Oai nghi - Con đường của sự tỉnh thức ( Phần 8): Tập học Kinh điển

12/01/2018 | Lượt xem: 1086

ĐĐ.Thích Khế Định giảng tại TVTL Phụng Hoàng - Đà Lạt

8. Tập Học Kinh Điển

Sa Di Học Xứ ghi:

“Thời gìn giữ chẳng mất gọi là tập. Thọ pháp chuyên tinh gọi là học.”

Nghe, hiểu, nhớ gọi là tập. Thọ pháp chuyên tinh gọi là học.

Trong Truy Môn Cảnh Huấn ghi bài văn của Từ Học Lão khuyên tiểu siêng học:

“Ngọc chẳng mài giũa chẳng thành khí cụ, người chẳng học chẳng biết đạo lý.”

Những vị Phật tử nghiên cứu và thực hành pháp của Hòa thượng, họ rất quý kính quý thầy tu theo pháp môn của Hòa thượng, nhất là quý thầy đã được học giới luật, oai nghi phép tắc. Con mắt cư sĩ bây giờ tinh lắm, nhìn là biết mình có học Phật pháp, có nghiên cứu và thực hành về pháp hay không. Người mô phạm về giới luật, oai nghi phép tắc, họ rất kính tín, quý thầy ngồi yên tu mười năm, hai chục năm họ cũng sẵn sàng hộ trì để quý thầy tu. Cho nên phải học, phải tu.

“Người xuất gia may được thân lìa lưới trần, ở chốn cửa cao nhà rộng chớ có nên vì ấm no mà tự coi là đã thỏa chí mình.”

Người xuất gia được túc duyên thân lìa lưới trần, có nghĩa là xa cha mẹ, anh chị em, xa hết tất cả. Rồi vào thiền viện nhờ công đức Hòa thượng, nên bây giờ mình ở chốn cửa cao nhà rộng. Lại được ấm no thì chớ nên vì ấm no mà đã tự coi là đã thỏa chí mình.

“Lúc còn trẻ trung khỏe mạnh nếu chẳng siêng học hỏi, chẳng suy nghĩa lý, chẳng hấp thụ đúng thì trước Thánh làm sao mà có thể tiên bạch được.”

Tức là bắt buộc mình phải học. Nghiên cứu kỹ những bộ Kinh lớn, quý thầy thấy kinh Hoa Nghiêm chỉ về Pháp giới Hoa tạng, Kinh Pháp Hoa chỉ về Tri kiến Phật, Kinh Niết-bàn chỉ về Phật tánh. Những bộ kinh Phật đều chỉ về chỗ đó hết, thành ra mình nghĩ xem đi xem lại cũng bấy nhiêu thôi, thì coi chi nữa, đúng không?

Trong thiền Sư Trung Hoa Tập Một có ghi:

Thiền sư Mã Tổ một hôm hỏi Thiền sư Trí Tạng:

- Sao con chẳng xem Kinh?

Sư thưa:

- Kinh đâu có khác.

- Tuy nhiên như thế song con về sau vì người mà cần phải xem.

Chẳng hạn như đậu hủ, chiên cũng vậy, xào cũng vậy, bây giờ trộn lên mỗi người một chén, ăn vô trong bụng cũng vậy thôi, quý thầy chịu được không? Sao mà ăn được. Mai kia quý thầy đủ duyên đứng trước Phật tử nói pháp, người ta nói bạch Thầy, con khổ đau quá! Quý thầy bảo: Buông vọng tưởng! Không biết buông cái gì, ai mà buông cho được. Quý thầy phải dùng phương tiện trong kinh điển mà giáo hóa người.

Một vị giáo sư ở miền Bắc, nghiên cứu Phật pháp rất nhiều nói với tôi rằng, ông xem lịch sử thấy cùng thời Đức Phật Thích-ca nhưng trước ngài đã có hai vị Phật. Ông nói hai vị Phật này chỉ dạy pháp tu cho Phật. Tôi giải thích rõ, đúng là hai vị này chỉ dạy pháp tu cho Phật, nhưng đó là hai vị tiên, vị tiên thứ nhất là Ca-ma-la, vị tiên thứ hai là Uất-đầu-lam-phất. Học với hai vị này Phật không thỏa mãn, nên Ngài đến ngồi dưới gốc cây Bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm thành tựu quả vị Phật.

Nếu mình chỉ lo tu, mà không xem lịch sử thì vị này nói hai vị Phật mình cũng gật đầu. Rồi câu chuyện đồn ra người ta nói mình không học, không tu gì hết. Cho nên ở đây nói: Tuy nhiên như thế song con về sau vì người mà cần phải xem.

Mình học không phải để biện luận. Nhưng có những lúc, như lúc tôi còn ở Canada, một hôm trong buổi giảng có một Phật tử viết giấy hỏi: “Bạch Thầy, thiền sử có ghi Lục Hoàn Công bỏ con mèo trong cái bình, đúng không?” May là tôi có xem đoạn này. Tôi nói con ngỗng, không phải con mèo. Lục Hoàn Công bỏ con ngỗng trong cái bình đến hỏi Thiền sư Nam Tuyền: “Con nuôi con ngỗng trong bình, bây giờ nó lớn rồi làm sao đem nó ra mà cái bình không bể?”Con ngỗng mà họ nói con mèo, quý thầy nghe vậy kêu meo meo cho nó ra là thua rồi! Cho nên phải học.

Thiền sư Trí Tạng nói:

- Con bệnh, cần phải trị dưỡng, đâu dám vì người.

Mã Tổ nói:

- Con lúc lớn tuổi sẽ làm hưng thịnh Phật pháp ở đời hơn ta.

Quả tình Thiền sư Trí Tạng sau này làm Quốc sư. Quốc sư là người không những thông về Kinh, Luật, Luận mà phải có công phu tu chứng. Cho nên Tổ thấy trước, Tổ dạy ngài phải ráng học, ráng tu, mai này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh.

Mai kia đâu biết, có những vị thầy nhiều khi còn hơn những vị lớn đi trước. Tới chừng người ta thỉnh đi làm trụ trì mới học thì học không vô. Có những vị thầy đến tâm sự với tôi, hỏi tôi mượn tài liệu, tôi nói thôi trễ rồi, hồi đó ở chung với tôi, tôi nói ráng học, ráng tu mà không chịu. Bây giờ Phật tử thỉnh lên để cúng dường, xin thầy tác bạch, thầy nói thôi Phật tử lạy ba lạy đứng lên. Làm mất niềm tin hết! Mà có nhiều thầy như vậy. Rồi giảng mà không soạn bài, chẳng hạn bài pháp phải nói một tiếng rưỡi, mới nửa tiếng đã nói hết, không biết nói chuyện gì nữa.

Các Thiền sư nói mưa lâu ngày mới thấm đất, quý thầy đọc thấy như không nhớ gì, nhưng mà thấm dần, thấm dần. Rồi mình tu nữa, đủ nhân đủ duyên quý thầy ra hướng dẫn thì Phật tử có niềm tin. Quý thầy đâu có ở đây suốt đời, có lúc quý thầy phải ra đi. Ra đi mà không biết Phật pháp, nhiều khi mình chỉ sai cho người ta, rất là tai hại.

Thiền Lâm Bảo Huấn ghi, Thiền sư Minh Giáo nói:

“Cái học của thánh hiền cố nhiên chẳng phải một ngày mà đủ. Ngày chẳng đủ thì kế học đêm, rồi chứa góp hằng tháng, hằng năm thì tự nhiên sẽ thành tựu.”

Phải chứa góp hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, chứ không phải hô biến cái gì cũng biết.

“Nên nói: Học để tu tập, hỏi để biện minh. Câu nói này có nghĩa là học mà không biện vấn thì không do đâu mà phát minh. Đời nay ít có những người học thường nêu ra câu hỏi để vấn biện với người như vậy, không biết đem cái gì để giúp ích cho tính biện trở thành cái lợi ích để đổi mới ngày càng sâu vậy.”

Học là để tu tập, mà hỏi tức là để biện minh. Quý thầy tu, học thắc mắc gì phải hỏi Thầy Trụ trì liền. Nhiều khi không hiểu nhưng cho qua luôn, mà cho qua thì trí của mình không sáng. Quý thầy có điều gì chiêm nghiệm hoặc thắc mắc đem ra hỏi, mai kia quý thầy ra làm việc không có hối hận.

Khi Hòa thượng qua Mỹ giảng pháp, có vị thầy ngày xưa ở Thường Chiếu đến hỏi Hòa thượng: “Bạch Hòa thượng, có một số Phật tử đến hỏi con Thiền Lâm Tế và Thiền Tào Động khác nhau như thế nào? Nhờ Hòa thượng chỉ lại.” Hòa thượng nói: “Giờ này mà chỉ gì nữa!”

Bữa nọ có một thầy ở nước ngoài, Phật tử thắc mắc đến hỏi nhiều câu mà trả lời không được, điện về xin Thầy Trụ trì giải đáp những câu hỏi này. Quý thầy thấy hối hận không?

Thiền thoại có ghi:

Một vị Tăng đến hỏi Thiền sư Vân Cư:

- Đệ tử mỗi khi làm việc gì xong đều rất hối hận, xin hỏi Thầy vì sao con hối hận nhiều như vậy?

Thiền sư Vân Cư nói:

- Trước hết ông hãy nghe ta nói mười điều hối hận của ông như sau:

1- Gặp Thầy không học.

2- Gặp người hiền không kết giao.

3- Thờ cha mẹ không hiếu.

4- Đối với chủ không trung thành.

5- Thấy việc nghĩa không làm.

6- Thấy nguy hiểm không cứu.

7- Có của cải không bố thí.

8- Ái quốc không trinh sạch.

9- Nhân quả không tin.

10- Phật đạo không tu.

Vị Tăng nghe xong thưa:

- Mười điều Thầy nêu ra đúng là bệnh của con.

Thiền sư nói:

- Trong mười điều hối hận trên, ông đổi chữ “không” thành chữ “phải”:

1- Gặp Thầy phải học.

Quý thầy đến đây được gặp Hòa thượng, gặp Thầy Trụ trì, phải siêng tu, siêng học. Hòa thượng nuôi dưỡng quý thầy chừng mười, mười lăm năm, có đủ duyên thì đưa quý thầy đến trụ xứ một chỗ khác. Hiện nay rất nhiều nơi họ cúng dường đất, thiền viện xây dựng khắp nơi mà không đủ người. Hòa thượng, Thầy Trụ trì ráng đào tạo quý thầy có năng lực, có chỗ sống rồi thì đưa quý thầy ra làm việc chứ đâu phải ở đây hoài. Cho nên ở đây nói gặp Thầy thì phải học.

