Lục Tổ Nói Về Bát Nhã

25/09/2026 | Lượt xem: 8

HT.Thích Thông Phương giảng tại TVTL Đà Lạt

Buổi sinh hoạt đạo tràng hôm nay nói về đề tài: Lục Tổ Nói Về Bát Nhã

Lục Tổ là vị Tổ thứ sáu của Thiền Tông, điểm đặc biệt dù Ngài là Tổ nhưng không biết chữ. Ngài sanh ở vùng Tân Châu - Lĩnh Nam, thuở xưa là vùng biên địa. Gia đình cha mất sớm, ở với mẹ. Nhà nghèo phải đi đốn củi, không có thời gian đi học. Tuy không biết chữ mà Ngài làm Tổ của Thiền Tông chứ không phải tầm thường.

Khi Ngài truyền dạy, những điều Ngài nói là những lẽ thật, những kinh nghiệm từ trong tâm, từ trí sáng nên không nặng nơi chữ nghĩa. Chúng ta học Lục Tổ nói Bát Nhã để thấy được những ý nghĩa sau:

1- Bát Nhã Nơi Tự Tâm

Lục Tổ chỉ rõ Bát Nhã không ở đâu xa, vốn sẵn nơi tự tâm mỗi người. Học Bát Nhã mà học nơi người khác thì không phải Bát Nhã chân thật, chưa thật biết Bát Nhã. Học từ người khác là Bát Nhã phương tiện, hoặc học nơi sách vở, chữ nghĩa, phân tích Bát Nhã thế này, thế kia thì càng không thấy Bát Nhã.

Thí dụ Bát Nhã là trí tuệ, phân biệt trí tuệ gồm có: Thật tướng Bát Nhã, Văn tự Bát Nhã, Quán Chiếu Bát Nhã… phân tích một lúc không thấy Bát Nhã đâu, thấy toàn chữ nghĩa. Nếu học Bát Nhã như thế, thì dù học Bát Nhã nhưng không sáng Bát Nhã, vẫn mê như thường. Học Bát Nhã vẫn mê Bát Nhã, chưa mở được mắt sáng, đó là lẽ thật muốn nhắc cho tất cả.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn phẩm Bát Nhã, Lục Tổ dạy:

- Này thiện tri thức, trí Bồ Đề Bát Nhã người đời vốn tự sẵn có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn cho thấy tánh, phải biết người ngu, người trí, Phật tánh vốn không sai khác, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, do đó mà có ngu, có trí.

Ngài giải rõ trí Bồ Đề Bát Nhã, người đời vốn tự sẵn có không cần học bên ngoài, nhưng vì tâm mê chẳng thể tự ngộ, phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn cho thấy tánh. Dù ngu trí hay nam nữ, Phật tánh cũng không sai khác, vì mê ngộ không đồng thành có ngu, có trí. Khi mê chưa ngộ là vô minh, ngộ rồi thành trí. Đây là điểm mà những người giác ngộ đều thấy rõ không nghi. Còn thấy Bát Nhã trong bộ kinh này, bộ kinh kia là chưa thật giác ngộ. Người đời không nhận được ý chỉ đó, vì tâm còn mê nên phải nhờ bậc đại thiện tri thức chỉ dẫn, đánh thức tỉnh ngộ trở lại.

Thiện tri thức là những bậc Thầy sáng suốt, khéo hiểu biết, nhưng ở đây phải là bậc Đại Thiện tri thức, Ngài dạy rất rõ. Thiện tri thức thường thường thì nhiều, còn Đại Thiện tri thức là bậc đã sáng mắt. Nhờ bậc đã sáng mắt dẫn đường nên không quanh co. Vì bậc sáng mắt thấy rõ Bát Nhã, mới chỉ thẳng Bát Nhã được. Nếu gặp bậc Thầy chưa sáng mắt chỉ dẫn cũng còn lòng vòng.

Chúng ta còn mê, phải nhờ bậc Đại tri thức đã thật thấy chỉ dẫn mới thật chắc chắn. Vì chỉ dạy từ chỗ kinh nghiệm giúp mọi người tự ngộ, không phải làm cho người ngộ, hoặc đem cái ngộ cho người. Tuy là bậc Thiện tri thức, nhưng chỉ dẫn rồi mỗi người phải tự ngộ.

