Kinh Thủ Lăng Nghiêm giảng ký: PHẦN 02- CHÁNH TÔNG - MỤC 02: HIỂN BÀY CĂN VÀ TÁNH THẤY (1)

12/03/2018 | Lượt xem: 455

Tác giả: TT.Thích Thông Phương

Dịch giả: HT.Thích Phước Hảo

MỤC 02

HIỂN BÀY CĂN VÀ TÁNH THẤY

CHÁNH VĂN:

Khi ấy ông A-nan ở trong đại chúng mới từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, gối phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật:"Con là em út của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy được xuất gia mà vẫn còn ỷ lại vào lòng thương yêu của Phật, do đó chỉ lo học nhiều mà chưa được quả Vô lậu, nên không thể chiết phục được chú Ta-tỳ-ca-la, bị nó lay chuyển phải sa vào nhà dâm. Chính là bởi chẳng biết được chỗ đến của mé chân. Cúi mong Đức Thế Tôn mở lòng từ rộng lớn thương xót, chỉ dạy cho chúng con con đường thiền định(Xa-ma-tha), khiến cho kẻ Xiển-đề được xa các thứ tà kiến". Thưa thỉnh như thế xong, năm vóc reo xuống đất, và cả đại chúng khát ngưỡng trông chờ được nghe lời chỉ dạy của Phật.


GIẢNG GIẢI:

Đến đây, Ngài A-nan bạch Phật trình bầy chỗ hối hận của mình. Lâu nay cứ ỷ lại vào Phật, lo đa văn, học nhiều chưa tu đến nơi, chưa được quả Vô lậu giải thoát, do đó phải bị nạn Ma-đăng-già. Bây giờ thỉnh Phật chỉ ra con đường thiền định để thấu rõ được Chân tâm, tức mé chân, cũng để ngăn ngừa những hạng Xiển-đề, xa được những tà kiến.

Phép cung kính của bên Ấn Độ: Khi gặp việc, muốn trình bày thì vạch bày vai bên phải, quỳ gối phải. Mình quỳ hai chân, hai đầu gối luôn, còn ở đây quỳ gối phải. Đó là để bày tỏ lòng khiêm hạ, quy thuận. Tại sao quỳ gối phải? Bởi vì chân phải hay gối phải chịu lực mạnh, quỳ xuống đứng dậy dễ dàng. Chắp tay cung kính trình Phật.

Ngài là em út. Em út đây là em họ chứ không phải anh em ruột. Vua Tịnh Phạn có bốn anh em là bốn ông Vua: Tịnh Phạn, Hộc Phạn, Cam Lộ Phạn, Bạch Phạn, sanh ra tám người con trong đó Ngài A-nan là nhỏ nhất nên gọi là em út. Nghĩ mình là em út nên Phật thương nhiều, được xuất gia mà lo đa văn học nhiều chưa tu đến nơi nên chưa được quả Vô lậu.

Ở đây để cảnh tỉnh cho người, không ỷ lại vào cái học bên ngoài, đừng mắc kẹt vào văn tự, chữ nghĩa, lo lấy cái của người khác làm cái của mình  mà không  lo tu, chớ không phải bảo đừng học gì hết. Chính vì Ngài A-nan ỷ vào cái bên ngoài, không tu kỹ cho nên chưa chứng được quả Vô lậu, do đó không chiết phục được tà chú Ta-tỳ-ca-la mà phải mắc nạn Ma-đăng-già. Ngài ăn năn hổ thẹn trước Phật.

Biết đâu Ngài A-nan là Bồ-tát thị hiện để cảnh tỉnh cho  mình. Bởi vì tới hội Pháp Hoa, Ngài được thọ ký sau này sẽ thành Phật.

Ngài A-nan do ỷ lại vào bên ngoài cho nên không thấy được mé chân. Cái gì là mé chân? Chỗ chân thật mà cũng có mé nữa hay sao?  Đây là những danh từ gợi ý, chỉ cho Chân tâm thường trụ. Do mình mê Chân tâm thường trụ mới vọng khởi có sanh tử, đi vào luân hồi. Nếu ngay chỗ mê, ngộ trở lại thì đó là lẽ chân thật, không phải có cái mé để trở về. Bởi vậy, câu "quay đầu liền thấy mé", người không hiểu, chấp vào danh từ, nghĩ là có cái mé chân thật để trở về, thì càng trở về càng không thấy mé.

Tiếp theo sau, Phật sẽ ở ngay nơi cửa mặt phóng hào quang chỉ bày. Tức ngay tâm mê là tâm ngộ, đó là đường về ngay trước mắt không phải đâu xa, nhưng đây chưa nói. Ở đây, Ngài A-nan chưa thấy được đường về, cầu Phật chỉ cho con đường thiền định để trở về. Cũng để giúp  những người xiển-đề xa lìa những thứ tà kiến. Xiển-đề là những người không tin nhân quả, đoạn dứt thiện căn, những người tà kiến. Trong kinh Niết-bàn Phật dạy: "Xiển-đề cũng có Phật tánh. Nếu họ có niềm tin trở lại thì họ chuyển cái xiển-đề, không còn là xiển-đề nữa".

Có vị tăng hỏi Ngài Triệu Châu:

- Thế nào là Bồ-đề?

Ngài đáp:

- Cái này là xiển-đề.

Trả lời không dính dáng gì hết, nhưng chính xác! Thiền sư dùng 36 pháp đối theo Lục Tổ dạy. Tức là hỏi trắng lấy đen đáp. Đây hỏi "Bồ-đề" dùng "xiển-đề" đáp. Không tin Bồ-đề tức là xiển-đề, khi có lòng tin Bồ-đề thì  không còn là xiển-đề. Cho thấy xiển-đề cũng không cố định. Cách đáp khéo léo của nhà thiền để trừ cái chấp vào chữ nghĩa. "Bồ-đề" hay "nhất- xiển-đề" cũng là danh từ tạm đặt, không mắc kẹt vào đó. Đó là cách đáp ngược để làm sáng tỏ vấn đề.

Như vậy, muốn trở về mé chân phải đi con đường thiền định. Tuy nhiên con đường thiền định chưa phải cứu cánh. Nếu kẹt ở trên con đường đó cũng không đến được mé chân. Chỉ khéo nhân con đường đó thấy được mé chân, không chấp con đường đó là mé chân.

Khi Ngài A-nan thưa hỏi xong thì cả đại chúng đều một lòng khát ngưỡng trông chờ nghe lời dạy của Đức Phật. Vậy là thời tiết đã đến, đã khế hợp để Phật nói.

 

CHÁNH VĂN:

Khi ấy Đức Thế Tôn từ trên cửa mặt phóng các thứ hào quang. Hào quang ấy sáng chói như trăm ngàn mặt trời, khắp các cõi Phật, sáu thứ chấn động. Bấy giờ mười phương các cõi nước như số vi trần đồng thời hiện ra. Do oai thần của Phật khiến các thế giới hiệp thành một cõi. Trong cõi ấy có các vị Bồ tát lớn đều ở nơi nước của mình chắp tay lắng nghe lời Phật dạy.

GIẢNG GIẢI:

Trước khi Phật chỉ dạy, Ngài dùng hình ảnh phóng quang để ngầm chỉ cho người khéo lanh lợi sẽ nhận được những ý khó nói, khó bàn. Trên khuôn mặt phóng các thứ hào quang, hào quang xanh, vàng, trắng, đỏ v.v…soi khắp các cõi Phật, sáng hơn cả trăm ngàn mặt trời.

Một mặt trời thôi mình chịu không nổi. Ở đây tới hơn cả trăm ngàn mặt trời chắc ai cũng lóa mắt hết?! Nhưng không phải vậy. Hào quang này sáng chói hơn cả trăm ngàn mặt trời  nhưng trong đại chúng ai nhìn cũng bình thường, không bị chói mắt. Đó là đặc biệt. Hào quang đó soi khắp các cõi Phật, làm cho sáu điệu chấn động, các cõi Phật ở mười phương nhiều như các bụi, đồng thời hiện ra rồi hợp thành một cõi.

Trong khi đó, các vị đại Bồ-tát ở nơi các cõi đó vẫn ơ nơi cõi nước của mình chắp tay lắng  nghe lời Phật ở bên Ta-bà này. Đó là những điểm mình phải chú ý mới thấy được trong đó ngầm chỉ cái gì.

Ở đây, Phật phóng hào quang để thuyết pháp chứ không phải phóng hào quang để biểu diễn thần thông. Tức là biểu hiện pháp thấy trực tiếp không qua lời nói. Chỗ chân thật không thể nói mà phóng hào quang là gián tiếp một lớp rồi. Nếu nói ra lại thêm một lớp nữa, theo lời nói mà suy nghĩ là qua một lớp nữa cho nên đi xa dần dần.

Vậy thì từ khuôn mặt - nhớ kỹ là từ khuôn mặt - phóng các thứ ánh sáng, ánh  sáng này sáng hơn cả mặt trời nhưng không làm cho người chói mắt. Đó là chỗ ngoài thức tình của mình suy nghĩ.

Ngay cửa mặt, phóng ánh sáng ra soi khắp cả cõi nước mười phương, sáu điệu chấn động. Đó là ngầm chỉ ngay căn tánh hiện tiền của mình  đây, phát minh ra tâm tánh chân thật sáng suốt thì nó sẽ soi khắp mười phương, không có gì ra khỏi nó, không cần cầu đâu khác nữa.

Sáu điệu chấn động tức là sáu cách rung động. Sáu cách chấn động này về sự thì có ba thứ thuộc về hình, và ba thứ thuộc về thanh.

Ba thứ thuộc về hình: Thứ nhất là động, tức là nó lay động không yên. Thứ hai là khởi, là từ thấp dần dần lên cao. Thứ ba là dũng, tức bỗng nhiên nó  vọt lên.

