KINH KIM CANG GIẢNG LỤC (PHẦN 01): GIẢI ĐỀ KINH, GIẢI VỀ NGƯỜI DỊCH, NGUỒN GỐC PHÁP HỘI

0
37

Hôm nay chúng ta học qua bộ kinh Kim Cang Bát nhã Ba La Mật, đây là bộ kinh có tinh thần phá chấp rất cao, rất mạnh, cho nên bộ kinh này rất hợp với nhà Thiền; do vậy từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền pháp cho Tổ Huệ Khả và truyền cho Bốn quyển kinh Lăng già, ngài dạy sau này nương đó để truyền pháp, nhưng đến Ngũ Tổ thì lại truyền dạy Kinh Kim Cang Bát nhã này. Bởi vậy từ kinh Kinh Kim Cang Bát nhã thì Lục Tổ nghe và được tỏ ngộ. Sau này ở Việt Nam vua Trần Thái Tông cũng đọc Kim Cang, rồi ngài cũng được tỏ ngộ. Vì vậy bộ kinh này quý vị nghe kỹ, đọc kỹ sẽ thấy được tinh thần nhà thiền sáng tỏ thêm. Ở đây trước khi vào phần chánh văn, cũng nói sơ lược bộ kinh này cho quý vị hiểu rõ. Nguyên bản bộ Kinh Kim Cang này bằng chữ Phạn, khi truyền qua Trung Quốc các vị dịch ra tiếng Trung Quốc, trong đó có tất cả 6 bản dịch:

– Bản thứ nhất: – Đời Dao Tần có Ngài Cưu Ma La Thập, dịch tại chùa Thảo Đường Trường An vào niên hiệu Hoằng Thủy thứ tư, khoảng năm 401, đây là bản thông dụng thường dùng, chúng ta đang học bản này.

– Bản thứ hai: – Vào đời Ngụy, Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào khoảng 508 và đề tên là Kim Cang Bát nhã Ba La Mật.

– Bản thứ ba: – Vào đời Trần, có ngài Chân Đế dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6.

– Bản thứ tư: – Vào đời Tùy, có Ngài Đạt Ma Cấp Đa, dịch vào đầu thế kỷ thứ 7.

– Bản thứ 5: – Vào đời Đường, Ngài Huyền Trang dịch, nhưng ngài không dịch riêng mà dịch chung trong bộ Đại Bát nhã, mà bộ Đại Bát nhã gồm 600 quyển, trong 600 quyển đó có chia ra làm 16 hội, bộ kinh Kim Cang nằm trong hội thứ 9, quyển 577 chữ Hán.

– Bản thứ 6: – Vào đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh dịch vào khoảng thế kỷ thứ 8, nhưng ngài Nghĩa Tịnh lại đề tên là Phật Thuyết Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Từ tiếng Phạn dịch ra tiếng Trung Quốc có 6 bản như vậy. Về sau, từ các bản dịch này thì các vị mới sớ giải, chú thích, giảng giải ra rất nhiều. Sang Việt nam cũng có nhiều vị dịch và giảng giải, để thấy tầm quan trọng của bộ kinh này được nhiều người chú ý trong nhà Phật. Học kỹ bộ kinh này, sẽ cởi mở được nhiều tình chấp cho mình mà trí Bát nhã cũng sáng lên nữa. Nếu đủ túc duyên thì nghe được bộ kinh Kim Cang này, có khi cũng sáng tỏ như vua Trần Thái Tông thì hay thêm. Đó là nói qua bộ kinh.

GIẢI ĐỀ KINH

Trước khi vào kinh, giải về tên kinh trước. Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Ba La Mật Đa, Kim Cang Bát nhã Ba La Mật là tên riêng, còn Kinh là tên chung. Bởi vì tất cả kinh Phật đều có tên chung là “kinh”; song trong cái chung đó, có tên riêng là tên bộ kinh, như ở đây gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, còn những bộ kinh khác như là Pháp Hoa, Duy Ma Cật, đó là những tên riêng. Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La Mật là chỉ cho pháp. Như vậy bộ kinh này dùng hai thứ “dụ-pháp” chung nhau để thành đề kinh, vừa có dụ vừa có pháp. Bởi trong các đề kinh của kinh Phật thì có những kinh dùng dụ, dụ riêng thôi để đặt thành tên kinh; có kinh chỉ dùng pháp để đặt thành tên kinh; có kinh dùng người để đặt thành tên kinh, còn có những bộ kinh dùng cả ba vừa dụ vừa pháp vừa người, có kinh dùng dụ và pháp, có kinh dụ với người, có kinh thì người với pháp, bao nhiêu đề kinh chung lại cũng không ngoài những phần này. Kinh lấy dụ đặt tên là kinh gì? Là kinh Phạm Võng. Phạm là Phạm thiên, Võng là cái lưới, dụ cái lưới trời phạm thiên để chỉ cho kinh này.

Còn kinh lấy người đặt tên là kinh gì? Như kinh Phật thuyết A Di Đà. Lấy pháp đặt tên kinh là kinh Đại Bát Niết bàn, Đại Bát Niết bàn là chỉ cho pháp thôi. Kinh chung cả dụ-người-pháp là kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đại phương Quảng đó là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm là dụ. Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm là đủ vừa người vừa pháp vừa dụ. Kinh dùng người và dụ như kinh Như Lai Sư Tử Hống; Như Lai là người, Sư Tử Hống là dụ. Kinh dùng người và pháp như kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện; Địa Tạng Bồ Tát là người, Bổn Nguyện là pháp, dùng người và pháp làm đề kinh. Kinh dùng pháp và dụ như kinh Pháp Hoa, nói đủ là Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là Pháp, Liên Hoa là dụ; cũng như kinh Kim Cang này, Kim Cang là dụ, Bát nhã Ba La là pháp, vậy kinh này là vừa dùng dụ vừa dùng pháp để làm đề kinh.

Tại sao kinh này lại lấy Kim Cang làm ví dụ?

Bởi vì theo cái hiểu của người xưa thì, Kim Cang có tính chất cứng chắc, bén, sáng; sáng, bén, cứng chắc dụ cho trí Bát nhã cứng, bền, chắc, dù cho ở trong chúng sanh, ở trong vô minh nhưng Bát nhã vẫn không mất, không có biến đổi; khi mình tu hành công phu tương ứng liền phát minh ra, trí Bát nhã vẫn sẵn đó chứ không biến đổi đi đâu hết; và chính trí Bát nhã đó, có công năng phá vỡ các tình chấp của mình, soi sáng tất cả vô minh. Bởi tình chấp của chúng ta, nó chắc, nó cứng, khó phá, thành ra những trí thường khó phá nổi, phải dùng trí Kim Cang mới phá nổi; cũng như những món đồ cứng chắc thì những vật thường không phá nổi, phải dùng Kim Cang mới phá nổi. Kim Cang này, như trong các kinh thường nói đến Kim Cang Lực sĩ, các vị hộ pháp hay cầm Kim Cang bảo sử, tức là cái chày báu bằng Kim Cang, nếu không khéo thì các ngài dùng cái chày đó đập là nát hết. Ở đây cũng vậy, phải dùng trí Kim Cang Bát nhã thì mới phá hết tình chấp của chúng sanh, chứ còn trí thường thường khó phá nổi. Tình chấp là gì? Tức là những tình chấp ngã, chấp pháp. Vì cái chấp ngã, chấp pháp đó, mà mình mê lầm luân hồi trong dòng sanh tử này không dừng được; nếu không có trí Bát nhã thì khó phá nổi. Vậy tình chấp ngã là cái gì? Chấp ngã, là chấp trong thân 5 uẩn của ta, có một cái ngã, có một linh hồn trường tồn bất biến mãi mãi để hưởng thọ những cái khổ, những cái vui ở trên thế gian này. Bởi vậy bao nhiêu việc làm, bao nhiêu hành động, tạo tác bao nhiêu thứ nghiệp lành, nghiệp dữ ở trên thế gian này, cũng vì cái ngã này, dồn vào cái ngã này chứ không có gì khác; nếu không có nó thì mình cũng không tạo nghiệp này, nghiệp kia làm chi. Tạo thành nghiệp này, nghiệp kia là vì nó, thí dụ như siêng năng học hành để tạo thành danh tiếng tốt, địa vị cao trong xã hội, là để làm gì? Là để cho cái ngã này nó hưởng, rồi mưu mô tính toán bao nhiêu thứ lấy cái lợi về cho nó, giành giựt đâm chém giết hại cũng vì cái ngã đó. Nói chung bao nhiêu thứ tạo nghiệp cũng vì cái ngã này chứ không gì khác. Sau khi sắp bỏ thân này thì tìm thân khác để cho nó có chỗ nương, sợ nó không có chỗ nương! Nhưng bây giờ hỏi lại, xét cho thật kỹ thì cái ngã đó là gì? Chỉ không ra nổi! Chỉ cái thân là cái ngã cũng không được; còn tâm thì, tâm cũng sanh diệt, thành ra cái ngã mà mình chấp, nghĩ rằng có nó để làm chủ thể trong tất cả mọi việc làm, mọi sự sống của mình, đó chỉ là khái niệm. Khái niệm tưởng tượng có một cái đó để cho mình chấp, mình sống; nếu dùng trí quán cho kỹ thì nó không có thật, không là gì hết. Cho nên nhờ trí Bát nhã mình mới thấy suốt được những tình chấp đó.

Còn chấp pháp là cái gì? Thường gọi hàng nhị thừa thì phá được cái chấp ngã của 5 uẩn này, không thấy 5 uẩn này có cái ngã thật; nhưng lại còn thấy có pháp 5 uẩn là thật, tức là 5 ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức không có cái ngã thật rồi, song lại thấy năm ấm là có thật. Nghĩa là không có cái ngã thật trong thân 5 ấm mà có pháp sanh tử là thật; không có cái ta thật, nhưng có sanh tử thật; bởi vậy mới sợ sanh tử, mới chán sanh tử mà cầu Niết bàn. Như vậy, thấy có pháp sanh tử thật đáng sợ để cầu Niết bàn thì sao? Tức bị nó trói, bị pháp sanh tử trói. Thấy nó thật tức nhiên bị nó trói. Không nghi ngờ. Vướng mắc như vậy, rồi càng cố bỏ chừng nào thì càng bị nó kéo chừng ấy; vì còn bị dính vào nó nên có cầu Niết bàn, bỏ cái này cầu cái kia cũng còn nằm trong lấy bỏ, thì cũng thuộc về trí sanh tử, còn có sanh diệt. Do đó phải nhờ có trí Kim Cang Bát nhã này, mới có thể phá được hai tình chấp: – chấp ngã và chấp pháp. Bởi nếu trừ chấp ngã mà còn chấp pháp thật thì tất nhiên mình thấy ngoài tâm có cái pháp thật rồi, ngoài tâm có pháp thật thì bị nó che mờ tánh của mình, bản tâm của mình; cho nên không thấy được Phật tánh, không thấy được bản tâm.

