Những lời dậy của Sư Ông

13/03/2016 | Lượt xem: 1801

Ngày 23 tháng 3 Đinh Sửu (29-4-1997)

Sau khi nghe các thất trình bày sự tu hành của mình trong thời gian nhập thất, Thầy dạy:

- Đợt nhập thất này người mới nhiều hơn người cũ. Nhắc lại cho tụi con từ thấp lên cao, những đứa mới nhập thất lần đầu vì thiếu kinh nghiệm nên tụi con bị trở ngại như bệnh, như vọng tưởng; không biết làm sao cho hết. Những điều này không có gì lạ.

. Trong khi ngồi thiền, tuy thầy nhắc tụi con luôn luôn cố gắng nỗ lực, nhưng đừng nghĩ cố gắng nỗ lực là kềm là giữ chăm chăm. Cố gắng nỗ lực có nghĩa là phải tỉnh phải sáng. Tất cả những thứ vọng tưởng dấy lên, tụi con chỉ cần thấy rõ bản chất nó là không thiệt thì nó tan. Đừng đè nó, bởi vì nhiều khi tụi con sợ vọng tưởng quá rồi kềm đè. Nhất là những đứa bệnh tim kềm đè riết rồi tim đau nhói tự nhiên thấy sợ, lúc ngồi thiền hoặc giả nghe tiếng động tụi con hồi hộp. Nói về lối tu theo Nguyên thủy, trong kinh A-hàm nói tiếng động đối với người ngồi thiền là mũi nhọn, có một sức mạnh làm cho mình khó chịu, nên Phật nói nó là mũi nhọn.

Hồi xưa thầy ở trên Phương Bối ngồi thiền, lúc đó thầy chuyên đi sâu trong A-hàm, thầy cũng thấy tiếng động là mũi nhọn, nên tối ngồi thiền nghe mấy chú xe chở hàng chạy lên đèo Bảo Lộc làm ồn quá chừng; Chà! kiểu này sao tu, động quá! Ban ngày, chiều ngồi thiền thì ba con khỉ con vượn nó la, động luôn. Thành ra trốn tuốt lên rừng sao cũng động; không khỏi cái động nên thầy hơi khó xử. Thủng thẳng từ từ tương đối yên ổn. Đến khi xuống Vũng Tàu - Chơn Không, tối loa dưới phố vang lên, nên ngồi thiền lãnh đủ, trên núi nghe ồn không thể chịu nổi. Thầy mới nghĩ rằng ở trên núi không yên, về thành phố cũng không yên, giờ chạy xứ nào tu cho yên. Nên lúc đó thầy mới nghĩ mình đừng có sợ tiếng, phải thấy rõ tiếng. Từ đó thầy chuyển, thầy không theo lối Nguyên thủy nữa. Thầy phải nhìn với tinh thần Bát-nhã, tất cả âm thanh đều hư giả không có gì thực hết. nó ca nó hát gì mặc nó, mình ngồi không bị nó chi phối như lúc đầu. Khi sợ nó mình cứ muốn tránh, nếu tránh chỗ nào cũng gặp nó, thôi nhìn thẳng, biết nó là hư giả, là không thiệt, không có gì quan trọng, không màng tới nó. Đó là kinh nghiệm những năm buổi đầu.

Bây giờ tụi con tu cũng vậy, đừng sợ tiếng động. Thấy tất cả tiếng động là hư giả bên ngoài, nghe qua rồi mất có gì đâu mà sợ. Giả sử mình đang ngồi, có ai làm động, làm tim mình đập, bình tĩnh lại, nhớ tiếng là hư dối không thật, cho nó qua. Đừng có hơi quan trọng nó mà kết quả không được tốt.

Đó là thầy nhắc về tiếng động.

Kế đó tụi con thấy vọng tưởng. Có những đứa thấy vọng tưởng là trở ngại, làm chướng cho sự tu của mình không được định. Nhưng đừng sợ nó, vì bản chất vọng tưởng là không thật. Nó có lên, có khởi chỉ cần tụi con thấy rõ nó, theo dõi nó thôi; chớ đừng thèm sợ nó, đè nó, chặn nó. Sợ, đè, chặn là bệnh. Thấy nó lên cứ theo dõi, thấy và theo dõi được nó là tụi con thành công. Biết sao thành công không? Bởi vì thấy nó, biết nó là vọng tưởng, nó chạy đâu mình biết đó. Như vậy mình là chủ mà nó là khách. Vậy mình thắng nó, dù nó có, nó vẫn thua mình, vì nó bị mình nhìn, nó là khách rồi. Nên cái tu tế nhị lắm, tụi con khéo một chút là tụi con thấy. Thắng mà không phải đè nó, thắng mà không phải nó lặng hết. Dầu cho nó có lên trăm thứ ngàn thứ mà tụi con vẫn quan sát được nó, thấy được nó. Thấy tụi nó như tụi nó đang đùa giỡn trên sân khấu, tụi con cười chơi không thèm sợ; chớ còn nó lên tụi con theo nó thì sợ. Tụi con theo hay thấy? (Thầy cười). Cái đó là quan trọng, nghĩa là nó lên, tụi con vẫn thấy nhiều thứ, thấy như một đám trẻ con đùa ngoài sân, không có gì quan trọng hết. Cười với nó, nó lại tan. Chớ đứa nào lên lại chấp nhận theo nó, một hồi nghe cái gì đó mới giật mình nhớ lại, thì mình đã theo nó xa lơ xa lắc, đó là thua nó - nó là mình rồi chớ nó không phải là khách nữa. Đó, hai cái tụi con phải thấy rõ, một bên nó, bên mình nhập cuộc với nó, như vậy nó trở thành mình, mình bị nó chi phối; một bên nó lên mình thấy, nó tới đâu mình thấy tới đó, rõ ràng không cần phải la lối trừng trị gì hết, cứ thấy theo dõi nó, nó tự tan, mình chiến thắng nó vẻ vang hơn phải không.

Đó là hai cái tụi con cần phải lưu tâm tu, nó nhẹ không phải nặng nề phải kềm, giữ, chăn cực lắm.

