Những Lời Khai Thị Sách Tấn Mùa An Cư Tại TVTL Phụng Hoàng

26/10/2026 | Lượt xem: 5

HT.Thích Thông Phương 

BUỔI TỌA THIỀN NGÀY THỨ NHẤT (Tuần lễ cuối hạ 2007)

Hôm nay là buổi tọa thiền đầu tiên của đại chúng trong Thiền đường mới, và cũng là tuần lễ cuối trong Mùa An cư. Tôi có ít lời sách tấn đại chúng và gợi ý để sự tu hành được thêm lợi ích và tăng tiến.

Tại pháp hội của Đức Điều Ngự Giác Hoàng, tức Sơ tổ Trúc Lâm - Trần Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm núi Linh Sơn.

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân rồi bước lên tòa. Vị thượng thủ bạch chùy. Bạch chùy xong, Ngài nói: “Phật Thích Ca Văn vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay Ta vì các người lên ngồi tòa này biết nói chuyện gì đây?”

 Trước khi thuyết pháp, Sơ Tổ chặn đầu trước bằng cách dẫn đức Phật bốn mươi chín năm thuyết pháp, nhưng cuối cùng lại nói là Ta chưa từng nói một chữ. Như vậy là ý gì? Rồi lại nói là biết nói gì đây! Nhưng nếu không nói thì lên ngồi đây làm gì? Đó là nhằm đánh thức người tham thiền không được bám chấp ngôn ngữ mà phải vượt qua để thấu suốt lẽ thật. Cho nên ai bảo là ta hiểu Phật pháp thế này thế nọ là biết liền. Tổ ngâm bài kệ:

Thân như hô hấp tỉ trung khí,

Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyện như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.

Tạm dịch:

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời tợ mây trôi đỉnh núi xa.

Tiếng quyên từng chập trăng sáng rỡ,

Chẳng phải tầm thường xuân luống qua.

“Thân như hơi thở ra vào mũi”, nhắc chúng ta phải xem kỹ thân mỗi người đang có đây rất tạm bợ, vậy mà chúng ta lại nắm chắc vào nó không dám buông, xem như nó là kiên cố nhất cuộc đời. Nhưng ở đây, Ngài nói rõ nó rất mỏng manh, ngắn ngủi như từng hơi thở ra vào mũi. Một hơi thở hít vào không thở ra là nó tan rã và chuyển sang đời khác, nên đâu có gì chắc chắn để bám chặt. Và cái gì gọi là ta mà bám chắc lâu nay! Khi ngồi lại cần phải xét cho thấu chỗ này.

“Đời tợ mây trôi đỉnh núi xa”, cõi đời này cũng tạm bợ như đám mây bềnh bồng, gió thổi trôi ngoài đỉnh núi xa xa. Tức nó vừa tụ trên đỉnh núi đó, gió thổi tới liền tan, vậy đâu là chỗ nương tựa cho chúng ta trong cuộc đời. Như vậy, cả thế gian từ trong thân đến ngoài cảnh đều trống rỗng, nhưng còn một ơn huệ lớn lao cho chúng ta là Tiếng chim Đỗ Quyên từng chập trăng sáng rỡ, nếu không có cái này xem như cả cuộc đời trống rỗng vô vị. Hiện tại trong đó vẫn còn vầng trăng sáng rỡ, với tiếng chim Quyên từng chập như gợi nhớ mọi người cái gì đã bỏ quên.

Theo tương truyền con chim Đỗ Quyên là tích vua nhà Thục mất nước, do tiếc nhớ nước nên khi chết rồi thành chim Đỗ Quyên thường bay kêu: Quốc, Quốc...là nhớ đến nước của mình.

Cũng vậy, Ngài mượn hình ảnh chim Đỗ Quyên để nhắc mọi người cũng có cõi nước tâm mà bỏ quên, trong đó có một vầng trăng vẫn sáng rỡ thường bỏ quên. Nhưng chính đó là ân huệ lớn cho mình, vì nếu không có đó thì cuộc đời trống rỗng.