Bát Nhã chân thật không thể học từ nơi người hay từ bên ngoài, mà thấy ngay tự tâm mình mới chính xác. Vì chính tự tâm mới có biết, có biết mới có giác. Còn những chữ nghĩa bên ngoài là chữ nghĩa vô tri là các mẫu tự a, b, c ráp lại, dù biện luận phân tích hay cũng là phân tích a, b, c thôi. Chính tự tâm mới có biết, có giác, luôn sáng suốt chiếu soi. Chính tự tâm mới thấy được lẽ thật, thấy những mê lầm, điên đảo.

Từ nguồn tâm đó chiếu soi, thấy được năm uẩn là không. Như chúng ta học Bát Nhã thấy năm uẩn là không, thì phải từ trong tâm chiếu soi, còn chữ nghĩa kia làm sao chiếu tới năm uẩn. Chữ Bát Nhã hay chữ trí tuệ dù nói đại trí tuệ, trí tuệ siêu việt,... chỉ là nói cho oai, chứ cũng chưa thật đại. Dùng danh từ nói cho đại, cho tối thắng nhưng đó là danh từ, bám vào đó thì càng nhọc nhằn phí công.

Lục Tổ bảo:

 - Tự tánh hay bao gồm muôn pháp đó là lớn, muôn pháp ở trong tự tánh mọi người. Nếu thấy tất cả người dữ và lành trọn chẳng lấy bỏ, thì cũng chẳng có đắm nhiễm, tâm như hư không đó là lớn, tức là Ma Ha Bát Nhã.

 Bát Nhã lớn hay đại trí tuệ là như vậy, không phải đại là ở chữ đại. Cái lớn đó ở nơi tâm không ở nơi chữ, không ở chỗ phân tích chữ nghĩa, mà phải ngộ trong tâm tánh. Chỗ này dù lý luận hay cách mấy cũng không lý luận đến được, phải là tâm tự nhận mới thấy được cái lớn này. Nó bao gồm cả muôn pháp, muôn pháp ở trong tự tánh. Trong đó thấy tất cả người lành, dữ không có tâm lấy bỏ, đó là lớn. Còn lấy bỏ thì lấy cái này bỏ cái kia, đâu còn là lớn nữa, đã bị giới hạn.

Tâm còn đắm nhiễm thì càng thêm giới hạn, nó bị đóng khung một chỗ. Còn tâm không đắm nhiễm, nói theo Lục Tổ là tâm vô trụ không dính mắc, thì rộng lớn như hư không, đó là nghĩa lớn. Cái lớn này thấy trong tự tâm không phải thấy bên ngoài mà được.

Ngài bảo: 

- Tâm lượng rộng lớn trùm khắp pháp giới, dùng tức rõ ràng rành rẽ, ứng dụng liền biết tất cả thì tất cả tức một, một tức tất cả đi đến tự do, tâm thể không ngưng trệ, tức là trí Bát Nhã.

Ngài dạy trí Bát Nhã không phân tích nhiều trên chữ nghĩa. Tâm lượng rộng lớn trùm khắp pháp giới, khi dùng thì rõ ràng, rành rẽ, ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả. Nó không dính vào trong tất cả nên đi đến tự do. Trí Bát Nhã đó ở ngay tự tâm mỗi người.

Tâm rõ biết tất cả, không giống như chúng ta hiện nay. Mọi người cũng biết hết, nhưng biết cái gì mê cái đó nên bị ngưng trệ không đến đi tự tại, không rộng lớn được.

Còn biết tất cả mà lìa tất cả, đặc biệt là chỗ khác đó. Biết hết tất cả đâu phải vô tri không biết gì hết. Chúng ta đâu phải học Bát Nhã nói không, cái gì cũng không biết, biết hết nhưng mà lìa tất cả, nên đến đi tự do không ngưng trệ. Nó biết gì là nó lìa hết, không dính mắc, không có gì che mờ, đó là tự do, thật là rộng lớn.

