Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức ( Phần 11): Giữ Làm Việc Chúng Tăng

31/01/2018 | Lượt xem: 244

ĐĐ.Thích Khế Định giảng tại TVTL Phụng Hoàng - Đà Lạt

11.Giữ Làm Việc Chúng Tăng

“Phàm có tùng lâm ắt là phải có đại chúng, có đại chúng ắt là có rộng việc, có rộng việc ắt cần phải có đại chúng chấp tác.”

“Phải tiếc vật của chúng Tăng. Trong Đại Luật nói: Giữ vật của thường trụ như giữ tròng con mắt của mình.”

Khó nhất là làm tri khố, thủ bổn, thủ kho, tri sự, phải giữ vật của thường trụ giống như giữ tròng con mắt của mình, nhích một chút là hư con mắt. Khó lắm, không phải chuyện đơn giản, phước cũng đó mà họa cũng đó. Nên phải học kỹ để sau này ra làm việc thì biết mà giữ gìn.

Thiên Hành Hộ nói:

“Có hao tổn của thường trụ, Tam bảo, các vật phải đền trả lại.”

Thầy tôi kể, ngày xưa ở Chơn Không, quý Thầy lớn đều làm tri khố, thay phiên ba tháng một lần. Làm xong rồi, Thầy tôi dành dụm tiền bù lại, bởi vì cũng có hao hụt. Chẳng hạn chúng đến xin này kia, có những cái cho vượt quá giới hạn nên phải bù lại.

Trong quyển Sơn Am Tạp Lục có ghi:

Có vị Tăng Đề Điểm Huệ Châu ở Kính Sơn là đệ tử của ngài Hổ Nham, rất thông minh, có tài làm việc. Nắm giữ mọi việc của thường trụ hơn ba mươi năm, tất cả vàng thóc ông mặc tình phung phí. Có người đem nhân quả nhắc nhở ông, ông nói: “Trọn năm mang sừng, trâu này mang nhiều lắm một cặp thôi chứ có gì đâu.”

Sau này ông bị bệnh tê bại, tay chân co rút giống như con nhím vậy, kéo ra ông đau nhức không chịu nổi. Có một vị lão túc nói: “Trong quả báo tam đồ, năm tháng lâu dài, một cặp này hết rồi đến một cặp khác, đến vô lượng kiếp mang một cặp sừng này đâu chỉ mang một năm mà thôi. Phàm là người trông coi vàng thóc của thường trụ phải nên lấy gương Huệ Châu mà soi lại chính mình. ”

Chẳng hạn thành con trâu để đền nợ thí chủ thì chết đâu phải được sanh làm người liền, tiếp tục thành trâu vô lượng kiếp như thế. Về sau vị Tăng này bệnh, hai tay cong lại như cái sừng trâu, tức là hoa báo hiện ra rồi, chưa nói đến quả báo. Cho nên quý thầy làm việc cho chúng phải cẩn thận chỗ này.

Trong Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 74 có ghi là trong kinh Phương Đẳng, Bồ-tát nói: “Năm tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu và tạo mười điều ác nghiệp ta còn có thể cứu được, chứ lấy đồ, trộm vật của chúng Tăng ta không thể cứu.”

Cổ Đức nói phước chúng như hải, phước lực của đại chúng rất lớn. Thứ hai là những người đến đây cúng dường đâu phải ai cũng giàu. Có những người nghèo khổ đến cúng dường để cầu phước báu nhân thiên, hoặc cầu mai kia được gặp Phật pháp, gặp Tam bảo. Tiền cúng dường đó, rút từ mồ hôi nước mắt của người ta mà mình vào kho tự động lấy, ăn cắp. Ăn trộm của chúng Tăng thì Bồ-tát nói chắc chắn không cứu được. Không phải nhân quả chỉ nói cho vui, đừng nghĩ như vậy.

Trong kinh A Hàm có ghi, sau khi Phật thành đạo, Di mẫu dâng cúng xấp vải cho Đức Thế Tôn, ngài không nhận mà nói rằng muốn phước đức thù thắng thì cúng dường đại chúng. Ngài là bậc Chúng Trung Tôn, ba cõi không ai bằng, mà nhận cũng không có phước bằng đại chúng. Như vậy năng lực đại chúng rất là lớn, cho nên phải cẩn thận.

Có người vào kho nói như thế này: “Tri khố, cho tôi hộp sữa nha, lấy hai hộp cũng được.” Tự nói, tự đáp, lấy hai hộp đi về. Quý thầy thấy đơn giản cho vui vậy nhưng đều nằm trong nhân quả hết. Một trái chanh, một cục đường, cái gì cũng phải chịu khó xin Tri khố. Tự tiện lấy, tự tiện ăn là bị nhân quả hết, không tránh khỏi.

“Phải theo Thầy Tri sự dạy bảo chẳng được trái cãi.”

Ngày xưa, các vị Tri sự đều là những bậc ngộ đạo, có năng lực rất lớn, bị các ngài quở thì hậu quả khó lường. Như ngài Pháp Nhãn, được pháp hội thỉnh làm Trụ trì, ông thủ tọa không nể, ngài rút bồ đoàn đập lên đầu quở: “Ông bảy ngày sau hộc máu chết.” Đúng bảy ngày ông hộc máu chết. Đại chúng vân tập đến quỳ xuống, lúc này mới phục ngài.

Ra làm Phật sự phải có năng lực, còn không thôi ẩn luôn. Bây giờ, có những vị Thầy có năng lực lớn, nhưng vì thương nên nhiều khi không dám quở.

“Phàm rửa rau phải thay nước ba lần. Phàm múc nước trước rửa tay cho sạch. Phàm dùng nước phải xem có trùng không, như có, lấy lụa dày lược qua mới dùng. Bằng tiết nghiêm đông trời lạnh chớ nên lược nước sớm, phải đợi mặt trời mọc. Phàm nhóm bếp chớ nên chụm củi mục. Phàm làm thức ăn chớ nên để móng tay nhơ.”

Tổ dạy rất kỹ. Nhúm bếp không được chụm củi mục, bởi vì củi mục, thường có sâu, kiến nằm bên trong sợ nó chết. Làm thức ăn, móng tay phải cắt ngắn, sạch sẽ, móng tay dài dính dơ làm tổn phước.

Phật dạy:

“Đất Tam bảo, chỗ nơi làm ra thức ăn uống cúng dường Phật, Pháp, Tăng gọi là Hương Tích Trù.”

Ở đây dẫn tích, ngài Duy-ma-cật dùng năng lực thần thông lên cõi Phật Hương Tích, xin cơm về cúng dường đại chúng. Cơm đó rất thơm, ăn vào các lỗ chân lông đều toát mùi thơm. Nhà bếp, nơi làm ra thức ăn uống cúng dường Phật, Pháp, Tăng gọi là Hương Tích Trù, tức là làm phải cho sạch.

“Cho nên người làm ra thức ăn uống mà ba đức chẳng hiểu, sáu vị chẳng rành, và nơi chính mình thân, khẩu, ý ba nghiệp chẳng thanh tịnh thì chỗ làm ra thức ăn uống chẳng gọi là Hương Tích Trù mà gọi là uế tích trù.”

Tức là nhà bếp dơ, thức ăn không thanh tịnh. Ba đức là: thanh tịnh, nhu nhuyến, như pháp. Sáu vị là: lạt, mặn, cay, chua, ngọt, đắng phải biết hết. Thân phải thanh tịnh, sạch sẽ, miệng không được giỡn cười, ý cũng phải thanh tịnh. Nơi chính mình, thân, khẩu, ý ba nghiệp chẳng thanh tịnh thì làm ra thức ăn uống chúng Tăng ăn không tốt. Chẳng hạn đang xào, đang nấu mà cãi lộn thì năng lực sân hận phóng vào thức ăn, đại chúng ăn là lãnh đủ hết. Làm mà miễn cưỡng, nhăn nhó không vui thì cũng không có phước. Phải biết được ba đức thì mới có phước.

Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn chứng đạo rồi, đi đến đâu ngài cũng xin làm Tri khố. Bên Tây Tạng có một vị Lạt-ma ở trong bếp nấu ăn cho chúng mà không ai biết ngài đã ngộ đạo. Sau khi ngài tịch tại nhà bếp, người ta mới biết ngài là bậc chứng ngộ. Có quyển sách nói về những vị Lạt-ma nấu bếp, đều là những bậc ngộ đạo. Năng lực ngài phổ vào, trong đại chúng vị nào bệnh ngặt nghèo ăn lại được hết bệnh.

“Vốn là thức ăn phụng cúng Phật và Tăng, nếu chẳng có tinh khiết, thức ăn nhơ uế chẳng có lựa chọn, liền mất đi cái đức thanh tịnh. Nếu chẳng có tinh tế, vị ngọt có chút thô rít liền mất đi cái đức nhu nhuyến.”

Ở đây nói rất rõ là nấu thức ăn thức uống, làm tất cả việc đều phải thanh tịnh.

“Chợt buông thả phóng tình, chưa cúng mà đã ôi thiu thì mất đi cái đức như pháp. Lại ba đức nếu không có sáu vị điều hòa thì cũng chẳng thành tựu. Là các ông, ba đức, sáu vị phải quán sát chắc thật kỹ càng, cho nên phải rõ biết cái đức cùng thấu tột cái vị. Lại thêm cái tâm không ta, không người, không chúng sanh, không thọ giả, dốc hết toàn thân siêng năng khéo léo làm các thức ăn uống phụng cúng Phật và Tăng, thì công đức của người này giả sử đem bảy báu đầy khắp hư không bố thí vô lượng kiếp chẳng sanh tâm mệt mỏi, chán chường, đem cái tướng này mà so sánh thì công đức kia vạn lần chẳng bằng một.”

Vào nhà bếp thì xả thân, không ta, không người, không chúng sanh, không thọ giả, bốn tướng đều vắng bặt, làm vì đại chúng, chúng ăn vui vẻ, tu hành có năng lực lớn, thì được phước đức rất thù thắng.

“Vì ba đức không khuyết, sáu vị không mất, thức ăn uống này nếu xúc vào mũi Phật hoặc vào miệng chúng Tăng thì như mùi hương của chiên đàn, như uống nước cam lồ, ngũ tạng điều hòa, trăm lỗ chân lông khoái thích. Thân thích thì tâm mới an được.”

Bữa nào quý thầy nấu sao mà chúng bị tiêu chảy là bữa đó coi như bỏ, huề vốn, không có lời, nhiều khi lỗ nữa. Có một số quý thầy nấu chúng ăn bị tiêu chảy phải lên sám hối. Bữa nào, quý thầy ăn đúng khẩu vị thì tối về ngồi thiền tự nhiên thấy an ổn, vì thân nó không có quậy mình. Còn ăn về mà bụng kêu rột rột thì làm sao ngồi thiền. Làm nhà bếp không phải chuyện đơn giản, biết thì có phước, có đức, trợ duyên cho mình tu hành. Thành Phật, tác Tổ cũng từ trong này ra.

“Hiển bày sắc lực nên tâm lực nương nhờ. Sắc lực được nương nhờ thì thân tráng kiện, tâm lực được nương nhờ thì thần không quấy rối. Thân tráng kiện thì tiến đạo có nhờ, thần không có rối thì trí quán dễ thành.”

Nhiều người nói, vào đạo rồi không cần ngủ, nói vậy không được. Ăn uống, ngủ nghỉ điều độ để ít bệnh thì tu đạo dễ hơn người hay bị bệnh. Bệnh hoài khó tu lắm, mặc dù mình cũng ráng nhưng đạt được năm mươi phần trăm thôi. Thân mà tráng kiện, an ổn thì trí quán sâu sắc, dễ thành.

“Phàm ăn uống chẳng như pháp thì thân nhiều bệnh, tâm nhiều quấy rối. Thân tâm đã bệnh lại nhiều quấy rối, người mà tinh tấn hành đạo để được khai ngộ thật là không có chỗ này.”

Tu thiền mà ăn nhiều tiêu, ớt, cà ri, tối về nóng trong người, bứt rứt rất khó tu. Bữa nào ăn rau luộc, nước tương thấy khổ vậy đó nhưng tu rất tốt. Ăn đủ thứ, ăn nhiều dầu, bánh mì cà ri, tiêu ớt ngon miệng thật đó nhưng tu lại yếu. Còn những lúc ăn khổ khổ mà tu lại có năng lực.

“Ngay đây mà quán sát thì tánh mạng của người tu hành thật là nằm ở trong tay người tri khố. Nên người ở trong nhà trù mà ba đức chẳng biện, sáu vị chẳng thông gọi là đầu trâu bừa càn không ngoài giết người.”

“Như ba đức mà biện, sáu vị tỏ thông, lại dùng cái tâm không ngã, không người, không chúng sanh, không thọ giả, dốc hết toàn thân như pháp mà làm thức ăn uống phụng cúng Phật và Tăng, gọi là Bồ-tát đại từ bi.”

Quý thầy vào nhà bếp phải có tâm cảm thương chúng, đừng nghĩ tu hành rồi ăn gì cũng được không cần ngon dở, dơ cũng không sao nên làm sơ sài, rửa không kỹ thì tổn phước của mình.

“Ba ngàn chư Phật đều phát xuất từ trong nhà bếp. Lại nữa, vì thường trụ mà hà tiện, chẳng tôn hiền kính quý, thì tương lai bị quả báo làm quỷ đói.”

Quý thầy đừng hà tiện của thường trụ rồi cho chúng ăn rau luộc, nước tương hoài. Ngày xưa ở Thường Chiếu có một thầy, pháp hiệu là Phổ.… cho chúng ăn mít suốt, sáng mít kho, trưa mít kho, chiều mít xào, sáu tháng ăn mít như vậy, đại chúng đặt tên ông là Phổ mít. Chúng không biết làm sao vì không có ai thay, nên báo lên Hòa thượng, lúc đó ngài ở Trúc Lâm. Hòa thượng gọi xuống liền, cho nghỉ. Rồi có một thầy ngày mồng một cho ăn bầu với chao. Phật tử báo Hòa thượng liền, Hòa thượng cũng cho nghỉ.

Nghe vậy quý thầy cho ăn thoải mái, sáng cà ri, trưa bánh xèo, bánh bao thì cũng không được. Tổ dạy:

“Vì thường trụ mà tiêu xài phung phí thì chẳng xét kỹ chỗ đến gian nan, tương lai bị quả báo bần cùng thiếu thốn.”

“Lại lúc làm ra thức ăn, sáu căn chẳng cẩn trọng, chín khiếu phóng tình, tứ chi chẳng thanh tịnh, tương lai bị quả báo làm con giòi hôi trong hầm phân.”

Lúc làm thức ăn, sáu căn, chín khiếu phóng tình, làm ở đây mà quý thầy nghĩ đâu đâu, không chú tâm, làm cho có làm, tay dơ không thanh tịnh thì tương lai bị quả báo làm con giòi trong hầm phân.

“Chỗ thực như trên đều là chỗ nói của Như Lai, hoặc nghe, hoặc thấy phải sanh tâm hổ thẹn, hướng đạo mà hành thì ngu si ắt phá, Bát-nhã ắt khai, các tội ắt tiêu, muôn phước ắt hội tụ. Hiện tại thân tâm an ổn, tương lai đắc đạo Vô thượng, lên quả vị Bồ-tát, lời Phật không hư dối. Phật tử trong nhà trù phải thể hội tâm Phật, ngay đây liền vượt qua biển khổ sanh tử.”