Tụi con phải biết rõ vọng tưởng là những thứ không thiệt - đã nhắc tới lui nhiều lần tụi con nhớ rồi, nhưng quan trọng là tụi con phải thấy rõ ràng, nó sinh hoạt ra sao, thấy hết. Thấy được nó từ khi nó khởi cho tới khi nó diệt thì tự nhiên tụi con thắng. Tụi con có thấy nó hay nó dẫn tụi con? Nếu nó dẫn thì tụi con thua, nếu tụi con thấy nó là tụi con thắng nó. Chớ đừng nghĩ đè nó, cũng đừng nghĩ hết nữa, đừng nghĩ hết vọng tưởng; hết buồn lắm. Còn với tính cách mình làm chủ nó. Bởi vì tụi con thấy tu là phân rành, đâu là chủ đâu là khách; mà vọng tưởng bị mình biết, mình theo dõi, nó là khách rõ ràng. Như vậy trong cái có vọng tưởng mà mình đã thấy rõ ai là chủ ai là khách rồi. Đó là tụi con đã có một chỗ trở về rất là hay. Nếu vọng tưởng lên mình nhập cuộc với nó để năm phút, mười phút mới giật mình, thì đó là thua hoàn toàn, không làm chủ được tí nào hết.
Như vậy tụi con tu đừng có hai quan niệm sai lầm:

Quan niệm sai lầm thứ nhất là vọng tưởng nguy hiểm phải diệt, phải đè nó không cho nó cất đầu lên. Đừng quan niệm như vậy. Bởi vì càng diệt càng đè, càng khổ mình chớ không thành công.

Quan niệm sai lầm thứ hai là phải hết vọng tưởng. Không cần hết chỉ cần biết nó và theo dõi, quan sát nó.

Thầy thường nói với tụi con, không sợ ăn trộm rình nhà, chỉ sợ mình ngủ mê. Nếu ăn trộm rình mà tụi con thức, theo dõi từng hành động của nó, nó đương đào hầm hay khoét vách gì đó. Mình chỉ cần rọi đèn là nó chạy. Chớ mình ngồi ngó lom lom khi ăn trộm chưa tới, cũng cực; ăn trộm tới rồi run lên cũng cực, thành hai cái không cần. Chỉ cần biết có ăn trộm để coi nó hành động ra sao. Nếu nó bắt đầu muốn đào hầm khoét vách vô nhà, lấy đèn rọi, nó hoảng chạy. Nhẹ nhàng không có gì quan trọng. Còn mình sợ cứ quan trọng nó, nó sẽ trở thành hơi nguy hiểm với chính mình. tu không có kết quả, mà càng tu càng thấy nhọc nhằn, khổ sở. Đó là điều tụi con phải thấy thật rõ, thật tường tận. Hiểu như vậy tụi con tu đứa nào cũng nhẹ nhàng hết. Ở đây thấy vài đứa coi bộ dụng công cực quá, mặt mày xanh mét.

Khi tu thiền được nhập thất; thời giờ nhập thất tuy không có gì lạ nhưng quý như vàng, qua một giờ, qua một ngày là đáng tiếc. Làm sao trong một giờ, một ngày của mình là một giờ một ngày hữu ích, có kết quả, chớ không phải vô ích. Nhưng đừng nghe nói như vậy rồi kềm. Nghe hiểu rồi phải tỉnh, phải thấy rõ sự việc của mình làm, thấy rõ tâm tư mình đang biến động thế nào, theo dõi tường tận. Như vậy đó là hình ảnh phản quan tự kỷ, chớ không phải tụi con kềm. Trong nhà thiền không nói kềm, nói mình phải thấy, phải nhận cho ra. Khi tụi con nhận ra được rõ ràng rồi, sự tu sẽ tiến nhẹ nhàng tốt chớ không có xấu.

Khi tụi con tu rồi, mới thấy có nguồn vui của mình. Như hồi xưa thầy cứ tưởng tượng Phật bốn mươi chín ngày đêm, không thể nào ngồi một chỗ, ngồi một mạch được. Tụi con nghĩ phải đi đây đi kia chớ, vì sinh lý con người đâu tránh được. Nhưng không ngờ khi nhập định rồi tất cả những cái này dừng lại hết, đặc biệt vậy đó. Thế mới thấy được người xưa không phải là nói gạt mình, mà nói lẽ thực, mình không tu mình không bao giờ biết được hết.

Bởi vậy cho nên những người giảng đạo không tu, cứ tưởng tượng giảng, thì họ cho đó là nói cho vui, chớ đâu có ngồi một chỗ hoài, họ không ngờ ngồi một chỗ mà không xao động. Như thầy kể chú đó (một thầy tại thiền viện Trúc Lâm) chú ngồi, nhớ mới kéo chân lên, nhìn lại đã mười giờ rưỡi. Tụi con thấy cái định không có thời gian, mà không có thời gian nói ba chục ngày, bốn chục ngày không có nghĩa lý gì hết; tới đó mới thấy chuyện của người xưa không sai. Cũng như ngài Hư Vân, Ngài ngồi tới nỗi nồi cháo mốc meo mà không hay. Nhưng điều đó mình kinh nghiệm, người bây giờ như vậy thì người xưa như vậy.

Cô Huệ thưa:

- Bạch Thầy theo đường lối mình tu, thầy nói là phải tỉnh sáng từng tâm niệm, những người nhập định lâu thầy có chấp nhận không?

Thầy dạy:

- Khi nào mình ngồi tu, thì luôn luôn tỉnh sáng, mà trong cái định không phải là mê mà nó quên thời gian, nó tỉnh chớ không phải mê, tỉnh bằng cách yên lặng mà không phải ngủ.

- Nhưng nhiều khi không để ý gì đến chung quanh.

- Không nhớ thời gian, không nhớ hoạt động chung quanh thì cái đó gọi là định, không phải lúc đó mê ngủ, mê ngủ là trật.

- Có người nói đang tỉnh tỉnh mà một hồi giựt mình.

