Trở lại nguồn tâm

13/08/2026 | Lượt xem: 4

HT.Thích Thông Phương

Hôm nay, sẽ nói với đạo tràng về ý nghĩa Trở Lại Nguồn Tâm.

Lâu nay chúng ta sống theo duyên, sống theo cái ngọn ở bên ngoài, không biết được đâu là nguồn. Giờ phải sống trở về nguồn, mà nguồn ở đây là nguồn tâm. Nắm được chỗ này thì sự tu hành bảo đảm không còn lầm lạc.

      1- Tâm Là Gì?

      Ai sinh ra đời, đã sống thì chắc chắn có tâm, không tâm là thành cây đá. Thí dụ gọi chúng sanh thì chúng sanh có tâm không? Không tâm thì đâu gọi là chúng sanh được!.

      Cũng như Phật tử từ thành phố lên đây nghe pháp thì có tâm không? Chấp nhận là có tâm. Đã có tâm nhưng tại sao không nhận? Vậy tâm là gì?

      Một hôm, gió thổi trước điện Phật có tiếng linh khua. Tôn giả Tăng Dà Nan Đề hỏi Ngài Già Da Xá Đa:

      - Đó là linh kêu hay gió kêu?.

      - Ngài Già Da Xá Đa thưa:

      - Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu mà tâm con kêu.

      Vậy là Ngài luôn có sức sống hiện tiền mới đáp được câu đó.

      Nhưng Ngài Tăng Dạ Năng Đề chưa chịu, còn gạn thêm câu nữa:

     - Ông nói tâm kêu, vậy tâm thế nào?.

     Ngài đáp:

     - Thưa, đều lặng lẽ.

     Ngài Tăng Dạ Năng Đề gật đầu.

     Nếu không có tâm thì có gió, có linh cũng không thành vấn đề. Rõ ràng gió và linh đâu biết kêu. Gió thì thổi, nhưng không biết kêu; nhờ có tâm nên biết có tiếng linh khua.

     Ngài Già Da Xá Đa vốn có chỗ sống nên đáp không lầm. Tức là cái biết luôn có mặt, và hằng lặng lẽ mà không rời ngay hiện tại.

     Tâm này phải đầy đủ hai nghĩa: Tịch và Tri. Tịch là lặng lẽ, tri là biết. Biết mà lặng lẽ, lặng lẽ mà biết mới đủ nghĩa, còn chỉ nhận cái biết không đó là lầm. Biết không thuộc về sanh diệt, nếu lặng lẽ mà lờ mờ thì cũng không được.

     Nếu chỉ biết tiếng linh kêu theo tiếng gió thì đó là cái biết theo duyên, là cái biết sanh diệt. Còn biết mà lặng lẽ tức là biết tất cả, không rời chính mình, đó mới thật là tâm. Chính chỗ này, hai câu cuối trong bài Thời Tiết An Định của Tuệ Trung thượng sĩ có nói:

Ai hay nhận được gương mặt thật

Mới hiểu trời, người thảy giả danh.

     Nghĩa là khi hiểu được gương mặt thật của mình thì mới hiểu trời người hết thảy đều là giả danh. Trời người cũng là cái tên tạm đặt cho cái giả tướng hiện ra đây. Sở dĩ có giả tướng thân này nên tạm đặt cho tên người,... Chỗ này kinh Kim Cang luôn nhắc: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai”.

     Trên đời này hễ cái gì có tướng đều là hư vọng, người tu thiền phải luôn nhớ như vậy. Nếu thấy các tướng mà chẳng phải tướng thì ngay đó liền thấy Như Lai. Đó là chỗ về của tất cả.

     Khi Phật thành Phật rồi, một hôm Ngài đi trên đường và để lại dấu chân của Ngài. Có ông Bà La Môn tên Tu Na, là thầy tướng số rất giỏi. Nhìn dấu chân, ông biết đây là bậc phi thường. Ông dò theo dấu chân để tìm xem là ai? Biết là đức Phật, ông mới hỏi:

     - Bạch Ngài, Ngài có phải là tiên không?

     Phật nói:

     - Không phải.

     Ông hỏi:

     - Ngài có phải là A Tu La không?

     - Phật nói:

     - Cũng không phải.

     Ông hỏi:

     - Ngài có phải là Dạ Xoa không?

     Cũng không phải.

     Ông mới hỏi:

     - Sao hỏi gì Ngài cũng nói là không phải hết.

     Phật mới nói:

     - Nếu Tiên mà sạch hết các lậu hoặc thì Ta là Tiên. Nếu A Tu La mà sạch hết những lậu hoặc thì Ta là A Tu La. Nếu Dạ Xoa mà sạch hết những lậu hoặc thì Ta là Dạ Xoa. Nếu là người mà sạch hết những lậu hoặc thì Ta là người. Nhưng giờ đây Ta đã sạch hết những lậu hoặc nên Ta là Phật, là Thế Tôn.

     Để thấy, tất cả chúng ta ai cũng đều có thể là Phật. Nếu ta mà sạch hết những lậu hoặc thì ta cũng là Phật. Rõ ràng Phật có trong tất cả mọi người, do chúng ta lầm nên chỉ nhận tướng người này thôi. Mang thân người thì nhận tướng người, mang thân A Tu La thì nhận tướng A Tu La nên quên mất cái gốc. Đó là chỗ lầm lẫn của chúng ta từ xưa đến nay, giờ phải trở về sống với nguồn tâm là vậy.

     2- Vì Sao Có Mê, Ngộ?

      Mê, ngộ từ đâu có? Mê do đâu mà mê? Cũng do tâm mà mê. Không có tâm lấy gì mê! Gỗ đá có biết mê không? Người gỗ, người máy đâu có biết gì mà nói mê! Có tâm mà không biết, lo duyên theo cái khác mới gọi là mê.