Như vậy ở đây nói, dùng trí Kim Cang dụ cho Bát nhã phải cứng, chắc, bền, sáng để soi phá tình chấp đó, nó mới sạch hết. Đó là nói về Kim Cang. Còn Bát nhã, dịch là trí tuệ, nhưng các Ngài từ xưa không dịch ra suông là trí tuệ, mà các Ngài thường nói là trí tuệ Bát nhã, hoặc là trí Bát nhã, như vậy là sao? Bát nhã dịch là trí tuệ suông thì chưa đủ ý nghĩa, mà các Ngài thường nói chung là trí tuệ Bát nhã hoặc là trí Bát nhã, để người đời không có lầm; vì ở thế gian thì những người thông minh, sáng suốt cũng gọi là trí tuệ, họ cũng chấp là có trí tuệ, nếu mình dịch trí Bát nhã ra là trí tuệ thì người ta lại nghĩ rằng, trí tuệ này người thế gian cũng có, vậy cần học Phật pháp làm gì? Thành ra họ lầm trí Bát nhã với trí tuệ của thế gian; vì vậy các Ngài không dịch suông là trí tuệ, mà nói đủ là trí tuệ Bát nhã. Vậy trí tuệ này là ở đâu? Trí tuệ thế gian, thường mình nói nó ở trong đầu mình, ai có đầu óc thông minh là có trí tuệ, và như vậy trí tuệ thế gian là do học hỏi huân tập mà có, đó là trí sanh diệt; mà có sanh có diệt là trí tuệ vô thường, không có bền bĩ. Trái lại trí Bát nhã này là ở ngay nơi tự tánh sáng suốt của mình, bởi vậy ai ai cũng đều có đủ hết không phải do mình học mới có, hoặc do ai ban cho mình mới được, cũng không phải do ngồi mà sanh. Có vị nói ngồi thiền để mở sáng trí tuệ, khiến có người ngồi tưởng tượng ra Phật hoặc Thánh xuống ban cho mình trí sáng suốt, đó là tưởng tượng không phải. Cho nên ngồi thiền mà tưởng có điện truyền xuống thì đó là nguy rồi, đó không phải là trí Bát nhã thật đâu; mà cái này chính ngay nơi tự tánh mình phải tự ngộ, tự thầm mình nhận thôi, chứ không phải ai ban cho được. Như vậy bao nhiêu cái học hỏi bên ngoài đối với trí Bát nhã này cũng không có dính gì hết, những cái đó thuộc về kiến thức, kiến giải vay mượn, đối với Bát nhã chưa dính. Cho nên Ngài Hoàng Bá nói: “– Bát nhã là Huệ, huệ này là bổn tâm vô tướng”, tức là cái tâm sẵn có nơi mình, không hình không tướng; bởi vậy mình không thể thấy được mà không phải không thấy được, không phải không có gì hết; vì có ngay nơi bản tâm mình nên khéo tu thì sẽ thầm nhận nơi mình nó có đủ, chứ không thể cầu để thấy được nó, nếu mà cầu thấy được nó là thấy được cái gì đó chứ không phải là Bát nhã rồi. Vì vậy ngồi thiền thấy ánh sáng này, ánh sáng kia là nguy, tưởng đâu đó là trí tuệ thì lầm to!

Quý vị đọc kinh Pháp Bảo Đàn thì thấy Lục Tổ vừa là anh chàng tiều phu quê mùa, vừa là dốt chữ; vừa quê vừa dốt chữ chưa từng học kinh Kim Cang, nhưng khi đi bán củi thoạt nghe người tụng kinh Kim Cang liền tỉnh ngộ, vậy cái đó ai dạy Ngài? Quê dốt chưa từng học kinh Kim Cang lần nào, chưa từng biết nửa chữ mà vừa nghe liền tỉnh ngộ, như vậy cái đó là cái sẵn nơi mình cho nên khi nó gợi lại đúng lúc liền sáng ra. Do đó không phải học hỏi nhiều mà được, thông minh lanh lợi mà được, chưa chắc, nhiều khi thông minh lanh lợi dễ thành chướng nữa. Bởi khi thông minh lanh lợi thì chấp rằng ta thông minh lanh lợi, bám vào thông minh lanh lợi đó thì tăng thêm chấp ngã, càng che khuất Bát nhã thêm, trái lại phải khéo soi lại nơi tự tâm của mình mới là người thông đạt, còn hướng ra ngoài để tìm học thì có lúc càng học càng xa.

Trong nhà thiền, Ngài Đức Sơn Tuyên Giám trước khi làm vị tổ, Ngài là một vị giảng sư kinh Kim Cang rất giỏi, cho nên thường được gọi là Chu Kim Cang; tức Ngài họ Chu, người ta tôn xưng Ngài, vì Ngài giảng kinh Kim Cang giỏi nên gọi như thế. Ngài nghe ở miền Nam thiền tông hưng thạnh, mà thiền tông lại chỉ dạy là “Kiến tánh thành Phật”; Ngài tức mình, học theo kinh giáo thì tu hành thành Phật phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp, tạo bao nhiêu công đức mới được thành Phật, còn trong nhà thiền nói tức tâm, tức Phật nghe không chịu nỗi, ngài cho là bọn ma, nên mới quảy bộ sớ sao kinh Kim Cang đi về phương Nam, quyết vào tận hang ổ của bọn ma, phá dẹp bọn ma đó!

Giữa đường, gặp bà già bán bánh, Ngài định hỏi mua bánh điểm tâm, bà thử lại, bà hỏi:

– Ngài quảy cái gì ở trên vai đó?

Ngài nói:

– Đây là bộ Thanh Long sớ sao, tức là bộ sớ giải về kinh Kim Cang, thì bà già này nói:

– À! Vậy thì tôi xin hỏi thầy một câu, nếu thầy đáp được thì tôi xin cúng dường bánh luôn khỏi lấy tiền, nếu thầy đáp không được thì xin mời thầy đi nơi khác.

Bà dùng câu trong kinh Kim Cang để hỏi, trong kinh Kim Cang nói là:

– Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Tức là tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được, như vậy thì thầy điểm tâm là điểm tâm nào?

Ngài trả lời không được. Đã từng giảng kinh Kim Cang mà bị một bà già bán bánh hỏi trả lời không được thì sao đây? Vậy quý vị thấy, trí Bát nhã nằm ở chỗ nào? Để thấy rằng, học hiểu không phải là Bát nhã thật, nếu ngài khéo ngay khi bà già hỏi như vậy đó thì tâm quá khứ qua rồi, vị lai chưa đến, tâm hiện tại luôn luôn không dừng, tức ba tâm đều là tâm hư vọng, không có thực, như vậy ngay nơi “niệm hiện tiền” nhận ra thì quá hay, quá khéo. Nhưng Ngài nghe hỏi như vậy, Ngài cũng theo câu hỏi đó suy nghĩ về tâm quá khứ, hiện tại và vị lai, đó là chạy theo câu hỏi mà quên mất niệm hiện tiền sáng tỏ ngay đây, do đó đáp không trôi; chứ nếu khéo thì Bát nhã ngay nơi mình sáng tỏ rồi, đâu phải nhọc nhằn quảy gói lên ngài  Sùng Tín. Vì vậy lên tới Long Đàm Sùng Tín, rồi theo hầu ngài, một đêm hầu quá khuya, ngài Sùng Tín bảo:

– Thôi tối rồi, ông xuống đi!

Sư bước ra ngoài, rồi bước vào thưa:

– Bên ngoài trời tối đen.

Tối đen cũng có hai nghĩa; tối khuya thì ra ngoài tối là một nghĩa, mà “cái tối đó” là con cũng còn đang tối đen nữa. Ngài Sùng Tín nói:

– Tối thì ta đưa đèn cho!

Ngài mới đốt cây đèn giấy đưa cho, Đức Sơn mới vừa đưa tay tiếp thì Sùng Tín thổi tắt cái phụt, ngay đó Sư liền sáng tỏ, chính đó mới là Bát nhã hiện. Như vậy Bát nhã đó, là ngay nơi mình chứ không từ nơi ngoài, ông thầy cũng chỉ là phương tiện thôi. Cho nên đưa đèn thì liền tiếp, vừa tiếp thì thổi liền, để thấy Bát nhã tự ngay nơi mình sáng lên đó mới là thật. Vậy Bát nhã đó có hình tượng gì? Không có hình tượng gì cho thấy hết, vì vậy trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy: “- Bát nhã thì không hình không tướng, tức là tâm trí tuệ, nếu khởi hiểu như thế đó là trí Bát nhã”, còn tìm về bên ngoài là thuộc về trí sanh diệt của thế gian. Đây dẫn qua câu chuyện của nhà thiền để quý vị thấm sâu hơn, nếu hiểu ngay thì càng tốt, còn nghiệm kỹ thì càng sâu.

Có một vị tăng đến hỏi ngài Tào Sơn :

– Thế nào là cây kiếm không mũi?

Thường thường kiếm thì có cán, có mũi nhưng ông tăng này lại cắc cớ hỏi thế nào là cây kiếm không mũi.

Ngài Tào Sơn đáp ngay :

– Chẳng do rèn luyện mà thành.

Cây kiếm này chẳng do nung nấu, tôi luyện mà thành được, vậy quý vị thấy cây kiếm đó chưa? cây kiếm đó không phải bằng sắt, bằng thép, bỏ vào lò tôi luyện, mà chính là cây kiếm “không hình không tướng” Lục Tổ muốn nói ở trên. Cây kiếm đó không cán, không mũi; còn cây kiếm có cán, có mũi thuộc về hình tướng, có lúc phải hoại; trái lại cây kiếm này không có hình tướng nên không do tạo tác mà thành, có tạo tác thì mới có sanh diệt, cây kiếm này không do tạo tác thì sanh diệt bám vào đâu.

Vị tăng hỏi:

– Tác dụng của nó như thế nào?

Ngài Tào Sơn liền đáp :

– Người gặp liền chết.

Quý vị thấy chỗ đó chưa? Cây kiếm này bất cứ cái gì gặp nó phải tan hết! Bát nhã thì đâu có cái gì đối địch được, phải không? Nó phá sạch hết, nhưng mà ông tăng này hỏi lại:

– Người gặp đều chết, người chẳng gặp thì sao?

Ngài đáp:

– Cũng rơi đầu luôn.

Chỗ này mới khó hiểu, gặp thì chết phải rồi, không gặp làm sao rơi đầu. Không gặp thì rơi chỗ nào? Bởi vì gặp và không gặp là hai bên đối đãi, mà cây kiếm này nó không nương cho niệm phân biệt đối đãi, có niệm phân biệt đối đãi là đối với Bát nhã này không có chỗ đứng. Vì vậy Bát nhã này phá sạnh hết những niệm phân biệt đối đãi nên người gặp cũng chết, không gặp cũng chết, phá sạch hết.

