Năm pháp che lấp Tự Tánh Bát Nhã ( Phần 1)

07/10/2012 | Lượt xem: 1439

ĐĐ.Thích Khế Định

I. DẪN NHẬP
Hôm nay chúng tôi có duyên chia sẻ một chút giáo lý cùng quý Phật tử. Quý Phật tử phần đông đều tu thiền theo pháp môn của Hòa thượng tôn sư, đã nghe pháp rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ nêu thêm một số điểm để y cứ vào đó quý vị tiến thêm trên con đường thiền. Nếu y cứ trên nhân vô sanh để tu thì quý vị sẽ được quả vô sanh, con tu trên nhân sanh diệt thì được quả sanh diệt.


 Quý vị thấy Bồ Tát Sĩ Đạt Đa sau khi ngồi thiền dưới cội bồ đề 49 ngày đêm thấy được trong mỗi chúng sanh đều có đức tướng Như Lai cùng với Phật không khác, nhưng tại sao Đức Phật đã thành tựu quả rốt ráo cuối cùng, còn mình cũng có tánh Phật nhưng lại bị khổ đau, phiền não bức bách? Tại sao Đức Phật tu nhanh hơn chúng ta? Đó là Ngài biết cái gì sai, không đúng thì bỏ. Ở chốn hoàng cung, biết rằng nếu đắm chìm trong ngũ dục thì khó mà thành tựu đạo giác ngộ nên Ngài bỏ. Rồi 5 năm tầm đạo, 6 năm khổ hạnh, biết sai nên Ngài cũng bỏ. Còn chúng ta biết sai mà không chịu bỏ. Một hôm có một ông Tăng đến hỏi Thiền sư Triệu Châu:
- Con chó có Phật tánh không?
- Có.
- Đã có, tại sao lại chui vào đãy da làm gì?
- Vì biết mà cố phạm.

Quý vị thấy, tâm Phật tròn sáng như gương. Tâm chúng ta cũng vậy, nhưng nếu phủ một lớp bụi rồi trát thêm một lớp bùn thì có soi thấy được không? Tâm của mình sở dĩ không sáng soi chiếu trời chiếu đất là bị năm thứ ngăn che:
1. Tham dục
2. Giận hờn
3. Mê ngủ
4. Trạo cử (dao động)
5. Hối hận, nghi ngờ.
Quý vị thấy bỏ được năm thứ này dễ hay khó? Tu đâu phải một ngày một tháng mà hết được năm thứ này. Không chỉ người tu thiền, mà ngay cả người tu Tịnh hay Mật mà chưa bỏ được năm thứ này thì dù Đức Phật A Di Đà có đến rước cũng không đi được. Cho nên, ngày hôm nay, chúng tôi sẽ chia sẻ với quý vị đề tài: “Năm pháp che lấp tự tánh Bát Nhã”.

II. XẢ NĂM PHÁP CHE LẤP TỰ TÁNH BÁT NHÃ
1.    XẢ THAM DỤC

Đại sư Trí Khải dạy: “Khi hành giả ngồi ngay thẳng tu thiền định, tâm vừa khởi tham muốn, niệm niệm tiếp nối, che đậy thiện tâm không được tăng trưởng, biết rồi liền bỏ”.
Chẳng hạn thấy người khác có cái nhà lớn hơn nhà mình, xe đẹp hơn xe mình, mình cũng mong muốn được như vậy nên tối ngày nghĩ hết cách này đến cách nọ để kiếm thật nhiều tiền mua nhà, mua xe cho đẹp.
Trong Thiền thoại có kể một vị Tăng tu hành đã lâu mà chưa ngộ đạo. Một hôm trên đường đi khất thực ngang qua một căn nhà, ông nghe thấy tiếng một cô gái hát: “Trương đậu hũ, Lý đậu hũ, sáng mai cũng tiếp tục bán đậu hũ”, liền ngộ đạo. Tại sao ông Tăng nghe lời hát đó lại ngộ đạo? Ông Trương bán đậu hũ, ông Lý bán đậu hũ, dù cho suốt đêm nghĩ cách làm giàu thì ngày mai cũng vẫn phải tiếp tục bán đậu hũ. Khi nghe được câu đó, ông buông hết các niệm liền được ngộ đạo.
“Vì cớ sao? Vì như nàng Thuật-bà-già trong tâm khởi tham dục, còn bị đốt cháy cả thân thể, huống chi trong tâm sanh lửa tham dục mà chẳng thiêu hết các pháp lành sao?”
Không những khởi niệm tham dục về vật chất xe, nhà cửa, mà còn khởi niệm về ái dục qua xúc chạm, tiếng nói, hình ảnh, nam cũng như thế mà nữ cũng như thế.
Trong Kinh A Hàm, Phật dạy rõ:
“Không thấy rõ ái dục
Mới vướng vào ái dục
Ảo tưởng về ái dục
Đưa người về nẻo chết”.