Người khéo phải tham cứu, xét cho thấu chỗ này mà tỉnh dậy trong cõi đời tạm bợ, thân vô thường nhưng còn cõi nước tâm với vầng trăng sáng rỡ, qua tiếng chim Đỗ Quyên kêu từng chập nhắc nhở.

“Chẳng phải tầm thường xuân luống qua”. Phải thật sự có niềm vui, không để mùa xuân qua suông luống uổng. Cả một cuộc đời lăng xăng rồi cuối cùng thành trống rỗng không có gì hết, vậy cuộc sống là gì?

Chúng ta có duyên gặp gỡ chánh pháp, biết được lẽ thật thì phải sống để khai thác lẽ thật nơi chính mình, không thể một bề trôi suông theo vô thường. Phải sống được với lẽ thật sáng ngời mà luôn hiện hữu đây. Chỗ này không nằm trong chữ nghĩa hay những lời lẽ chết, cho nên Sơ Tổ Trúc Lâm khi khai thị liền chận trước.

 Xong, Ngài vỗ bàn một cái nói: 

-  Không có gì sao? Ra đây! Ra đây!

Trong Đại chúng đây thấy được gì? Chẳng lẽ nghe rồi mà trong đây không có gì sao? Có ai chịu ra chưa? Tại sao không chịu ra? Đó là ý nghĩa nhắc nhở, đánh thức, thúc bách mọi người phải lộ ra chỗ này, không thể trống rỗng được! Mỗi người cần ngồi lại, xem cho ra chỗ này!

Như vậy, buổi tọa thiền của Đại chúng hôm nay mới thật sự có ý nghĩa và có niềm vui.

***

 

BUỔI TỌA THIỀN NGÀY THỨ HAI (Tuần lễ cuối hạ 2007)

Hôm nay nhân buổi tọa thiền, Tôi sẽ nói về một giai thoại của Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm với Thiền sư Vô Trụ. Thiền sư Vô Trụ đắc pháp nơi Thiền sư Vô Tướng thuộc đời thứ tư của phái Ngưu Đầu Pháp Dung.

Một hôm, Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm ngồi luận đạo với Thiền sư Vô Trụ. Lúc đó ở ngoài sân, có một con quạ đậu trên cành cây kêu “quạ quạ…”. Ngay đó ông hỏi Thiền sư Vô Trụ:

- Thầy có nghe chăng?

Thiền sư Vô Trụ đáp:

- Nghe.

Kế đó con quạ bay đi. Ông lại hỏi:

- Hiện giờ thầy có nghe chăng?

Thiền sư Vô Trụ đáp:

- Nghe.

Tướng quốc mới nói:

- Con quạ bay đi rồi không có tiếng, làm sao nói là nghe?

Thiền sư Vô Trụ gọi đại chúng bảo: “Chánh pháp khó nghe, mỗi người lắng nghe cho kỹ! Có tiếng, không tiếng, chẳng quan hệ gì đến tánh nghe. Xưa vốn chẳng sanh, nay đâu từng diệt. Khi có tiếng, thinh trần tự sanh. Khi không tiếng, thinh trần tự diệt, nhưng tánh nghe này chẳng theo tiếng mà sanh, cũng chẳng theo tiếng mà diệt. Ngộ tánh nghe này liền khỏi bị thinh trần lưu chuyển, cho đến sắc, hương, vị, xúc…, cũng lại như thế. Phải biết, tánh nghe vốn không sanh diệt, tánh nghe không đến đi…”

Ngay đó, ông cùng với những tùy tùng đi theo có cảm nhận, nên rất vui mừng, khen ngợi.

Hôm nay, mỗi người ngồi đây cũng hãy nghe lại chỗ này cho thấu tột!