     Rồi ngộ cũng do đâu mà ngộ? Cũng từ tâm luôn. Vì đất, nước, gió, lửa đâu có biết ngộ. Cũng như tim, gan, phèo, phổi nó đâu biết ngộ. Rồi Phật, Tổ hay Thánh hiền cũng vậy, các Ngài cũng từ tâm mà ngộ, ngoài tâm không có gì ngộ được. Rõ ràng thôi!.

     Kiểm lại, đức Phật thành đạo từ đâu? Nhiều khi đọc sách nghe nói Bồ-tát sau 49 ngày dưới cội Bồ Đề đã thành đạo. Nên nghĩ chắc có cái gì đó thành, mà không ngờ thành đạo là chính từ tâm này giác ngộ chứ không gì khác.

     Xét kỹ, khi sao Mai chưa mọc, lúc đó Ngài chưa thành đạo. Nhưng khi thấy sao Mai mọc thì liền thành đạo. Vậy đạo đó ở đâu mà chạy tới nhanh vậy? Rõ ràng là từ tâm, tâm khi chưa sáng thì chưa thành, sáng rồi thì thành Phật.

     Hiểu rồi chúng ta biết vì sao mê chưa? Thấy được điểm mê này chúng ta rõ được đường về. Đây dẫn bài kệ của Vua Trần Thái Tông:

Trời đất nấu nung vạn tượng thành

Xưa nay không móng cũng không manh.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị

Mắt mờ chúng sắc, tai đuổi thinh.

Lang thang làm khách phong trần mãi

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

     Thấy chỗ đó là thấy được chỗ mê của chúng ta.

     “Trời đất nấu nung vạn trượng thành, Xưa nay không móng cũng không manh”. Thường ông bà nói trời đất có ra là do tạo hóa làm thành, nhưng ở đây nói: Xưa nay nó không tự nói là có, cũng không tự nói là không, cũng không tự nói là phải, là quấy gì hết... Chỉ là tùy duyên rồi nó ứng hóa vận hành ra, vậy thôi. Không có chủ thể nào tạo ra nó, chỉ do một niệm mê của chúng ta thôi.

     Khi vừa có một niệm mê thì niệm mê đó khởi động niệm, mà vừa có niệm khởi động thì quên cái thể vô niệm của nó. Có niệm thì có tướng hiện ra, rồi thế giới thành là chỗ đó.

     Đây nói: “Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm, liền trái không sanh nhận có sanh", tức theo cái sai biệt đi vào luân hồi trong các cõi.

     Tâm đang yên lặng trong thể vô niệm mà dấy niệm thì liền có duyên. Duyên đó là trần. Như thay vì nói đi trong sáu nẻo luân hồi thì nói gần hơn là đi trong sáu trần. Động niệm là nó đi vào một trong sáu trần, không ở trong trần này thì cũng lọt qua trần kia, không thể nào tránh khỏi.

     "Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị, Mắt mờ chúng sắc, tai đuổi thinh". Đó là nó theo sáu trần.

     Nên nói "Lang thang làm khách phong trần mãi, Ngày cách quê hương muôn dặm trình". Lẩn quẩn trong đó thì đâu còn biết đường về.

     Đang ngồi đây là chúng ta đang ngồi ở quê mình hay quê người? Vậy quê nhà ở đâu? Mới thấy chúng ta thật là quên mình một cách đau đớn. Ngồi quê nhà mà tưởng là quê người rồi lại đi tìm về quê nhà. Rất là lẩn quẩn.

     Nếu ngay đây mà chúng ta không đi đâu thì khỏi cần cầu ngộ cũng ngộ nữa. Lẽ thật rất là đơn giản nhưng nhiều khi chúng ta tưởng tượng làm cho rắc rối thêm.

     Chính vì vậy mà trong kinh Pháp Hoa gọi là “Cùng tử bỏ cha”. Cùng Tử bỏ cha lang thang đầu này đầu kia để xin ăn, trong khi cha là ông Trưởng giả. Nghĩa là kho tàng đó cũng là kho tàng là sở hữu của mình, nhưng lại lang thang xin được chút gì đó thấy vui rồi. Một hôm, bất chợt trở về chính chỗ của ông cha, thấy ông cha rồi sợ, chạy không dám nhận.

     Tức là ngồi yên lặng vô sự, không có chuyện gì, thấy buồn. Thấy buồn thì kiếm chuyện để cho vui. Rõ ràng khi không có chuyện gì hết là vô sự, là chúng ta trở về gặp cha rồi, nhưng không dám nhận mà phải kiếm bạn cho vui. Như đi xin ăn, lâu lâu xin được chút thấy vui.

     Xin ở đây là tìm sáu trần để duyên cho đỡ buồn. Đó gọi là đi xin. Đi xin thì ăn qua rồi cũng đói, lại đi xin nữa. Cũng vậy, duyên được chút nhưng qua rồi lại phải đi tìm duyên khác. Chạy tìm suốt đời, quên cả đường về. Trong khi cả một kho tàng của chúng ta mà lại bỏ quên, tâm lang thang nơi xứ người trong khi thân đang ngồi ở quê nhà.

     Hiện tại, kiểm xem ngồi đây có ai mà không nghe không? Rõ ràng có nghe. Nhưng Phật, Tổ dùng được mà tại sao chúng ta lại không dùng được? Đâu phải các Ngài dùng chỗ nào khác! Chỉ khéo xoay lại chỗ này là xong chuyện.