Nhưng ông tăng lại hỏi:

– Người gặp chết là cố nhiên rồi, người chẳng gặp làm sao cũng rơi đầu?

Tào Sơn bảo:

– Ông chẳng thấy nói “hay sạch tất cả” sao?

Tức là cây kiếm này nó hay quét sạch tất cả dù gặp hay chẳng gặp, có đối đãi đều dứt hết, nhưng tới chỗ đó phải là chỗ rốt ráo chưa?

Ông tăng hỏi thêm:

– Sau khi sạch hết thì thế nào?

Tào Sơn đáp:

– Mới biết có cây kiếm này.

Đó là câu đáp rất hay, nhiều khi mình cũng dễ bị lầm lẫn, tu phá hết tình chấp, không có chấp ngã chấp pháp, cái gì cũng sạch hết thì thành ra không ngơ sao? Thành ra không biết sao? Cho nên ở đây khi sạch hết tất cả tình chấp, những niệm phân biệt thì, Bát nhã hiện tiền chứ không phải đến đó rồi không còn gì hết, không biết gì hết; mà Bát nhã hiện diện thì sẽ thấy khắp tất cả, biết rõ tất cả, không có thiếu sót cái gì. Vì vậy học Bát nhã, mình khéo học như vậy, mới tin chắc nơi mình đầy đủ “trí sáng suốt rõ biết hằng hữu” không bao giờ mất. Lâu nay có những vị nói rằng: mình tu hoặc học tụng kinh Pháp Hoa thì nó mới mát mẻ, nhà cửa tươi sáng, còn tụng học kinh Kim Cang thì nhà cửa cây cối nóng nảy, khô héo. Nếu như vậy thì học Bát nhã có hại chứ không có lợi, vì nhà cửa nóng nảy, cây cối khô héo hết, đó là hiểu lầm quá lớn! Kinh là lời Phật dạy để cho mình mở sáng trí tuệ, nhưng có những vị sợ Bát nhã nên nghe nói học kinh Kim Cang Bát nhã liền ngăn, bảo học Bát nhã dễ chấp “không” lắm! Nhưng Bát nhã dạy mình chấp không, thì có phải là Bát nhã chưa? Nếu Phật nói kinh Bát nhã khiến cho mình chấp không thì đâu thành kinh Bát nhã! Bát nhã là phá chấp, cho nên như ở trên đã nói “người gặp cũng chết, người không gặp cũng chết”,là sạch hết tất cả tình chấp chứ đâu gọi là chấp không, mà chấp không thì đâu có thể gọi là Bát nhã được. Chỉ do mình hiểu lầm, hiểu sai lệch về Bát nhã, mình mới chấp không, mà chấp không là trái với Bát nhã chứ đâu phải là học Bát nhã. Đó là những cái hiểu lầm, nếu mình không có nghiên cứu kỹ, không tìm hiểu kỹ thì cũng dễ bị nó lung lay, nghe nói rồi không dám tụng Kim Cang Bát nhã, không dám học Bát nhã. Nếu hiểu kỹ, chính học xong Kim Cang Bát nhã thì trí tuệ mình càng tỏ sáng và mới dễ huân tập thêm chủng tử giác ngộ nơi mình. Phải rõ kinh Kim Cang Bát nhã là phá hết những tình chấp có và chấp không, nhớ kỹ như vậy!

Thông thường Bát nhã có chia ra ba thứ: – Văn tự Bát nhã – Quán chiếu Bát nhã – Thật tướng Bát nhã. Ở đây mình học, nghe giảng rồi đọc trong kinh đó là văn tự Bát nhã. Nhờ nghe đọc, rồi soi sáng lại mình để sống với lý thật, đó là Quán chiếu Bát nhã, chứ nếu chỉ nghe suông, đọc suông thì chưa quán chiếu, chưa sáng được. Ví dụ như ở trong kinh Bát nhã mình sẽ học tới phần có nói về bố thí  mà không trụ tướng, tức không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, buông xả hết không dính vào sáu trần, nếu chỉ học nghe thôi thì Bát nhã chưa sáng. Phải nghe, rồi ứng dụng thường soi sáng lại mình, để đối với các trần mình bớt các niệm dính mắc, bớt các niệm chấp trước đó mới gọi là sức quán chiếu Bát nhã. Khi sức quán chiếu thuần thục, đầy đủ thì chân thật bất sanh bất diệt hiện tiền, chứng ngộ rõ ràng, đó là thật tướng Bát nhã, đến đây mới thật đầy đủ; nếu mà mình chỉ nghiêng về một bên thì chưa thấy tột Bát nhã. Cho nên có thí dụ: cũng như mình đi qua sông thì bước xuống thuyền, nhưng xuống thuyền mà chưa qua bờ kia được, phải chèo, chèo rồi qua bờ bên kia; song cứ đứng đó hoài thì cũng không đi đâu được, cũng mắc kẹt tại đó, chưa có tự tại; phải bước lên bờ bỏ thuyền đó- chứ lên bờ vác thuyền theo thì mệt nữa, cần bước lên bờ bỏ thuyền, mới đi tự do tự tại được. Cũng vậy văn tự Bát nhã giống như bước xuống thuyền, xuống thuyền mà đứng hoài thì cũng không đi tới đâu hết, phải dùng quán chiếu Bát nhã là bơi thuyền, mới qua được bờ bên kia. Nhưng qua bờ bên kia rồi mà đứng đó hoài cũng mắc kẹt, tức là mình quán chiếu mà cứ mắc kẹt trong đó hoài ắt không có sống thực được chân thể bất sanh bất diệt nơi mình. Nếu quán chiếu hoài thì mắc kẹt trong đối tượng quán chiếu thôi; có quán chiếu thì có đối tượng quán chiếu, tức có năng có sở, mà còn mắc kẹt trong năng sở thì chưa tự tại, phải quên năng sở mới sống thể nhập trọn vẹn  trong thể Bát nhã, mới lên bờ đi tự tại. Vậy quý vị thấy học Bát nhã, sống được Bát nhã cũng không dễ, nhưng cũng không khó, quý vị biết sao không khó chăng? Thường người ta nói cái gì khó, là cái gì đó xa xôi ngoài tầm tay với của mình, mình với không tới, cho nên gọi là khó; còn cái này là cái sẵn nơi mình, nơi tự tâm của mình, chứ không phải ở đâu khác hết. Nếu quả ở đâu mà mình với không tới, tìm không ra, và không thể tìm tới được thì mới thật khó, ví dụ mình ở đây mà bắt mình lên trời tìm học Bát nhã thì khó là phải; còn cái này ngay nơi mình, chỉ cần sống trở lại nơi mình thôi là đủ, thì đâu khó, mà khó là tại sao? Tại tập khí mê lầm của mình quen rồi, sống theo cái vọng mãi, khó ở chỗ đó. Bởi quen sống theo cái vọng nên những suy nghĩ phân biệt cũng theo đó khởi hoài, bây giờ ngồi lại bảo nó dừng, nó cũng không dừng; do đó nên phải tu tập nhiều, lâu, công phu mạnh mẽ, vững vàng mới biến khó thành dễ. Bởi vậy các vị tu hành, khi công phu khế hợp, nhận ra Bát nhã rồi, các ngài cười ngất hoặc là khóc ròng, cảm thương cho mình xưa giờ tưởng đâu là khó khăn, ở đâu đâu, như trên trời, trên mây; giờ đây chợt nhận ra, mới hay là mình sống hằng ngày đó mà bỏ quên mất, nên thương xót, tức mình khóc, hoặc là cười ngất, giống như là xưa giờ món đồ bỏ trong túi mà chạy khắp nơi tìm nhọc nhằn kêu trời, kêu khó, chợt nhớ lại móc túi ra, cười ngất! Hiểu như vậy mới thấy Bát nhã chính ngay nơi mình thôi, chỉ khéo soi sáng lại nơi mình, bớt  duyên theo bên ngoài thì có ngày Bát nhã hiện không khó. Đó là nói về Kim Cang Bát nhã.