- Giựt mình là ngủ.

- Có khi họ xuất định.

- Cái đó là ngủ, xuất định khác.

Hiểu vậy thấy tu có hiệu nghiệm vô cùng.

Thầy bằng lòng với việc làm, với sự hướng dẫn. Chớ thiệt ra bao nhiêu năm ở chùa cúng kính, không bao giờ có phút giây tỉnh. Cứ chạy theo, hài lòng với sự tụng kinh hay Phật tử tới cúng nhiều, nhưng không thấy được thâm sâu đạo lý. Nhờ mình tu mới thấy được.
Cho nên những ngày tụi con ở trong thất là những ngày quý, phải khéo sử dụng cho nó đúng để có kết quả tốt. Như vậy mới khỏi phí thời giờ mà huynh đệ dồn hết cho mình tu mà tu không ra gì rất uổng.

Thôi thăm bao nhiêu đủ rồi.

~

 

21 tháng 6 Đinh Sửu (25-07-1997)

Trước hết thầy nói về mấy đứa tu lâu một năm. Chuyện tu hành của tụi con cũng qua một hai phen chuyển biến, đó là tụi con cũng có kinh nghiệm. Ở đây thầy nói thêm. Nếu tụi con tu, giả như trong lúc tọa thiền, lúc ở ngoài có những phát minh, những cái thấy lạ tụi con thấy, rồi có niềm vui, biến chuyển cả nội tâm mình, điều đó là điều tốt. Nhưng nếu thấy rồi mà tụi con còn suy luận thế này, thế kia thì cái thấy đó chưa phải là thật. Bởi vì thấy mà mình còn phải nghĩ, phải suy luận ra cho nó rõ, thì đó là chưa phải thiệt thấy. Chừng nào tụi con tu, bất thần la lên: À! thì lúc đó mới được, mới thật thấy. Như bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng mình không biết, mình muốn tìm một cái mà mình không biết ở đâu. Bất thần mình thấy được, mình à lên một cái, trực tiếp thấy nên hết lý luận nữa chỉ còn cười thôi, mừng vậy thôi. Như vậy để tụi con hiểu, ứng dụng tu có những trường hợp lạ, rồi từ biến chuyển đó tụi con suy ra, tụi con biết thế này thế kia thì đó là còn biết trong lý luận, chưa phải biết bằng trực giác. Chừng nào tụi con à lên hoặc cười hoặc khóc thì cái đó mới biết thấy, nhớ chưa. Đó là cái chỗ của những người trực tiếp thấy đó.

Còn chặng thứ hai là của mấy đứa mới tập và tập hơi đỡ đỡ, tụi con nhớ tu không phải là dằn ép, thấy thì mình có cố gắng nhưng mà cố gắng ở trong cái tỉnh cái giác để đừng bị ngoại cảnh hay đừng bị nội tâm lừa gạt lôi dẫn mình đi. Như vậy đó là trúng, tỉnh không bị lầm chớ không phải là đè nó để được yên. Nhớ hai cái đó. Đè để nó yên, đó là lối dằn ép nhiều. Nếu tụi con tỉnh, thấy rõ những cái gì của quá khứ nó sống dậy lôi dẫn tụi con. Tụi con thấy cười với nó để đừng theo, làm chủ được mình, đó là khéo tu. Tuy rằng thấy như nó nhẹ nó yếu nhưng mà tu như vậy là tụi con lúc nào cũng làm chủ được mình, nếu dằn ép thì không phải là trí tuệ, nó là công phu dồn dập có khi có những phản ứng bất thường. Vì vậy ở đây chủ trương tụi con phải tỉnh phải giác, bỏ vọng niệm, thấy rõ tập khí của quá khứ. Lý đáng trong thời gian tụi con nhập thất là thời gian rảnh nhất, rảnh hơn ai hết. Mọi việc bỏ ở ngoài hết, đâu còn trách nhiệm gì, vậy mà vô đây rảnh chưa? Chuyện người ta ở ngoài cũng chen vô. Như vậy là không khôn ngoan, làm sao tụi con phải khôn ngoan, phải mạnh, phải dứt khoát, ngày ở ngoài mình lãnh công tác nào là làm cho tròn công tác đó, còn vô đây thì mọi công tác ngoài mình gạt ra hết. Được mất, hơn thua, tốt xấu gì ở ngoài mặc người ta lo. Cái lo của tụi con hiện giờ là phải sáng suốt với mình, làm chủ mình và làm chủ tất cả tập khí quá khứ. Như vậy là tụi con sáng suốt. Còn tụi con lệ thuộc cảnh ở ngoài là tụi con chưa có thái độ dứt khoát. Mà tu không có thái độ dứt khoát là khó tiến lắm. Giả sử mai kia Trụ trì nhập thất cũng vậy, hồi ở ngoài chuyện nên chuyện hư, chuyện phải chuyện quấy của chúng thì mình phải lo vì mình có trách nhiệm. Nhưng vô thất rồi thì giao lại hết, không còn trách nhiệm gì nữa hết, chỉ còn làm một việc mà mình đang làm đây thì cái đó tụi con tập dứt khoát như vậy, tụi con tu ít mất thì giờ. Chớ nhiều khi tụi con tu ở trong thất lại lo chuyện ngoài thất. Như vậy chuyện ở trong thất mình làm chưa tròn mà lo chuyện ở ngoài nữa, tức là càng rối rắm thêm. Không có lợi gì nên tụi con phải chuẩn bị cho tinh thần mạnh mẽ. Làm cái gì dứt khoát cái đó, còn chuyện ngoài bổn phận mình thì gác một bên, đừng bàn đừng nghĩ, đừng bận bịu gì. Chớ còn ngồi đây mà nghe chó sủa cũng lo không biết ai đó. Lính vô xét hay gì. Cái đó không được. Kệ, cái gì ở ngoài kia có người lo rồi. Mình ở đây chỉ làm việc ở đây thôi. Tụi con có đủ khả năng dứt khoát vậy không? Đứa nào khi nhập thất, ngang đó coi như chết, dứt điểm là chết. Sống với trong thất mà chết với thế gian. Như vậy đó mới được. Đứa nào chưa được vậy là chậm lắm. Đó là nói cho tụi con hiểu giá trị sự tu bởi vì khi mình tu thì những cái hiện tại mình đang mang, khi vào đây phải cởi bỏ nó ở ngoài, đừng đem vô đây nữa. Điều thứ hai là những cái cố hữu năm trên năm dưới gì đó, chuyện đó không phải là chuyện của mình nữa, vừa dấy lên cũng bỏ không cho tái diễn nữa. Như vậy tụi con mới đỡ mất thời giờ, tu mới có kết quả tốt. Đó là những việc cần thiết trong lúc tụi con tu. Còn nếu vừa cố gắng nhập thất, mà tâm bận bịu việc ở ngoài thì cái cố gắng này chỉ nhọc công mà không có kết quả.

