Tiểu Sử Trưởng Lão HT.Thích Phước Tú

12/07/2026 | Lượt xem: 2

TIỂU SỬ
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PHƯỚC TÚ (1948 – 2026)

Hôm nay, trong niềm tiếc thương vô hạn, trước Giác linh đài của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Tú, chúng ta thành kính ôn lại cuộc đời, đạo nghiệp và công hạnh của một bậc Thiền đức, một vị Trưởng lão của Giáo hội, một hành giả trọn đời lấy giới đức làm nền, Thiền học làm mạch sống, hoằng pháp làm sự nghiệp và phụng sự chúng sinh làm hạnh nguyện.

Một đời người hữu hạn.

Một kiếp đạo vô cùng

Thân tứ đại rồi trở về với đất nước gió lửa.

Nhưng giới hạnh, đạo phong và công đức của bậc long tượng vẫn còn mãi với Thiền phái Trúc Lâm, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và với bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử.

 

TRƯỞNG LÃO HT.THÍCH PHƯỚC TÚ

 

I. THIỆN CĂN SÂU DÀY – CHÍ NGUYỆN SỚM THÀNH

Trưởng lão Hòa thượng thế danh Trương Quốc Tuấn, pháp danh Như Phước Tú, pháp tự Đắc Huyền, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1948 (Mậu Tý), tại ấp An Hòa, xã Bình Ninh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình nhiều đời kính tin Tam bảo.

Ông ngoại là một danh y nổi tiếng, tinh thông Hán học và Đông y; thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hoa, người phụ nữ hiền đức, một lòng hướng Phật. Ngay từ khi còn trong thai mẹ, Ngài đã theo mẹ lễ Phật tại chùa Phước Hậu. Sau này, chính Hòa thượng từng xúc động kể rằng: "Từ đây, tôi xem chùa Phước Hậu là quê hương thứ hai của mình."

Năm năm tuổi, Ngài được Tổ Khánh Anh truyền Tam quy, ban pháp danh Như Phước Tú. Từ mái già-lam ấy, cậu bé Trương Quốc Tuấn lớn lên trong tiếng chuông chùa, trong những thời kinh sớm tối, trong tình thương của chư Tôn đức và nếp sống thanh tịnh của cửa Thiền. 

Tuổi thơ ấy không chỉ được nuôi dưỡng bởi gia đình, mà còn được trưởng dưỡng trong lòng Tam bảo.

II. XUẤT GIA CẦU ĐẠO – GẶP MINH SƯ THIỆN HỮU

Năm 1967, Ngài phát tâm xuất gia với Hòa thượng Hoàn Phú tại chùa Phước Hậu. Năm tròn 20 tuổi, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới Tỳ-kheo.

Với chí cầu đạo mãnh liệt, Ngài từng phát nguyện đốt một ngón tay cúng dường chư Phật, nguyện hiến trọn cuộc đời cho con đường giác ngộ và lợi lạc quần sinh.

Bước ngoặt lớn nhất của đời tu đến khi Ngài gặp Hòa thượng Thích Thanh Từ và được tiếp xúc với Thiền tông. Chính Hòa thượng từng tâm sự:

"Thiền tông đã mở cánh cửa cho tôi đi vào Phật pháp, rút ngắn con đường tu học và giúp tôi hiểu được giá trị chân thật của giáo lý Đức Phật."

Từ đó, Thiền trở thành mạch sống, Bát Nhã trở thành con mắt, Chánh pháp trở thành lý tưởng phụng sự suốt cuộc đời của Ngài.

III. THUỘC THẾ HỆ ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC TIẾP NỐI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM VIỆT NAM

Năm 1971, Hòa thượng được tuyển chọn vào khóa Thiền sinh đầu tiên của Thiền viện Chơn Không, gồm mười Thiền sinh do Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Từ trực tiếp hướng dẫn. Đó không chỉ là một khóa học. Đó là thế hệ đặt nền móng cho công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam trong thời hiện đại. 

