Nói Thêm Về Cái Biết Sờ Sờ

09/10/2026 | Lượt xem: 5

HT.Thích Thông Phương

Thứ nhất, đôi khi có người hiểu lầm Cái Biết Sờ Sờ hiểu méo mó thành cái biết của bản năng, cái biết của thức chấp ngã.

Thứ hai, hiểu rõ chỗ này rồi mới thấy sâu được tinh thần của Ngài Lâm Tế. Trong Lâm Tế Ngữ Lục, Ngài thường nhấn mạnh tới lui về người đang nghe pháp sờ sờ trước mắt của các ông, nếu không hiểu kỹ sẽ thành méo mó.

Cũng như điều thứ ba là, hiểu kỹ điều này rồi thì vào trong Huyết Mạch Luận sẽ hiểu chính chắn hơn.

Mới đầu vào Huyết Mạch Luận, là nêu lên tâm mà chính là các ông đang hỏi ta đó, nếu người nghe không khéo sẽ hiểu lệch lạc. Bởi vì từ ban đầu, ý tôi nói Cái Biết Sờ Sờ là thấy sao nói vậy, nhưng khi có điều kiện đưa lên báo, các vị có trách nhiệm biên tập nói rằng: Nói như vậy có vẻ mộc mạc thiếu văn chương, nên mới đổi lại là Chân Tâm Sờ Sờ, là thêm một lớp chữ nghĩa rồi. Vậy mà lên Tòa soạn vẫn chưa chịu, đổi thành Chân Tâm Thường Hiện Hữu.

Để thấy người trí thức bên ngoài kẹt trên lý thuyết có lúc thành sở tri chướng. Bởi Nói Cái Biết Sờ Sờ là chồng lên cho nó một lớp chữ nghĩa rồi, nguyên nó không có tên mà đặt tên là nó có cái tên rồi, chồng thêm từ Chân Tâm nữa thì phủ thêm một lớp văn chương, cuối cùng là phủ cả hai, ba lớp. Cho nên nếu nói theo Ngài Lâm Tế là mặc cho nó ba lớp áo hơi dầy, như ở xứ lạnh này mỗi người mặc áo thun rồi áo len ngoài, áo gió, mấy lớp như vậy, càng che nó càng sâu.

Cho nên, người nhiều tri thức đôi khi có chướng ngại. Những người trí thức lại thích văn chương, nghe ai nói chữ nghĩa thường thì ít chấp nhận. Nhưng đối với các Thiền sư xưa, các ngài nghĩ sao, thấy sao, thì nói vậy chứ không có lựa lời.

Như có người hỏi 'Vô vị chân nhân là cái gì?' Ngài Lâm Tế nói: "Cục cứt khô". Ngài nói vậy thì theo kiểu văn chương bác học không bao giờ chấp nhận được. Lên giảng đạo mà nói kiểu đó là nói thô, trong khi Thiền sư giảng cốt là phải nhận thấu được lẽ thật.

Cho nên, nói Chân Tâm Sờ Sờ đúng ra nó biết sờ sờ nên nói biết sờ sờ vậy thôi đừng thêm gì nữa, còn thêm cái này thêm cái kia nữa là bị kẹt. Thế nên đừng làm ra vẻ thông minh với nó, làm ra vẻ thông minh với nó thì nó càng chướng. Bởi đôi khi đem tâm phân biệt rồi lý luận thì kẹt trên cái phân biệt lý luận. Cũng như câu chuyện: Cá Vàng Nhảy Khỏi Lưới.

Hòa thượng Minh với Hòa thượng Thâm, hai ông đi tới chỗ sông Hoài thấy con cá trong lưới nhảy ra, Hòa thượng Thâm nói:

- Giỏi thay giống như là một nạp Tăng.

Nhưng Hòa thượng Minh không chịu, nói:

- Không có gì giỏi, nếu giỏi thì trước đừng vào lưới hay hơn.

Ngay đó, Hòa thượng Thâm bảo:

- Huynh Minh còn chưa hiểu.

Hòa thượng Minh nghe cũng chưa tỉnh, về đến quán trọ nằm tới khuya mới tỉnh ra lời của Hòa thượng Thâm.

Theo bình thường chắc ai cũng thấy lời Hòa thượng Minh hay, nói là: Thay vì nhảy vào lưới rồi nhảy ra, như vậy tốn công! Chi bằng trước đó đừng vào, ở ngoài thảnh thơi tự tại sướng hơn không?

Nghe trên lý luận ai cũng chịu hết. Ở ngoài tự tại hơn, nhảy vào đó chi để vào tròng rồi nhảy ra! Nhưng kiểm lại thì chưa đúng.

Nghĩa là, dù cho nói hay cách mấy, dẫu lý luận ở ngoài thảnh thơi tự tại sướng hơn nhưng hiện thực thì đang nằm trong lưới đây, đang nằm trong lưới mà lý luận cách mấy cũng đang nằm trong lưới. Tất cả mọi người kể cả chính mình cũng đang nằm trong lưới, giờ ở trong lưới mà nhảy ra được đó mới là hay, mới là thực tế.

Đang ở trong phiền não, đang ở trong vô minh mà vươn lên tỉnh ra được thì đó mới là hiện thực, còn ngồi đây nói: chi bằng xưa đừng nhảy vào hay hơn, chỉ ngồi đó luận nhưng cũng còn nằm ở trong lưới, thực tế là như vậy. Đây là bị lý luận gạt.

Nói vậy, để huynh đệ hiểu rõ ràng không mắc kẹt trên những tri thức lý luận, chính tri thức lý luận đó nhiều khi thành chướng, trong nhà Phật gọi là sở tri chướng. Có khi chúng ta lại đem tâm phân tích, so sánh để hiểu thì nó cũng thành ra cái gọi là lý luận chia chẻ. Thí dụ như Cái Biết Sờ Sờ, nếu đem tâm phân tích rồi so sánh mà hiểu thì nó lại không còn sờ sờ nữa, mà thành ra cái biết của phân tích hoặc là cái biết của bản năng.

Cho nên có người nói biết sờ sờ giống như là cái biết của bản năng. Thì đó là đem tâm so sánh phân tích. Chính chỗ đó là chỗ nhiều khi bị lầm rồi lại hài lòng trên lý luận phân tích của mình.