Ở đây, chúng ta không phải chỉ nghe trên chữ nghĩa như học hiểu, nghe rồi hiểu biết cạn cợt bên ngoài, không phải như vậy. Mà phải lắng nghe sâu tận bên trong, nghe vượt qua cả tiếng, tiếng cũng không đến được chỗ này. Đó là chỗ Ngài muốn khai thị cho Tướng quốc, cũng như chúng ta phải khéo thấu được.

Đây nói thinh trần tự sanh tự diệt. Thinh trần tức là tiếng, tiếng thì tự sanh tự diệt chứ không dính gì đến tánh nghe. Còn chúng ta lâu nay lại mắc kẹt dính vào thinh trần, lẫn lộn tánh nghe nên dẫn đến mê lầm.

Phải thấu trở lại, cái nghe này không theo tiếng mà sanh cũng không theo tiếng diệt, nó luôn luôn hiện hữu. Nghe được chỗ này mới thật là biết nghe. Đúng ra từ xưa tới nay, từ nhỏ tới lớn, mỗi người chúng ta kể cả những người thế gian đều nói nghe chứ chưa thật biết nghe, vì chỉ nghe theo tiếng bên ngoài chứ chưa bao giờ nghe lại tánh nghe chân thật nơi mình. Quán kỹ trở lại, thấy thật đau đớn cho sự mê lầm của chúng ta cũng như cho mọi người.

Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm: “Những người tu hành chẳng thể thành tựu vô thượng Bồ-đề, cho đến riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác và quyến thuộc của Ma đều do chẳng biết hai thứ căn bản mà tu tập:

Tức là những người tu hành không đến được giác ngộ chân thật, vô thượng Bồ-đề, hoặc chứng quả Thanh Văn, Duyên Giác hay rơi vào quyến thuộc của Ma. Những người này có tu hành chứ không phải không tu, nhưng không nắm vững ý chỉ chân thật cho nên tu lệch, vì không nắm được hai thứ căn bản:

- Một là căn bản sanh tử từ vô thủy, chính ông hiện nay dùng tâm phan duyên làm tự tánh.

Nếu lấy chỗ này để tu thì đời đời rơi bên ngoài, không thành tựu được vô thượng Bồ-đề, giác ngộ chân thật. Bởi dùng tâm phan duyên làm tự tánh, lấy tâm phan duyên cho là mình, là chỗ chân thật rốt ráo. Đó là sự lầm lẫn, lấy cái sinh diệt mà cho là thật.

Hai là thể Bồ-đề Niết-bàn thanh tịnh sẵn có từ vô thủy, là chính thức thể vốn sáng ngời của ông hiện nay (thức tinh nguyên minh), nó hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót nó. Do chúng sanh bỏ sót cái sáng suốt sẵn có này, nên tuy trọn ngày tu hành mà chẳng tự giác, uổng vào các thú.”

Cho nên, tuy chúng ta tu hành năm năm, mười năm, hai chục năm mà không thành giác ngộ được là chỗ này. Đó là bệnh của chúng sanh. Sở dĩ chúng ta tu hành không giác ngộ được chỗ chân thật, bởi cứ nhận tâm phan duyên làm sự sống. Chúng ta cứ nhận cái nghe theo tiếng, có tiếng thì có nghe, không tiếng thì không nghe, đó là phan theo duyên bám theo duyên, lấy đó làm tự tánh, lấy đó làm chính mình. Đồng hóa mình với thinh trần, lấy sanh diệt cho là thật, làm nhân để tu nên không giác ngộ được cái chân thật. Cái gốc, thể Bồ-đề Niết-bàn thanh tịnh vốn có từ vô thủy mà lại bỏ quên. Ở đây gọi là “thức tinh nguyên minh”, là cái thức thể ròng rặc sáng ngời, nó hay sanh ra các duyên mà các duyên lại bỏ sót nó.