Trong những năm đầu tại Thiền viện Chơn Không, Ngài đảm nhiệm nhiều Phật sự như phụ Tri khách, Tri khố. Sau một lần tự xét thấy bản thân còn nhiều thiếu sót, Ngài thành tâm sám hối, tự nguyện đảm nhận việc nhà bếp suốt ba năm để rèn luyện, thành toàn hạnh tu và phụng sự.

Chính từ những công việc âm thầm ấy đã hun đúc nên đạo phong của một bậc Thiền tăng với phương châm Hoà thượng Tông chủ đã chỉ dạy: “Tu như thở, học như uống nước, lao tác như ăn cơm” mà Thiền tâm rực sáng.

Năm 1974, khi Hòa thượng Thích Thanh Từ quyết định khai sáng Thiền viện Thường Chiếu, Hòa thượng là một trong những vị tôn túc được Hoà thượng Tông chủ giao trọng trách đến vùng Quán Chim, Long Thành, Đồng Nai để kiến thiết đạo tràng.

Giữa lúc chiến tranh chưa chấm dứt, giữa vùng đất còn nhiều bom mìn và hoang vu, Ngài cùng chư huynh đệ khai hoang, dựng thất, để chuẩn bị cho việc thành lập Thiền viện sau này. Từ những mái lá đơn sơ của buổi đầu, Thiền viện Thường Chiếu dần trở thành một trong những trung tâm Thiền học lớn của cả nước.

Cũng vậy năm 1987, Hoà thượng là một trong những vị đặt những viên gạch đầu tiên để sau này hình thành Thiền viện Chân Nguyên dưới sự chỉ dạy của Hoà thượng Tông chủ.

Trên tinh thần tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, năm 1989, Ngài đã vì hàng hậu học thế phát xuất gia cho những đệ tử đầu tiên, để từ đó tiếp nối cho hàngmôn đồ pháp quyến ngày càng hưng thịnh.

IV. KIẾN LẬP ĐẠO TRÀNG – PHỤNG SỰ GIÁO HỘI

Năm 1991, Ngài trở về chùa Phước Hậu để nhập thất hành Thiền

Năm 1993, Ngài được cung thỉnh đảm nhiệm Trụ trì chùa Giác Thiên.

Năm 1996, đại trùng tu chùa Giác Thiên, thành một già-lam trang nghiêm giữa lòng tỉnh Vĩnh Long.

Năm 2004, phát tâm xây dựng Văn phòng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Vĩnh Long, góp phần củng cố cơ sở vật chất và tổ chức Phật sự của Giáo hội.

Năm 2008, phát tâm trùng kiến chùa Đồng Đế, nơi Tổ Khánh Anh viên tịch, như một công trình tri ân Tổ sư và gìn giữ di tích lịch sử của Phật giáo Nam Bộ.

Trong nhiều nhiệm kỳ, Hòa thượng đảm nhiệm các trọng trách: Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Vĩnh Long; nguyên Phó Trưởng ban Trị sự; nguyên Trưởng ban Hoằng pháp; nguyên Trưởng ban Giáo dục Phật giáo; nguyên Trưởng ban Thông tin Truyền thông; nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Vĩnh Long.

Dù ở cương vị nào, Ngài vẫn luôn lấy sự phát triển chung của Giáo hội và việc làm thành cho thế hệ kế thừa trực nhận nguồn chơn làm mục tiêu phụng sự.

V. MỘT ĐỜI HOẰNG PHÁP – MỘT ĐỜI TRUYỀN ĐĂNG

Nếu kiến lập đạo tràng là sự nghiệp, thì hoằng pháp chính là hạnh nguyện lớn nhất của Hòa thượng. Ngài từng phát nguyện: "Chỉ ngừng giảng pháp khi viên tịch trên pháp tòa." Từ lời nguyện ấy, suốt hơn nửa thế kỷ, dấu chân hoằng hóa của Ngài đã in khắp mọi miền đất nước và nhiều quốc gia trên thế giới. 

Năm 2005, lần đầu tiên hoằng pháp tại Campuchia.

Năm 2007, lần đầu tiên hoằng pháp tại Hoa Kỳ.