Trong Thiền thoại có kể, Ngài Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn là hai người bạn thân. Tô Đông Pha làm quan, có sáu bà vợ và chuẩn bị lấy thêm bà vợ thứ bảy trẻ, đẹp. Thiền sư Phật Ấn liền hỏi mượn cô vợ thứ bảy một đêm, mặc dù rất ngạc nhiên nhưng Tô Đông Pha cũng đồng ý. Nửa đêm, Ngài đánh thức cô gái dạy, bắc 7 cái lò lửa, đi qua đi lại, đi tới đi lui suốt đêm. Sau khi nghe cô vợ về kể lại, Tô Đông Pha giật mình, biết Thiền sư Phật Ấn cảnh tỉnh mình, ví một cái lò lửa tiêu biểu cho một người vợ.
Ngài Liên Trì trước khi xuất gia cũng có một người vợ. Sau khi xuất gia, cứ một năm Ngài về nhà một lần. Một lần Ngài về nhà, vừa bước vào liền ngã xuống hầm có than lửa ở dưới. Ngài kêu la, trách bà vợ sao ác vậy. Bà vợ nói: “Lửa này chỉ đốt ông một đời, còn lửa tham dục đốt ông nhiều đời nhiều kiếp. Ông không lo tu tập còn về nhà làm gì nữa”. Ngài nghe xong hổ thẹn, phát nguyện tu chừng nào sáng đạo mới về nhà.
Cho nên, mình vừa khởi niệm tham dục, dù cho là nhà, xe hay con người, phải buông xả luôn để dấn thân vào con đường giác ngộ. Nếu suốt ngày khởi niệm tham dục thì không bao giờ phát minh được tâm địa.
Phật dạy tiếp:
“Thấy chân tướng ái dục
Tâm ái dục không sanh
Tâm ái dục không sanh
Ai cám dỗ được mình”.

Trong Luận Ma ha diễn: “Ngũ dục như nước biển, càng uống càng khát. Ngũ dục không vui, như chó gặm xương khô. Ngũ dục gây tranh đấu, như bầy quạ giành thịt thúi. Ngũ dục thiêu người, như cầm đuốc đưa ngược gió. Ngũ dục hại người, như đạp nhầm rắn độc. Ngũ dục không thật, như mộng được của báu. Ngũ dục tạm bợ không lâu bền, như chọi đá nhóm lửa. Người trí suy xét coi nó như giặc thù; người đời mê lầm, tham đắm ngũ dục đến chết không bỏ, đời sau phải chịu vô lượng khổ não.
Trong Kinh A Hàm, có câu chuyện trong một ngôi làng có một số người bị bệnh cùi, đốt một đống lửa thật lớn để hơ gãi, ban đầu thấy dễ chịu nhưng gãi nhiều bị rát, rất là đau khổ. Một hôm có một vị lương y đến trị bệnh cho một người trong nhóm đó khỏi bệnh. Anh này một hôm đi ngang khu đó được mọi người mời vào hơ lửa, nhưng vì đã biết nên không vào nữa. Đức Phật ví chúng sanh chìm đắm trong ngũ dục, bị ngũ dục làm mờ tối, che mờ tánh giác, gặp Phật chỉ dạy con đường thiền tập, quán chiếu được ngũ dục là khổ nên không quay lại nữa.
Trong bài kệ “Trừ Cái”, Phật nói:
“… Cầu các dục thì khổ,
Khi được nhiều lo sợ,
Khi mất lại buồn rầu,
Tất cả thời không vui.
Họa các dục như thế…”