2- Gặp người hiền phải kết giao.

Mình gặp người hiền, người mà có pháp thì phải kết giao làm bạn. Mai kia khi ra trụ xứ một nơi nào đó phải cần những người này hỗ trợ cho mình.

3- Thờ cha mẹ thì phải hiếu.

4- Đối với chủ phải trung thành.

Nghĩa là đối với Hòa thượng, đối với Thầy Tổ mình phải trung thành. Trung thành với pháp của Thầy mình dạy. Mình học pháp Hòa thượng, ở với Hòa thượng, ăn cơm Hòa thượng thì phải trung thành với pháp này. Chứ không phải mình học, mình nghe rồi mình tu pháp khác thì không đúng, người như vậy là không trung thành. Mình thấy đơn giản nhưng đều nằm trong nhân quả hết.

5- Thấy việc nghĩa phải làm.

Việc nghĩa đây là việc gì? Thấy người nào làm việc trung nghĩa hay nói khác hơn thấy người nào lo lắng cho đại chúng, mình phải bắt chước làm theo, chứ không được phỉ báng: “Ông đó làm vậy chứ ổng mà tu hành gì.”

6- Thấy nguy hiểm phải cứu.

7- Có của cải phải bố thí.

8- Ái quốc phải trinh sạch.

9- Nhân quả phải tin.

Người tu mà không tin nhân quả đa số làm bậy hết. Không tin nhân quả, mình nói tôi trộm một trái cam, trái chuối, trái ổi gì đó thử xem có nhân quả không thì người này không phải là người tu.

10- Phật đạo phải tu.

Mười điều trên đây mình học rồi mình áp dụng thì không còn hối hận nữa.

“Trước phải học Luật, sau học các bộ Kinh, chớ nên vượt bậc.”

Trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận có kể:

Vào thời Đức Phật, có một đoàn lái buôn, trong đó có một số thầy Tỳ-kheo quá giang, đi qua một khúc biển lớn, đến giữa biển thì sóng đánh thuyền vỡ tan rồi chìm xuống. Trên thuyền có một sa-di và một vị thượng tọa lớn. Sa-di nắm được miếng ván thuyền. Vị Thượng tọa kế bên, quá đuối sức vì không có gì để bám, quay sang hỏi sa-di:

- Ông học luật chưa?

- Dạ con đã học bốn bộ luật rất kỹ.

- Ông học luật trong phần 24 oai nghi ông nhớ gì không?

- Dạ con nhớ, vật gì ngon hay phần sung sướng thì phải nhường cho thượng tọa, sa-di thì nhận món dở hơn hoặc những việc cực khổ hơn.

- Vậy ông phải nhường miếng ván cho tôi mới đúng.

Vị Sa-di suy nghĩ: “Mình mới vào đạo, mới học bốn bộ Luật, chưa biết đạo gì hết, lỡ chết chắc chắn bị đọa. Còn vị Thượng tọa này dù sao cũng tu lâu năm hơn mình.”

Rồi thầy suy nghĩ lại: “Giáo pháp của Phật thì quá cao siêu vi diệu, lời Phật dạy chắc chắn đúng, cái gì cũng phải nhường cho thượng tọa. Thôi thà mình chịu chết cái thân mạng này còn hơn là trái lời Phật dạy.”

Sau khi nhường tấm ván, tự nhiên cung điện Long vương rung động. Thần biển quán sát biết được vị Sa-di sẵn sàng bỏ thân mạng để nhường tấm ván cho vị Thượng tọa nên dùng năng lực đưa vị Sa-di vô bờ. Sau đó thần biển sụp xuống lạy vị Sa-di:

- Từ xưa đến nay con chưa từng thấy một vị thánh giả nào thà bỏ thân mạng mà giữ giới luật, thà chết chứ không trái lời Phật dạy. Con xin quỳ xuống đảnh lễ thầy, và xin thầy cho con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

Cũng may là vị thượng tọa hỏi vị sa-di có học luật chưa. Nếu chưa học luật thì đâu biết mà nhường, ông chết mặc ông, tôi chỉ biết thế nào là thiền, thực tại là thiền thôi!

Quý thầy thấy năng lực giữ giới không phải là chuyện đơn giản. Chẳng hạn trong gia đình có người mất, mình cung thỉnh những vị giữ giới thanh tịnh, có năng lực tu hành về khai thị hay chú nguyện thì năng lực thanh tịnh này tác động đến làm cho tâm thức người mất chuyển đổi.

Cho nên trên đường tu dù gặp nghịch cảnh, thà chết chứ không bao giờ phạm giới của Phật thì mới đúng. Ví dụ như có người nữ nào nói, thầy mà không ra đời với em thì em tự tử chết. Quý thầy nói thôi tôi hành Bồ-tát đạo, thấy thương quá, là chết quý thầy liền. Thà mình chịu chết cái thân mạng này một kiếp còn hơn chết vì chuyện đó.

Quý thầy đâu phải là đại Bồ-tát, mà thương chúng sanh kiểu như vậy. Mình chưa phải Bồ-tát, trước tiên phải học về giới, thực hành về giới. Mà thực hành về giới thì quý thầy là thánh giả về giới luật.

Tuy mình xuất gia nhưng nhiều khi ít chú trọng về luật. Cư sĩ cũng vậy, nhiều người hiểu thiền rất sâu nhưng nói về giới họ lại lơ là. Bữa trước ở nhà khách tôi có tiếp một sư cô, tu đã mười bảy năm. Cô nói tình cờ nghe bộ Tỳ Nichúng tôi dạy ở đây, cô giật mình vì lâu nay cô chỉ chú trọng về Kinh, Luận của các vị Tổ mà không nghiên cứu về Luật. Sau khi nghe bộ Tỳ Ni, cô nói mười mấy năm trời tu coi như bỏ không, vì phạm vào những điều giới rất là nhiều. Sau khi nghiền ngẫm kỹ bộ Tỳ Ni, cô phát tâm chỉ ăn ngày hai bữa, sáng và trưa, như vậy cô cảm thấy ngày hôm nay mới gọi là thật tu.

Ở đây nói trước phải học luật, sau học các bộ kinh, chớ nên vượt bậc. Đố quý thầy Tổ nói hay Phật nói? Mình tưởng Tổ nói chứ thật ra bậc đẳng giác cũng không có quyền nói về luật, chỉ có Phật nói.

Người đời họ luôn sống trong ảo giác. Các thiền sư nói nếu chúng ta không chịu chuyển hóa tâm thức của mình, chưa một lần phát minh được tâm địa thì chúng ta luôn sống trong ảo giác.

Tổ Tuyên Luật Sư dạy, giới luật là pháp điều phục thân và tâm. Các ngài nói mình xuất gia mà không nghiên cứu kỹ về giới luật thì giống như một con trâu hoang đi vào cuộc đời này mà không có dây ngoàm móc vào để kéo lại.

Trong kinh Cựu Tạp Thí Dụ quyển Thượng có nói về công đức của người giữ giới.

Vào thời Đức Phật, có bốn dòng tộc rất giàu có thường thỉnh Phật và các thầy Tỳ-kheo đến thọ trai cúng dường. Lúc bấy giờ, có anh nông dân chuyên bán sữa bò đi ngang qua khu nhà của bốn dòng tộc đó, những người này mời anh vào nhà cùng tu tập một ngày, tức là thọ Bát Quan Trai giới được Phật và chư Tỳ-kheo chứng minh. Thời Đức Phật, những người thọ Bát Quan Trai giới chỉ được ăn một bữa ngọ duy nhất. Chiều anh nông dân có duyên sự về nhà, người vợ buộc anh phải ăn buổi chiều, nói mãi anh buộc lòng chiều ý vợ, phá mất ý muốn giữ trai giới trong một ngày. Tuy vậy anh cũng được bảy lần sanh cõi trời, bảy lần trở lại nhân gian mà được phước rất thù thắng.

Phật dạy:

“Một ngày giữ gìn trai giới, tức là không ăn phi thời sẽ được sáu mươi vạn năm thường no đủ, được năm thứ phước đức thù thắng.”

Nếu mình có túc duyên được vào thất hai mươi mốt ngày, sáng uống ly bột, trưa ăn một buổi nữa là đủ, chiều không ăn thì hai mươi mốt ngày đó phước đức rất thù thắng. Mình để ý người nào vào thất mà giữ gìn ngọ trai giới, khi ra thất nhìn khuôn mặt khác hơn người ăn ba buổi. Ăn ba buổi thì con mắt nó sưng, khuôn mặt nặng nặng không sáng bằng người chỉ ăn một bữa. Một ngày giữ gìn trai giới sẽ được sáu mươi vạn năm thường no đủ, được năm thứ phước đức thù thắng:

1- Ít bệnh tật:

Có những người bệnh rất nhiều, nhưng từ khi chịu khó chiêm nghiệm về giới luật, ăn uống có chừng mực thì bệnh càng ngày càng giảm.

2- Thân được an ổn:

Buổi chiều không ăn uống nhiều thì bảo đảm quý thầy ngồi thiền có chánh định hiện tiền, bởi vì cơ thể không còn nặng nề nữa. Những cuốn sách nói về sức khỏe gia đình cũng khuyên chỉ nên ăn ngày hai bữa. Người đời hiện nay họ thực tập rất nhiều, họ nói chỉ ăn nhẹ buổi chiều thì thân rất được an ổn và được sung mãn về con đường thiền định.

3- Ít nghĩ về dâm dục:

Dâm dục giảm rất là nhiều. Một phóng viên nhà báo viết về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, họ đến thiền viện nêu thắc mắc là những tu sĩ trẻ vào thiền viện tu làm thế nào vượt qua những cảnh giới tham ái, tham dục? Tôi nói, sở dĩ các thầy Tỳ-kheo hoặc các Sa-di vượt qua được cảnh giới tham dục này là do ít ăn uống, ít ngủ nghỉ và có giới luật câu thúc. Ngoài ra còn có pháp hành, tức là con đường thiền. Nhờ con đường thiền, mà những hạt giống xấu ác được chuyển hóa rất nhiều. Hạt giống xấu ác được chuyển hóa thì tự nhiên dục giảm.

4- Ít ngủ nghỉ:

Chiều ăn no, tối ngồi thiền dễ hôn trầm.

5- Được sanh lên cõi trời, biết được việc làm của mình trong đời trước.