Ba thứ thuộc về thanh: Thứ nhất là thuộc về chấn, tức là phát ra tiếng động âm ỉ, âm ỉ. Thứ hai là thuộc về hống, là tiếng động giống như tiếng rống mạnh mẽ của loài thú, mạnh hơn một tiếng chấn kia. Thứ ba là kích, tức là phát ra tiếng dội ầm ầm.

Sáu cách chấn động là nói về sự.

Còn về lý. Đây muốn nói về vô minh  và tình chấp kiên cố của người, ngay đây đều bị chấn động, lung lay tận gốc để rồi tan biến, lộ bày ra tánh thật.

Ngay khi ánh sáng này phóng ra, trong chúng hội thấy rõ suốt hết mười phương cõi nước hiện trước mắt, rồi thông làm một cõi không còn cách biệt cõi  này cõi kia nữa. Người lanh lợi thì ngay đây ngộ liền. Mười phương cõi nước thông làm một cõi, không còn ranh giới ngăn  cách kia đây, không còn gì chướng ngại, tức là ngay đây cái thấy thấy suốt qua tất cả,  không có gì chướng ngại. Nếu phát minh được lẽ thật đó, tức thấy suốt qua hết.

Trong Tín Tâm Minh, Tam Tổ Tăng Xán nói:  "Vô tại bất tại, thập phương mục tiền". Vô tại bất tại: Không ở đây mà không chẳng ở đây, mười phương ngay trước mắt. Mười phương ở ngay trước mắt thì không phải có ở đây hay ở kia. Tức là tâm của bậc giác ngộ thấy suốt như vậy.

Ngài Tăng Xán sanh sau Phật hơn cả  ngàn năm mà cái thấy của Ngài khi giác ngộ cũng khế hợp với  kinh, khế hợp với Phật không khác. Cũng để chứng minh cho lẽ thật này có đủ nơi mỗi người, chứ không phải chỉ riêng Phật thôi. Vì vậy ai tỏ ngộ đều thấy như nhau, không khác. Người tỏ ngộ rồi nghe tới đây sáng tỏ liền, không còn nghi. Tuy nhiên, cái thấy như Phật nhưng hạnh, đức chưa bằng Phật nên còn phải tu, không phải thấy như Phật là bằng Phật liền.

Thiền sư Viên Chiếu một lần lên tòa thuyết pháp. Ngài nhìn khắp đại chúng bảo: "Các ông hãy xem kìa, ánh sáng rực rỡ tốt lành đang chiếu khắp cả thế giới Tam thiên Đại thiên. Cả thảy trăm ức vi trần cõi nước, trăm ức biển cả, trăm ức núi Tu-di cho đến trăm ức mặt trời, mặt trăng ở bốn châu thiên hạ, cả đến cõi Phật nhiều như vi trần đều cùng một lúc hiện ra trong ánh sáng này hết. Các ông có thấy không? Nếu thấy được thì chính các ông đang tự mình ở trong ánh sáng đó, nếu không thấy thì cũng chớ có nói là ánh sáng tốt lành đó không có chiếu soi. Hãy tham cứu kỹ đi.

Cũng ánh sáng chân thật này, Ngài Viên Chiếu khai thị cho đại chúng. Thiền sư Viên Chiếu cũng là một con người như chúng ta mà Ngài thấy được ánh sáng đó, tại sao mình không thấy được. Ngài bảo nếu các ông không thấy được thì cũng chớ bảo ánh sáng này không có chiếu soi. Mỗi người hãy tự xét lại xem, tại nó không chiếu soi hay mình bỏ quên nó? Sáng được chỗ này, sẽ chuyển được cái mê từ vô thủy kiếp. Đó là lẽ thật ngay nơi mình.

Cái thấy của mình hiện giờ rất hạn hẹp. Nhìn bức tường là không thấy  ra bên ngoài. Còn ở đây thấy suốt cả mười phương. Đã sống với cái thấy hạn hẹp của mình  mà nhiều người vẫn còn mê, bị vô minh che, ỷ lại, tự hào vào cái thấy của mình rồi sinh ngã mạn, kiêu ngạo. Tuy nghe Phật nói vậy cũng còn bị che. Có khi trong nhà hay trong chùa cũng thấy ngăn ngại với nhau nữa, đừng nói chi mười phương. Nằm hai đơn kế nhau, mà thấy chướng ngại nhau là cách biệt rồi.

Khi cái ngã khởi lên che thì chung  quanh chỉ thấy có cái ngã thôi. Mình tưởng chấp ngã là cao nhưng sự thật càng chấp ngã càng nhỏ lại, càng hẹp lại. Xả được nó thì càng rộng lớn, càng thênh thang, dù cho trăm ngàn cảnh vật ở trước mắt cũng thấy suốt hết.

Tất cả chúng ta đang ở trong cái rộng lớn thênh thang như vậy mà không chịu nhận, lại tự nhốt mình ở trong cái nhỏ hẹp để chịu khổ. Phật gọi vô minh là đúng thực tế, chứ không nói bức ép mình, thiệt thòi mình.

Trong kinh có thêm một điểm nữa: Bấy giờ trong cõi nước thông hợp tất cả đó, các vị Bồ-tát lớn đều ở ngay cõi nước của mình lắng nghe lời Phật ở cõi Ta-bà này. Sướng không?! Vẫn ngồi ngay tại cõi nước của mình mà nghe tiếng pháp từ xa, không phải đi đâu hết. Tức là phát minh ra ánh sáng này thì ở trong đó thấy nghe các trần, không rời khỏi tự tánh, không đánh mất mình, không quên mình theo vật. Nghe được vậy là đâu có bị thanh trần chi phối. Ngược lại hễ nghe cái gì dính cái đó, quên mất tự tánh là rời khỏi bổn quốc. Nghe cái gì là phải đi đến chỗ đó mà nghe, không ngồi tại chỗ nghe được là mê tự tánh.

Thiền sư Cảnh Thanh một hôm đang ngồi, có ông tăng đứng kế bên, bên ngoài trời đang mưa.

Ngài hỏi:"Bên ngoài là tiếng gì vậy?".

Ông tăng đáp: "Tiếng mưa rơi".

Ngài bào:"Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật".

Đó là nghe mà rời khỏi bổn quốc rồi cho nên gọi là chúng sanh điên đảo, quên mình theo vật.

Ông tăng hỏi lại: "Còn Hòa thượng thì sao?".

Ngài đáp:"Vẫn chẳng quên mình".

Ngài nghe mà vẫn không rời khỏi cõi nước của mình, vẫn chẳng quên mình. Nghe thì nghe nhưng vẫn ngồi tại cõi nước của mình thôi. Người lanh lợi ngay đó ngộ liền.

Cho nên phóng ánh sáng đó là thuyết pháp, chớ không phải phóng ánh sáng biểu diễn thần thông. Nếu không học thiền, không thấy được ý ngoài lời, thì đọc kinh Đại thừa, nghe những đoạn như thế này chỉ nghĩ Phật thần thông cao siêu, rồi càng tưởng tượng ra thêm, không thấy được ý Phật thuyết pháp, thấy như chuyện của Phật không dính gì tới mình.

Như vậy cũng để ngầm chỉ lẽ thật sẵn có ở nơi mình, nơi tất cả mọi người, chứ không phải chỉ có trong hội Lăng Nghiêm ngày xưa thôi. Phật thuyết pháp là để chỉ bày cho chúng sanh. Bây giờ mình thấy được ý Phật là đền ơn Phật, là hợp ý Phật. Và sáng được chỗ này thì  mới thấy được đời tu thật có ý nghĩa.

Nếu khéo nghiệm kỹ mới thấy một đoạn ngắn này thôi, chúng ta sống qua vô lượng kiếp cũng không hết. Đó mới là chỗ học của kinh  Lăng Nghiêm, chứ không phải học phân tích chữ nghĩa.

Đừng học một chút rồi tự mãn, đóng kín cửa lòng mình, sẽ không thấy được những phương trời sâu xa rộng lớn, Đừng để cái bản ngã này che mờ, gạt mình. Như vậy càng học mình sẽ càng thấy mở sáng ra nhiều vấn đề. Đây Phật chỉ ra.

 

CHÁNH VĂN:

Phật bảo A-nan:"Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác-xoa. Những người tu hành không thành được đạo Vô thượng Bồ-đề mà chỉ thành Thanh văn, Duyên Giác, ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương và quyến thuộc của ma, đều do chẳng biết hai thứ căn bản, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.

Thế nào là hai thứ căn bản? A-nan! Một là căn bản sanh tử từ vô thủy, chính là hiện nay ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ-đề Niết-bàn nguyên thanh tịnh thể từ vô thủy, tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hiện nay hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ rơi nó. Do chúng sanh bỏ rơi bản tánh minh này, nên tuy trọn ngày động dụng mà chẳng tự biết, uổng trôi vào trong các cõi.

GIẢNG GIẢI:

Đây là Phật chỉ ra hai thứ căn bản: Cái gốc đi vào sanh tử luân hồi và cái gốc trở về Bồ-đề Niết-bàn. Nói đơn giản hơn là gốc của mê và gốc của ngộ. Trên đường tu giác ngộ phải nắm vững điểm này.

Trước, Phật trách cho cái mê lầm điên đảo của chúng sanh, từ vô thủy đến nay các thứ điên đảo, giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm Ác-xoa. Vô thủy không phải là kiếp trước, mà từ lúc bất giác ban đầu cho đến bây giờ. Điên đảo là cái thấy lộn ngược. Nghĩa là mê chân mà nhận vọng, rồi lấy vọng làm chân. Hiện tại tuy biết vậy, mình cũng còn hơi hám đó chứ chưa hết..