Như câu chuyện Tô Đông Pha với Ngài Phật Ấn. Ngài Phật Ấn đem tâm như Phật nhìn ông Tô Đông Pha nên thấy ông Tô Đông Pha giống như Phật. Trái lại, ông Tô Đông Pha đem tâm như cục cứt trâu nên nhìn Ngài Phật Ấn giống như cục cứt trâu. Cũng vậy, nếu đem tâm như Phật nhìn thì thấy nó là cái biết sờ sờ, nếu đem cái tâm như cục cứt trâu mà nhìn thì nó là cái biết của bản ngã, cái biết của bản năng, cái biết của cái thức chấp ngã, đơn giản vậy.

Nên đây đi vào đề là Cái Biết Sờ Sờ hay là Thông Điệp Để Lại Cho Đời Muôn Thuở, các huynh đệ thấy là có ý muốn nói lên, muốn nhắn lại mãi mãi về sau này đây là một lẽ thật, chân lý vô thủy, vô chung được xác định một trăm phần trăm như vậy.

Nói đến tâm hay là cái biết thì chúng ta ai mà không có, dù là kẻ thông minh hay là người ngu độn, kẻ câm điếc hay mù lòa, tàn tật, cả đến cái kẻ say rượu, người điên cuồng đã sinh ra đời ai ai cũng đều có đủ như nhau. Nếu không thì đã thành khúc cây hay hòn đá còn đâu.

Vừa mới sinh ra liền biết oa oa khóc ré lên rồi, lúc khát sữa biết đòi bú, tiếp theo biết bò, biết đi, biết nói. Hơi lớn lên thì biết buồn, biết giận, biết yêu, biết ghét, biết hơn, biết thua, cho đến trong cơn thập tử nhất sanh vẫn còn biết sợ, biết trối trăn. Có thể nói từ lúc mới sinh ra cho đến khi sắp chết, cái biết này chưa từng thiếu vắng với chúng ta bao giờ. Thành ra mới nghe thì ai cũng nghĩ rằng đó là cái biết của bản năng là cái biết sanh diệt. Hiểu như thế là hiểu theo kiểu so sánh phân biệt, không thấy được hết ý.

Nhớ kỹ! Đây là nói cái biết tinh thuần, cái biết nguyên vẹn tự thuở nào, nó nguyên vẹn biết là biết, phải thấy như vậy! Còn đem cái biết xen cái ngã trong đó để mà hiểu thì không phải.

Mới thấy từ khi sanh ra cho đến ngay hiện giờ, nó luôn luôn có mặt. Nghĩa là mới sinh ra có cái biết đó, cho đến cuối cùng gần chết thì nó cũng luôn hiện hữu, nhưng vì chúng ta thường sống theo tướng sanh diệt nên không thấy thấu được chỗ nguyên vẹn đó. Nếu thấy thấu được chỗ đó thì rất là đơn giản.

Cũng như huynh đệ đọc bài Tâm Bất Sinh của Ngài Bàng Khuê, Ngài nói rất rõ chỗ này. Như có đoạn Ngài nói rằng: "Trong tất cả quý vị tập trung tại đây hôm nay, thì không một ai là chưa giác ngộ. Mỗi người ở đây đều là một vị Phật, bởi thế, hãy lắng nghe cho kỹ, cái mà tất cả quý vị thừa hưởng của cha mẹ từ lúc mới lọt lòng, chỉ là cái tâm Phật bất sinh thôi. Không có cái bẫm sinh nào khác ở nơi quý vị. Cái tâm Phật mà quý vị có từ lúc cha mẹ mới sinh ra thật sự là bất sinh, và chiếu sáng một cách kỳ diệu. Và hơn thế nữa, với cái bất sinh này thì mọi sự đều được thu xếp một cách hoàn toàn ổn thỏa. Bằng chứng về điều này, là trong lúc mà tất cả quý vị đang lắng nghe tôi nói đây, mà ở ngoài kia có tiếng quạ kêu, tiếng chim sẻ chíp chíp, tiếng gió sào sạt... Dù không cố tình phân biệt những âm thanh ấy, mà quý vị vẫn nhận ra và phân biệt được từng tiếng rõ ràng: Tiếng chim quạ, tiếng chim sẻ, tiếng gió xao cành... Như vậy quý vị nghe mà không lầm lẫn, đấy gọi là nghe với cái bất sinh."

Nghĩa là mọi người ở đây không ai là chưa giác ngộ hết. Ngài nói từ lúc đó chỉ là tâm Phật bất sinh thôi. Với tâm bất sinh đó thì mọi việc được thu xếp một cách ổn thỏa khỏi cần chúng ta xen vào.

Ngài nói rất rõ là mọi người đang ngồi đây chú tâm nghe giảng, đâu cố ý nghe bên ngoài, nhưng bên ngoài có tiếng gì đều nghe hết không cần tác ý.

Ngài nói cái nghe đó là cái hiện của tâm bất sinh. Nhưng thường chúng ta không nhận ra cái đó mà lại chú ý theo cái bị nghe, chỉ theo duyên rồi bị cái duyên chuyển. Còn hiểu rõ nó là Cái Sờ Sờ với tâm vô phân biệt thì lúc nào nó cũng hiện hữu.

Mới thấy, mấy trăm năm trước với Ngài Bàng Khuê đã nói như vậy, giờ chúng ta cảm nhận được thì thấy nó cũng như vậy, đã là chân lý dù cách xa mấy trăm năm nó cũng không khác.

Các huynh đệ kiểm lại, lúc Phật Thích Ca thành đạo thì từ đâu mà thành? Thường nói Phật Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ Đề, nhưng sự thật nếu thành đạo dưới cội Bồ Đề thì chắc giờ mình khỏi tu, mua vé máy bay qua bên cội Bồ Đề ngồi cũng thành đạo được! Sự thật thành đó là thành ở đâu? Tức ngay nơi tâm giác ngộ, ngay nơi cái biết đó mà thành chứ đâu phải cái gì khác.

Ngài Bách Trượng bị Mã Tổ nhéo lỗ mũi rồi ngộ cũng từ đâu mà ngộ? Nếu ngoài cái biết đó ngộ được không? Ngoài cái đó giống như cây đá lấy gì ngộ?