Người này sau khi tắt hơi thở mà chưa được giải thoát, chưa được sanh về những cảnh giới cao hơn thì tệ lắm cũng sanh về cung trời Đao Lợi hoặc cung trời Đâu Suất. Do bản nguyện lúc thực hành về pháp, được phước thù thắng sanh về cõi trời.

Bộ Hành Tông chép:

“Trong cõi Đại thiên, Phật là bậc Pháp vương. Luật là lời dạy của Phật chứ không phải của Tổ.”

Những bài chúng ta học, chẳng hạn Tỳ Ni, Mười Giới, Hai Mươi Bốn Oai Nghi là rút tỉa từ những bộ Kinh lớn, chẳng hạn bộ Sa Di Thập Giới.

“Chỉ Phật mới được chế lập, từ Bồ-tát trở xuống chỉ nên làm theo. Bởi do Đức Như Lai hạnh quả tròn đầy, thấu suốt hết nghiệp tánh khinh trọng của chúng sanh.”

Từ Bồ-tát trở xuống chỉ nên làm theo, thực hành thôi chứ không được quyền chế ra giới luật. Chư Tổ vị nào có đức hạnh cao thì chỉ lập thanh qui thôi chứ không được chế giới luật. Bởi do Đức Như Lai hạnh quả tròn đầy, thấu suốt hết nghiệp tánh khinh trọng của chúng sanh. Phật biết giữ được giới đó thì được phước thù thắng như thế nào, nên Phật nói ra. Không phải Phật ức thuyết mà bằng kinh nghiệm thực chứng của Ngài, cho nên Phật nói ra rất chính xác.

“Từ bậc Đẳng Giác trở xuống cũng không kham nổi việc ấy huống là các tiểu thánh khác lại toan dám nghĩ bàn ư? Trước học luật như xuống hạt giống để vun bồi gốc ấy. Xong sau học kinh như tưới nước vào mạ làm cho cội gốc sung mãn, cành nhánh tốt tươi thì thánh quả có kỳ hạn.”

Chúng ta học giới rồi chúng ta học kinh để hướng đến con đường thánh quả.

Như Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Như người học bắn, trước chân phải đứng yên, sau mới tập pháp bắn. Cũng như có nền nhà nương cậy mà có nguồn cấp nước. Nếu trước học kinh như không có hạt giống mà tưới nước, hạt giống đã không thời chỗ nào mà thật cầu. Cho nên cần phải thứ lớp biết chỗ trước sau thì gần đạo vậy.”

Nghĩa là trước chúng ta không lo học giới, giữ giới mà học những bộ kinh cao thì trong này Phật nói giống như mình không gieo hạt giống nào hết. Mà không gieo hạt giống thì tưới nước bao giờ nó nẩy mầm? Cho nên người chịu khó nghiên cứu về giới rồi học kinh nữa thì tự nhiên họ có năng lực riêng. Quý thầy mà giữ giới luật thanh tịnh, nếu có dịp người ta thỉnh đến khai thị cho người mất hoặc chia sẻ tâm hạnh tu hành của mình thì người nghe họ thâm nhập và nắm bắt được.

Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

“Giới luật hay khai phát tâm Bồ-đề, tu học là yếu tố trưởng dưỡng công đức. Nếu thường trì giới và tu học ắt được tất cả Như Lai khen ngợi.”

Mới vào tu mà nói ngộ thiền, ngộ đạo thì rất hiếm. Những bậc thượng căn, chẳng hạn như Lục Tổ Huệ Năng hoặc các bậc thiền sư khác, nghe là ngộ liền thì đời này rất hiếm. Chư Phật, chư Tổ thương xót hàng hậu học nên nói về giới rất nhiều. Giới luật hay khai phát tâm Bồ-đề, có nghĩa là nếu chúng ta giữ giới luật được thanh tịnh, trang nghiêm, thu thúc được ba nghiệp thì tự nhiên hạt giống Bồ-đề càng tăng trưởng. Từ đó lúc nào mình cũng thích tu về đạo chứ không bao giờ có ý tưởng hoàn tục. Tu học là yếu tố trưởng dưỡng công đức, nghĩa là chúng ta chỉ trì giới mà không tu học cũng không được. Trì giới rồi phải tu, tu theo con đường Bát-nhã.

Thiền sư U Pandita nói:

“Không món trang sức nào quý báu hơn giới đức, không chỗ ẩn trú nào an toàn hơn giới đức, không một nơi nào thuận lợi hơn để cho trí huệ nở hoa bằng khu đất giới đức. Giới đức không phải là sự đẹp đẽ tô trát bên ngoài, như lớp tường vôi bao phủ những viên gạch tàng ẩn bên trong, nhưng những đức tính cao quý phát xuất từ phần sâu kín trong tâm hồn, chiếu sáng toàn thể con người đều là do giới đức hết.”

Chúng ta trang sức dù sang, đẹp cách mấy mà không giữ gìn giới đức thì cũng không bằng một người nghèo khổ, áo quần bình thường nhưng giữ giới được thanh tịnh. Không chỗ ẩn trú nào an toàn hơn giới đức, không một nơi nào thuận lợi hơn để cho trí huệ nở hoa bằng khu đất giới đức,  nghĩa là chúng ta phát minh được tâm địa, thấy được như thật con người mình thì cũng nhờ giữ giới. Giữ giới một thời gian tự nhiên vào chánh định.

“Tuy thế, dù cho giới luật thể hiện qua hành động và lời nói có được tốt đẹp đến đâu nữa cũng không đủ khả năng để đào luyện tâm. Phương cách cần thiết để giúp cho tâm trưởng thành, thấy rõ bản chất thật sự của cuộc sống, và đưa tâm đến một mức tri kiến thâm sâu chẳng có gì khác hơn là sự hành thiền.”

Chúng ta giữ giới mà không thiền định, không tọa thiền thì cũng không được. Giữ giới được thanh tịnh rồi, thì phải thiền tập. Ở đây nói giới luật thể hiện qua hành động thân, khẩu, ý nhưng để đào sâu về tri kiến Bát-nhã thì không gì bằng con đường tọa thiền.

Cho nên quốc sư Thánh Nhất nói:

“Tọa thiền tông môn là đại giải thoát. Các pháp đều nương đây mà lưu xuất, muôn hạnh đều nương đây mà thông đạt, trí huệ thần thông diệu dụng đều nương đây mà sanh, tánh mạng trời đất cũng đều nương đây mà phát.”

Một người đạt đến chỗ thiền định thâm sâu, thì các pháp từ đây lưu xuất. Chẳng hạn trong Lục Độ Ba-la-mật gồm bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ. Chỉ cần chúng ta thiền định sâu, phát minh được tri kiến thì tự nhiên thực hành bố thí rất đơn giản. Có những người tâm sự với tôi, mỗi khi phát tâm bố thí họ cắn rứt khó chịu lắm, phải suy nghĩ hai, ba ngày mới thực hiện được. Đừng nghĩ có tiền thì dễ phát tâm cúng dường, bố thí. Không phải dễ. Phải đạt đến chỗ tri kiến thâm sâu xuất phát từ nơi tự tâm. Để được như vậy là nhờ phương pháp tọa thiền, muôn hạnh đều nương đây mà thông đạt.

Những người giữ giới luật một thời gian tự nhiên cử chỉ, oai nghi, phép tắc có mức độ dừng lại. Hồi xưa, họ bước chân đi rất nôn nóng như có cái gì phía trước họ muốn đi đến, bây giờ thì đi bình thường thôi, đi mà không cầu muốn đến. Nhiều khi muốn giỡn cũng không được, muốn vừa đi vừa chạy cũng không được.

Trí huệ thần thông diệu dụng đều nương đây mà sanh… Chẳng hạn có người hỏi một câu gì đó, tự nhiên quý thầy biết được tiếp theo họ muốn nói gì, biết được cái niệm tiếp tục sanh khởi như thế nào. Biết được như thế thì mình hóa giải rất dễ. Tu thiền định một thời gian thì có diệu dụng đặc biệt. Nhà thiền nói đại cơ phải có đại dụng, tu một thời gian quý thầy sẽ thấy rất rõ.

Trong Bạt Đội Giả Danh Pháp Ngữ có ghi:

“Nếu muốn khỏi cái khổ sanh tử luân hồi thì phải sạch tình thức. Muốn sạch tình thức thì phải tỏ ngộ tâm. Muốn tỏ ngộ tâm thì phải tọa thiền.”

Tuy giữ giới luật được phước nhưng công đức thù thắng chưa có, cho nên chúng ta giữ giới luật mà phải tọa thiền nữa.

Chúng tôi làm nhà khách thường tiếp những người thuộc tôn giáo bạn. Có lần, tôi có tiếp một người gốc đạo Thiên Chúa ở Canada về, đến tìm hiểu về con đường thiền. Anh nói giới trẻ bây giờ tìm hiểu về thiền rất nhiều. Sau một ngày làm việc căng thẳng, họ ngồi lại nửa tiếng, mười lăm phút cảm thấy rất an ổn, nhẹ nhàng. Ngày xưa qua Canada, chúng tôi thấy bên đó rất thiếu người hướng dẫn về con đường thiền tập. Chúng ta được túc duyên rất sâu, được giữ giới, được tu tập thiền định. Người nào tu tập thiền định một thời gian mới thấy được lòng khát ngưỡng của nhân loại, ngày hôm nay họ luôn hướng đến con đường thiền tập. Chỉ có con đường thiền tập này mới hướng đến tâm linh, chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa những hạt giống tật đố, ích kỷ, tham sân.

Chúng ta nếu không chịu thực tập về con đường thiền định này, nhiều khi ngồi thiền mình không biết cách chuyển hóa thì cũng vô ích. Chúng ta phải học hiểu pháp cho kỹ nữa. Chẳng hạn lên ngồi thiền, tự nhiên một vọng tưởng tật đố huynh đệ nào đó hiện lên, tồn tại, hoại diệt. Nhưng cái gì thấy được chỗ tri kiến, cái gì thấy được những hạt giống đó, thì chúng ta biết cách chuyển hóa.

Cho nên Tổ Lâm Tế nói:

“Người ngồi thiền mà trơ trơ không biết gì, giống như người đó bị chìm sâu trong định mà không phát khởi được chỗ tri kiến thì cũng vô ích.”