Bảo sống với cái chân, ai nghe cũng thích nhưng bảo làm thì không ai chịu làm vì còn mê lầm, điên đảo nhiều đời. Từ cái mê lầm, điên đảo huân thành những hạt giống nghiệp gọi là chủng tử, rồi theo những nghiệp đó mà chịu khổ, cho nên gọi là hoặc-nghiệp-khổ như một chùm Ác-xoa. Ác-xoa là một loại quả bên Ấn Độ, thường sanh ra một chùm ba trái. Như do cái hoặc mê lầm, điên đảo rồi huân thành các chủng tử nghiệp. Do huân thành những chủng tử nghiệp mới chịu khổ lâu dài trong sanh tử, thành một chùm Hoặc-Nghiệp-Khổ. Ở trong đó lại chồng thêm hoặc nữa, tức là mê lầm chồng chất sâu thêm nữa, mỗi một lần sanh ra thì chồng thêm lớp mê nữa, rồi lại tạo nghiệp thêm nữa, rồi chịu khổ nữa.  Trong khổ đó chồng thêm lớp hoặc nữa, đến bây giờ không biết bao nhiêu lớp. Bây giờ biết phát tâm Bồ-đề tu hành trở về giác ngộ nhưng vẫn còn bị nó che. Nghe biết, thấy hay nhưng chưa hết lòng để làm.

Trong kinh nói rõ chúng sanh bị ba thứ hoặc, nghiệp, khổ lẩn quẩn trong đó thành kiếp của chúng sanh. Kiếp sống của chúng sanh chúng ta là như vậy đó chứ không gì hết, đừng có tự hào. Sống như vậy có gì vui không, có ý nghĩa gì không mà cứ chìm sâu trong đó, không chịu quay đầu trở lại?! Đó là chỗ Phật thức tỉnh chúng sanh.

Phật dạy: ” Những người tu hành không thành được đạo Vô thượng Bồ-đề mà chỉ thành Thanh văn, Duyên Giác, ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương, quyến thuộc của ma". Người có chí tu, có tỉnh, biết tu hành, nhưng không thành tựu được Vô thượng Bồ-đề mà lại thành Thanh Văn, Duyên Giác tức là cũng còn giữa đường, trong kinh Pháp Hoa gọi là hóa thành chứ không phải bảo sở. Nhưng thành Thanh Văn Duyên Giác cũng còn tốt, xa hơn nữa là rơi vào chư Thiên, ngoại đạo, Ma vương và quyến thuộc của ma thì thật đáng tiếc vô cùng. Như vậy lỗi tại ở chỗ nào?

Đó là do không biết hai thứ căn bản mà tu tập lầm lộn. Tu giải thoát mà lấy vọng làm nhân cầu quả thật thì sao có được. Lấy nhân sanh diệt mà tu thì được quả sanh diệt, còn nếu muốn được quả không sanh diệt thì phải lấy nhân không sanh diệt mà tu. Nhân không sanh diệt là gì? Là chân tâm. Y theo chân tâm mà tu thì đảm bảo được quả không sanh diệt. Còn y theo vọng tâm này mà tu thì bảo đảm được quả sanh diệt, rõ ràng vậy thôi. Như là nấu cát mà muốn thành cơm thật uổng công.

Đây, Phật chỉ ra hai thứ căn bản:

1. Một là căn bản sanh tử từ vô thủy. Cái gốc sanh tử từ vô thủy kiếp đến nay, tức là từ lúc mới bất giác tới bây giờ. Chính là hiện nay đây các ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Không phải chỉ một mình Ngài A-nan thôi mà chỉ chung tất cả chúng sanh - có mình trong đó - do dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Nếu còn sống với cái này là còn sanh tử dài dài, không ra khỏi. Sao gọi là dùng tâm phan duyên làm tự tánh? Phan duyên là tâm chạy theo cảnh, chạy theo trần, luôn luôn duyên ra bên ngoài, sống hướng ngoại. Đa số chúng ta sống hướng ngoại, thành thói quen. Tức là luôn luôn nương tựa duyên mà sống, có duyên là còn, mất duyên thì chết.

Đã biết tu rồi, ngồi thiền  bảo tâm đừng duyên gì hết, chịu không nổi. Tâm phải luôn luôn có cái duyên gì đó, hay duyên vào pháp tu cho có chỗ duyên. Ngồi mà không duyên chỗ nào hết thì ngủ, không biết gì hết. Nếu thật sự sáng rồi thì không duyên chỗ nào hết vẫn rõ ràng thường biết. Đó mới là chỗ sống của người giác ngộ. Không học đạo làm sao thấy được chỗ này?!

Thường sống theo duyên, nhưng duyên luôn thay đổi, không đứng yên một chỗ để cho mình bám. Như vậy tâm cũng phải chuyển theo, cho nên bị lưu chuyển trong sanh tử. Lưu chuyển tức luôn bất an, sống trong bất an là khổ. Phật gọi vô thường. Phật gọi vô thường, khổ, vô ngã là tam pháp ấn. Đây mới là cái khổ lớn của chúng sanh, chứ không phải cái khổ thiếu ăn, thiếu mặc, đói khát. Như vậy, dùng tâm phan duyên làm tự tánh là căn bản sanh tử từ vô thủy mà chúng sanh lầm trong đó.

2.Hai là thể Bồ-đề Niết-bàn vốn sẵn thanh tịnh từ vô thủy. Tức là cái thanh tịnh này là thể sẵn từ trong tự tánh, chứ không do tạo tác.

Thể Bồ-đề Niết-bàn với căn bản sanh tử, hai cái đều từ vô thủy, đi song song với nhau. Tức là ngay trong sanh tử vẫn có sẵn cái thể thanh tịnh này, không phải rời ngoài sanh tử có Bồ-đề Niết bàn.

Nói theo kinh Kim Cang:" Sanh tử tức không  phải sanh tử". Vậy người khéo thì ngay sanh tử liền ngộ thể Bồ-đề Niết-bàn, không phải tìm đâu xa. Đó là con đường đốn giáo, Thiền tông cũng đi theo con đường này. Ngay sanh tử ngộ ra Niết-bàn, nhận ra Niết-bàn. Nhưng ít ai chịu nhận.

Cái thể nguyên sẵn thanh tịnh từ  vô thủy đó là gì? Thể đó là thức tinh nguyên minh của mỗi người hiện nay đây chớ không đâu khác. Nó hay sanh ra các duyên mà lại bị các duyên bỏ sót nó. Đó là chỗ các ông phải ngộ trở lại.

Thức tinh là cái gì? Chữ tinh là tinh ròng; nguyên là ban  đầu, tinh khôi chưa lẫn lộn, chưa biến đổi. Vậy thức tinh tức là cái thức  còn nguyên từ ban đầu chưa bị thay đổi, chưa bị che mờ. Đó là chỉ cho các gốc của các thức, còn nguyên ban đầu. Hay nói rõ hơn là cái gốc rõ biết sẵn có từ ban đầu, không phải cái thức phan duyên này. Cái thức phan duyên này có duyên nó mới biết, nó sống ký sanh. Còn nguyên minh là cái sẵn sáng suốt từ ban đầu. Đây mới là thể Bồ-đề Niết-bàn, cái thể này là thể chung cho các thức. Trong thể này, lần lượt sanh ra các thức. Các thức sanh ra rồi dậy sóng theo duyên, quên mất chính nó. Gọi là nhận các duyên làm tự tánh. Đó là chỗ phân chia mê ngộ đi vào các cõi.

Chính vì chúng sanh bỏ rơi cái tính bản minh sẵn đó cho nên trọn này động dụng mà không tự biết, uổng trôi vào các cõi, bị lưu chuyển. Mình giải theo chữ nghĩa quen rồi mắc kẹt chữ nghĩa hoài, giờ nói rõ hơn. Thức tinh nguyên minh là cái thể biết vốn sẵn ở trong tự tánh. Nó sẵn ở trong tự tánh nên gọi là ban đầu, nó còn tinh chứ không phải là cái theo duyên. Đây là cái biết vốn sẵn ở trong tự tánh, tức là cái biết còn nguyên thủy từ ban đầu, không  phải nhờ duyên mới biết. Nhưng nó lại không giữ tự tánh lại hay sanh các duyên. Tức là nó biết tất cả, biết cái này, biết cái kia, biết cái nọ, biết đủ thứ hết. Rồi nó tự đồng hóa nó với những thứ biết kia. Buồn nó thành cái buồn, vui nó thành cái vui v.v…thành đủ thứ sai biệt. Chính vì đồng hóa với các thứ biết kia thành ra quên mất chính nó, lấy mấy cái kia làm tự tánh. Đó là bỏ rơi cái bổn minh, tức là cái vốn sáng suốt sẵn có, là cái biết sẵn có, cho nên mới thành mê. Rồi trọn ngày động dụng mà tự mê không còn tự nhớ biết, chỉ còn nhớ cái biết theo duyê n đó thôi. Cho nên mới trôi vào các cõi thành lưu chuyển. \

Như vậy thì ngay trong sanh tử có "thể" Bồ-đề Niết-bàn rõ ràng. Nói uổng trôi vào các cõi thành lưu chuyển chứ thật sự nó vẫn sẵn đó thôi, không trôi đi đâu hết. Cho nên mình học không để mắc kẹt chữ nghĩa. Nghe nói trôi, cho rằng nó trôi thì không phải vậy. Nó sẵn thanh tịnh từ vô thủy thì có trôi đi đâu. Nếu thật nó bị trôi theo các duyên tức là nó bị sanh diệt. Cho nên mới thấy rõ nghĩa Phật nói không sai, dùng chữ rất chính xác, "uổng trôi" thôi, không phải "thật trôi". Tức là luống uổng mà bị trôi theo, thật đáng tiếc! Học kinh vậy mới thấy lý thú, chứ còn đọc chữ nghĩa không thì không thấy cái gì hay hết.