Đây là lời Phật nói chứ không phải Thiền sư nói. Phật nói mình sanh tâm hổ thẹn, hướng theo đó thực hành thì ngu si ắt phá. Tuy ngu dốt nhưng một thời gian trí tuệ phát sinh, Bát-nhã mở ra, các tội tự nhiên tiêu hết. Trong kinh nói, người phạm tội ba-la-di như bị cắt đầu, nhưng làm việc cho chúng, làm trong nhà bếp, rửa cầu tiêu tội lại hết. Biết nghiệp mình nặng, chướng duyên nhiều thì khi rảnh nên làm phụ, chẳng hạn lặt rau, cắt gọt…

Trong Kinh Hộ Tịnh có ghi:

Vào thời Đức Phật có một vị A-la-hán đã chứng thần thông, ngài vào nhà xí nghe tiếng khóc của một Tỳ-kheo ngạ quỷ rất thảm thiết, ngài hỏi:

- Cái nhân của ông rất tốt, ông đã được xuất gia làm Tỳ-kheo rồi, nguyên nhân nào bây giờ ông thành ngạ quỷ vào trong hầm phân mà khóc như vậy?

Ngạ quỷ nói:

- Vào thời Đức Phật Ca-diếp, tay dơ mà vào thức ăn cho chúng Tăng.

- Tại sao ông khóc?

- Đói bụng quá, vào nhà xí tìm phân để ăn thì bị quỷ thần lấy gậy đập lên đầu cho nên khóc.

Vị A-la-hán vì Tăng chú nguyện tức khắc thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.

Quý thầy nghe câu chuyện này thấy tu khó quá, sợ quá nên ra đời, như vậy đúng không? Nếu không tu, thành ngạ quỷ không ai cứu. Nhờ nhân duyên thù thắng, ngạ quỷ được vị A-la-hán chú nguyện thoát kiếp ngạ quỷ. Cho nên phải kết duyên với Phật.

Bà Liên Hoa Sắc một hôm gặp các cô thiếu nữ, bà khuyên đi tu. Các cô nói con còn ham ăn, ham ngủ không dám vào chùa tu đâu, sợ đọa địa ngục. Bà nói không sao, đọa địa ngục hết rồi lên tu tiếp. Quý thầy cũng phải phát nguyện như vậy: “Nếu kiếp này con lỡ làm tội gì phải đọa địa ngục, nguyện hết địa ngục con lên tu tiếp, mở con mắt Bát-nhã là thấy Phật - Pháp - Tăng.”

Cho nên Thiền sư Vĩnh Minh nói:

“Bốn biển rộng lớn nếu không do tích tụ các dòng thì không có đầy. Bước lên Thập địa tôn quý, nếu không do tích lũy điều lành thì chẳng đủ. Thế nên sâu xa chẳng thể dò là do dung nạp lâu dài, chỗ linh diệu không thể lường là nhờ sự ra công tu tập cần mẫn mà đạt đến. Huống chi bậc Diệu giác chỉ dạy, hàng thân hiền lập giáo bảo rằng dầu cho một việc lành nhỏ cũng có thể giúp ở nơi ba cõi mà vượt qua khỏi trần lao.”

Bốn biển rộng lớn nếu không do tích tụ các dòng thì không có đầy. Cũng vậy, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không nhờ tích tụ những việc thiện pháp thì không thành tựu được. Phật thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thành tựu những năng lực lớn đều do tích lũy điều lành từ những kiếp trước.

Bước lên Thập địa tôn quý, nếu không do tích lũy điều lành thì chẳng đủ. Cho nên làm hết tất cả, đừng ỷ lại bây giờ tu rồi không làm gì nữa. Thế nên sâu xa chẳng thể dò là do dung nạp lâu dài. Hằng ngày mình làm mình thấy không là gì, nếu làm việc ngoài đời lãnh lương thì không có phước; nhưng ở đây do tâm niệm, do một cái gì đó thôi thúc mình làm thì có công đức và phước đức.

Chỗ linh diệu không thể lường là nhờ sự ra công tu tập cần mẫn mà đạt đến. Huống chi bậc Diệu giác (tức là Phật) chỉ dạy, hàng thân hiền lập giáo bảo rằng dầu cho một việc lành nhỏ cũng có thể giúp ở nơi ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) mà vượt qua khỏi trần lao. Mình bỏ công sức làm với tâm niệm thanh tịnh, tâm niệm làm vì đại chúng thì phước lực rất lớn. Tâm niệm thanh tịnh, đúng pháp thì những công đức tích tập. Công đức được tích tụ thì khi chướng duyên đến, tự nhiên có người giúp mình vượt qua. Có những thầy tu hành rất tốt, nhưng khi chướng duyên đến thì không chịu tu nữa. Chướng duyên, nghịch cảnh không thể nói được. Chỉ khi nào tích tụ thiện pháp nhiều trong lúc quý thầy ở trong chúng thì mai này làm Phật sự, khi chướng duyên đến, tự nhiên có cái gì đó cản lại. Đó là con đường Phật đạo mình phải cần.

“Phàm đổ nước nhơ chẳng được giữa đường. Chẳng được cao tay hắt đổ, phải cách đất chừng bốn, năm tấc từ từ mà đổ. Phàm quét đất chẳng được quét ngược gió, chẳng được nhóm bụi đất để sau cánh cửa.”

Ở đây chư Phật, chư Tổ chỉ mình phương pháp chánh niệm. Trong cuộc sống tu hành, người không có chánh niệm giống như cánh cửa không có chìa khóa. Phương pháp chánh niệm, tuy chưa phải là chỗ cứu cánh giải thoát cuối cùng của đạo Phật, nhưng chánh niệm giống như một chiếc chìa khóa mở cửa đi vào tri kiến Phật.

Phàm đổ nước nhơ chẳng được cao tay hắt đổ, phải cách đất chừng bốn, năm tấc từ từ mà đổ. Nếu không có chánh niệm, đổ nước ào xuống thì người đứng xung quanh bị ướt rồi sanh tâm phiền não. Nhìn thì biết người này không có phương pháp tu, không có tinh thần chánh niệm.

Những oai nghi phép tắc này thấy rất đơn giản, nhưng mà chư Tổ đánh mạnh cho mình là làm gì cũng phải có chánh niệm, cũng phải có tỉnh thức. Bởi vì trong phần Oai Nghi toàn là quét đất, rồi ăn cơm, rửa chén, tất cả đều nằm trong tinh thần thiền tập.

Trong Sa Di Học Xứ, Tổ Tuyên Luật Sư dạy:

“Quét đất mà ngược gió để bụi hắt vào mặt là người không có trí huệ. Nhóm bụi đất để sau cánh cửa, người này có thủy mà không có chung, về sau kết quả có thể thấy.”

Quét rác mà không chịu hốt, Tổ dạy là người này có thủy mà không có chung. Ngày xưa các tùng lâm là một thầy một trò, trò làm gì thầy để ý đều biết. Đừng nói thiền hay nói gì cao siêu, trong cuộc sống tu hành, làm việc, người đi trước nhìn là biết tương lai mình đi đến đâu, có thành bậc pháp khí hay không. Các ngài để ý mình trong công việc, chẳng hạn chẻ củi. Hòa thượng Trúc Lâm hay đi xung quanh, chúng tôi chẻ củi hay hành đường, trị nhật, ngài đứng ngoài xa nhìn xem cách thức mình làm việc thế nào, biết người đó sau này có năng lực đi vào cuộc đời hay không. Người xưa hay người nay mà có cặp mắt sáng, thì các ngài hay để ý vào công việc hàng ngày.

Kinh nói:

“Quét đất phải khiến cho sạch, chẳng được có dấu. Có dấu tức thời quét lại.”