Những năm tiếp theo, Ngài tiếp tục giảng dạy tại nhiều đạo tràng trong và ngoài nước, không quản tuổi cao hay sức yếu. Ba lần đối diện ranh giới sinh tử, Hòa thượng đều vượt qua và thường nhắc rằng chính Phật pháp đã nâng đỡ mình trong những thời khắc hiểm nghèo. Từ trải nghiệm ấy, Ngài càng tin sâu Tam bảo và thường nhắn nhủ: “Phật pháp là chiếc phao an toàn nhất giữa biển đời.”

VI. NHÀ GIÁO DỤC – NHÀ TRƯỚC TÁC

Trong sự nghiệp giáo dục, Hòa thượng trực tiếp thế phát xuất gia cho hơn ba trăm Tăng Ni, đào tạo nhiều thế hệ kế thừa cho Giáo hội và Thiền phái Trúc Lâm. Song song đó, Ngài dành trọn tâm lực cho nghiên cứu, dịch thuật và trước tác.

Suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng để lại gần hai trăm công trình gồm giảng giải Kinh Luận, Thiền học, giáo trình, hồi ký và nhiều tác phẩm nghiên cứu Phật học, trong đó có các bản dịch như Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh A Di Đà, Tín Tâm Minh, Khúc Ca Chứng Đạo cùng nhiều tác phẩm khác. Đó không chỉ là di sản học thuật của riêng Ngài, mà còn là nguồn tư liệu quý cho nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử trên con đường học Phật và hành Thiền.

VII. ĐẠO NGHIỆP VIÊN THÀNH – ĐẠO PHONG CÒN MÃI

Đến 13 giờ 20 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2026 (nhằm ngày 26 tháng 5 năm Bính Ngọ), Trưởng lão Hòa thượng an nhiên thu thần thị tịch tại chùa Giác Thiên, trụ thế 79 năm, hạ lạp 59 năm. 

Nhìn lại gần sáu thập niên hành đạo, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Tú đã để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều phương diện của Phật giáo Việt Nam đương đại.

Là một trong mười Thiền sinh đầu tiên của Thiền viện Chơn Không, Ngài thuộc thế hệ đóng góp vào việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm của Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Là người kiến lập và phát triển nhiều đạo tràng, nhà hoằng pháp bền bỉ, nhà giáo dục tận tụy, nhà trước tác uyên bác với gần hai trăm công trình, người trực tiếp thế phát cho hơn ba trăm Tăng Ni, Ngài đã hiến trọn cuộc đời cho Tam bảo, cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm.

Đạo phong thanh bần, giới hạnh nghiêm cẩn, tinh thần Thiền học thực chứng cùng hạnh nguyện phụng sự không mỏi mệt của Hòa thượng sẽ mãi là tấm gương sáng để hàng hậu học noi theo. 

Thân tứ đại tuy thuận lẽ vô thường.

Đạo nghiệp vẫn còn với tông môn.

Giới hạnh vẫn còn với hậu học.

Pháp âm vẫn còn trong lòng người học Phật.

Và hình ảnh của một bậc long tượng Thiền môn, một thiền gia lỗi lạc, một Trưởng lão khả kính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ còn mãi trong lịch sử Phật giáo nước nhà.

Phụng vị Trúc Lâm Việt Nam Thiền Phái Môn Hạ, Giác Thiên Đường Thượng, húy Phước Tú, tự Đắc Huyền, Trưởng lão Hòa thượng Giác linh tác đại chứng minh.

 

BBT xin giới thiệu một số hình ảnh HT. Thích Phước Tú cùng Hòa Thượng Tôn Sư Trúc Lâm và các huynh đệ trong Tông môn Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam

 

 

 

 

 HT Giác Thiên ngày còn là Thiền sinh tại TV Chơn Không cùng Sư Ông các huynh đệ

HT Giác Thiên về thăm Sư Ông tại Tổ Đình TV Thường Chiếu

Sư Ông Trúc Lâm và HT Giác Thiên, HT. Thường Chiếu và Cố HT. Sơn Thắng tại TV Trúc Lâm Đà Lạt

 

HT.Giác Thiên và Thầy Trụ Trì TVTL Sùng Phúc tại TVTL Sùng Phúc những ngày đầu

 

Tin tức

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 01772
  • Online: 79