     Thiền sư Thạch Ốc đi ra ngoài gặp một người lạ, hai người vào trong quán trọ nghỉ, bàn luận say sưa đến tối. Nửa đêm, Thạch Ốc nghe có tiếng động trong phòng, Ngài hỏi:

- Trời sáng rồi sao?

 Người kia đáp:

- Không có, trời còn khuya.

Thạch Ốc nghĩ người này trong đêm tối mà lại dậy khỏi giường xục xạo tìm, nhất định là người thấy đạo rất cao, hoặc là kẻ ăn trộm. Thạch Ốc hỏi:

- Ông chính là ai?

Người kia đáp thẳng thắn:

- Là ăn trộm.

Ngài nói:

- Thì ra ông là một tên trộm, từ trước đến nay ông đã trộm được bao nhiêu lần rồi?.

Tên trộm trả lời:

- Đếm cũng không hết.

Ngài hỏi:

Mỗi lần ăn trộm được, ông vui chừng bao lâu?

Đáp:

- Phải xem lại đồ trộm được giá trị thế nào cái đã.

Ngài hỏi:

- Khi vui sướng nhất, thường ông duy trì được bao lâu?

Đáp:

- Cũng chỉ mấy ngày thôi.

Ngài nói:

- Ông chỉ là tên ăn trộm vặt, sao không tìm cách đánh một mẻ cho thật to đi.

 Tên trộm hỏi:

- Ông có kinh nghiệm ư? Ông đã trộm bao nhiêu lần rồi?

 Ngài đáp:

- Chỉ một lần thôi.

Hỏi:

- Chỉ một lần thôi à? Như vậy có nhiều chăng?

 Ngài đáp:

- Tuy chỉ một lần nhưng cả đời dùng không hết.

Hỏi:

- Vật ấy trộm ở đâu, ông có thể dạy cho tôi được chăng?

Ngài bất ngờ nắm ngay ngực tên trộm đó nói:

- Cái này nè ông có hiểu chăng? Đây là kho báu không cùng tận, ông hãy đem một đời chơn chánh mà dâng hiến trên sự nghiệp này, thì trọn đời dùng mãi không hết. Có rõ chăng?

Tên trộm đáp:

- Dường như rõ mà dường như cũng chẳng rõ, chẳng qua thứ cảm thọ này khiến cho người rất là thoải mái.

Sau đó tên trộm ăn năn, đến quy y và học đạo với Ngài làm một thiền giả.

     Thiền sư giáo hóa người rất khéo. Cũng vậy, nếu chúng ta khéo trộm trở lại một lần thì đủ hết. Chính chỗ trộm một lần mà dùng không hết là chỗ này, nhận sống trở lại ngay chỗ gốc đó là kho tàng đầy đủ. Còn theo bên ngoài có khi đói khi no, giống như tên cùng tử đi xin ăn lúc được lúc mất.

     Vậy thì tâm là gì, từ đâu mà trở lại?

     Tâm tức là biết, nhưng không phải là đối tượng để biết, cũng không phải là biết theo duyên. Nếu người có công phu tu thì soi kỹ trở lại tâm mình, cảm thấy hài lòng là tâm chúng ta bị thấy rồi. Trong kinh Lăng Nghiêm gọi là "tự tâm thủ tự tâm, phi huyễn thành tâm huyễn". Tức từ tâm chúng ta chấp lại nó tức là pháp huyễn, biến nó thành cái bóng, cái bị thấy.

     Khi tu chúng ta thường mắc phải như vậy, lâu lâu ngồi thiền quên duyên, không thấy duyên thì sẽ tìm trở lại để biết, trong khi bản chất của tâm vốn là biết rồi, vậy còn tìm biết chi nữa!

     Chính cái tìm biết đó là cái thêm đầu, là lầm lẫn. Chỗ biết đó chỉ là một cái biết thuần nhất, biết tất cả mà vẫn lặng lẽ. Đó là chỗ cần trở về.

     Còn chúng ta biết là luôn có cái duyên đồng hóa với cái bị biết đó, bị lẫn lộn giữa cái biết với cái bị biết, vì vậy mà đi tìm hoài. Cho nên phải thấy trở lại chỗ đó.

     Vậy tâm ở đâu để trở về? Ai mới học đạo cũng hỏi câu hỏi đó. Thứ nhất, tâm chúng ta mà đi hỏi người khác, rồi còn hỏi ở đâu, thêm một lớp lẩn quẩn nữa đó là đang ngủ mớ.

     Có vị Tăng hỏi Thiền sư:

     - Thế nào là ngã?

      Thiền sư đáp:

     Trên tuyết lại thêm băng.

     Tức dư rồi. Thí dụ hỏi thế nào là anh thì còn dễ hiểu. Tôi mà còn hỏi tôi thì hết trả lời.

     Có lần Ngài Tùng Sơn ngồi uống trà với ông Bàng Uẩn. Ông Bàng Uẩn nói:

     - Quý huynh uống trà sao không mời khách?

     Ngài Tùng Sơn mới hỏi:

     - Ai?

     Ông Bàng Uẩn đáp:

     - Bàng Công.

     Ngài Tùng Sơn liền nhấn mạnh:

     - Sao lại phải mời!

      Đó là lầm lẫn. Như Phật tử tới đây là đợi mời hay không đợi mời? Tới rồi mà còn đợi hỏi này kia, tức là đợi mời mới dám uống. Trong khi đã chính mình rồi còn đợi mời gì nữa! Đó chính là cái lầm lẫn. Đang sống trong đó mà còn đi hỏi đi tìm, còn đợi mời!

      Chính chỗ này, Ngài Thạch Đầu có bài kệ ấn khả cho Ngài Dược Sơn:

Từ lâu chung ở chẳng biết tên

Ngồi đứng theo nhau cứ mặc tình.