Trên nền xi măng hay nền gạch nó sạch thì đúng rồi, còn quét trên mặt đất biết bao giờ cho sạch? Lý thiền ở đây rất sâu. Hồi nãy chúng ta học sự thì phần này chúng ta học lý.

Đức Phật nói quét đất phải khiến cho sạch, có nghĩa đây là phương pháp tu thiền tập. Chữ Phật trong chữ Hán, bên trái là bộ nhân, bên phải là chữ phất. Phất có nghĩa là quét, tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng đêm, hằng tháng, hằng năm chúng ta phải quét sạch cái tâm thức của mình thì mới thành Phật được.

Phật là bậc giác ngộ, muốn được như vậy thì chúng ta phải quét đất tâm của mình, quét mà không còn dấu vết thì mới đúng. Đây nhằm mục đích đạt đến chỗ nào? Là một hành giả, tu là phải đến chỗ vô tu, vô chứng; năng sở, chủ khách phải quét sạch hết. Nếu tu không khéo chúng ta chấp thành Phật, chấp thành Thánh. Người mới xuất gia không khéo thì hay mong cầu có một cái gì khác lạ hơn huynh đệ. Chính sự mong cầu, sự chấp trước đó lại trở thành bệnh.

Cho nên Tổ Lâm Tế nói:

“Này các ông! Các nơi nói đạo có tu có chứng. Chớ lầm! Giả sử có pháp tu được cũng đều là tạo nghiệp sanh tử. Ông nói lục độ vạn hạnh đồng tu, ta thấy đều là tạo nghiệp. Cầu Phật, cầu Pháp tức là tạo nghiệp sanh tử.”

Ở đây nhằm mục đích cho chúng ta thấy quét là phải quét cho sạch hết, còn một chút dấu vết cũng đều là bệnh.

Ngày xưa Thầy Phước Hảo có kể: Ở Phú Yên, có một vị Thượng tọa nhập thất cỡ ba năm. Một hôm ngài ngồi yên tự nhiên ngài thấy lỗ chân lông ngài có những luồng ngũ sắc phóng ra. Vị Thượng tọa này vừa khởi niệm mình chứng Thánh liền bị rớt vào đường tà. Rớt vào đường tà thì sanh bệnh, mà sanh bệnh tức là tạo nghiệp sanh tử. Bởi vì sau khi khởi niệm mình chứng Thánh, chuẩn bị xuống núi giáo hóa chúng sanh thì tối đó lại bị phạm giới.

Cho nên nói cầu Phật, cầu Pháp đều tạo nghiệp sanh tử hết, bởi vì thấy có một cái gì đó ngoài mình đều là tạo nghiệp.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Nhược tác Thánh giải tức thọ quần tà, bất khởi Thánh tâm, tức thiện cảnh giới.”

Trong lúc hạ thủ công phu, có những điềm lạ hiện ra thì đó là công phu tốt, trong kinh Lăng Nghiêm Phật nói đó là cảnh giới thiện. Nhưng mình chấp mình chứng Thánh, hoặc có một cái gì đó nữa thì rớt vào cảnh giới của ma. Có một vị trì chú Đại Bi, bây giờ tu lạc đường, nghe bên tai có tiếng nói chuyện, rồi đứng giữa trời múa may. Hoặc có người nghe bên tai có tiếng nói Phật, nói Pháp. Mỗi pháp đều có năng lực riêng, chúng ta không biết mà chấp vào cho đó là mình, là của mình thì sanh bệnh. Cho nên ở đây Phật nói quét đất phải quét cho sạch, chẳng được có dấu, có dấu thời phải quét lại.

Sau đây, tôi nêu thêm một câu chuyện để quý thầy thấy, nếu chúng ta chấp vào có sự tu có sự chứng là lạc đường hết:

Ở thành phố có một vị tu thiền cũng lâu, thấy mình biết nhiều, biết hơn những người khác nên sanh tâm hơi ngã mạn. Một hôm đang ngồi thiền, ông thấy trước mặt có hai hàng Bồ-tát thỉnh ông lên tòa sen thuyết một bài pháp, ông bước xuống chuẩn bị lên pháp tòa nhưng lại rớt xuống cầu thang, bây giờ nằm liệt giường một chỗ.

Cho nên thấy mình có tu, thấy mình có chứng, thấy mình có cái gì đó đều là bệnh hết. Những cảnh giới hiện ra, nếu không được những bậc Cao Tăng hay người đi trước chỉ cho mình, thì toàn bộ đều sanh bệnh hết. Quý thầy mới xuất gia, hoặc người mới biết đạo thì công phu hay có sức dồn ép để mong đạt vào một cảnh giới nào đó. Tu lâu năm rồi mới thấy cái đó là trật. Mình tu bình thường, chẳng hạn sáng và trưa chúng ăn cơm trên quả đường, chiều chúng tụng kinh, ngồi thiền, mình làm y như chúng thì tốt.

Ngày xưa tôi không làm như vậy, tôi ngồi thiền bất kể ngày đêm. Đây tôi xin kể một cảnh giới chính chúng tôi rớt vào. Hồi chúng tôi công quả ở Chơn Không, sau khi công quả buổi sáng, buổi chiều Thầy Phước Hảo cho chúng tôi tu. Một hôm, khoảng hai giờ trưa, tôi đang ngồi thiền dưới gốc cây bỗng nhiên thấy một đàn kiến. Trong tâm thức, trong cái tưởng của mình, mình biết đàn kiến này từ đâu đến và tại sao nó bị thọ khổ vào cảnh giới này, tự nhiên mình khởi niệm từ bi. Vừa khởi niệm thương là nước mắt chảy, giống như gặp trạng thái cha mất hay mẹ mất vậy. Khóc sướt mướt rồi tưởng là mình phải hành đạo Bồ-tát, để cứu đàn kiến thoát khỏi cảnh giới này. Rớt vào cảnh giới đó xong, tuy xả ra rồi nhưng gặp cái gì cũng khóc.

Sau khi nghe tôi trình, Thầy Phước Hảo nói, chú bị ma sầu bi nó nhập vào tâm thủ rồi. Ma sầu bi nhập rất là nguy hiểm, nếu không có người chữa trị cho mình, thân mình tự nhiên bị khô rút lại từ từ rồi chết. Có những người tu thiền mà hay cười, gặp cái gì cũng cười, tưởng là tốt nhưng không phải, người đó bị ma hoan hỉ nhập. Đó là bệnh mà không biết.

Thầy Phước Hảo bảo tôi ngồi thiền sát bên Thầy, Thầy bắt đầu chỉ phương pháp buông xả. Khi niệm từ bi đến hoặc có bất cứ niệm gì Thầy bắt phải buông xả hết tất cả, trở về trạng thái rỗng không. Trở về trạng thái rỗng không rồi thì mấy phút sau hiện tượng đó mới hết. Đây là kinh nghiệm của người đi trước chỉ cho mình.

Khi có cảnh giới khác lạ đến, nếu chấp đó là chỗ thù thắng đều là sanh bệnh. Trong quyển Ngữ Lục của Thiền sư Hám Sơn, ngài dạy khi cảnh giới khác lạ đến, mình đắp mền ngủ một giấc thật sâu rồi xả ra thì hết.

“Cho nên cầu Phật, cầu Pháp đều là tạo nghiệp sanh tử; cầu Bồ-tát cũng là tạo nghiệp. Xem kinh, xem giáo cũng là tạo nghiệp.”

Chẳng lẽ không cho mình xem kinh? Xem kinh, xem giáo để hiểu rồi hành chứ không phải để đem ra cãi. Xem kinh, xem giáo mà hai huynh đệ cãi nhau thì tạo nghiệp A-tu-la. Cãi nhau thì sân, mà sân chính là tạo nghiệp sanh tử.