Tổ Lâm Tế nói rất rõ. Chúng ta làm cách nào để chuyển hóa những hạt giống này. Quý thầy tu phương pháp thiền thì thấy rất rõ những hạt giống đó. Ví dụ chiều nay mình muốn đi dạo bờ hồ, vọng niệm khởi lên là thấy liền. Nhưng vừa khởi lên mình nói thôi không được, dù Thầy đi vắng mình cũng phải ở nhà tu học. Khởi như vậy, tự nhiên cái niệm đi chơi bạt mất. Lâu ngày chầy tháng thì những hạt giống xấu ác đó tự nhiên thưa dần rồi hết. Giống như cái kho luôn bỏ đồ vào thì càng ngày càng đầy, bây giờ rút ra hết không chất chứa những hạt giống xấu ác nữa, thì một thời gian nó trở thành Không Như Lai Tàng. Thành Không Như Lai Tàng rồi thì sạch tình thức, sạch tình thức thì tâm tự nhiên thấu suốt được hết. Phương pháp này đã có những người thực tập có kết quả.

Tại sao có lúc mình toàn nghĩ thiện, có lúc toàn nghĩ ác? Có lúc chúng ta rất thương, thông cảm và muốn giúp đỡ huynh đệ. Nhưng cũng có những lúc chúng ta luôn khởi niệm tật đố, ích kỷ, xan tham, thấy huynh đệ nào làm được việc mình cũng không thích.

Chư Phật nói, mình mang thân này gọi là tổng báo, còn chư Phật mang ứng hóa thân vào cuộc đời này. Trong thời quá khứ, có lúc chúng ta gieo những hạt giống thiện pháp, bây giờ trổ ra. Cũng có lúc chúng ta làm ác, thì bây giờ những hạt giống xấu ác nẩy mầm. Nhờ thực tập về phương pháp thiền, chúng ta biết cách chuyển hóa, biết cách sám hối, biết làm tất cả việc thiện pháp để hồi hướng những nghiệp xấu ác ngày xưa. Có những người ngồi thiền rất nhiều nhưng nếu không biết cách chuyển hóa thì cũng còn sân nhiều, những hạt giống xấu ác cứ khởi lên hoài. Biết cách chuyển hóa, thì dần dần những nghiệp xấu ác này không còn nữa, tàng thức sạch, lúc này tỏ ngộ được chơn tâm, gọi là người chơn chánh tu thiền. Đó là tinh thần thiền tập.

Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:

“Nếu chưa thông suốt trí Bát-nhã thì đối với chơn tâm vẫn còn mờ mịt.”

“Cần phải nương về nhất thể Tam bảo, sám hối tội lỗi trong ba đời, dùng giới luật kiểm điểm lỗi lầm.”

Chúng ta chưa ngộ được tri kiến Bát-nhã như các vị Tổ thì chúng ta phải nương Tam bảo, sám hối tội lỗi trong ba đời. Sám hối rồi dùng giới luật để kiểm điểm lại lỗi lầm của mình. Chẳng hạn hôm nào thầy tri khố đi vắng, mình muốn vào kho lấy trái ổi hay trái chuối gì thôi, nhưng mà cái gì thấy được? Giới luật! Giới luật ngăn mình lại, không được trộm cắp của Thường trụ.

“Ngăn ngừa sai quấy, dùng thiền định diệt trừ hôn trầm, thâu nhiếp tán loạn. Gần gũi bạn lành, tán thán đọc tụng kinh điển Đại thừa, dùng muôn điều lành để sửa trị. Nghe nhiều để ứng dụng tu tập hỗ trợ hiển bày chân tánh, tiến thẳng đến Bồ-đề.”

Tức là luôn luôn chúng ta phải gần gũi bạn lành, gần gũi những bậc thiện tri thức, những người có tâm tu học.

“Nghiệp chướng hết, thiền định vi diệu tự tỏa sáng.”

Có một thầy ở thất riêng tu tập, đến trình bày với tôi, là thầy đã từng muốn chết. Ban đầu thầy định uống thuốc độc, sau đó thầy quyết định nhịn đói để chết. Tám ngày, tám đêm thầy không ăn không uống gì mà không chết. Đến ngày thứ chín vẫn chưa chết nhưng chịu hết nổi, thầy ráng bò xuống lấy gạo nấu nước cháo uống. Thầy hỏi tôi tại sao, thầy nhịn đói để dứt mạng căn mà không dứt được, không vượt qua được ngũ uẩn này. Còn các thiền sư tại sao ngồi nhắm mắt là đi?

Như ngày xưa tôi trả lời không được, nhưng bây giờ may là nghiên cứu chỗ “nghiệp chướng hết, thiền định vi diệu tự tỏa sáng” thì tôi sáng ra được chỗ này. Tôi nói, nghiệp chướng chưa hết, hạt giống tham ái còn, thiền định chưa phát khởi thì bứt cái thân này không được. Mình nhịn đói mười ngày, hai chục ngày mà không thể nào vượt qua sắc uẩn này, bởi vì còn tâm tham muốn, tâm thèm ăn, thèm uống, thèm ngủ, thèm nghỉ, thèm tất cả mọi thứ, những hạt giống này vẫn còn. Còn các thiền sư bứt một cái là ra đi liền, bởi vì cái nghiệp của các ngài sạch hết rồi, không còn bám víu ở trần gian này nữa. Cái ăn, cái mặc các ngài cũng không dính mắc.

Vị thầy này kể lại, nhịn đến ngày thứ bảy thì thấy trên bàn hiện ra toàn đồ ăn, mà không phải đồ chay tịnh lạc. Lúc còn ở tại gia, quý thầy thèm món gì nhất thì tự nhiên ứng hiện ra. Quý thầy nhớ kỹ, tu một mình không thầy hướng dẫn, không bạn đồng tu rất là nguy hiểm.

Có một sư cô gặp tôi nói rằng, sau khi nghe xong bộ Tỳ Ni, tuy có làm việc nhọc nhưng cô quyết định chỉ ăn buổi sáng và trưa chứ không ăn buổi chiều. Cô kể, ngày xưa cô không màng đến bánh trái, thức ăn, thức uống gì cả, nhưng từ khi phát tâm không ăn buổi chiều thì thèm khủng khiếp. Cô chiến đấu với cái thèm đó một tháng, bây giờ mới được yên ổn. Chư Phật thấy nghiệp chúng sanh nên mới đưa ra phương pháp này, dần dần một thời gian quý thầy không còn thèm khát về ăn nữa, kế tiếp chúng ta học tập về phương pháp mặc, rồi đến ngủ. Dứt được cái này rồi thì nghiệp chướng, những hạt giống xấu ác không còn tác động trong tâm thức mình nữa.

Ở Tây Tạng có câu chuyện hay và ý nghĩa:

Có một vị Ban-thiền Lạt-ma hỏi Phật tử ai muốn lên Tây phương cõi Phật, thì ngài sẽ đưa lên. Chỉ cần ngài đặt tay lên thân của người nào thì thần thức người đó sẽ xuất ra, tái sanh về cõi Phật liền. Mọi người ai cũng nói muốn, nhưng khi ngài đến hỏi từng người thì người nào cũng có việc bận chưa thể lên cõi Phật được; người thì lo cho con, người thì phải lo heo, bò… Chỉ có một cậu bé không cha, không mẹ, không của cải, lang thang đi xin ăn là đồng ý đi ngay.

Ý nghĩa câu chuyện thật là hay, có nghĩa là phải buông sạch hết. Bất cứ phương pháp nào, Thiền tông, Mật tông hay Tịnh độ tông đều phải dứt sạch tình thức, còn lợn cợn thì lên không được.

Tôi có đọc một quyển sách, trong đó có đoạn phỏng vấn những người từng sử dụng ma túy nay đã cai nghiện. Họ kể rằng chỉ tích tắc sau khi chích hoặc hút, liền sống trong ảo giác. Ví dụ, thấy tiên nữ hoặc là thiếu nữ trẻ đẹp đi đến làm họ mê mẩn, nhưng thật ra đó là chiếc xe chạy tới tông vào họ.

Ở đây theo tinh thần của thiền, nếu chúng ta chưa dứt sạch được nghiệp chướng, chưa đi sâu vào thiền định, chưa giác ngộ, chưa thâm nhập được tri kiến Bát-nhã, thì cũng giống như người chích xì ke luôn luôn sống trong ảo giác. Cho nên chư Tổ bắt mình phải giữ giới luật, rồi tu tập thiền định, sám hối để chuyển hóa những hạt giống này.

“Trí huệ phát sanh thì chơn tâm thanh tịnh. Đã hay lợi ích chính mình lại còn thương xót những người chưa nghe, chưa biết. Do đó làm mọi nhân phước rộng rãi, thực hành đầy đủ lục độ, tiếp nối gia nghiệp của Phật Tổ.”

Nghiệp chướng dần dần hết rồi, thì lợi chính bản thân mình trước, rồi giúp ích những người nghèo, không phải nghèo vật chất mà nghèo đói về tâm linh. Người giữ giới luật thanh tịnh trang nghiêm, tỏ sáng được chơn tâm rồi thì làm lợi ích rất nhiều. Không phải một đời tỏ sáng chơn tâm liền mà đời tiếp, đời tiếp,… Nếu không lấy đời này làm nền tảng thì đời sau bảo đảm quý thầy không có phần. Cho nên chư Phật, chư Tổ bắt buộc mình đời này phải nhận chân ra được, phải lập thành đường hướng đi, thì đời sau quý thầy chắc chắn ra đời giáo hóa chúng sanh.

Ngài Milarepa là du tăng hành cước ở Tây Tạng, không ở chỗ nào nhất định. Bữa nọ ngài đến một tu viện lớn. Ở Tây Tạng rau cải rất hiếm, nên vị tri sự định sáng hôm sau xẻ thịt con trâu cho đại chúng dùng, phần còn lại đem bán lấy tiền lo cho đại chúng. Ông tính bán cái đầu ở chợ này, bán bốn cái chân ở chợ khác, còn cái đuôi tính hoài mà không biết bán ở đâu, tính suốt cả đêm không ngủ được. Sáng ra ông thấy ngài Milarepa còn ngủ không dậy ngồi thiền, ông đến đá ngài một cái và nói:

- Ông tu hành kiểu gì vậy, suốt ngày ăn ngủngủ.

Ngài Milarepa nói:

- Tại vì đêm qua tôi thức.

- Thức làm gì?

- Tôi thức tôi tính xem con trâu bán cái đầu ở đâu, bốn cái chân bán ở đâu, còn cái đuôi tính hoài mà không biết bán cho ai.

Vị tri sự nghe vậy liền sụp lạy.