Chư Thánh thuở giờ chẳng cần biết

Phàm phu thô tháo đâu thể rành.

      Từ lâu ở chung mà chẳng biết tên, vẫn theo nhau không lúc nào rời. Chư Thánh từ trước giờ còn không biết được chỗ đó thì phàm phu làm sao mà rành được.

      Rõ ràng hằng ngày chúng ta vẫn tới lui qua lại, vẫn hằng đi chung với nó, sống chung với nó mà không biết tên, không hay biết gì hết. Khi đi thì cái gì biết đi? Ngồi, cái gì biết ngồi? Da, thịt, gân, xương này nó đâu có biết ngồi. Vậy tức là cùng đi chung với nó, nhưng mà hỏi tới thì không biết tên.

      Ở đây chúng ta tạm gọi nó là tâm, tạm gọi nó là biết. Nhưng cái tâm cần biết đó là gì? Tự đặt tên thôi chứ đâu biết tên đó là gì, cho nên gọi là đi chung mà không biết tên. Nếu biết tên là nguy.

      Chỗ tế nhị là chỗ này. Nói chư Thánh còn chẳng biết nhưng có nói gì nói thì cũng ló đuôi rồi. Đã là chư Thánh hoàn toàn chẳng biết, vậy sao từ đó đến nay lại theo nhau! Vậy là ló đuôi rồi. Đã biết thường theo nhau rồi nói ra tức là có chỗ ló đuôi.

      Thấy được chỗ đó là thấy được chỗ khéo léo của Ngài. Nói chẳng biết nhưng lại có chỗ hé mở. Mới thấy ai cũng có phần trong đó. Chính chỗ chẳng biết đó là chỗ chúng ta phải tự khám phá. Mà khám phá được chỗ này là thấy được chỗ về. Cho nên chỗ chẳng biết đó là chỗ quan trọng.

      Khi Ngài Đại Đô An đến tham vấn Thiền sư Kiệt Phong Anh, Ngài Đại Đô An là một vị pháp sư nhưng có chỗ sáng đạo. Khi đến tham vấn Ngài Kiệt Phong Anh, hỏi:

      - Giảng chủ ưa giảng kinh gì nhất?

      Ngài Đại Đô An đáp:

      Thường giảng kinh Kim Cang. Và cũng từng tỉnh ngộ qua câu "Không từ đâu đến và cũng không đi về đâu".

      Ngài Kiệt Phong Anh hỏi:

      - Nếu mà không đến, không đi thì sao ông đến đây được?

      Ngài Đại Đô An đáp:

      Chính là cái người không đến đi đó thôi.

      Ngài có chỗ thấy nên nhấn mạnh chỗ đó.

      Ngài Kiệt Phong Anh mới gằn thêm:

      - Vậy ngay đây người đó ở đâu?

      Ngài Đại Đô An trả lời bằng một tiếng hét.

      Khi nghe hỏi ở đâu mà tìm chỗ trả lời là nguy. Bởi vậy Ngài chỉ hét thôi. Nhưng đối với Thiền sư, đã gạn là gạn cho tới cùng.

       Ngài Kiệt Phong Anh gạn thêm nữa:

      - Thôi, hãy gác chuyện hét qua một bên đi! Khi bốn đại rã rời đi vào chỗ nào để an thân lập mạng?

      Ngài Đại Đô An đáp:

      - Khắp cả trái đất này, cái ấy chẳng phải là chính ta ư?

      Còn hỏi chỗ nào nữa. Nghe nói chỗ, lo tìm chỗ là bị gạt liền. Vậy cũng chưa xong.

      Ngài Kiệt Phong Anh mới gạn thêm nữa:

      - Giả sử trong thời kiếp hỏa, lửa bừng cháy đốt hết cả thế giới, lúc đó ông ở đâu?

      Kinh nói khi kiếp hỏa thiêu đốt sẽ tan cả quả địa cầu này, đốt đến trời Dục giới, lúc đó ông ở đâu?

      Ngài Đại Đô An liền đáp:

      - Không biết.

      Ngài đáp là không biết, nhưng Ngài Kiệt Phong Anh phải gạn thêm lần nữa, bởi chỗ này cũng là chỗ dễ bắt chước. Hỏi mà trả lời không được thì đáp không biết là cũng xong. Làm sao biết thứ thiệt thứ giả!

      Cho nên Ngài Kiệt Phong Anh gạn thêm lần nữa:

      Lục Tổ vì cái không biết đó nên Ngài đi đốn củi, nấu cơm. Tổ Bồ Đề Đạt Ma vì cái không biết đó mà xoay mặt vào vách chín năm. Còn ông, ông nói không biết là ông thấy cái gì vậy?

      Ngài Đại Đô An đáp:

      Tôi chỉ nói không biết thôi!

      Lúc đó, Ngài Kiệt Phong Anh mới bảo:

      - Cái gã mù ơi! Hãy ngồi xuống đây uống trà!”.

      Chúng ta phải khám phá ra cái không biết đó, không phải nói không biết là không có gì hết. Chính cái không biết đó là cái động trời động đất. Phật cũng từng tán thán cái chỗ không biết. Là chỗ các Bồ-tát đang sống, cũng như chư Tổ đang thực hành. Thành ra chỗ không biết đó là chỗ đặc biệt, mà chính các Thiền giả cũng đang soi sáng chỗ không biết đó.

      Chúng ta biết mình lầm lẫn nhưng chính chúng ta mê nên mới theo cái biết này đi vào sáu trần, rồi mới bị luân chuyển. Đã biết từ sáu trần này đi ra rồi bị luân chuyển, muốn trở về thì từ đâu mà trở về? Cũng từ chỗ thấy biết này mà trở về thôi.

