Tổ Thứ Hai Thiền Phái Trúc Lâm - Thiền Sư Pháp Loa Giảng Giải (Phần 02): Tham Vấn - Lời Khuyên Xuất Gia Tiến Đạo

22/04/2026 | Lượt xem: 3

HT.Thích Thanh Từ

THAM VẤN

Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:

- Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.

Sư bèn nhìn hai bên nói:

Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, Bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: “ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”, nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham!

*

Có vị Tăng bước ra nói:

- Mặc áo ăn cơm là việc bình thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?

Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:

- Cõi Thiền không dục thì khỏi hỏi, cõi Dục không thiền xin nói cho một câu.

Sư lấy tay điểm trong hư không.

Vị Tăng nói:

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Vị Tăng thưa:

- Cổ nhân đều hỏi: “thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng”, chỉ cái thế nào này là thế nào?

Sư đáp:

- “Thế nào” là thế nào?

Vị Tăng thưa:

Trên đàn không dây tri âm ít,
Cao vút tiếng đàn cha con hòa…

(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu
Phụ tử đàn lai cách điệu cao…)

Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:

- Chúng làm gì?

Có vị Tăng ra thưa:

- Chúng niệm Phật tâm.

Sư bảo:

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm?

Vị Tăng ấy đáp không được.

Sư lại hỏi vị Tăng khác:

- Chúng làm gì?

Tăng thưa:

- Niệm Phật.

Sư bảo:

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Tăng thưa:

- Chẳng biết.

Sư bảo:

- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

Tăng không đáp được.

Sư nói kệ:

Âm:

Nghị khổng hội đề,
Tiêm trần ế mục.
Nhất hạnh tài thất,
Bách hạnh câu khuynh.
Trân trọng!

DỊch:

Hang kiến vỡ đê,
Mảy bụi che mắt.
Một hạnh vừa mất,
Trăm hạnh đều nghiêng.
Trân trọng!

GIẢNG:

Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:

- Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.

Căn cứ vào đệ nhất nghĩa đế, chỗ cứu kính chân thật, thì dấy niệm là sai, mở miệng là lầm, làm gì có quán có chiếu. Nay muốn diễn đạt cho người thấy được chỗ cao siêu của Phật pháp, tức là căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy. Đầu thứ nhất là không đối đãi, đầu thứ hai là có đối đãi. Căn cứ vào đối đãi mà nói, cũng chưa đến được chỗ cứu kính.

Sư bèn nhìn hai bên nói:

Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

Trước hết Ngài gạn lại trong chúng có người nào có con mắt lớn không? Mắt lớn là con mắt thấy được chỗ cứu kính, chỗ cùng tột. Nói con mắt là nói sự giác ngộ, nếu có mắt lớn thì cặp chân mày chẳng cần vén lên cũng nhìn thấy. Những vị lớn tuổi chân mày lần lần dài ra phủ mắt, muốn thấy phải vén chân mày. Còn con mắt lớn khỏi cần vén chân mày cũng tự thấy.

Nếu không được như vậy, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa tức là nói lăng xăng lộn xộn, đề ra những điều hủ mục là những điều tầm thường không đáng, đáp những lời tạp nhạp không có giá trị.

Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe! Như vậy những gì giảng được nói được cho tất cả nghe, chỉ là cái hỗn độn không chân thật. Thế nên nghe thì cũng ráng nghe, nương cái hư dối để nhận ra cái chân thật, đừng bảo rằng lời giảng dạy đến được chỗ rốt ráo cứu kính, điều này không thể được.

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, Bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: “ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”, nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

Đoạn này rất là khó hiểu.

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc. Đại đạo có phải là chỉ con đường lớn ở bên ngoài chăng? Thật ra chữ đại đạo là chỉ Tâm chân thật sẵn có của tất cả chúng ta, Tâm thể thanh tịnh đó rộng lớn không có gì buộc ràng.

Bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bản tánh, đại đạo tuy là hai tên, thật ra chỉ một thể, thể ấy lặng lẽ không thiện không ác. Như Lục Tổ bảo Thượng tọa Minh: “Nếu muốn thấy được chỗ chân thật thì phải im lặng nghe tôi hỏi: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Vậy Bản lai diện mục là từ dùng để chỉ Bản tánh hay đại đạo. Nó không bị buộc ràng, không bị kẹt ở thiện ở ác. Hiểu như vậy chúng ta mới không bị từ ngữ làm chướng ngại.

Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Trong Tín Tâm Minh hai câu đầu là:

Chí đạo vô nan,
Duy hiềm giản trạch.

Chữ “đại đạo” ở đây chính là chữ “chí đạo” trong Tín Tâm Minh. Sở dĩ có lỗi lầm là vì giản trạch, vì chọn lựa. Vừa khởi mảy may tức là vừa có một niệm rất nhỏ dấy lên đã cách xa đại đạo như trời với đất.

Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Phàm thánh đồng một mối, đó là mối đại đạo, hay mối Bản tánh. Phàm thánh đều có đại đạo, đều có Bản tánh hay Bản lai diện mục. Phải quấy đâu có hai đường. Khi mê thì phải quấy khác nhau, nếu tỉnh, phải quấy đều là hư dối, từ mê lầm phát ra, không có thật. Cho nên nói không có hai đường, tức là đều nằm trong hư dối không thật. Như trong chùa, khi bàn luận nói thế này là phải, thế kia là quấy, rốt cuộc cả hai đều hư dối!

Cho nên biết tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Câu này thật là khó hiểu, nếu không khéo chúng ta sanh chấp, gây thành nghiệp tội vô cùng. Tội phước vốn không, tại sao? Tội là những điều đau khổ, phước là những điều an lạc. Vậy đau khổ an lạc khác nhau, tại sao ở đây lại nói tội phước vốn không? Thật ra với con mắt mê muội, chúng ta thấy tội phước khác nhau rõ ràng. Thí dụ như chúng ta được khen là giỏi là tốt, hoặc bị chê là dở là xấu, thì giỏi dở có khác, tốt xấu có khác. Nhưng lời khen, lời chê là thật hay hư dối? Chỉ là lời rỗng thôi, không có lẽ thật. Tùy theo trường hợp mà chúng ta phát ra những ngôn ngữ hoặc tán thán hoặc chê bai. Làm điều gì hợp sở thích thì chúng ta khen, không hợp thì chúng ta chê. Nhưng sở thích mỗi người mỗi khác, cho nên cùng làm một việc mà được người này khen, bị người kia chê. Vì vậy tiếng khen tiếng chê không có giá trị thật, tùy tâm ưa ghét của người mà phát ra. Tiếng khen chê đã không thật, thì tội phước có thật đâu! Thế mà ai có tội thì buồn khổ, ai có phước thì vui mừng, làm sao nói là không thật được!

Thông thường trên thế gian người mê thì sợ khổ thích vui, còn người tỉnh thì thấy khổ vui không có hai, vì khổ vui chỉ là tướng tạm bợ giả dối bên ngoài. Như khi vào rạp hát xem các chú hề nói giễu, chúng ta vui cười hỉ hạ, nhưng lúc ra khỏi rạp thì còn vui không? Cái vui chỉ trong chốc lát rồi hết đi. Cái khổ cũng vậy, như chúng ta có điều gì bất an trong lòng, thì thật là khổ, nếu có ai giải giùm cái bất an đó, thì chúng ta vui ngay. Như vậy khổ vui cũng là tạm bợ, tùy duyên không có thật, thì tội phước cũng không thật.

Cứu kính nhân quả chẳng thật. Tại sao? Vì nhân quả là sự biến chuyển sanh diệt. Như hạt lúa gieo xuống đất, có phân, đất, nước, ánh nắng lần lần phát triển thành cây lúa, trổ ra bông lúa. Đó là chiều sanh diệt biến chuyển từ nhân đến quả, nên nói nhân quả chẳng thật. Chẳng thật là đối với người ngộ, còn với người mê thì có nhân có quả rõ ràng, không tránh được.

Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. “Người người sẵn đủ”, tức là ai ai cũng có Bản lai diện mục hay mặt thật muôn đời của mình. “Kẻ kẻ trọn thành”, tức là biết hướng về cái sẵn đủ thì đều thành tựu. Thế nhưng có người biết hướng về, có người không. Như trong kinh Pháp Hoa, Phật có thí dụ: Có kẻ nghèo khổ thiếu đói được người bạn tặng cho một viên ngọc quí, nếu đem ra bán để tiêu xài thì thành cự phú. Khi chúng ta được viên ngọc đó bán ra thành cự phú, nhìn lại những người bạn thân nghèo khó của mình, ai cũng được tặng viên ngọc quí đang cột trong chéo áo mà không hay biết, lúc đó do lòng từ bi chúng ta phải làm gì? Trọng trách chúng ta như thế nào? Không cần đi quyên tiền để mua gạo mua cơm, không cần cất nhà cất cửa cho họ, chỉ cần khéo nhắc họ nhớ có viên ngọc quí đang cột trong chéo áo. Nếu nhắc mà họ không nhớ, chúng ta phải tìm đủ phương cách chỉ cho họ thấy, đó là thương họ, là cứu họ. Nếu cho cơm gạo, vật dùng mà không chỉ viên ngọc là chưa thật lòng thương. Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: “Nói pháp còn trong đối đãi, hay còn trong Nhị thừa là bị lỗi bỏn sẻn.” Tại sao chúng ta có viên ngọc đem ra xài thành giàu có mà không chỉ thẳng viên ngọc cho người đem ra dùng, lại nói loanh quanh những điều không cần thiết, không xứng đáng, có phải là bỏn sẻn không? Thế nên người tu khi biết mình có viên ngọc quí và hưởng được sự an lạc do ngọc quí đem lại thì điều quan trọng tối thượng là phải chỉ viên ngọc đó cho mọi người biết, còn những điều chung quanh là phụ thuộc không đáng kể.

Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Phật tánh Pháp thân đối với thân này như hình với bóng không có rời nhau, nhưng tùy duyên khi ẩn khi hiện. Như khi chúng ta đi ra nắng, thấy bóng rõ ràng, còn vào trong chỗ mát thì không thấy bóng. Thấy bóng là hiện, không thấy là ẩn. Cũng vậy chúng ta tu khi tâm an ổn đôi phần, thấy mình có cái chân thật trùm khắp, không phải chỉ có vọng tưởng suy nghĩ hơn thua phải quấy là tâm, mà còn có cái gì cao siêu hơn nữa. Cái chân thật cao siêu đó tùy duyên có khi ẩn có khi hiện, nó không phải là mình, cũng không phải rời mình. Ngài Động Sơn khi qua cầu ngộ chỗ chẳng phải tức, chẳng phải ly. Tại sao chẳng phải tức? Vì hình không phải tức là bóng. Cũng chẳng phải ly, vì rời hình thì không có bóng. Cho nên nói: “Ta không phải là y, mà y chính là ta.” Vì thân này không phải là cái bóng, mà cái bóng từ thân này mới có.

Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Chân mày nằm ngang, mũi duỗi thẳng xuống, mày ngang mũi dọc ở trên mặt luôn luôn mà không nhìn thấy, chỉ thấy thiên hạ, không thấy lỗ mũi của mình. Đó là để nói cái chân thật hiện tiền, không thiếu vắng một phút giây nào, chúng ta lại không thấy không nhận, vì cứ đuổi theo vọng cảnh bên ngoài nên quên mất cái thật của chính mình, giống như quên chân mày và lỗ mũi vậy.

Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: “ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm.”

Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông. Tấc vuông là chỉ chữ tâm (tấc vuông Tàu ngày xưa, đó là chữ tâm). Như vậy tất cả pháp môn gốc từ tâm, không từ nơi nào khác. Hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm. Diệu dụng nhiều vô số như cát dưới sông, cũng từ nguồn tâm.

Nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Giới định tuệ chúng ta đều đủ, không thiếu sót. Tuy nhiên chúng ta cần phải phản quan lại mình mới nhận thấy được. Nếu không phản quan, tuy có mà không hay không biết.

Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Một câu hỏi này là đủ, quí vị phải tự trả lời. Nói gì thêm nữa là dư.

Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm gì biết được tánh này?

Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Như vậy tâm tánh rỗng sáng, có cái gì là phải chẳng phải?

Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Cho nên nói: Pháp tánh, Phật tâm, tâm tánh không hai.

Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tất cả tâm là chỉ cho Phật, tất cả tánh là chỉ cho pháp, Phật pháp không có rời chính mình, nên nói: Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp.

Tâm là Phật nếu đừng mắc kẹt hai bên, nếu còn kẹt hai bên thì tâm đó là phàm phu. Vậy muốn làm Phật thì phải bỏ hai bên, chuyện dễ như trở bàn tay, không có gì khó khăn. Không phải do ai, không phải nhờ ai, chính mình đừng dính hai bên thì đó là Phật. Việc tu có khó lắm chăng mà chúng ta phải luân hồi vô số kiếp? Chỉ vì mở miệng thì nói phải quấy, hơn thua, tốt xấu! Thế nên người xưa chỉ hét hoặc “hư hư” thôi, không có gì phải nói. Người xưa đã tha thiết chỉ cái thật mà chúng ta đâu có hiểu, thấy “hư hư”, không biết cái gì, nghĩ rằng vị này không nói được, hoặc nghe hét thì nói vị kia dữ quá không nói lời gì cho có đạo lý. Vì thế chúng ta thường kẹt hai bên, nên càng xa tâm Phật. Không có hai bên tức tâm là Phật, tức tâm là pháp.

Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Phật cũng không phải Phật, pháp cũng không phải pháp, vì chỉ là một Thể chân thật. Nói có Phật có pháp, có phàm có Thánh, đều là hai bên. Thế nên cuối cùng:

Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật. Tâm không phải là tâm, mà tâm tức Phật, khi nào đừng mắc kẹt hai bên. Bây giờ chúng ta ngồi suy nghĩ cái gì đừng dính hai bên thì suy nghĩ suốt ngày cũng được, nếu còn dính thì đừng suy nghĩ. Sở dĩ chúng ta chạy ngược chạy xuôi vì cái hai bên, dừng lại thì đạo lý hiện tiền. Vì vậy định tức là dừng hai bên. Đó là lời dạy chí lý của Ngài, tuy chí lý nhưng Ngài vẫn cho là lời hỗn độn, chưa phải là thật.

Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham! Chỉ biết ăn cháo ăn cơm, mà không biết rõ cái bát cái muỗng đựng cháo đựng cơm! Phải tham cứu cho ra. Đó là lời dạy rất chí yếu của Ngài.

*

Có vị Tăng bước ra nói:

- Mặc áo ăn cơm là việc bình thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?

Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:

- Cõi Thiền không dục thì khỏi hỏi, cõi Dục không thiền xin nói cho một câu.

Sư lấy tay điểm trong hư không.

Vị Tăng nói:

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Thế giới chúng ta đang ở gọi là cõi Dục. Tăng hỏi: “Xin nói cho một câu, tại sao cõi Dục không thiền?” Ngài lấy tay điểm trong hư không. Trong cõi Ta-bà, nếu chúng ta đuổi theo ngũ dục thì có thiền không? Muốn có thiền thì ngay trong cõi này đừng dính mắc gì cả. Điểm hư không, đừng dính cái gì, đó là thiền.

Thấy Ngài điểm hư không, vị Tăng nói:

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?

Người xưa đã làm như vậy, Ngài bắt chước theo làm chi? Ngài nói:

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Tuy người xưa đã làm, nhưng hiện nay ông hỏi, tôi phải nhắc lại cho ông, tôi làm đó là cái mới, chớ không phải cái cũ của cổ nhân.

Vị Tăng thưa:

- Cổ nhân đều hỏi: “thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng”, chỉ cái thế nào này là thế nào?

Sư đáp:

- “Thế nào” là thế nào?

Khi vị Tăng hỏi “chỉ cái thế nào này là thế nào”, Ngài hỏi lại “ ‘thế nào’ là thế nào”, chớ không đáp thêm nữa.

Vị Tăng thưa:

Trên đàn không dây tri âm ít,
Cao vút tiếng đàn cha con hòa…

(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu,
Phụ tử đàn lai cách điệu cao…)

Vị Tăng tỏ rằng ông đã ngộ, đã hiểu.

Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:

- Chúng làm gì?

Có vị Tăng ra thưa:

- Chúng niệm Phật tâm.

Sư bảo:

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm?

Vị Tăng ấy đáp không được.

Vì vị Tăng thưa chúng niệm Phật tâm, nên Ngài hỏi lại nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm? Vị Tăng không đáp được.

Sư lại hỏi vị Tăng khác:

- Chúng làm gì?

Tăng thưa:

- Niệm Phật.

Sư bảo:

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Tăng thưa:

- Chẳng biết.

Sư bảo:

- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

Tăng không đáp được.

Ngài bảo: Phật vốn không tâm thì niệm cái gì? Tăng thưa: Chẳng biết. Tưởng đáp như vậy là ổn. Nhưng Ngài hỏi lại: Ngươi nói chẳng biết, vậy nói đó là ai? Nói chẳng biết thì nói đó là ai nói? Vị Tăng không đáp được.

Sư nói kệ: 

Nghị khổng hội đề,
Tiêm trần ế mục.
Nhất hạnh tài thất,
Bách hạnh câu khuynh.
Trân trọng!

Dịch:

Hang kiến vỡ đê,
Mảy bụi che mắt.
Một hạnh vừa mất,
Trăm hạnh đều nghiêng.
Trân trọng!

Nghị khổng hội đề: Hang kiến có thể làm vỡ đê. Hang kiến bao lớn, cái đê bao lớn, mà hang kiến có thể làm vỡ đê? Hang kiến rất nhỏ chưa bằng ngón tay út, song nếu chúng ta coi thường, đến mùa lũ lụt có thể làm vỡ đê.

Tiêm trần ế mục: Chỉ một hạt bụi nhỏ tí ti, nếu rơi vào tròng mắt, mắt cũng bị mờ.

Nhất hạnh tài thất: Một hạnh vừa mất.

Bách hạnh câu khuynh: Trăm hạnh đều nghiêng. Tại sao? Thí dụ người cư sĩ tại gia giữ năm giới là hạnh của cư sĩ: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Giả sử trong năm hạnh mất đi một hạnh, thì các hạnh kia tất phải rung rinh nghiêng theo. Nếu người cư sĩ phạm giới trộm cắp, tuy không nói dối, không tà dâm, không uống rượu, không sát sanh nhưng cũng bị nhiễm nhơ. Người xuất gia cũng thế, nếu trong mười giới Sa-di mà phạm phải một giới nặng thì các giới kia cũng nghiêng ngả theo.