Còn chúng ta biết mà dính trần thì dễ mắc kẹt, tâm bị hạn chế. Đơn giản như tâm đang thanh thản rộng lớn, chợt nghe tiếng nhạc hay. Ta chú tâm vào tiếng nhạc thì dính vào trong tiếng, nhiều khi không nghe tiếng khác nữa, hoặc chú tâm quá đi đụng người ta cũng không hay. Còn trí này cũng nghe nhưng tâm không dính, những thứ chung quanh vẫn sáng tỏ, vậy mới thật rộng lớn. Nên Ngài nói đi đến tự do không ngưng trệ, lúc nào cũng thường sáng, không bị che mờ.

Đó là biết suốt hết tất cả mà vẫn không mê, mới thật là thấy tất cả đều không. Không phải thấy tất cả đều không là dẹp hết, hủy hoại hết. Học Bát Nhã trên chữ nghĩa rồi mắc kẹt nơi không, nói rằng học Bát Nhã dễ bị chấp không. Vì không hiểu chỉ học trên chữ nghĩa thôi. Chúng ta học kỹ vậy thấy đâu có phá hoại, biết hết tất cả nhưng không dính mắc. Biết tất cả mà lìa tất cả, nên tất cả đều không.

Mỗi người nếu thường ứng dụng quán chiếu như vậy sẽ cởi mở những tình chấp, hay hơn nữa là đến chỗ rốt ráo, bảo đảm qua hết khổ ách không nghi ngờ. Nếu học theo chữ nghĩa thì học hoài mà khổ ách cũng tới. Mỗi ngày đều tụng Bát Nhã, vậy mà khổ cũng tới, còn học như trên thì có khi ít tụng kinh nhưng vẫn qua hết khổ, đó là học ngay lẽ thật.

Lục Tổ giải kỹ Bát Nhã chân thật là học nơi chính mình, không phải từ bên ngoài vào hoặc nơi người khác. Đó là một ý nghĩa đánh thức cho mọi người, phải có cái nhìn chính chắn trở lại.

2- Thực Hành Bát Nhã

Chúng ta thực hành Bát Nhã ở nơi tâm, luôn đem tâm chiếu soi, quán cho thấu các pháp để không mê lầm, đó là ý nghĩa chân thật. Tất cả ai cũng biết Bát Nhã nơi tâm nhưng đó là cái biết của Phật, của Lục Tổ chưa phải cái biết của chính mình. Giờ mỗi người phải thực hành ngay nơi tâm, đem tâm chiếu soi các pháp, đây thật sự là Bát Nhã hiện.

Như trong kinh nói chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, là soi thấy năm uẩn đều Không. Có nghĩa là phải thường xuyên đem tâm quán cho thấu năm uẩn là Không. Nhưng phải quán sao để thấy nó Không? Không là như thế nào? Đó mới là điểm quan trọng. Còn nói quán năm uẩn là Không thì quá dễ, ai nói cũng được, đứa bé học năm phút là đọc được ngay.

Nói Bát Nhã là trí tuệ thường sáng soi thì ai nói cũng được, nhưng sáng soi như thế nào mới là quan trọng. Đây không còn là vấn đề bàn luận trên miệng nữa, cần thực hành nơi tâm mới thấy được nó sáng soi thế nào, có vậy mới hết mê lầm.

Lục Tổ dạy:

- Này thiện tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là tiếng Phạn, xứ này gọi là đại trí tuệ đáo bỉ ngạn. Trí này cần tâm thực hành, chẳng ở miệng niệm, miệng niệm mà tâm chẳng hành thì như huyễn, như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm mà tâm hành thì tâm và miệng ứng hợp với nhau. Bản tánh chính là Phật, lìa tánh không riêng có Phật.

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là tiếng Phạn, xứ này là Trung Hoa gọi là đại trí tuệ đáo bỉ ngạn, qua tiếng Việt là trí tuệ rộng lớn đến bờ kia. Trí này cần thực hành nơi tâm, chẳng phải miệng niệm. Miệng niệm tâm chẳng hành thì cũng như huyễn như hóa. Chúng ta cứ niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, Ma Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, niệm hoài nhưng cũng không thấy đâu là trí tuệ lớn, đâu là đến bờ kia. Như vậy chỉ là như huyễn, như hóa, như sương, như điện, tuy là miệng niệm mà tâm không hành cũng không thấy đâu là trí tuệ thật. Miệng niệm mà tâm hành thì tâm miệng ứng hợp nhau, bản tánh chính là Phật, ngay đó trí tuệ hiện.