      Từ thế giới này mà mê lầm đi vào sáu trần, giờ cũng từ sáu trần này mà trở về, đó là trở về nguồn. Từ đó đi ra thì cũng từ đó mà trở về thôi.

      Chính chỗ này trong kinh Pháp hoa Phật nói: “Bản hoài của Phật ra đời là khai thị tri kiến Phật cho tất cả chúng sanh ngộ nhập". Mà tri kiến Phật là thấy biết giác ngộ.

      Có lần, Ngài Vân Môn thượng đường nhưng không thuyết pháp. Ngài cầm cây gậy vẽ một đường, bảo: “Tất cả đều có ở đây hết!”. Rồi Ngài cầm gậy vẽ đường thứ hai: “Rồi tất cả cũng biến mất từ đây hết. Các ông khéo bảo trọng lấy!”.

      Ngay khi Ngài vẽ một đường là ai cũng có mặt ở đó. Nhưng tất cả cũng đều biến mất bởi chỉ nhìn theo ngón tay vẽ. Còn thấy rõ ràng là không quên. Thành ra quê nhà thì cũng từ đó mà quê người thì cũng từ đó luôn.

      Một vị khác là Ngài Vân Nham, có lần Ngài đang quét sân gặp Ngài Quy Sơn, mới hỏi: “Có phải ông đang bận rộn không?”.

      Ngài Vân Nham đáp:

      - Nhưng có một người chẳng bao giờ bận rộn.

      Ngài Quy Sơn hỏi:

      - Ông muốn nói đến cái mặt trăng thứ hai chăng?

      Khi nghe nói có một người chẳng bao giờ bận rộn liền nghĩ là còn một người thứ hai nữa, vì ông đang bận rộn, nên tưởng tượng có một người thứ hai và có mặt trăng thứ hai.

      Ngài Vân Nham liền dựng cây chổi lên, nói:

      - Đây là mặt trăng thứ mấy?

      Ngài Quy Sơn liền gật đầu, bỏ đi.

      Sau, Ngài Huyền Sa nghe câu chuyện đó liền nói: “Chẳng có cái mặt trăng nào ngoài mặt trăng thứ hai hết”.

      Chúng ta thường nghe mặt trăng thứ hai tức là phải có mặt trăng thứ nhất. Tưởng tượng bỏ mặt trăng thứ hai để quay về mặt trăng thứ nhất. Rõ ràng có hai mặt trăng. Nhưng ở đây thấy rõ ràng là không có mặt trăng nào cả. Bởi vì mặt trăng thứ hai cũng chỉ là cái bóng, làm gì có mặt trăng thứ hai. Nếu còn thấy hai thứ sẽ không bao giờ thấy đạo. Chính chỗ này là chỗ tu của chúng ta.

      Chúng ta thường nghe nói cái thấy biết này là cái thấy biết mê, cái thấy biết vọng, và phải có cái thấy biết chơn. Vì thế mà muốn bỏ cái thấy biết này để tìm cái thấy biết chơn. Rõ ràng là có hai cái. Trong khi mặt trăng thứ hai là cái bóng thôi chứ làm gì có mặt trăng thứ hai. Cũng vậy, làm gì mà có thêm cái thấy biết thứ hai nữa. Chúng ta phải thấy rõ điều này.

      Sự thật chớ bảo cái biết này là thức, và còn cái biết khác nữa. Nếu còn thêm cái biết nữa thì là ngoài mình rồi. Cho nên cũng cái biết này, nếu đem tâm phân biệt để dùng thì là cái biết của thức; còn cũng cái biết này mà dùng tâm vô phân biệt nhìn thì là tâm của trí. Cho nên, ở đây Ngài nói là không có tâm nào khác ngoài cái tâm thứ hai.

      Vậy tức là không có cái biết nào ngoài cái biết của thức này. Nhưng chúng ta bỏ cái này để tìm cái khác thì đó là có mặt trăng thứ hai rồi. Rõ ràng người nói như vậy là biết rõ người đó chưa thấy đạo. Nghĩa là còn sống trong niệm hai bên. Tức là còn thấy cái này cái kia, rõ ràng cái thấy còn sai biệt.

Nhà thiền có câu chuyện về ông Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn. Ông Tô Đông Pha là nhà nho lại có tâm học đạo, thường tham thiền với Thiền sư Phật Ấn. Một hôm, ông đến ngồi thiền với Ngài Phật Ấn, xong thời thiền ông mới hỏi Thiền sư Phật Ấn:

- Hôm nay Thầy thấy dáng tôi ngồi thế nào?

Thiền sư Phật Ấn nói:

- Rất tốt! Giống vị Phật.

Ông thích quá!

Thiền sư Phật Ấn hỏi lại:

- Còn hôm nay ông thấy tôi ngồi như thế nào?

Ông Tô Đông Pha lâu nay thường học Phật tham thiền với Ngài Phật Ấn, nói ra điều gì cũng không hơn Ngài Phật Ấn, nên khi nghe Thiền sư hỏi, ý của ông muốn hôm nay phải hơn mới được, nên nói:

- Hôm nay Ngài ngồi thiền giống đống phân bò.

Tưởng đâu nói vậy, Ngài Phật Ấn sẽ buồn rồi phiền não, nhưng Ngài Phật Ấn cười cười không nói. Ông nghĩ Ngài Phật Ấn bị ông nói câu đó hết chỗ để đáp trả, nên đi tuyên truyền là hôm nay Ngài Phật Ấn bị tôi cho một vố.

Đến khi về nhà, ông còn khoe với em gái là Tô Tiểu Muội. Nhưng cô em gái này có trí tuệ rất bén nhạy, nghe xong cô mới hỏi:

- Anh có vố gì cho Ngài Phật Ấn kể nghe đi!