Thức sanh các duyên là sao? Thức của mình có thể sanh ra cái nhà, cái cửa, cây thông, cây mít… sanh được không? Mà gọi là sanh các duyên!

Thức sanh các duyên tức là nó biết cái này, biết cái kia, gặp cái gì nó biết cái đó, gặp cây biết cây, gặp hoa biết hoa, gặp nhà biết nhà, gặp người biết người, gặp vật biết vật v.v… biết hết, gọi là sanh các duyên. Biết cái gì thì có duyên đó. Nhưng khi nó biết cái gì đó, thì nó chỉ nhớ cái đó thôi mà nó quên mất chính nó cho nên bị các duyên bỏ sót nó.

Ví dụ như thấy cái hoa thì chỉ nhớ cái hoa mà không nhớ được chính nó là cái đang thấy đây. Cũng vậy, thấy người thấy vật hoặc là nghe tiếng chim, tiếng xe chạy…, nghe thì biết liền, đó là sanh các duyên. Nhưng nghe tiếng chim thì chỉ nhớ tiếng chim, quên mất chính nó đang nghe nên rồi bị các duyên bỏ sót nó. Có tiếng thì có nghe còn không tiếng thì không nghe, đồng hóa nó với tiếng. Do đó, người tu hành suốt ngày mà không tự giác được, đành phải theo đó lưu chuyển trong luân hồi sanh tử.

Thiền sư Cảnh Thanh nhân hôm đó trời mưa, mới gạn hỏi ông Tăng đứng hầu kế bên:

- Đó là tiếng gì?

Ông Tăng rõ ràng nghe tiếng mưa rơi, mới đáp:

- Tiếng mưa rơi.

Ngài liền bảo:

- Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.

Ông Tăng thưa lại:

- Còn Hòa thượng thì sao?

Ngài bảo:

- Vẫn chẳng quên mình!

Thiền sư hỏi tiếng gì bên ngoài? Vị Tăng lắng nghe tiếng mưa rơi nên nói nghe tiếng mưa rơi. Nhớ tiếng mưa rơi tức là quên mình theo vật. Hay sanh các duyên mà quên mất chính mình đang hiện hữu nơi đây, đó gọi là bị các duyên bỏ sót nó. Ngài quở để học nhơn thức tỉnh trở lại, nên nói chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.

Ông Tăng mới hỏi lại, còn Ngài thì sao? Thiền sư đáp: Vẫn chẳng quên mình. Thiền sư Cảnh Thanh cũng vẫn nghe như mọi người, nhưng Ngài không bỏ sót chính nó, đó là chỗ chúng ta phải thức tỉnh trở lại.

Giờ chúng ta phải tập nghe nhớ trở lại cái nghe và cái đang nghe đây. Thấy cũng nhớ rõ trở lại, thấy cái gì đang thấy. Chứ không phải chỉ nhớ cái tiếng, nhớ cái sắc; cho đến xúc chạm thì phải nhớ cái gì đang biết cảm giác đây? Đang cảm biết rõ ràng thì không theo duyên của cái xúc mà quên mất chính nó. Như vậy luôn luôn nhớ rõ được cái biết sáng suốt hiện tiền đang hiện hữu đó, là cái thức tinh nguyên minh ròng rặc sáng suốt, sẵn có mà không lẫn lộn cái gì hết.

Hiện giờ chúng ta đang ngồi đây, ngồi trở lại với cái đang là đây, đó là trở lại với chính nó. Không phải ngồi đây mà lo nhớ cái này nhớ cái kia. Nếu ngồi đây mà lo nhớ tới cái khác là theo duyên bỏ sót nó.

Với những lời gợi ý cho tất cả huynh đệ, ngồi là trở lại với chính mình, ngồi ngay chỗ này thức tỉnh chính mình. Nếu được vậy, con đường tu hành của chúng ta đảm bảo nắm chắc trong tay. Còn không, lấy tâm phan duyên làm tự tánh, làm chính mình dù tu hoài không thấy giác ngộ ở đâu. Đó là điều rất đáng tiếc, rất đau đớn!