Cũng như Ngài Lâm Tế bị đánh ba lần, sau đó tới chỗ Ngài Đại Ngu. Ngài Đại Ngu khai thị một câu nhẹ thì liền tỏ ngộ. Như vậy ngộ từ đâu? Lúc bị đánh nó có hay không? Ngài Đại Ngu chỉ nói câu nhẹ thôi nhưng nó từ đâu chạy tới mà ngộ. Cho nên, thấy rõ đó là cái vẫn luôn luôn sờ sờ, do nhớ theo duyên nên quên, đến khi nhớ trở lại thì biết nó không mất. Nó là cái luôn luôn có mặt với chúng ta mà không hay.

Hiểu như vậy, mới thấy được ý nghĩa của cái biết luôn luôn có mặt với mỗi người. Cho dù anh là người Việt, người Lào, người Miên hay là người Trung Hoa, người Pháp, người Mỹ hoặc là người Phật giáo, người Thiên Chúa giáo, người Hồi giáo, người Ấn Độ giáo... thì cái biết này vẫn có đủ như nhau, hạng nào cũng có. Bởi nó không phân biệt màu da chủng tộc, không phân chia giai cấp tôn giáo hay đảng phái. Như vậy, tại sao chúng ta lo chạy đuổi tìm hiểu biết, kẽ hở đó tại chỗ nào? Đó là chỗ phải thấy!

Nghĩa là dù cho người da vàng, da trắng, tôn giáo gì nhưng có thiếu cái này không? Sanh ra đều biết khóc, lớn lên biết ăn, biết đòi bú rồi khi gần chết cũng biết sợ trối trăn, thì cái biết nó theo sát như thế nào? Ai cũng đều có đủ hết, không thiếu gì hết. Vậy tại sao còn đi tìm hiểu biết?

Đi học cũng là đi tìm thêm hiểu biết, học đạo cũng đi tìm hiểu biết. Nhưng ở đây có chỗ nào thiếu? Dù cho anh người nào đi nữa khi nhéo lỗ mũi biết đau không? Vậy là nó có mặt. Cái đó có phân biệt màu da chủng tộc gì không? Tôn giáo đảng phái gì không?

Do trên cái biết đó chúng ta lại muốn thêm nên đi tìm cái biết nữa, chính đó là bệnh trên đầu thêm đầu, mà Ngài Nam Tuyền gọi là vọng giác. Trong kinh Pháp Hoa gọi là cùng tử bỏ cha đi lang thang xin ăn. Đó, do chúng ta cứ lo nhìn theo những làn sóng nhấp nhô lên xuống hấp dẫn kia, rồi mặc tình lặn hụp mệt nhoài trong đó, cứ bị hết lượn sóng này tiếp nối lượn sóng kia, lôi kéo chạy mãi không phút giây dừng nghỉ; có khi cơn gió tạm yên những lượn sóng dừng đôi chút, thì chúng ta liền chới với quơ tay tìm kiếm mà quên mất là nước vẫn còn đây. Tại sao?

Nghĩa là cái biết theo tướng vui, biết buồn, biết thương, biết ghét, đó là theo những lượn sóng thuộc về cái dụng phát khởi. Phải khéo ngay cái dụng đó nhận trở lại cái thể liền gặp nhau tất cả. Do chúng ta theo cái dụng nên thành sai biệt.

Cũng từ một cái thể biết đó, do theo cảnh nên nó mới nổi lên sóng phân biệt, mới xô đẩy tiếp nối. Tức là hết cái biết này tới biết kia, rồi theo đó tưởng chừng như là nó có nhiều cái biết. Chính mình tưởng chừng như có nhiều cái biết, đó là những lượn sóng sanh diệt. Thật ra, khi nhận rõ rồi mới thấy tất cả có bao nhiêu lượn sóng đều nằm trong mặt nước; cũng như bao nhiêu những cái biết này, biết kia, nó cũng đều nằm trong cái thể biết vô niệm đó thôi. Đó chính là Cái Sờ Sờ chứ không gì khác.

Cho nên sóng dừng thì nước vẫn là nước, cũng như cái phân biệt lặng thì biết vẫn là biết. Và nó biết sẵn tràn đầy, biết như vậy, thì cái đó nó không bao giờ thiếu vắng, dù nó có đối tượng hay không đối tượng. Còn cái biết thuộc cái dụng trên làn sóng thì nó cần có đối tượng, tức có đối tượng thì mới có biết, không đối tượng thì nó không biết, nên nó dừng. Còn cái này có đối tượng hay không đối tượng nó vẫn biết. Như vậy, mới thấy được cái thể biết, không thì chỉ nghe như vậy rồi cứ trên cái tướng biết đó so sánh thì có sai biệt, có nhiều thứ, có sanh diệt.

Quả thật, chúng ta đáng thương vô cùng! Hãy nhìn kỹ xem nếu bảo không có nó, thì khi gió thổi cảm nghe mát rượi làn da, đó là gì? Ngay khi này chúng ta có suy nghĩ chi đâu, nhưng nó vẫn hiện bày không ai ngăn cản được. Còn khi đang đi bình thản, bất chợt nghe tiếng gọi tên mình liền quay đầu ngó lại, đâu có suy nghĩ gì phải không? Vậy có cái gì ở trong đó mà khiến ra như thế? Và đây nữa, khi nghe tiếng bảng đánh lên cũng nào có suy nghĩ gì đâu, thì sao lại biết mặc áo đi ăn cơm, có cái gì kỳ đặc ở trong đó? Do người không nhận rõ được chỗ đó, rồi nói rằng đó là do bản năng hàng ngày nên không thấy hết được cái thật trong đó.

Hoặc là có khi đang đi có nhánh cây gẫy xuống liền biết nhảy tránh. Nhìn theo Duy thức học thì nói rằng đó là cái thức chấp ngã phản xạ. Nếu nhìn như vậy thì cũng chưa thấy hết được chỗ này. Nếu nó chỉ là cái thức chấp ngã hoặc là cái biết bản năng thôi thì nó không có gì thêm nữa, chắc là chúng ta khó mà tu tiến được!