“Người học không rõ vì chấp chữ nghĩa, bị những danh từ phàm Thánh làm ngại cho nên ngăn chướng mắt đạo, không được phân minh. Như Lai mười hai phần giáo đều là những lời nói để hiển bày.”

Chẳng hạn, mình phân tích phàm là gì: Phàm là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người. Rồi phân tích Thánh là gì: Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Phân tích chia chẻ, nhưng lại làm chướng mắt đạo của mình, không hiểu rằng mười hai phần giáo đều là chỗ hiển bày tri kiến Phật. Nếu không nhờ học kinh, xem giáo lý thì không hiểu. Nương giáo lý như ngón tay chỉ mặt trăng, còn chấp ngón tay cho là mặt trăng thì đánh mất tri kiến.

“Người học không thể hội, lại nhằm trên những lời hiển bày đó mà sanh hiểu đều là nương tựa, rơi vào trong nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong ba cõi. Nếu ông muốn thoát sanh tử, đi đứng, buông nắm tự do thì hiện nay hãy biết lấy người đang nghe pháp.”

Muốn không bị sanh tử câu thúc, trói buộc, thì mình phải nhận lấy người đang nghe pháp. Quý thầy nghe pháp mà lắng thần không suy niệm gì hết thì đó là người đang nghe pháp. Cái gì biết được đang nghe pháp? Nghe pháp, học giáo lý các ngài luôn luôn bắt mình phản quan lại. Học Pháp, học Phật là mình phải tiêu dung. Pháp của Phật là cam lồ, mà nếu mình không tiêu dung, không thực hành được thì các ngài nói cam lồ biến thành độc dược. Học rất nhiều nhưng oai nghi phép tắc không có, thì các ngài nói mình có châu báu đem biếu người khác, mà không sử dụng gì hết.

Qua phần oai nghi phép tắc này, người chịu khó học hỏi, thực hành thu thúc sáu căn là người rất mô phạm trong cuộc sống. Mô phạm ở đây là thấu tột người đang nghe pháp.

“Người này không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở mà sống động rõ ràng, cần thì lập bày ra muôn thứ.”

Chẳng hạn, sáng nay quý thầy nhìn trên bảng thấy mình đi trị nhật thì lập bày đi trị nhật, thấy chẻ củi thì đi chẻ củi. Ngày mai nhìn trên bảng thấy mình không đi chẻ củi nữa mà cuốc đất, cuốc cỏ gì đó. Quý thầy nghiệm lại xem, có một mình mà sao phân ra muôn thứ? Đây chính là điểm mà Tổ muốn nhắc chúng ta, cần nhận ra người đang nghe pháp này.

“Chỗ dùng chỉ là không chỗ, tìm thì càng xa, cầu thì càng trái, cho nên gọi đó là bí mật.”

Phần trước, Phật dạy buộc mình phải quét cho sạch hết. Quét sạch hết tưởng không còn gì, nhưng khi sạch hết rồi thì hiển bày ra con người đang nghe pháp.

Ở Trung Hoa, thời Đường, lúc Thiền tông thịnh hành nhất thì xuất hiện một vị Tổ, đó là Tổ Bá Trượng. Rất nhiều người đến cầu pháp với Tổ trong đó có một vị Thiền sư tên là Thần Tán. Thiền sư Thần Tán ở với Thầy mình lâu năm rồi mà không hiểu thiền nên đi hành cước, gặp Tổ Bá Trượng chỉ dạy được khai ngộ.

Sau khi ngộ đạo, ngài nhớ ơn và thương Thầy mình chưa thấy đạo nên trở về để dìu dắt Thầy. Thầy bổn sư không biết ngài ngộ đạo nên sai ngài hầu hạ như trước.

Một hôm nhân bổn sư tắm, Thiền sư Thần Tán vỗ lưng Thầy nói:

- Điện Phật rất đẹp mà Phật thì không Thánh.

Bổn sư xoay đầu ngó lại, Thiền sư nói:

- Tuy không Thánh mà hay phóng quang.

Đó là con người đang nghe pháp, tuy không linh, không thánh nhưng thường biết.

Một hôm Thầy bổn sư ngồi xem kinh, có con ong chui đầu vào tấm giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra, Thiền sư Thần Tán nhìn thấy nói:

- Thế giới thênh thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào giấy cũ biết năm nào ra được? Rồi ngài nói bài kệ:

Không môn bất khẳng xuất,

Đầu song dã thái si.

Bách niên tán cố chỉ,

Hà nhật xuất đầu thì.

Dịch:

Cửa không chẳng chịu ra,

Ong ngu chui cửa sổ,

Trăm năm dùi giấy cũ,

Ngày nào mới được ra.

Ý nói, Thầy bổn sư chuyên xem kinh mà không biết được cửa Không để tìm cách thoát ra. Ở đây cho chúng ta thấy, xem kinh, học giáo lý hay nói khác hơn là tu đừng có chấp, chấp tức là bệnh.

“Phật cùng với Tổ sư là người vô sự, cho nên hữu lậu thì hữu vi, vô lậu thì vô vi là nghiệp thanh tịnh.”

Có nghĩa là không chấp trước một điểm nào. Chẳng hạn chẻ củi, nấu cơm, làm việc cho chúng cũng là cái phước, nhưng trong tinh thần mình vô chấp thì trở thành vô lậu, mà vô lậu là vô vi, đó là nghiệp thanh tịnh. Còn thấy trên bảng ba người mà nhìn lại chỉ có hai người đi làm, mình khởi niệm tại sao... rồi không chịu làm, rồi cằn nhằn, trách móc. Đó là nghiệp hữu lậu, hữu lậu tức là hữu vi, mà hữu vi tức là tạo tác. Cho nên, trong tinh thần làm việc mà chúng ta biết cách chuyển hóa, thì cũng trở thành nghiệp thanh tịnh.

“Có bọn trọc mù ăn cơm no rồi bèn ngồi thiền quán hạnh, nắm bắt vọng niệm không cho chạy khởi, chán huyên náo, tìm yên tĩnh, đó là pháp ngoại đạo.”

Pháp Tổ sư thiền là pháp hướng thượng, chúng ta phải tìm chỗ yên tĩnh như thế nào chứ Tổ không cho nắm bắt vọng niệm không cho chạy khởi. Như vậy, chúng ta ngồi thiền cho vọng niệm khởi thoải mái, phải không? Quý thầy phải nhớ kỹ, Hòa thượng thường dạy: “Chủ chỉ biết khách thôi.” Tức là vọng niệm bao nhiêu, lên, xuống, sanh, diệt… mà không ra ngoài ánh sáng của Bát-nhã. Niệm sanh niệm diệt, niệm còn niệm mất, niệm tật đố, niệm ích kỷ, niệm xan tham…, một ngàn thứ niệm mà không ra ngoài cái tri kiến của mình thì đúng.

Nắm bắt vọng niệm rồi đè nó xuống, đó là bệnh. Dung túng vọng tưởng là phàm phu, đè nén vọng tưởng là hàng Nhị thừa. Ở đây Tổ dạy mình phải chuyển hóa vọng niệm. Một niệm xấu ác khởi lên, như tật đố chẳng hạn, quý thầy chuyển niệm đó liền, không cho nó sanh khởi nữa thì từ từ lâu ngày chầy tháng, những hạt giống tật đố, ích kỷ đó sẽ chết.

“Nếu ông dùng tâm quán tịnh, khởi tâm xoay ra ngoài, nhiếp tâm lặng bên trong, lóng tâm vào định, những hạng như thế đều là tạo tác. Chỉ như người đang nghe pháp thế ấy của ông hiện nay làm sao để tu chứng y, trang nghiêm y. Vả lại y không phải là vật để tu, cũng chẳng phải là vật trang nghiêm được. Nhưng nếu bảo y trang nghiêm thì y trang nghiêm được tất cả.”