Người đã tỏ ngộ chơn tâm thấy được đường đi nước bước của niệm, cho nên họ khai thị liền tức khắc, như ngài Milarepa giáo hóa khuyên dạy vị tri sự. Người sạch nghiệp chướng rồi thì thiền định vi diệu tự phát, năng lực thù thắng tác động đến người nghe khiến họ về tu tập được. Cho nên ngày xưa Đức Phật nói một thời pháp có rất nhiều người nghe ngộ đạo. Nghiệp chướng hết rồi thì giáo hóa rộng rãi, làm nhiều lợi ích và lục độ vạn hạnh đều thành tựu.

“Phàm học một bộ kinh, trước phải thưa thầy kinh đó, rồi lại bạch học kinh khác nữa.”

Ngày xưa ở những vùng quê xa, chùa cổ, học xong một bộ kinh phải lên trình thầy, con học hết rồi, thầy cho con xin bộ khác, học kinh gì phải thầy cho mới được. Cạo tóc cũng vậy, muốn cạo tóc phải đến xin “Bạch thầy, xin thầy cho con sáng nay cạo tóc.” Chứ không phải tùy mình muốn cạo ngày mười hai, mười ba, hay mười bốn gì cũng được. Phải xin thầy.

Ngài Đạo An tướng mạo rất xấu, thầy bắt làm ruộng chứ không cho xem kinh. Ở với thầy ba năm, một hôm ngài năn nỉ được xem kinh thì thầy cho kinh Biện Ý năm ngàn chữ. Sáng ra ruộng, chiều về ngài trả lại quyển kinh, xin thầy cho mượn bộ khác. Thầy ngạc nhiên nhưng cũng cho mượn bộ kinh Kim Quang Minh, một vạn chữ, chiều về ngài cũng trả lại. Thầy bảo ngài đọc cho thầy nghe, ngài đọc thuộc lòng hết quyển kinh một vạn chữ. Biết đây là bậc pháp khí, thầy bảo ngài đi về phương nam tầm sư học đạo.

Người xưa thấy đệ tử giỏi là khuyên đi cầu pháp chỗ khác liền, bởi vì biết sức mình không đủ. Người thời nay không bằng người xưa chỗ đó. Sau này quý thầy có đủ túc duyên trụ trì rồi, đệ tử lên trình pháp, diễn tả tâm thức đã đi vào chiều sâu, nếu thấy mình chưa đến chỗ đó thì phải hướng dẫn đệ tử đi nơi khác để sau này làm pháp khí, vì nhiều khi đó là bậc tái lai. Chẳng hạn sau này Hòa thượng theo Phật rồi, thì cũng trở lại tìm con cháu đệ tử để làm đệ tử. Những vị này họ vừa nói là mình biết đây là bậc tái lai liền.

Quả tình ngài Đạo An về hướng nam thì gặp ngài Phật Đồ Trừng. Vừa thấy là ngài biết đây là bậc tái lai, bậc pháp khí phi thường ra đời để dìu dắt loài hữu tình, cho nên ngài nhận làm đệ tử liền. Sau này ngài Đạo An trở thành bậc pháp khí rất thù thắng. Ngày nay tất cả chư Tăng đều mang họ Thích, đó là do công ngài Đạo An. Kinh sách được chế tác lại rất nhiều cũng do công sức của ngài.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Sa-di Phật pháp chưa nhiều, thấy biết chưa rộng, chẳng biết sự sâu cạn của Phật pháp, thứ lớp mà học, bạch thầy sau mới học, thì ôn cũ biết mới, mỗi ngày tiến đến sự lợi ích.”

Tổ Tuyên Luật Sư dạy, mình mới học Phật pháp, thấy biết chưa rộng, cho nên học gì phải để thầy chỉ dạy cho mình.

Đại Luật ghi:

“Phật dạy Sa-di có hai phép học: 1- Tụng kinh và hiểu nghĩa. 2- Tham thiền và quán tưởng. Kinh Bát-nhã nói: thứ nhất học tham thiền gọi là mở trí, thứ hai học kinh gọi là rộng trí.”

Sau này quý thầy dìu dắt người khác phải nhờ học kinh để dùng làm phương tiện.

“Chẳng được miệng thổi bụi trên kinh.”

Quý thầy có làm vậy không? Chẳng hạn quý thầy mượn cuốn kinh, để trên bàn một thời gian mình quên coi thì bụi bám. Nếu chúng ta chưa học luật, chưa học oai nghi phép tắc thì chúng ta thường dùng miệng thổi.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kinh điển tức như Phật. Trên kinh có bụi nên dùng phất trần sạch mà phủi. Nếu dùng miệng mà thổi có hai lỗi: thứ nhất là hơi hôi trong miệng, thứ hai là mất tâm tôn kính.”

Ngày xưa các ngài nhìn quyển kinh giống như Phật còn tại thế, bụi dơ là các ngài dùng phất trần phủi sạch chớ không dùng miệng thổi, vì hơi hôi trong miệng mình thổi ra mất thanh tịnh và mất vẻ tôn kính. Có những vị Hòa thượng lớn dịch kinh, các ngài hít một hơi vô rồi nín hơi, dịch một hàng xong thở ra một bên rồi nín hơi dịch tiếp. Các ngài quý kinh tới mức độ như vậy. Như Thiền sư Pháp Diễn lạy kinh Pháp Hoa từng chữ, từng chữ. Các ngài tôn trọng kinh lắm, chớ không phải như mình.

Kinh Văn Thù Vấn nói:

“Sắm sửa đồ cúng dường mà lấy miệng thổi sạch bụi trên đồ cúng đó đọa trong địa ngục Ưu-bát-la, mắc quả báo làm ông thần gió.”

“Chẳng được trên ghế kinh để gói trà cùng các vật lặt vặt. Người coi kinh, ta chẳng được đứng gần và đi trước ghế kinh người coi.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Phàm xem kinh ắt phải lắng tâm mà tư duy, nếu đi nhiễu trước mặt thì có hai lỗi: thứ nhất là mình mất vẻ cung kính, thứ hai là loạn tâm niệm của người coi kinh.”

Đại chúng mình có bị không? Trên giá xemkinh mình để trà, để bánh, để đủ thứ hết. Còn người ngồi coi kinh, mình đi ngang trước mặt mình nhìn vào, làm loạn tâm khiến người ta không tư duy được mà còn mất vẻ cung kính. Cho nên học oai nghi rất hay, phương pháp này giúp mình kiềm thúc tâm vọng động.

“Phàm kinh sách hư phải mau bồi sửa.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kinh điển chính là huyết mạch của thánh hiền, cũng nói là cha mẹ của người, nếu có hư hại phải gấp mà tu bổ. Vì sao? Kinh ví như cha mẹ, cha mẹ có bệnh há chẳng mau trị ư?”

Kinh sách quyển nào hư, quý thầy phải sửa sang liền. Nếu không nhờ tôn giả A-nan trùng tuyên lại, thì chắc gì mình được những bộ kinh này, cho nên nói kinh điển chính là huyết mạch của thánh hiền, là tâm tông của Phật Tổ. Nhờ kinh điển mới biết đường hướng giữ giới luật, đường hướng tu tập chuyển hóa nội tâm.

“Bổn nghiệp Sa-di chưa rồi chẳng được tập đọc sách ngoài, như sách tử sử và những sách trị đời.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Bổn nghiệp tức là việc bổn phận như mười giới luật chưa nhuần, hai mươi bốn oai nghi chưa đủ nên chẳng tập đọc pháp khác. Thứ nhất là Bách Gia Chư Tử, thứ hai là Tứ Thư, sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Ngũ Kinh là kinh Thi, kinh Thơ, kinh Lễ, kinh Dịch, kinh Xuân Thu.”

Những bộ sách đó chúng ta không học. Bởi vì trí lực mình chưa đủ, nên Phật cấm mình không được học sách ngoại đạo.

“Phải tập đọc kinh nội điển, nghĩa là Tam Thừa Thánh Giáo, khiến dạy tịnh tâm trừ hoặc, thấy tự bổn tánh đều là pháp xuất thế nên gọi là nội điển.”

Nội điển là những quyển kinh chúng ta hiện đang học, chẳng hạn kinh Viên Giác mà Thầy đang dạy, hoặc kinh Pháp Cú… Những bộ kinh đó chúng ta nên học và nghiền ngẫm. Học những bộ kinh lớn là mình gieo những hạt giống thù thắng, pháp xuất thế gian. Những hạt giống pháp xuất thế gian đó vào trong tàng thức rồi, thì nó đánh bạt những hạt giống xấu ác. Khi lên ngồi thiền, phần nhiều mình nghĩ chuyện gì đâu chứ ít khi nào nghĩ về kinh điển, chứng tỏ hạt giống xấu ác trong tàng thức mình rất nhiều. Cho nên ở đây nói Tam thừa Thánh giáo khiến dạy tịnh tâm trừ hoặcthấy tự bổn tánh đều là pháp xuất thế nên gọi là nội điển. Mình xem những bộ kinh đó để tâm được lóng lặng, tức là trừ hoặc cấu.

Kinh Phật Tạng nói:

“Tương lai Tỳ-kheo thích tụng đọc kinh ngoài, đối lúc nói pháp, nghiêm sửa văn từ khiến người hoan hỉ. Ấy là các người là ma mê hoặc, che lấp con mắt trí huệ, tham nặng lợi dưỡng, giống như người mù vì chỗ cúng dối.”

Chẳng hạn dẫn trích những văn từ bóng bẩy ở đâu đó chứ không nằm trong kinh điển, Phật nói đây là ma mê hoặc chúng sanh, che con mắt trí huệ của chúng sanh. Bởi vì sao? Tham nặng lợi dưỡng, giống như người mù vì chỗ cúngdối. Mình thích người ta cúng dường nên nói chuyện gì đâu đâu để người ta thích. Khi về thì họ sanh đủ thứ tâm, mà không biết đường hướng tu gì hết.

Bộ Phụ Hành có nói:

“Nếu muốn đọc sách ngoại thơ, theo trong kinh giáo Tiểu thừa, vì muốn dẹp bọn ngoại đạo nên mỗi ngày trong mười hai giờ cho một giờ học sách ngoại thơ.”

Quý thầy Sa-di sau này thọ giới Tỳ-kheo rồi, tu được mười mấy hai chục năm, thì trong mười hai giờ được một giờ xem sách ngoại đạo. Vì sao? Chẳng hạn làm nhà khách, có những người họ đến hỏi trong Áo Nghĩa Thơ nói gì, quý thầy không xem sao biết. Như hôm trước tôi đã nói, Áo Nghĩa Thơ cũng nói về sự vĩnh cửu, về Niết-bàn thanh tịnh, chơn tâm… nhưng bị kẹt, bởi vì họ chấp một cái tự ngã, còn chấp về đoạn, còn chấp về thường, chưa phải con đường rốt ráo của chư Phật.