Đó là những điều thiết yếu thầy nhắc tụi con. Thực tình đối với cái tu, thầy cũng thấy rõ lắm, nếu mà duyên tốt tụi con nhập thất ba tháng, sáu tháng, một năm thì đứa nào có chủng duyên lành sẽ có kết quả tốt. Tụi con khéo sử dụng thời gian tu, đừng bận bịu chuyện bên ngoài thì sẽ có kết quả tốt, dù rằng ở đây khí hậu không tốt. Nhưng khéo ứng dụng tu sẽ có kết quả. Đó là điều thầy xác quyết không nghi ngờ chỉ trừ đứa nào còn yếu để tập khí quá khứ sống dậy, dụ dẫn mình đó là mình thua. Vậy thì nhớ đừng bao giờ tụi con cố đè, đè riết trên đầu gân trán nổi lên hoặc đầu ran ran, đó là cái không tốt, phải khéo sáng suốt. Cái gì dấy lên tụi con cười buông nhẹ nhàng. Tỉnh táo như vậy không đòi nó được định mà bỗng dưng lúc nào đó được định, cũng như không đòi nó hiểu những cái chưa hiểu mà bỗng dưng lúc nào tự nó hiểu. Thì đó là thầy thường nói Trí vô sư chực sẵn trong tụi con rồi, khi nào bóng dáng bên ngoài không còn che mờ nữa thì Trí vô sư nó sáng, đừng có lo có sợ.

Đó là những điều cần thiết thầy nhắc nhở tụi con. Thôi nghỉ.

~

 

Mậu Dần 1998

Hôm nay thầy đến thăm, biết sự tu hành của tụi con đại khái rồi, thầy có ít lời nhắc nhở thêm cho rõ ràng hơn.

Như trước kia thầy đã thường nói với tụi con: Có tu là có tiến, không có nghi ngờ điều đó. Ngày nay thấy qua sự trình bày của tụi con, đứa nào cũng có tiến, nhưng tiến đó tùy thuộc qua trình độ, tùy theo cơ duyên. Có đứa tiến nhanh có đứa tiến chậm. Nhưng đứa nào cũng có tiến. Thầy, gần đây mỗi khi chư tăng hoặc chư ni xin nhập thất, nhờ thầy chỉ dạy, thì thầy dạy trong đó có mấy điều, nhưng có một điều căn bản là khi ngồi thiền ở trong thất tu, tụi con phải nhớ rõ rằng tất cả cảnh hiện ra, cảnh tốt cảnh xấu, cảnh đáng sợ đáng vui mình vẫn thản nhiên đừng có sợ, đừng có mừng. Tại sao vậy? Vì tất cả cảnh đó đều từ tâm mình, do mình kềm chế hay chú tâm không để loạn tưởng, do không có loạn tưởng nên rồi phát hiện những cảm giác lạ. Có khi thấy thân mình nhẹ bổng muốn bay, có khi thấy thân cao lớn kềnh càng, có khi thấy thân như là có cái gì nặng trĩu… Tất cả cảm giác đó đều do sự tu của mình mà nó phát hiện ra, chớ không phải ở ngoài. Nói cho rõ, cảnh đều từ tâm hiện, chớ không phải là thật có cảnh bên ngoài. Cho nên khi tu, thấy những cảnh như vậy tụi con vẫn thản nhiên yên ổn tu thì mọi cái đều qua. Nếu thấy nhẹ quá sợ bay, sợ là trật rồi; thấy nặng quá sợ hoặc thấy to quá sợ thì cũng trật. Tất cả những cái đó, mình đều thản nhiên, thấy ra sao thì mặc nó, cứ thản nhiên trong tâm mình, thì mọi cái đều tốt, còn khởi niệm sợ, niệm mừng thì nó trở thành xấu. Đó là hiện tượng mà nhiều người tu thường xảy ra như vậy, tụi con nên lấy đó làm kinh nghiệm, đừng có sợ.

Điều thứ hai nữa là tụi con tu, nếu lúc nào đó an ổn, thanh tịnh, rỗng suốt rồi một thời gian ngắn nó mất, mất rồi tụi con tiếc muốn kiếm lại cái đó. Cái tiếc và muốn kiếm lại là trật rồi. Mình không bao giờ tìm lại cái gì đã mất. Mình cứ cố gắng tu tiến lên, tiến lên rồi sẽ tiến hơn nhiều. Bởi vậy tụi con nhớ, thầy chỉ kể cách tu thiền theo Tứ thiền, thì được Sơ thiền rồi là lìa niệm dục thế gian. Lìa được niệm dục, cảm thấy cái vui, có thích thú, thì cái vui cái thích thú đó, nó chỉ qua một thời gian rồi mất. Kế lên Nhị thiền được vui mừng do tâm an định sanh hỷ lạc, hỷ lạc rất là vui, rất là mừng, nhưng mừng vui đó rồi cũng mất. Mất rồi mới qua cái thứ ba là ly hỷ… nó cứ đi từ từ, những cái qua rồi phải mất đừng có kéo lại, kéo lại vô tình mình bước lùi. Nên tụi con khi thấy những niềm vui, những an lạc; tụi con thấy rồi nó qua mất, cố gắng tu một thời gian sẽ tiến lên, có những hiện tượng khác. Chớ nếu ngang đó rồi tiếc: “Sao hôm đó vui quá mất uổng”. Nghĩ như vậy là sai lầm.