Mong tất cả huynh đệ nắm vững, nghiên cứu kỹ để thấm sâu được chỗ này, đó là niềm vui lớn nhất của mỗi người.

***

 

BUỔI TỌA THIỀN NGÀY THỨ BA (Tuần lễ cuối hạ 2007)

Hôm nay, nhắc lại câu chuyện trong nhà thiền để tất cả huynh đệ đồng nghe, nhớ lại viên ngọc quý của mỗi người hay còn gọi là hòn ngọc quí của đấng Quân Vương.

Vua Đường Trang Tông, là vị vua có tham thiền học đạo. Trên đường đi Hà Bắc trở về đến Ngụy Phủ. Nơi này có Hành cung nên vua ghé lại nghỉ. Vua cho sứ đến mời Thiền sư Hưng Hóa Tồn Tương đang ở gần đó. Vua hỏi:

- Trẫm vừa thâu Trung Nguyên, nhận được hòn ngọc quý nhưng chưa từng có người trả giá.

Ngài Hưng Hóa mới nói:

- Vậy xin bệ hạ cho xem!

Vua mới lấy hai tay vuốt từ đầu tới chân.

Thiền sư Hưng Hóa nói:

-  Ngọc quí của Quân Vương ai dám trả giá!

Một câu chuyện đơn giản nhưng rất thấm thía. Vậy hòn ngọc này là hòn ngọc gì mà không ai dám trả giá? Theo thế gian, ngọc quý mấy cũng có giá của nó, còn viên ngọc ở đây không ai dám trả giá. Vậy hòn ngọc này là hòn ngọc gì mà vô giá vậy?

Để hiểu được ý này, chúng ta đọc qua một giai thoại nữa. Có một vị Tăng hỏi Ngài Tào Sơn:

- Ở trên thế gian vật gì là quý nhất?

Ngài Tào Sơn mới đáp:

- Cái đầu con mèo chết!

Tăng mới thưa:

- Cái đầu con mèo chết vì sao mà quý?

Ngài mới bảo:

- Vì không ai trả giá.

Trong nhà thiền chúng ta đọc, nghe, phải hiểu ý ngoài lời nói. Ở đây hỏi là vật gì quý nhất thế gian? Nếu người thông thường sẽ nói là vàng ngọc, châu báu, kim cương, vật có giá trị cao quý. Nhưng với Thiền sư là muốn chỉ cái thật ngược đời nên mới bảo cái đầu con mèo chết, để cho người nghe thắc mắc. Nhưng chính cái thắc mắc đó là Ngài gài vào để gợi ý, khai thị cho những gì Ngài muốn chỉ. Vì khi nghe rồi người ta thắc mắc liền, tại sao cái đầu con mèo chết mà lại quý? Khi đáp, ý của Ngài không phải ở chỗ cái đầu con mèo chết, mà ở chỗ không ai trả giá. Chỗ đó mới là chỗ quý.

Không ai trả giá tức là không có cái tâm tới lui, mắc rẻ như mua đồ phải trả giá tới lui. Cũng vậy, tâm chúng ta khi học đạo cũng có trả giá, nghe pháp cũng có trả giá. Chính chỗ trả giá này nên khi nghe chúng ta không thể nghe sâu được, học đạo cũng không học sâu được, vì học theo tâm tình của thế gian. Phải hiểu kỹ chỗ này mới thấm được hòn ngọc quý mà vua muốn nói: ngọc quý chưa từng ai trả giá.

Như vậy, vua Đường Trang Tông có trình được hòn ngọc quý cho Thiền sư Tồn Tương, khi Ngài bảo muốn xem hay không?

Khi vua lấy hai tay vuốt từ đầu đến chân là trình rồi. Còn Thiền sư có thấy được hòn ngọc vô giá đó hay không mà bảo: “Ngọc của Đấng Quân vương không ai dám trả giá”. Chúng ta cần nghiệm kỹ chỗ đó.

