng trong môn Duy thức học).
14- Sinh diệt Tâm: Tâm sinh diệt, lòng khi có niệm nghĩ, nghĩ lên, nghĩ xuống, nghĩ tới nghĩ lui. Đây là thứ Tâm vô thường là thứ cõi lòng không chừng mực gì cũng là một thứ tâm có Tham, Sân, Si.
15- Chúng sanh Tâm: Tâm chúng sanh cõi lòng chúng sanh, là một cõi lòng phàm phu đầy Tham, Sân, Si chìm nổi trong vòng sinh tử. Tâm này có đủ Danh, Lợi, Tình, Tiền, Quyền Lực, Quyền Thế, Quyền Lợi, có Ngã và Ngã Sở có lắm niềm đau và nỗi khổ.
16- Ma Tâm: Tâm ma, ý niệm xấu làm chướng ngại trong lòng người tu. Niệm gây nguy hiểm cho mình cho người lòng cũng đầy Tham, Sân, Si. 17- Đa Tâm: Nhiều tâm, nhiều lòng, nhiều dạ, nhiều ý niệm. Chỉ cho lòng dạ xấu xa, nguy hiểm cũng đầy Tham, Sân, Si. Đã là Hòa Thượng thì không nên có Đa Tâm.
18- Phàm phu Tâm: Cái tâm phàm phu. Lòng dạ đen tối ngu si đầy ắp Tham, Sân, Si. 19- Nhị thừa Tâm: Cái tâm của hạngnhị thừa, là của hạng Thinh Văn Thừa và Duyên Giác Thừa đây cũng còn là một thứ tâm sinh diệt hãy còn chút ít Tham, Sân, Si.
20- Vô thường Tâm: Tâm vô thường. Cái tâm hay thay đổi bất thường khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi vui, khi buồn. Cái tâm không chừng mực gì.
21- Tà Tâm: Cái tâm tà dại cõi lòng gian tà, xấu ác không thấy được chân lý, không biết chánh pháp. Dĩ nhiên có rất nhiều Tham, Sân, Si.
22- Lương Tâm: (Lương tri, lương năng) Là cái Tâm rất là lương thiện, một cái tâm sâu thẳm. Đó là một cái tâm rất là công bình, là tiếng nói thì thầm để phán xét phải quấy, tốt xấu ở nơi chính mình, mà không một người nào hay biết. Khi ta làm thiện, khi ta làm ác thì cái lương tâm này nó hay biết một cách rõ ràng và nó tự trừng phạt cái tâm xấu ác của chính mình. Gọi là lương tâm cắn rứt, có một sự bất an tận đáy lòng. Đây là một cái tâm để bật lên tính đạo đức chân thật ở nơi chính mình. Nó là một quan tòa tối cao trong cuộc sống. Đây là một nền tảng cao đẹp nhất trong tâm hồn của con người. Ai cũng có lương tâm sống và làm việc theo lương tâm là một cuộc sống cao đẹp. Sống trái lương tâm nhất định có sự bất an, có đau khổ, tuy nhiên cái lương tâm vẫn chưa thực sự là thanh bình, vẫn còn tiếng nói thì thầm, vẫn còn có ít nhiều phiền não, vẫn chưa hết Tham, Sân, Si.