Qua bốn câu kệ này, Ngài nhắc nhở tất cả người tu chúng ta, cư sĩ cũng như xuất gia, luôn luôn phải dè dặt, dù một lỗi nhỏ cũng không nên xem thường, vì phạm một lỗi nhỏ có thể làm hại việc lớn. Như một hang kiến ở trong bờ đê, hang kiến rất nhỏ chúng ta xem thường, nhưng đến mùa lũ lụt nước dâng lên tràn ngập thì hang kiến nhỏ sẽ thành lỗ mội, có thể làm cho đê bị vỡ. Vì thế không bao giờ chúng ta xem thường những lỗi nhỏ của mình, tuy nhỏ chưa đáng gì, nhưng nếu để nó phát triển thì một ngày kia có thể hại tất cả hạnh lớn của mình. Đó là nói các hạnh về hình tướng.

Còn về nội tâm, một ý niệm xấu vừa dấy lên chưa thành vấn đề, nhưng nếu chúng ta không kịp thời ngăn chận thì nó có thể lôi kéo chúng ta tạo thành những tội lỗi lớn. Thế nên một ý niệm nhơ xấu dấy lên, phải kịp thời chận đón nó lại, nếu để nó thành hình thì nguy hiểm sẽ đến. Cũng như một mảy bụi tí ti không thấm vào đâu, nhưng nếu rơi vào tròng mắt thì mắt bị mờ tối. Con người cũng thế, về đạo đức chúng ta cố giữ mọi việc cho tốt đẹp, nhưng nếu một ý niệm xấu dấy lên, chúng ta coi thường, nó có thể làm cho các niệm tốt kia bị mờ xấu theo.       

Phần kết thúc bài kệ, Ngài nói một hạnh mất đi, thì trăm hạnh khác cũng bị nghiêng đổ, không phải chỉ mất một hạnh thôi mà những hạnh kia cũng không nguyên vẹn. Như người xuất gia chúng ta nếu phạm một giới trong những giới nặng, thì bao nhiêu giới khác tuy không phạm cũng mất luôn, không phải phạm giới nào là có tội giới đó thôi, mà còn ảnh hưởng đến những giới khác. Thế nên người tu phải dè dặt tối đa, giữ gìn từng ý niệm từng hành động, một ý niệm dở xấu vừa dấy khởi chúng ta phải ngăn chận ngay, đừng cho nó thành hình, vì những tội lớn khởi mầm từ cái nhỏ. Thí dụ: Thấy một món đồ tốt của người, chưa thành tội, vừa dấy niệm lén lấy, tuy niệm này nhỏ, nhưng nó khiến cái tay lượm món vật và giấu đi. Thế là thành tội ăn cắp. Vậy tội ăn cắp không phải bỗng dưng thành, mà từ niệm nhỏ dấy lên không kịp thời ngăn lại, nên thành tội lớn. Cho nên tất cả cái lớn không tự có mà từ cái nhỏ tạo thành. Vì thế người tu phải luôn luôn ngăn ngừa không cho niệm đầu dấy khởi, nếu không nó sẽ dẫn chúng ta đi trong đường tội lỗi, hư cả một đời tu. Đó là điều ngài Pháp Loa muốn nhắc nhở toàn chúng phải ráng nhớ tu, đừng để một đời qua suông, thật là uổng phí.


LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO 

(Khuyến Xuất Gia Tiến Đạo Ngôn)

DỊch:

Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này. Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay!

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

I. Ba thứ pháp là: 1. Rõ tông sư. 2. Biện pháp chân ngụy. 3. Biết thiện ác.

1.- Rõ tông sư.

Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

2.- Biện pháp chân ngụy.

Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

3.- Biết thiện ác.

Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn… nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.

II. Phải học pháp cầu thầy.

Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.”

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.

Từ trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.

GIẢNG:

Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay!

Qua lời mở đầu, chúng ta ý thức được thân phận của mình sanh nhằm thời nào. Vì chúng ta nghiệp dày phước mỏng, nên khi ra đời, đức Phật Thích-ca đã nhập diệt, chẳng gặp thời chánh pháp. Đức Phật chia giáo pháp Ngài ra ba thời: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời chánh pháp là năm trăm năm đầu từ khi Phật còn tại thế, thời tượng pháp là năm trăm năm kế tiếp, và sau đó là thời mạt pháp. Hiện nay chúng ta sanh ra nhằm thời mạt pháp, việc đi tu thật quá muộn màng. Phật Thích-ca đã nhập diệt, Phật Di-lặc chưa sanh, ở khoảng giữa này Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay! Các bậc Thánh Hiền đã ẩn, pháp tà lại thạnh, thật đáng buồn cho thân phận người xuất gia trong thời này. Giờ đây ý thức được phận mình, chúng ta phải cố gắng làm những gì?

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ.

Là người xuất gia, chúng ta phải hiểu rõ vì sao chúng ta đi tu? Lý tưởng của người tu là muốn trên đền đáp bốn trọng ân, dưới cứu giúp ba đường khổ.