Trong kinh gọi là hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, là luôn thực hành sâu Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Học theo chữ nghĩa cũng không biết hành sâu là sao? Thực hành sâu Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa là nơi tâm, không phải trên lý luận suy nghĩ, tình thức không đến được, phải thường xuyên không gián đoạn, đó là hành sâu Bát Nhã.

Còn Bát Nhã trên chữ nghĩa thì thực hành lúc nhớ lúc quên, khi có khi không nên không gọi là hành sâu. Chúng ta cần thực hành miên mật, bảo đảm Bát Nhã hiện tiền, là mở mắt sáng thấu suốt vô minh phiền não. Lúc ấy tự mỗi người thầm cảm Phật ở ngay bản tánh, không đâu xa. Tự thấy tánh giác của mình sáng suốt, mà tánh giác của mình cùng Phật không khác. Nên Lục Tổ nói:

- Này thiện tri thức! Tất cả trí Bát Nhã đều tự tánh mà sinh, chẳng từ ngoài vào chớ lầm dụng ý gọi là chân tánh tự dụng. Một niệm chân thì tất cả chân. Tâm chứa đựng việc lớn, chớ đi theo lối nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống hệt người dân thường mà tự xưng là Ma Ha thì trọn không thể được, chẳng phải là đệ tử của tôi.

Ngoài miệng thì nói không nhưng trong tâm thấy có. Nên khi gặp chuyện thì phiền não dấy lên, nếu thấy không thì an ổn bình thường. Trí Bát Nhã nơi tự tánh sinh thì phải soi lại chính mình mà thấy. Ngài nói rõ tất cả trí Bát Nhã đều tự tánh sanh chẳng từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý là vậy. Rồi từ chân tánh ứng dụng ra thì Bát Nhã mới là thật, lúc đó mới rõ thế nào là các pháp không.

Một khi tâm đã chân thì thấy tất cả đều chân, cốt yếu là nơi tâm. Khi tâm chân thật rồi thì thấy tất cả đều chân thật, còn tâm vọng thì thấy tất cả đều vọng. Quan trọng là nơi tự tâm, khi tâm sáng thì nhìn gì cũng sáng không mê. Còn tâm chứa phiền não thì nhìn gì cũng phiền não. Khi trong tâm có phiền não, ai thấy thì lo tránh, đụng tới là nguy hiểm. Nếu tự tâm luôn vui tươi thì thấy gì cũng vui, gặp chuyện buồn cũng bỏ qua dễ dàng.

Thiền sư Thiền Lão ở Việt Nam thời Lý, khi vua Lý tới hỏi:

- Hòa thượng thường ngày dụng tâm như thế nào?

Ngài nói hai câu kệ:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Với Ngài, thấy trúc biếc, hoa vàng, mây trắng, trăng sáng không phải là cảnh nào khác đều hiện bày chân thật. Do tâm Ngài chân thật, sáng suốt rồi, Ngài thấy gì cũng chân thật hiện bày không mê. Còn tâm mê thấy đó chỉ là cảnh, như thi sĩ thấy cảnh liền làm thơ là tình sanh, mà tình sanh thì trí cách, còn trí sanh thì tình mất. Đây thật sự là bậc đã sáng tâm, từ trong tâm nói ra. Những lẽ thật đó là những kinh nghiệm quí báu cho mọi người nghe, học, không giống như nói theo chữ nghĩa.

Lục Tổ bảo:

 - Vì tự dùng trí tuệ thường soi sáng, nên chẳng nhờ văn tự.

Chúng ta tâm chưa sáng nên phải nhờ văn tự, nhờ thầy giải thích để nhớ lại. Tâm đã sáng đâu nhờ văn tự bên ngoài, đó là trí tuệ thật. Khi Lục Tổ còn ẩn nơi chỗ người anh bà Ni Vô Tận Tạng, khi bà tụng kinh Đại Niết Bàn, thấy Ngài hơi đặc biệt nên nhờ Ngài giải nghĩa, Ngài nói:

-Tôi không biết chữ. Cô cứ đọc, tôi sẽ giải nghĩa.