II- TÂM NHÓM BẢN THỂ:
(Bản Thể là cái Thể Gốc, là cái Thể Nền. Từ nơi Bản Thể mà có ra Hiện Tượng. Bản Thể giống như nền trời, còn mây là hiện tượng). Đây là nhóm Tâm nền. Tâm này như là nền trời vốn không có mây nào, lại rộng thênh thang không có bờ mé, không có cái gì trong đó, không có Tham, Sân, Si… không có Niệm. Hoàn toàn vắng lặng, Tánh nó vốn là KHÔNG, là rỗng lặng. Nhưng nó có sự hay biết một cách mầu nhiệm và rất là linh hoạt sống động. Tâm này hoàn toàn không có niềm đau nỗi khổ, không có giới tính nam, nữ, không có Thiện Ác, phải quấy, tốt xấu, không có các cặp (Bất cấu - Bất tịnh, Bất tăng - Bất giảm, Bất sinh - Bất diệt… Bất…) không có các pháp thế gian, cũng không có các pháp xuất thế gian hoàn toàn rỗng lặng “Vô Sở Đắc”, “Bất Khả Tư Nghị”. Đây là cái Tâm vô sanh. Tâm này luôn luôn thường còn bất biến vô thỉ vô chung. Trời Đất có thể biến mất nhưng Tâm này luôn vĩnh hằng, nó tự tại vô quái ngại giải thoát một cách triệt để. Tâm này luôn có 24/24 giờ ở trong lòng người đang sống. (Người chết không có cái Tâm này). Cái Tâm này không thể bằng cái suy nghĩ để mà biết được, không thể bằng ý niệm mà cảm nhận được, chỉ có thể hiểu được mà không thể nhập vào được mà đòi hỏi phải “Ngộ Ra”. Vì cái ý niệm giống như một mảnh giấy mỏng đã chêm vào cầu chì của mạch điện, nên điện không phát ra được và gọi là cúp điện hay ngắt điện. Thế nên chỉ có “Ngộ ra” mới thực sự vào được và mới thực sự sống được bằng cái Tâm đó. Người Tu hãy nên “Nhận ra” “Hay ra . ”Ngộ ra” cái Tâm này để làm cơ sở tu hành. Nhưng cái Tâm này không có cái gì để tu. Tu cái Tâm này là tai họa đó. Cái Tâm này hoàn toàn tốt không có bị hư gì cả nên không có gì để sửa, không có gì để tu. Giống như một chiếc xe hơi mới mua còn mới tinh không có gì để sửa, để tu bổ mà xách kìm xách búa, xách mỏ lết đem ra mà gọi là sửa, thì đó là sự phá hoại, không có gì để sửa cả. Có nhận ra Tâm này và sống được suốt 24/24 giờ liên tục từ ngày này sang ngày khác, xuyên suốt thời gian và xuyên suốt không gian gọi đó là thành Phật. Và đây được gọi là TÂM PHẬT. TÂM TỨC PHẬT, PHẬT TỨC TÂM chính là thể loại TÂM này đây. Các Thiền Tổ, các vị Thiền Sư theo dòng Thiền Tổ Sư, Như Lai Thanh Tịnh Thiền, Phật TÂM Tông, Thiền Kiến TÁNH, Thiền Đốn Ngộ, Thiền Tông. Dòng Thiền từ Phật truyền qua xứ Ấn Độ, đến xứ Trung Hoa, đến Việt Nam, rồi đến Hàn Quốc, đến Nhật Bản… Tất cả các vị đều Ngộ cái TÂM này, và sống tu cũng bằng cái TÂM này, cho đến được giải thoát hết khổ đau cũng đều bằng cái TÂM này. Và những ai muốn sống mà được tự tại giải thoát cũng phải sống bằng cái TÂM này. Cho đến những ai đau khổ tột cùng, muốn qua những niềm đau nỗi khổ cũng phải ngộ và sống bằng cái TÂM này. Cái TÂM này không thuộc tín ngưỡng tôn giáo, đạo giáo nào cả. Nó cũng chẳng phải mang tính chất triết thuyết, triết lý, triết học. Nó cũng chẳng phải là luân lý hay luận lý gì cả. Nó chỉ là “Nguồn năng lực sống” trong vũ trụ mà thôi. Nhưng muốn nói Nó là gì cũng được, là Phật cũng được, là Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng được, là Ông Trời cũng được, là Tạo Hóa, Tạo Vật cũng được, là Thần Thánh nào đó cũng được, là Bà mẹ sanh mẹ đẻ, là Mụ bà cũng được, là cái chi chi cũng được. Nó không có danh từ, không tên không họ, không là vuông tròn gì cả. TÂM này là chữ Hán Nho (心), là một thứ chữ tượng hình, từ hình vẽ mặt trăng (☾), và ba sao (···). Chữ TÂM có tượng hình là trăng