Bốn trọng ân là:

1. Ơn cha mẹ,

2. Ơn Thầy Tổ (hay là ơn Tam Bảo),

3. Ơn quốc gia,

4. Ơn đàn-na thí chủ.

Ơn cha mẹ - Ơn cha mẹ rất là sâu nặng, người đời còn hiếu kính cha mẹ, huống là chúng ta biết đạo đi tu mà không biết đền ơn cha mẹ hay sao? Cha mẹ có công ơn sanh thành dưỡng dục, chúng ta đi tu không sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, nếu đi tu vì sự an vui thảnh thơi cá nhân thì thật là tội lớn vô kể. Để đền ơn cha mẹ, chúng ta phải tu cho đạt đạo, trở về hướng dẫn cha mẹ cùng tu. Đó mới là người con chí hiếu.

Khi xưa bà Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề xin Phật xuất gia, Phật từ chối. Ngài A-nan xót xa mới vào bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, khi xưa Ngài sanh ra mới có bảy hôm thì Hoàng hậu băng hà, Di mẫu nuôi Ngài từ thuở bé đến ngày khôn lớn, công ơn bà rất nặng, vì sao Thế Tôn không cho bà xuất gia? Như vậy Ngài không biết đền ơn người có công lớn với mình hay sao?” Đức Phật bảo: “Ta đã đền ơn Phụ vương và Di mẫu rồi. Sau khi thành đạo, ta trở về thành Ca-tỳ-la-vệ giáo hóa Phụ vương và Di mẫu thọ trì Tam qui Ngũ giới, đó là ta đã đền ơn.”

Vậy sự đền ơn của người tu khác với người cư sĩ là giáo hóa cho cha mẹ biết được đạo đức, biết thọ trì Tam qui Ngũ giới để thoát khỏi ba đường khổ, đồng thời có chủng tử lành để sau này gặp lại Phật pháp tiến tu. Đền ơn cha mẹ là cứu cha mẹ khỏi rơi trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, hoặc hơn thế nữa là hướng dẫn cha mẹ tu Thập thiện, hay là xuất gia tu Phật để thoát khỏi trầm luân trong sanh tử. Thế nên vì cứu cha mẹ mà chúng ta đi tu, nếu đời này chưa tròn bản nguyện, thì đời vị lai chúng ta cố gắng làm tròn bổn phận của mình. Đi tu không phải là quên cha mẹ, không phải vì sự an vui của bản thân mình, mà chính vì muốn đền đáp công ơn cha mẹ.

Ơn Thầy Tổ - Thầy Tổ là những bậc đã chỉ dẫn cho mình con đường tu hành để tiếp nối ngọn đèn chánh pháp, soi sáng cho mọi người khỏi bị tối tăm trong sanh tử. Muốn đền ơn Phật Tổ, chúng ta phải hiểu thông đạo lý, tu hành có đạo lực mới có thể nối tiếp ngọn đèn chánh pháp được.

Ơn quốc gia - Sống trong đất nước, dù ít dù nhiều chúng ta cũng phải nhớ công ơn những người đã gìn giữ đất nước được thanh bình an ổn, để chúng ta ngồi yên tu hành. Không nên nghĩ rằng chúng ta đi tu rồi ai làm gì cũng mặc, không cần biết tới. Công ơn người giúp mình yên ổn ngồi tu không bị loạn lạc, đói thiếu, đó là công ơn quốc gia.

Ơn đàn-na thí chủ - Các Phật tử cúng dường là để quí thầy quí cô được yên tu, làm Phật sự, rồi sau này độ lại Phật tử, chớ không phải để Tăng Ni xài chơi thỏa thích. Đây là món nợ, đâu phải là chuyện bỗng dưng. Thế nên mỗi khi nhận lãnh sự cúng dường, chúng ta phải cố gắng tu để đền ơn đàn-na thí chủ.

Như vậy muốn đền đáp bốn ơn, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải tu làm sao cho thấy đạo, cho đủ công đức để sau này đáp lại công ơn sâu nặng đối với người đã sanh ra mình, đã nuôi dưỡng mình bằng chánh pháp, bằng tiền của và tạo cho mình điều kiện được an ổn tu hành.

Lại nữa chúng sanh ngày đêm đang đau khổ trong ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, cho nên chúng ta phải thấy đạo, hiểu rõ chánh pháp để giáo hóa cho mọi người trong hiện tại biết tu, không tạo nhân rơi vào ba đường khổ. Và mỗi ngày mỗi đêm tu, chúng ta hồi hướng công đức, nguyện họ sớm thức tỉnh để mau thoát khỏi ba đường ác. Muốn được như thế, chúng ta phải có tài có đức, bằng không thì chẳng bao giờ chúng ta làm tròn được bổn phận của mình.