Như vậy, Phật muốn đánh thức chúng ta mỗi người phải tự nhớ trở lại, không phải "thật có trôi". Vậy thì ngay đây ai ngộ được thì liền ngồi tại quê nhà. Chỗ này mỗi người cần quán sâu, quán kỹ chớ bỏ qua. Ngộ chỗ này rồi là vào thiền liền, mê chỗ này thì rời khỏi thiền. Thiền là ngay chỗ này, mê ngộ cũng ngay chỗ này, làm chúng sanh làm Phật cũng ngay chỗ này. Thành ra mình thấy con đường Đốn giáo rõ ràng. Tất cả phải nghiền ngẫm kỹ để thấy nếu không có Phật thì ai có thể chỉ ra chỗ này cho chúng ta? Mới thấy ân Phật quá lớn đối với chúng sanh. Bây giờ được chỉ ra rồi mà không để toàn tâm thể nhận thì có phải phụ ơn lớn của Phật không?  Người tu sáng được chỗ này mới cảm sâu ơn Phật, không thì chỉ nói suông ngoài miệng thôi.

Hồi xưa Phật chỉ dạy, bây giờ tôi khơi thêm một lần nữa cho tất cả, mới thấy duyên lành hy hữu. Bao giờ quý vị gặp lại được lần nữa? Vậy mà không trân quý hay sao? Đó là chỗ mình phải biết để tu. Phật đã chỉ ra hai thứ căn bản, mình quán kỹ, hiểu sâu chỗ này tu suốt đời không hết.

Đây tóm tắt lại cho tất cả nắm rõ: Chính cái biết này là mê, cũng chính cái biết này là ngộ, không có cái gì khác chen vào. Nếu có cái gì khác chen vào thành hai người hay sao? Trong một mình mà có hai người thì thành Phật phải thành hai ông Phật, không có chuyện đó. Vậy mê cũng cái biết này, ngộ cũng cái biết này, làm chúng sanh cũng cái biêt này, làm Phật cũng là cái biết này. Ngay đó ngộ được chưa, không ai khác  chen vào thì còn phải đợi cái gì nữa?

Cho nên người tu tới cuối cùng chuyển thức thành trí, tức chưa tu nó là thức, tu rồi nó là trí, thể đó vẫn không hai. Rõ thấu được đây rồi không còn phải sợ ai chê khen hay chỉ trích gì nữa hết. Người ta có chê cách mấy đi cũng không chạy khỏi cái biết này để mà chê. Tức là khi anh chê thì anh cũng lấy cái biết để chê cái biết, rõ ràng. Chớ còn anh là gỗ đá thì thôi khỏi chê. Mình thấy được chỗ này thì cười thôi, chê người ta mà mình cũng dính trong đó.

Nói xa hơn nữa, có những vị tu Thoại đầu nói đến cái biết này liền chê. Nhưng các vị ấy quên rằng cây đá đâu có biết tham câu thoại đầu. Thứ hai lúc tham mà không thật có biết câu thoại đầu thì lúc đó là vào hang quỷ rồi. Còn người tham thoại đầu thì phải rõ biết câu thoại đầu rõ ràng mới là sáng suốt, rồi mới thành khối nghi được. Nếu không có biết thì có nghi được không? Cái gì biết nghi? Thành ra cũng không chạy khỏi cái biết này. Rồi đến khi ngộ thì có biết không? Hiểu vậy rồi thì mình yên tâm tu tập. Cho nên đây là chỗ mình cần phải quán sâu, cho thấu tột ngọn nguồn chứ không phải chỉ bàn luận ở trên chữ nghĩa thôi.

 Khi rõ rồi mới thấy cũng một chữ "biết" này, tùy người hiểu có cạn có sâu theo trình độ căn cơ. Đừng vội nghe "biết" liền chê. Thí dụ cái biết từ người đã sáng được tâm nói ra thì không giống với cái biết của người từ tâm phân biệt mà nói.Như người từ tâm sáng nói ra thì đó là cái biết chân thật. Nhưng người nghe đem tâm phân biệt, nghĩ về cái biết đó, thì cái biết đó là cái biết vọng. Nếu đem tâm sáng suốt để hiểu về cái biết đó mới thấy giá trị của cái biết đó. Cho nên tùy trình độ, không thể gộp chung. Mới thấy chỗ này rất sâu xa không thể xem thường. Đó là phần Phật chỉ ra hai thứ căn  bản.

Đây học tiếp tới đoạn: "Nương cái thấy để gạn tâm".

Đến đây Phật bảo:

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Nay ông muốn biết con đường tu Thiền định để mong ra khỏi sanh tử, Tôi lại hỏi ông".

Liền khi ấy, Đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng co năm ngón lại hỏi ông A-nan: "Nay ông có thấy chăng?".

A-nan thưa:"Thấy".

Phật hỏi:"Ông thấy cái gì?".

A-nan thưa:"Con thấy Như Lai đưa cánh tay, co năm ngón lại thành ngón tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của côn".

Phật nói: "Ông lấy cái gì để thấy?".

A-nan thưa:"Con và đại chúng đều dùng mắt để thấy".

Phật bảo A-nan:" Nay ông trả lời tôi hỏi, Như Lai co năm ngón tay lại thành nắm tay sáng chói, chiếu vào tâm mắt của ông thì mắt ông có thể thấy. Vậy ông lấy cái gì làm tâm để biết được nắm tay sáng chói của Tôi?".

A-nan thưa:"Hôm nay Đức Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, con dùng tâm suy xét tột cùng để tìm kiếm, tức cái hay suy nghĩ đó con cho là tâm của con".

GIẢNG GIẢI:

Trước Ngài A-nan thỉnh Phật chỉ dạy con đường  Xa-ma-tha. Phật đã nói ra hai thứ căn bản: Căn bản sanh tử từ vô thủy và thể Bồ-đề Niết-bàn vốn sẵn thanh tịnh từ vô thủy. Đến đây, Phật nương cái thấy để gạn lại tâm đó. Người muốn biết con đường tu thiền định để ra khỏi sanh tử thì  phải hết lòng nghe cho kỹ chỗ này, Phật trực tiếp khai thị.

Phật nói rõ: "Ông muốn biết con đường tu thiền định để mong ra khỏi sanh  tử thì tôi hỏi ông": Tức đây là con đường thiền định để ra khỏi sanh tử luân hồi chứ không phải tầm thường.

Đức Phật đưa cánh tay sắc vàng, co năm ngón lại rồi hỏi A-nan: "Nay ông thấy chăng?". Đây là lần thứ nhất Phật trực tiếp khai thị cho Ngài A-nan.

Ngài A-nan đáp: "Con thấy cánh tay của Phật đưa lên, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm và mắt của con".Phật mới bảo: "Như vậy thì ông lấy cái gì để thấy?"

Tức là ngay khi thấy cánh tay Phật đưa lên rồi co năm  ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt đó. Ông ở đâu mà chưa ngộ? Phật hỏi ông lấy cái gì thấy là Phật khai thị lần thứ hai.

Rồi ngay khi nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của ông, vậy ông lấy gì làm tâm để biết. Đó là khai thị lần thứ ba. Ba lần khai thị nhưng Ngài A-nan vẫn không ngộ.

Học kinh mình phải chú ý kỹ vậy đó chứ không giống như  đọc truyện. Đây là Phật khai thị tánh thấy. Nếu mình nhanh nhẹn thì ngay ba lần đó thì tỏ ngộ rồi. Cho thấy Đức Phật hết sức từ bi, ba lần tận tình khai thị nhưng tiếc thay, Ngài A-nan vẫn theo cái tâm phan duyên mà hiểu, đành để lầm qua hết cả ba cơ hội. Người khéo, bén nhạy thì ngay lần đầu khi Phật đưa cánh tay sắc vàng lên rồi co năm ngón lại, hỏi ông thấy chăng. Ngay đó nhận ra cái đang hiện hữu nơi chính mình thấy nắm tay liền. Phật giơ lên, nắm tay co lại thì tay Phật có co có động, còn cái đang hiện hữu nơi chính mình nó có trước khi cánh tay Phật đưa lên nữa, không phải đợi cánh tay Phật đưa lên mới có. Ngay đó ngộ liền, tức là thấy suốt qua cả cánh tay và cái nắm tay của Phật, không phải chỉ dừng ở trên cánh tay và nắm tay sáng chói đó thôi. Thiền là chỗ đó.

Thiền sư Thiệu Long khi còn đang tham học với Thiền sư Viên Ngộ. Một hôm, Thiệu Long đi vào trong thất của Thiền sư Viên Ngộ, Thiền sư Viên Ngộ dẫn kinh Lăng Nghiêm này nhưng dẫn đoạn sau: "Khi thấy cái thấy thì cái thấy này chẳng phải là cái thấy ấy, cái thấy này còn lìa cái thấy ấy, cái thấy ấy không thể theo kịp nó".Ngay đó Thiền sư Viên Ngộ liền đưa cái nắm tay lên hỏi: "Ông thấy chăng?"

Dẫn kinh Lăng Nghiêm rồi thực tế đưa nắm tay lên hỏi liền.

Thiệu Long thưa: "Dạ thấy". Đúng, giơ nắm tay lên là thấy.

Thiền sư Viên Ngộ bảo: "Trên đầu lại để thêm đầu".

Ngay đó Thiệu Long bỗng nhiên khế ngộ.

Thiền sư Viên Ngộ hỏi: "Ông thấy cái gì?"

Thiệu Long thưa: "Tre dày chẳng ngại nước chạy qua". Tre dày tức là tre đan dày khít nhưng cũng không ngăn được dòng nước chảy qua.