Như Ngài Út Sơn Chủ khi cởi ngựa đi qua cầu té giựt mình, liền ngộ thì sao? Trong đó ngộ được cái gì? Nếu đem tâm phàm hiểu thì nó cũng theo phàm tình, còn đem tâm vô phân biệt thì thầm nhận trong đó có Cái Sờ Sờ.

Nếu khi té vậy đó, mà Ngài nhớ tới cái ta này thì có ngộ nổi không? Cho nên lúc ấy tâm Ngài đang chuyên vào một vấn đề, nên khi té vậy bất thần quên cả trời đất, quên cả luôn cái ta này cho nên mới ngộ. Ngay khi đó còn nhớ tới cái này thì khó ngộ được.

Cũng như những khi ngồi thiền yên lặng, tâm vắng bặt mà nó vẫn sáng ngời, vẫn biết thì lúc đó đâu còn nhớ tới cái thân này, đâu còn nhớ cái ta nên mới sáng được điều đó. Ngay lúc đó mà nhớ cái ta này thì nó liền tối trở lại, cho nên phải hiểu được điều đó, không sẽ lầm cái này qua cái kia thành méo mó.

Lâu nay, chúng ta đã sống mà chưa từng biết sống chi cả, chỉ sống bằng cái sanh diệt chập chờn không đâu; sống bằng những cái bóng dáng ở nơi nào của thuở ấy, mà chưa bao giờ sống được với cái đang là, cái gọi là hiện tiền sáng rực nơi ta. Đó, là chỗ người xưa bảo chỉ sống với vọng thức mà bỏ quên chơn thức.

Chính chỗ đó mà thấy được chỗ này, thì huynh đệ mới thấy những đoạn đối đáp của các Thiền sư ngày xưa đã đánh thức cái đang sờ sờ, cái đang hiện hữu đó. Do chúng ta thường sống với những cái bóng dáng đâu đâu nên quên mất cái đang hiện hữu.

Ở nơi nào của thuở ấy là cái gì? Dụ như vừa mới đến học đạo thì hỏi: - Ông ở đâu đến? Liền nhớ ở Cần Thơ, Sóc Trăng, Châu Đốc hoặc Hà Nội đến, tức là đang đứng đây nhưng nhớ tới Cần Thơ, Hà Nội gì đó phải không? Là đang sống với cái gọi là ở Hà Nội hoặc ở Cần Thơ, nên quên mất cái đang đứng đối diện hiện tiền đây. Các Ngài hỏi cái gì đang ở đây, đâu cần hỏi tới mấy chỗ kia nhưng chúng ta thường mắc kẹt chỗ đó. Khi đáp tôi ở Cần Thơ là trong đầu đang nhớ tới Cần Thơ, quên mất cái đang đứng, vậy là quên mất cái sờ sờ. Cho nên Ngài Triệu Châu gặp trường hợp đó thì bảo: “Uống trà!”

Chính chỗ đó, Ngài Triệu Châu rất khéo léo mà ít ai thấy được ý của Ngài. Từng đến đây chăng? Bảo: Chưa từng đến. Thì bảo: Uống trà đi! Còn hỏi từng đến đây chăng? Bảo: Từng đến. Thì cũng: Uống trà đi! Từng đến rồi còn nói gì nữa cho nên uống trà đi là xong. Thấy được cái đó mới thấy được cách uống trà của Ngài Triệu Châu. Nhiều khi đọc thấy tưởng đâu Ngài nói đâu đâu không. Cho nên ở đây nói là quên cái hiện tiền mà sống với cái vọng thức là như vậy.

Vọng thức tức nhớ tới những chuyện ở đâu mà quên mất chơn thức, nhưng sự thật thì nói vọng thức hay chơn thức đều là một tên, đồng một cái thể biết đó thôi. Thức tức là biết, nếu mà thiếu cái biết thì không gọi là thức, vậy là vọng thức hay chơn thức đồng cái biết. Nhưng cái biết theo duyên rồi quên mất chính nó thì gọi là vọng thức. Còn biết tất cả mà không xen lộn cái gì hết tức là chơn rồi. Hai cái tên nhưng đồng một thể, do mắc kẹt trên cái tên nên có khi bỏ cái này để nghĩ đến cái kia.

Tuy nhiên, từ trước đến giờ chúng ta đã bị những danh từ che mờ quá nhiều mà không thông được nghĩa thật. Nghe nói là vọng thức, chơn thức, hoặc thức này thức nọ như là sáu thức, tám thức rồi cứ lo định nghĩa những danh từ đó, nào có thấy đâu là sự thật.

Khi học Duy thức, thường định nghĩa năm thức trước là Tiền ngũ thức, tức là năm căn. Rồi lục thức là thức phân biệt. Mạt-na thức là thức chấp ngã. Bát thức là tàng thức tức cái thức chứa.

Lo định nghĩa danh từ nhưng không biết cái gì là thể của thức? Sự thật dù cho nói tám thức đi nữa, nhưng cũng là một cái thể biết đó thôi, ngoài cái thể biết đó không có tám thức. Nghĩa là thức thứ sáu cũng có mang cái thể biết đó, năm thức trước cũng mang thể biết đó, cái thức chấp ngã cũng mang thể biết đó, rồi tàng thức cũng mang cái thể biết đó, tất cả trong một cái thể đó thôi, nhưng cứ lo định nghĩa trên một danh từ nên bị danh từ chuyển.

Rốt cuộc định nghĩa mãi nhưng khi hỏi: Cái gì là cái thể thức? Không biết. Cốt là thấy ngay cái thể thức đó thì biết hết mọi cái thức kia. Cho nên kinh Lăng Già có một câu gọi là: “Thức chẳng hoại có tám.”

Thường nghe nói thức là sanh diệt, có sanh, có hoại, còn trong đó gọi thức là chẳng hoại có tám, tức có tám thức chẳng hoại. Là sao? Ngầm chỉ rõ trong tám thức đó đều mang sẵn cái thể bất sanh bất diệt, bất hoại, cho nên gọi thức chẳng hoại có tám. Tức tám thức đó chỉ trên cái tướng tạm chia thôi, còn cái thể nó vẫn là một. Do con người mắc kẹt trên danh từ phân biệt rồi chia chẻ, càng chia chẻ thì càng xa, rốt cuộc không hiểu đâu là thức.