“Chẳng được lựa kinh ứng phó đạo tràng mà tập học.”

Vào thời Đức Phật, Sa-di hoặc Tỳ-kheo chỉ có hai con đường, thứ nhất là tự tu cho mình, thứ hai là độ tất cả chúng sanh. Nếu chưa đủ duyên ra giáo hóa chúng sanh, thì chúng ta chuyên về con đường thiền tập để giải thoát chính mình, rồi kiếp sau tiếp tục đi theo hạnh thứ hai là giáo hóa chúng sanh. Chỉ có hai con đường đó thôi, không có con đường thứ ba.

Trong đại tùng lâm, quý Thầy cắt mình làm tri khố, tri sự hay làm tri khách, thư ký là tạm thôi, chứ con đường đó không phải con đường thánh đệ tử đi, nhớ kỹ điểm đó. Ngày xưa không có những việc đó. Sau này thanh qui Tổ BáchTrượng ra đời, mới chia ban này, ban nọ, ban vườn, ban rẫy… Mình tu tập thời này, chứ đúng vào thời Phật thì chỉ có hai con đường. Đến mức độ xây tháp thờ xá lợi của Phật, Phật dạy để hàng cư sĩ bạch y làm, Tỳ-kheo cũng không được làm.

Như tiểu sử ngài Lai Quả:

Bữa đó trong kho hết gạo, có một ông quan có người thân mất đến thỉnh ngài tụng một thời kinh được bốn mươi vạn quan tiền, vị tri sự thấy nhiều tiền nên vào thỉnh ngài:

- Hòa thượng đi tụng đi, có gì đâu.

- Chiều nay ông nấu cháo, hết cháo cho uống nước lạnh, lên thiền đường ngồi.

Ở đây mình nêu ra cho biết, chứ bây giờ có những trường hợp, chẳng hạn thân nhân Phật tử mất đến thỉnh, thiền viện mình cũng có đi.

Chẳng được lựa kinh ứng phó đạo tràng mà tập học, ý muốn nói mình đừng lựa những bộ kinh để học cho thuộc, tập tụng cho hay, đánh trống thổi kèn tụng đám thì ở đây không cho phép. Chỉ có hai con đường là tự lợi và lợi tha mà thôi.

Bản thân chúng tôi nghiệm, người tu thật ra không tốn bao nhiêu, sáng uống một ly bột, trưa ăn một, hai chén cơm, áo quần cũng không cần nhiều, có tiền cũng không biết làm gì. Quý thầy nghĩ có tiền làm cái gì? Hưởng thụ nhiều thì phạm vào giới luật của Phật.

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là chỗ Như Lai nói trong Kinh điển thật là sâu xa kín nhiệm, cần yếu là người thọ trì tập đọc, tự lợi, lợi tha. Sa-di bổn nghiệp chưa thành, sợ tập khí hiện tiền, vì lợi mà quên mất giới phẩm.”

Có những thầy Sa-di hoặc Tỳ-kheo ở thành phố tâm sự với tôi, đến nhà tín thí tụng rồi được cúng dường, riết rồi quen, bữa nào không đi thấy buồn buồn, thiếu thiếu. Tập khí hiện tiền thì tự nhiên quên mất giới phẩm, đi vào con đường lợi dưỡng. Từ con đường lợi dưỡng đó, tự nhiên nghĩ đến chuyện khác.

“Chẳng được tập đọc kinh điển ngụy tạo.”

Sa-Di Học Xứ ghi:

“Nghĩa là dùng lời nói hoang đường nói bậy là lời của Phật để lừa dối kẻ ngu, như kinh Huyết Bồn, kinh Diệu Sa, kinh Phân Châu, kinh Cứu Khổ, kinh Bắc Đẩu, kinh Huỳnh Đình đều chẳng phải là Phật nói.”

Những bộ kinh này quý thầy không nên đọc. Ở đây có ai biết kinh Cứu Khổ không? Quyển kinh nhỏ và mỏng có in hình Đại Sĩ Quan Thế Âm Bồ-tát đứng cầm nhành dương liễu đó. Hồi nhỏ tôi cũng tưởng là kinh Phật tôi đọc thuộc làu: “tu li tu lị ma ha tu lị tu lị ta bà ha”. Họ nói kinh của Phật nhưng mà không phải, các vị Tổ nói rất rõ.

Trong luật có ghi, muốn biết đây là chánh, đây là tà, đây có đúng kinh Phật nói hay không thì phải dùng phương pháp: Thứ nhất là Tứ pháp ấn, thứ hai là Tam pháp ấn, thứ ba là Đệ nhất pháp ấn. Tứ pháp ấn là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Tam pháp ấn là Chư hành Vô thường, Chư pháp Vô ngã, Niết-bàn tịch tĩnh. Còn muốn phá các hàng ngoại đạo, chúng ta phải dùng cái ấn duy nhất. Tinh thần của Bồ-tát Long Thọ chính là Đệ nhất pháp ấn, là đến chỗ tột, phải có tư duy sâu sắc. Vào con đường thiền định rồi, thì tự nhiên có năng lực.

Kinh Bách Duyên có kể:

Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có việc đến một nơi nọ, nghỉ lại một đêm. Một cô gái thấy tướng mạo hai ngài thanh tịnh trang nghiêm nên đi theo và khởi lên niệm dục. Một người Bà-la-môn có thuật xem tướng tên Cù-dà-li, nhìn thấy niệm bất tịnh trên khuôn mặt người phụ nữ, nên phỉ báng hai tôn giả đã làm hạnh bất tịnh với cô. Ông đến trình với Phật, Phật bảo hai người này đã chứng thánh quả, đừng phỉ báng mang tội. Ông không nghe, cứ khăng khăng là mình đúng. Ngày thứ nhất trên người ông nổi lên một mụt nhỏ. Ngày thứ hai ông tiếp tục khẳng định với Đức Thế Tôn là hai tôn giả đã phạm giới bất tịnh, thì cái mụt của ông to lên bằng trái ớt. Ngày thứ ba mụt to bằng trái cóc rồi vỡ ra, ông chết đọa địa ngục.

Lúc này các thầy Tỳ-kheo đến hỏi Phật tại sao Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã chứng quả vị A-la-hán mà còn bị nghiệp này. Phật nói vào thời quá khứ lâu xa, thời Đức Phật Ca-diếp, có vị Bích-chi Phật tu trong rừng, một cô gái chăn trâu cũng vào khu rừng đó. Lúc đó, hai vị nông dân là tiền thân của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, nhìn thấy hai người từ trong rừng đi ra nên phỉ báng vị Bích-chi Phật là đã phạm giới bất tịnh với cô gái chăn trâu. Hai nông dân sau đó chết đọa địa ngục vô lượng kiếp, rồi sanh làm người trải qua vô lượng kiếp bây giờ mới được gặp Phật. Phật nói bởi nhân duyên đó nên bây giờ bị phỉ báng lại.

Các vị đệ tử lại hỏi tại sao hai tôn giả chứng quả vị A-la-hán rồi, mà không thị hiện cho Cù-dà-li thấy để ông ta khỏi phạm tội. Phật nói, người tu phương pháp Tứ pháp ấn và Tam pháp ấn không có năng lực thù thắng đó. Chỉ người nào thâm nhập vào Đệ nhất pháp ấn mới có được năng lực này.

Phật kể tiếp một câu chuyện khác. Vào thời xa xưa có vị tiên nhân tu trong núi tên Định Quang. Một hôm ông vào rừng, năm trăm đệ tử của ông thấy một cô gái chăn trâu trong rừng đi ra, nên nghi thầy mình đã phạm giới bất tịnh. Ông nghĩ nếu không dùng thần lực, thì các đệ tử này đọa địa ngục hết, nên ông dùng thần lực bay lên hư không biến hiện mười tám pháp thần thông. Các đệ tử sụp xuống lạy và xin sám hối. Phật nói tiên nhân Định Quang chính là tiền thân của Đức Phật, còn năm trăm đệ tử là năm trăm thầy Tỳ-kheo này.

Cho nên Phật khuyên các đệ tử phải thực hành Bồ-tát đạo, đi vào con đường Đệ nhất pháp ấn. Đệ nhất pháp ấn là tâm không, cảnh vắng, tâm cảnh nhất như. Đạt chỗ đó rồi, thì có thần thông diệu dụng, mới làm được nhiều lợi ích cho chúng sanh. Nên Phật dạy:

“Trong đời tương lai có nhiều ác quỷ thọ sanh trong nhân gian thường ôm lòng ác thời khởi tranh luận, mỗi mỗi cầu ở danh xưng, lợi dưỡng. Ngụy tạo kinh thư và các phù chú, tự tán thán hủy hoại người khác, khiến người tu học chẳng biết chỗ nào, làm mù con mắt chánh, mất đi chánh tri kiến vậy.”

Quý thầy phải nương những bộ kinh Đức Phật nói, ngoài ra đừng tập đọc cái gì khác, làm mất đi con mắt trí huệ của mình.

“Chẳng được tập học sách coi số, chẳng được học tập sách coi tướng.”

Cái này Phật cấm. Hồi nhỏ tôi cũng đi coi bói, thầy bói nói hai mươi sáu tuổi tôi sẽ giàu không thể tưởng tượng, nhưng hai mươi bốn tuổi tôi vào Thường Chiếu làm công quả mất rồi.

Phật cũng cấm không cho đọc sách coi tướng. Coi tướng đúng chớ không phải không đúng, nhưng nhà Phật nói tướng không cố định, không nằm trong định nghiệp. Ngài Trí Khải Đại Sư kể:

Bát tiên Trương Lão Quả nhìn sắc mặt ông Trần Châm nói ông ba tháng nữa chết. Sợ quá ông về nhà cầu cứu người em là Trí Khải Đại Sư. Ngài Trí Khải khuyên ông ngồi thiền sổ tức. Ba tháng sau Trương Lão Quả nhìn ông Trần Châm giựt mình, biết ông nhờ tu nên đã chuyển nghiệp.

Huống nữa bây giờ tu phương pháp tri vọng, Diêm vương nào bắt quý thầy.

Gần chín mươi tuổi Trần Châm mới chết, bữa nọ nằm mộng thấy trên cung trời Đao Lợi có một cung điện lớn, nói đây là cung điện của Trần Châm.