Bà Ni nghĩ theo thường tình nói:

- Ngài không biết chữ sao giải nghĩa được!

Ngài nói rằng:

- Diệu lý của chư Phật không ở trên văn tự chữ nghĩa.

Bà biết đây không phải người thường, bà đọc từng đoạn kinh, Ngài vì bà giải nghĩa thông suốt rành rẽ. Bà nghe quá hay, liền báo cho mọi người chung quanh.

Diệu lý của Phật không nằm trong văn tự, chữ nghĩa. Khi tâm sáng thì tự thông suốt, do đó Ngài tuy không biết chữ nhưng nghe những câu kinh Ngài biết được nghĩa. Đây là thấy thấu được ý kinh, không mắc kẹt chữ nghĩa.

Còn y cứ trên chữ nghĩa có khi hiểu lầm ý kinh, vì chữ nghĩa không thể lột tả hết những ý Phật. Văn tự chữ nghĩa có những chỗ không thể nói đến được, chúng ta bám theo chữ nghĩa nhiều khi hiểu lầm ý Phật. Thí dụ như chữ Tam- muội là chánh định, có một học giả nghiên cứu đạo Phật giải là ba cái mê. Giải nghĩa như vậy là dẫn người ta đi quá xa.

Hoặc những vị nghiên cứu nhà thiền, hiểu lầm bài kệ của Ngài Huyền Quang, rồi phê bình. Đó là y theo chữ nghĩa, có câu: “Y kinh giải nghĩa Tam Thế Phật oan, lìa kinh một chữ tức đồng ma thuyết”. Tức là y kinh giải nghĩa là oan cho chư Phật ba đời, lìa kinh tự nói ý của mình thì rơi vào lời của ma.

Chúng ta học rõ ý kinh nơi tự tâm sáng, có khi những lời nói bình dân, giản dị, nhưng ý sâu xa vi diệu. Như Hòa thượng giải thích kinh điển dùng ngôn từ rất bình dân, giản dị không văn chương, nhưng mà ý sáng rõ, dễ hiểu.

Lục Tổ giải rộng thêm về ý nghĩa Bát Nhã, Ngài nói rằng:

- Sao gọi là Bát Nhã? Bát Nhã, Đường dịch là trí tuệ. Trong tất cả chỗ, tất cả thời, niệm niệm chẳng ngu, thường hành trí tuệ tức hạnh Bát Nhã, Một niệm ngu tức Bát Nhã dứt, một niệm trí tức Bát Nhã sanh. Người đời ngu mê chẳng thấy Bát Nhã, miệng nói Bát Nhã mà trong tâm thường ngu. Thường tự nói tu Bát Nhã, niệm niệm nói không mà chẳng biết gọi là chân không. Bát Nhã không hình tướng, chính đó là tâm trí tuệ.

Bát Nhã không hình tướng chính là tâm trí tuệ, Bát Nhã là âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là trí tuệ, đó cũng thuộc về ngôn ngữ văn tự. Quan trọng là trong tất cả chỗ, tất cả thời niệm niệm chẳng ngu thường hành trí tuệ, đó là hành Bát Nhã.

Không phải thường tụng kinh là thường hành Bát Nhã, quan trọng niệm niệm không ngu mê, đó là Bát Nhã thường theo bên mình không thiếu vắng. Còn một niệm ngu mê thì ngay đó Bát Nhã dứt, ánh sáng trí tuệ tắt. Còn một niệm trí thì Bát Nhã sanh là ánh sáng trí tuệ xuất hiện. Bát Nhã không phải ở bên ngoài mà ngay trong từng niệm của mỗi người. Chúng ta thường soi sáng lại chính mình để thấy có Bát Nhã hay không Bát Nhã, chứ không phải phân tích trên chữ nghĩa.