Trong công việc, đi đứng, nằm ngồi đều phải tu, rất hợp với tinh thần oai nghi. Sáng quét sân cũng tu, không phải ngồi thiền mới là tu. Bởi vì y không có gì để tu hết, nhưng bảo y trang nghiêm thì y trang nghiêm được tất cả. Quý thầy phải nhớ chỗ đó.

Tổ Bách Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu.” Vậy chừng nào tâm rỗng không? Không còn vọng niệm thì tự nhiên trí huệ chiếu ra, biết hết tất cả, phải vậy không? Có người kiến giải như thế, nhưng quý thầy nhớ kỹ, đất tâm nếu không, tức là không còn tạo tác nữa, thì khi cảnh đến, quý thầy không đắm nhiễm. Chớ không phải tự nhiên mình phát trí huệ rồi, mình biết ông A ở đâu, ông B ở đâu. Quỷ thần họ cũng biết vậy.

Mặt trời trí huệ tự chiếu là biết hết tất cả mà không đắm nhiễm tất cả, cho nên y trang nghiêm được tất cả. Chẳng hạn thấy trên bàn trái ổi là mình lấy bỏ túi, đó là trí huệ không chiếu. Còn mình thấy mình dửng dưng, không có gì dính dáng hết, đó là trí huệ chiếu vào, thấy các pháp đều là rỗng không, là vô thường, là khổ thì mình đâu còn tham chấp nữa, lúc này trí huệ tự phát huy, càng tu càng tiến.

Tinh thần oai nghi Phật dạy, đừng tưởng tu ở đâu xa, mà trong cuộc sống giữa đời thường này, trong lúc hành đường, trị nhật, chẻ củi,... làm lao tác với chúng mà luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã chiếu ra. Bát-nhã chiếu ra thì lâu ngày chầy tháng, tâm dừng lại. Chẳng hạn, ngày xưa huynh đệ nói trái tai là mình nổi giận liền. Bây giờ ngược lại, lời của huynh đệ nói ra mình vừa khởi niệm thì có cái gì đó tự động ngăn lại, không khởi niệm gì hết. Đó là tuệ nhật tự chiếu, phá những hạt giống vô minh.

Lý thiền nói, phiền não vốn không, phiền não tức Bồ-đề. Rỗng không thì mới tức được, còn có một cái gì đó thì tức không được. Tuy nhiên, tinh thần của Duy thức học chỉ nói trên lý thôi. Nói về sự thì trong vô lượng kiếp, hạt giống phiền não của mình nó kết tụ thành sạn rồi. Phải uống thuốc gì đó, để cho những hạt giống phiền não cù cặn nó tiêu dung. Chẳng hạn quý thầy tưới nước, có loài hoa lạ từ đất mọc lên. Tức là dưới đất có hạt giống của loài hoa đó, tưới nước nó mới nảy mầm. Nếu những hạt giống chủng tử này chết rồi, thì quý thầy tưới nước gì nó cũng không mọc lên được.

Thiền sư ngộ đạo rồi, tại sao các ngài vào trong quán rượu, tửu điếm mà không khởi niệm. Báo Giác Ngộ có nói về phương pháp giáo hóa độ sanh của các thiền sư Nhật Bản, thuộc các tông như Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Thiền tông. Người trẻ tuổi đến chùa, họ thấy điều gì đó cao siêu quá nên bây giờ họ không đến chùa nữa. Vật chất ngày càng tăng trưởng nhưng đạo đức ngày càng đi xuống, cho nên các ngài hy sinh, vào quán bar để dìu dắt những chúng sanh đó.

Tại sao các Thiền sư ngộ đạo vào được quán rượu, tửu điếm, còn mình vào là chết liền? Bởi vì trong tâm thức mình vẫn còn những hạt giống tham ái, tưới nước tham ái vào là nó tăng trưởng, là phạm giới. Chừng nào những hạt giống đó không còn trong tâm thức nữa, thì mình đi đến đâu cũng được tự tại, giải thoát, được trang nghiêm. Chưa được thì chúng ta phải thu thúc trong Thiền viện, tu năm năm mười năm, hai ba chục năm.

Tại sao người kiến tính ngộ đạo rồi vào núi tu ba bốn chục năm? Để trưởng dưỡng Thánh thai. Nghĩa là huân tập đạo đức ngày càng sâu dày, để những hạt giống tham ái nó chết khô, nó cạn kiệt không còn sống dậy nữa, thì tự nhiên vào cuộc đời không bị ảnh hưởng gì.

Người mới xuất gia, tại sao Hòa thượng, Thầy Trụ trì không dám cho làm hương đăng, không dám cho ra nhà khách tiếp duyên, mà bắt buộc phải ở trong nội viện tu để trưởng dưỡng. Bởi vì hạt giống xấu còn rất nhiều, tiếp duyên xúc cảnh thì tự nhiên hạt giống này nó sống dậy, mà sống dậy rất mạnh. Còn người tu mười mấy hai chục năm thì dù sao, những hạt giống tham ái này nó đã khô cạn bớt.

Nên nói, tu mà chấp trước là rớt vào đường tà, tưởng mình chứng Thánh chứng đạo rồi nhưng thật ra không phải. Đạo Phật rất đơn giản, không có gì huyền bí hết. Chừng nào trong tâm mình cảm thấy tham, sân, si, tật đố, ích kỷ, nhỏ mọn ngày càng bớt thì mình biết đang tu tiến. Muốn được vậy thì uống thuốc gì?

Muốn tiêu dung những hạt giống tật đố, ích kỷ, xan tham thì trong cuộc sống tu hành phải tăng trưởng những hạt giống thiện pháp. Hạt giống thiện pháp nhiều, thì đánh bạt những hạt giống ác pháp từ vô lượng kiếp. Chẳng hạn, thấy huynh đệ làm mệt nhọc, mình đến giúp đỡ, san sẻ. Mình khắc kỷ với chính mình mà bao dung tha thứ với người thì đúng. Còn tu mà bao dung với chính mình, khắc kỷ với người khác thì coi chừng, pháp tu đó không phải pháp của Phật mà là pháp ngoại đạo.

Tại sao đầu tròn, áo vuông tu pháp của Phật mà lại sanh ra pháp ngoại đạo? Duy thức học nói, trong vô lượng kiếp mình đã từng tu với một phái ngoại đạo nào đó, những hạt giống này nó còn nên sống lại, thành ra tu pháp Phật cũng thành pháp ma, pháp ngoại đạo. Ngày xưa, người nào có hạnh phúc, an ổn, làm gì cũng hơn mình, mình không thích; bây giờ thì mình vui, mình nâng đỡ, như vậy biết mình đang tu tiến. Chớ không phải ngồi thiền, chiếu hào quang mới là tu theo pháp Phật.

Cho nên Kinh Bách Duyên nói:

Quét đất được năm thứ công đức thù thắng:

1- Trừ tâm nhơ cho mình.

Tâm nhơ là tâm tham, sân, si, ích kỷ, tật đố, kiêu mạn,… Sáng, thấy tên mình trên bảng đi quét sân thì cứ đi. Tôi thấy quét sân có điểm hay, thứ nhất là mình tập thể dục, thứ hai là trong lúc quét mình chánh niệm, quán tưởng sâu sắc là mình đang quét đất tâm của mình. Bao nhiêu rác rưởi, tật đố, xấu ác quét sạch, ngày nào cũng quét.

Cần tảo già lam địa,

Thời thời phước huệ sanh.

Tức là siêng năng quét đất già lam thì lâu ngày phước huệ tăng trưởng.

2- Trừ tâm nhơ cho người khác.