Có những người rất giàu có, nhiều tài sản nhưng gặp lúc khó khăn, tài sản gần như mất hết, tuyệt vọng muốn tự tử, nhưng thử nhớ lại khi mình sanh ra đời, đến một cái tã cũng không có, khi bớt lòng tham muốn thì đỡ khổ.
Phật dạy một người ngu bị mũi tên đâm vào người cũng đau, một người trí bị mũi tên đâm vào người cũng đau. Nhưng người ngu sau khi bị đâm, về nhà tự tiếp tục đâm thêm mũi tên thứ hai, thứ ba… vào người, còn người trí sau đó về nhà rút mũi tên ra và băng bó vết thương. Cũng vậy, người không biết Phật pháp, không biết tu tập thì khi gặp phải điều bất như ý khiến cho bị phiền não thì sau đó về tiếp tục kể cho người này, người kia nghe, mỗi lần kể là một lần tự đâm một mũi tên vào người. Còn người biết tu tập, biết chuyển hóa thì dừng lại, không tự đâm thêm nữa.
“…. Do đâu được xả nó
Được vui sâu thiền định
Liền không bị nó lừa”.

Đi sâu vào thiền định, thấy những niệm đó là vọng tưởng, không có tự tánh, phiền não cũng không có tự tánh. Quý vị thử nghĩ “Phiền não này có thật là của mình không?”. Nếu thật phiền não là của mình thì sáng phiền não, trưa phiền não, chiều phiền não. Con sáng phiền não, chiều hết thì không phải là của mình. Như giờ quý vị đang cãi lộn với ai đó, tự nhiên có người gọi điện đến thông báo một tin rất vui, quý vị còn phiền não nữa không? Như vậy, phiền não chỉ là bóng dáng, do duyên mà có, hết nhân, hết duyên thì phiền não cũng hết. 

2.   XẢ GIẬN HỜN
Cái này người tu cũng hay bị dính mắc. Phật dạy: “Sân giận là cội gốc sanh ra các pháp bất thiện, là nguyên nhân đọa vào 3 đường ác, là oan gia của pháp an lạc, là bọn giặc dữ của tâm thiện, là kho chứa bao nhiêu ngôn ngữ thô ác, cũng đều do sân hận”.
Một khi nổi giận, chúng ta thường khó kiềm chế được lời nói của mình mà hay nói những lời dữ dằn, thô ác. Ngài An Thế Cao có vị sư huynh cũng thường hay bố thí, cúng dường, làm các việc phước thiện nhưng do hay bị sân hận nên khi chết bị đọa làm mãng xà.
Trong Kinh Phật dạy: “Bậc thượng thì nhẫn người dưới mình, bậc trung nhẫn người ngang mình, bậc hạ nhẫn người trên mình”. Nhẫn người trên mình thì dễ hiểu rồi, người trên mình nhiều khi mình không nhẫn cũng phải nhẫn, còn nếu người dưới mình mà mình tự hạ xuống để nhẫn được thì đó mới là điều khó làm.
Phật ví dụ một người cầm nắm muối bỏ vào ly nước, uống không được vì nắm muối lớn còn ly nước thì quá nhỏ. Chỉ cần đem nắm muối bỏ xuống dòng sông thì uống được vì dòng sông quá lớn, còn nắm muối quá nhỏ. Tu tập một thời gian, tâm mình rộng mở  ra, hiểu và thương người hơn nên có khả năng chịu được và hóa giải những lời nói châm chích độc hại của người khác.
Trong Kinh Nghiệp báo sai biệt, Đức Phật dạy:
“Lời nói xúc não người
Bới móc chuyện riêng tư
Ngang bướng khó điều phục
Làm quỷ đói ngậm lửa”.