Ba La Mật, Trung hoa dịch là đáo bĩ ngạn, hoặc cứu cánh. Đáo bĩ ngạn là đến bờ kia, hoặc là rốt ráo viên mãn. Như vậy cái nào là bờ này? cái nào là bờ kia? Thường gọi bờ này là sanh tử, Niết bàn không sanh không tử là bờ kia; nhưng nếu Bát nhã mà còn thấy có bờ này bờ kia thì phải Bát nhã chưa? Vậy tại sao đây lại nói bờ kia? Thực ra chính ngay nơi mình vừa khởi niệm phân biệt chấp trước là bờ này, niệm ngay đây lặng lẽ là bờ kia, bờ này bờ kia ngay nơi tự tâm mình chứ không đâu khác, chẳng qua tạm chia ra hai bờ theo ngôn ngữ thông thường, chứ thật là ngay nơi tâm niệm của mình: dừng được những niệm phân biệt đối đãi lăng xăng đó thì bờ kia, còn nơi đây động niệm phân biệt là bờ này; mà khi động niệm phân biệt thì Bát nhã bị che khuất, có Bát nhã thì phá được niệm phân biệt đối đãi chấp trước, gọi là đến bờ kia. Chính trí tuệ đó mới là trí tuệ đến bờ kia, còn trí tuệ của thế gian là trí tuệ sanh diệt, cũng thuộc về bờ này, chưa gọi là đáo bĩ ngạn được. Để hiểu rõ, trí tuệ này ngay nơi tự tâm của mình nó đầy đủ, chứ không phải nghe nói có bờ này bờ kia, rồi bỏ đây tìm kia. Chính ngay khi mình mê, ở trong thân chúng sanh này, trong vô minh, cũng đầy đủ Bát nhã chứ không phải bỏ đây tìm đâu khác, cũng không phải ngay lúc vô minh đây mà mình thiếu mất. Lục Tổ nói: – Như mặt trời nó thường luôn luôn sáng không bao giờ tối, nhưng khi bị mây che thì thấy tối, song khi tối, mặt trời có mất không? Cái sáng của mặt trời có mất không? Lúc đó chỉ là cái tối ở dưới này thôi, qua luồng mây này cũng vẫn sáng, quý vị có đi trên máy bay thì thấy rõ ràng. Vậy cái tối, là do những niệm lăng xăng của mình nó che, thấy như mình không có Bát nhã, không trí tuệ, tưởng đâu như mình mất không có. Nhưng sự thật, thể Bát nhã vẫn luôn luôn thầm ẩn trong chỗ mình sống hằng ngày không có thiếu, khi phá dẹp được những niệm phân biệt đó, soi sáng tan vô minh thì rõ Bát nhã vẫn đầy đủ không mất, không bao giờ thiếu vắng. Quý vị khéo ứng dụng trong mọi việc làm, mọi hành động mà luôn luôn có Bát nhã soi sáng, tuy chưa thật tướng Bát nhã hiện tiền, nhưng quán chiếu thường xuyên không vắng mặt thì, việc làm nào cũng hợp đạo, không có chỗ nào là không có Bát nhã hiện; như vậy khi công phu của mình thuần thục thì bất cứ nơi nào, chỗ nào cũng là chỗ quý vị có thể tỏ ngộ được hết. Đọc trong Thiền Sử quý vị thấy các vị tu hành sáng đạo, cư sĩ cũng có chứ không phải chỉ riêng người xuất gia. Có ông quan ngồi trong công đường nghe tiếng sấm nổ thì cũng tỏ ngộ được.([1]) Còn các vị thiền sư, thì ngài Trí Nhàn đang làm vườn cuốc hòn sỏi văng trúng vào bụi tre vang ra thành tiếng cũng ngộ được; có vị đang xách nước, thùng nước đứt dây rớt xuống bể cũng ngộ được.([2]) Như vậy đâu đâu, chỗ nào cũng là Bát nhã, nhưng sở dĩ mình chưa ngộ được, là tại vì tâm mình có nhiều thứ lăng xăng quá. Nếu công phu miên mật, lúc nào cũng thường soi sáng thì, bất cứ đâu cũng là chỗ cơ duyên để mình sáng tỏ. Đó là nói về Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Còn kinh là sao? Kinh, tiếng Phạn nói đủ là Tu đa la, tiếng Hán dịch là khế kinh. Khế kinh có nghĩa là vừa khế lý vừa khế cơ. Khế lý, là luôn luôn đúng với lý giác ngộ của chư Phật, tức là dù trải qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu thời gian, vẫn không sai, vẫn đúng với lý của chư Phật, chứ không phải đúng với lúc này mà không đúng với lúc kia, cũng chưa gọi là kinh được. Ví dụ như Bát nhã này, dù là thời đại nào, ở lúc nào cũng vẫn đúng không sai. Thứ hai là khế cơ, là khế hợp căn cơ chúng sanh, tức là mọi người đều có thể theo đó tu hành đạt đến giác ngộ hết, chứ bộ kinh nói ra chỉ để thờ thôi, nghe chơi thì chưa khế cơ, mà ở đây Phật nói ra, là nói cho chúng sanh, nhưng nói ra mình không làm được gì, thì đâu có khế cơ. Nên kinh luôn luôn khế cơ. Kinh Bát nhã này chưa hiểu kỹ thì theo chữ  nghĩa thấy quá xa vời, làm không nỗi, nhưng hiểu cho suốt lý, thì ngay nơi mình thôi ai cũng có thể ngộ được Bát nhã, sáng được Bát nhã, ứng dụng được Bát nhã, chỉ có đủ lòng tin hay không, quyết tâm hay không mà thôi; chứ không phải là dành riêng cho các vị Bồ Tát, còn mình không có phần. Nếu vậy thì kinh này nói cho cõi nào, chứ không phải cõi này. Hiểu đúng như vậy, mới thấy Kim Cang Bát nhã là kinh nói cho mình, ai cũng có phần, không riêng cho ai. Tóm lại, kinh Kim Cang Bát nhã là gì? Là nói về trí tuệ Kim Cang rốt ráo đến bờ kia, nhưng đó là danh tự thôi. Hiểu cho kỹ, cái gì là kinh Kim Cang Bát nhã? Nếu nói kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, là bộ kinh mình tụng hằng ngày, thì đó phải chưa? Bộ kinh này, thời gian cũng cũ, cũng mục, có khi mối ăn, vậy có phải là Kim Cang Bát nhã chưa? Kinh Kim Cang Bát nhã là trí tuệ không hình không tướng, bất sanh bất diệt nơi tâm mình, đó mới là “quyển kinh sống”, còn quyển kinh mình đọc tụng đó chưa phải là kinh sống. Nên trong kinh Kim Cang tán thán là công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu bộ kinh để trên bàn mà nói là không thể nghĩ bàn thì khó hiểu! Cho nên học kinh Kim Cang Bát nhã, là mình sống lại với tự tâm, mở sáng trí tuệ nơi mình, đó mới là khéo học, biết học, còn chỉ học trên chữ nghĩa, hôm nay tụng được mấy bộ, có bao nhiêu chữ trong đó, thì gọi là đếm cát, nhọc nhằn vậy thôi.

Ngày xưa ngài Trần Tôn Túc, tức Thiền sư Đạo Minh đang xem kinh Kim Cang, ông thượng thư Trần Tháo, giống như bộ trưởng bây giờ, ông cũng từng nghiên cứu thiền, đến thăm gặp và hỏi:

– Thưa Hòa Thượng xem kinh gì vậy?

Sư bảo:

– Xem kinh Kim Cang.

Ông Trần Tháo mới hỏi:

– Kinh này là đã có lục triều phiên dịch, đây là triều nào?

Lục triều là sáu triều phiên dịch (trước đã nói). Nếu hỏi mình thì mình sẽ đáp là triều nhà Đường, triều nhà Tần, ngài Trần Tôn Túc chỉ đưa quyển kinh lên, bảo:

– Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn, bào ảnh.

Quý vị thấy có lạc đề không? Hỏi xem kinh gì, đáp kinh Kim Cang; hỏi có sáu triều phiên dịch vậy triều nào… chỉ đưa quyển kinh lên… bởi vì ở đây Sư muốn chỉ quyển kinh sống chứ  không phải quyển kinh bằng giấy, bao nhiêu tờ, bao nhiêu trang đó; quyển kinh này vô thường sanh diệt, nó cũng giống như pháp hữu vi, từng trang, từng tờ giấy, do tạo tác mà thành, có lúc phải hư, phải mục, như mộng huyễn bào ảnh  thôi. Sư muốn đánh thức quyển kinh sống ngay trong tròng mắt của ông, thấy được cái đó mới thấy thật. Khi đưa lên, Sư khai thị quyển kinh sống chính ông đang nhìn đó, ngay trong tròng mắt của ông đó, cái đó phải thấy lại ngay nơi mình, còn cứ bám theo quyển kinh này là quyển kinh chết. Sư không nhọc nhằn giảng nhiều mà đã giảng xong quyển kinh Kim Cang, rất khéo. Quí vị nếu thấy vậy cũng chẳng cần học nhiều. Ngài Thập Đại nói: “- Một quyển kinh này ở trong tự tánh mỗi chúng sanh sẵn có nhưng chẳng tự thấy nên chỉ đọc văn tự, nếu ngộ được tự tâm mới biết kinh này chẳng ở văn tự. Rõ được tự tánh mới tin chư Phật đều từ tâm lưu xuất.” Nói tất cả chư Phật đều từ quyển kinh này lưu xuất, mỗi người đều có quyển kinh Kim Cang Bát nhã hết, làm sao phát minh bộ kinh này, sống với bộ kinh này thì gần chư Phật lắm, có thể đồng nắm tay Chư Tổ cùng đi. Đó là nói về đề kinh Kim Cang Bát nhã. Quý vị mới thấy mình chỉ học đề kinh thôi, mà khéo thì sống cả đời cũng không hết, như vậy cần học hết bộ không? Ở đây, ngay đề kinh thôi nếu mình khéo tin nhận, hiểu sâu thì ứng dụng đủ rồi, nhưng mà có cái tội là mình chưa khéo được vậy, nên phải học nhiều, học kỹ.