Câu chuyện thứ hai:

Vua Càn Long là một vị vua sống rất thọ, tám mươi chín tuổi mới chết. Ông thích học cung kiếm, võ thuật nên rất khỏe mạnh. Ông hay giả thường dân đi kinh lý. Bữa nọ trên đường đi, vua gặp một người gọi là Ma Y Thần Tướng, người này nhìn vua nói: “Ông này số ăn mày.” Vua nghe vậy cười. Ông thầy tướng sụp xuống nói: “Người này chính là Hoàng đế.” Vua Càn Long hỏi:

- Hồi nãy ông nói tôi là ăn mày, bây giờ ông nói tôi là Hoàng đế. Ông căn cứ vào điểm nào?

- Tướng ông rất xấu, nhưng khi cười, giữa hàm răng có một chiếc răng bằng ngọc, nên biết đây là Hoàng đế.

Nghĩa là tướng không cố định. Nhiều khi nhìn người ta mình khi dễ, nhưng mà ẩn tướng tốt trong đó sao mình biết. Rồi người ta làm việc thiện, tu tập chuyển hóa nữa. Cho nên Phật dạy không được đọc sách coi tướng. Khi chấp vào rồi mê cái đó không lo tu tập, suốt ngày nhìn tướng lông mi, lông mày… hết tu được luôn. Quý thầy làm nhà khách dễ bị lắm. Khách vào mình nhìn một hồi, mà phải nhìn, nhiều người giả đò vào xin tiền, riết thành bệnh. Làm nhà khách dễ bị cái bệnh đó.

Trong quyển Truy Môn Sùng Hạnh Lục có ghi:

Thời Nam Bắc Triều có một vị Sa-môn hiệu là Trí Tạng ở chùa Khai Thiện, Trung sơn. Năm ngài hai mươi chín tuổi, một hôm trên đường đi gặp ông thầy tướng nói ba mươi mốt tuổi chết. Ngài về tụng kinh Kim Cang, lễ Phật sám hối, qua ba mươi mốt tuổi vẫn còn sống. Thầy tướng gặp lại giựt mình hỏi ngài làm phước đức gì mà tướng thay đổi hết, ngài nói tôi chuyên tụng kinh Kim Cang, lễ Phật sám hối. Thầy tướng nói Phật pháp thật là vi diệu.

Trong quyển Sơn Am Tạp Lục ghi:

Hòa thượng Kính Sơn người nhỏ bé, răng hô, miệng túm, ngài thành kính đảnh lễ Đại sĩ Quán Thế Âm Bồ-tát suốt hai mươi năm, tu tập tất cả thiện pháp. Hai mươi năm sau thầy tướng gặp lại ngạc nhiên, thấy tướng ngài đã chuyển, không còn như ngày xưa.

Đức Phật ra đời ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là vô lượng kiếp ngài tạo phước đức thù thắng. Mình lỡ tạo nghiệp xấu thời quá khứ thì bây giờ ráng sám hối, tu tập để chuyển hóa.

Trong Qui Sơn Cảnh Sách, ngài Qui Sơn có nói: “Đường đường Tăng tướng, dung mạo khả quan, là nhờ túc duyên đời trước các ông đã tạo nên được tướng thù thắng, bây giờ các ông phải ráng tu tập tiếp.”

Còn nếu đường đường Tăng tướng mà dung mạo khả nghi thì mình ráng chuyển hóa.

Như vậy chúng ta thấy rằng, tướng không cố định. Cho nên Phật cấm không cho coi số, coi tướng là để chúng ta ráng tu tập, ráng chuyển hóa. Có những người phước đức thù thắng nhưng ỷ lại, cống cao ngã mạn thì tướng tốt chuyển thành xấu.

“Chẳng được tập học làm thi. Chẳng được viết chữ lồng, viết chữ hay, miễn viết nét ngay thẳng là đủ.”

Thiền thoại có ghi, một vị thiền tăng đời Tống, bảy tuổi đã vào chùa, xuất gia lúc còn nhỏ, mười bốn tuổi làm văn rất hay. Ngài gởi một đoạn văn về cho mẹ, người mẹ nói con đi tu mà làm văn hay thì sau này con chỉ trở thành văn sĩ chứ không phải thiền sư. Ngài bỏ làm văn mà làm thơ, người mẹ nói dẫu con làm thơ thật hay thì sau này cũng chỉ thành thi sĩ. Ngài không làm thơ nữa mà làm họa sĩ, vẽ rất đẹp. Người mẹ cũng khuyên, con vẽ đẹp cách gì thì cũng chỉ là họa sĩ nổi tiếng thôi, chứ không giải quyết gì cho chính mình và cho người khác. Nghe lời khuyên của mẹ ngài buông hết, vào núi chuyên tâm tu đạo, sau trở thành một bậc pháp khí thượng thừa trong tông môn.

“Chẳng được tay nhơ cầm nắm quyển kinh.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kinh điển chính là chỗ nói thanh tịnh diệu pháp của Như Lai, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh mới kham thọ trì.”

Quý thầy đi tiểu tiện hoặc đi đại tiện xong phải nhớ rửa tay. Hòa thượng Trúc Lâm tuy lớn tuổi, nhiều hôm cảm nặng nhưng đi vệ sinh xong ngài cũng rửa tay. Tay không sạch cầm cuốn kinh coi, bị tổn phước.

Truyện Hoa Nghiêm Kinh của ngài Pháp Tạng có ghi: Ở Tây Vức những vị sư rửa tay trước khi tụng kinh Hoa Nghiêm, trùng kiến nhờ thấm ướt nước rửa tay mà sau khi chết được sanh về cảnh giới lành.

Ngài Pháp Tạng có kể, vào năm Văn Minh thứ nhất tức là 684, Ngài Tam Tạng pháp sư Nhật Chiếu người Trung Ấn Độ, phiên dịch kinh Hoa Nghiêm tại chùa Thái Nguyên, Ngụy Quốc, Tây tự ở kinh đô Trung Quốc, có kể câu chuyện:

Ở trong thành của nước Chiêm Ba, Nam Ấn Độ, có chùa Tỳ-Sắc-Nô, tăng chúng ở đó học pháp Tiểu thừa và tu hạnh đầu đà, bài bác kinh điển Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Niết Bàn, cho những quyển kinh này không phải Phật nói.

Một hôm có một vị tăng Ấn Độ đem quyển kinh Hoa Nghiêm để trong phòng của một vị trưởng lão. Vị này vào phòng thấy quyển kinh Hoa Nghiêm thì không vui nên đem vất xuống giếng. Tối đó, tăng chúng trong chùa thấy năm luồng ánh sáng đỏ rực từ giếng chiếu sáng khắp vùng. Các thầy Tỳ-kheo ngạc nhiên nhìn xuống giếng thì thấy quyển kinh Hoa Nghiêm phát ra năm luồng hào quang. Lạ một điều quyển kinh không ướt.

Vị trưởng lão lúc này mới tin kinh này đúng là kinh Phật nói, bèn kêu các vị Sa-di xuống giếng đem kinh lên. Tuy nhiên, vị này cho rằng kinh này cũng không bằng bốn bộ kinh A-hàm nên để quyển kinh Hoa Nghiêm xuống dưới cùng. Sáng ra thì thấy quyển kinh Hoa Nghiêm nằm ở trên. Trưởng lão rầy các vị Sa-di vì tưởng các thầy để lên trên nhưng các thầy khẳng định không làm như vậy. Vị này lại thử một lần nữa, kết quả cũng thế, quyển kinh Hoa Nghiêm cũng ở trên cùng. Từ đó về sau tăng chúng chùa Tỳ-Sắc-Nô và dân trong vùng ai cũng tụng kinh Hoa Nghiêm.

Quý thầy nghe vậy rồi đem kinh Hoa Nghiêm bỏ xuống giếng để thử xem có chiếu không, hoặc để bốn bộ A-hàm ở trên, kinh Hoa Nghiêm ở dưới, đố quý thầy, kinh có bay lên nằm bên trên không? Phật Tổ, các ngài khai thị chúng, chỗ nào mê thì các ngài thị hiện thần lực. Còn quý thầy có niềm tin về Đại thừa, có lòng tin Tam bảo thì các ngài không thị hiện ra các năng lực khác.

Vua Tôn Hạo không tin Phật pháp, ông đem tượng Phật để ngay cầu tiêu, sáng nào cũng tiểu lên, hai ngày sau dương vật ông sưng lên không tiểu được! Quý thầy có lòng tin thì không có chuyện gì, nhưng mà có tâm ngạo mạn hay tâm gì khác, thì tự nhiên có chuyện ứng ra đến với quý thầy liền. Chẳng hạn quý thầy nói, giới luật này răn chúng vậy thôi chứ mình phá ai mà biết. Phật nói cho vui thôi, thì quý thầy phải coi chừng, không phải chuyện đơn giản.

Hồi xưa ở Thường Chiếu có một thầy, khi vào thất thầy đem tượng Phật bỏ vô tủ khóa lại, thầy nói: “Tu mà còn thờ Phật.” Một thời gian sau mắt thầy mờ không còn nhìn thấy gì, không nhìn thấy tượng Phật được nữa.

Thiền thoại ghi:

Có một vị tăng chuyên hầm đầu heo ăn, bữa nọ ông thấy không phải đầu heo mà là đầu người trông rất dữ tợn. Người khác thì thấy đầu heo, chỉ mình ông thấy đầu người. Đó là do các vị Thánh ứng hiện cho thấy như vậy.

Sách Khê Đường Tạp Lục ghi:

Niên hiệu Nguyên Hựu có vị pháp sư người ở đất Thục, hiệu là Trí Siêu từng tụng kinh Hoa Nghiêm. Một hôm có vị đồng tử ở Ngũ Đài Sơn đến nói với ngài: “Thầy tụng kinh rất hay nhưng mắc lỗi là lúc lên nhà xí tẩy tịnh, nước dơ thấm vào tay rửa không sạch rồi nắm kinh điển, tôi tới để nói cho thầy biết.”

Đồng tử này là ứng thân của Bồ-tát Văn-thù Sư-lợi. Cho nên mình phải học để biết.

Kinh Nhân Quả ghi:

“Tay nhơ cầm kinh thời mắc nhân quả làm con trùng trong nhà xí.”

“Đối với kinh điển như đối với Phật, chẳng được giỡn cười.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kinh là lời của Phật, ba đời Như Lai đều cúng dường. Cho nên đối với kinh như đối với Phật, một câu kinh, một bài kệ nghìn kiếp khó gặp, vạn kiếp khó tìm.”

Cho nên đừng đem kinh ra giỡn.

Bà Võ Hậu Tắc Thiên không hiểu kinh Hoa Nghiêm, bà mời ngài Pháp Tạng đến giảng, đến phần thí dụ một con sư tử lông vàng biến hiện ra vô số sư tử gọi là trùng trùng duyên khởi, bà hoát nhiên đại ngộ. Bà làm bài kệ:

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp,

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa thiệt chơn.