Trong Kinh A Hàm cũng kể, một hôm Ngài Xá Lợi Phất ngồi trong tịnh thất, có một con quỷ mồm miệng chảy đầy máu, thân bình bốc lửa chạy đến khóc. Vị thị giả nhìn thấy, nói: “Bà khó vào gặp được vị nguyên soái chánh pháp lắm, vì Ngài có năng lực lớn nên bà không đến gần được”. Quỷ nói: “Không sao đâu, Ngài cứ vào nói tôi là mẹ của Ngài Xá Lợi Phật 500 kiếp về trước”. Ngài Xá Lợi Phất ra, dùng thần thông biết được đây chính là mẹ của mình 500 kiếp về trước, sở dĩ làm quỷ là bởi suốt ngày bà hay chửi mắng người, nói những lời độc hại làm cho người khác đau khổ.
Qua câu chuyện này, chúng là chiêm nghiệm lại trong cuộc sống của mình, phải “thủ khẩu như bình, phòng ý như thành”, tức là giữ miệng của mình giống như bình nước, không nói những lời thô ác hại mình hại người, làm hao tổn nước công đức, mà phải dùng lời ái ngữ để nói với người. Nhiều khi mình nói: “Tôi nói vậy thôi chứ trong tâm tôi không có gì hết”, nhưng thực ra, lúc đó trong tâm mình có dấy niệm tác ý mà mình không thấy được niệm nên mới nói ra những lời nói làm cho người khác phải đau khổ.
Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Phật dạy: “Thà dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi mình, chứ không bao giờ nóng giận nói lời thô lỗ để phải bị đọa vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”. Cắt đứt lưỡi mình chỉ khổ một đời này thôi, nhưng nói những lời thô lỗ nóng giận khiến mình bị đọa, khổ trong nhiều kiếp.
Trong Kinh Bách Duyên, có vợ một ông trưởng giả rất giàu có. Khi bà mang thai, ai cũng xa lánh vì thân thể bà rất hôi thối như có xác chết trong đó. Khi bà sanh đứa bé ra, nó chỉ chuyên ăn phân người, ăn xong lấy phân trát lên người. Hai vợ chồng ông trưởng giả mang đứa con ra ngoài nghĩa địa, nó cũng tìm được một thùng phân công cộng để ăn. Mọi người đều gọi nó là Đạm bà la, tức là chuyên ăn phân người. Một hôm, được gặp Thế Tôn độ cho xuất gia, sau chứng quả A la hán. Tôn giả A Nan rất ngạc nhiên hỏi Phật, vì nghiệp gì mà người này sanh ra trong một gia đình rất giàu có mà tại sao lại ăn phân, sau lại được xuất gia tu hành. Phật nói: Trong đời quá khứ thời Đức Phật Câu Lưu Tôn, vị này xuất gia làm trụ trì một chùa lớn. Một hôm có bà tín thí đến cúng dường một số dầu thơm cho Tăng chúng. Trong chúng không ai xức, chỉ có một vị xức dầu thơm (vị này đã chứng quả A la hán). Ông Trụ trì giận, nói: “Ông là người xuất gia mà dùng dầu thơm xoa mình không khác gì lấy phân bôi vào mình”. Do lời nói như vậy mà ông bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, rồi sinh ra làm người trong 500 kiếp thân đều hôi thối. Sở dĩ ông bị quả khổ như vậy là do đã chửi mắng một vị đã chứng quả A la hán.
Cho nên, là Phật tử phải nên cẩn thận vì mình hay có tật chê bai, chỉ trích, nhất là đối với những bậc cao đức, thiện tri thức chỉ pháp tu thù thắng, nhiều khi mình không biết người đó tu chứng đến đâu nên cần phải cẩn thận lời nói. Như bữa nào ra đường, nếu quý vị gặp người ăn xin, có bực mình đánh họ thì họ cũng không làm gì được mình, nhưng nếu lỡ đụng vào vua hay quan đại thần mà mình đánh chửi thì chịu hậu quả lớn. Những người tu hành có năng lực lớn cũng như thế.
Rồi trong cuộc sống gia đình, nếu mình chửi mắng con cái thì cũng không khác gì chửi mắng người khác. Nhiều vị làm cha mẹ, tự cho mình có quyền chửi mắng con cái, nhưng thực ra khi mình chửi mắng con cái là mình đã gieo những hạt giống bất thiện cho nó và cho mình, nó buồn khổ thì lúc đó mình cũng không có hạnh phúc.
 Trong Kinh Chánh báo, Phật dạy:
“Người ác như tên độc
Người trúng bị tổn thương
Cửa ngục mở đang chờ
Rơi vào chảo dầu sôi
Cắt lưỡi buộc phải ăn
Đau khổ không kể xiết
Nếu không có lợi ích
Sao chẳng phòng lời nói?”.