GIẢI VỀ NGƯỜI DỊCH

Trước khi vào chánh văn, giải thích qua cho quý vị hiểu về người dịch bộ kinh Kim Cang này, bởi vì bộ kinh Kim Cang Bát Nhã mà chúng ta học ở đây là do ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, nói đủ là đời Dao Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch. Gọi Dao Tần là sao? – Đây là phân biệt đời Tần, nhưng không phải là Tần Thủy Hoàng, mà Dao Tần đây thuộc về Nam Bắc triều, nhằm triều Tấn ở Trung Quốc. Ông vua trước hết của triều này là Phù Kiên, nhân đem quân đánh nhà Đông Tấn bị bại, Phù Kiên trở về bị đại thần là Dao Trành giết chết, lên ngôi xưng là Dao Tần. Tam Tạng Pháp Sư là vị pháp sư thông cả Tam Tạng: – Kinh, Luật, Luận; bởi vì nếu người thông suốt về kinh thì gọi là Pháp sư, thông suốt về luật thì gọi là Luật sư, thông về luận gọi là Luận sư, mà ở đây ngài Cưu Ma La Thập thông suốt cả ba tạng nên gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Còn Cưu Ma La Thập là tên âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đồng Thọ, Đồng là nhỏ, còn Thọ là: Lớn tuổi, là người già. Tại sao gọi là Đồng Thọ? Bởi vì ngài là người nhỏ mà có cái đức của người lớn nên gọi là Đồng Thọ. Cha của ngài là Cưu- ma- la- diêm, người xứ Quy Tư, ông có tiết tháo rất cao đẹp, làm tướng mà bỏ ngôi tướng đi xuất gia, nhưng sau khi xuất gia rồi thì vua Quy Tư nghe tiếng tăm của ông lại thỉnh về làm Quốc Sư. Làm Quốc Sư thời gian vua lại đem người em gái gả cho, sau sinh ra ngài Cưu- ma- la- thập. Ngài tuổi nhỏ mà rất thông minh, mỗi ngày học thuộc cả ngàn bài kệ hơn cả vạn lời, 12 tuổi đã tỏ ngộ. Như vậy mình thấy chân lý không hạn ở tuổi tác, không phân biệt già trẻ. Sau khi sanh ngài ra thì bà mẹ đi xuất gia, rồi ngài Cưu-ma-la-thập cũng được bà mang theo vì còn nhỏ. Có một lần ngài theo mẹ đi tham vấn các vị Thiện tri thức ở tại ngôi chùa rất to, trong điện Phật cao lớn thì bên cạnh tượng Phật to, có để một cái bát rất lớn để cúng cơm, Ngài Cưu-ma-la-thập thấy cái bát, sanh lòng vui mừng, để tỏ lòng cung kính, ngài chạy lại ôm cái bát để lên đầu, nhưng khi ôm để lên đầu rồi thì ngài chợt động niệm, nghĩ rằng: “-Ủa! Cái bát to như thế mà làm sao ta đội được?” Tức là cái bát thì to mà ngài lại nhỏ, ngài mới động niệm cái bát to như thế thì làm sao ta đội được, nhưng khi vừa nghĩ như vậy liền cảm giác cái bát nặng đè ngài té ngã luôn. Mọi người và mẹ ngài từ trong điện Phật hoảng hồn chạy tới đỡ ngài dậy, bà hỏi: “- Con làm sao vậy?” Bà cũng không biết trường hợp ra sao, thì ngài nói rằng: “- Con sáng tỏ được đạo lý rồi!” Bà không biết nguyên do vì đâu nên bà bảo: “- Con thuật lại cho mẹ nghe, con nói gì kỳ vậy?” Ngài thuật lại là: “- Thấy cái bát to, để tỏ lòng cung kính nên con đội lên đầu, khi con đội lên, con tưởng nặng thì cái bát liền đè con té ngã luôn, do đó có thể biết nặng hay nhẹ là hoàn toàn do tâm phân biệt của chính mình, đây gọi là tất cả pháp duy tâm.” Ngài còn nhỏ như vậy mà đã tỏ ngộ, cho nên bà mẹ rất vui mừng, bà bảo: “- Thật là không ngờ, đây là đạo lý rất cao sâu của Phật pháp mà nay con đã tỏ ngộ thì con tuy còn nhỏ nhưng có thể đi hoằng dương Phật pháp được rồi đó!” Từ đó ngài bắt đầu đi giảng thuyết mấy xứ ở Tây vực, Tây Vực là mấy xứ ở gần Ấn Độ. Cho nên người ta mới tôn đức của ngài là Đồng Thọ, bởi vì còn bé mà có cái đức lớn của người già. Qua niên hiệu Kiến Nguyên thứ 15 khoảng 379, ở Trung Quốc có các vị Sa môn đi du học qua bên đó như ngài Tăng Thuần, ngài Đàm Xuân… nghe người ta ca ngợi ngài, nên khi trở về Trung Quốc cũng ca ngợi ngài, trong đó ngài Đạo An nghe được tin đó, mới khuyên ông Phù Kiên nên mời Ngài sang Trung Quốc. Qua năm Kiến Nguyên thứ 18 tức khoảng 382, Phù Kiên sai vị đại tướng tên Lã Quang đem 7 vạn quân đánh Quy Tư, nhưng ông dặn đây là đánh để thỉnh ngài Cưu ma la thập thôi, chứ không phải gì khác. Khi đó ngài Cưu ma la thập khuyên ông vua bên kia tức vua Bạch Thuần Vương nên thuận theo điều kiện của Lã Quang để tránhh đổ máu cho nhân dân. Nhưng ông Bạch Thuần Vương không chịu nghe, đem binh chống lại, rồi bị bại, Lã Quang bắt được ngài Cưu ma la thập, song không đưa về nước Tần mà giữ lại ở Cô Tân; bởi vì lúc đó Phù Kiên bị Dao Trành giết rồi, Lã Quang tự lập thành một nước là nước Hậu Lương, rồi tự xưng đế, và ông giữ luôn Ngài Cưu ma la thập. Nhưng ông này không có hâm mộ Phật pháp, nên ông giữ vậy mà ông cũng không tôn trọng gì. Qua năm Hoằng Thủy thứ 3 (401) thì Dao Hưng, con Dao Trành đem quân đánh Hậu Lương, Lã Quang đã chết, con là Lã Long lên ngôi bị thua, đầu hàng, ngài Cưu ma la thập mới được đưa vào Trung Quốc, lúc đó ngài khoảng 58 tuổi. Dao Hưng lại rất mộ Phật pháp, nên ông lễ ngài Cưu ma la Thập theo lễ Quốc Sư, rất kính trọng, cho ở tại vườn Tiêu Dao để dịch kinh giảng pháp. Một hôm Dao Hưng mới dò hỏi: – Pháp sư tài cao học rộng không có ai bằng như vậy, chỉ tiếc là 60 năm qua chưa có con nối dõi, lẽ nào để giống tốt như vậy mà mất đi sao?

Như vậy cho thấy ông rất kính mộ Phật pháp, mà cũng còn nghĩ theo tình đời, ông nói thêm:- Tôi có hàng trăm cung phi muốn biếu cho thầy 10 vị, như vậy có thể sinh được mấy người con trai để kế tục tài trí của thầy, không biết ý thầy thế nào? Rồi ông ép ngài nhận, ngài cũng tự bảo:

– Thường mỗi khi ta giảng thuyết thì có hai đứa bé nó leo lên hai vai ngăn cản. Hai đức bé là chỉ cho Lã Quang và Dao Hưng. Từ đó ngài chẳng ở trong tăng phòng mà lập phòng xá ở riêng. Có một số vị tăng cũng, muốn bắt chước, chứa mấy người nữ hầu; ngài Cưu ma la thập thấy vậy xót xa cho Phật pháp, bởi vì họ đâu hiểu trường hợp của ngài, cho nên ngài Cưu ma la thập triệu tập hết lại, ngài hai tay bưng hai cái bát đựng đầy những cây kim trong đó và bảo: “- Nếu các vị ở trong đây, ai có thể nuốt hết bát kim này thì mới bắt chước tôi”. Nói xong ngài đem bát kim nuốt vô bụng hết, mấy người kia thấy hoảng hồn từ đó không dám bắt chước theo. Như vậy để quý vị thấy, nhiều khi thấy người khác làm như vậy, rồi mình cũng bắt chước, nhưng trường hợp mỗi người khác. Ngài cũng đã từng bảo:“- Ví như ở trong bùn nhơ mà sanh hoa sen, thì chỉ nên lấy hoa chớ lấy bùn nhơ”. Nghĩa là mình hiểu Phật pháp thì mình suy ngẫm để rút những tinh hoa Phật pháp chứ đừng có nhìn hình thức đó, bởi vì các vị có khi vì một duyên đặc biệt của các ngài, mà các Ngài làm khác thường. Ngài Cưu ma la thập ở đây dịch kinh luận ghi lại được khoảng hơn 300 quyển, những người theo học với ngài có 8 vị nổi bật như ngài: – Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo Dung, Tăng Duệ..v.v.. Khi ngài Cưu ma la thập mất, ngài nhóm chúng nói: “- Những kinh luật tôi đã dịch từ trước đến nay thì chỉ có bộ Thập Tụng Luận là chưa kịp chỉnh lại cho đàng hoàng, nếu khế hợp với tâm Phật thì khi thiêu, nguyện cho cái lưỡi không cháy tiêu”. Quả vậy khi trà tỳ thì cái lưỡi còn nguyên không hoại. Sau này người ta rất tin tưởng bản dịch của ngài Cưu- ma- la- thập, thường trong những bản dịch kinh, bản dịch của ngài Cưu- ma- la- thập được các vị từ xưa đến nay lấy làm định bản, tức là bản mẫu, bởi vì kinh ngài dịch ý sáng suả, lời văn trôi chảy nên tụng dễ dàng. Như vậy Ngài Cưu-ma-la-thập là người dịch kinh nổi bật nhất trong những vị dịch kinh, ngài có những diểm đặc biệt, còn nhỏ mà đã sáng tỏ được đạo lý, đó cũng là điểm cho mình tin tưởng chân lý là của mọi người và không có hạn cuộc nơi tuổi tác, do đó cho nên mình không có so theo tuổi tác để phê bình hay phân biệt, thấy người nhỏ tuổi cũng không dám chê, biết đâu túc duyên của người ta trong đó, như có những vị tu hành đã lâu ở trong đạo nhưng cũng chưa sáng tỏ được đạo lý, trong khi những vị mới vào đạo chưa lâu mà họ đã sáng tỏ. Đây là nói qua người dịch. Bây giờ bắt đầu vào văn kinh.

Ở đây chúng ta học kinh Kim cang Bát nhã cũng nói sơ cho quý vị hiểu: – KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT là bộ kinh có duyên rất lớn với cõi này, cả Trung Quốc và Việt Nam rất nhiều người chú ý, những người dịch cũng nhiều, chú giải cũng nhiều, mình học kinh Kim cang Bát nhã qua cái nhìn của nhà Thiền. Bởi vì kinh Kim Cang Bát Nhã có rất nhiều người giảng, tùy theo trình độ kiến thức, kiến giải của mỗi vị, nhưng ở đây nhấn mạnh qua cái nhìn của nhà thiền, nói để quý vị hiểu kỹ thì khi nghe những vị khác giảng có những điều không giống cũng không lấy làm lạ. Vào văn kinh:

CHÁNH VĂN:

1. NGUỒN GỐC PHÁP HỘI

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ, cùng chúng Đại Tỳ Kheo 1250 người chung hội.

Bấy giờ Thế Tôn đến giờ ăn, Ngài đấp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực rồi, trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi.

GIẢNG:

Ở đây tại sao gọi là phần 1? Kinh Phật thì có chia ra 3 phần: – Tựa, chánh tông và lưu thông, thường kinh Phật chia như vậy, nhưng ở đây chia 32 phần, phần một là nguồn gốc của pháp hội, trong phần này gồm phần tựa ở trong đó. Kinh Phật vốn xuyên suốt từ  đầu đến cuối nhưng ở đây các ngài chia ra để người học dễ nhận, song chia làm 3 phần: Tựa – Chánh tông – Lưu thông là từ đâu mà có? Từ pháp sư Đạo An, ngài phát minh ra. Ngài Đạo An là người đốc Phù Kiên thỉnh ngài Cưu-ma-la-thập. Đặc biệt, kinh Kim Cang chia ra làm 32 phần như vậy, là do thái tử Chiêu Minh, một vị thái tử tại gia nhưng có tâm bồ tát và cũng có nhiều điểm khác thường. Ông sanh năm 499, mất 529, mất sớm, tên là Thống – tự Đức Thi. Khi sanh ra 3 tuổi đã hiểu được Hiếu kinh và Luận ngữ, 5 tuổi đọc khắp được cả ngũ kinh. Khoảng đầu niên hiệu Thiên Giám của vua Lương khoảng 502, ông được lập làm hoàng thái tử. Ông rất tin sâu Phật pháp, đã thọ giới bồ tát, vâng giữ rất là nghiêm cẩn. Ông cũng xem khắp kinh điển và hiểu sâu xa về giáo lý. Ở trong cung của ông, ông lập riêng một điện là điện Tuệ Nghĩa, thường mời các bậc cao tăng đến giảng luận; làm thái tử trong cung mà có tâm hâm mộ Phật pháp như vậy. Có nhiều chuyện lạ, là vào đầu tháng tư năm đầu của niên hiệu Phổ Thông khoảng 520 trong điện Tuệ Nghĩa này có mưa cam lộ. Ông từng soạn giải nhiều sách về Phật pháp và là người hiếu kính, nhân từ. Làm thái tử hơn 20 năm nhưng ông chẳng chứa những cô gái hầu như  những vị thái tử khác, sống rất đạm bạc. Khoảng tháng 4 năm Đại Thông thứ ba ông bị bịnh mất, mới 31 tuổi, khắp nơi mọi người đều thương tiếc. Ông phân kinh Kim Cang này làm 32 phần mà từ trước đến nay các vị giảng sư  cũng theo đó giảng không thấy ai chê trách.