Tự mỗi người đừng để niệm ngu nhiều hơn niệm trí, học Bát Nhã thì khéo soi lại. Nếu niệm ngu nhiều hơn niệm trí thì Bát Nhã thường vắng, ngược lại niệm trí nhiều hơn niệm ngu thì Bát Nhã thường xuất hiện, là thường sáng.

Ngay khi tụng Bát Nhã nếu không khéo tu, để những niệm ngu sanh thì cũng không thấy Bát Nhã. Khi tụng Bát Nhã phải chú tâm tỉnh sáng đừng để những niệm lăng xăng che mờ. Thí dụ miệng đang tụng Bát Nhã rõ ràng, nhưng tâm ngoài chợ thì không có Bát Nhã.

Đây là những lẽ thật, khi tâm sáng thì Bát Nhã là tâm trí tuệ không hình tướng. Vì trí tuệ nơi tâm mỗi người, không chỗ nắm bắt. Nếu có hình tướng là thuộc về cảnh trần, vì tâm duyên theo trần mới có tướng. Tâm không hình tướng là trí Bát Nhã.

Chúng ta học theo chữ nghĩa, nghe nói học Bát Nhã để trí tuệ phát sáng. Nhiều người lầm tưởng tu Bát Nhã đến một lúc nào đó phát sáng, giống như bật đèn vậy. Có người tu ít ngày thấy hào quang, ánh sáng rực rỡ, tự nói là khai mở trí tuệ rồi thì bị mê lúc nào không hay. Trí tuệ nơi tâm không hình tướng mà hay thấy tất cả tướng, đó thật là Bát Nhã.

Thí dụ như đôi mắt, khi biết mắt sáng là do thấy tất cả cảnh, không phải mắt sáng là do cảnh. Cũng vậy, trí tuệ sáng là rõ tất cả pháp không mê, nên biết là trí sáng, không phải do có hình tướng nắm bắt. Trí tuệ này không hình, ngộ ngay nơi tâm, không từ bên ngoài.

Lục Tổ nói thêm về Ba-la-mật:

Sao gọi là Ba-la-mật? Đây là tiếng Tây quốc, Đường gọi là đáo bỉ ngạn tức là đến bờ kia. Chấp trước cảnh thì sanh diệt khởi như nước dậy sóng ngòi là bờ này, lìa cảnh không sanh diệt như nước thường trôi chảy là bờ kia.

Ngài giải đáo bỉ ngạn là bờ kia, không giống như giải thích chữ nghĩa. Ngay đây theo sanh diệt là bờ này, lìa sanh diệt là bờ kia, bờ này bờ kia ngay nơi tâm.

Tâm chấp trước theo cảnh là sanh tâm, là đi vào sanh diệt tức là bờ này. Tâm lìa cảnh, sanh diệt không khởi, thường vắng lặng, là bờ kia. Bờ này, bờ kia ngay đây thôi. Nhiều người học theo chữ nghĩa, lầm tưởng bờ kia là chỗ nào xa xôi lắm, bỏ bờ này qua bờ kia, nên cứ tìm bờ kia, mọi người hay mắc kẹt chỗ đó. Hoặc nghe bờ kia là bờ Niết Bàn, bờ này là bờ sanh tử, nên phải bỏ bờ sanh tử này đến bờ Niết Bàn kia, mà không biết Niết Bàn nào! Nếu như có bờ Niết Bàn để đến, có sanh đến thì phải có tử, là cũng còn trong sanh tử.

Cho nên, học chữ nghĩa không thông suốt là nguy hiểm. Ngài giải thích rất thực tế, Niết Bàn ngay nơi tâm, không phải cảnh nào khác. Chính tâm đó là tâm trí tuệ rốt ráo chân thật, nó lìa cảnh luôn sáng suốt. Điều này mỗi người phải thực hành nơi tâm, không thể phân tích trên chữ nghĩa mà có được. Dù miệng niệm hoài cũng không thấy bờ kia, cứ một bề hướng ra ngoài cầu thì càng cầu càng xa.

Lục Tổ không biết chữ nhưng Ngài giải thích rất chính xác. Ngài nói thêm:

- Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê, vọng niệm điên đảo thì thiện tri thức bên ngoài dù có truyền dạy, trọn không thể cứu được.