Như vậy tất cả sự tu hành, nếu đủ duyên tụi con sẽ thấy bước tiến cụ thể trong lúc mình tu, chớ không phải chuyện ở đâu hay người ta bịa ra. Đó là một sự thật, không nghi ngờ gì hết. Nhưng trong số tu tụi con, đừng nghe người này kể, nói tôi thấy điều này, tôi thấy điều kia, rồi mình tu mình không thấy, cảm thấy chắc mình thua họ. Không phải vậy. Tu mỗi đứa có duyên khác nhau, do duyên ngày xưa huân tập, nên bây giờ ngồi tu thấy những chuyện lạ. Còn có đứa, xưa không huân tập những cái lạ đó thì giờ tu thấy vẫn bình thường, bình thuờng mà tỉnh táo, an định thì đó là tốt. Bởi vậy duyên tu mỗi người không ai giống ai hết, mà đã không giống, thì không bao giờ đem việc người này so với người kia được. Vậy mà tụi con cứ - mỗi đứa có cái duyên riêng, đây gọi là duyên đặc thù - mỗi đứa cứ cố gắng tu trong cái duyên của mình, nhất là đừng có lầm lẫn. Khi gặp những sự việc gì xảy đến, tụi con ráng bình tĩnh để nhìn nó, biết nó đúng như thật, đó là tốt. Còn nếu khi nào có những chuyện xãy ra mà xúc động quá, thì khi xúc động đó có thể khóc có thể cười. Nhưng cái khóc cười một thời gian rồi, lại có những hứng thú, muốn làm thơ làm văn. Nhưng cái đó không hợp, tụi con phải bình thường, sống điềm đạm, bình tĩnh để cho sự tu hành còn tiến, bởi vì trên đường tu còn tiến sâu lắm, không phải tới chừng mực đó không. Thấy đó rồi phải vượt qua, qua rồi sẽ tới những cái khác nữa. Cho nên tụi con càng tu thì nó càng tiến, càng tiến thì có những cái lạ, ngày xưa chưa bao giờ tụi con biết. Đó để chứng minh lẽ thật trong đạo, Phật tổ đã dạy, sự tu hành là kỳ đặc vi diệu chớ không phải là chuyện tầm thường; Thế tình họ không biết, tưởng mình làm chuyện rất là tầm thường, chỉ ngồi yên ngó xuống vô ích. Thực ra nó có những kỳ lạ ở trong đó. Hiểu rồi tụi con mới thấy đường tu là điều phi phàm chớ không phải tầm thường như người ta hiểu.

Qua những năm gần đây, thấy sự tu tiến của tụi con, thầy cũng mừng. Có thể thầy xác định được rằng hướng chỉ, đường mà thầy hướng dẫn tụi con nó không có lầm, không có phí công vô ích. Vậy tụi con ráng cẩn thận và bền bỉ tiến lên, đó là điều tốt, không có gì đáng ngại hết.

Thôi tụi con ráng nỗ lực tu.

~

 

22 tháng 12 Mậu Dần (1998)

Hôm nay dạy chung cho tụi con biết rõ tinh thần tu thiền. Trước hết đặt câu hỏi: Tu thiền là dễ hay khó? Bởi vì khi tu phải biết rõ hướng tu của mình, đường lối tu của mình là thế nào? Nên Sư Ông đặt câu hỏi là dễ hay khó? Bây giờ có thể nói là khó. Tại sao khó? Tụi con nghe Sư Ông dặn: “Vọng tưởng dấy lên liền buông đừng theo, hay thấy nó thì nó tự mất”. Như vậy thì phải chăn vọng tưởng, vậy vọng tưởng nằm ở đâu, hay hiện tướng chỗ nào? Tụi con biết không? Nếu chăn mà không biết ở đâu, cũng như thế gian đi đánh giặc, gặp giặc ở trước mặt mà không biết. Muốn chống với người mà không biết ở đâu là dễ hay khó? Đó là khó rồi. Vọng tưởng cũng vậy. Tụi con thấy không chỗ nơi, hễ gặp duyên thì hiện, không biết trụ nơi nào chốn nào. Nên muốn đào muốn xới, muốn dẹp muốn phá thì thật là khó. Đó là đứng về mặt khó.

Còn đứng về mặt dễ, nó không nơi chốn, nó sinh rồi diệt, nó không có thật. Bỏ cái không thật là dễ hay khó? Nó thật thì muốn đuổi xua mới khó, nó đã không thật, thấy không theo thì tự mất. Như vậy biết tu đúng, tu như lời Phật dạy, thì vọng tưởng buông xả không phải là khó. Nên tu thiền dễ chứ không khó. Đó là nói cho tụi con hiểu chuyện tu.

Kế đến là trong nội tâm mình. Vọng tưởng là mình hay cái biết vọng tưởng là mình.