Ông mới kể lại.

 Nghe xong, cô nói:

- Vậy là anh còn thua xa Ngài Phật Ấn!

Nghe vậy, ông hỏi là sao?

Cô em gái nói:

- Anh quên rồi, vì tâm của Ngài Phật Ấn giống như Phật nên nhìn thấy anh cũng như Phật, ngược lại tâm anh như phân bò nên nhìn thấy Ngài giống như phân bò.

Lúc đó, ông thấy được lỗi của mình liền xụ mặt.

Kinh nói: “Nhất thiết duy tâm tạo”, tâm người nếu tốt suy nghĩ điều gì cũng tốt, còn tâm nếu xấu nghĩ gì cũng xấu, cho nên việc gạn lọc hay chăm sóc, nuôi dưỡng giữ gìn tâm rất là quan trọng. Do đó, chúng ta phải luôn hướng tâm mình đi đúng đường cũng như chăm sóc để nó không thành những cái tâm bệnh hoạn.

      Cho nên nhiều khi chúng ta tu pháp "Biết vọng", nghe người nói tu pháp này cũng còn dỡ, còn vọng tức là còn năng, còn sở, là tu cái biết còn trong thức, phải tu sao vượt qua năng sở, bỏ luôn cái biết đó thì mới hay.

      Đâu phải vậy, cũng cái biết này mà biết theo duyên, lệ thuộc duyên thì đó là cái biết của thức; còn biết tất cả mà không lệ thuộc theo duyên, biết tất cả mà nó vẫn là nó thì sao gọi là thức được! Biết theo duyên tức nhiên là có duyên thì có biết, không duyên thì không biết, nó diệt theo duyên. Còn giờ biết tất cả mà nó vẫn là nó, có duyên hay không duyên nó vẫn biết thì sao gọi là thức được!

      Đó là do công phu chưa tới nên chỗ thấy chưa thông suốt, nên còn thấy trong đối đãi năng sở. Nếu công phu trọn vẹn, thấu triệt rồi thì cũng nó thôi.

      Xưa, chư Tổ cũng từ cái biết này mà mê và khi triệt ngộ rồi thì cũng sống với cái biết này, đâu có thêm cái biết nào khác.

      Thí dụ như chúng ta thấy con trâu nói con trâu, thì các Ngài thấy con trâu cũng nói con trâu. Tuy thấy con trâu nói con trâu nhưng chúng ta chấp con trâu là thật, còn các ngài thấy con trâu cũng nói con trâu như chúng ta, nhưng các Ngài không lầm cái này với con trâu đó, vậy thôi!.

      Chính chỗ này, Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có bài kệ:

Người đời ưa vọng chẳng ưa chân

Chân, vọng, tâm kia cũng là trần

Cốt muốn nhảy thẳng lên bờ ấy

Hãy tham đồng tử đang có đây.

       Ngài nói "Người đời ưa vọng chẳng có ưa chân", tức là chúng ta thích sống theo vọng. Tâm còn thấy là chân, là vọng thì tâm đó cũng là trần, bởi còn thấy hai bên.

      "Cốt muốn nhảy thẳng lên bờ ấy, Hãy tham đồng tử đang có đây ",  Đồng tử tức là tròng mắt của mình. Phải tham trở lại tròng mắt của mình thôi.

      Nhưng làm sao thấy tròng mắt của mình? Bởi chỉ lo biết cái này biết cái kia thì đó là mắt nhìn ra bên ngoài đâu có nhớ tròng mắt này. Còn biết tất cả mà không quên chính nó đó gọi là tham trở lại đồng tử.

      Nói chơn vọng cũng là hai danh từ, khi còn mê thì gọi là thức, khi giác rồi đổi lại thành trí. Cho nên đường về sờ sờ đó.

      Có một vị Tăng hỏi Ngài Huyền Sa: “Được nghe Hòa thượng thường nói tánh nghe trùm khắp cả hằng sa cõi nước, vì sao Tuyết Phong đánh trống mà trong ấy lại chẳng nghe?”.

      Ngài Huyền Sa liền bảo: “Ai biết chẳng nghe!”.

***

      Có lần vị Tăng hỏi Ngài:

      - Con mới vào Tùng Lâm, xin thầy chỉ cho con đường vào.

      Ngài bảo:

      - Ông có nghe tiếng suối Uyển chảy chăng?

      Tăng thưa:

      - Dạ nghe.

      Ngài bảo:

      - Từ chỗ đó mà vào.

      Còn biết nghe tiếng suối chảy thì rõ ràng cũng không mất? Từ đó mà vào, thì cũng từ đó trở lại thôi. Đó chính là Bồ-tát Quan Âm chỉ lối vào cho chúng ta.

      Nếu nhận lỗ tai, nương cái lỗ tai này mà nghe khi không có lỗ tai này thì sao? Lấy gì nghe? Đó là chỗ mắc kẹt. Cho nên nghe là nghe suốt cả trước sau chứ không có dừng ngay ở tiếng suối đó. Thường khi có tiếng suối chảy mới nghe rồi nhận ngay đó, trong khi trước khi tiếng suối chảy đó nó có rồi, nó vẫn có mặt rồi. Cho nên dù cho có tiếng suối chảy hay không tiếng suối chảy nó vẫn luôn có mặt nên đâu có mất đi đâu. Còn chỉ nghe tiếng suối chảy, khi qua rồi mất thì đó gọi là quên đường về. Rõ ràng chính chỗ đó là đường về, còn hỏi chỗ này hỏi chỗ kia thì còn lăng xăng.

      Chỗ này Ngài Huệ Lãng khi đến Ngài Thạch Đầu, hỏi:

      -Thế nào là Phật?