Phần đầu là nguồn gốc pháp hội: Có hai phần: – Tựa chung và tựa riêng, gọi là thông tự và biệt tự . Tựa chung là:

CHÁNH VĂN:

– Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ, cùng chúng Đại Tỳ Kheo 1250 người chung hội.

Là phần tựa chung. Phần kế là phần tựa riêng cũng gọi là phần phát khởi tự:

CHÁNH VĂN:

– Bấy giờ Thế Tôn đến giờ ăn, Ngài đấp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực rồi, trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi.

GIẢNG:

Kinh Phật phần tựa chung, là chung hết cho các kinh, thường có đủ phần tựa giống nhau như vậy, chỉ khác chỗ nơi và chúng. Trong phần này gồm có lục chủng thành tựu hay lục chủng chứng tín là sáu điểm chứng thành cho mình đủ niềm tin biết đây là kinh Phật. Ở đây: – Như vầy là chỉ cho tín thành tựu. Tức Phật pháp đúng với chân lý. Tiếng Hán theo thứ tự là Như thị ngã văn: – Như vầy tôi nghe, dịch ra tiếng Việt là: – Tôi nghe như vầyTôi nghe: chỉ cho ngài A-nan nghe, gọi là văn thành tựu, là chỉ cho người nghe. Bởi ngài A- nan nghe Phật dạy rồi thuật lại. A- nan là tên tiếng Phạn, Trung quốc gọi là Khánh Hỉ. Ngài là vị thị giả theo sát bên Phật, nên những kinh Phật ngài thường nghe, mà ngài là vị đa văn bậc nhất trong mười vị đại đệ tử  của Phật, ngài nhớ rất giỏi và nhớ dai, cho nên sau này ngài thuật lại. Một thuở nọ: – là chỉ cho thời gian, gọi là thời thành tựu. Bởi thời gian xưa ở Ấn Độ tính khác, Trung quốc tính khác, khó xác định cho nên không ghi rõ mà chỉ nói tổng quát là một thuở nọ. Phật là chỉ cho chủ thành tựu. Phật nói đủ là Phật- đà, Phật đà gia, là người giác ngộ. Chính chữ Phật này là cái tên cũng đủ ý nghĩa cho mình  học, mình tu. Tại sao gọi là người giác ngộ? Như vậy để thấy Phật không chỉ dành riêng cho Thái tử Tất Đạt đa, mà chữ Phật này là để chỉ cho  một con người đã giác ngộ viên mãn đầy đủ gọi là Phật. Vậy chúng ta cũng là một con người, nếu đã giác ngộ đầy đủ viên mãn cũng được thành Phật, không phải cái tên này chỉ dành riêng cho một người nào.

Vườn Cấp cô độc, rừng Kỳ Đà, nước Xá Vệ

Có những chỗ gọi là Thành Thất la phiệt, là dịch âm qua tiếng Hán, dịch ra là Phong đức hay là Văn vật, bởi vì xứ này là nước lớn ở Ấn Độ giàu có sản vật mà đạo đức cũng cao, có tiếng tăm ở trong cõi Ấn Độ, là kinh đô phía bắc của nước Kiều tát la, dùng kinh đô để gọi nước nhằm phân biệt với nước nam Kiều tát la. Chính Tinh xá này là nơi đức Phật dừng ở nhiều nhất, sử ghi trước sau Phật ở đây hai mươi lăm mùa an cư, nhiều nhất trong các nơi, thuyết rất nhiều bộ kinh quan trọng. Vườn Cấp cô độc rừng ông Kỳ đà, Kỳ đà là chỉ cho thái tử con của vua Ba-tư-nặc, có nghĩa là Chiến thắng, bởi vì lúc sanh ông ra thì vua Ba-tư-nặc đang chiến thắng ở nước ngoài trở về, nghe tin thái tử sanh nên đặt tên là Chiến thắng. Còn Cấp-cô-độc là chỉ cho ông trưởng giả Cấp-cô-độc, có khi chúng ta nghe gọi âm là Tu-đạt-đa, đây là một ông trưởng giả ủng hộ Phật pháp rất lớn, ông thường hay giúp người nghèo khó, người cô độc. Nhân duyên ông gặp Phật cũng rất đặc biệt, nhân ông đến nhà ông trưởng giả Sa- già- na ở thành Vương xá để hỏi vợ cho đứa con, nhưng khi ông đến nhà ông trưởng giả này gặp lúc ông này đang chuẩn bị thỉnh Phật về cúng dường, nên trong đêm ông thấy nhà họ lăng xăng sửa soạn đồ đạt để làm thức ăn sáng ngày mai đón Phật và chư Tăng. Ông thấy vậy mới hỏi: – Vì sao có việc như vậy? Mới biết rằng, sáng ngày hôm sau là thỉnh Phật. Ông vừa nghe tên Phật thì toàn thân ông lông dựng lên, một cảm xúc mạnh mẽ rồi dẫn ông đến gặp Phật. Sau khi ông quy y Phật rồi, ông trở về nước Xá vệ lập Tinh xá thỉnh Phật. Bởi khi ông được gặp Phật, rồi quy y Phật, thì ông nghĩ rằng mình có duyên tốt với Phật, nhưng những người ở Xá vệ chưa có duyên tốt để gặp Phật, do lúc này Phật chưa có qua nước Xá vệ, vì vậy ông thỉnh Phật về nước, nhưng Phật nói rằng: – Ta đi cũng được, nhưng còn bất tiện vì chưa có chỗ cho chư Tăng nghỉ ngơi. Thường Phật đi thì có cả 1.250 vị Tỳ kheo đi theo, đông quá mà chưa có Tinh xá thì sao? Ông nói: – Việc đó không khó, để về con lo. Ông vội về tìm chỗ mua đất để cất Tinh xá nhưng kiếm hoài chẳng có chỗ nào tiện lợi, chỉ thấy vườn cây của ông Kỳ Đà là ông chịu mà vườn này của ông thái tử làm sao mua đây? Song ông cũng cứ đến hỏi, nài nỉ mua, thái tử Kỳ đà không chịu, ông nói: Ta là thái tử có nghèo đâu mà bán! Nhưng ông vẫn nài nỉ, thái tử không biết sao, ông nói: – Thôi  bây giờ ông đem vàng trải hết ở đó đi!

Tưởng nói vậy để cho ông trưởng giả hết nài nỉ, không ngờ ông làm thiệt, ông về cho xe chở vàng đến trải gần khắp hết. Thái tử được  người báo, liền tới thấy ông Cấp- cô- độc lúc này đang đứng có vẻ trầm ngâm thì thái tử nói: – Ủa! Ông tiếc hay sao? Ông Cấp- cô- độc nói:- Không phải, tôi đang nghĩ tính coi chở kho nào gần nhất để tới cho sớm, làm kịp Tinh xá rước Phật.

Thái tử hỏi ra biết là ông Cấp- cô- độc mua vườn này cất Tinh xá để thỉnh Phật về, thấy lòng mộ Phật của trưởng giả như vậy, không có tiếc của cải, còn  ông có gì đâu để tiếc! Thái tử Kỳ đà cảm động, ông nói: – Thôi tôi sẽ hợp tác cất tinh xá thỉnh Phật! Đất trải vàng thì thuộc về ông, còn cây thuộc về tôi.

Cho nên gọi là rừng Kỳ đà vườn ông Cấp- cô- độc. Chúng Đại Tỳ kheo 1.250, phần trên gọi là xứ sở thành tựu, đây gọi là chúng thành tựu. Chúng đại tỳ kheo là danh từ chuyên môn. Chúng là chỉ cho Tăng, nói đủ là tăng già da, gọi là hòa hợp chúng, một chúng hoà hợp gồm 04 người trở lên. Ở đây chúng đại tỳ kheo là những vị tỳ kheo trưởng lão 1.250 người là ai? Trước là năm anh em ông Kiều Trần Như được Phật độ trước tiên, năm vị. Ba anh em Ca diếp ba, Trong nhà Phật có tới mấy vị Ca diếp. Ca diếp thường gọi là Tổ Ca-diếp, đó là Ma Ha Ca- diếp. Còn Ca diếp ở đây là ba anh em ông Ưu- lâu- tần- loa Ca diếp, Già da Ca diếp, Nan-đề Ca diếp. Ba ông này trước thờ lửa, sau khi được Phật giáo hoá thì mỗi người đều dẫn đệ tử về theo. Ông anh lớn có 500 người đệ tử trở về với Phật, rồi hai ông em cộng lại một vị 300, một vị 200 cộng chung lại 1.000. Ngài Xá- lợi- phất và Ngài Mục- kiền- liên sau khi trở về với Phật, dẫn theo 200 đệ tử nữa là 1.200. Còn ông trưởng giả Da xá khi về với Phật, rồi ông dẫn theo 50 người bạn nữa. Như vậy là 1.250, nhưng nếu cộng chung lại với 5 anh em ông Kiều- trần- như là 1.255, mà nói 1.250 là nói số chung, số chẳn, đúng là 1.255. Nếu cộng thêm ba anh em ông Ca diếp, cộng hai ngài Xá- lợi- phất và Ngài Mục- kiền- liên, cộng con ông trưởng giả Da- xá nữa thì 1.261 vị. Đây nói những vị thường theo gần bên Phật, Phật ở đâu thì thường đi theo. Sự thật trong hội Phật giảng kinh, không phải chỉ có mấy vị này, mà đủ tứ chúng, có khi vua quan, rồi những vị từ các nơi tới nghe, chứ không phải bao nhiêu đây thôi nhưng những vị này thường theo Phật, là căn bản nên thường được nhắc tới. Như vậy, phần lục chủng chứng tín, là tín thành tựu, tức pháp đáng tin, văn thành tựu là A- nan nghe, thời thành tựu là thời gian, chủ thành tựu là Phật, xứ sở thành tựu là chỗ nơi, chúng thành tựu là người nghe, cho thấy rõ giống như biên bản một buổi họp. Biên bản một buổi họp thì phải có chủ toạ, rồi cử toạ là người nghe, rồi thư ký ghi buổi họp đó, thư ký đây là văn thành tựu tức ngài A- nan, rồi họp ở đâu tức là xứ sở, rồi họp vào lúc nào là thời gian, rồi họp nói về vấn đề gì, đây là tín thành tựu. Đó là nói về mở đầu của kinh, theo giáo nghĩa sẽ giải thích thêm cho quý vị rõ: – Tôi nghe như vầy là sao? Đây là lời mở đầu của các kinh: – Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy). Bởi vì khi Thế tôn sắp nhập diệt, ngài A- nan hỏi Phật 04 điều thì điều thứ tư là: Sau này khi kiết tập kinh điển thì đầu kinh để thế nào? Phật dạy phải để: “Như thị ngã văn”, tức “tôi nghe như vầy”. Các vị sau này có giải thích lý do là trừ nghi. Bởi trong sử có ghi rằng, khi ngài A- nan lên toà thuật lại lời Phật trong hội kiết tập đầu tiên, ngài sắp tuyên nói Phật pháp liền cảm thân tướng của ngài tướng hảo quang minh y như Phật sáng rỡ, lúc đó trong chúng khởi lên ba điều nghi:

– Nghi thứ nhất: Không biết là Phật hiện trở lại để nói pháp chăng? Bởi vì thấy ngài A- nan thân tướng sáng rỡ giống như Phật.