Trong tự tâm có sẵn tri thức tự ngộ, không khởi tà mê ngay đó thiện tri thức trong tâm tự sáng. Nếu khởi tâm tà mê, vọng niệm điên đảo, thì dù cho thiện tri thức bên ngoài có truyền dạy, cũng không cứu được. Thiện tri thức bên ngoài chỉ trợ giúp đến một lúc nào đó thôi.

Cũng như Lục Tổ khi được Ngũ Tổ truyền y bát, Ngài được Ngũ Tổ dẫn đến bờ sông trốn về phương Nam. Lên thuyền, Ngũ Tổ cầm chèo nói:

- Con cứ ngồi để thầy chèo!

Lục Tổ nói:

- Thỉnh Thầy ngồi, đệ tử tự chèo.

Ngũ Tổ nói:

- Phải là ta độ ngươi mới được.

Lục Tổ nói:

- Khi mê Thầy độ, ngộ rồi tự độ.

Độ là đưa qua, còn mê nhờ Thầy độ, giờ ngộ phải tự độ. Thiện tri thức bên ngoài chỉ trợ giúp, đưa mình một lúc nào đó là phương tiện bên ngoài. Họ khuyên mình biết tu hành, họ không thể nào dứt vọng niệm cho mình, cũng như không thể dứt cái mê của mình được. Tự mỗi người phải phát minh khơi sáng vị thiện tri thức trong tâm, vị thiện tri thức đó mới làm cho mình hết mê. Thiện tri thức trong tâm mình là trí tuệ.

Ngài nói rất bình dân nhưng ý rất sáng, còn phân tích bên ngoài thì cũng không thấu được. Mỗi người phải phát huy thiện tri thức ở trong tâm, tự soi sáng, tự cứu mình khỏi những phiền não, đó thật sự là đạp lên đất giác ngộ. Nếu cứ ỷ lại bên ngoài hoặc là nương tựa vào bên ngoài, cuối cùng là đạp trên chữ nghĩa.

3- Thường Tự Xét Lỗi Mình

Người tu hành sáng suốt là thường tự xét lại lỗi mình, không giỏi xét lỗi người để chỉ trích chê bai, cho mình là trí tuệ sáng suốt, đó là sai lầm. Trong bài tụng Vô tướng ở cuối phẩm Bát Nhã, Lục Tổ dạy:

- Nếu người thật tu hành chẳng thấy lỗi thế gian, nếu thấy lỗi người khác, lỗi mình đến bên cạnh, người lỗi ta chẳng lỗi, ta chê tự có lỗi.

Người thật sự biết tu hành thì tránh tìm lỗi thế gian, vì như vậy là động niệm. Tìm thấy lỗi người ta thì tâm mình xao động, bực bội, khó chịu, có khi chịu không nổi rồi chỉ trích, chê bai, mang thêm khẩu nghiệp, hoặc tạo thành kiến với nhau. Lỗi ở người ta không dính gì với mình, nhưng giờ lại đem lỗi đó về mình.

Nên Ngài nói thấy lỗi người khác là lỗi mình đến bên cạnh, người lỗi ta chẳng lỗi, ta chê tự có lỗi. Lỗi của người ta, nhưng mình chê là tự có lỗi, tất cả thấy có đáng thương không? Đó là để niệm mê sanh thì Bát Nhã diệt. Trái lại Ngài nói rằng:

- Người đời tu hành tất cả trọn chẳng ngại, thường tự thấy lỗi mình cùng đạo tương đương.

Người đời khéo biết tu hành, thường tự xét lỗi để chuyển hóa, không lầm theo đó là khế hợp với đạo, cùng đạo tương đương. Như vậy không có gì ngại, đó là con đường sáng suốt, không sinh khẩu nghiệp chuốc lấy phiền não. Chúng ta nhiều khi lỗi mình không chịu thấy, hoặc có ai đó nhắc nhở, mình còn trách ngược lại.

Như câu chuyện, có anh chàng hay nói năng thô lỗ. Một hôm, có vài người bàn về anh, nói là anh thường nói năng thô lỗ. Lúc đó, bỗng anh đi ngang qua nghe được, anh sừng sộ nói:

-Tôi có thô lỗ gì đâu, mấy người nói tôi thô lỗ chỗ nào?