“Thế nên, hành giả khi tọa thiền, khởi nghĩ: ‘Người này phá hại ta, người thân ta khen ngợi kẻ thù của ta’. Suy nghĩ quá khứ, vị lai cũng như thế. Đó là chín thứ phiền não do sân hận nên sanh oán thù. Do tâm oán thù nên khởi tâm sát hại kẻ khác. Cho nên, những phiền não sân hận, oán thù che đậy, gọi là triền cái”.
Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, một hôm có một vị Thích Đề Bà Na đến hỏi Phật:
“Giết gì được an ổn?
Giết gì hết sầu khổ?
Vật gì gốc của độc
Nuốt mất tất cả thiện?”

Phật trả lời:
“Giết sân được an ổn
Giết sân hết sầu khổ
Sân là gốc của độc
Nuốt mất tất cả thiện”.

Thường chúng ta hay mong cầu hạnh phúc ở tận đâu đâu mà thật ra, hạnh phúc chính là ngay nơi tự thân của quý Phật tử, dù quý vị có mang hàng ngàn đô la Mỹ ra siêu thị hay bất cứ đâu mua cũng không có
Một hôm có vị Thiên tử đến hỏi Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, làm như thế nào để trong cuộc đời còn gặt hái được những hạnh phúc vĩnh cửu lâu dài?”. Phật trả lời: “Buổi sáng thân làm điều lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành. Đó là một buổi sáng an ổn, hạnh phúc. Buổi trưa, buổi chiều cũng lại như thế”.
Thân làm điều lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành thì suốt một ngày được an ổn, hạnh phúc, không cần phải đi coi bói xem tướng số gì cả, cũng không cần phải xem ngày tốt ngày xấu vì ngày nào cũng là ngày tốt. Muốn tốt hay không là do mình.
Trong Kinh A Hàm, có một ni cô nước Sakola gặp một vị bà la môn tu khổ hạnh, dùng lửa để nướng thân nên đầu tóc khô, môi miệng nứt nẻ, người đời gọi ông là La hạt chích, tức là cây vải bông nướng. Ni cô thấy thế nói: “Cái đáng thiêu thì ông không thiêu, lại lầm lẫn đi thiêu cái không đáng thiêu, sao mà ông ngu si quá vậy?”. Vị bà la môn nghe vậy, giận đỏ mặt quát: “Đồ con lừa, ngươi nói cái gì là cái đáng thiêu?”. Cô nói: “Cái đáng thiêu chính là tâm nóng giận của ông đó. Thiêu được cái đó mới thực sự là an ổn, mới thiêu được cái đáng thiêu, giống như xe mà không đi thì đánh trâu, ai lại đánh xe. Cũng vậy, phải đánh thức cái tâm kia thiêu cháy tan cái tâm đó thì thân hết bị dày vò đau khổ”. Nghe vậy, vị bà la môn liền thức tỉnh.
Chúng ta suốt đời suốt kiếp luôn chịu đau khổ là chỉ biết dùng thân mà không biết dụng tâm. Ngày xưa, có hai cao đồ của Vương Trùng Dương đến gặp Thầy xin xuống núi để làm thiện. Ông Thầy nói: “Sát sanh thì lên thiên đường, mà phóng sanh thì xuống địa ngục”. Như vậy tức là sao? Có bị ngược đời không? Sát ở đây chính là sát cái tâm nóng giận, sát những lời nói làm cho người khác phải buồn khổ, phiền não, được vậy thì sẽ lên thiên đường. Còn phóng những lời nói thô ác, làm xúc não người thì phải chịu hậu quả xuống địa ngục. Cho nên, giờ biết tu rồi, chúng ta phải cố gắng chuyển hóa tâm so với ngày trước khi chưa tu.
Tổ Tuyên Luật sư nói: “Nếu lấy việc nhỏ mà chấp chặt tranh luận thì việc nhỏ cũng thành to. Nếu việc lớn mà có thể nhẫn thì việc lớn cũng thành nhỏ”.
Việc nhỏ mà chấp, không chuyển hóa được thì cũng thành lớn chuyện, cái này trong quan hệ gia đình mọi người hay vấp phải giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái. Có hai người hàng xóm, nhà anh A đông người nhưng không thấy cãi lộn, còn nhà anh B ít người nhưng cãi nhau suốt ngày. Anh B sang nhà anh A để hỏi kinh nghiệm. Anh A nói: “Sở dĩ nhà tôi không cãi lộn là vì trong nhà ai cũng là người xấu, còn nhà anh hay cãi lộn là vì ai cũng là người tốt”. Anh B ngạc nhiên hỏi lại: “Sao kỳ vậy?” Anh A nói: “Chẳng hạn như một buổi nào đó tôi để bình hoa ngay cái bàn này, vợ tôi đi ngang làm rớt. Tôi chạy đến nói xin lỗi tại mình vô ý, vợ tôi cũng nói không phải, do lỗi của cô ấy không để ý nên làm rớt bình hoa, như vậy, ai cũng xấu nên không cãi lộn. Còn nhà anh, ai cũng tốt nên nếu có việc gì thì đổ tại cho người khác, vì vậy mà hay cãi nhau”.
“Nếu việc lớn chẳng qua bị người ta vu khống, chê bai, song một chữ nhẫn nói thì rất dễ, hành lại rất khó”.
Có một vị tướng một hôm cảm thấy chán, buông bỏ tất cả vợ con, nhà cửa, tài sản vứt xuống sông, đến xin Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo cho xuất gia. Thiền sư cho ông ở lại công quả tập tu. Một buổi sáng Thiền sư đi kinh hành thấy ông này thắp hương bèn hỏi: “Giờ này ông thắp hương làm gì?”.
Ông này đáp: “Vì trừ lửa trong tâm, dậy sớm lễ sư trưởng”. Mình nghe ông nói vậy thấy hay không, thấy ông có vẻ rất chịu khó tu tập để trừ lửa sân, phải không?
Lúc này, Thiền sư nói: “Dậy sớm như thế ấy, chẳng sợ vợ ngủ người?”.
Nghe thế, ông giận quá, nói: “Lão đầu trọc thối, ông dám nói như vậy hả?”.
Thiền sư bèn nói bài kệ:
“Nhè nhẹ phẩy chiếc quạt
Tánh lửa đã nóng bừng
Tánh ông nóng như thế
Làm sao buông xuống sông?”