Ngay đó Thiền sư Viên Ngộ liền hứa khả.

Giơ nắm tay lên hỏi: "Thấy không", đáp "Giơ nắm tay lên hỏi: "Thấy không", đáp "Thấy"; đó là bình thường của mỗi người. Nhưng Ngài nói trên đầu để thêm đầu. Đó là Ngài khai thị cho mình cái thấy này đã có trước khi nắm tay đưa lên, không phải đợi khi nắm tay đưa lên mới có. Đợi khi nắm tay đưa lên mới gọi là có thấy tức là đầu thêm đầu. Khi nói vậy, Ngài Thiệu Long liền khế ngộ. Nhưng Thiền sư Viên Ngộ trắc nghiệm lại coi ông thấy thật hay không. Hỏi: "Ông thấy cái gì?", Thiệu Long đáp: "Tre dày chẳng ngại nước chảy qua". Nghĩa là thấy suốt qua nắm tay của thầy nữa, cũng như tre dày nhưng nước vẫn chảy qua suốt không mắt kẹt tre dày.

Ở đây, Ngài A-nan  còn bị trệ ngại nơi nắm tay và con mắt nên Phật hỏi, Ngài cũng đáp thấy nhưng chưa ngộ. Đó là chỗ lầm qua thứ nhất.

Phật khai thị cho ông lần nữa, hỏi ông lấy cái gì để thấy. Đó là đi thẳng vào cái gốc thấy kia, nó đang hiện hữu ở nơi ông đó, đừng để nắm tay và con mắt gạt ông. Hỏi ông lấy cái gì để thấy, nói theo nhà thiền là đưa cơm tới miệng. Nhưng Ngài A-nan vẫn còn kẹt theo cái bên ngoài chưa tỉnh ngộ được. Thật đáng tiếc, lầm qua lần thứ hai.  

Đoạn trước, Phật đã nói người chết con mắt cũng vẫn còn kia, sao không thấy? Bây giờ Ngài A-nan lại đáp con mắt thấy nữa. Mới đó liền quên. Cho thấy tập khí mê lầm xưa nay còn ăn sâu quá.

Các Thiền sư ngày xưa biết bệnh đó cho nên các Ngài cứ đem cái bẫy của hai bên, cái bẫy của thức tình ra gạn nói. Ai lanh lợi có thể vượt qua được một lần, hai lần nhưng tới lần sau cũng bị rớt trở lại. Làm gì cũng rơi vào trong tình thức, cũng mắc kẹt theo cái tập khí của thức tình vì sống theo tập khí của tình thức quen rồi. Đó là điểm nhắc cho cả đại chúng cần phải tu tập thường xuyên tỉnh giác trong từng cử chỉ, từng hành động để lấy lại sức tỉnh giác kịp thời luôn luôn, không khéo là bị tình thức chen vào.

Lần thứ ba Phật gạn lại: "Mắt ông có thể thấy đó, vậy cái gì làm tâm để biết?"

Chẳng lẽ ngoài cái thấy lại còn riêng có cái tâm biết nào nữa hay sao? Đó là chỗ Phật gạn lại, người lanh lợi ngay đó thấy được ý của Phật.

Chỗ này có hai vấn đề: Thứ nhất, mình phải thấy rõ không lẽ ngoài cái thấy lại có cái tâm biết nữa hay sao. Phật đã có lần gạn lại không lẽ có cái biết ở ngoài cái thấy, vừa biết tức là thấy rồi. Thứ hai, đánh thức ông A-nan trở lại, cũng vừa là cái bẫy để gạn lọc tình thức ra. Không khéo thì ngoài cái thấy có thêm cái biết. Đó là cái bẫy hai bên.

Ở đây, Ngài A-nan cũng theo chỗ phân biệt của tình thức theo lời sanh hiểu nên lầm qua lần thứ ba. Ngài đáp con lấy cái hay suy nghĩ làm tâm, thành ra ngoài cái thấy lại có thêm cái tâm hay suy nghĩ nữa. Ngay thấy là biết rồi, đâu phải thêm cái tâm nào khác nữa. Giơ tay lên hỏi thấy không, thấy là biết rồi, không phải ngoài cái thấy này có thêm cái biết nữa. Như vậy đúng là bị gạt mà không hay.

Bảy lần trước Phật gạn hỏi tâm thì Ngài A-nan chấp theo cái sở suy là chỗ suy nghĩ, còn bây giờ chấp cái năng suy tức là cái hay nghĩ. Như vậy là vẫn còn kẹt trong cái vòng  năng  sở, chưa ra khỏi suy nghĩ đối đãi. Mê là chỗ đó, lầm là chỗ đó. Khi nghe kỹ lời đáp của Ngài A-nan sẽ thấy rõ liền: "Con dùng cái tâm suy nghĩ cùng tột để tìm kiếm". Tức là không phải ngay đó trực tiếp thấy mà Ngài dùng cái tâm suy xét để tìm kiếm. Như vậy lúc đó rõ ràng Ngài bỏ qua cái đang hiện tiền ở trước mắt đây mà suy xét. Suy xét tức là hướng về đâu đó, chớ không phải trực tiếp ngay đây đối diện. Nếu cái đang hiện tiền đây thì thấy tức biết rồi, còn suy xét gì nữa? Đó là còn bị một lớp mê che mờ, chỗ này rất tế nhị.

Đem tâm suy xét rồi chấp cái hay suy nghĩ kia, tức là trong  một thể mà chia thành hai tâm rồi. Một cái tâm suy xét, một cái tâm hay suy nghĩ. Lấy cái tâm hay suy xét này chấp cái tâm hay suy nghĩ kia làm tâm.

Đa số người cũng bị lầm chỗ này mà không hay. Học kinh Lăng Nghiêm mới thấy Đức Phật đã chỉ cái tâm chân vọng cho mình rất kỹ. Ai thật tâm học cho kỹ thì sẽ tiến rất sâu trên con đường giác ngộ tự tâm. Hòa thượng đọc kinh Lăng Nghiêm mà có cảm ngộ, và chính tôi hồi xưa cũng vậy, lúc đầu tu thiền nhờ đọc kinh Lăng Nghiêm mà có một sức cảm kích rất mạnh. Tuy chưa sáng được tâm mà sức cảm ngầm ngầm, như có một cái gì đó đánh dội vào bên trong. Cho nên học kỹ thì có rất nhiều lợi ích cho mình.

Như vậy để thấy chỗ lầm của Ngài A-nan. Phật khai thị ba lần, Ngài A-nan cũng bỏ qua cả hai cơ hội.

CHÁNH VĂN:

Phật bảo: "Sai rồi,A-nan! Cái này chẳng phải là tâm của ông".

Ngài A-nan giật mình, đứng dạy chắp tay bạch Phật: "Cái này chẳng phải tâm của con, vậy nên gọi nó  là cái gì?"

Đức Phật bảo A-nan: "Cái này là tưởng tướng hư vọng của tiền trần, làm mê lầm chân tánh của ông. Do ông từ vô thủy đến nay nhận giặc làm con bỏ mất tánh nguyên thường nên phải chịu luân chuyển".

GIẢNG GIẢI:

Đây là Phật chỉ rõ ra tâm nào chân, tâm nào vọng.  Mọi người đều cho cái hay suy nghĩ là tâm mình thôi, ngoài cái này đâu còn biết cái gì khác nữa, Ngài A-nan cũng vậy, Phật bảo sai rồi - chữ Hán là"đốt" - chữ này giống như một tiếng quát mạnh, nói thẳng cái này không phải là tâm của ông. Lúc này Ngài A-nan cũng giống như trời  sập. Xưa nay đinh ninh cái hay suy nghĩ này là tâm mình, ngoài cái này đâu còn cái gì khác nữa. Bây giờ Phật bảo không phải tâm ông thì hết còn biết gì nữa, không thể tưởng tượng nổi. Nếu cái này không phải là tâm của con thì con là cái gì? Cho nên Ngài giật mình, hết sức kinh ngạc, hết còn làm chủ được nữa, đứng dậy hỏi liền: "Cái này không phải tâm của con, vậy con phải gọi nó là cái gì đây, thành ra con không có tâm hay sao?!". Sợ mất tâm. Đến đây coi như lung lay tận gốc rễ.

Phật nói rõ đó chỉ là cái tưởng, cái bóng của tiền trần. Tiền trần gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc. Còn cái suy nghĩ ngầm ngầm ở trong đầu, không đối diện trực tiếp với tiền trần mà đối với pháp trần. Pháp tức là những bóng dáng của tiền trần lưu lại bên trong, tưởng bám vào đó suy nghĩ, tức là cái tưởng về bóng dáng của tiền trần thôi, không có thực.

Thí dụ bây giờ nghe pháp, tối ngồi thiền nhớ lại cảnh nghe pháp đây,  thì đó là bóng dáng, không phải thật. Chính cái này làm mê mất chân tánh của ông mà ông không hay biết, lại còn ân cần nhận nó làm của quý của mình, cho là tâm của mình. Phật gọi "có khác nào nhận giặc làm con". Nó phá tán sự nghiệp của mình.

Đó là điên đảo mà không hay biết. Cái đó khiến cho ông từ vô thủy đến nay bỏ mất tánh nguyên thường- Nguyên thường tức là cái sẵn có, thường hằng nơi ông, không có gì làm thay đổi được-Do đó đành phải chịu luân hồi, không có ngày nào ra. Đó là Phật chỉ rõ chỗ lầm.