Các vị kia liền cười:

- Ngay chỗ này còn chỗ nào nữa?

Chúng ta thấy trách người khác lung tung như vậy có thô lỗ không? Nhưng anh này không thấy, lúc đó anh không tự thấy lỗi, anh lại trách những người khác. Người đời cũng hay mắc kẹt chỗ này. Họ thiếu xét lại lỗi mình, cứ lo nhìn người khác nên lỗi mình không thấy.

Lục Tổ nói phải thường tự thấy lỗi thì cùng đạo tương đương. Chúng ta tự thấy những khuyết điểm, những ngu mê sai lầm của mình, để sửa đổi chuyển hóa. Còn tự thấy ta trí tuệ sáng suốt rồi thì không ai nói mình nghe, như vậy rất nguy hiểm.

Lục Tổ nói thêm:

 - Chỉ tự bỏ tâm quấy, phá tan hết phiền não. Yêu ghét chẳng bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ.

Tự mỗi người bỏ những tâm quấy, phá tan những phiền não, không bận lòng về yêu ghét thì nằm duỗi hai chân ngủ khỏe, không bận tâm gì hết, thật sung sướng, thật giải thoát. Bỏ những tâm quấy, sạch tan những phiền não đó là điều trọng yếu. Còn tâm quấy của mình, mình không bỏ mà cứ thấy lỗi người thì càng thêm lỗi.

Mỗi người tự soi xét lại chính mình, gọt sạch những cái nhân sanh phiền não, vượt qua những tình yêu ghét theo cái ta hư dối. Thuận với ta thì yêu, nghịch với ta thì ghét. Phải vượt qua tình yêu ghét thì giải thoát tự tại, không còn gì bận lòng nên duỗi hai chân ngủ khò. Học như vậy mới thật là học Bát Nhã, đầy đủ lợi ích không nghĩ bàn, đó là những lẽ thật.

4- Tóm Kết

Lục Tổ dạy người học Bát Nhã phải học nơi tự tâm, vượt qua những văn tự, chữ nghĩa bên ngoài là chữ nghĩa chết. Tự mỗi người phải thực hành nơi tâm mới phát khởi diệu dụng thường chiếu soi thì không mê, tâm không mê là Bát Nhã, đây mới đúng với nghĩa Bát Nhã là trí tuệ. Như vậy mới có những lợi ích thiết thực sáng suốt trừ mê lầm.

Học Bát Nhã là học trí tuệ thường sáng không mê, thì chớ để chữ nghĩa làm mờ tối chúng ta. Phật và chúng sanh vốn không có ngăn cách, ai cũng có trí Bồ-đề Bát Nhã nơi chính mình, đó là trí tuệ chân thật. Lục Tổ bảo:

- Này thiện tri thức! Chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ thì chúng sanh là Phật. Biết muôn pháp trọn ở trong tự tâm, chóng thấy bản tánh chân như.

Lục Tổ nói rất ngắn gọn mà đủ ý nghĩa. Chẳng ngộ là mê thì Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ thì chúng sanh là Phật. Ngay đó tự chuyển. Chúng sanh là Phật, nhưng Phật chỉ có ngay niệm đó, nếu mê trở lại thì làm chúng sanh tiếp. Chúng ta có khi là Phật, có khi là chúng sanh, cứ đảo qua đảo lại hoài.

Chúng ta phải khéo để thường làm Phật bớt làm chúng sanh, như vậy mới là hay, bảo đảm bớt phiền não, bớt khổ đau. Nếu tiến mãi như thế, sẽ đến con đường giác ngộ thôi.

Mong tất cả thường phát triển trí Bát Nhã trong đời sống hàng ngày của mình, để thật sự cảm nhận sâu những lời Phật Tổ dạy. Có Bát Nhã thật sự mới cảm nhận được những ý nghĩa sâu xa của lời Phật Tổ, từ đó mới đầy đủ niềm tin trên đường Bồ-đề không thoái chuyển, mong tất cả cố gắng./.

 

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Tin mới

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 28813
  • Online: 11