Thường xuyên quét sân, tức là quét đất tâm thì một thời gian, tự nhiên mình có năng lực tiếp vật lợi sanh. Đừng nghĩ mình học hiểu kinh điển nhiều, rồi nói Phật tử nghe. Bởi vì tâm mình còn cù cặn nhiều quá, nói người ta không nghe.

Ngày xưa, một lời của Đức Phật phổ xuống, đại chúng ngộ đạo rất nhiều. Trong kinh diễn tả, người nào có duyên với Phật, như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,... đến với Phật, Phật nói ”Thiện lai Tỳ-kheo” là râu tóc rụng hết, cà-sa trên mình đầy đủ thành tướng Đại Sa-môn. Như vậy hiểu sao? Có thần thông hay sao? Về lý, có người giải thích râu tóc tự rụng nghĩa là phiền não từ vô lượng kiếp, ngay lúc gặp Phật tự nhiên rơi rụng hết. Trong kinh thì diễn tả Phật có mười tám pháp bất cộng, có năng lực bất khả tư nghì. Một khi năng lực Đức Phật ứng tác vào điểm nào thì Ta-bà cũng biến thành Tịnh độ, chỗ xấu ác nhất cũng biến thành Niết-bàn.

Sở dĩ, Phật có năng lực thù thắng như thế vì trong vô lượng kiếp, ngài luôn luôn làm các điều thiện pháp. Trong mười tám pháp bất cộng, có pháp Dục Vô Giảm, là lòng mong muốn làm những điều thiện pháp không bao giờ nhàm chán.

Siêng quét sân tức là siêng quét tâm nhơ thì mình có năng lực thù thắng, mai kia tiếp vật lợi sanh. Có năng lực lớn người ta mới nghe, mới tu tập, chuyển hóa. Lời pháp mình nói mà không ai tu tập, lại còn phỉ báng thì uổng công, không lợi ích gì hết. Sở dĩ không được gì là vì chúng ta không siêng cần quét sân.

3- Bỏ tánh kiêu mạn.

Quý thầy mới xuất gia lưu ý điểm này. Chẳng hạn, ở ngoài đời mình học thức nhiều, sanh trưởng trong gia đình giàu có, được thông minh trí huệ, thì lại khó tu hơn người sanh trong hoàn cảnh nghèo khó, thông minh vừa đủ. Giàu có, thông minh, cái gì cũng biết lại sanh tâm kiêu mạn. Chính tâm kiêu mạn cản trở con đường Niết-bàn, cản trở, che lấp tri kiến như thật của mình.

Sáng, ai cũng quét sân, quét rác, mình đi vòng vòng chơi, biểu hiện tâm mình có vấn đề, người bình thường nhìn cũng thấy huống chi người trí. Có cái gì đó cản mình lại, không thể nào xuống phụ đại chúng, làm lao tác với đại chúng. Chính năng lực, đó làm cho cửa Bát-nhã không bao giờ mở ra được.

Cho nên, Thầy lớn dạy như thế nào, mình phải làm y như thế. Người mới xuất gia, muốn thành tựu sau này thì phải giống như cô dâu mới về nhà chồng. Cô dâu mới về nhà chồng cái gì cũng sợ, sợ cha chồng, sợ mẹ chồng, anh chồng, em chồng.

Phật nói người xuất gia cũng như thế, mới thì nói gì cũng nghe, nhưng chỉ cần một, hai năm thì bất cần. Mấy ông thầy lớn kệ ổng, ổng cũng ăn, cũng uống, cũng ngủ nghỉ như mình vậy! Chẳng hạn sáng nay lên ăn cơm thì Thầy Trụ trì cũng ăn, Thầy phó cũng ăn, sao giống mình quá vậy? Rồi làm việc cũng giống. Thiền sư nói, giống thì giống nhưng phải thì không phải:

Như nhau dọc mũi ngang mày,

Lòng phàm, dạ Thánh cách sai nghìn trùng.

Các ngài ăn luôn chánh niệm, tỉnh thức, luôn thu thúc sáu căn. Còn mình ăn thì luôn luôn phóng niệm! Cũng lên ngồi thiền mà nghĩ đủ thứ chuyện, các ngài ngồi đâu thì định tĩnh đó. Thấy vậy chứ khác rất là xa. Học oai nghi phép tắc mình phải lưu ý điểm này.

4- Điều phục vọng tâm.

Tâm vọng động thì từ từ nó chuyển hóa. Thiền sư Trung Hoa có ghi:

Một hôm thiền sư Triệu Châu cầm chổi quét đất.

Quý thầy thấy không? Thiền sư rồi mà cũng cầm chổi quét đất.

Có một vị Tăng hỏi:

- Hòa thượng là bậc thiện tri thức, vì sao có bụi?

Ở đây nói qua lý thiền rồi.

Thiền sư bảo:

- Bên ngoài đến.

Vị Tăng hỏi:

- Già lam thanh tịnh vì sao có bụi?

Sư đáp:

- Lại có một điểm.

Chẳng hạn, đang ngồi thiền với tâm lóng định, quý thầy khởi niệm tìm chân như, Phật tánh, tìm cái tri kiến hoặc tìm cái gì đó thì nó lại có một điểm. Thanh tịnh là bản nhiên nó tự tịnh, tự định. Khởi niệm, tác ý trên tâm thì tức là bệnh. Nhớ kỹ, ngồi thiền là không tác ý trên niệm. Tu một thời gian quý thầy sẽ thấy rõ, vọng khởi lên, mình không tác ý nhưng vọng nó tự dừng, tự lặn, đó là phương pháp “Thấy biết là chơn tâm” mà Hòa thượng dạy mình. Bao nhiêu đó là đủ.

Có người nói, phương pháp Hòa thượng dạy “Thấy biết là chơn tâm” giống như phương pháp gì đó (tôi không nêu ra), nhưng mà họ lầm. Hòa thượng đã thành tựu chỗ ngài chỉ dạy “Thấy biết là chơn tâm”biết rõ hết mà không có tác ý trên niệm nữa. Còn mình chưa thành tựu nên thấy khó tu. Đơn giản như thế nhưng mình muốn có một cái gì đó cầu kỳ, chính cái điểm cầu kỳ đó nó sanh bệnh.

Trong phần tham vấn Thiền sư Trung Hoa, có người nói, dùng cái biết, biết vọng cũng là vọng tưởng. Hòa thượng nói, người hỏi tôi câu này không tu pháp của tôi. Đúng là người này ở bên ngoài. Ngày xưa tôi ở Thường Chiếu, tôi biết vấn đề này. Người bên ngoài kích bác phương pháp tri vọng của Hòa thượng rất nhiều, họ nói cái biết đó cũng chính là vọng tưởng. Hòa thượng phân tích “chủ chỉ biết khách thôi”. Họ không hiểu là trong lúc biết vọng, đó là tánh biết vọng, chớ không phải dùng cái tri hữu nữa. Tánh biết vọng này, không tác ý trên niệm thì chỗ đó là tri kiến Phật rồi. Còn tác ý trên vọng thì già lam thanh tịnh, tự nhiên có một điểm tác ý lên. Chỉ có người tu pháp Hòa thượng lâu ngày mới nắm bắt được điểm đó, người ngoài họ không biết.

Chính vì không biết, nên họ nói ra nói vào làm mình mất niềm tin. Mất niềm tin nên bị xung đột về pháp, mình không tu pháp môn thù thắng này nữa mà tu theo pháp khác. Ăn cơm của Hòa thượng, mà mình tu pháp khác, không trung thành với pháp môn này thì sau này quý thầy ra làm việc, bảo đảm chỉ dẫn người ta không được.

Tu phương pháp Hòa thượng chỉ dạy, mới đầu rất khó, vọng niệm rất nhiều. Bởi vì ngày xưa mình lao theo vọng nhiều quá, bây giờ mình không lao theo nữa, mà chận đứng lại nên thấy nó nhiều. Cũng như nước lóng trong thì mới thấy cá bơi lội, tâm quý thầy hơi có chút định thì mới thấy vọng tưởng nhiều.