Đây là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta. Những người mệ, tức những ai còn đang lang thang trong kiếp luân hồi, phải ngay đó thức tỉnh trở lại, đừng nhận cái "hay suy nghĩ" đó. Nó chỉ là tâm tưởng bám theo những tướng hư vọng của tiền trần chứ không có thật thể của nó.Ỷ lại vào nó, cho nó là tâm mình là nhân của sanh tử luân hồi.

Nếu ông nhận nó làm tâm của mình, thì khi không có những bóng dáng của tiền trần để nương, lúc đó sẽ thành không có ông hay sao? Ông sống trong hư vọng mà không biết. Đó không  phải nhận giặc làm con là gì? Gọi là bỏ mất tánh nguyên thường đó! Cái tánh nguyên thường, nói đơn giản là cái biết xưa nay sẵn như vậy mà ông tự quên mất để nhận theo cái bóng dáng kia. Đó là mê mất chân tánh.

Người khéo một chút thì ngay cái tâm hay suy nghĩ xét tìm, soi trở lại coi " cái đang xét tìm" đó là cái gì, không bám theo cái hay suy nghĩ kia. Đó là chỗ tham thiền, Phật Tổ sẽ hiện ra ngay chỗ đó!

Ngài Kỉnh Huyền hỏi Thiền sư Duyên Quán: "Thế nào là đạo tràng vô tướng?" Thiền sư Duyên Quán cũng khéo gạn lại, chỉ tượng Bồ-tát Quán Âm bảo: " Cái này là do ông Ngô Xử Sỹ vẽ". Ngài Kỉnh Huyền liền suy nghĩ. Tức là trong đầu đã hiện ra tướng đó, suy nghĩ theo tướng đó. Ngay đó Thiền sư Duyên Quán liền nói: "Cái này có tướng còn cái kia không tướng". Là đánh thức cho ông trở lại. Ngay đó ông ngộ trở lại thì xong.

Ở đây, Phật nói cái này là tưởng tướng hư vọng của tiền trần, nó làm mê chân tánh của ông. Do ông từ vô thủy đến nay nhận giặc làm con, bỏ mất cái tánh nguyên thường nên phải chịu luân chuyển. Vậy mà Ngài A-nan vẫn chưa chịu dừng lại, còn tiếp nữa.

 

CHÁNH VĂN:

Ngài A-nan bạch Phật: "Bạch Đức Thế Tôn, con là em yêu của Phật, vì tâm mến Phật khiến con xuất gia. Tâm con chẳng riêng gì cúng dường Đức Như Lai cho đến trải khắp hằng sa cõi nước phụng thờ chư Phật và thiện tri thức, phát tâm đại dõng mãnh làm tất cả pháp sự khó làm con đều dùng tâm này. Dẫu cho con hủy báng chánh pháp bỏ mất căn lành cũng nhân tâm này. Nếu Phật phát minh nó không phải tâm, hóa ra con không có tâm, đồng như cây đất, vì ngoài cái hiểu biết này ra lại không còn gì nữa. Tại sao Đức Như Lai bảo cái ấy chẳng phải là tâm? Con thật kinh sợ và trong đại chúng  đây đều nghi ngờ. Cúi mong Đấng Đại Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ".

GIẢNG GIẢI:

Ngài A-nan vẫn còn chấp cái tâm này. Ngài nói: Con từ xưa tới giờ chỉ dùng cái tâm này, chứ đâu còn cái gì khác nữa. Mến Phật đi xuất gia con cũng dùng tâm này, cúng dường mười phương chư Phật, phát tâm dõng mãnh làm các pháp sự con cũng dùng tâm này. Cho đến nếu phỉ báng chánh pháp, làm các việc ác con cũng đem tâm này mà làm. Ngoài đó đâu còn gì khác nữa mà Phật bảo không phải tâm, thành ra con không có tâm, con như cây đá hay sao?

Phật đã hết lòng chỉ rồi mà Ngài chưa chịu buông. Bởi vì người chưa ngộ thì chỉ biết có tâm này thôi, Phật bảo nó không phải tâm thành ra thấy mình như cây đá, thấy mình không có tâm. Tức nghi rơi vào đoạn diệt,  không còn gì hết. Như vậy là chấp nhận sống phải có tâm, không thể không có tâm. Nhưng lại nhận cái tâm bị lệ thuộc theo trần kia, sợ nó mất đi. Mê là chỗ đó. Nếu Ngài nhận rõ nó thật là tâm mình thì ai nói gì nói, làm sao sợ mất được! Sợ mất là nói lên nó không phải thật rồi. Mê là ở chỗ đó mà không thấy. Cái biết-sợ-nó-mất thì đâu có mất. Cái mất là bóng.  Chính chỗ này là chỗ cần phải tỉnh trở lại, mà chưa chịu tỉnh.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Huệ Hải: "Thế nào là pháp có tông chỉ?"

Thiền sư Huệ Hải đáp: "Tùy chỗ lập kia liền có các nghĩa. Ngài Văn Thù ở nơi gốc vô trụ mà lập tất cả pháp".

Ông tăng hỏi: "Vậy thì nó chẳng đồng với thái hư chăng?"

Từ gốc vô trụ, không trụ gì hết, vậy thì nó có đồng với thái hư, hư không không?

Ngài Huệ Hải bảo: "Ngươi sợ đồng với thái hư chăng?".

Ông tăng thưa:"Dạ sợ".

Thiền sự Huệ Hải bảo: "Chính cái biết sợ đó là chẳng đồng với thái hư".

Ông nói ông sợ đồng với thái hư, đồng với hư không nhưng cái biết sợ đó là không đồng. Đó là chỗ mình phải tỉnh trở lại.

Ở đây cũng vậy, Ngài A-nan sợ mất tâm, nhưng còn biết sợ thì vẫn chưa mất.

Phật khai thị lại cho ông thấy rõ.

 

CHÁNH VĂN:

Bấy giờ Đức Thế Tôn sắp chỉ dạy ông A-nan và đại chúng, khiến cho tâm vào Vô sanh pháp nhẫn, nên ở trên tòa sư tử xoa đầu ông  A-nan mà bảo rằng:"Như Lai thường nói:"Các pháp sanh ra chỉ từ tâm hiện".Tất cả nhân quả thế giới vi trần, nhân nơi tâm mà thành thể. Này A-nan! Như tất cả sự vật có ra trên thế giới, trong ấy từ ngọn cỏ, lá cây, sợi dây và cái gút, tìm nguồn cội của nó đều có thể tánh, dầu cho hư không cũng có tên gọi và tướng mạo, huống chi Tâm Thanh Tịnh sáng suốt nhiệm mầu này là tâm tánh của tất cả mà tự không thể tánh hay sao?

Nếu ông chấp chặt cái phân biệt hiểu biết quyết cho là tâm, thì tâm này khi rời tất cả các trần sắc, hương, vị, xúc riêng có toàn tánh. Như nay ông nương nơi nghe pháp của Tôi, đây ắt là nhân nơi tiếng mà có phân biệt. Dầu cho dứt hết tất cả cái thấy, nghe, hiểu, biết, chỉ giữ cái thầm thầm lặng lẽ bên trong thì vẫn còn là việc phân biệt  bóng dáng của pháp trần.

Chẳng phải Tôi bảo ông chấp là chẳng phải tâm, nhưng ông đối với tâm này phải chín chắn xét cho kỹ. Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt, tức thật là tâm ông. Nếu tánh phân biệt rời tiền trần không có thật thể thì đó là việc bóng dáng phân biệt của tiền trần. Trần thì chẳng phải thường trụ, nếu khi nó biến diệt thì tâm này đồng với lông rùa sừng thỏ, ắt pháp thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. Vậy ông lấy cái gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?".

GIẢNG GIẢI:

Ở trước, Ngài A-nan chấp cái hay suy nghĩ làm tâm, bị Phật quở mới cầu Phật chỉ dạy tâm thật. Đức Phật chỉ dạy con đường khiến thể nhập vào vô sanh pháp nhẫn, là nhận rõ các  pháp không sanh không diệt, tâm an trụ bất động, không bị cảnh chuyển. Nếu vào được Vô sanh pháp nhẫn thì đối với các pháp, tâm không động.

Trước  khi chỉ rõ ra, Phật nhắc lại Ngài từng nói các pháp sanh ra đều từ tâm hiện, nghĩa là không có pháp nào ngoài tâm mà có hết. Như vậy, tâm là gốc của tất cả pháp thì đâu thể nói không có tâm được. Ngài dẫn: "Trong thế giới này, tất cả nhân quả lớn như thế giới, nhỏ như vi trần đều nhân nơi tâm mà thành thể". Tức là nhân nơi tâm mà nhận biết có "thể" của nó. Thể tánh có thể nhận biết được, không phải hoàn toàn không. Ông không phải sợ không có tâm.

Phật nói điểm này cho Ngài A-nan hết sợ.

Và trước khi nói, Phật ở trên tòa sư tử xoa đầu ông A-nan ngầm an ủi đừng sợ không có tâm, rồi Phật chỉ ra từng bước, từng bước rõ ràng.

Phật bảo: "Lớn như thế giới, nhỏ như vi trần, cho đến những sự vật như lá cây, cọng cỏ đều có thể tánh,dầu cho hư không cũng có tên gọi, có tướng mạo huống chi tâm thanh tịnh sáng suốt này là gốc của tất cả những thứ đó mà lại không có hay sao? Cho nên ông đừng sợ không có tâm. Nhưng ông phải hết sức sáng suốt, chín chắn để nhận rõ cái gì là tâm thật. Đó mới là quan trọng.