Chúng ta phải nhận rõ cái gì là thể của tám thức đó, thấy được là xong. Nếu lo phân biệt danh từ rốt cuộc không thấy gì hết. Nói gọn cho dễ hiểu là giờ đây chúng ta hãy gạt qua hết những danh từ phiền phức, không mắc kẹt cũng không nói chơn hay nói vọng nữa.  

Tóm lại, hai phần đơn giản cho dễ nhận, một phần là nổi. Phần nổi biểu hiện ra bên ngoài mà chúng ta hằng sống bấy lâu nay. Phần này năng lực của nó rất hạn cuộc nhỏ nhoi không đáng kể, nhưng chính chúng ta lại lấy cái đó làm lẽ sống quan trọng nhất của đời mình, thiếu nó coi như thiếu sự sống của mình. Do những cái thức biểu hiện ra các căn, biết phân biệt các trần, chúng ta sống là sống với những cái đó, nên thiếu những cái đó giống như mình không còn sống.

Thêm nữa là cái thức chấp ngã tức thức thứ bảy, tức thức luôn ngầm ngầm nghĩ có một cái ta để tựa, nếu mất đi không còn chỗ tựa thì nó liền hoảng hốt, mà hoảng hốt thì nó chạy tìm để nắm bắt. Đó là cái giới hạn.

Như câu chuyện về Tăng Vô Căn, ông tu thiền với Thiền sư Diệu Không cũng kha khá, mỗi lần nhập định đến mấy ngày. Một hôm, ông ngồi nhập định im lìm bất động mấy ngày, chư Tăng trong chùa tưởng đâu ông chết mới đem thiêu. Qua mấy ngày sau, thần thức của ông lại xuất định tìm thân thể không được, vì hết chỗ nương.

Ngay chỗ đó, biết ông tu mới kha khá chứ chưa thật là khá, vì nếu thật khá thì khỏi cần phải tìm thân.

Vì tìm thân không được, do đó mỗi đêm ông hiện về phòng mình phát ra những lời rất bi thảm: “Ta ôi! Ta ở đâu? Ta ôi! Ta ở đâu?”

Tăng chúng bất an, không ngủ được.

Một hôm, Thiền sư Diệu Không là bạn của ông nghe được việc này, nên Ngài đến chùa và nói với đại chúng: “Tối nay, tôi ở trong phòng của ông Vô Căn sẽ nói chuyện với ông ấy. Xin quý vị chuẩn bị cho tôi một thau lửa, một thùng nước, tôi sẽ làm cho ông ta hiểu rõ cái gì là ta”.

Chư Tăng chuẩn bị đầy đủ theo yêu cầu. Thiền sư Diệu Không vào trong phòng ông Tăng Vô Căn ngồi chờ đến đêm khuya. Thần thức của Tăng Vô Căn lại hiện về tìm thân, kêu lên những tiếng thê thảm “Ta ôi! Ta ở đâu? Ta ôi! Ta ở đâu?”.

Thiền sư Diệu Không nghe, mới bình thản chỉ dưới đất nói: “Ông ở trong đất đó”. Thần thức Tăng Vô Căn có khả năng xuyên qua đất lửa..., mới chui vào đất để tìm. Tìm Đông tìm Tây một lúc không ra, mới trồi lên buồn bã nói: “Trong đất không có Ta”.

Thiền sư Diệu Không mới bảo: “Vậy là ở trong hư không. Ông hãy vào trong hư không tìm xem!”. Thần thức của ông Vô Căn cũng đi vào trong hư không tìm, một lúc cũng nói là: “Trong hư không không có Ta, vậy Ta rốt cuộc là ở đâu?”.

Thiền sư Diệu Không mới chỉ vào trong thùng nước, bảo: “Vậy là chắc ở trong thùng nước này rồi, vào trong thùng nước đi!”. Thần thức của Tăng cũng đi vào trong thùng nước, tìm một lúc cũng buồn bã đi ra nói: “Ta ở đâu ư? Trong thùng nước cũng không có Ta”.

Thiền sư Diệu Không mới chỉ vào trong thau lửa, bảo: “Chắc là ở trong lửa thôi”. Thần thức của Tăng Vô Căn tiến vào trong lửa, nhưng tìm cũng không được. Cuối cùng, Thiền sư Diệu Không bảo: “Như vậy, ông đã vào trong đất, vào trong nước, vào trong lửa, rồi ông còn tự tại vào trong hư không nữa. Được vậy rồi, ông muốn cái gì nữa? Ông còn muốn cần cái thân nhơ nhớp kia hay sao! Đó là cái xác mà nơi nơi không được tự tại, thì cần nó để làm gì?”.

Đến đây thần thức Tăng Vô Căn này chợt tỉnh, ngay đó liền biến mất. Từ đó về sau hết còn trở về làm Tăng chúng bất an nữa.

Cho nên chính đó là cái thấy lầm lẫn nhiều đời của chúng ta, nhiều khi đọc sách đến những vị chết oan vẫn còn đi tìm thân, chẳng hạn như ông Quan Công. Quan Công bị chặt đầu rồi cứ đi đòi đầu, mới gặp Thiền sư Phổ Tịnh khai thị cho.

Bởi vì ông đã lấy biết bao nhiêu cái đầu rồi? Còn ông chỉ mất cái đầu mà đi đòi. Nhưng lúc đang đi đòi đầu thì đó là ai đòi đầu? Cho nên nhà thiền cũng có câu chuyện của Ngài Đặng Ấn Phong nhưng ít nghe:

Có lần Ngài Đặng Ấn Phong thiêu chết một vị Tăng. Một hôm, ông Tăng chết hiện hình về đòi:

- Hãy trả mạng lại cho ta! Hãy trả mạng lại cho ta!

Ngài Đặng Ấn Phong nghe biết, mới bảo:

- Ông đã chết hay chưa? Ông đòi mà ông chết hay chưa?

Vị Tăng nói:

- Tôi đã chết rồi.

Ngài Đặng Ấn Phong liền bảo:

- Ông đã chết, vậy còn ai đi đòi mạng?