      Ngài Thạch Đầu bảo:

      - Ông không có Phật tánh.

      Ngài Huệ Lãng thắc mắc, hỏi:

      - Vậy các loài hàm linh như cò bay, mái cựa,... thì thế nào?

      Ngài Thạch đầu bảo:

      - Nó lại có Phật tánh.

      Ngài liền thưa:

      - Huệ Lãng này vì sao lại không?

      Ngài Thạch Đầu bảo:

      - Tại vì ông không chịu nhận.

      Ngay đó, Ngài Huệ Lãng tỉnh ngộ.

      Rất đơn giản. Của báu sẵn đó tại mình không chịu nhận nên nó thành không, còn ngay đó tin nhận thì nó sẵn đó từ thuở nào thôi. Cho nên chỉ cần tin là xong.

      Như câu chuyện thường hay nghe Tôn giả Nghiêm Vương đến hỏi Ngài Triệu Châu:

      Khi không một vật nào đem đến thì sao?

      Ngài Triệu Châu bảo:

      - Hãy buông xuống đi!

      Ngài liền thưa:

     - Đã nói không một vật đem đến thì buông cái gì?

     Ngài Triệu Châu bảo:

     - Buông không được thì hãy vác lên mà đi!

     Chính là chỗ biết buông đó.

     Đó là chỗ khéo léo của Ngài Triệu Châu. Biểu buông đó là làm cho người hỏi thắc mắc, rồi Ngài nhấn mạnh trở lại. Ngay câu hỏi là câu đáp, là xong.

     Khi Ngài bảo: “Buông đi!”, Tôn giả liền chới với, đã không có cái gì đem đến thì buông cái gì nữa! Ngài nói: “Buông không được thì vác lên mà đi!”. Khi buông sạch không còn chỗ bám, mà không còn chỗ gì để bám thì chính nó rồi chứ còn gì nữa.

     Nghĩa là thấy, nghe, biết tất cả mà không dừng trụ vào cái gì hết, đã không có trụ thì chính nó rồi còn cái gì khác nữa đâu. Khi có trụ tức là có thêm, còn không trụ vào cái gì thì chính nó thôi. Buông là như vậy.

     Nếu nói buông là bỏ nhưng thử hỏi bỏ nó rồi bỏ đi đâu? Buông tức là buông cái biết hư dối nhưng giờ buông đi đâu đây? Khởi thêm một cái khác để buông nó thành ra thêm cái thứ hai nữa rồi.

     Cho nên buông tức không dừng vào tất cả, mà không dừng vào cái gì hết tức nhiên còn lại là chính nó thôi. Ngay đó là chỗ sống, chỗ trở về của chúng ta.

     Ngài Đức Sơn khi ngộ rồi đốt sạch hết sách vở, Ngài còn nói: “Tột cùng mọi biện luận siêu huyền ở thế gian, cũng giống như sợi lông ném trong hư không vậy thôi. Hết thảy mọi thứ trọng yếu trên đời, giống hệt như giọt nước trong hồ lớn không có gì đáng kể”.

     Nghĩa là mọi cái trọng yếu trong thế gian này cũng giống như giọt nước nhỏ trong hồ lớn, còn bao nhiêu điều biện luận siêu tột đi nữa cũng giống như sợi lông ném trong hư không, không dính dáng gì hết .

     Đó là Ngài thấy tột được chỗ đó, vượt qua mọi ngôn ngữ, những sai biệt bên ngoài không cần phải lý luận nhiều. Còn người chưa sống được thì còn ham lý luận, sợ nếu không lý luận thì người ta nói mình dở, hoặc hiểu mà không nói gì thì người ta nói mình dốt.

     Sống được chỗ này, dù có ai đến nói rằng cái đó không phải thì chỉ cười, bởi chúng ta có chỗ sống chân thật rồi thì nói phải, nói không phải đều không quan trọng.

     3. Kết Luận

     Phật từng nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Và ai có tâm đều có thể thành Phật. Đâu còn gì bình đẳng hơn. Mặc dù còn có những tướng sai biệt bên ngoài như màu da, chủng tộc, nam hoặc nữ, hoặc tốt xấu, ngu trí... hoặc có những cái suy nghĩ riêng tư, những kiến thức hiểu biết..., đều là những cái sai biệt.

     Mà sai biệt đó là sai biệt trên nghiệp báo đã huân tập, song trong đó vẫn có đồng một thể là tâm giác. Dù là người chủng tộc nào, tôn giáo nào cũng có đủ cái đó. Nếu ngay đó nhớ trở lại đều sẽ gặp nhau, đó là lý bình đẳng.

     Cho nên, Bồ Tát Quan Âm có hiện ba mươi hai ứng thân. Khi thì hiện nam, khi thì hiện nữ, khi hiện trời, khi hiện người, có khi hiện đồng nam, có khi hiện đồng nữ, hiện nhiều thứ thân như vậy. Nhưng đâu phải Ngài hiện nhiều thân như vậy mà Ngài thành luôn như vậy.

     Chính chỗ này trong kinh Duy Ma Cật, Ngài Xá Lợi Phất hỏi bà Thiên nữ:

     - Bà nói hay quá, sao bà không biến cái thân nữ đi!.

      Nghe vậy, bà liền dùng thần thông biến Ngài Xá Lợi Phất thành thân của bà rồi bà biến lại thành thân của Ngài Xá Lợi Phất.

      Bà hỏi Ngài Xá Lợi Phất:

      - Sao Ngài không biến cái thân của Ngài đi!

       Ngài Xá Lợi Phất dùng thần thông biến trở lại nhưng biến không được. Ngài nói:

      - Không biết sao tôi mang cái thân này?