5- Thêm lớn công đức, được sanh về cõi lành.

Càng quét sân thì ngày càng thêm lớn công đức, được sanh về cõi lành.

Thành Thập Luận nói:

Quét một cõi Diêm Phù Đề đất Tăng, chẳng bằng quét một nắm tay đất Phật.”

Ý nghĩa rất là sâu, có nghĩa là luôn luôn lau chùi tâm vọng động của mình.

“Giặt áo trong phải lượm bỏ rệp, rận mới giặt. Tháng mùa hạ dùng nước, dùng rồi phải úp chậu xuống, nếu để ngửa ắt sanh trùng kiến.”

Phật thương các loài chúng sanh nên dạy mình rất kỹ.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm để chậu giặt y chẳng nên lấy rửa chân và giặt quần, vớ. Các vật lúc phơi trên sào cũng đừng cho đụng nhau và đừng ngậm nước mà phun pháp y.”

Ngày xưa, đọc đến chỗ này tôi nghĩ sao Tổ dạy kỹ quá. Nhưng khi làm nhà khách, tôi thấy có những người trong lúc phơi y không có chánh niệm, không thu thúc lục căn, thấy cái y hơi nhăn là phun nước lên rồi ép xuống. Chúng ta đổ thừa thời mạt pháp khó tu chánh định nhưng Tổ Tuyên Luật Sư, người đã chứng Thánh quả, nói nguyên nhân không tu được pháp này là vì ác pháp nhiều quá. Ác pháp nhiều, thì không bao giờ bước vào con đường thiền định được. Mà những cái nhỏ nhặt này gọi là ác pháp. Còn tu mà giữ giới luật thanh tịnh, biết oai nghi phép tắc thì gọi là thiện pháp. Thiện pháp tăng trưởng thì ngồi thiền được định tĩnh.

Thau giặt y phải ghi: “Thau giặt y, không giặt đồ khác.” Lúc phơi trên sào cũng đừng cho đụng vào quần áo mặc làm việc, lao tác. Và đừng ngậm nước phun pháp y, bởi vì cái khẩu của mình không có thanh tịnh, mà pháp y các ngài rất quý.

Sách Tăng Kỳ Giới Bổn có nói:

“Phải có tư tưởng kính trọng tam y như kính trọng pháp của Phật.”

Không phải tự nhiên mà được ba y, bình bát. Những hạt giống này, quý thầy đã gieo trồng từ vô lượng kiếp rồi. Hòa thượng Tuyên Hóa nói, người xuất gia là đã tám mươi bốn ngàn kiếp từng gieo trồng căn lành này, hôm nay nghe một tiếng chuông tự nhiên thức tỉnh. Nên các ngài nói, mình phải có tư tưởng kính trọng ba y như kính trọng pháp của Phật. Nếu không có tâm kính trọng, chắc gì mai kia được pháp y nữa.

Trong Luật Tỳ-kheo có ghi: Có một thầy Tỳ-kheo vào tu trong núi, tối ngủ trong hang, ngài lấy cái y giăng xung quanh chỗ ngủ. Một con quỷ đi ngang qua, nó định dùng tay bóp cổ ngài, đụng phải cái y nó hoảng hồn bỏ chạy.

Ngày xưa ở Thường Chiếu có một cái thất, quý thầy ở đó buổi tối ngủ hay bị kéo chân. Có một thầy lớn tuổi hạ kể lại, tối nào ngủ mà không giăng cái y lên là bị kéo chân xuống giường luôn. Giăng y lên rồi thì không bị quậy phá nữa. Nghe thấy như huyền bí, nhưng trong luật, Phật có thọ ký, sau này đời mạt pháp, người nào mặc ba y của Như Lai, tuy trong tâm không thật tu hành nhưng cũng có cơm ăn áo mặc. Bởi vì người mặc y của Như Lai thì giống như Như Lai còn tại thế. Tăng còn tại thế thì Phật còn tại thế.

Ngày xưa Hòa thượng có kể, một ngôi chùa ở Long An, có người bị quỷ nhập, thầy tri sự được mời ra trì chú Đại Bi để đuổi con quỷ đó. Thầy đang trì chú thì con quỷ đó nói (qua lời của người bị nhập): “Đáng lẽ tôi đánh ông rồi mà vì tôi thấy ông mặc pháp y nên tôi không đánh, bây giờ ông cởi ra tôi đánh tay đôi với ông.”

Phật dạy, y hậu lúc nào cũng mang theo bên mình, giống như chim có hai cánh vậy. Những vị thầy đi chỗ này, chỗ kia mà quên y, quên hậu thì biết người này giới luật không được trang nghiêm thanh tịnh.

Sách Ngũ Phần ghi:

“Đi phải biết thời, trái thời chẳng đi. Đi bất cứ nơi đâu, áo bát mang theo như chim mang cánh theo trong lúc bay.”

Kinh nói:

“Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc trong thời quá khứ giỡn chơi pháp y ca-sa, ngày nay gặp Phật đắc quả A-la-hán.”

Tích truyện có kể, vào thời quá khứ Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc là một dâm nữ. Một hôm đi ngang qua Tịnh xá, thấy pháp y của Phật cô lấy khoác lên người rồi nói: “Nếu sau này tôi được mặc cái y này, chứng quả Thánh thì hay biết mấy.” Chỉ là nói chơi thôi mà vào thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bà được gặp Phật chứng quả A-la-hán.

Kinh Công Đức Của Người Xuất Gia có nói, một người chỉ cần khoác y lên người một lần thôi, người này đã gieo trồng vô lượng kiếp chủng tử sâu dày với Phật pháp. Lúc đắp y quý thầy đọc bài kệ:

Đại tai giải thoát phục,

Vô tướng phước điền y,

Phi phụng trì giới hạnh,

Quảng độ chư quần sanh.

Đại tai tức là rất lớn, rất vĩ đại. Có một sự vĩnh cửu mới mặc được pháp phục của Phật chứ không phải chuyện đơn giản. Hôm trước Sư Bác có giảng: Mặc pháp y rồi không phải là xong, mà phải giữ giới, phải tu hành, phải oai nghi phép tắc. Nhất là những người mới xuất gia, chịu khó học luật để mai kia mới tiếp dẫn hậu lai được.

“Chẳng được nước nóng đổ trên đất.”

Vì sao? Vì chết trùng, phước đức mình tổn giảm.

“Tất cả gạo, bột, rau, trái chẳng được khinh khi bỏ bậy bạ, phải sanh lòng yêu tiếc.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Đời nay không tiếc của, đời sau không có mà dùng. Việc đời còn vậy huống chi là của Thường trụ, chúng Tăng mà chẳng thêm lòng thương tiếc hay sao?”

Chùa Thiếu Lâm Tự, thời sung mãn nhất được tín thí cúng dường rất nhiều. Nhưng chúng không biết tiết kiệm, đổ nhiều gạo, bún trôi xuống cống. Vị Hòa thượng một ngôi chùa dưới chân núi, cho vớt lên rửa sạch đem phơi để dành. Đến năm hạn hán, chùa Thiếu Lâm hết gạo ăn, phải xuống ngôi chùa dưới chân núi mượn gạo. Hỏi Hòa thượng, ở đâu gạo bún quý ngài có nhiều vậy. Hòa thượng nói đâu có gì lạ, ngày xưa các ngài có gạo, bún nhiều quá ăn không hết đổ xuống cống, tôi vớt lên phơi, bây giờ mới có cho các ngài mượn. Nghe như thế Thầy Trụ trì chùa Thiếu Lâm xuống đảnh lễ vị Hòa thượng đó xin làm đệ tử.

 

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 92829
  • Đang online: 7