Khi nghe xong, vị Tăng liền biến mất.

Để thấy là vì luôn nghĩ có một cái ta này để nương tựa, nên mất cái ta này là đi tìm mà quên mất chính cái đang đi tìm đó nó đâu có mất. Bởi vì chúng ta thường sống với phần nổi, phần hạn cuộc, nhỏ nhoi, biểu hiện bên ngoài. Còn phần tiềm ẩn bên trong chính là nguồn sống vô biên, là năng lực dự trữ không cùng tận, mà vẫn hằng bỏ quên, chưa từng có giây phút nào nhớ lại.

Chỗ này đơn cử một thí dụ như điện có hai phần: Một phần biểu hiện ra bên ngoài và một phần dự trữ vô biên trong vũ trụ, chúng ta chỉ biết điện ở bóng đèn, ở quạt máy ở radio, ở ti vi, ở tủ lạnh..., ít ai biết đến nguồn điện tràn đầy trong vũ trụ vô biên kia. Cho nên khi chúng ta thấy mất điện liền chạy đi tìm điện, còn đối với các nhà khoa học thì họ biết nguồn điện này luôn có sẵn khắp nơi và họ mới nghiên cứu tạo những phương tiện để tìm ra điện. Xa hơn nữa, họ còn biết khai thác những nguồn điện này thành những năng lực phi thường mà ít ai ngờ tới.

Cũng như con người chúng ta khi tai, mắt này hư, tưởng đâu là mất nhưng sự thật đâu mất. Chỉ mất điện ở con mắt thôi, nó hư phần này nhưng lại dồn qua những phần khác. Mới thấy rõ bộ não trong thân thể con người, giống như một cái máy phát điện, còn các dây thần kinh giống như dây điện dẫn tới chỗ này chỗ kia. Cho nên, khi chỗ này chỗ kia đứt điện thì mất điện, điều này chúng ta thấy rất rõ.

Thí dụ như đau răng đi lấy tủy, là cắt đứt đường điện chỗ đó phải không? Nhờ vậy răng ấy hết đau. Cũng như cắt đứt đường điện trong quạt máy thì quạt hết chạy; cũng như con mắt hư thì nó đứt điện chỗ con mắt thôi, nhưng dồn qua chỗ khác. Cho nên người mù thì lỗ tai họ lại thính hơn, hoặc xúc giác của họ nhạy hơn, có khi họ rờ tiền biết đây là mấy trăm, mấy ngàn. Còn người bình thường mắt sáng khi nhắm mắt lại biểu đưa không biết. Để thấy năng lực đó dồn qua những căn khác chứ không phải mất.

Ở đây, cốt muốn mỗi người phải khéo thấy ngay nguồn phát ra điện, đó mới là khéo. Chính chỗ này là chỗ Ngài Ngưỡng Sơn với Ngài Trung Ấp đối đáp về con khỉ sáu cửa:

- Làm sao thấy được nghĩa Phật tánh?

Ngài Trung Ấp bảo:

- Ta có thí dụ: Cũng như cái nhà có sáu cửa, có con khỉ rồi bên ngoài, bên trong cũng có con khỉ. Con khỉ bên ngoài chạy cửa này cửa kia kêu chóe chóe, thì con khỉ bên trong cũng kêu chóe đáp lại. Nó chạy liên tục sáu cửa kêu như vậy, thì con khỉ bên trong nó cũng đều đáp lại chóe chóe đúng y.

Ngay đó, Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ nói:

- Được rồi! Con hiểu rồi! Nhưng nếu con khỉ bên trong ngủ rồi khi con khỉ bên ngoài muốn gặp phải làm sao?

Con khỉ bên trong ngủ mà con khỉ bên ngoài muốn gặp, làm sao gặp? Thấy được chỗ đó mới thấy được nguồn điện sống.

Ngay đó, Ngài Trung Ấp bước xuống giường nắm tay Ngài Ngưỡng Sơn múa bảo:

- Chóe chóe! Vậy cùng ông thấy nhau rồi!

Ngài mới nói thêm:

- Như con trùng Tiêu Minh làm ổ trên mí mắt con muỗi, nó nhằm ngay ngã tư đường kêu to: "Đất rộng, người thưa, tri âm rất ít." (sách ghi nó rất là nhỏ có thể làm tổ trên mí mắt con muỗi).

  Chính câu đó là câu thấy nhau.

Con trùng mà làm tổ trên mí mắt con mũi là sao? Để chỉ cho chỗ phải khéo thầm hợp, đây không phải là chỗ nói năng diễn tả.

Có con khỉ bên trong rồi có con khỉ bên ngoài, con khỉ bên ngoài kêu thì con khỉ bên trong đáp. Cũng giống như chúng ta, bên ngoài có tiếng thì bên trong nó liền nghe. Hoặc bên ngoài có mùi gì thì bên trong liền ra đáp.

 Nhưng đây thí dụ bên trong nó ngủ rồi thì sao? Phải thấy được chỗ đó. Tức phải thấy được chỗ khi không có duyên mà nó vẫn hiện hữu không mất. Thấy được chỗ đó mới thấy được tột nguồn của thức. Còn nếu chỉ nhìn theo cái đối duyên vậy khi không có duyên thì sao? Thí dụ có tiếng thì nó nghe, không có tiếng thì sao đây? Thấy được chỗ đó thì mới thấy được cái luôn luôn Sờ Sờ hiện hữu nơi mình.

Nghĩa là mình cứ nghĩ rằng có lúc nó mất nó thiếu, cho nên cứ lo tìm, tìm sợ nó không có, không biết rằng cái biết mà nó có đối duyên thì nó là cái biết tạm thời. Còn cái biết mà nó hằng hữu bên mình thì cái đó dù có duyên hay không có duyên nó vẫn có mặt, thì có bao giờ mà nó mất.

Đây cũng vậy, chúng ta chỉ biết sống với phần thức biểu hiện bên ngoài, mà không hề biết đến phần thức thuộc về năng lực tiềm ẩn bên trong, cho nên sự hiểu biết rất hạn chế; và chúng ta cũng luôn phập phồng lo sợ mất nó, thiếu nó, đó là lý do phải luôn chạy săn tìm hiểu biết không thôi.