Theo tinh thần của nhà thiền chỉ nói mà không giải thích, nói gợi ý cho người tự nhận cái của mình, hiểu bằng chính cái hiểu của mình, không phải giải thích vì giải thích cũng như trả giá vậy.

Ý này cũng gần với ý của một câu chuyện Nhật Bản: Có cô Ohashi, cha cô là thuộc hạ của một vị tướng quân. Một thời gian sau ông bị sa thải, nên gia đình rơi vào hoàn cảnh cùng quẫn nghèo khốn. Túng quá, nên người cha đã bán cô làm kỹ nữ. Do vì cô có sức quyến rũ lại thông minh giỏi giang, không bao lâu cô trở thành một kỹ nữ nổi tiếng. Nhưng trong nội tâm cô luôn có sự buồn bã chán nản, không chấp nhận hoàn cảnh kỹ nữ của mình, do vậy càng ngày tinh thần cô càng mòn mỏi.

Một hôm, có một vị khách để ý mới hỏi cô chán nản điều gì? Tại sao cô rơi vào hoàn cảnh như vậy? Cô kể cho ông ta nghe về hoàn cảnh bất hạnh của mình. Người khách bảo:

- Bệnh cô như vậy là phải rồi, muốn chữa bệnh này thì phải tốn một ngàn lượng vàng. Tuy nhiên, có một lối thoát khỏi nó nhưng tôi nói sợ cô không tin!

Cô mới nài nỉ:

- Nếu như ông nói thật, sao tôi lại có thể nghi ngờ được! Xin làm ơn dạy cho tôi đi!

Người khách này chắc đã từng tham thiền học đạo, nên cũng có phương tiện để chỉ dạy cho cô. Người khách mới nói:

- Trong toàn thân của cô, không có cái gì là không do tri giác hoạt động. Tri giác là cái biết - tri giác có ông chủ. Bất cứ làm việc gì ngay cả khi vội vã, hấp tấp thì cô cũng nên nhìn lại ông chủ bên trong đó. Cái gì thấy? Cái gì nghe? Nếu cô quán chiếu được một cách miên mật không lơi lỏng thì Phật tánh sẵn có nơi cô sẽ bất chợt xuất hiện - Phật tánh tức là tánh giác - Khi cô đạt tới tình trạng này, đó là con đường tắt để giải thoát khỏi cảnh giới đau khổ.

Cô nghe liền tin vào lời của ông khách rồi cô âm thầm quán chiếu. Sau một thời gian, cô đạt đến trạng thái chú tâm miên mật. Tâm cô luôn theo dõi chỗ miên mật đó, liên tục giống như gần thành khối.

Có một đêm trời giông bão kinh khiếp, sấm sét khốc liệt. Cô lại rất sợ sấm, nên thu mình dưới những cái mền cùng với người tớ gái. Trong khi đó, cô cũng thình lình nhớ tới bài học này, là luôn luôn quán chiếu cái thường biết ngay nơi mình, cô dẹp cơn sợ qua một bên. Cô liền ngồi dậy thì bất ngờ có một làn sét đánh vào trước sân nhà, với sức ép của nó khiến cô té ngã bị ngộp thở.

Khi tỉnh trở lại, cô phát hiện tri giác của mình có một cái gì đó khác thường, không thể nói hết. Cô tự mình cảm thấy có một niềm vui thật là khó tả.

Sau này, khi có người chuộc cô ra khỏi kỷ viện. Cô mới tìm đến Thiền sư Bạch Ẩn trình bày về công phu của mình. Cô được Thiền sư Bạch Ẩn chỉ dạy thêm. Từ đó về sau cả cuộc đời còn lại, cô sống trong ánh sáng của sự tỉnh thức.