Vậy thì vọng tưởng là ai? Cái giận có phải mình không? Buồn có phải mình không? Cái thương ghét phải mình không? Nếu nó là mình thì tức nhiên mình không biết nó. Cũng như con mắt không thể thấy con mắt, mà thấy cảnh bên ngoài, thấy cảnh bên ngoài thì cảnh không phải là con mắt. Cũng vậy, thấy được vọng tưởng thì vọng tưởng không phải là mình. Buồn thương giận ghét là cái bị tụi con biết. Khi giận biết giận, thấy ai mà cảm mến, thì biết đây là đang thương. Mình thấy, mình biết nó thì cái bị biết không phải là chủ. Lâu nay tụi con cho nó là chủ hay là khách? Cái không phải là chủ mà chấp là chủ là ngu si. Đó là cái mê lầm muôn kiếp của con người. Tụi con nghĩ cả thế gian này đang mê như vậy đó, có đáng thương không? Họ chỉ biết cái đó là họ, chớ họ không biết có cái biết được cái đó. Bây giờ tụi con ngồi thiền có cái biết được niệm khởi, biết được những tâm thương ghét… nó dấy lên. Như vậy cái bị biết vọng tưởng là cảnh bên ngoài, còn cái kia mới thật. Như vậy dẹp vọng tưởng để làm gì? Bởi vì lâu nay người ta mê lầm, cho vọng tưởng là mình, tụi con cũng vậy quên mất cái thật mình. Sư Ông thường dạy: Trăng trên trời, mà có mây che thì không thấy được. Bây giờ, tất cả vọng tưởng là những mây mù liên tục. Có khi nào tụi con ngồi mười phút mà không có vọng tưởng không? Như vậy để thấy, khi người tu nhận vọng tưởng là mình, cứ vọng tưởng vọng tưởng liên tục không dừng, nên không bao giờ thấy được cái này. Chỉ có mình tu ngồi lặng lại, rồi quán sát vọng tưởng. Nghe Sư Ông giảng, tụi con hiểu vọng tưởng là cái bị biết, bị biết mới dẹp được, nó là mình làm sao dẹp được. Vọng tưởng còn thêm một tính chất là ảo hóa không thật. Tụi con thấy có ai buồn hoài, có ai giận hoài? Nếu buồn là mình thì hết buồn không phải mình. Giận là mình thì hết giận là không phải mình? Tất cả những thứ đó tạm thời, qua rồi mất, không phải thật mình, mà thế gian chấp là thật mình. Giận hờn, buồn phiền là tướng trạng sanh diệt. Nói theo Duy Thức Học, nó là tâm sở. Tâm sở chợt có chợt không, không phải là tâm vương. Như vậy biết rõ, mình tu thiền là cốt yếu đừng mê lầm cái bị biết, cho nó là chủ, mà quên ông chủ hay biết. Tất cả vọng tưởng lặng tụi con biết tâm lặng. Biết rõ vọng tưởng lặng, mà cái biết “vọng tưởng lặng” có lúc nào vắng không?

Chỉ khi nào theo vọng tưởng thì quên nó. Nên Sư Ông dạy bỏ vọng tưởng không theo, để hiển lộ cái thật của mình, cái thật của mình không bao giờ thiếu vắng, lúc nào cũng có mà lâu nay mê lầm.

Như vậy trọng tâm tu thiền là để không theo cái hư ảo, mà phải buông cái hư ảo để sống với cái thật của mình. Gần đây Sư Ông có đọc một cuốn sách của một nhà tâm lý trị liệu. Ông ta nói rất hay: “Cái tôi của mình có hai thể là tôi chủ thể và tôi đối tượng.” Cái tôi đối tượng sanh diệt, cái tôi chủ thể không sanh diệt. Như vậy, người ta nói mình đau chân, mình đau bụng. Đau chân, đau bụng là mình đau, hay cái gì đau? Cái thân đau chứ cái chủ thể không đau. Cũng như tôi buồn, tôi giận, tôi khổ… thì mấy thứ đó là cái tôi nào? Đó là tôi đối tượng, không phải tôi chủ thể. Tôi chủ thể không có buồn, giận ghét gì cả. Tụi con thấy người ta cũng khám phá được tới chỗ đó, mà không biết làm sao đối trị, còn mình tu để đối trị cái đó, thì ngay nơi mình có một cái thật mà lâu nay quên, rồi nhận cái hư ảo là mình thì tạo nghiệp trầm luân không dừng. Nó là hư ảo nên tạo nghiệp sanh tử để dẫn mình trầm luân. Nếu không theo nó nữa là dừng tạo nghiệp. Dừng tạo nghiệp thì cái gì dẫn mình đi trầm luân được. Đó là giải thoát sanh tử. Chỉ có cái thể trong sáng không hình không tướng không động. Cái đó làm sao dẫn đi trầm luân được? Như vậy giải thoát ngay nơi mình, khéo tu thấy liền, không phải tìm kiếm ở đâu xa. Hiểu vậy thì mới biết, ý nghĩa ngồi thiền, ý nghĩa buông xả vọng tưởng quan trọng như thế nào. Chứ không thì tụi con thấy sao trị hoài mà vọng cứ trồi lên mãi. Tại sao khó trị tụi con biết không? Tại muôn kiếp thấy nó thật rồi. Từ nhỏ đến giờ tụi con có thấy, có biết là những suy nghĩ giả không? Lúc nào cũng tưởng mình nghĩ thế này, mình tính thế kia… Tới bây giờ vào đạo tụi con mới biết nó không phải thật mình, tụi con bỏ từ từ. Bây giờ mới biết bỏ, còn cái kia đã huân bao lâu, nên bỏ cái này cái khác lại trồi lên. Không phải khó bỏ, chỉ vì huân lâu quá! Như Sư Ông thường thí dụ một bài ca hay bài thơ mà tụi con học từ bé thuộc làu làu, bây giờ muốn bỏ, thì phải làm sao? Bình thường nói bỏ thì không có nghĩa lý, chờ nó nổi dậy rồi bỏ, nhớ nó lại bỏ. Nhớ mà không đọc lại, một lần, hai lần cho đến hai chục lần thì sẽ quên. Giống như khi học, thì huân bao nhiêu lần mới thuộc, huân nhiều lần thì bỏ cũng nhiều lần. Cũng vậy, vọng tưởng huân nhiều lần quá, nên bỏ cũng phải nhiều lần thôi. Hiểu vậy rồi thì không trách, tại sao vọng tưởng bỏ hoài không hết. Biết rõ như vậy thì tụi con sẽ tiến, không còn nghi ngờ. Tất cả vọng tưởng không phải là tôi. Tôi chủ thể không như vậy, đây là tôi đối tượng. Tôi đối tượng không phải là mình mà mình chấp là mình, đó là ngu si. Cứ hiểu vậy thì tụi con tu tiến.