Nhưng nếu bên trong ngủ rồi thì sao? Phải thấy được cái chỗ khi không có duyên mà nó vẫn hiện hữu không mất, mới thấy được tột nguồn của thức. Còn nếu chỉ nhìn theo cái đối duyên thôi, khi không có duyên thì sao? Không có duyên thì duyên có tiếng nó nghe liền, không có tiếng thì sao đây? Cho nên mới thấy được cái luôn luôn sờ sờ hiện hữu nơi mình.

Đối với chư Tổ là những nhà khoa học tâm linh, các Ngài phát hiện ra và sống được với nguồn sống của bên trong cái thức đó, cho nên các Ngài có những hiểu biết vượt xa hiểu biết tầm thường của chúng ta, đồng thời các Ngài có sức diệu dụng không thể nghĩ bàn.

Các Nhà Khoa học vật chất thì phát minh những điều người ta chưa biết, rồi xác chứng rõ ràng để đem ra dùng. Chư Tổ cũng vậy, các Ngài phát minh những điều mà mọi người chưa biết, rồi cũng ứng dụng vào trong cuộc sống và các Ngài cũng xác chứng một cách rõ ràng ngay chính mình chứ không phải mơ hồ, không phải là lý luận viễn vông hoặc là đợi qua thế giới khác rồi mới chứng minh. Từ đó mới có những diệu dụng trong đó ứng ra, nhưng diệu dụng đặc biệt hơn cả là làm chủ trong sanh tử. Nghĩa là sống tự tại trong sanh tử, dứt những phiền não khổ đau, đó là điều thế gian này ai cũng muốn mà không làm được. Còn các Ngài thấy được chỗ này, phát minh được chỗ này thì làm được điều đó.

Đây mới nói các Ngài cũng là người nhưng các Ngài làm được điều đó, chúng ta cũng là người nên cũng có thể làm được điều đó, tại sao không làm được?

Các Ngài là những nhà khoa học tâm linh, thì tại sao chúng ta lại không như những nhà khoa học tâm linh, khai thác nguồn năng lực dự trữ vô biên đang tiềm ẩn ở phần thức bên trong kia? Vì thế mà chư Tổ hết lòng thương xót, dùng phương tiện này, phương tiện khác để đánh thức cho chúng ta tỉnh lại.

Đó là cái khéo của các Ngài. Nếu muốn biết thì phải lặng lòng nhìn xem các nhà khoa học tâm linh đó hé mở cho thấy nguồn sống tràn đầy vô biên đó.

Đây dẫn đoạn của Ngài Linh Mặc đến Ngài Thạch Đầu.

Ngài Linh Mặc khi đến Tổ Thạch Đầu, duyên không khế hợp nên mới từ giã đi. Tổ Thạch Đầu tiễn Sư đi ra đến cổng, liền gọi to:

- Xà Lê!

Sư liền quay đầu ngó lại.

Tổ giáng thêm một câu:

- Từ sinh đến tử chỉ là cái ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?

Ngay đó, Sư liền thức tỉnh.

Nó vẫn sẵn nơi đây. Nếu không làm sao biết xoay đầu ngó lại.

Khi nghe vậy thì hiểu sao? Cái biết xoay đầu ngó lại ngay đó đủ rồi. Nhưng nếu chỉ nhận cái biết xoay đầu thôi, thì có người nói rằng cái biết xoay đầu cũng là cái biết của bản năng, nghe gọi liền xoay đầu lại. Cho nên, nếu chỉ nhận cái biết xoay đầu đó thôi thì không khéo cũng chưa thấy tột được hết.

Bởi khi bị đứt cái đầu thì cái đó nó còn ở đâu nữa để mà xoay! Cho nên phải thấy thấu trong đó nó có cái gì? Còn chỉ dừng ngay chỗ xoay đầu đó thì coi chừng cũng còn lầm.

Nếu khởi hiểu trên cái xoay đầu đó thì liền bị cái tướng xoay che mờ. Bởi có xoay thì có dừng, mà có xoay có dừng tức là tướng sanh diệt. Khi xoay thì hiện thấy rõ nhưng dừng không xoay thì nó ở đâu?

Nếu chỉ hiểu trên cái xoay đầu thì chưa đủ, phải thấy được con mắt không thể thấy được trong cái xoay đầu đó mới là khéo thấy. Có người nghe vậy tưởng đâu là thấy tướng xoay đó là đủ rồi, mới nói như vậy nó cũng giống như bản năng nghe gọi là xoay, đó là lầm.

Ngài Hoàng Sơn Cốc đến nương với Ngài Hối Đường, khi Ngài xin chỉ cho chỗ thẳng tắt. Ngài Hối Đường bảo:

- Như Khổng Tử nói: Này các trò! Các trò cho là Ta giấu diếm ư? Ta không có giấu diếm gì các trò cả! Thái sử căn cứ vào đâu mà lý luận.

Hoàng Sơn Cốc suy nghĩ đáp.

Ngài Hối Đường bảo:

- Chẳng đúng! Chẳng đúng! Như vậy ông cũng mê muội không biết gì.

Một hôm, ông theo hầu Ngài Hối Đường đi dạo núi nhằm lúc hoa Quế rụng đầy đất. Ngài Hối Đường hỏi:

- Ông có ngửi thấy mùi thơm của hoa Quế chăng?

Ông đáp:

- Dạ ngửi thấy.

Ngài Hối Đường liền chọc thẳng một câu:

- Ta không có giấu diếm gì ông cả.

Ngay đó, ông liền ngộ.

Ngài sống trở lại cái đang hiện tiền muôn thuở.

Hai người cùng đi, rồi hoa Quế nở đầy có mùi thơm thoảng bay. Ngài Hối Đường mới hỏi: - Vậy chứ ông có ngửi thấy không? Hai người cùng đi, ta cũng ngửi, ông cũng ngửi, vậy có giấu diếm gì ông? Ai cũng ngửi thấy thì có giấu diếm gì? Ngay khi nghe đánh thức vậy thì ông liền tỉnh ngộ. Nhưng tại sao ở đây chúng ta nghe hoài mà không ngộ?

Hôm nào bốn huynh đệ vô làm bếp thì mùi thức ăn bay lên, có ai không ngửi! Bốn người đều ngửi hết, có người nào che giấu người nào nhưng tại sao không thấy?