– Nghi thứ hai là: Nghi Phật từ nơi khác đến?

– Nghi thứ ba là: Nghi hay là ngài A- nan thành Phật.

Ba điều nghi như vậy. Khi ngài A-nan tuyên nói ra:  “- Tôi nghe như vầy”, thì dứt hết các điều nghi đó. Nghĩa là ngài nghe những lời Phật nói, ngài nói lại vậy thôi, thành ra dứt các điều nghi kia. Lý do thứ hai là để dừng tranh luận. Dừng tranh luận là sao? Để nói rằng từ Phật ngài nghe chứ không phải ngài chế ra, nếu không nói như vậy thì có người nghi ngài chế ra hay sao? Như vậy họ sẽ có sự tranh luận. Còn đây “tôi nghe như vầy” là nghe những lời Phật dạy rồi thuật lại thôi.

Điều thứ ba là để phân biệt với kinh sách của ngoại đạo, bởi vì ở Ấn Độ những kinh của ngoại đạo ở ban đầu thì để là “a ưu”, còn ở đây thì “như thị ngã văn” là khác. Đó là phần mở đầu kinh theo giáo nghĩa. Nếu theo nhà thiền, theo thiền sư thì sao? Theo thiền sư thì thế nào là chỗ vào kinh?

Có vị tọa chủ tham vấn với quốc sư Huệ Trung, quốc sư mới hỏi:

– Toạ chủ bình thường làm việc gì?

Ông tọa chủ đáp:

– Từng giảng kinh Kim Cang.

Quốc sư Huệ Trung hỏi:

– Vậy hai chữ đầu tiên đó là gì?

Tọa chủ đáp:

– Như thị. (như thị ngã văn).

Quốc sư hỏi:

– Là gì?

Ông đó không trả lời được. Hỏi hai chữ đầu tiên là gì, tọa chủ trả lời “như thị”, ngài Huệ Trung gạn lại “là gì?”, ông trả lời không được. Như vậy quý vị có thấy chỗ mở đầu kinh theo cái nhìn của các vị thiền sư chưa? Nói “như thị” mình hiểu theo chữ nghĩa thì như đã giải ở trên, nhưng thiền sư ngài gạn lại “cái gì là như thị”, thấy “chỗ đó” mới thấy chỗ mở đầu kinh; và muốn thấy được chỗ đó phải hiểu quyển kinh này là gì? Thường thì chúng ta dễ mắc kẹt theo thường tình, hiểu kinh Kim Cang là quyển kinh chia ra bao nhiêu phần, là quyển kinh mình đọc hằng ngày đó, cho nên mở quyển kinh là như thị thôi, nhưng quyển kinh mà thiền sư nói là quyển kinh nào? là quyển kinh vô tướng, quyển kinh sống ngay nơi mình đó, chứ không phải ý ngài chỉ quyển kinh này. Hiểu như vậy mới thấy ý của ngài. Như vậy mở đầu quyển kinh đó bằng cái gì? – Như thị – Như thị là sao? Là chỉ cho nó như vậy là như vậy, không có thêm những niệm phân biệt, những niệm chia chẻ gì ở trong đó, không có động niệm gì ở trong đó; chính chỗ đó mới là chỗ như thị, mới là chỗ mở đầu của quyển kinh đặc biệt này. Vì vậy ngài Vân Môn nói: “- Thấy cây gậy chỉ là cây gậy”, không có thêm gì khác nữa hết, không có thêm niệm hơn thua, phải quấy, tốt xấu, thiệt giả, ngay cái thấy đó là như thị, là chỗ mở đầu kinh, là chỗ mình vào được quyển kinh sống này. Đó là quyển kinh Kim Cang Bát Nhã thực, còn quyển kinh để ở trên bàn đây là quyển kinh tạm phương tiện vậy thôi; phải nhân quyển kinh này thấy lại quyển kinh kia mới là đích thực. Như vậy quý vị thấy thiền sư nhìn thực tế không? Rất thực tế nhìn thẳng tắt, không nói dài dòng nhưng mà rất là chính xác. Mới thấy, mình học quyển kinh văn tự nhưng mình phải thấu qua quyển kinh văn tự để thấy rõ quyển kinh thật nữa, mới khéo học kinh Kinh Kim Cang Bát Nhã.

Đó là phần tựa chung, bây giờ đến phần tựa riêng là phần phát khởi tự:

Bấy giờ đức Thế Tôn đến giờ ăn, ngài đắp y mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy theo thứ lớp khất thực, rồi trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải toà mà ngồi.

Trong đây có mấy điểm:

– Thứ nhất là đến giờ ăn. Thường Phật chế ra: Phật và các vị tỳ kheo không phải muốn ăn lúc nào thì ăn, như ngoài đời đói bụng thì ăn, mà phải có giờ giấc đàng hoàng. Giờ ăn của Phật cũng như các vị tỳ kheo đi khất thực đó là từ sáng mặt trời mọc lên đến giờ trưa, giờ ngọ là buổi ăn chính. Vì sao Phật dạy mình đi khất thực phải đúng giờ như vậy? Nếu đi sớm cũng không được mà đi trể cũng không được, vì đi sớm người ta chưa nấu nướng gì thì người ta cúng dường không được, sẽ mất lòng tin của họ; còn đi trể người ta ăn rồi, muốn cúng cũng không được, thành ra phải đi đúng giờ. – Điểm thứ hai là đắp y, rồi thứ ba là ôm bát. Bát là tiếng phạn, gọi đủ là bát-đa-la, Trung hoa dịch là ứng lượng khí, nghĩa là món đồ ứng vừa với lượng ăn của mình. Tỳ kheo phải ăn đúng lượng, phải biết tri túc, không phải tham ăn, mình muốn chứa cái bát cho nó to, để cho đồ ăn được nhiều, đó là mình tham rồi. Cho nên Phật chế rất kỹ, ăn vừa đúng lượng của mình thôi. Thứ tư là vào thành khất thực, bởi vì tinh xá này ở ngoài thành, cách thành về phía đông nam năm sáu dặm, nên phải vào thành. Thứ năm theo thứ lớp khất thực, bởi vì sao? Vì  trong phép khất thực theo sử kể , hai ngài Tu Bồ Đề và ngài Ca- Diếp có hai quan niệm riêng: ngài Tu Bồ Đề thì ngài cứ đi tới mấy nhà giàu khất thực, bởi vì ngài nghĩ rằng nhà giàu họ dư dã, mình đến khất thực, họ có cho thì cũng không mất mát gì của họ nhiều, còn tới nhà nghèo thì họ đã nghèo thiếu rồi, mình đến khất thực nữa e họ thiếu ăn. Cho nên ngài chuyên tới nhà giàu. Trái lại, ngài Ca Diếp thì ngài tới nhà nghèo khất thực, bởi vì ngài nghĩ nhà giàu người ta có phước rồi, dư giả rồi, còn những người nghèo là đời trước họ ít bố thí, bây giờ mình đến khất thực, khiến họ gieo duyên lành đó để cho họ đời sau khỏi nghèo. Cả hai đều có tâm tốt hết, nhưng Phật quở, hai ông còn có tâm chưa bình đẳng, còn phân biệt người giàu, người nghèo, do đó Phật dạy phải theo thứ lớp khất thực, đi thứ lớp từ nhà này đến nhà kia, chứ không phân biệt giàu nghèo. Đây là ý nghĩa thứ lớp khất thực. – Điểm thứ sáu là trở về chỗ mình. – Điểm thứ 7, ăn xong thu bát rửa chân, trải toà mà ngồi thiền. Như vậy, Phật cũng còn ngồi thiền nữa, vậy là chấp tướng sao? Ở đây Phật muốn nhắc nhở mọi người, Phật như vậy mà còn ngồi thiền huống nữa là mình, chưa có đáng gì mà dễ duôi thì sẽ ra sao? Đó là lời nhắc nhở chung mãi cho mình về sau này. Trong bản đời Nguỵ có ghi kỹ hơn, nói rõ đoạn này là: “ngài cũng như thường lệ trải tòa ngồi kiết già, thân ngay ngắn, trụ niệm bất động”, còn bản của đời Đường thì nói “thân ngay ngắn chánh nguyện trụ niệm hiện tiền” như vậy nó có ý nghĩa sâu, chỗ này lần lần sẽ nói cho quý vị thấu rõ. Ở đây quý vị thấy, phần phát khởi đức Phật trước khi nói kinh Kim Cang Bát nhã, ngài muốn chỉ ra cái trí tuệ bát nhã là trí tuệ bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn như vậy, tại sao ngài lại hiện tướng tầm thường cũng là đắp y, mang bát, khất thực, thọ thực, rồi xếp y bát, rửa chân, trải toà ngồi bình thường như bao nhiêu người, không có gì đặc biệt hết? Tại sao lại bình thường không có phóng hào quang động địa, hiện những tướng thần biến có vẻ không thể nghĩ bàn? Chẳng hạn như kinh Pháp Hoa, ngài phóng hào quang soi suốt cả bao nhiêu thế giới ở phương đông, hoặc như kinh Hoa nghiêm trước khi vào thì bao nhiêu thần núi, thần sông cũng hiện tới, những cảnh vật chung quanh biến thành ánh sáng, nào mây biến ánh sáng này, mây ánh sáng nọ, cái gì cũng biến thành ánh sáng cả, quá sức tưởng tượng của mình. Còn ở đây rất bình thường, tại sao như vậy? Song nghiệm kỹ, nhất là nhìn theo cái nhìn của nhà thiền thì đây mới chính là điểm đặc biệt, rất ứng hợp với trong nhà thiền: trong cái bình thường như vậy mà rất là thiền vị, đầy đủ ánh sáng vi diệu không thể nghĩ bàn trong đó! Nghĩa là trong chỗ mang bát, đắp y, khất thực, đi tới đi về, rửa chân, thu xếp y bát, những việc tầm thường như vậy đó, nếu nhìn theo con mắt tầm thường thì thấy không có gì lạ, nhưng nhìn với con mắt của thiền sư, của con người hiểu đạo thì mới thấy, chính trong đây đã sáng ngời ánh sáng rực rỡ ở trong đó, không có thiếu sót gì hết, chính ánh sáng Kim Cang Bát Nhã đã tràn đầy ở trong đây rồi! Bởi vì theo cái hiểu thông thường của mình thì, ánh sáng phải màu xanh, màu đỏ, có tướng rõ ràng, nhưng ánh sáng ở đây là ánh sáng bát nhã, mà ánh sáng bát nhã thì có hình tướng gì? Ánh sáng bát nhã thì không có xanh, vàng, đỏ, trắng, lớn nhỏ. Vậy thì, Phật là một bậc Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, tức một vị giác ngộ không có gián đoạn, lúc nào ánh sáng giác ngộ cũng đầy đủ không xen hở, thì mới gọi là Phật; chứ nếu một lúc nào đó mà không có ánh sáng giác ngộ thì có gọi là Phật không? Nó có chỗ  này nhưng vắng mặt ở chỗ khác thì còn gọi là Phật chăng? Đã là Phật thì luôn luôn ánh sáng giác ngộ có mặt, lúc nào cũng có hết, dù ở trong hành động nào, cử chỉ nào, Phật cũng đều có đủ ánh sáng giác ngộ đó, như vậy mới gọi là Phật. Ở đây trong mọi hành động, có cái nào thiếu ánh sáng giác ngộ không? Ánh sáng đó hiện đầy đủ không có thiếu gì đâu! Nếu nhìn theo cái nhìn bên ngoài, cái gọi là tầm thường thì gọi là tầm thường, cái gì phi thường gọi là phi thường, cho nên muốn bỏ những cái tầm thường này để đạt được những cái phi thường khác; nhưng không ngờ cái phi thường chính ngay cái tầm thường, còn làm ra vẻ phi thường lại thành tầm thường; bởi vì cái đó rất giản dị, rất là gần gũi với mình, có thể mình sống hằng ngày ở đây mà không hay, như vậy mới gọi là phi thường.