sao như vậy nên cụ Nguyễn Du có lời thơ rằng: “Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời”. Để thành ra chữ TÂM thì phải hợp lại những cái có trong bầu trời, là trăng sao, mặt trời và các thứ hành tinh khác, cùng các hiện tượng như sấm chớp, cầu vồng, gió bão và kể cả không khí… Điều này có nghĩa cái TÂM là cái thênh thang rộng trùm bao la như bầu trời, như vũ trụ. Hư không là cái thực nhất trong cõi đời này, thì cái TÂM chẳng khác nào cái hư không vậy, nhưng có điều hư không thì không hay biết, nhưng cái TÂM thì lại hay biết rõ ràng, không lầm một mảy và nó là cái thực nhất tự xưa nay nên được gọi là “Bản Lai Diện Mục” (Mặt mũi xưa nay). Trong thời đại chúng ta cho rằng cái điện thoại thông minh là sản phẩm khoa học độc đáo nhất, tuy nhiên dù là điện thoại thông minh cỡ nào đi nữa thì cũng là sản phẩm từ cái TÂM mà có ra. Nên cái TÂM là năng lực thông minh nhất trên thế gian này từ xưa cho tới nay và cho đến mãi mai sau, không có năng lực nào thông minh hơn cái TÂM được. Cái TÂM tạo nên khoa học và tạo nên tất cả các thứ vật chất, mà dùng nhãn hiệu là “khoa học”. Thực ra khoa học không tự là khoa học nếu không có cái TÂM. Thế nên có được cái TÂM thì có được tất cả, nhưng để có được cái TÂM thì phải xa lìa tất cả, từ sự dính mắc trên vật chất cho đến sự dính mắc trên tinh thần, đều phải xả ly hết tất cả. Cái TÂM tuy là như thế, có thể nói là tất cả các thứ, các cái, nhưng đặc biệt là không có cái Tôi, không có cái Tui, không có cái Tao (Ta đây), không có cái Mình, không có cái Ngã, cái Tự Ngã, cái Bản Ngã, cũng không có cái Ngã Sở, và lại càng không có cái “Niềm đau nỗi khổ” nào trong đó. Hãy trì niệm bài Kinh “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” thì sẽ rõ cái TÂM này thôi. Cái TÂM này được thuyết minh trong hệ “Kinh Liễu Nghĩa”… (kinh nói về nghĩa lý rốt ráo). Cái TÂM thực mầu nhiệm, thật huyền diệu, thật hay, thật tốt vô cùng vô tận, nói không nên lời, thật là Bất khả tư nghị! Bất khả tư nghị! Vạn! Vạn! Vạn tuế. Vạn! Vạn! Vạn tuế cái TÂM. (Cái TÂM này là cái TÂM chân thật ngoài văn tự, ngoài ngôn ngữ văn chữ).
TÂM NÀY GỒM CÓ:
1- TÂM (Hình minh họa chữ TÂM) Là TÂM sinh ra con người, muôn sinh vật các loài chúng sinh thuộc hữu tình như con người, con thú, con chim, con cá, các loài thủy tộc, các loài vô hình như con ma, con quỷ, con tinh, trời thần. Đây là năng lực chính, là nguồn sống bao trùm cả cuộc sống. Từ sinh cho đến chết cũng chỉ trong vòng TÂM.
* Tam giới duy TÂM (ba cõi chỉ một TÂM).
* Trực chỉ Nhân TÂM, Kiến TÁNH thành PHẬT.
* Minh TÂM Kiến TÁNH.
Là TÂM. TÂM mầu nhiệm là thật tướng vô tướng. (Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn, Diệu TÂM Thật Tướng Vô Tướng). Tổ Tổ truyền TÂM là truyền cái TÂM này. (Tổ Bồ Đề Đạt Ma) “Truyền TÂM Pháp Yếu” là truyền cái TÂM này).
“Tà nguyệt tam tinh động” (động trăng liềm ba sao) (心). * Hầu vương Ngộ TÁNH KHÔNG (Vua Khỉ Ngộ TÁNH KHÔNG). Nên Khỉ đá Mĩ Hầu Vương có pháp danh là: “Ngộ Không”.
2- TỰ TÂM: Cái TÂM chính mình là cái TÂM chân thật ở nơi ngay chính mình, từ thuở nào cho tới bây giờ và cho mãi mai sau.
3- BẢN TÂM (Bổn TÂM): TÂM Gốc, TÂM Cội Nguồn. Cái TÂM này như là gốc, là cội của một cây gỗ. Không có cội, không có gốc thì cây gỗ không thành, không đâm nhánh, không mọc lá được, cũng không có ngọn. Ngộ Bổn TÂM hay Ngộ Bản TÂM tức là Ngộ Đạo (TÂM = ĐẠO). Ngũ Tổ nói: “Không thấy Bản TÂM học pháp vô ích”.