~

 

Tháng tư Kỷ Mão - 1999

Hôm nay Thầy vô thăm thất, thấy tụi con đa số tiến bộ đó là điều đáng mừng. Cũng có người mới chưa tiến bao nhiêu hoặc người cũ có những cái chướng.

Trước hết, đối với người tu Phật có ba cái chướng: Phiền não chướng, Báo chướng, Nghiệp chướng. Trong ba cái đó, thầy nói cho tụi con thấy rồi tự nghiệm, để trên đường tu gặp chướng thì biết nó thuộc loại nào.

Như có người tu lâu, tuổi lớn nhưng bị báo chướng nên bệnh hoạn đủ thứ. Bệnh hoạn đó là hiện tượng của quả báo, của thân. Thân của mình thuộc về báo chướng, từ thân sanh ra bệnh hoạn, từ bệnh hoạn làm cho sự tu khó khăn. Nếu không thắng được báo chướng, thì có thể trở ngại trên đường tu. Nếu gặp báo chướng thì phải sám hối. Thật ra sám hối là một lối tu để tiêu nghiệp cũ. Nếu tụi con khéo thì biết tất cả cái chướng phát nguồn từ mê mà ra. Từ mê lầm chấp thân là thật, nên báo chướng làm cho mình trở ngại. Khi nào tụi con thấy thân có bệnh hoạn thì phải dùng trí tuệ quán chiếu, thân này là một mớ duyên hợp hư giả không có thật tướng, hư giả không có gì thật hết, thân là tướng hư dối huyễn hóa thôi. Khi thâm nhập được như vậy thì nó hết chớ không có gì. Đó là thắng được báo chướng.

Còn những đứa tu mà bị nghiệp chướng thì sao? Nghiệp chướng hay phiền não chướng tuy là hai nhưng cũng giống nhau. Phiền não gốc từ nghiệp mà ra, trước mình đã từng làm điều gì buồn khổ cho người, bây giờ tu, nó trở lại làm rối sự tu hành của mình. Cho nên cái chướng của nội tâm, hay là cái chướng vì hình ảnh tốt xấu vui buồn cứ lảng vảng trong đầu mình, thì tụi con biết cái đó là nghiệp chướng của quá khứ, khiến mình không được làm chủ. Khi đó tụi con biết phải làm sao cho nghiệp chướng qua không? Nếu những cái chướng về nội tâm, nhớ chuyện cũ chuyện xưa, chuyện hay chuyện dở, tâm cứ rối loạn hoài, thì tụi con phải dùng quán chiếu, thấy tất cả nghiệp chướng đều không có thật. Bởi vì nghiệp dấy lên từ tâm từ niệm, mà niệm khi tìm lại thì nó mất, nó không thật, gốc không thật ngọn cũng không thật. Quán chiếu như vậy, tất cả nghiệp chướng bổn lai không. Nếu nghiệp chướng bổn lai không, nó không còn làm chướng che tụi con nữa.

Còn cái chướng thứ ba là sở tri, cái chướng đó tụi con không bị nhiều. Những phiền não đó do xúc duyên đối cảnh. Gặp cảnh thuận cảnh nghịch, cảnh ưa cảnh ghét… tụi con cứ để nó quấy nhiễu sự tu hành. Như tụi con đang ngồi thiền, bên xóm họ mở nhạc, mình bực bội thì cái đó thuộc phiền não chướng. Hoặc mình đang ngồi thiền mà huynh đệ cùng tu lại nói chuyện, mình nghe rồi bực bội thì cũng thuộc phiền não chướng. Hoặc đang ngồi thiền mà nhớ chuyện hôm qua hôm kia, có người nói nặng mình, mình đã bỏ qua, giờ nó sống dậy thì cũng thuộc phiền não chướng. Tụi con thấy phiền não có cội gốc không? Xét kỹ phiền não không có cội gốc. Tại vì khởi niệm chấp thì nó sanh, chấp mình là phải chấp người là quấy. Chấp những sự việc xảy ra làm trái ý mình, phá sự tu hành của mình. Vừa khởi niệm đó, là phiền não sanh. Vì vậy khi phiền não khởi, tụi con liền xét phiền não không có cội gốc, tất cả do vọng chấp mà có mà thành. Biết vậy rồi tất cả chướng nó hết. Nếu tụi con sám hối mà thấy nó thật, thì lâu lắm nó mới hết. Còn tụi con khéo quán, nó rất mau hết. Đó là lối giúp tụi con tu, gỡ những cái chướng rất nhẹ nhàng, không nặng nề chi hết. Đây là phần căn bản, Thầy nói cho tất cả tụi con biết, ai có bệnh gì thì biết mà tu, thì sẽ vượt qua.

Hồi nãy có đứa hỏi Thầy về giác minh và minh giác. Trong kinh Lăng Nghiêm nói ai cũng có tánh giác, gọi đó là giác minh, là cái thể tánh tròn sáng của mỗi người. Ai cũng có nhưng vừa dấy niệm tìm lại ánh sáng đó, thì đó là minh tánh giác. Từ đó thành ra đối đãi, đối đãi thì khởi hiện ra tất cả những thứ hiện tiền. Muốn trở về tánh giác phải dần buông xả những niệm mà quay lại tìm cái thật. Cho nên “Thú hướng chân như tổng thị tà” nghĩa là mình quay về tìm chân như thì đó cũng là tà, vì đó là cái đã sẵn. Cho nên vừa có giác minh để minh lại tánh giác, tức đã sai lầm. Thường thường tụi con thấy mình có chân tâm, có chân như, có Phật tánh nhưng cứ tìm nó, càng tìm thì càng không thấy. Tại sao vậy? Vì chân như tự nó lặng, tự nó như. Mình tìm nó là quấy động làm sao thấy được cái như. Chân tâm thì không dấy niệm, dấy niệm tìm nó thì làm sao mà thấy. Những cái lầm lẫn mà người tu thường hay mắc phải, cho nên tụi con cứ lặng vọng tưởng, rồi tỉnh sáng, đó là đủ. Đừng tìm kiếm cái gì hết, có tìm tức có sai lầm.