      Bà mới nói:

      - Cũng vậy, trong mười hai năm tôi tìm tướng nữ không ra, còn bảo biến thì biến cái gì nữa?”

      Bởi vì thấy có nam, có nữ thật cho nên mới biến, còn khi tìm thân nữ không ra thì biến cái gì nữa? Chúng ta cũng vậy, bởi vì bám chặt vào cái tướng này cho nên phải đổi tướng này thành tướng khác, đó là kẹt trên tướng. Thấy rõ tướng này chỉ là giả, tức phải thấy thấu chỗ chân thật kia thì ngay đó liền rõ được vô sanh. Niết-bàn là ngay chỗ đó, khỏi phải tìm Niết-bàn đâu hết.

      Như Ngài Tiệm Nguyên với Ngài Đạo Ngô, hai thầy trò đi điếu tang. Đến chỗ điếu tang thì Ngài Đạo Ngô mới gõ vào quan tài, nói:

      - Sanh ư hay tử ư?

      Ngài Tiệm Nguyên hỏi:

      - Sao là sanh? Sao là tử?

      Ngài Đạo Ngô nói:

      - Sanh cũng chẳng nói mà tử cũng chẳng nói.

      Ngài Tiệm Nguyên hỏi:

      - Sao chẳng nói?

      Ngài Đạo Ngô nói:

      - Chẳng nói! Chẳng nói!

      Ngài Tiệm Nguyên không hiểu. Trên đường về trong đầu Ngài thắc mắc chịu không nổi, Ngài mới sấn tới trước nói:

      - Bạch thầy, Thầy phải nói cho con nghe! Không nói là con đánh thầy.

       Ngài Đạo Ngô nói:

       Đánh thì mặc đánh, không nói thì không nói.

       Ngay đó Ngài Tiệm Nguyên đánh liền.

       Ngài Đạo ngô bảo:

       - Thôi, ông hãy đi chỗ khác! Về chùa, ông Tri sự biết được thì ông chết.

       Ngài Tiệm Nguyên mới đi. Đến một ngôi chùa nhỏ ở thời gian. Một hôm, nghe tụng kinh Phổ Môn tới đoạn Ngài Quan Âm khi hiện thân Tỳ Kheo đáng được độ thì liền hiện thân Tỳ Kheo mà vì thuyết pháp... Ngay đó, Ngài Tiệm Nguyên liền tỏ ngộ.

       Ở đây khi Ngài nghe nói: “Sanh ư? Tử ư?” thì Ngài thấy sanh tử là thật. Ngài Đạo Ngô nói: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói”. Nếu ngay đó người bén nhạy thì thấy rõ sanh tử không thật, rõ ràng sanh tử không quyết định là thực sanh, cũng không quyết định nó là thực tử. Ngay sanh tử khéo nhận tức là vô sanh. Nhưng Ngài vẫn ôm ấp vấn đề đến khi nghe kinh Phổ Môn liền sáng tỏ.

       Rõ ràng mấy cái thân đó thì có thân nào là sanh tử thật. Hiện thân Tỳ Kheo rồi bỏ thân Tỳ Kheo hiện thân Tỳ Kheo Ni..., như vậy thân nào là sanh? Thân nào là tử? Ngay đó liền ngộ vì rõ vô sanh. Cho nên ngộ là ngộ ngay chỗ đó. Chúng ta cũng cần khám phá chỗ đó.

       Tóm lại, mỗi người cần phải kiểm xét cho thật rõ cái gì là cái đang mang cái thây thúi này! Cả một đời mang nó tới lui không mệt hay sao? Nhưng cái gì xen vào trong đó để mang? Không có cái gì xen vào trong đó thì tại sao không nhớ ra? Cho nên phải xét tột chỗ đó sẽ thấy được chỗ chân.

       Xét kỹ trước khi động niệm, ai biết đây? Vậy thì còn tìm cái gì khác nữa? Cho nên nguồn sống bất diệt là ngay chỗ đó.

       Câu chuyện bà già đến thưa với Ngài Đại Đồng, rằng:

       - Già này vừa mất trâu, xin thầy bói cho một quẻ?

       Ngài gọi:

      - Bà lão!

      Bà liền dạ!

      Ngài nói:

      - Đây rồi!

      Ngay đó, bà vui vẻ ra về khỏi sợ mất trâu.

      Nói mất trâu nhưng gọi bà liền “dạ” thì trâu ngay đó rồi, đâu có mất đi đâu. Chỉ cần nhớ lại là xong.

      Như vậy thì chỉ cần nhớ thì “đây rồi” là xong. Nguồn tâm chân thật là ngay chỗ đó còn đi tìm cái gì khác nữa là mê. Vậy kết thúc mong tất cả khéo trở lại nguồn tâm sẽ cùng gặp nhau mãi mãi.

 

          Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

          Thật là phước duyên lớn! Hôm nay chúng con được Thầy chỉ rõ ràng chỗ tu hành, để chúng con ứng dụng tu trở lại nguồn tâm của mình.

          Thật ra trước đây ở đạo tràng, chúng con cũng đã trao đổi nhưng làm sao sánh kịp được những lời giảng của Thầy. Vì trình độ chúng con chỉ mới xét đến tâm chướng ngại trên con đường tu, chúng con chưa thấy rõ được nguồn gốc tâm của mình. Hôm nay qua bài giảng, chúng con thấy rõ để ứng dụng công phu.

          Kính bạch Thầy! Đây là một phước lớn, quá sức lớn trên con đường trở về nguồn tâm của chúng con. Chúng con xin đầu thành đảnh lễ tam bái cúng dường.

          Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

 

 

Pháp Thoại

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Tin mới

Đọc nhiều

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 14099
  • Online: 17