Tại chỉ theo cái mùi thôi, hoặc có người chỉ nhận cái ngửi biết mùi thì cũng chưa đủ. Trước khi đối diện cái mùi đó thì nó ở đâu? Cho nên phải thấy được chỗ đó, phải thấy vượt qua lỗ mũi, còn chỉ căn cứ trên lỗ mũi thôi thì có lúc cũng bị lầm.

Chính chỗ này Tổ Bá Trượng bị Ngài Mã Tổ nhéo lỗ mũi liền tỏ ngộ, hôm sau, Mã Tổ gạn lại:

- Hôm nay ông thế nào?

Tổ Bá Trượng đáp:

- Lỗ mũi con hôm nay chẳng đau.

Mã Tổ mới gật đầu.

Hôm qua thì nắm lỗ mũi nghe đau, mới hỏi rằng ông nói bay mất thì còn cái gì đây? Nhưng nếu chỉ dừng trên chỗ lỗ mũi biết đau thì hôm nay lỗ mũi chẳng còn đau. Nếu hôm nay chẳng còn đau thì nó ở đâu?

 Để thấy chỗ Ngài Bách Trượng ngộ vượt ngoài cái lỗ mũi đó chứ không phải chỉ dừng trên chỗ biết đau. Nếu chỗ đó biết đau thì hôm qua có, hôm nay không có vậy đâu còn sờ sờ? Còn nó sờ sờ, tức nhiên chẳng qua chỗ lỗ mũi này do duyên cái tay nắm đụng thì nó hiện ra chỗ đó, còn nếu cái tay không đụng nó thì nó vẫn hiện khắp hết. Vì không đụng lỗ mũi, mà đụng cái chân thì nhéo cái chân cũng biết đau chỗ cái chân vậy, nên nó đâu phải cố định chỗ lỗ mũi. Cho nên nếu chỉ nhận ở lỗ mũi thôi là chưa đúng.

Thấy được lúc nào nó cũng sờ sờ như vậy, nếu không chỉ thấy một góc cạnh làm sao sờ sờ được! Hiểu rồi huynh đệ mới thấy được hết những ý nghĩa Sờ Sờ trong đó, không lầm với cái gọi là cảm giác. Cảm giác thì nó có sanh diệt, còn cái Sờ Sờ này thì không sanh diệt.

Qua đoạn nữa, huynh đệ thấy nhiều khi chúng ta tưởng đâu mình hiểu, nhưng gạn lại thì chưa chắc.

Trở lại Lục Tổ, khi nghe hai ông Tăng cãi nhau về phướn động và gió động, thì Tổ liền bảo “Tâm nhân giả động”. Chúng ta có ai thấy được ý Tổ không?

Hai ông Tăng chỉ lo đuổi theo cái bóng bên ngoài, mà quên mất cái đang sờ sờ biến động ở đây. Chính cái đó mới là cốt yếu của vấn đề, nếu không có nó thì gió và phướn cũng thành vô nghĩa. Do đó, khi nghe câu này thì hai ông Tăng liền giựt mình, biết đây không phải là hạng người thường mới vào báo cho Ngài Ấn Tông hay.

Chúng ta nghe như vậy, ai cũng nghĩ rằng chính cái tâm của hai ông Tăng đó động, gió phướn đâu có động! Bởi vì Ngài nói không phải gió động, không phải phướn động chính tâm nhân giả động, tức là tâm của hai ông Tăng động.

Nhưng đây đặt câu hỏi lại, nếu không có gió và phướn thì cái biết động nó trụ chỗ nào?

Và thứ hai nữa nếu nói tâm của hai ông Tăng động thì có hẳn vậy chưa? Nếu là tâm của hai ông Tăng động hay là tâm của Tổ động mà Ngài xen vào đó! Phải thấy thêm chỗ này nữa. Hai ông Tăng đang cãi, còn Ngài có dính dáng gì Ngài mà xen vào trong đó! Như vậy, tâm của hai ông Tăng động hay tâm của Tổ động?

Phải thấy lại chỗ này, nhiều khi chỉ nghe ngôn ngữ của các Ngài ghi lại, rồi cũng kết luận tâm hai ông Tăng động. Đây cần phải thấy tột vấn đề đừng hiểu trên chữ nghĩa, ngôn ngữ của người ta. Như vậy tâm ai động?

Đã là gió và phướn chẳng động như Tổ nói, chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, vậy gió và phướn chẳng động thì cớ gì mà tâm động, nó bám vào đâu mà nó động? Nhiều khi chỉ nghe suông nghĩ hai cái đó không động thì tâm động, xin hỏi nó nhằm vào chỗ nào mà động?

Để thấy rõ Tổ rất khéo léo, Ngài đánh thức cái đang Sờ Sờ nơi mỗi người mà mọi người quên, cho nên nghe nói động thì mình tưởng động, mà tưởng động nên bị mê, bị che.

 Chính Ngài muốn đánh thức cái Sờ Sờ đó, mà cái Sờ Sờ thì động cái gì? Cho nên nói tâm động là muốn đánh thức ông tỉnh lại chỗ đó. Khi nghe nói tâm động cũng tưởng động theo luôn, mà cái này cần phải kinh nghiệm, còn lý luận chắc không tới nổi.

Huynh đệ hiểu kỹ chỗ này rồi, mới thấy Cái Biết hay Cái Biết Sờ Sờ đó là cái mà chúng ta phải từ trong tâm chứng nhận mới đúng, còn đem tâm phân biệt so sánh, suy nghĩ hiểu qua nó thì nó cũng thành ra cái phân biệt so sánh, suy nghĩ hoặc nó thành ra cái biết của bản năng, cái biết của thức chấp ngã.

Khi đọc qua ngữ lục hoặc là những lời khai thị của chư Tổ, chúng ta mới thấm sâu được những ý trong đó, còn không chỉ hiểu hời hợt bên ngoài nhiều khi dễ thành méo mó.

Đây nói để các huynh đệ thấy được kỹ hơn rồi khi học qua Huyết Mạch Luận nhận được sâu hơn./.

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Tin mới

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 34331
  • Online: 72