Tóm lại lý tưởng của người xuất gia là phải trên đền đáp bốn ơn, dưới cứu giúp ba đường khổ. Đừng nghĩ rằng chúng ta đi tu để giải thoát đời này, rồi nhập Niết-bàn cho yên, không nghĩ tới công ơn cha mẹ, thầy Tổ và đàn-na thí chủ. Vô tình chúng ta thành người ích kỷ, không thấy được cái khổ của chúng sanh, của những người đã đem bao nhiêu công của để lo cho mình. Thế nên chúng ta phải hiểu thật kỹ, thấy thật rõ bổn phận người tu phải làm gì, để đừng bao giờ lãng quên, đừng bao giờ phai nhạt ý nghĩa xuất gia.

Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

I. Ba thứ pháp là: 1. Rõ tông sư. 2. Biện pháp chân ngụy. 3. Biết thiện ác.

1.- Rõ tông sư.

Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

Chúng ta là người học Phật, mà Phật đã nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, làm sao học với Phật được? Học Phật có nghĩa là học với thầy. Vậy phải học với thầy nào? Nếu thầy không hiểu đạo, không nắm vững đường lối của Phật Tổ dạy, thì chúng ta có nên học không? Cho nên muốn học Phật thì phải tìm thầy. Ngài không nói ý riêng mà dẫn kinh làm chứng. Kinh Bản Hạnh dạy: “Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?”

Chúng ta phải hiểu từ đức Phật đến chư Tổ truyền đạo thế nào, và hiện nay thầy nào, chúng nào đáng cho mình đến học. Chúng đáng cho mình đến học là chúng có sự thừa kế từ chư Phật, chư Tổ nối tiếp mãi đến ngày nay. Nếu những người không biết gốc nguồn, không biết chỗ chân thật của Phật Tổ mà chúng ta nương theo, thì sẽ bị lệch lạc. Thế nên bước đầu vào đạo là phải tìm ra những bậc Tông sư đã hiểu được đường lối của Phật Tổ chỉ dạy, thế mới đúng là người biết lựa chọn bậc thầy. Đó là nền tảng của người tu chớ không phải là thường. Nhiều khi người học đạo đi tìm thầy, gặp người ăn nói nhỏ nhẹ hiền lành, tiếp đãi tử tế liền tôn làm thầy xin vào tu học, thế là mãn nguyện rồi mà không biết vị đó đã học với ai, tu như thế nào, hiểu đạo hay không? Đó là không biết chọn Tông sư. Tông sư phải là bậc kế thừa đạo lý, nắm vững đường lối của Phật Tổ để chúng ta nương theo đó tiến tu.

2.- Biện pháp chân ngụy.

Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu là pháp chân thật, thì pháp đó dạy chúng ta phải giữ gìn giới luật, y theo chánh pháp tiến tu. Luật và pháp là hai môn chúng ta phải nắm cho vững, đó gọi là pháp chân. 

Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

Luận bàn giáo lý của ngoại đạo, rồi phóng đại nghĩa lý, nghĩ thế nào nói thế ấy mà không y cứ vào kinh điển, vào giới luật, đó là pháp ngụy. Rồi cứ như vậy mà truyền dạy cho nhau, điều này hiện nay rất là phổ biến.

Muốn biện chân ngụy, chúng ta phải nhớ chân là y cứ theo giới luật của Phật mà gìn giữ, y cứ theo pháp của Phật để tiến tu, ngụy là bàn luận hay học hỏi theo ngoại đạo, rồi tự ý đặt ra nghĩa này, lý kia truyền dạy cho nhau.

3.- Biết thiện ác.

 Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn. Bạn lành thường khuyên mình ăn năn sám hối, chừa những lỗi trước. Siêng năng tìm thiện tri thức là siêng năng tìm những người bạn lành, những người thầy giỏi khuyến khích mình tu hành tinh tấn. Vậy chúng ta phải kiểm tra lại những người bạn chung quanh mình xem ai là bạn lành giúp chúng ta trên đường tu.

Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn. Bạn ác là những người tuy nói là xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục. Thí dụ như chúng ta tu có chùa có bổn đạo, nên còn dư chút đỉnh, có người cũng xuất gia như mình đến rủ mở mang việc làm ăn, hay cho vay lấy lời, xem như thương mình lắm, nhưng sự thật thì họ xui mình làm giống người thế tục. Đồng tiền của Phật tử cúng dường chỉ để nuôi Tăng Ni tu học, ngoài ra là làm việc từ thiện, chớ không cầu lợi theo thế gian. Nếu hùn hạp làm ăn có lời rồi cố gắng kinh doanh mãi sẽ thành người thế tục, chớ không phải là nhà tu nữa! Thế nên người xuất gia chúng ta phải dè dặt đừng sống theo nghiệp thế gian. Tự làm và dạy người làm, mình đã làm chuyện thế tục, còn dạy người khác làm theo mà tâm không biết hổ thẹn, lại thấy hài lòng thỏa mãn, đó là trái với đạo lý.