Đó là câu chuyện nhắc nhở chúng ta. Một cô kỹ nữ với tâm hồn không được thanh tịnh mà còn thực hành tỏa sáng được. Còn tất cả chúng ta là những bậc tu hành giải thoát có tâm hướng đến sự giác ngộ, tại sao không làm được?

Chúng ta học, nghe rồi quán chiếu trở lại cái này rất rõ ràng thực tế, toàn thân của mỗi người đều có cái biết hiện hữu, nó luôn hiện hữu nơi chính chúng ta. Hòa Thượng Tôn Sư thường nhắc Chân Tâm Hiện Tiền.

Ở trên, vua Đường Trang Tông trình hòn ngọc là ông vuốt từ đầu đến chân, vuốt đến đâu thì biết đến đó. Vậy nó có che dấu được mình hay không?

Cũng như ông khách dạy cho cô Ohashi là: Toàn thân cô không có cái gì là ngoài cái tri giác hoạt động, tức là chỗ nào cũng đều có cái nhận biết. Còn vua Đường Trang Tông không nói như vậy, chỉ hành động bằng cách vuốt thôi, chứ không giải thích.

Như vậy, thay vì chúng ta thường nhìn ra ngoài, giờ hãy nhìn lại bên trong. Nhìn trở lại cái thể biết bên trong nó thường biết liên tục không gián đoạn, đó mới là cách tu thiết thực, chứ không phải do nghe hiểu hoặc học hiểu mà nhận sống được với nó. Nếu nghe hay học hiểu thì vẫn còn trên cái trả giá. Chúng ta phải thực hành miên mật, quên đi niệm so đo nghĩ ngợi, không còn trả giá nữa. Khi công phu liên tục không gián đoạn như vậy, bất chợt đụng vào chỗ đó chính là niềm vui không thể nghĩ bàn, mới là chỗ sống chân thật của mình.

Khi thiền quán đến chỗ này, mới thực sự là công phu thiết thực. Đó là lẽ thật, không phải chỉ giải thích trên ngôn ngữ cho hiểu.

Pháp sư Từ Lô, có một bài tụng nói về ý nghĩa này:

Tai nghe mắt thấy nương sức nào?

Chớp nhoáng nhướng mày cũng là y.

Nếu thiết tha về, về liền được.

Chớ cho trôi dạt chốn quê người.

Nghĩa là tai nghe mắt thấy cũng là nó. Chớp mắt nhướng mày cũng là y. Chỉ cần bao nhiêu đó thôi, nếu như chúng ta sống với nó liên tục không gián đoạn thì chạm vào được chỗ này, sẽ có niềm vui không ngờ. Rõ ràng tai nghe mắt thấy nương sức nào mà có việc đó? Lỗ tai thì không biết nghe, con mắt cũng không biết thấy.

Lâu nay, chúng ta cứ nghĩ tai nghe mắt thấy, đó là cái hiểu tầm thường của thế gian chưa phải sự thật. Vì lỗ tai chỉ là hai miếng thịt không thể nghe được. Rồi con mắt cũng là hai miếng thịt, tròng mắt cũng là hai cục thịt. Trường hợp nó bị bệnh thì chúng ta cắt bỏ. Sự thật nói mắt thấy chứ nó không thể thấy được. Vậy cái gì thấy trong đó, nên mới nói “nương sức nào”, rồi “chớp mắt nhướng mày cũng là y”. Nên Ngài Từ Lô nói nếu chúng ta thực sự hết lòng “thiết tha về, về liền được”. “Chớ để trôi dạt chốn quê người”, đừng làm cùng tử lang thang trôi dạt nơi xứ người. Chúng ta phải thiết tha về, thì về liền được thôi.

Hôm nay, xin nhắc nhở Đại chúng chỗ này. Tất cả Đại chúng phải thật thiết tha trở về! Mong tất cả trong giờ tọa thiền này được kết quả tốt đẹp.

***

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 41577
  • Online: 21