Bài kệ này tối nào mình cũng tụng, chính là của bà Võ Tắc Thiên sau khi bà ngộ kinh Hoa Nghiêm.

“Một câu kinh, một bài kệ nghìn kiếp khó gặp, vạn kiếp khó tìm. Dẫu tụng đọc chẳng có thể hiểu nghĩa nhưng tụng đọc đó cũng gieo căn lành cho nên phải hết lòng cung kính, sao lại giỡn cười ư?”

Dẫu mình tụng đọc mà không hiểu nhưng cũng gieo căn lành, gieo vào trong tâm thức những hạt giống Phật pháp rất lợi ích, sau này ra đời gặp nữa.

Kinh Đại Trang Nghiêm quyển Sáu ghi:

Thuở xưa có một thầy Tỳ-kheo học rộng nhớ nhiều, ở chỗ vắng vẻ. Có một quả phụ thường hay lui tới để nghe thầy nói pháp. Dần dà thầy Tỳ-kheo sinh tâm đắm nhiễm bà quả phụ. Vì có tâm đắm nhiễm nên các pháp lành dần dần yếu kém.

Tức là học rộng mà không có tu. Pháp lành yếu kém, thì cổng giới hở ra. Quý thầy nhớ kỹ điểm đó. Sở dĩ, quý thầy giữ giới được thanh tịnh là trong suốt quá trình tu, từ nhỏ đến khi nhập diệt, pháp lành phải luôn luôn tăng trưởng thì cổng giới đóng lại. Các vị thiền sư, các vị giới sư giải thích, quý thầy phải công quả, chẳng hạn hành đường, trị nhật, làm tất cả các pháp lành thì cổng giới của quý thầy lúc nào cũng đóng kín. Chỉ cần ác pháp tăng trưởng là cổng giới mở ra để nuôi lớn những pháp bất thiện, chắc chắn sẽ phạm giới.

Thầy Tỳ-kheo mê đắm bà quả phụ và phạm giới. Rồi thầy hoàn tục lấy bà quả phụ. Thầy tu mà hoàn tục thì sống rất khổ. Vì không có nghề nghiệp gì, nên ông làm nghề đồ tể, mổ dê mướn.

Như vậy ban đầu ông phạm giới dâm, hoàn tục rồi phạm thêm giới sát.

Một hôm có người bạn đồng tu, biết căn cơ ông sắp chín muồi nên tìm để cứu. Vị này biết bạn mình ngày xưa siêng tu, học giỏi, giữ gìn giới cấm nhưng không hiểu sao bây giờ lại làm việc này, cho nên nói bài kệ:

Nếu không điều ngự ý,

Buông lung gây điều ác,

Tại sao không hổ thẹn?

Lìa bỏ pháp điều phục,

Oai nghi và cử chỉ,

Làm người thích ngắm nhìn,

Chim muông và cầm thú,

Nhìn thấy cũng kinh sợ.

Bước đi sợ giẫm kiến,

Tâm từ thương chúng sanh,

Tâm từ bi như thế,

Bây giờ bỏ đâu rồi?

Bài kệ nói, ngày xưa vị Tỳ-kheo này giữ giới thanh tịnh lắm, bước đi còn sợ giẫm chết kiến, vậy mà hôm nay một ngày giết không biết bao nhiêu con dê, tâm từ bỏ đâu rồi?

Nghe thế vị đồ tể nghĩ: “Đây là bậc hiền trí, sư huynh đến cứu mình”, tự nhiên trong tâm thức ông nhớ lại đoạn kinh ngày xưa đã đọc: “Khổ nhóm do lỗi của dục, vị của dục.” Nghĩ vậy ông liền ném cái cân ra xa rơi xuống đất, sinh tâm nhàm chán đối với sanh tử, rồi xin vị sư huynh này cho xuất gia. Sau khi xuất gia ông ráng phấn đấu tu tập, ba tháng sau chứng quả vị A-la-hán.

Các vị Tỳ-kheo đến thưa với Đức Phật rằng tại sao thầy Tỳ-kheo này phạm giới rồi mà tu nhanh như vậy. Phật nói: “Nếu có người tụng đọc kinh điển, tuy đã hủy giới hạnh nhưng nhờ năng lực tụng đọc kinh điển nên có thể đắc đạo. Vì ý nghĩa này cho nên Như Lai nói hãy siêng năng tụng đọc kinh điển.”

Tụng đọc kinh điển tuy chưa chứng đạo nhưng những hạt giống thiện pháp được gieo trong tâm thức, một lúc nào đó năng lực thiện pháp này nẩy mầm, lớn mạnh, thúc đẩy mình đi đến con đường đạo quả rất nhanh. Cho nên ở đây nói siêng năng tụng đọc kinh điển để dứt bỏ những nghiệp ác.

Trong Đại Luật ghi:

“Cẩn thận chớ nằm đọc kinh. Nếu vừa biết mình mệt sanh tâm biếng nhác liền phải nhớ tưởng mạng người trong hơi thở, như cứu lửa cháy đầu, có thì giờ nào rảnh đâu mà hòng trễ nãi biếng lười ư?”

Tôi thấy có những người nằm đọc kinh điển một lúc, rớt cuốn kinh trên bụng, ngủ một giấc luôn. Ngủ này gọi là ngủ phi thời. Quý thầy thấy đơn giản, nhưng trong giới nói ngủ phi thời rất là tổn phước, thiện thần hộ pháp không vui. Đa số người phá giới ngủ phi thời sau này đạo nghiệp hư hết. Cẩn thận chớ nằm đọc kinh điển. Có những người kỹ, ngồi đọc kinh cũng mặc áo hậu. Ngồi thì ít chứ nằm đọc rất dễ ngủ. Quý thầy rút kinh nghiệm.

“Chẳng nên trên ghế so quyển lộn xộn. Chẳng được lớn tiếng động chúng.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Nếu theo chúng tụng kinh tiếng phải cho đều và chẳng nên ỷ mình tiếng cao giọng tốt. Bằng mình tụng đọc tiếng phải nho nhỏ chớ động niệm đại chúng.”

Thiền sư Mã Tổ ghi:

Cử Phật âm thinh mạn thủy lưu,

Phúng kinh hành đạo nhạn hành du.

Chiêm tiền cố hậu khinh di bộ,

Tả hữu hồi toàn bán chuyển mâu.

So thủ đương hung như phủng thủy,

Lập thân đỉnh thượng tợ an dầu.

Oai nghi động tịnh thường như thử,

Bất uổng nhơn gian tác Tỳ-kheo.

Tạm dịch:

Âm thinh tụng Phật nước tràn đầy,

Đọc kinh hành đạo nhạn tung bay.

Ngoảnh trước nhìn sau nhẹ dời bước,

Phải trái xoay về nửa mắt thôi.

Chắp tay ngang ngực như bưng nước,

Lập thân trên đỉnh tợ yên dầu.

Oai nghi động tịnh thường như thế,

Chẳng uổng ở đời hạnh Tỳ-kheo.

Âm thinh tụng Phật nước tràn đầy. Thiền sư Mã Tổ dạy mình tụng kinh phải thanh thoát, đều đều chớ không phải lúc lớn lúc nhỏ. Đọc kinh hành đạo nhạn tung bay. Con nhạn lúc nào cũng đi một hàng dài, mình đi như lúc đi ăn cơm, đi tụng kinh là rất tốt. Ngoảnh trước nhìn sau nhẹ dời bước, phải trái xoay về nửa mắt thôi. Muốn nhìn phải, nhìn trái thì chỉ cần đưa mắt qua, hoặc nhìn trước, nhìn sau thì xoay từ từ nhẹ nhàng chứ không phải quay nhanh nhìn thì trật oai nghi phép tắc. Chắp tay ngang ngực như bưng nước. Ngày xưa ở những chùa quê, các vị thầy kỹ, bắt đệ tử bưng ly nước phải ngang ngực để quen, sau này chắp tay là ngay ngắn ngang ngực, không được lên, không được xuống, như bưng nước vậy.

Trong kinh A-hàm, có kể chuyện người tử tù bưng chén dầu bước đi mà không được làm đổ dù chỉ một giọt, nếu đổ liền bị chém đầu, trong khi xung quanh là những trò vui chơi ca hát. Ở đây nói lập thân trên đỉnh tợ yên dầu có nghĩa là mình đi phải thẳng, đứng phải thẳng, oai nghi phép tắc như vậy người ta mới kính. Oai nghi động tịnh thường như thế, chẳng uổng ở đời hạnh Tỳ-kheo. Hạnh Tỳ-kheo, ai thấy oai nghi phép tắc cũng thích, cũng muốn học pháp, học đạo với mình. Quý thầy nhớ đừng có vừa đi vừa chạy, hoặc vừa đi vừa cười, mất hết phép tắc oai nghi của người tu.

Khi thỉnh chuông, hô chuông quý thầy nhớ đừng hô ráng. Đây cũng nằm trong oai nghi. Hô ráng nghe kỳ lắm, còn làm người nghe dễ động niệm: “Trời, hô lớn giống như đi đánh giặc vậy, nghe xót ruột quá!” Ngày xưa ai mà hô ráng như vậy là sáng hôm sau Hòa thượng chống gậy xuống hỏi: “Hồi hôm chú nào thỉnh chuông?” Hô nhỏ Hòa thượng cũng rầy, hô ráng Hòa thượng cũng rầy. Nên hô đều đều, đừng nhỏ cũng đừng ráng.

“Chẳng được mượn kinh người coi không trả và không có tâm yêu tiếc đến nỗi hư rách.”

Sa Di Học Xứ ghi:

“Kinh pháp là cha mẹ của bậc tam thừa, thánh nhân đồng sanh tâm kính trọng. Đừng có khinh ta khinh người, bằng không kính trọng để cho hư rách thời mắc cái tội khinh pháp. Mượn mà cố tâm không trả thời mắc cái tội ăn trộm.”

Mượn kinh xem xong nhớ trả liền. Nếu thích quyển kinh quá thì đến xin sư huynh hay sư đệ gì đó. Chừng nào người ta nói cho, thì mình mới giữ lấy. Mượn mà cố tâm không trả thì mắc tội trộm.

Kinh Thập Giới ghi:

“Hoặc mượn, hoặc lấy, hoặc cho ắt phải phân minh, chớ trái lời hẹn, mất tín tâm của người khác.”

Mượn kinh coi xong phải trả đúng hẹn.

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 22195
  • Online: 54