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi. Thử kiểm nghiệm lại xem, trên đường tu chúng ta có thực thi đúng ba pháp nên gần gũi và ngăn chừa các pháp không nên gần gũi hay không? Nếu người tu ở riêng rẽ dễ bị khuyên dụ làm những việc theo thế tục, còn nếu ở tập thể như trong Thiền viện thì chắc chắn tránh được điều này. 

II. Phải học pháp cầu thầy.

Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.” Về pháp cầu thầy, Ngài không có đặt ra tiêu chuẩn riêng, mà bảo chúng ta phải học theo trong Lễ Tán dạy:

Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức tức là phải luôn luôn ở trong chỗ đông đảo có những bậc thầy đáng tin tưởng để hướng dẫn mình.

Hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư là ở trong khuôn mẫu của các Tổ sư.

Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.

Chúng ta nên nhớ người tu ở những nơi có bậc thầy lo lắng chỉ dạy, hướng dẫn tu hành thì dễ tu hơn. Nếu chúng ta ở chỗ riêng rẽ rất là khó tu, vì có đủ các thứ duyên ràng buộc, duyên tốt duyên xấu đều có, duyên tốt thì được, duyên xấu thì hỏng. Thế nên người tu phải ở nơi tùng lâm của thiện tri thức, phải ở trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là gốc của người biết học pháp và biết chọn thầy.

Để kết thúc Ngài dạy:

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử. Nếu chưa đầy đủ hai pháp trên thì chưa xứng đáng là người xuất gia. 

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Ngài hỏi câu này thật là đau. Như người chí thân bên trong là cha mẹ, chúng ta đã bỏ, bên ngoài là đạo lý chúng ta học cũng không thông, thế mà chúng ta xưng là tu hành, vậy tu cái đạo gì?  Nếu nói tu Phật thì phải thông hiểu Phật pháp. Nếu không hiểu thì tu cái gì. Câu hỏi này phải đáp như thế nào?

Các người nên xét kỹ lời nói này, các người phải tự vấn và tự trả lời, chúng tôi không trả lời thế được.

Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói.

Công ơn cha mẹ sâu dày, người xuất gia còn bỏ, huống là kẻ bên ngoài. Thế lại chấp tình thầy trò, chấp tình huynh đệ, không thể cởi bỏ, không bị buộc trói trở lại tìm cầu buộc trói! Chúng ta vào đạo tu hành với mục đích là giải thoát sanh tử, thế mà vào đạo rồi trói cột với người này người kia thì giải thoát chỗ nào? Thật là đáng trách! Chúng ta phản bội lại lý tưởng của mình, phản bội lại lời hứa với cha mẹ. Có người nào xin đi tu mà thưa với cha mẹ là ở nhà con buồn quá, cho con vô chùa kiếm huynh đệ chơi cho vui, có nói như vậy không? Hay là thưa ở nhà tình cảm gia đình trói buộc tu hành khó, con vào đạo để chuyên tu cầu giải thoát sanh tử, sau này về độ cha mẹ tu hành, có phải thưa như vậy không? Chuyên tu cầu giải thoát mà vào chùa rồi trói buộc với huynh đệ thì làm sao giải thoát? Thật là điều đáng trách!

Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy. Đi tu chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chỉ muốn kết bè bạn đặng làm ra nhiều tiền nhiều của, mà không sợ rơi trong ba đường khổ, hay trầm luân trong tam giới. Đi tu mà chỉ tham danh tham lợi, không hiểu biết chi cả. Ấy đều là bọn vô minh, chớ không phải là người giác ngộ tu hành. Chúng ta phải kiểm lại xem mình có rơi vào bọn vô minh đó không? Người xưa thật đã đắng miệng khô môi chỉ dạy chúng ta làm sao cho xứng đáng là người tu cầu đạo giải thoát.

Từ trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp. Các Tổ sư ngày xưa tu hành, tâm các ngài giống như hư không, không có dính mắc, cho nên mặc tình đến mặc tình đi, không có gì ràng buộc. Hoặc đi phương Nam, hoặc đi phương Bắc, cốt làm sao tìm hỏi cho ra đạo lý, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha. Được như vậy mới thật là người ở trong Phật pháp, bằng không tức là bọn vô minh. 

Bài học này tuy ngắn mà rất thấm thía. Ngài Pháp Loa nói thẳng cho toàn chúng thấy rõ trọng trách của người tu. Nếu không thực hiện được thì việc tu của chúng ta còn nhiều lệch lạc.

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 41925
  • Online: 18