4- TRINH THẬT TÂM: TÂM chơn thật trinh trắng cái TÂM khi chưa khởi niệm chưa nhuốm bụi đời, chưa có ra Nghiệp. Là một TÂM trong trắng ở tất cả chúng sanh. Cái TÂM trong người không bóng dáng Tham, Sân, Si. TÂM này giống như là một viên hột xoàn dù có bị dính bùn dính sình nó vẫn là trong veo, khi được rửa sạch các thứ dính nhiễm thì nó vẫn là trong sáng tốt đẹp như thường.
5- CHƠN NHƯ TÂM: TÂM Chơn Như. TÂM chân thật bất động. Cái TÂM sáng rõ rõ ràng sừng sững không lay động như núi đá, dù có gió cành thổi cũng không lay, không động, không nhúc nhích.
6- PHẬT TÂM: TÂM Phật. TÂM giác hoàn toàn, TÂM không phiền não hoàn toàn không bóng dáng Tham, Sân, Si. Mười Tập Nhân biến mất hoàn toàn, TÂM này không bị sinh tử luân hồi. Hoàn toàn không khổ đau.
7- BÁT NHÃ TÂM: TÂM Bát Nhã tức là TÂM MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA. TÂM TRÍ HUỆ SIÊU VIỆT Đến Bờ Kia. Hay là ĐẠI TRÍ HUỆ TỨC TRÍ HUỆ PHẬT. (TÂM = ĐẠI TRÍ HUỆ = TỰ TÁNH KHÔNG = TRÍ HUỆ PHẬT). Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa đã nói lên cái TÂM này.
8- DIỆU TÂM: TÂM mầu nhiệm là cõi Niết Bàn, không một niềm đau nỗi khổ nào. Là cõi vắng lặng tuyệt cùng an vui trọn vẹn.
9- TÂM TÁNH (TÂM = TÁNH): Là thể chân thật thường hằng bất biến, sáng soi tự tại. Là NỀN của tất cả cuộc sống.
10- BỒ ĐỀ TÂM: TÂM Bồ Đề. Là TÂM giác. TÂM tỏ sáng cội nguồn. (Kinh Kim Cang Bát Nhã).
11- VÔ SINH TÂM: TÂM Vô Sinh. TÂM vắng lặng không có Niệm nào. TÂM trống vắng thanh tịnh hoàn toàn.
12- TÂM PHÁP:
13- CHƠN TÂM: TÂM chơn thật. TÂM không bị Khách Trần quấy nhiễu (Kinh Thủ Lăng Nghiêm).
14- ĐA TÂM: Tên ghép được rút gọn từ tựa bài Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa TÂM Kinh. (Truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân đã nói. Từ miệng của Ô Sào Thiền Sư nói vọng xuống cho Đường Tăng nghe: Ta có bài “Đa TÂM” Kinh ông hãy nghe).
15- NIẾT BÀN TÂM: TÂM Niết Bàn. TÂM tịch tĩnh, cái TÂM vắng lặng hoàn toàn, không niềm đau nỗi khổ sạch hết Mười Tập Nhân. Tiêu dung Khổ Đế, Tập Đế thật sự được giải thoát, giải thoát hoàn toàn.
16- HOA NGHIÊM TÂM: Là TÂM Hoa Nghiêm. Một cõi TÂM đầy hoa sen hết sức là tốt đẹp. Hoa sen nở đầy trời, đầy pháp giới. Một cõi TÂM tốt đẹp vô cùng, vô tận. Một cảnh giới đầy hoa, không có một niềm đau nỗi khổ nào chen lẫn (Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm đã diễn bày).
17- ĐẠI TỪ ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI: Là TÂM Đại Từ Đại Bi tổng trì. Là cõi lòng thương yêu và cứu độ chúng sanh một cách rộng lớn trùm khắp. 18- A NẬU ĐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ TÂM: Là cái TÂM VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC, tức là cái TÂM PHẬT đã thành.
19- VIÊN GIÁC TÂM: Cái TÂM Viên Giác. Cái TÂM đã Giác một cách trọn vẹn. Cái TÂM PHẬT đã thành (Kinh Viên Giác).