Ngoài ra tất cả tụi con, đứa nào tu mà tâm hay hơi thở được yên được lặng, thấy như không có hơi thở, tụi con đừng tưởng là mình hết thở. Chính khi đó thở bằng lỗ chân lông, nên mũi mình không nghe khì khịt nữa chớ không phải không có hơi thở. Thở bằng cách đó thì tâm yên, không còn cái động của hơi thở vô ra. Cho nên khi nào ngồi thiền mà tụi con thấy hơi thở như mất tiêu, đừng sợ. Cứ tỉnh táo, sáng suốt thì đúng, còn dấy niệm mình không có hơi thở nữa nên sợ chết thì sai lầm thành bệnh. Vậy là cái đúng mình không biết trở thành trật.

Ngoài ra, Thầy thấy rằng nhiều khi muốn giải tỏa chuyện vui buồn chung quanh, tụi con dùng phương tiện này phương tiện kia, nhưng cái gốc tụi con quên. Có cái gốc giải tỏa dễ như trở bàn tay, cái gốc là ngũ uẩn giai không. Tụi con biết năm uẩn là không, không này là không thật. Trong Trung Quán có nói: Tất cả cái gì duyên khởi, duyên sanh thì không có thể tánh, Thầy thường dùng hai từ là không cố định, không có thật thể, là duyên hợp. Nó là dòng chuyển biến nên không cố định, là duyên hợp nên không có gì có thể thực hết. Thực thể không có duyên hợp, duyên hợp thì không thực thể. Cái không thực thể, không cố định thì cái đó có thật đâu. Như vậy cuộc sống của mình, lăn lộn giữa cõi trần này chỉ là trò ảo mộng chơi thôi. Có gì thật. Không thật thì có gì quan trọng. Thôi thì sống cười cho vui rồi tới ngày bỏ thân giả tạm này thôi, chớ có gì. Nhớ vậy thì cái gì nó tới, tụi con thấy rõ ràng không thật, chỉ là giả tạm thôi. Đã là giả tạm có gì hơn thua phải quấy mà cố chấp. Nhớ vậy là giải hết chẳng có gì phiền não.

Xưa, khi thầy giảng Trung Quán thầy làm bài thơ Mộng. Cuộc đời như giấc mộng chứ không gì hết, thì có thực thể ở đâu. Không thực thể thì làm sao nó thật, nó không có gì cố định hết. Tụi con thấy từng giây từng phút, nó chuyển biến, cái đang chuyển biến là không phải cố định, cái không cố định không thực thể đó chỉ là giả dối tạm bợï có gì đâu mà bận tâm, có gì đâu mà phiền não, mất thì giờ vô ích phải không? Nhớ vậy rồi tụi con cứ cười, sống không có gì buồn hết. Bởi vậy câu mà thầy đắc ý nhất là: Biết được mộng, tỉnh cơn mộng. Mình thấy rõ ràng cuộc đời như ảo mộng, thấy rõ như vậy rồi, mình là người đang tỉnh. Nếu mình thấy nó, có cái phải cái quấy thật, là mình đang mê thì tất cả các thứ phiền não từ đó mà theo nhau, nó không thể nào qua được. Nên tụi con thấy các vị thiền sư ngày xưa, có vị Thiền sư nào mà thấy thân thiệt đâu? Vì vậy mà các Ngài tự tại, có hai cái lợi lớn, lợi ích thứ nhất hiện sống không mê, lợi thứ hai bỏ thân nầy không tiếc phải không? Thấy nó là giả dối và ảo tưởng như giấc mộng, thì chuyện gì còn mất như trò chơi. Tụi con sống được vậy, thì trước khi ra đi tạm biệt mọi người, tạm biệt chứ không phải vĩnh biệt, thầy nói tạm biệt, vì chưa có mãn cái quả phúc thì phải tiếp nối để mà làm chứ không phải ngang đây là hết. Vậy không có gì quan trọng hết, đó là cuộc sống rất tự tại, tự tại đó là nhờ trí tuệ cho nên chiếu kiến ngũ uẩn giai không, tất cả khổ ách đều qua. Còn mình chiếu không nổi thì thấy nó thiệt, nên không qua, rồi than thở sống trong cuộc đời sao nhiều chướng quá. Biết rõ sự thật thì nó không làm chướng ngại gì mình hết. Nếu tụi con tu trong thời gian một hai tháng, không có gì làm cho tụi con bận tâm, tự nhiên nó yên rất là dễ. Còn có chuyện gì bận tâm hôm qua hôm kia, thì thấy nó rồi cho tất cả đi qua rồi, không có gì quan trọng. Ngồi thiền được bao nhiêu cũng tốt còn không thì đi kinh hành cũng tốt. Cười hoài không có gì đáng buồn hết, biết nó là mộng rồi, mộng xấu mộng tốt gì cũng cuời vui, không có gì quan trọng. Đó là một điều chí lý mà đức Phật dạy rằng: Ai biết được lý duyên khởi thì người đó thấy đạo, thấy được đạo tức là thấy chân lý, thấy chỗ cứu cánh của cuộc đời biết nó là duyên khởi, là ảo mộng chớ không có thiệt. Thấy rõ như vậy thì tụi con tu hành không khó, nếu không thấy vậy tụi con tu sao khổ quá, đủ thứ chuyện rắc rối.

Hôm nay thầy nhắc tụi con như vậy, phải biết cách hoặc trừ nó từng phần hoặc trừ tổng quát. Tu như vậy tự nhiên nó an ổn không có gì sợ sệt. Giả sử người ta nói có ma có quỉ gì đó, thì biết thân này nó huyễn rồi, nó có giá trị gì đâu. Dù hiện ma hiện gì cũng là huyễn hết, thì mình không bị cái gì trở ngại, không ai làm cho mình kinh hoàng hết. Đó là cái gốc của sự tu.

Những lời dậy của HT. Thích Thanh Từ

 Trích Sách "Tham vấn nhập thất"

NS. Thích Nữ Như Đức - TVTL Viên Chiếu

Các bài mới

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Tin mới

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 33944
  • Đang online: 31