Hồi nãy, ông nói con dù làm lành, làm  dữ, làm  tội, làm phước cũng dùng cái tâm này thôi, ngoài cái này không có gì nữa. Vậy là ông quyết cho cái tâm hiểu biết phân biệt này là tâm ông. Nêu nó thật là tâm ông thì nó phải luôn luôn không mất,dù cho là có các trần ở trước hay không có các trần ở trước cũng không mất tánh biết. Nếu nó chỉ nương theo các trần, không có trần nó  không biết thì đâu còn là tâm ông nữa".  Đến đây Phật không bác là không có tâm nhưng khuyên phải chín chắn nhận cho kỹ. Nếu thật là tâm ông thì dù có trần hay không trần, nó cũng phải vẫn không mất cái tánh biết của nó.

Phật nói: "Như ông nghe pháp đây, là  ông nhân nơi âm thanh mà có phân biệt hiểu biết. Đó là cái tâm phan duyên. Dù cho ông có thể dứt hết những cái phân biệt hiểu biết đối với các trần bên ngoài, tức là năm trần bên ngoài: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, nhưng ông còn giữ cái thầm thầm phân biệt bên trong thì đó cũng là sự phân biệt những bóng dáng tiền trần lưu lại, chứ chưa phải nó riêng tự phân biệt". Nó cũng còn lệ thuộc vô bóng dáng của pháp trần, chứ chưa phải tự nó biết. Chỗ này không khéo cũng còn bị lầm. Nó  không phân biệt trực tiếp với các trần bên ngoài nhưng còn phân biệt những bóng dáng của trần lưu lại bên trong, tức còn gián tiếp. Như vậy, nếu mất những bóng dáng kia thì nó hết phân biệt, hết biết. Thành ra nó chưa phải là tâm thanh tịnh nhiệm mầu sáng suốt của ông.

Còn cái tướng bóng dáng là có chỗ bị người dòm thấy. Giống như Quốc sư Huệ Trung hai lần đầu do còn bóng dáng trong đầu nên ông Đại Nhĩ Tam Tạng thấy. Đến lần thứ ba ông Đại Nhĩ Tam Tạng không  thấy mới đúng thật là tâm của Quốc sư. Chính chỗ ông Đại Nhĩ Tam Tạng không thấy cũng là chỗ quỷ thần không thấy được. Đó mới thật là tâm ông.

Đây, Phật chỉ ra chỗ thấy chân và vọng. Phật bảo: "Tôi không bảo ông chấp nó không phải tâm ông, nhưng ông phải chín chắn xét kỹ. Nếu rời tiền trần mà nó vẫn còn tánh phân biệt thì đó mới thật là tâm ông. Còn nếu cái tánh phân biệt này rời tiền trần không có thật thể thì đó chỉ là việc phân biệt bóng dáng của tiền trần. Trần thì  không thường trụ, khi có khi không. Nếu khi nó biến diệt thì tâm này của ông đồng với lông rùa sừng thỏ rồi. Lúc đó pháp thân của ông cũng đồng đoạn diệt hay sao? Vậy ông lấy gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn".

Như vậy, Phật không bác bỏ tâm phân biệt, bởi vì nó không rời ngoài tâm thể mà riêng có được. Cũng giống như sóng và nước. Khi nổi sóng lên thì nó giống như có sanh có diệt, nhưng sóng cũng không rời khỏi nước mà riêng có sóng. Tâm phân biệt này cũng không rời tâm thể mà riêng có được. Nhưng khi nó phân biệt rồi, nó quên mất cái thể chính nó. Mê là ở chỗ  đó.

Nếu thật là tâm của ông thì nó phải tự biết, không phải nhờ tiền trần mới biết. Nhờ tiền trần mới biết tức là nhờ cái khác mới biết, thành ra nó không có thật thể rồi. Như vậy tức là sống nhờ, thành ra của aii, không phải của ông. Nếu thật là ông, tại sao phải  nhờ cái khác? Trần thì lúc có lúc không, có khi có đối trước, có khi không đối trước, nó không phải thường trụ. Vậy nếu tâm ông hoàn toàn lệ thuộc vào nơi trần, thì sẽ biến đổi theo trần, diệt mất theo trần, trần diệt thì  tâm ông cũng thành  diệt theo hay sao? Lúc đó, ông cũng đồng như lông rùa, sừng thỏ rồi, vậy Pháp thân ông cũng thành đoạn diệt luôn sao?! Nếu  như vậy,  khi ông chứng Vô sanh pháp nhẫn thì cái gì chứng? Đó là chỗ lầm mê của ông và chúng sanh từ xưa nay mà không hay biết. Phật chỉ rất rõ ràng chân, vọng. Bao nhiêu đó  mình hiểu  rõ rồi thì hết còn mê lầm chân, vọng.

Như thông thường nói mặt trăng thứ hai, nhưng sự thật thì không có mặt trăng thứ hai. Bởi vì mặt trăng thì vẫn là một, không có mặt trăng thứ hai nào cả. Mặt trăng thứ hai chỉ  là bóng thôi, không có thật thể. Cũng vậy, tâm thì vẫn  một tâm, không có tâm vọng. Nói tâm vọng là tùy theo ngôn ngữ thế gian mà tạm nói có tâm vọng. Nếu y theo thật tướng mà nói thì tâm là một thôi, không có vọng. Vọng tức là không có thật thể, không thật thể tức là không có cái thứ hai. Hiểu vậy thì thấy rõ ngay vọng tức là chân, mê chân tức là vọng, không có cái thứ hai chen vào.

Học rồi mới thấy Phật hết sức từ bi, chỉ rõ hết tình, nhưng nếu người học trên ngôn ngữ văn tự thì  không bao  giờ biết tột đến như thế. Đây phải từ tâm chứng nói ra mới nói rõ  được như vậy.

Tóm lại, người học cần phải nhận rõ chân và vọng vốn không có hai thể. Ngộ vọng tức là chân, mê chân tức là vọng, không phải bỏ đây tìm kia. Cũng như đừng nghe nói "rời tiền trần riêng có toàn tánh" tức là rời tiền trần riêng có tánh phân biệt mới là tâm ông. Nghe  nói như vậy liền bỏ cái đang h iện tiền ở đây, lo tưởng về một cái nào đó thì cũng lầm!

Ngoài cái tánh phân biệt này mà riêng có cái toàn tánh nào nữa thì cái đó là của ai chứ không phải của ông. Gọi là lầm theo ngôn ngữ. Nói theo nhà thiền mà theo lời mà sanh hiểu.

Một hôm, Thiền sư Trúc Am Thủy Khê cùng với cư sỹ Trì Nhất luận về đoạn này"rời tiền trần mà riêng có toàn tánh".Thiền sư Trúc Am  nói: "Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt thì đó là căn bản sanh tử". Cư sĩ Trì Nhất nghe vậy hoảng hốt, nói: "Nếu vậy Phật nói lầm hay sao?!".

Trong này Phật  nói rõ rời tiền trần có tánh phân biệt mới thật là tâm ông. Thiền sư Trúc Am nói rời tiền trần mà có tánh phân biệt đó là căn bản sanh tử. Ông hoảng hốt hỏi lại, nếu vậy thành ra Phật nói lầm sao? Thiền sư Trúc Am bảo:"Phật thì không lầm rồi. Hiện giờ cái tâm đối diện hỏi han của cư sỹ ở đâu?". Ngay đó ông liền sáng ra. Tức cốt yếu Ngài nói với ông đây chứ không  phải nói với Phật hồi xưa. Phật thì không có lầm, chỉ ông  lầm thôi. Bây giờ hiện tại ở đây, cái tâm ông đang đối diện hỏi  han ở đây có thật ở ngoài tiền trần mà có hay không? Nếu thật ông đang ở đây rồi thì làm sao ông lại hoảng hốt? Nếu ông không có ở đây tức rời tiền trần, là đi vào sanh tử rồi.

Đây là chỗ người học phải thật thấy, thật ngộ ngay chỗ này. Không phải nghe nói vậy rồi bỏ cái tâm này đi tìm cái tâm ở ngoài  tiền trần. Bỏ cái  tâm này để đi tìm cái  tâm ở đâu đâu, không khéo lầm thêm một  lớp nữa. Bỏ lớp lầm này, qua lớp lầm kia. Khéo thì  ngay nơi tâm phân  biệt trần đây, lìa trần thì ngộ liền, không phải tìm cái tâm nào khác nữa. Chỗ đó phải hết sức chín chắn.

Hay như Ngài A-nan thưa: "Cúi mong Đức Đại Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa  ngộ này".

Ngay cái tâm chưa ngộ đó, ngộ trở lại  nó  là xong thôi, đừng tìm cái tâm nào khác nữa.

Chỗ này mới thấy Phật hết sức từ bi chỉ kỹ càng cho  mình  nhận rõ tâm này, thể nhập trong đó, thì vào Vô sanh pháp nhẫn không khó. Tức là ngay trần mà lìa trần thì đâu có sanh. Đó là  con đường vào Vô sanh pháp nhẫn.

 

CHÁNH VĂN:

Bấy giờ ông A-nan và đại chúng im lặng ngơ ngác.

Phật bảo ông A-nan: "Tất cả người tu hành trong thế gian, hiện tiền  tuy được "Cửu thứ  đại định", mà chẳng được lậu tận thành A-la-hán, đều do chấp vọng tưởng sanh tử này lầm cho là chân thật. Thế nên, nay ông tuy được học rộng nghe nhiều mà chẳng thành Thánh quả".

Ông A-nan nghe xong buồn tủi khóc lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:" Con từ khi phát tâm xuất gia theo Phật, chỉ ỷ lại vào oai thần của Phật, thường tự suy nghĩ, con không phải nhọc nhằn tu tập, mà cho rằng Như Lai sẽ ban cho con Chánh định. Nhưng chẳng biết thân tâm vốn chẳng thay nhau, mất đi bản tâm của con, tuy thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo, thí như chàng cùng tử bỏ cha trốn đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe nhiều học rộng, nếu chẳng tu tập thì cũng đồng với người chưa nghe không khác, giống như người nói ăn, trọn chẳng no bụng.