20- PHÁP GIỚI TÂM: Cái TÂM Pháp Giới. Đây là cái TÂM trùm khắp Trời Đất, trùm khắp pháp giới, trùm cả mười phương Trời Đất.
III. TÂM NHÓM CHUNG:
Tâm nhóm này chỉ chung cho cả cái Tâm Bản Thể và cái tâm Hiện Tượng. Vì trong chữ Tâm này ngầm có hai nghĩa: Một là Chơn Tâm, một là vọng tâm. Một là nhiễm, một là tịnh. Khi còn mê thì Tâm này là hiện tượng, khi giác thì Tâm này là Bản thể. Tâm này gồm nghĩa chúng sinh và Phật. Gọi là có Tánh Phật. Mê là chúng sinh, giác là Phật. Vì vậy nên được gọi là TÂM - PHẬT - CHÚNG SANH, ba thứ này không sai biệt. Ví như Đất, nếu cứ để Đất như vậy thì chỉ để đi, Đất bị giẫm đạp. Nếu Đất được nhồi luyện, nắn in thành tượng thì được tôn thờ, được cung kính (Tâm: Đất; Phật: Tượng Đất; Chúng Sinh: Lối đi đất). Nhóm Tâm này gồm:
1- Tâm: Tâm này được diễn tả qua bài kệ.
Ba chấm như ba sao
Móc câu tợ trăng liềm
Chim thú từ đây ra
Thành Phật cũng do đây
(Tam điểm như tinh tượng (´˘`))
Hoành câu tợ nguyệt tà (︶)
Phi mao tùng thử đắc (˘˘)
Tố Phật giả do tha).
Tâm này vừa là cái tâm để thành chim thú, tức là để thành ra chúng sanh. Nhưng Tâm này cũng là để thành ra Phật, thành ra Thánh Hiền.
2- Tâm thức: chỉ chung cho phần tinh thần.
3- Tâm A Lại Da: (Duy thức học). Đây là thức thứ 8. Thức này có: Lưu chú thức (tâm sanh diệt), và hiện lượng thức (TÂM vô sinh).
4- Tâm Như Lai tàng: Tâm này có hai phần: Nhiễm và tịnh. * Như Lai tại triền: Nhiễm (còn mê). * Như Lai xuất triền: Tịnh (đã giác).
5- Tâm thể: Chỉ chung là Tâm.
6- TÂM Địa: Đất Tâm. Đất Tâm chứa các giống. Cả giống Thiện, giống Ác, giống chúng sinh, và giống Phật.
Các bài mới
- Yếu Chỉ Kinh Thủ Lăng Nghiêm: Mười Một Cơ Hội Giác Ngộ Bổn Tâm - 15/07/2026
- Đời Sống Vô Niệm - 12/07/2026
- Nhân duyên bệnh và sự giáo hóa cuối cùng của Đức Thế Tôn - 28/03/2026
- Tiến trình huân tu và thành đạo của Đức Phật dưới cội Bồ đề - 22/01/2026
- Con Trâu Và Cái Tâm - 25/09/2024
Các bài đã đăng
- Cái Niệm ( 念 ) - Nguyên Nhân Gây Khổ - 29/07/2024
- Đức Bồ Tát Quán Thế Âm ( Quan Thế Âm ) ( Bodhisattva Avalokitevara) - 08/08/2023
- Thiền kiến tánh - 10/03/2019
- Giáo ngoại biệt truyền - 23/09/2012
Pháp Thoại
Video giới thiệu
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 7
- 8
- 9
- 10
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- 16
- 17
- 18
- 19
- 20
- 21
- 22
- 23
- 24
- 25
- 26
- 27
- 28
- 29
- 30
- 31
- 32
- 33
- 34
- 35
Tìm kiếm
Sách mới
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 6: Kinh Bộ Giảng Giải 6 - Kinh Lăng Già Tâm Ấn giảng giải (Phần 01)
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 5: Kinh Bộ Giảng Giải 5 - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng Giải
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 4: Kinh Bộ Giảng Giải 4
- Thanh Từ Toàn Tập Quyển 3: Kinh Bộ Giảng Giải 3
- Thanh Từ Toàn Tập - Quyển 2: Kinh Bộ Giảng Giải 2
Tin mới
Đọc nhiều
Ảnh đẹp
Lịch
Thống kê truy cập
- Lượt truy cập: 06813
- Online: 11