Như ngài Triệu Châu có người đến hỏi đạo, ngài hỏi:

– Ăn cháo xong chưa?

Vị kia đáp:

– Ăn cháo xong rồi.

Ngài bảo:

– Rửa chén bát đi!

Liền ngộ. Không có gì lạ hết. Mình tưởng đâu đạo là phải có gì cao siêu, vi diệu lắm, nhưng không ngờ trong chỗ bình thường hằng ngày mình sống, khéo xoay trở lại, không để cho những tư tưởng, những phân biệt lăng xăng nó dấy lên thì ngay đó đạo hiện tiền, ăn cháo, rửa chén đều đầy đủ không thiếu. Còn ngay trong đó mà khởi động niệm tìm một cái khác, thì cái đó nó mất, tức là bỏ cái hiện tiền mà đi tìm cái phi thường trở lại thành tầm thường, đó là đặt biệt. Cho nên quý vị thấy, kinh Kim Cang Bát nhã đã ngầm có cái ý “giáo ngoại biệt truyền” trong đó rồi, tuy là kinh nhưng đã ngầm có ý giáo ngoại. Nếu mình chỉ chấp theo chữ nghĩa thì mình thấy chỉ  là văn tự thôi, còn nếu mình thấy “ý này” thì sẽ thấy ý giáo ngoại trong đó sẵn đầy đủ đâu có thiếu gì!

Như ngài Sùng Tín tới học đạo với thiền sư Đạo Ngộ, ở thời gian lâu với ngài Đạo Ngộ mà không thấy ngài chỉ dạy gì hết, một hôm lòng tha thiết quá mạnh, không thể chịu nỗi nữa, nên Sư đắp y lên thưa hỏi :

– Bạch Hòa thượng, từ ngày con vào đây học đạo với Hòa thượng lâu rồi mà chưa thấy Hòa thượng dạy con tâm yếu gì hết!

Ngài Đạo Ngộ mới nói:

– Từ ngày ông vào đây ta có lúc nào chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ông đâu!

Sư ngạc nhiên:

– Ủa! Hòa thượng đã từng chỉ dạy con lúc nào?

Ngài Đạo Ngộ bảo:

– Ông bưng cơm lên ta vì ông nhận, ông bưng trà ta vì ông mà tiếp, ông xá lui thì ta gật đầu, có chỗ nào là không chỉ tâm yếu cho ông đâu!

Nhưng Sư vẫn chưa ngộ, cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ. Ngài Đạo Ngộ bồi thêm một câu:

– Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ  liền sai.

Ngay đó Sư ngộ liền. Như vậy quý vị ngộ chưa? Trong chỗ mọi hành động hằng ngày của mình đó, ánh sáng Kim Cang bát nhã đầy đủ trong đó rồi, thì Phật trong những việc bình thường ứng dụng hằng ngày đã biểu hiện ánh sáng Bát nhã quá nhiều, đâu có chỗ nào thiếu sót! Cho nên Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền:

– Thế nào là đạo?

Ngài đáp:

– Tâm bình thường là đạo.

Sư hỏi tiếp:

– Có thể nhằm tiến đến chăng?

Nam Tuyền đáp:

– Nếu nghĩ nhằm tiến đến là trái.

Nghĩ nhằm tiến đến là trái, quý vị thấy chưa? Bởi vì sao? Nếu nghĩ tiến đến thì cái đạo nằm bên ngoài mình. Theo nghĩa thông thường thì tu là để đạt đạo, hướng đến đạo, tìm đến đạo để đạt được cái đó, nhưng nếu đến chỗ chân thật này, mình nghĩ hướng đến để đạt nó thì cái đạo đó ở đâu? Quên mất cái đạo ngay sẵn nơi mình. Nghĩ tức động niệm rồi! Động niệm thì trái với đạo hiện tiền trong mọi cử chỉ hành động của mình. Đáp như vậy mà Triệu Châu còn chưa hiểu nên lại hỏi:

– Khi chẳng nghĩ đến thì làm sao biết đó là đạo?

Ngài Nam Tuyền đáp:

– Đạo chẳng thuộc biết, chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì không có nghi, ví như hư không rỗng rang không có thể gắng nói là phải là quấy.

Đạo là cái chân thật ngay nơi mình, không thuộc biết hay chẳng biết, chỗ này khó hiểu. Trong kinh Viên Giác nói: – Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác, tức là biết huyễn liền ly, ly huyễn tức giác, mà đây nói: biết là vọng giác thì sao, có trái ngược không? bởi vì sao? Như ngài Vân Môn nói: “- Thấy cây gậy chỉ cây gậy” thì đó là đạo, còn thêm cái biết nữa, là cái biết phân biệt, là cái biết suy nghĩ, hơn thua, cái biết này nọ, như vậy là trên cái  biết thêm cái biết, nên gọi là vọng giác; còn ngay cái biết đó không thêm gì nữa thì ngay đó là đạo. Còn không biết mà mờ mờ không rõ ràng, thì đó là vô ký, hoặc là như cây đá hay sao? Vì vậy biết tất cả rõ ràng nhưng không mê lầm, không có thêm những niệm hơn thua, phải quấy gì hết, ngay đó là phải, còn thêm gì khác là không phải. Cho nên như hư không thênh thang rỗng rang, không có nói phải nói quấy gì. Vậy là bình thường ngay nơi mình đầy đủ, thấy cây gậy, thấy cái ly, cái gì mình cũng thấy hết, đâu phải gỗ đá, nhưng không thêm gì nữa thì hay quá! Vậy thấy Kim Cang Bát nhã nó ở đâu? Hằng ngày mình sống trong thể Kim Cang bát nhã mà không hay! Hiểu được như vậy, sống được trở về như vậy đó liền thấy trong mọi cử chỉ, mọi hành động của mình đều có Kim Cang bát nhã, phát ra ứng dụng gì cũng là thần thông diệu dụng. Còn bây giờ mình làm cái gì cũng không phải thần thông diệu mà là phiền não trần lao hết; nghĩ liền động, đụng cái gì cũng khởi phiền não trần lao đầy đủ ở trong đó. Từ đó mới tin người sống được rồi, làm cái gì, thấy cái gì cũng là thần thông diệu dụng, như câu chuyện ngài Ma Cốc, Nam Tuyền, Quy Tông đi thăm ngài Cảnh Sơn, giữa đường gặp bà già bán trà, mời vào quán ngồi, rồi bà già đem đến ba cái tách cho ba vị, bà nói:

– Trong đây Hòa thượng nào có thần thông thì uống trà!

Ba người ngồi ngó nhau không biết làm sao. Bà già nói:

– Đây, hãy xem già này trình thần thông cho các vị!

Bà liền cầm bình  trà rót vào tách xong, liền đi. Thần thông diệu dụng đấy! Vì tâm mình mà tịnh rồi thì hành động nào cũng thanh tịnh, cũng sáng suốt hết, nên cũng đều là thần thông diệu dụng, cũng bất khả tư nghì; còn mình làm gì cũng tâm phàm phu khởi trước, làm cái gì cũng có suy nghĩ ở trong đó, mà có suy nghĩ tức có phân biệt, có phải quấy, có hơn thua, làm sao thành thần thông diệu dụng? Người xưa có làm một bài kệ để nói rõ về ý này:

Nguyên lai Phật pháp vô đa tử

Chỉ tại bình thường nhật dụng trung

Xuyên y thực phạn thân nhận đắc

Thiên sai vạn biệt thể giai đồng.

***

Xưa nay Phật pháp không nhiều thứ

Chỉ tại hằng ngày việc thường làm

Mặc áo ăn cơm mình nhận được

Ngàn sai muôn khác thể đều đồng.

Phật pháp xưa nay không nhiều thứ, mình tưởng đâu nó mênh mông đủ thứ này, thứ kia, chạy tìm hoài không thấy dừng. Không ngờ trong việc ứng dụng hằng ngày không đâu khác. Mặc áo, ăn cơm, mình tự nhận được (thân nhận đắc) thì bao nhiêu thứ sai biệt, thể đều đồng, không khác gì. Ngay trong mọi việc mặc áo, ăn cơm, nếu tâm mình thanh tịnh sáng suốt thì ngay nơi đó đầy đủ. Chúng ta thấy đức Phật mở đầu kinh Kim Cang, ngài đã nói gì chưa? Chưa nói gì, mà đã nói hết rồi, nói rất là vi diệu, rất là tuyệt vời! Chỉ trong những hành động thôi, chưa phát ra thứ gì nhưng mình khéo thấy thì rõ ngài đã nói hết Bát nhã rất là khéo léo, rất là tài tình. Như vậy hôm nay mình học tới  đây nghỉ, nếu quý vị nào khéo lanh lợi,  nhạy mắt thì thấy Bát nhã trước, còn vị nào chưa lanh lợi lắm thì bắt đầu nghe Phật  thốt lên lời!

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here