Bạch Thế Tôn! Nay chúng con bị hai thứ chướng trói buộc, do chẳng biết tâm tánh vắng lặng thường hằng. Cúi mong Đức Như Lai thương xót kẻ nghèo khổ này mà phát khởi tâm nhiệm màu sáng suốt để mở bày con mắt đạo cho chúng con".

GIẢNG GIẢI:

Ở trước, Ngài A-nan chấp cái phân biệt hiểu biết theo tiền trần làm tâm, bị Phật quở cái đó không phải. Nếu thật tâm ông thì rời tiền trần vẫn có tánh phân biệt, còn  nếu rời tiền trần không còn có tánh phân biệt nữa thì  tâm ông  cũng giống như lông rùa, sừng thỏ sao! Tức nó mất rồi. Vậy thì Pháp thân ông cũng đồng diệt, lấy gì mà tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?

Đến đây, Ngài A-nan cũng như đại chúng im lặng ngơ ngác không biết phải hiểu thế nào. Lâu nay, đa số người thế gian cũng đều chấp cái tâm suy nghĩ phân biệt là tâm mình. Bây giờ Phật nói không phải tâm mình thì chới với, ngơ ngác, không biết phải hiểu thế nào vì ngoài cái này đâu còn có cái gì để gọi là tâm mình nữa. Đại chúng ở đây là chỉ cho số đông, không phải toàn thể đều như vậy, vì có những vị như Bồ-tát Văn-thù đâu có nghĩ như vậy.

Đây Phật chỉ ra người tu hành trong thế gian chấp theo tâm vọng tưởng sanh diệt để tu thì dù có chứng đến chín bậc định cũng chưa thể sạch hết lậu thành A-la-hán, tức chưa thể giải thoát sanh tử hoàn toàn. Bởi vì nhận vọng làm chân thì làm sao hết vọng được!?

Lấy tâm sanh diệt làm nhân tu thì chỉ được quả sanh diệt; nhân quả đi với nhau. Chỗ này người có tâm tu quyết cầu giải thoát phải nhận định cho thật kỹ, thật rõ ràng để tu cho đúng đường. Nhân phải khế hợp với quả mới bảo đảm không nghi ngờ. Còn nhân khác với quả thì phải coi chừng!

Dù được Diệt tận định, tức chín bậc định nhưng chưa thật được Niết-bàn, do chưa sạch hết lậu chỉ vì dùng cái diệt để dứt cái sanh. Đem diệt dứt sanh tức cũng nằm trong sanh diệt, chưa đạt được chân thể niết bàn hiện tiền. Chỗ đó không khéo chưa thật được A-la-hán mà tưởng mình A-la-hán, nên cần phải hiểu kỹ để không lầm.

Trong luận Tỳ-bà-sa có câu chuyện một vị Tỳ-kheo tu chứng Diệt tận định, tức cũng được chín bậc định. Tứ thiền, tứ không nữa là tám, Diệt tận định nữa là chín bậc định. Vào một buổi sáng, vị Tỳ-kheo này sắp đi khất thực, trời bỗng mưa to, nước đổ ào ào không đi được. Để khỏi phí thì giờ rỗng xuông vô ích, vị Tỳ-kheo khởi niệm:"Mưa to, không đi khất thực được, ở tại chỗ không làm gì, nhân đây lập nguyện nhập định, khi nào hết mưa sẽ xuất định"Người nhập diệt tận định, trước khi nhập định, khởi ý nhập tới đâu thì tới đó mới xuất định. Hôm đó trời mưa suốt luôn cả tháng. Khi hết mưa, vị Tỳ-kheo này  mới xuất định, sau đó chết luôn. Vậy cho thấy được bậc định thứ chín, cũng chưa hẳn thành A-la-hán như câu chuyện này.

Nghe đến đây, Ngài A-nan bật khóc. Vì sao khóc? Buồn tủi cho mình lâu nay được gần gũi với Phật, lại là em yêu của Phật nữa nên ỷ lại nơi Phật, rồi suy nghĩ không phải nhọc nhằn tu tập gì cho nhiều cũng sẽ được Như Lai ban cho Chánh định mà không biết thân tâm của mình với thân tâm của Phật không thể thay thế cho nhau được. Lo nghe nhiều, học rộng đến giờ này mà vẫn chưa chứng đạo nên gọi là "thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo". Đối với mình thì bỏ nhà xuất gia vào chùa tức vào đạo. Còn đây, chân thật chứng quả giải thoát mới là vào đạo. Bây giờ được Phật ân cần chỉ dạy tới lui mà vẫn chưa được sáng tỏ tâm chân thật, Ngài A-nan buồn tủi khóc là như vậy.

Hãy nghe kỹ lời của Ngài: " Con tự suy nghĩ con không phải nhọc nhằn tu tập mà cho rằng Như Lai sẽ ban cho con Chánh định, nhưng không biết rằng thân tâm vốn chẳng có thể thay thế cho nhau được. Cho nên bỏ mất bản tâm của con. Tuy thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo giống như chàng cùng tử bỏ cha trốn đi, ngày nay mới biết tuy được nghe nhiều, học rộng mà nếu chẳng tu tập thì cũng đồng như người chưa nghe không khác. Giống như người nói ăn mà trọn chẳng no bụng". Đó là điều cảnh tỉnh cho mình. Một lần nữa để nhắc cho tất cả chúng ta đừng tự hào ỷ lại những thứ hiểu biết của mình mà không lo tu, không chịu thực hành cho sâu, đến ngày cuối đời ân hận cũng không cứu được mình.

Trong nhà thiền, có Ngài Hương Nghiêm - Trí Nhàn ở trong hội Bá Trượng với Ngài Quy Sơn, Sư rất thông minh, lanh lợi, học rộng hiểu nhiều, nghe  một biết mười, hỏi một câu đáp mười câu. Lanh lợi vậy nhưng không tỏ ngộ. Khi Ngài Bá Trượng tịch, qua nương với Ngài Quy Sơn cũng bị tri thức lanh lợi ngăn che. Ngài Quy Sơn muốn giúp, mới gạn lại:

- Ông ở chỗ tiên sư rất lanh lợi, hỏi một đáp mười. Bây giờ tôi có một câu, tôi hỏi ông trả lời thử coi: "Trước khi cha mẹ chưa sanh, cái gì là bộ mặt thật của ông?".

Câu này không có trong sách vở. Sư trả lời không được, về phòng lục lạo mấy cuốn sách ra để tìm câu trả lời cũng kiếm không ra.  Sư tủi lòng, khóc giống như Ngài A-nan, rồi đến từ giã Ngài Quy Sơn ra đi. Nghĩ tri thức hiểu biết không dùng được, Sư đốt sách hết, làm ông tăng thường cơm cháo qua ngày. Sư đi đến chỗ di tích Quốc sư Huệ Trung tham thiền cho đến khi tâm thuần thục,một hôm đang quét sân quét đúng hòn sỏi văng vào bụi tre, vang lên một tiếng, liền tỏ ngộ.

Đó  là để cảnh  tỉnh cho người, đừng ỷ lại vào tri thức thông minh. Đây Ngài A-nan cũng vậy, đến đây Ngài không ỷ lại vào tri thức bên ngoài đó nữa, tự trách mình  bị hai thứ chướng trói buộc cho  nên không nhận ra  tâm tánh vắng  lặng thường hằng của mình. Hai chướng tức là phiền não chướng, và sở tri chướng. Đa số người cũng hai cái chướng này mà không nhận ra chân tánh.Phiền não chướng là những thứ tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ…v.v..Những thứ phiền não đó làm tâm bất an, rối loạn hoài cho nên làm mờ tâm tánh thường hằng vắng lặng. Đó là cái chướng về sự. Sở tri chướng là những thứ hiểu biết nhiều che mờ làm tối thêm. Đó gọi là chướng về lý, không làm sáng tỏ được lý thật.

Bây giờ Ngài cầu Đức Phật thương xót, chỉ dạy cho kẻ nghèo khổ này. Nghèo khổ đây không phải là không có cơm ăn, áo mặc mà là quên mất của báu nơi chính mình cho nên nhờ Phật thương xót mở bày mắt đạo. Đến đây, Ngài A-nan đã biết mình còn có tâm nhiệm màu sáng suốt. Lúc trước chỉ biết có tâm năng suy là tâm của mình thôi. Cũng có tiến  bộ nhưng chưa nhận ra. Đa số chúng ta hiện nay cũng đồng cảnh ngộ. Vậy mình cũng không đến nỗi mặc cảm.

Ở đây tuy Ngài nói thương xót cho kẻ nghèo khổ, nhưng xét trên lý, có thật nghèo không? Có của báu mà không biết xài rồi tự than nghèo chứ không phải thật là nghèo. Trong nhà thiền, có ông tăng Thanh Nhuệ đến Tào Sơn thưa: "Con nghèo cùng, xin thầy cứu vớt cho".

Ngài Tào Sơn bảo: "Xà lê Nhuệ! Hãy đến gần đây!".

Ông nghe vậy cũng thật thà đi đến trước, Ngài Tào Sơn bảo: "Ba chén  rượu nhà họ Bạch ở Tuyền Châu đã uống xong rồi lại còn nói chưa dính môi". Uống xong ba chén rượu rồi, nói chưa dính môi tức là nói dối. Ngài bảo ông nói ông nghèo cùng, xin cứu vớt đó là nói dối! Kêu ông đến đây, ông biết đi đến thì ông đâu có nghèo.Đó là cảnh tỉnh.

Đây cũng vậy, Ngài A-nan tuy nói nghèo như vậy nhưng sự thật cũng không hẳn là nghèo, Phật bắt đầu khai thị.

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 28807
  • Online: 29