Nghe vậy, ông liền tỉnh ngộ.
Như vậy, để thấy rằng nói thì đơn giản, nhưng hành rất là khó.
Có một vị cư sĩ đến hỏi Thiền sư Bàng Khuê: “Thưa Thầy, con rất hay nóng giận với vợ con của con. Xin Thầy trị giùm con”.
-    Ông đem cái nóng giận ra đây ta trị cho.
-    Thưa Thầy, bây giờ nó không có.
-    Chừng nào mới có?
-    Khi nào con gặp vợ, con của con thì mới có.
-    Giờ ông về nhà, nếu gặp vợ mà nổi sân thì chạy đến ta trị cho.

Vị cư sĩ thực hiện theo, nhưng đến cửa thiền viện thì hết sân, liền thưa với Thiền sư. Thiền sư khai thị: “Cái sân đó không phải của ông, cha mẹ ông sanh ra ông chỉ có tâm Phật mà thôi. Sân này do duyên, không có tự tánh, chỉ cần quán chiếu thật sâu sân từ đâu mà có thì lần lần sẽ hết”.
Trong Kinh A Hàm, Phật dạy mình khi sân biết mình sân thì tự nhiên sân hết. Chúng ta luôn đồng hóa mình với cái sân: tôi sân, tôi bực, tôi hận, nhưng cái gì biết được bản chất của sân thì mình không chịu sống với nó mà chỉ sống với cái sân của mình.
Thiền sư Khuê Phong dạy: “Tham sân khởi mà chạy theo thì chính là phàm phu, tham sân khởi mà bất động chính là A la hán, tham sân khởi mà biết dừng, đó là người chân chánh tu đạo”.
Do đó, Tôn giả Tịch Thiên dạy: “Công đức làm các điều lành như cung kính Như Lai, cùng hành hạnh bố thí suốt trăm ngàn kiếp sẽ bị thiêu đốt chỉ do một niệm sân hận. Khi sân hận phát khởi, nó có khả năng hủy hoại công đức và tâm an ổn của chúng ta”.
Cho nên, thấy được tai hại lớn của sân hận như vậy, làm che đậy mất tự tánh Bát Nhã của mình, quý vị càng phải nên cố gắng để xả bỏ.

(Còn tiếp)


 

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 13241
  • Online: 65